Translate
Friday, April 10, 2009
Chống tham nhũng vẫn đầu voi, đuôi chuột
Wednesday, April 8, 2009
Các luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân bị truy tố về tội tuyên truyền chống nhà nước
Theo bản cáo trạng, các Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân bị truy tố ra Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Hà Nội về tội tuyên truyền chống Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chiếu Điều 88 Khoản 1 Điểm (a) và (c) Hình Luật mà hình phạt có thể đến 12 năm tù.
Các Luật Sư bị trách cứ đã có những hành vi phỉ báng chính quyền và chống Nhà Nước bằng tuyên truyền
xuyên tạc, và tàng trữ, phát hành các tài liệu có nội dung chống Nhà Nước CHXHCNVN.
Khoản 1 Điểm (b) kết án tội “dùng chiến tranh tâm lý để tuyên truyền gây hoang mang trong nhân dân”. Đây là một tội lỗi thời, tàn tích của thời chiến tranh lạnh. Người Cộng Sản thường lầm lẫn luật pháp với chính trị. Họ đã sáng chế ra những tội trạng giả tạo phi pháp lý như phản động, hay phản cách mạng, địa chủ hay cường hào ác bá v...v...Vì đối với họ, chính trị là thống soái và luật pháp là công cu.ï Bộ Luật Hình Sự 1985 trong Lời Nói Đầu cũng xác nhận điều đó: “Trong hệ thống pháp luật của nước Cộng Hòa XHCNVN, luật hình sự là một công cụ sắc bén của Nhà Nước chuyên chính vô sản để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, đấu tranh góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội”.
Trong chiều hướng đó Quốc Hội đã ban hành những đạo luật hình sự quy định những tội trạng bịa đặt giả tạo và cưỡng ép lố bịch với những yếu tố cấu thành tội trạng hết sức bao quát và mơ hồ, như các tội tuyên truyền chống nhà nước, tuyên truyền chống chế độ, lợi dụng quyền tự do dân chủ, phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, phá hoại chính sách đoàn kết quốc tế, gián điệp, phản nghịch hay hoạt động nhằm lật đổ chính quyền v...v...
Nếu Hình Luật Hoa Kỳ cũng quy định những tội bịa đặt giả tạo và cưỡng ép lố bịch tương tự như vậy, thì ngày nay rất nhiều ứng cử viên thuộc Đảng Dân Chủ đối lập sẽ có thể bị truy tố và kết án về các tội tuyên truyền chống Nhà Nước, phỉ báng chính phủ, phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, lợi dụng quyền tự do dân chủ, và đặc biệt là tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền vào tháng 11 tới đây.
Những yếu tố cấu thành tội (bịa đặt) tuyên truyền chống nhà nước, như tuyên truyền xuyên tạc, nói xấu hay phỉ báng chính quyền, lưu trữ phát hành các tài liệu chống chính phủ cũng có thể dùng để kết tội “phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia” của Điều 87 mà hình phạt có thể đến 15 năm tù. Vì các yếu tố tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền hay lưu trữ phát hành các tài liệu chống Nhà Nước cũng có thể được tòa án nhân dân coi là những hành vi cố ý gây chia rẽ giữa nhân dân và chính quyền, giữa các giáo dân và chính quyền, là những yếu tố cấu thành tội (giả tạo) “phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia”.
Từ thập niên 70, nhà cầm quyền Cộng Sản đã bắt giam tại các trại cải tạo những người đối kháng có những hành vi bị coi là tuyên truyền chống chế độ như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế hay Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt v...v.... Từ thập niên 1980, họ đã dùng tòa án để truy tố cũng về tội tuyên truyền chống chế độ (Điều 82 cũ), và đã kết án 3 người con của cố Luật Sư Trần Văn Tuyên là Trần Vọng Quốc, Trần Tử Thanh và Trần Tử Huyền, và tiếp đến là Luật Sư Đoàn Thanh Liêm.
Qua thập niên 1990, họ đã truy tố về tội (cưỡng ép), phản nghịch hay hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 73 cũ), và đã kết án Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt, Giáo Sư Nguyễn Đình Huy v...v.... Cũng trong thời gian này, họ đã truy tố về tội phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, và đã kết án Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Giáo Sư Hoàng Minh Chính v...v... Trước đó, năm 1983, Linh Mục Nguyễn Văn Lý cũng bị truy tố và kết án về tội này.
Từ năm 2000, họ đã truy tố về tội (cưỡng ép) gián điệp, và đã kết án Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn và Nguyễn Vũ Bình. Đồng thời họ cũng truy tố và kết án Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Trần Dũng Tiến, Nguyễn Đan Quế v...v... về tội (giả tạo) lợi dụng quyền tự do dân chủ.
Năm 2005 họ đã đệ đơn yêu cầu Tòa Án Thái Lan truyền dẫn độ Lý Tống về Việt Nam vì đã rải truyền đơn chống chính phủ tại Saigon, để trả lời về tội (cưỡng ép) xâm phạm an ninh lãnh thổ quốc gia. Và đầu tháng tư năm nay Tòa Phúc Thẩm Bangkok đã bác đơn xin dẫn độ của nhà cầm quyền Hà Nội.
Và ngày 30 tháng 3 vừa qua họ đã kết án Linh Mục Nguyễn Văn Lý về tội (giả tạo) tuyên truyền chống nhà nước. Năm 2002 Lê Chí Quang cũng bị truy tố và kết án về tội này.
Hiện nay, ngoài các Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, có thêm 4 luật sư khác cũng đang bị điều tra truy tố về tội này, là các Luật Sư Lê Quốc Quân, Bùi Kim Thành, Nguyễn Thị Thùy Trang và Nguyễn Bắc Truyền. Trái với dư luận thông thường, đây không phải là một chiến dịch nhằm tước đoạt quyền biện hộ của luật sư trước tòa án. Vì tòa án nhân dân đâu có đếm xỉa đến những lời biện hộ của luật sư. Ngày nay, cũng như luật pháp, tòa án đã biến thành một công cụ của Đảng Cộng Sản với sứ mạng bạc bẽo là “củng cố chính quyền và xây dựng chế độ độc tài toàn trị của Đảng Cộng Sản”.
VỀ MẶT TỘI TRẠNG
Tuyên truyền chống chế độ hay tuyên truyền chống Nhà Nước là những tội giả tạo bịa đặt không tìm thấy trong bất cứ bộ hình luật nào của các quốc gia văn minh trên thế giới. Vì tuyên truyền chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng và tự do phát biểu quan điểm đã được luật pháp quốc gia và công pháp quốc tế thừa nhận. Từ giữa thế kỷ 19 khi Các Mác công bố bản Tuyên Ngôn Cộng Sản kêu gọi vô sản toàn thế giới đứng lên đấu tranh võ trang để lật đổ chế độ và nhà nước tư bản chủ nghĩa, ông ta cũng không bị Tòa Án Luân Đôn truy tố về tội tuyên truyền chống chế độ tư bản. Và từ hơn một thế kỷ rưỡi nay, các quốc gia văn minh cũng không truy tố các môn đệ của Mác về tội này.
Từ thập niên 1990, với cuộc Cách Mạng Dân Chủ tại Đông Âu và Liên Xô, chế độ mệnh danh là xã hội chủ nghĩa đã bị vứt vào thùng rác lịch sử. Để củng cố chính quyền, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã giảo hoạt thay đổi tội danh, từ tuyên truyền chống chế độ (Điều 82 cũ) thành tuyên truyền chống nhà nước (Điều 88).
Chiếu Điều 15 Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị “không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm nếu những điều ấy, không cấu thành tội hình sự chiếu luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế. Luật pháp quốc tế là những nguyên tắc luật pháp tổng quát dược thừa nhận bởi cộng đồng các quốc gia”. (cụ thể là những nguyên tắc ghi chú trong Luật Quốc Tế Nhân Quyền do Liên Hiệp Quốc ban hành). Nguyên tắc này cũng đã được ghi trong Điều 11 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.
Việt Nam đã gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1977 nên có nghĩa vụ pháp lý phải tôn trọng và thực thi những điều khoản ghi trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.
Việt Nam đã ký kết tham gia Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị năm 1982, nên có nghĩa vụ pháp lý phải tôn trọng và thực thi những điều khoản ghi trong Công Ước này. Chiếu Điều 2 Công Ước, các quốc gia hội viên tham gia Công Ước này cam kết sẽ tôn trọng và bảo đảm thực thi những quyền tự do cơ bản đã được thừa nhận trong Công Ước cho tất cả mọi người sống trong lãnh thổ quốc gia.
