Translate

Monday, October 4, 2010

Đại Hội Bất Thường Tập Thể Chiến Sĩ Vnch Hải Ngoại

Việt Báo Thứ Hai, 10/4/2010, 12:00:00 AM

Cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm (giữa) và các cựu viên chức chào quốc quân kỳ.

Westminster (Bình Sa)- - Tại hội trường Thành Phố Westminster sáng Thứ Bảy ngày 2 tháng 10 năm 2010 Đại Hội Bất Thường Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hoà Hải Ngoại đã long trọng khai mạc với sự tham dự đông đủ các đơn vị quân binh chủng về từ khắp nơi. Đại hội kéo dài 2 ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật.
10 giờ sáng Chủ Nhật một buổi lễ đặt vòng hoa tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ để tưởng niệm những chiến sĩ đã hy sinh vì lý tưởng tự do. Lễ được cử hành long trọng theo lễ nghi quân cách, với sự tham dự của các đơn vị tập thể chiến sĩ về từ khắp nơi và các chiến hữu thuộc các quân binh chủng tại địa phương và đồng hương. Hiện diện trong buổi lễ đặt vòng hoa có các niên trưởng như: cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, nguyên Thủ Tướng Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa và phu nhân; Đô Đốc Trần Văn Chơn, Đô Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh... Về phía quan khách nhận thấy có Dân Biểu Liên Bang Bà Loretta Sanchez, Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Lou Correa, Dân Biểu Tiểu Bang Trần Thái Văn đồng thời cũng là ứng cử viên Dân Biểu Liên Bang, Nghị Viên Thành Phố Westminster Tạ Đức Trí, Luật Sư Nguyễn Quốc Lân Phó Chủ Tịch Học Khu Garden Grove, ứng cử viên dân biểu Tiểu Bang Phú Nguyễn, ứng cử viên Thị Trưởng Thành Phố Westminster ông Bruce Trần...
Sau phần nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và phút mặc niệm tiếp theo vị khách danh dự đó là Đại Tướng Trần Thiện Khiêm cùng các vị tướng lãnh lên đặt vòng hoa tưởng niệm trước tượng đài. Sau đó là lời phát biểu cảm tưởng của Đại Tướng Trần Thiện Khiêm. Trong lời phát biểu ông nói: "...Tất cả những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa dù cho kẻ mất, người còn cũng đều được vinh danh vì họ là những người đã hy sinh cuộc đời của mình để bảo vệ phần đất tự do cho đồng bào được sống ấm no hạnh phúc..."
Buổi lễ chấm dứt trong không khí thắm tình " Huynh Đệ Chi Binh" mọi người cùng trở lại hội trường để tiếp tục đại hội. Chi tiết đại hội sẽ được loan trong số các báo tới.

Sunday, October 3, 2010

Hàng vạn cánh tay giơ lên

Trích Việt Luận.

Tấm tình của người Việt tại Úc Châu đối với lá cờ vàng ba sọc đỏ thật cảm động. Đọc bài "Hàng vạn cánh tay giơ lên" của tác giả Nguyễn Khắp Nơi lòng thấy xúc động, bùi ngùi..

Hàng vạn cánh tay giơ lên của Nguyễn Khắp Nơi

Saturday, October 2, 2010

Câu hỏi lớn về vận nước

Theo Tuanvietnam.net

Chính vì những chuyến xe lịch sử không có khứ hồi, cho nên, tiếp bước cha ông không phải là dẫm theo lối mòn có sẵn, mà là dũng cảm gạt bỏ mọi trở ngại để vươn về phía trước, như dòng sông chỉ có chảy ra biển mới gọi là trung thành với ngọn nguồn của nó.

>> Đọc "Chiếu dời đô" bằng đôi mắt hiện tại

"Quốc tộ như đằng lạc

Nam thiên lý thái bình

Vô vi cư điện các

Xứ xứ tức đao binh"

Thin sư Pháp Thuận [915-990.]