Trong trường hợp những quyền tự do ghi trong Công Ước này chưa được quy định thành văn trong luật pháp và hiến pháp quốc gia, các quốc gia hội viên ký kết hay tham gia Công Ước có nghĩa vụ phải ban hành các đạo luật bổ túc theo tinh thần và bản văn các điều khoản nhân quyền của Công Ước để các quyền này được thực sự thi hành. Trong trường hợp quốc gia hội viên kết ước không quy định những quyền này trong luật pháp hay hiến pháp thì những điều khoản về nhân quyền và về những quyền tự do cơ bản của người dân ghi trong Công Ước vẫn có hiệu lực chấp hành và phải được áp dụng trước các tòa án quốc gia và quốc tế.
Ngày nay Việt Nam đã quy định thành văn trong Hiến Pháp hầu hết các nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của người dân, như quyền tự do tôn giáo (Điều 70), quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 52), quyền bình đẳng cơ hội tham gia chính quyền (Điều 53), quyền tự do bầu cử và ứng cử (Điều 54), quyền tự do đi lại và cư trú (Điều 68), quyền tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền thông tin, quyền tự do hội họp, tự do lập hội, quyền biểu tình (Điều 69), quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được luật pháp bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm (Điều 71), quyền được suy đoán là vô tội (Điều 72), quyền riêng tư (Điều 73), quyền khiếu nại, khiếu tố các cơ quan chính quyền khi có sự lạm quyền phi pháp (Điều 74) v...v...
Tuy nhiên quyền tự do tư tưởng không được quy định trong Hiến Pháp vì Đảng Cộng Sản đòi nắm giữ độc quyền tư tưởng, buộc toàn dân phải “theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh".
Theo Điều 2 Hiến Pháp “Nhà Nước thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. (Chứ không thuộc về một đảng độc tôn, độc quyền là Đảng Cộng Sản)
Theo Điều 3 Hiến Pháp “Nhà Nước bảo đảm quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, và nghiêm trị mọi hành động xâm phạm những quyền và lợi ích của nhân dân”. (dầu rằng kẻ phạm pháp chính là Đảng Cộng Sản)
Theo Điều 6 Hiến Pháp “nhân dân sử dụng quyền lực Nhà Nước thông qua Quốc Hội là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. (Do đó Quốc Hội không thể là sản phẩm và công cụ của Đảng Cộng Sản. Hơn nữa Quốc Hội của nhân dân phải sinh hoạt theo nguyên tắc dân chủ đại nghị hay dân chủ pháp trị chứ không theo nguyên tắc “dân chủ tập trung phản dân chủ).
Theo Điều 11 Hiến Pháp “công dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng cách tham gia công việc của Nhà Nước và xã hội”. (Muốn thế phải thiết lập chế độ dân chủ pháp trị để Dân được quyền làm chủ Nhà Nước và bãi bỏ chế độ độc tài toàn trị trong đó Đảng Cộng Sản độc quyền lãnh đạo Nhà Nước và xã hội).
Theo Điều 52 Hiến Pháp “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.” (Do đó Đảng và Nhà Nước Cộng Sản không được phân biệt kỳ thị về chính kiến hay chính đảng đối lập với đảng cầm quyền).
Theo Điều 53 Hiến Pháp “công dân có quyền tham gia quản lý Nhà Nước” bằng cách hành sử quyền đối kháng, quyền tham gia chính quyền và quyền tự do tuyển cử là những hình thức của quyền Dân Tộc Tự Quyết.
Theo Điều 54 Hiến Pháp “công dân được quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc Hội”. (Do đó Đảng và Nhà Nước Cộng Sản không thể tước đoạt quyền tự do ứng cử của người dân bằng những ngăn cản do hiệp thương của các tổ chức ngoại vi hay do thanh lọc của địa phương). Vì cuộc đầu phiếu phải có tính phổ thông (phổ cập) và kín cho tất cả mọi công dân.
Những điều khoản Hiến Pháp nói trên tuyên dương quyền Dân Tộc Tự Quyết, quyền Đối Kháng, quyền Tham Gia Chính Quyền và quyền Tự Do Tuyển Cử của công dân. Vì Nhà Nước thuộc về nhân dân, nên chỉ có nhân dân có quyền lãnh đạo và quản trị nhà nước, Đảng Cộng Sản không thể tự ban cho mình quyền này.
Trong khi đó, Điều 4 Hiến Pháp dành độc quyền lãnh đạo Nhà Nước cho Đảng Cộng Sản nên đã tước đoạt quyền của nhân dân được có bình đẳng cơ hội tham gia chính quyền với tư cách cá nhân hay với tư cách đảng viên của các chính đảng. Điều 4 Hiến Pháp phải bị xóa bỏ vì nó đi trái với tinh thần và bản văn của các Điều 2, 3, 6, 11, 52, 53, 54 Hiến Pháp và đi trái với quyền Dân Tộc Tự Quyết. Quyền này đã được Luật Quốc Tế Nhân Quyền thừa nhận trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (các Điều 1 và 55), trong Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, trong Công Ước về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị và Công Ước về Những Quyền Kinh Tế Xã Hội và Văn Hóa (Điều Thứ Nhất).
Như ta đã biết, Dân Tộc Tự Quyết là quyền của người dân được tự do lựa chọn chế độ chính trị của quốc gia (như Cộng Hòa Dân Chủ hay Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa), và được quyền tự do ứng cử hay bầu lên các đại biểu của mình trong chính quyền để thực thi chế độ đó.
Về mặt quốc tế công pháp, các công ước quốc tế như Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị là những hiệp ước quốc tế đã được quốc hội phê chuẩn nên có giá trị pháp lý cao hơn luật pháp và hiến pháp quốc gia. Do đó trong trường hợp có những điều khoản mâu thuẫn giữa Luật Pháp Quốc Gia và Công Ước Quốc Tế thì tòa án phải tham chiếu và áp dụng những điều khoản của Công Ước Quốc Tế.
Hơn nữa, chiếu Điều 5 Công Ước Dân Sự Chính Trị, tòa án không được giải thích xuyên tạc luật pháp quốc gia hay công ước quốc tế để cho phép chính phủ hay tòa án làm những hành vi hay tuyên những bản án nhằm phủ nhận hay tước đoạt của người dân những quyền tự do cơ bản đã được luật pháp quốc gia và công ước quốc tế thừa nhận.
VỀ CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH TỘI TRẠNG
Điều 88 Hình Luật quy định tội tuyên truyền chống nhà nước với những yếu tố cấu thành tội trạng như tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền và tàng trữ, phát hành các tài liệu có nội dung chống Nhà Nước.
Như đã trình bày, tuyên truyền không phải là một tội hình sự dù là tuyên truyền chống chính phủ. Đây chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng, tự do phát biểu, quyền đối kháng và quyền thay thế chính quyền bằng tự do tuyển cử. Những quyền này đã được nhân loại văn minh đề xướng từ thế kỷ 18.
Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp 1789 quan niệm “quyền tự do phát biểu là một quyền cao quý nhất của con người. Và mục đích của sự thành lập quốc gia là để bảo vệ cho người dân những quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm như quyền tự do, quyền tư hữu, quyền an ninh và quyền đối kháng bạo quyền”.
Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776 minh thị quy định: “khi chính quyền vi phạm dân quyền, người dân có quyền đứng lên đối kháng lật đổ chính quyền để thay thế bằng một chính quyền mới thuận lợi cho việc bảo đảm an ninh và hạnh phúc của người dân”.
Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cũng thừa nhận quyền đối kháng và quyền thay thế chính quyền như là một hình thức của quyền Dân Tộc Tự Quyết: “Điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ dân chủ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng phải đứng lên đối kháng chống áp bức và bạo quyền”.
Ngày nay, trong những cuộc vận động tuyển cử, muốn hành sử quyền tham gia chính quyền, các ứng cử viên đối lập có quyền phát biểu chỉ trích, phê bình hay lên án chính sách của Nhà Nước. Và quốc dân sẽ là người trọng tài để phán xét xem những lời phê bình chỉ trích này có trung thực không. Nếu không có sự cố ý xuyên tạc hay có chứa đựng những sự thật chính trị và xã hội, cử tri có quyền quyết định thay thế chính quyền cũ bằng một chính quyền mới đủ khả năng và thiện chí để đáp ứng những nguyện vọng và nhu cầu của nhân dân trong giai đoạn đó.
Vì con người không phải là á thánh nên xã hội cần phải có chính quyền. Và vì nhà cầm quyền cũng không phải là á thánh nên luật pháp phải dành cho người dân quyền kiểm soát, đối kháng, chế tài hay thay thế chính quyền. Nếu không có sự thông tin, phê bình và chỉ trích thì không thể có dân chủ. Nếu không được quyền thay thế hay lật đổ chính quyền thì đảng cầm quyền sẽ tha hóa thành độc tài, tham nhũng, bất công hay bất lực.
Như vậy, tuyên truyền chống chính phủ hay lên án nhà nước độc tài tham nhũng, bất công hay bất lực là những hành vi chính trị cần thiết trong một chế độ dân chủ pháp trị và không thể cấu thành một tội hình sự. Tại các quốc gia dân chủ, tòa án cũng không truy tố những tài liệu hay tác phẩm cổ võ chủ thuyết cộng sản (đòi hỏi lật đổ chế độ tư bản để thiết lập chế độ độc tài vô sản).
Tòa cho đó chỉ là việc hành sử quyền tự do phát biểu để cổ võ một lý thuyết chủ nghĩa về mặt trừu tượng (abstract doctrine). Chỉ khi nào có sự hô hào lật đổ chính phủ bằng võ trang và có việc khởi sự hành động võ trang gây nguy hại diện tiền cho an ninh quốc gia thì mới bị truy tố ra tòa, không phải về tội tuyên truyền chống nhà nước mà về tội phản nghịch. Tiêu chuẩn là phải có sự nguy hiểm rõ rệt rịn tiền thì tội trạng mới cấu thành. Nếu chỉ là lời tuyên truyền phê bình, chỉ trích hay lên án chính quyền bằng lời nói hay bằng bài viết thì chỉ là hành sử công khai, ôn hòa và hợp pháp quyền tự do phát biểu, tự do tư tưởng, và quyền đối kháng. Nếu những quyền này bị ngăn cấm và chế tài thì không thể có xã hội dân chủ và văn minh.
Theo luật pháp phổ thông người dân với tư cách cá nhân hay hội viên của các hội đoàn chính trị (chính đảng) có quyền và có trách nhiệm truyền bá các kiến thức nhân quyền cho dân chúng, đề xướng tranh thủ sự thực thi và bảo vệ nhân quyền và những quyền tự do cơ bản trên bình diện quốc gia và quốc tế. Đồng thời Nhà Nước có trách nhiệm tiên khởi và cũng có nghĩa vụ phải bảo vệ đề xướng và thực thi nhân quyền cùng những quyền tự do cơ sở bằng cách tạo các điều kiện và cơ chế cần thiết về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và luật pháp để tất cả mọi người trong nước được thực sự hưởng dụng những quyền tự do này với tư cách cá nhân hay thành viên của các hội dân sự và hội chính trị.
Mục đích để truyền bá, phổ biến những kiến thức nhân quyền cho tất cả mọi người, đặc biệt để góp phần loại trừ hữu hiệu các vi phạm về nhân quyền và về những quyền tự do cơ sở của người dân (Phần Mở Đầu và các Điều l và 2 Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc).
Do đó, tổ chức các khóa học tập và thảo luận về những vấn đề nhân quyền và những vấn đề chung của đất nước cho các học sinh sinh viên (ở đây là các sinh viên Trường Cao Đẳng về truyền thông, phát thanh và truyền hình), cũng như truyền bá sự thật (lịch sử và xã hội) và truyền bá nhân quyền cho các cộng tác viên (ở đây là các nhân viên Văn Phòng Luật Sư). Những hành vi này không phải là những yếu tố cấu thành tội tuyên truyền chống nhà nước.
Trong hiện vụ, để qui định tội trạng của bị can, Tòa Án phải phân biệt những trường hợp theo trình tự như sau:
Tuyên truyền chính trị về tư tưởng hay ý thức hệ chống lại chế độ tư bản hay vô sản chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng và tự do phát biểu quan điểm không cấu thành tội hình sự.
Tuyên truyền chính trị bằng cách in ấn và phát hành các sách báo cộng sản hay chống cộng sản cũng chỉ là việc phổ biến chủ nghĩa lý thuyết trừu tượng (abstract doctrine) không cấu thành tội hình sự.
Tuyên truyền chính trị bằng cách hô hào và lôi kéo những người khốn cùng hãy tập hợp võ trang và đứng lên lật đổ chế độ tư bản, như Các Mác đã làm tại Luân Đôn hồi giữa Thế kỷ19, cũng không cấu thành tội hình sự.
Rải truyền đơn kêu gọi và kích động nói xấu chính quyền và hô hào dân chúng đứng lên lật đổ chính quyền cũng không cấu thành tội hình sự (như phản quốc hay phản nghịch), nếu thực sự chưa có tập hợp võ trang và cũng chưa có khởi sự hành động võ trang của phe nổi dậy. Vì những hô hào kích động này chưa có hậu quả gây nên sự Nguy Hiểm Rõ Rệt Diện Tiền (Clear and Present Danger).
Tại các quốc gia dân chủ văn minh, tòa án độc lập không bao giờ truy tố và kết án người dân về tội tuyên truyền chính trị dầu là tuyên truyền chống chính phủ, chống chế độ hay chống nhà nước.
(California ngày 5-5-2007)
Vẫn còn những tấm lòng
Monday, April 6, 2009
Vịnh kẻ Sĩ
Xã tắc sơn hà cảnh ngả nghiêng
Anh hung hào kiệt khắp ba miền
Chông gai trùng điệp không quỳ phục
Tù ngục miệt mài vẫn đứng lên
“Dân Chủ dẫu đày” lòng quyết liệt
“Tự Do hay chết” dạ trung kiên
Ngàn năm Kẻ Sĩ tâm như ngọc
Tựa đuốc trong đêm diệt bạo quyền!
Từ Đà Thành
(04/06/09)
Phú hận tháng tư
Tháng Tư đất nước một màu tang
Từ buổi quê hương bóng giặc tràn
Xã tắc điêu linh đời ngục ải
Sơn hà nghiêng ngả cuộc ly tan
Phần tư thế kỷ thân lưu lạc
Giữa cuộc nhân sinh phận khổ nàn
Mối hận tháng Tư nung nấu dạ
Phải thanh thỏa hết trước đời tàn
Tháng Tư! Tháng Tư! Tháng đen tử khí
Ất Mão! Ất Mão! Xuân trắng màu tang
Triệu triệu con người vật vả khóc than
Trăm thằng thảo khấu rú cười quái đản
Tiếng AK rờn rợn đưa người vào mê sảng
Bóng mũ cối xanh dờn dẫn nước đến tàn hoang
Đỉnh cao trí tuệ khiến toàn thế giới phải bàng hoàng
Tà thuyết mị dân đẩy cả quê hương vào mê loạn
Hàng triệu người bỏ phiếu bằng đôi chân lổ loang vết đạn
Cả dân tộc kêu gào với tiếng nói uất nghẹn lầm than
Xã tắc tiêu điều
Trăm họ ngổn ngang
Miếu đền tiên tổ hoang phế điêu tàn
Mồ mã tiền nhân xác xơ đổ nát
Từ tháng Tư đen lương dân mịt mờ trong đọa đày tù rạc
Từ Ất Mão xám kẻ sĩ điên loạn giữa lầy lội dối gian
Bắc Nam trầm thống tiếng kêu than
Trời đất sầu vương lời oán thán!
Hơn 30 năm …
Tổ quốc hôm nay ngậm ngùi trong nỗi hờn vong bản
Quê hương bây giờ khắc khoải giữa cơn lốc vô nhân
Bởi …
Bè lũ Cộng đảng vẫn say men bạo ác, vẫn cai trị dân bằng xiềng xích Mác gian
Nên …
Đồng bào Việt Nam còn ngập kiếp khổ đau, còn lết lê đời giữa gông cùm quốc nạn
Nguyệt Biều, An Truyền Hịch Quyết Chiến đã hiệu triệu rền vang
An Giang, Châu Đốc Lửa Hy Sinh đang ngời cao tỏa rạng
Tất cả đều quyết tâm diệt phường cẩu tặc
Mọi người đều nhật dạ trừ lũ sói lang
Đấu Tranh Dân Chủ, con đường chân chính của đất nước Nam đang chuyển bước nhân gian
Ngôn Luận Tự Do, tiếng nói bất khuất của nhân dân Việt đã dựng nêu Nguyên Đán
Tiếng trống Mê Linh như dập dồn giờ xung trận
Câu gào Sát Thát chừng dục dã phút lên đàng
Sĩ phu Việt Nam đã đứng lên quyết lấy lại giang san
Cháu con Âu Lạc đang chỗi dậy để diệt trừ Cộng đảng
Nếu cân…
Máu dẫu phải chảy thành sông cho ngày mai tươi sáng
Khi thiết…
Xương dầu chất cao như núi để tổ quốc vinh quang
Chế độ Cộng sản bạo tàn chắc chắn phải bị tiêu tan
Chính thể Cộng Hòa nhân bản đương nhiên trở thành nền tảng
Đồng bào ơi! Hãy đoàn kết diệt Cộng dựng lại Cờ Vàng
Huynh đệ ơi! Hãy quyết tâm trừ gian trùng tu xã tắc
Tháng Tư ơi! Tháng Tư ơi! Vững tin chờ nhạc tấu khúc khải hoàn!