Có một thời, trong cơn lốc của những xúc động tụng ca, người ta khẳng định "Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?... Những ngày ta sống đây là ngày đẹp nhất. Trái cây rơi vào áo người hái quả... Gặp mỗi người đều muốn ghé môi hôn...: "[Chế Lan Viên]. Rồi để khẳng định cái ánh sáng chói lòa của hiện tại, người ta nhìn về những thời đoạn lịch sử trước kia với đôi mắt chưa thật tỉnh táo "Ông cha từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời. Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa [Chế Lan Viên], và rồi, Một câu hỏi lớn không lời đáp. Cho đến bây giờ mặt vẫn chau" [Huy Cận].

Đừng quên những câu thơ ấy từng hấp dẫn những tâm hồn đa cảm bị khúc xạ bởi màn sương hư ảo của những chấn động một thời. Ở đây gợi nhớ đến một phân tích lạnh lùng, sắc sảo của Gustave le Bon: "Chẳng gì chứng minh rõ hơn sự mê hoặc do một niềm tin chung gây ra, nhưng cũng chẳng gì chỉ ra rõ hơn những giới hạn nhục nhã của trí tuệ con người"1!

Ngẫm cho kỹ, sẽ nhận ra sự dễ dãi đến bạc bẽo khi đưa ra những phán xét, cho dù bằng những rung động thẩm mỹ có phần cảm tính, về ông cha. Ông cha ta đâu có "bế tắc", cái "câu hỏi lớn" mà nhà thơ cho là "không lời đáp" là gì nếu không là vận mệnh của đất nước? Mà nếu thế thì ông cha ta đã từng đưa ra những lời đáp thật thuyết phục với những bằng chứng lịch sử không thể bác bỏ. Nếu không như vậy thì làm gì có "Nghìn năm Thăng Long" để hôm nay chúng ta long trọng và tưng bừng kỷ niệm.

Mà quả thật, không nhiều những quốc gia có được một thủ đô nghìn năm tuổi để tự hào trình diễn trước thế giới như chúng ta đang làm. Khi mà kim chiếc đồng hồ bên Hồ Gươm đã chỉ vào con số chờ đợi, thì cũng là lúc người ta hiểu ra rằng, lịch sử là một thành phần mà nếu thiếu nó, thì không một ý thức dân tộc nào có thể được khẳng định. Mà nếu không có điều ấy thì cũng không thể có bất cứ sự phát triển nào có ý nghĩa cả. Càng không thể có sự hội nhập một cách chủ động và biết chọn lựa để phát triển.

Mà giả dụ nếu có, thì e chỉ có thể là sự vong bản, tự đánh mất mình, khởi đầu bằng đánh mất văn hóa. Vì thế, kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, xét đến cùng, là để khẳng định bản lĩnh văn hóa Việt Nam nhằm khơi dậy lòng tự hào dân tộc, lấy đó làm điểm tựa để động viên lòng yêu nước, khí phách anh hùng "có cứng mới đứng đầu gió", gió Biển Đông đầy bất trắc dồn dập sóng cồn giữa biển cả thời gian đầy thách thức.

Lịch sử là một thành phần mà nếu thiếu nó, không một ý thức dân tộc nào có thể được khẳng định. Mà nếu không có điều ấy thì cũng không thể có bất cứ sự phát triển nào có ý nghĩa cả. Càng không thể có sự hội nhập một cách chủ động và biết chọn lựa để phát triển.Mà giả dụ nếu có, thì e chỉ có thể là sự vong bản, tự đánh mất mình, khởi đầu bằng đánh mất văn hóa.

Phải có bản lĩnh ấy để tồn tại và phát triển trong cái thế kẹt địa-chính trị đầu cầu dẫn đến một vùng Đông Nam Á giàu tiềm năng, vốn luôn là đối tượng của những tham vọng bành trướng khó bề thay đổi. Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long cũng là để gợi nhớ và tôn vinh một bản lĩnh văn hóa, bản lĩnh của vị vua khai sáng vương triều Lý.

Sau chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng đánh tan quân Nam Hán, chặn đứng mộng bành trướng, mở đầu việc dựng xây nền móng cho một nhà nước tự chủ, thì quyết định dời đô về Thăng Long của Lý Thái Tổ là sự khẳng định quyết tâm củng cố nền độc lập và phát triển đất nước, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong sự nghiệp trường kỳ dựng nước, mở nước và giữ nước của ông cha ta.