Non sông ơi! Non sông ơi! Yên chí đợi bản hùng ca chiến thắng
Từ Đà Thành
(04/28/06)Thư gởi cụ Khổng Tử
Kính gởi cụ Khổng Tử!
Được tin từ bên Tây cho biết: "Văn phòng Chính phủ vừa có công văn số 1992/VPCP-QHQT gửi các bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngoại giao, Công an và Văn phòng Trung Ương Đảng Cộng Sản, thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ cho phép thí điểm thành lập một Học viện Khổng Tử tại Việt Nam". Ông Nguyễn Tấn Dũng giao cho Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân "chỉ đạo việc thí điểm thành lập Học viện Khổng Tử theo các quy định hiện hành".
Kẻ hậu sinh vội vã tìm kiếm trên các tờ báo lớn trong nước của Việt Nam để kiểm chứng nhưng chả thấy tờ nào đăng tin này cả. Cá biệt có báo CA TPHCM thì thấy đăng cách đây 3 ngày, nhưng thưa thật với cụ Khổng là kẻ hậu sinh này không tin báo CA TPHCM vì thời gian gần đây báo này có nhiều bài viết dối trá trơ trẻn quá. Tuy nhiên, căn cứ vào cái uy tín hơn 80 năm của báo Tây thì chắc là chuyện này có thiệt rồi.
Thưa cụ!
Kẻ hậu sinh được biết, cụ họ Khổng, tên khai sinh là Khâu, tự là Trọng Ni. Cụ sinh ngày 28 tháng 9, 551 – 479 TCN. Quốc tịch Lỗ Quốc, nay là Trung Quốc. Người Trung Quốc gọi cụ là Khổng Tử (孔子) hoặc Khổng Phu Tử (孔夫子). Cụ là một nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội nổi tiếng Trung Hoa. Có nghĩa là cụ Khổng chẳng có "dây mơ rễ má" gì đến người Việt Nam cả, và cụ không hề biết Việt Nam là quốc gia nào, cụ càng không biết Chính phủ Việt Nam đang vinh danh cụ là những người nào.
Việt Nam cũng không thiếu các nhà tư tưởng, nhà văn hóa lớn, có thể điểm qua như sau:
- Cụ Nguyễn Trãi (tự Ức Trai), tác giả "Bình Ngô sách" góp phần quyết định đánh thắng quân Minh, là đại thần nhà Hậu Lê, một nhà văn chữ Nôm. Cụ được xem là một anh hùng dân tộc của Việt Nam, và là một danh nhân văn hóa thế giới.
- Vua Lê Thánh Tông (tên húy Lê Tư Thành) là vị vua thứ năm của nhà Hậu Lê, trị vì từ năm 1460 tới 1497. Ông được các sử gia đánh giá là vị vua anh minh nhất của nhà Hậu Lê. Ông cũng được xem là một nhà văn hoá và một người coi trọng hiền tài. Trong lúc trị vì, ông đã đưa ra nhiều cải cách trong hệ thống quân sự, hành chính, kinh tế, giáo dục và luật pháp.
- Cụ Nguyễn Du (tự là Tố Như), hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ, là một nhà thơ nổi tiếng thời Lê mạt, Nguyễn sơ. Cụ Nguyễn Du được xem như là một nhà thơ lớn của Việt Nam, được người Việt kính trọng gọi là "Đại thi hào dân tộc". Năm 1965, cụ được UNESCO tôn vinh là danh nhân văn hóa thế giới.
- Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ Lê-Mạc phân tranh cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử Việt Nam mà người Việt thường truyền tụng gọi là "sấm Trạng Trình".
Hoặc gần đây hơn có các cụ:
- Tiến sĩ Nguyễn Bá Lân - người viết phú Nôm lừng danh Ngã ba Hạc.
- Nguyễn Gia Thiều - người thấu hiểu ý nghĩa của kiếp nhân sinh.
- Phạm Đình Hổ - người để lại cho đời sau nhiều công trình văn hóa.
- Nguyễn Khuyến - người đạt đến mẫu mực của thi ca cổ điển Việt Nam.
- Nguyễn Đổng Chi - người miệt mài tìm kiếm giá trị văn hóa dân tộc.
- Nguyễn Phan Chánh - người giữ hồn quê trong tranh lụa.
Kẻ hậu sinh tài sơ trí thiển, học hành chẳng tới đâu nhưng cũng biết rằng dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay có nhiều bậc danh nhân tài trí, đáng để tự hào nhưng chưa có bậc danh nhân Việt Nam nào được lập cái Học viện mang tên các cụ để nghiên cứu công trình của các cụ cả, cụ Khổng quả là có phúc lớn bằng Trời đó nha!
Báo Tây còn nói thêm: "Học viện này có chức năng giảng dạy tiếng Hoa; đào tạo giáo viên Hoa ngữ; tổ chức thi trình độ tiếng Hoa; chiếu phim Trung Quốc, tư vấn du học; tổ chức các hoạt động trao đổi văn hóa, hữu nghị... với mục tiêu cuối cùng là mở rộng ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc trên phạm vi toàn cầu.".
Cách đây 1/2 tháng, báo Người Đại Biểu Nhân Dân nhận xét về việc lập các Học viện Khổng Tử ở ngoài phạm vi lãnh thổ Trung Quốc "là cách tốt nhất để Trung Quốc chứng tỏ quyền lực “mềm” của mình với thế giới".
Theo thiển ý của kẻ hậu sinh này thì cụ Khổng nên cám ơn Chính phủ Việt Nam vì đã có công vinh danh, truyền bá tư tưởng, học thuyết của cụ ở bên ngoài đất nước cụ, có công "giúp đỡ" Tổ quốc Trung Quốc của cụ chứng tỏ "quyền lực “mềm” của mình với thế giới".
Hiện nay chưa biết cụ thể thời gian nào Học viện mang tên cụ Khổng được thành lập và cũng chưa biết Học viện được đặt ở đâu, nhưng kẻ hậu sinh này "long trọng đại" tuyên bố với cụ rằng mai mốt kẻ hậu sinh này sẽ cố công tầm cái Học viện mang tên cụ mà xin vào học lấy học để, nếu có điều kiện thì đổi sang quốc tịch của cụ luôn cho thêm phần "vinh dự".
.
Saturday, April 4, 2009
Lại đính chính tin đồn nhảm
.
Mấy ngày nay không hiểu từ đâu rộ lên tin đồn tôi sắp bỏ Sài Gòn về quê ở luôn, làm bạn bè, người quen cứ liên tục hỏi thăm. Thiệt là bậy bạ hết sức. Chẳng biết kẻ tung tin đồn ấy có dụng ý xấu xa gì, vì rõ ràng tôi chưa bao giờ nói với ai là tôi có ý định về quê cả, và trong kế hoạch sắp tới của tôi không có hai chữ "về quê". Hay là kẻ ấy muốn "giết người cướp của" gì đó nên tung tin trước như vậy để bạn bè, người quen thấy vắng tôi lại cứ tưởng là tôi về quê, ai dè đó là thủ đoạn che mắt thế gian cho hành động xấu khỏi bị phát hiện?Nhân đây tôi xin thông báo cho quý bằng hữu được biết:
- Dù VPLS Pháp Quyền không hoạt động nữa thì trong thời gian ít nhất là 2 tháng, tôi không rời khỏi địa chỉ số 30 đường số 3, căn cứ 26B, phường 7, Gò Vấp, SG. "Quý dị" nào cần tìm tôi thì cứ đến đây gặp tôi. Lúc nào đổi địa chỉ tôi sẽ có thông báo tiếp.
- Tháng trước, tôi có dự định đi học tiếng Tàu để lên Tây Nguyên "thực hiện chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước", nay nghe đồn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố "đình chỉ vô thời hạn" cái "chủ trương lớn" đó rồi (thiệt tiếc quá) nhưng kế hoạch tới của tôi không thay đổi, tức vẫn tiếp tục đi học thêm tiếng Tàu. Bởi lẽ các chú Tàu có nói: "Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bách thắng", muốn bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, hải đảo thì phải hiểu tiếng của chúng nó để biết chúng nó nói gì, nghĩ gì thì mới có hành động cụ thể được. Vạn nhất học dốt quá không thể hiểu chúng nó nói gì, nghĩ gì thì cũng biết dăm ba bài chửi có vần có điệu lên bổng xuống trầm để chửi chúng nó cho sướng mồm. Mình chửi nó mà nó trả lời để mình chửi tiếp thì mới có... hứng thú chửi; chớ chửi chúng nó bằng tiếng Việt thì mình tự chửi tự nghe, chúng nó có hiểu gì đâu, chửi như vậy mất vui.
- Tôi chưa chính thức là con chiên của Chúa (nói theo ngôn ngữ đời thường là đang thuộc diện "giáo dân dự bị", "giáo dân tiềm năng") nhưng tôi rất vui và rất hãnh diện khi nhận thấy Quý Cha, Quý Thầy và quý anh chị em giáo dân đã xem tôi như một thành viên chính thức của cộng đoàn dân Chúa. Tôi không có bà con, anh em ở đất Sài Gòn rộng lớn đủ thành phần "ngọa hổ tàng long" hay "giang hồ tứ chiếng", nhưng tôi không thấy mình cô độc bởi quanh tôi có những con người sống vì tình thương và trách nhiệm. "Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên Trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi" (Mt 12, 50). Tôi cảm thấy mình thật thanh thản vì tôi tin và phó thác con đường tôi đi cho bàn tay xếp đặt của Thiên Chúa, cũng như tôi đã ủy thác mình cho Quý Cha mà tôi tin tưởng.
Hãy thoát ra
thua thiệt, khổ nhục đủ đường!
Họ lập luận rằng Trung quốc là nước cực lớn, có tiềm lực cao về mọi mặt, cùng chung một chế độ XHCN, cùng chung một học thuyết Mác Lênin, cùng chung một kiểu cai trị Một đảng, sẽ dựa vào nhau như môi với răng, kết thân trong tình nghĩa anh em và đồng chí, cùng phát triển vững mạnh trong thế kỷ 21.
Những kẻ bênh vực cho đường lối đối ngoại kết thân chặt với Trung quốc cho rằng sự thống trị hàng ngìn năm xa xưa của Trung hoa trên đất Việt nam là thuộc về quá khứ thời phong kiến, bây giờ là tình nghĩa anh em cách mạng bình đẳng, chỉ có lợi cho 2 bên. Nghe sao mà bùi tai, ngon lành.
20 năm trước, ngay trong hàng ngũ lãnh đạo, đã có những lời cảnh báo và can ngăn nghiêm khắc. Rằng phải luôn ghi nhớ, Trung quốc thời nào cũng có 2 mặt : dân tộc và bành trướng, rằng bài học năm 1979 còn sờ sờ nóng hổi, lính Trung quốc hiếp dâm, đập vỡ đầu cụ già, vứt trẻ em xuống giếng sâu, tàn phá tan hoang 6 tỉnh phía Bắc.
Nhiều cán bộ, đảng viên hồi ấy cùng bạn bè quốc tế của Việt nam đã kêu lên lời cảnh báo :" Đó là con đường sai lầm; đó là con đường cùng quẫn; là gửi trứng cho ác (ác là con quạ đen); con đường thua thiệt đủ đường, con đường ô nhục, nhân dân ta không bao giờ chấp nhận ! "
Từ năm 1991, sau đại hội VII đảng CS Việt nam, Đặng Tiểu Bình, rồi Giang Trạch Dân, rồi đến Hồ Cẩm Đào rất thích thú thấy các đàn em cộng sản Việt nam nhẹ dạ chui tọt vào thòng lọng lót bằng nhung lụa của mình, qua những từ ngữ êm đềm của 16 chữ vàng : " láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai " (!) , còn thêm bảng vàng hạnh kiểm 4 tốt - tứ hảo : " láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt "(!) do họ đề ra và áp đặt. Ít ai biết 16 chữ vàng như là 16 mắt xích bằng thép, 4 tốt như là 4 chiếc khoá để khoá chặt đảng CS Việt nam vào cỗ xe bành trướng của Bắc kinh.
Gần 20 năm, chừng ấy năm tháng, bao nhiêu gặp gỡ qua lại, bao nhiêu nụ cười và ôm ấp, bấy nhiêu tuyên bố chung và hiệp ước, ký kết ... đã đủ để rút ra kết luận rằng cái mối quan hệ nước lớn với nước nhỏ, đảng lớn với đảng nhỏ, đại quốc với phiên thuộc nó ra sao, nhiều ngọt bùi hay cay đắng, lắm vinh hay nhiều nhục, được mất những gì cho đất nước và nhân dân ?
Đã đến lúc phải tỉnh ngộ.
Phải tỉnh ngộ một lần cho mãi mãi !
Những hiệp ước về biên giới trên đất liền, trên biển và đánh cá chung trong Vịnh Bắc bộ là những hiệp ước bất bình đẳng, không biết bao nhiêu đất, biển, đảo, không biết cơ man nào là tài nguyên hải sản đã bị mất đứt vào tay thế lực bành trướng. Bản đồ chi tiết vẽ đường biên giới trên bộ vẫn không được công bố. Sắp hết hạn đăng ký với Liên Hợp Quốc về "thềm lục địa mở rộng" theo Luật biển Quốc tế - ngày 13-5-2009 - mà Việt nam vẫn bất động vì sợ quyền uy của nước đàn anh.
Bắc kinh vẫn thực hiện cái thói thâm căn cố đế "được đằng chân lân đằng đầu" và "được voi đòi tiên". Căn bệnh tham lam bành trướng của Bắc kinh là vô hạn độ; lòng tham đất, tham biển, tham đảo, tham đường hàng hải, tham tài nguyên dưới lòng biển của họ không bao giờ là đủ cả.
Ngay cả những cái gọi là "ủng hộ, giúp đỡ, hợp tác" của Bắc kinh cũng cần nhìn cho rõ, nhiều khi chỉ là những cái bả tai hại cho nền kinh tế - tài chính và văn hoá nước ta. Mới đây, báo Nhân dân ở Hànội cùng báo Nhân dân nhật báo Bắc kinh cùng đưa tin kim ngạch trao đổi giữa 2 nước năm 2008 lên đến 20 tỷ đôla (mức cao nhất, không nước nào bằng), năm 2010 sẽ lên 25 tỷ đôla, nhưng thật ra sự buôn bán này cực kỳ bất bình đẳng và tệ hại, vì Việt nam nhập siêu từ Trung quốc đến gấp hơn 3 lần so với xuất (nhập 15 tỷ và xuất 4,3 tỷ), chưa nói đến hàng lậu, hàng " nhái ", hàng giả là khủng khiếp, rò rỉ khắp tuyến, không có cách gì bịt lại nổi. Số thuốc phiện đủ loại từ Trung quốc nhập vào Việt nam vượt xa số nhập từ Miến Điện, Lào và Cam-bốt cộng lại. Cho đến than của cả vùng Quảng Ninh bị đánh cắp đưa sang Trung quốc với sự đồng lõa của bọn "than tặc" 2 bên biên giới cũng lên đến hơn 10 triệu tấn hai năm qua ! Nạn buôn người, từ buôn phụ nữ, buôn gái trinh, buôn trẻ em cho đến bắt cóc người đem sang Trung hoa bán ở Côn minh, Nam ninh, Quảng châu đã thành hẳn một ngành kinh doanh ngầm phát đạt.
Các nhà kinh tế, thống kê Việt nam được lệnh không được nói gì đến mặt tệ hại, thiệt thòi trong quan hệ với nước đàn anh, chỉ được nói mặt tốt đẹp, đúng theo kiểu " tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại "; thật ra trong mối quan hệ ấy phía Việt nam thiệt đơn thiệt kép, lỗ nặng, chuốc lấy đủ bệnh kinh tế, hàng phế thải, hàng độc hại, như sữa và thịt nhiễm trùng, thuốc bắc giả, thuốc tây giả, tiền giả...
Đầu năm 2008, khi Trung quốc quyết định đóng cửa hàng loạt gần một trăm mỏ khai thác bôxít ở Quảng Tây và Tứ Xuyên do ô nhiễm môi trường nặng và nhiều bệnh kỳ lạ cho con người, thế là Hồ Cầm Đào gọi Nông Đức Mạnh sang, giao cho việc sớm khai thác vùng bôxít tại Đak Nông và Lâm Đồng; cam kết này được ghi trên giấy trắng mực đen. Chưa thật an tâm, sau đó Hồ lại gọi Nguyễn Tấn Dũng sang, bắt học thật thuộc bài, cam kết khoản bôxít Đak Nông, nhận việc đưa ngay 6 ngàn công nhân Tàu vào Tây nguyên để cắm chốt, thúc đẩy mạnh ý đồ chiến lược này, vì Trung quốc đang đói nhôm, cần nhôm với khối lượng lớn để đóng gấp tàu sân bay, tên lửa, tàu chiến, máy bay phản lực, vệ tinh đủ loại...