Trên ý nghĩa ấy, cần thấy cho ra "Chiếu dời đô" thể hiện một tầm nhìn khởi đầu một sự nghiệp. Cũng có thể nói, "Chiếu dời đô" của vua Lý Thái Tổ là sản phẩm của một bản lĩnh văn hóa. Không có bản lĩnh văn hóa ấy thì dễ gì hôm nay đất nước có một thủ đô nghìn năm tuổi!

Muốn cho "vận nước dài lâu, phong tục giàu thịnh" nhằm "làm kế cho con cháu muôn vạn đời", vì vậy "xem khắp nước Việt, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời" nên quyết dời đô về đây. Ấy chính là "trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân"!* Phải có một bản lĩnh văn hóa đủ tầm mới chỉ ra được những điều ấy.

Đương nhiên, bản lĩnh ấy không ngẫu nhiên mà có. Người mở đầu cho vương triều Lý là một người được hấp thu một học vấn nghiêm chỉnh từ nhỏ. Thầy dạy của Lý Công Uẩn là thiền sư Vạn Hạnh, một nhà sư uyên bác, một trí thức đứng hàng đầu trong những người có học vấn đương thời. Hãy chỉ đọc một bài thơ của ông để cảm nhận điều đó, bài "Thị đệ tử":

Thân như điện ảnh hữu toàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô [ Thân người như bóng chớp, có rồi lại không/ Như muôn cây cỏ mùa xuân tươi tốt đến mùa thu khô héo/ Ngẫm và hiểu cái lý của thịnh suy, lòng không sợ hãi/ Vì thịnh suy nối tiếp nhau như khoảng thời gian hạt sương móc trên đầu ngọn cỏ].

Theo tác giả của "Lịch sử Phật giáo Việt Nam", giáo sư Lê Mạnh Thát, "trước khi mất, Vạn Hạnh đã gọi đệ tử mình ở chùa Lục Tổ đến và đọc cho họ nghe bài kệ trên, rồi dặn dò đệ tử của mình: "Các con muốn đi đâu? Ta không lấy chỗ trụ để trụ, mà cũng không dựa vào chỗ không trụ để trụ". Bài thơ này là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của văn học Việt Nam... nó đúc kết cả một triết lý hành động mà suốt đời Vạn Hạnh đã theo đuổi". *

Có thể vắn tắt gợi lên những phân tích của tác giả "Lịch sử Phật giáo Việt Nam" về bài thơ này như sau:

Câu đầu là một cái nhìn về chính bản thân. Con người xuất hiện trên thế giới này đúng như một ánh chớp, chỉ lóe lên rối tan biến vào đâu đó trong không gian mênh mông của vũ trụ. Con người, như vậy, vừa có tính bi kịch, nhưng lại vừa có tính thần thánh cao sang của nó.

Câu hai là một cái nhìn tổng quát về thế giới con người đang sống, một cái nhìn về quy luật phát triển của thế giới tự nhiên, mọi sự sống đều kèm theo cái chết.

Câu thứ ba và bốn là một cái nhìn về quy luật của phát triển xã hội. Xã hội nào có thịnh rồi cũng có suy. Tổ chức cao nào cũng có lên rồi cũng có xuống. Xã hội loài người chuyển dịch theo những quy luật vận động của nó. Chính quy luật vận động đó đã tạo nên sự thịnh suy.

Con người Phật giáo biết nắm lấy quy luật vận động đó [nhậm vận] thì đứng trước sự thịnh suy hoàn toàn có thể làm chủ được tình thế, chẳng có gì phải sợ hãi. Mà có gì phải sợ hãi khi sự thịnh suy đó diễn ra cũng chóng vánh như một hạt sương mai long lanh trên ngọn cỏ trong chốc lát biến mất dưới ánh sáng của mặt trời!

Ngược về trước, còn những bài thơ gợi lên cảm thức hùng vĩ về đất nước, về con người mà bài thơ "Nguyên Hỏa" của đại sư Khuông Việt, và trước đó là bài "Quốc Tộ" của thiền sư Pháp Thuận là những ví dụ sống động về dòng thơ quan tâm đến vận mạng của đất nước, đến cuộc sống của người dân được nhìn nhận như là "dòng thơ chủ lưu của nền văn học Việt Nam"**.