(Lạng Sơn sau cuộc chiến tranh tại biên giới phía Bắc)
Bọn trùm bành trướng ngửi thấy có một xu thế phản bác việc khai thác bôxít khá mạnh từ giới khoa học, môi trường, văn hóa ở Việt nam, thế là nhóm Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo liền cử phái viên liên tiếp sang để trấn an, từ quan văn Đới Bình Quốc đến quan võ thượng tướng Trần Bỉnh Đức. Những phái viên này của nước lớn cũng lên mặt ta đây, đòi lần lượt gặp đủ lệ bộ tứ trụ triều đình, trước hết là Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng. Họ còn đòi Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước phải sớm thu xếp sang chầu thượng quốc không chậm trễ.
Gần đây, theo cái thói " được đằng chân lân đằng đầu ", Bắc kinh diễu võ dương oai, đưa tuần dương hạm, khu trục hạm vào vùng biển Hoàng Sa - Trường Sa, coi cả vùng Đông hải và Nam hải là "ao nhà", là vùng "lưỡi bò" của họ, coi mọi tàu đánh cá của nước khác trong vùng là bất hợp pháp, sua đuổi mọi dàn khoan và tàu dịch vụ của Anh - British Petroleum, Mỹ - Exxon Mobil , Na uy ra khỏi vùng này. Bắc kinh còn than phiền rằng cho đến nay Trung quốc đã tỏ ra nhún nhường quá(!), không khai thác được tài nguyên dầu, hơi đốt và tài nguyên khác(!); họ lên gân, xý hết phần mình về mọi tài nguyên trong vùng và răn đe thiên hạ không ai được đụng đến vùng lãnh hải mênh mông gọi là vùng "lưỡi bò" do họ tự ý vẽ ra.
Rõ ràng Trung quốc lợi dụng cuộc khủng hoảng kinh tế sâu rộng trên toàn thế giới để diễu võ dương oai, lao vào thời kỳ khai thác tài nguyên sâu rộng, nhằm vươn mạnh lên thế siêu cường kinh tế - tài chính và quân sự.
Hoa kỳ đã mạnh mẽ bác bỏ mọi yêu sách của Trung quốc trong vùng biển quốc tế, nơi tự do thông thương phải được tôn trọng cho mọi nước, mọi sự tranh chấp phải giải quyết bằng thương lượng. Tàu nghiên cứu Impeccable bị tàu quân sự Trung quốc ngăn chặn, vẫn tự do làm nhiệm vụ, khi cần được tàu quân sự của Hoa kỳ đi hộ tống. Nhiều nhà bình luận quốc tế nhận xét rằng chiếc lưỡi bò của Bắc kinh thè ra quá dài, đã bị lưỡi dao Hoa kỳ cắt đứt ! Phải 5 hay 7 năm, cho đến 10 năm nữa, hải quân Trung quốc mới có thể sánh bằng 1/3 hải quân Mỹ hiện nay.
Trước áp lực tới tấp, mạnh mẽ, có thể nói thô bạo và trịch thượng của Bắc kinh, nhóm lãnh đạo ở Hànội cũng cảm thấy quá ư bị động và lép vế. Họ thực hiện một cuộc điều chỉnh chiến thuật miễn cưỡng, để mong xoa dịu sự phẫn nộ của nhân dân, của một bộ phận trong đảng, trong quân đội, trong khối cựu binh sỹ, trong không ít trí thức và văn nghệ sỹ.
Đây chính là một động thái không bình thường, như cuộc họp của Ban thường trực Mặt trận Tổ quốc với bộ tư lệnh hải quân, tháng 2 vừa qua, đề cập đến cổ động lòng yêu nước, bảo vệ vùng biển, đảo của Tổ quốc, xác định Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc chủ quyền Việt nam từ xa xưa, sau khi họ bị lên án là bán đất, bán biển ..
Ngày 17-3 gần đây, lại một động thái không bình thường: một cuộc hội thảo về đề tài "Tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông : lịch sử, địa chính trị và luật pháp quốc tế " do Học viện Ngoại giao, thuộc bộ Ngoại giao tổ chức tại Hànội. Nó khác thường là không có quan chức nào thuộc bộ ngoại giao tham dự. Có 14 bản thuyết trình đều mang danh nghĩa những nhà nghiên cứu tự do, trong đó có 2 học giả Mỹ. Nội dung đáng chú ý nhất là : coi công hàm Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958 là vô giá trị đối với Hoàng Sa, Trường Sa, vì trước đó Hiệp định Giơnevơ 1954 đã quy định lãnh thổ Nam vỹ tuyến 17 là thuộc quyền cai quản của chính quyền Miền Nam ; đề ra yêu cầu làm thành Luật chủ quyền của Việt nam tại Hoàng Sa và Trường Sa; đăng ký thềm lục địa mở rộng của Việt nam theo đúng Luật Biển trước khi hết hạn vào ngày 13-5-2009 tới...
Những động tác điều chỉnh chiến thuật rời rạc, miễn cưỡng trên đây chứng tỏ bộ chính trị 15 nhân vật độc đoán phụ thuộc thiên triều đã không thể cứ nhắm mắt vâng dạ mãi mọi mệnh lệnh ngang ngược, - thường còn đi trước cả ý muốn của thượng quốc, nay đã buộc phải có tý chút can ngăn, vì cảm thấy kẹt giữa thế trên đe dưới búa, cực kỳ hiểm ngèo. Họ cũng muốn trần tình với thiên triều là xin hay thư thả, từ từ, rồi đâu sẽ có đấy, ép quá mạnh e hỏng việc.
Giữa lúc căng thẳng, bế tắc, tiến lui đều khó này, quan hệ bên ngoài vẫn có vẻ như lắng dịu, thân thiết giữa thiên triều và phiên thuộc, nhưng bên trong đang có nhiều giằng co, mang đủ màu sắc quen thuộc : lôi kéo, mua chuộc, đe doạ và trừng phạt. Cười và lườm, tuỳ lúc. Nước lớn càng được thể, ép mạnh hơn. Bắc kinh đang ép Hànội phải dành cho đại công ty quốc doanh CHALCO - Chinese Aluminium Corporation, phần trúng thầu béo bở nhất ở Tây nguyên, đẩy lùi ALCOA của Mỹ và ALCAN của Canada.
Họ ép phải cho đưa tiếp công nhân Hoa lên đến 20 ngàn. Trung quốc trả giá cho 2 chuyện này 300 triệu đôla viện trợ không hoàn lại. Họ đã mua chính quyền cơ sở ở Đak Nông và Lâm Đồng. Các cuộc gặp cấp cao, phía VN phải nhắc lại thuộc lòng 16 chữ vàng và 4 tốt - Tứ Hảo; và phải có lời cam kết rõ : đưa hợp tác toàn diện giữa 2 nước anh em vào chiều sâu (!). Chiều sâu là lòng tham không đáy của nước đại bành trướng. Vẫn chưa hết, Trung quốc đang ép mạnh để hầu như ngành điện, than, ximăng, phân đạm, cả phần lớn ngành lọc dầu vào tay Trung quốc. Lại thòng lọng đấy !
Những tháng sắp đến sẽ là thời gian thử thách hiểm nghèo cho chế độ toàn trị. Nhóm lãnh đạo ở Hànội đã cảm thấy thế trên đe dưới búa. Họ buộc phải giữ thế phòng ngự. Họ buộc phải làm những động tác giả, nói về chủ quyền và lòng yêu nước. Nhưng họ chui quá sâu vào thòng lọng bành trướng, cắn phải câu, không nhả ra được nữa. Cần thôi thúc họ, cần cảnh tỉnh họ, nhất là cảnh tỉnh đại khối đảng viên bình thường, ở cơ sở, đông đảo người còn có tư cách và lương tri.
Họ có dám thông qua Luật về Chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, có dám cùng Hoa kỳ và các nước Đông Nam Á cắt cái lưỡi bò bành trướng xuống phương Nam hay không ? Họ có dám mở hội nghị khoa học theo đúng nghĩa để thảo luận rành rọt về "nên và không nên" khai thác bôxít không? Họ có dám chuẩn bị đăng ký kịp thời hạn - trước 13-5-2009, thềm lục địa mở rộng của nước ta hay không ? Họ có hãm bớt số người Hoa đưa vào Tây nguyên hay không ?
Bộ chính trị hiện tại đã khinh thường bỏ ngoài tai những lời khuyên, can ngăn về phá nhà quốc hội cũ, xây nhà quốc hội mới, làm hư hại di tích lịch sử Cung điện Thăng long vô giá. Nay vẫn cứ như vậy ư ? Họ sẽ phải trả giá rất đắt.
Lúc này, mùa xuân - hè này là dịp hiếm có để toàn dân ta bày tỏ lời cảnh báo nghiêm khắc, lời khuyên răn chân thành cho bộ chính trị tự nắm độc quyền cai quản đất nước, rằng :
- hãy nhìn cho rõ tình hình; gần 20 năm phụ thuộc, Bắc thuộc là quá đủ, quá rõ rồi. Thế lực bành trướng Đại Hán tham lam vô độ, không chơi được với chúng đâu. Chúng chuyên dở trò "được voi, đòi tiên", "được đằng chân, lân đằng đầu ", rất khổ cực nhục nhã cho những ai mắc mưu chúng.
- hãy quyết đoán một lần, dứt khoát một lần, xây dựng nền tự chủ, đứng vững trên đôi chân dân tộc, kết chặt thành một khối, với chế độ dân chủ tiến bộ, dựa vào thế giới dân chủ văn minh, dựa vào các nước bạn ở Đông Nam Á, giữ quan hệ đúng mức, bình đẳng, quan hệ láng giếng tốt có đi có lại với Trung quốc.
Hãy mở ra một cuộc thảo luận rộng khắp về khai thác bôxít, và nhân đó về đường lối đối ngoại, chọn bạn tốt mà chơi, đứng vững trên đôi chân mình, gắn bó với các nước dân chủ, tiến bộ, tôn trọng luật pháp, từ bỏ và lánh xa các chế độ độc đoán bóp ngẹt tự do, chà đạp luật pháp.
Bùi Tín .
Paris 26-3-2009.
Friday, April 3, 2009
Quảng Ngãi: Gặp văn bản năm 1835 về Quần đảo Hoàng Sa
QUẢNG NGÃI: Gặp Văn Bản Năm 1835 VỀ Đảo HOÀNG SA
Theo báo Lao Động, ngày 31/3/2009, tại tỉnh Quảng Ngãi, gia đình ông Đặng ngày Tôn - ở thôn Đồng Hộ, xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn - đã báo cáo với ngành văn hoá tỉnh Quảng Ngãi về một tài liệu quan trọng liên quan đến đội Hoàng Sa. Đó là sắc chỉ của Vua Minh Mạng phái một đội thuyền gồm 3 chiếc, với 24 lính thuỷ ra đảo Hoàng Sa vào ngày 15 tháng tư năm Minh Mạng thứ 15 (Ất Mùi - 1835).
Báo Lao Động ghi nhận rằng theo sắc chỉ, ông Võ Văn Hùng, thành viên trong đoàn thuỷ quân ở Lý Sơn, phải chọn những thanh niên khoẻ mạnh và giỏi nghề bơi lặn để gia nhập đội thuyền, giao Đặng Văn Siểm (dòng họ ông Đặng Tôn, người đang giữ tài liệu) kham việc đà công (người dẫn đường), Võ Văn Công phụ trách tiếp tế.
Báo Lao Động dẫn lời tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, nhà nghiên cứu văn hoá, cho biết đây là sắc chỉ duy nhất mà các dòng tộc trên đảo Lý Sơn còn lưu giữ liên quan đến đội thủy quân từng vâng mệnh triều đình nhà Nguyễn ra Hoàng Sa để bảo vệ hòn đảo này từ gần 200 năm trước.
Thursday, April 2, 2009
Đoản văn cho tháng tư đen
Hải Triều
1. Chiếc lông chim đại bàng
Một ngày, 30 năm sau, có cánh chim vượt trùng dương bay về khung trời quê hương cũ. Chim soãi cánh trên không gian lồng lộng, nhìn xuống, nghẹn ngào từng bờ cỏ, từng ngọn cây, từng con đường xưa như còn in dấu chân chim, từng cánh đồng xanh, từng góc núi thẩm Trường Sơn hùng vĩ …
Chim mơ một lần hạ cánh để được đậu lại trên những cành xưa yêu dấu. Chim bình phi hạ dần cao độ, xuống dần. Lòng chim đau như cắt, nhưng làm sao chim có thể an lòng đậu trên những cành cây xưa mà lòng không “kinh cung chi điểu”! Chim vụt lên cao. Chim lại sà xuống tổ cũ, cánh soãi ngang, bàng hoàng, lưu luyến. Cả một vùng trời quê hương yêu dấu ẩn hiện nhạt nhòa trong mắt chim … Và vụt! Một mũi tên bắn lên từ vùng đất xưa, cắm thẳng vào thân chim. Chim đau đớn, tung cánh vút lên cao. Chim vượt Trường Sơn, vượt trùng dương qua biển Bắc, từ Alaska, theo rặng Rocky xuôi Nam.
Chim đuối sức, tàn hơi hạ cánh đậu lên một mõm đá trên đỉnh Rainier thuộc vùng Tây Bắc Hoa Kỳ. Mùa xuân đen năm xưa, có một đàn chim vỡ tổ. Ðàn chim tung cánh lìa đàn hoảng hốt bay bốn phương trời. Có những con chim gãy cánh trên rừng sâu. Có những con chim gãy cánh trên biển rộng… và cũng có những con chim đến được những vùng đất lành.
Chim vỡ tổ. Chim lìa tổ. Chim nhớ tổ. “Việt Ðiểu Sào Nam Chi”. Có những khung trời nắng ấm. Có những cánh chim mòn mõi. Có những khung trời lạnh giá. Có những cánh chim co ro giữa mùa đông tuyết trắng. Có những cánh chim tàn tạ bỏ mình trên đất khách nghìn trùng …
Trên mõm đá lạnh không còn bóng thù, chim ngoái cổ nhổ mũi tên ra khỏi thân. Một dòng máu chảy tuôn. Chim đặt mũi tên trên phiến đá. Cơn đau cắt ruột trên thân chim bỗng biến đi khi chim kinh hoàng nhận ra chiếc lông chim gắn dính sau đuôi mũi tên lại chính là chiếc lông của chim đã rơi vào tay kẻ thù.
Cơn mưa lạnh đã cuốn đi những vệt máu chim loang trên phiến đá. Mắt chim mờ đi. Không biết sương mù trên đỉnh Rainier rơi vào mắt chim hay chính chim đang khóc, khóc cho mình, khóc cho vận nước oan nghiệt đau thương …
Ðoản văn này được viết theo một chuyện ngụ ngôn nói về chiếc lông chim đại bàng của một quốc gia vùng Ðịa Trung Hải. Và chiếc lông chim đại bàng Việt Nam được gắn làm đuôi mũi tên chính là những đồng đô la người Việt hải ngoại gửi về quê hương hàng năm tròn trèm 3 tỷ lọt vào tay cộng sản. Những đồng đô la đó chính là những viên sỏi trong các đôi giày cách mạng Việt Nam, là những mũi tên chí tử cắm vào thân thể những người yêu nước! Không biết cộng sản đã xây thêm bao nhiêu trại giam, bao nhiêu nhà tù để trấn áp muôn dân?!
Ôi, liệu có cánh chim đại bàng nào có thể bay xa khi những mũi tên thù làm bằng chính chiếc lông của mình, cứ tiếp tục phóng thẳng vào thân thể mình?! Mùa xuân nào những con chim đại bàng còn sống sót trên đất lạ, còn đủ lông cánh, có thể tung cánh trở về tổ ấm xưa khi trên thân mình dính đầy những vết thương oan nghiệt?!
2. Karl Marx mắng mỏ đảng cộng sản Việt Nam
Thiệt tình mà nói, trước khi vô bài, tôi đặt cái tít này chắc bà con khó hiểu, chắc mấy ông đầu đảng cộng sản ở Hà Nội ngạc nhiên tưởng tôi điên. Nhưng hãy khoan! Cứ bình tâm nghe tôi lý sự, nghe tôi kể chuyện.
Quả thật, tôi là người không ưa cộng sản Việt Nam, không ưa chủ nghĩa cộng sản, không phải chỉ vì mấy năm tù bị đì như thú vật mà tôi có định kiến, mà vì cộng sản dã man và nhiều khi mất nhân tính thật. Ở trong tù như ở trong địa ngục, mà ra khỏi tù thì cũng thấy cộng sản đối sử với đồng bào như cỏ rác, như nô lệ, sống vất vưởng đầu đường xó chợ trong khi cộng sản thi nhau bỏ dép râu đi xe Mẹc Sơ Ðì bóng loáng, nhà cao cửa rộng, phung phí như ông hoàng … Tôi có cảm giác cộng sản Việt Nam là những sinh vật đến từ một thứ hành tinh nào, chứ không cùng nòi giống Việt Nam.
Thoát ra được nước ngoài, nghĩ lại những năm tháng ở Việt Nam mà còn lạnh xương sống, cóng xương sườn, đêm trường ngủ mơ thấy ở tù kỳ cục …, rồi chợt nhớ lời ông Karl Marx phán mà thấy thấm thía. Ổng phán rằng thì là: “Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình …”
Nói thiệt với bà con, tôi ghét cay đắng chủ nghĩa Mác Lê Nin, nhưng rất khoái và thấm câu nói của Mác. Có thể cụ Mác nói xỏ mấy ông chủ bóc lột công nhân thời của ông sống bên Anh, khoảng thế kỷ 17, 18 thì phải. Tôi dốt sử nên đoán mò, trúng tôi nhờ, trật bà con … chịu và thông cảm cho.
Tuy nhiên, hôm nay, khi viết những dòng này, nhớ về Việt Nam, nhớ những gương mặt “giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay dính máu anh em” của năm 1975, với những đổ nát, đau thương, chết chóc, mất mát, chia ly, đọa đày trên khắp nước vẫn còn tiếp diễn dưới bàn tay thống trị của cộng sản Việt Nam, nhớ những ngày chính tôi và bạn bè khiêng xác anh em bạn tù đi chôn ven rừng, mồ xiêu, mã lạng… tôi bỗng thấy dường như câu nói của Mác là câu nói ông nói với đảng cộng sản Việt Nam. Mác tiên tri? Mác mặc khải? Mác làm ông Trạng Trình?… Tôi không biết, nhưng điều tôi biết là Mác nói không sai khi áp dụng vào đảng cộng sản Việt Nam.
Ngày 13 tháng 7 năm 2001, vào một buổi xế chiều, tại công viên Stanley Park nổi danh của Vancouver, Canada (đứng vào hàng công viên đẹp hàng thứ 7 trên thế giới), người ta chứng kiến một trường hợp lạ lùng: Một con vịt mẹ dắt một bầy vịt con từ một mé rừng công viên đến bờ ao. Trên đường đi, cả đám vịt con rơi tòm xuống một cống nước. Vịt mẹ đứng nhìn xuống cống nước cất tiếng cạp cạp tuyệt vọng, không biết làm sao đem bầy con mình lên bờ.
Cảnh sát viên Ray Peterson tình cờ đi ngang gần đó khi tuần tra, ông ngạc nhiên thấy con vịt mẹ chạy lạch bạch tới cắn ống quần ông và kéo đi về hướng ống cống. Thoạt đầu ông tưởng con vịt cắn sảng, ông hất nó ra, nhưng nó cứ một mực cắn ống quần ông kéo đi. Ông ngạc nhiên, đi theo con vịt, nó dẫn ông tới lổ cống có song sắt lớn chắn rác. Con vịt mẹ chạy trước đến đó và chờ ông với tiếng kêu cạp cạp thống thiết. Ray Peterson vô cùng ngạc nhiên thấy 8 con vịt con rơi tòm kẹt dưới ống cống lỏm bỏm nước. Ray Peterson hiểu chuyện gì đã xẩy ra.
Cảnh sát và xe cứu hỏa được gọi tới, và chuyện lạ lùng này lọt vào tai phóng viên tờ Vancouver Sun. Tức thời báo chí bay đến viết tin và chụp hình khi người ta giở tấm vĩ sắt, dùng vợt với 8 chú vịt con lên bờ trả cho vịt mẹ. Vịt mẹ dắt bày con, từ giả đám người hiếu kỳ đang bu quanh, dắt bay con đến một cái ao bên cạnh và mẹ con ùa xuống nước. Nhiều người vừa chụp hình, vừa gãi đầu trước hiện tượng lạ lùng kỳ thú này.
Hình ảnh vịt mẹ dắt bầy con cùng bản tin lạ này lập tức được Reuters loan đi khắp thế giới với tựa đề: Ducklings in trouble, mother calls the police. (By Reuters 07/13/01)
Người viết có được hình con vịt thông minh dắt bày vịt con trên tờ Vancouver Sun, nhưng không biết nó thất lạc đi đâu trong cái núi sách báo và hồ sơ …. Tuy nhiên, cũng như rất nhiều người ở Vancouver và độc giả khắp nơi, câu chuyện có thật lạ lùng và cảm động này cứ nằm trong đầu tôi với câu hỏi “tại sao con vịt mẹ này lại thông minh đến độ như vậy? …” Nó không bỏ bầy con, nó lại biết gọi cảnh sát mới là kỳ diệu! Ai bảo loài vật không có “lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào?!!!”
Ngày 14 tháng 5 năm 2007 mới đây, phóng viên Trung Ðông Ali Jarekji, lại cũng của Reuters phóng lên bản tin và tấm hình một con mèo nuôi gà con. Con mèo tên Nimra, một năm tuổi. Sau khi con gà mẹ của 7 con gà con sơ sinh bị chết, con mèo Nimra đứng ra thay thế gà mẹ chăm sóc 7 con gà con. Bầy gà con mất mẹ tưởng mèo là mẹ nó nên lẩn quẩn theo mẹ mèo. Chuyện này xẩy ra ở Amman, Jordan.
Ngày 25 tháng 5 năm 2007, phóng viên Arben Celi, cũng của Reuters tung lên các hệ thống truyền thông một bản tin và một tấm hình cảm động khác. Tại một thành phố nhỏ tên Mamurras thuộc vùng nước Albani cách thành phố Tirana 50 km, một con mèo mẹ sinh ra mấy con mèo con và chẳng may tất cả mèo con bị chết trong lúc vú mèo mẹ còn căng sữa.
Cùng sống trong một ngôi nhà, một con chó sinh ra hai con chó con, một đen và trắng và không may, con chó mẹ vị xe cán chết. Mất mẹ, hai con chó con chạy theo con mèo mẹ mất con để tìm vú bú sữa. Con mèo mẹ nằm xuống cho hai con chó con bú sữa mèo. Và rồi ngày ngày con mèo mẹ này chăm sóc hai con chó con như con ruột! Một hình ảnh rất cảm động, rất dễ thương.
Con mèo, con chó, con vịt… là những con vật, tại sao nó đối xử với con, với loài khác giống như những con người có lương tri, đầy tình thương với đồng loại? Có những trường hợp con người không hiểu nổi sự thông minh và tình thương trong phản ứng của loài vật, như trường hợp con vịt được đề cập ở phần trên. Phải chăng Marx đã nói oan cho loài vật? “Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình.”
Marx sai với con vịt. Con vịt đâu có bỏ đi và bỏ con chết dưới cống nước, nó biết gọi cảnh sát cứu con nó mà!
Marx sai với con mèo. Con mèo còn thay mẹ gà nuôi và chăm sóc mấy con gà con mất mẹ, dù mèo, gà không là đồng loại.
Marx sai với con mèo. Con mèo còn biết thay con chó mẹ bị chết để cho chó con bú và nuôi hai con chó con, dù mèo không cùng loại chó.
Nhưng Marx hoàn toàn đúng với trường hợp chế độ cộng sản Việt Nam. Tôi nhắc lại lời Marx:
“Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình.”
Vì sao?
Từ ngày thành hình đảng CSVN đến nay, đảng cộng sản Việt Nam, qua dòng lịch sử, đã thể hiện rõ nét, là họ đã quay lưng lại với những nỗi đau của của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho quyền lực của đảng cộng sản, của giai cấp thống trị, của quyền lợi giới tư bản đỏ tại Việt Nam, và của gia đình họ.
Oan khuất của đồng bào trùng trùng khắp trời Nam Bắc, khát vọng của đồng bào bị dập tắt dã man. Mất lòng dân, mất lòng người, mất biên thổ của tổ tiên … Cộng sản Việt Nam đã và đang quay lưng lại với nỗi đau và khát vọng của đồng loại và dân tộc. Và thưa cụ Karl Marx, theo cụ thì chế độ cộng sản Việt Nam là loại gì?
Thưa cụ Mác! Ai bôi bác cụ vì cộng sản Việt Nam cứ dùng hoài cái món ngoại lai mà họ gọi là “Chủ nghĩa Mác Lênin bách chiến bách thắng muôn năm” … nhưng cuối cùng cũng chầu ông Bush hay Obama … thì cứ bôi bác, nhưng tôi phải thành thật mà thưa rằng cái tâm ban đầu của cụ là tốt, là thiện … nhưng bị ông Lê, ông Sịt và VC biến chế thành ác để dùng, để đi làm cách mạng kiểu:
Ðỗ 10 học hết lớp ba.
Ði làm cách mạng chết cha giống nòi!
Không tin hỏi bác mà coi
Muôn dân ở dưới, đảng ngồi ở trên!
Không biết tôi đoán có sai hay không, cụ linh thiêng thì hiện hình dạy bảo, nhưng dù sao tôi cũng cám ơn cụ đã phán một câu quá đúng về mặt đạo lý và nhân bản: “Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình..”
Cụ hết sẩy cụ Mác ui! Cụ phán trúng phóc, không trật một ly ông cụ nào khi đem câu đó trùm lên đầu chế độ cộng sản cầm quyền hiện nay ở Việt Nam! Mấy ông VC ở Hà Nội nghĩ sao thì mặc xác mấy ông, nhưng theo kẻ hèn này thì ông Mác nói đúng, chỉ có loài vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại … mà chỉ lo chăm sóc mấy đồng đô la trong túi mình …