Xin nói đôi điều về bài thơ "Nguyên hỏa" [Gốc lửa] của Khuông Việt:

Mộc trung nguyên hữu hỏa

Nguyên hỏa phục hoàn sanh

Nhược vị mộc vô hỏa

Toàn toại hà do manh

[Trong cây vốn có lửa/ Sẵn lửa, lửa mới sinh ra/ Nếu cây không có lửa/ khi cọ xát sao lại thành].

Đây cũng là một bài kệ thị tịch mà đại sư đã trao lại cho học trò của mình trước khi mất. Hình ảnh ngọn lửa phải chăng là ánh sáng giác ngộ? Không phải tìm một thế giới giác ngộ nào khác ở ngoài cuộc đời mà ta đang sống. Mỗi người đều có thể đạt tới sự giác ngộ, nhận ra được chân lý từ chính cuộc sống của mình. Như lửa vốn có ở trong cây, vấn đề là làm sao cho cây bật lên ngọn lửa. Hình tượng này diễn đạt một triết lý sống, một triết lý dẫn dắt hành động nhằm cứu dân giúp nước của Phật giáo thời kỳ này.

Để hiểu hơn điều này, xin dẫn ra mấy câu trong kinh Lục độ tập của học giới Phật giáo Việt Nam thời kỳ ấy: "Phù hữu tất không, do nhược lưỡng mộc tương toán sinh hỏa, hỏa hoạn thiêu mộc, hỏa mộc câu tận, nhị sự giai không" [Hễ có tất không, giống như hai miếng gỗ cọ nhau mà sinh ra lửa, lửa trở lại đốt gỗ, lửa gỗ đều tiêu hết, hai việc đều không] **

Trước "Nguyên hỏa" của Khuông Việt [930-1011] , bài "Quốc Tộ" [Vận Nước] của thiền sư Pháp Thuận [915-990], một kiệt tác ghi lại dấu ấn của một tầm vóc tư tưởng và triết lý mà đến cả nghìn năm sau, đọc lại vẫn tươi nguyên tính hàm súc, giàu sức thuyết phục:

Quốc tộ như đằng lạc

Nam thiên lý thái bình

Vô vi cư điện các

Xứ xứ tức đao binh

[Vận nước đan xen với nhau như mây quấn/Đất trời Nam đang hưởng thái bình/ Nếu triều đình thấm nhuần lẽ vô vi/Mọi nơi sẽ không còn chiến tranh]

Bời bời vận nước quấn mây

Trới Nam mở lượng đó đây thái bình

Thiền tâm thấm tận triều đình

Thì nhân gian dứt đao binh đời đời

Nguyễn Duy dịch thơ

Phải trở lại với bối cảnh ra đời của bài thơ mới thấy hết được những ý tứ sâu sắc tiềm ẩn trong hình tượng, trong câu chữ của bài thơ ra đời cách đây hơn 1000 năm.

Đó là bối cảnh mà "Việt Giám Thông Khảo Tổng luận" chép: "Nước nhà nhiều nạn, xã tắc lâm nguy, lại thêm giặc Chiêm quấy nhiễu phía nam, quân Tống xâm lăng phía bắc, quyền thần nắm việc nước, người trong nước lìa lòng... họ Đinh dấy lên do ở Tiên Hoàng mà họ Đinh mất đi cũng là do Tiên Hoàng, không phải mệnh trời không giúp, chính là vì mưu của người không ra gì.

Lê Đại Hành cầm quyền mười đạo, giữ chức nhiếp chính, vua bé nước nguy, nhân thời chịu mệnh, giết vua Chiêm Thành để rửa cái nhục sứ thần bị bắt, phá quân Triệu Tống làm nhụt cái mưu tất thắng của chúng...Cày ruộng tịch điền ở Long Đội, mời người xử sĩ ở Tượng Sơn, kén dùng hiền tài, dựng mở trường học, có mưu lược to lớn của bậc đế vương".*

Bài thơ nói trên chính là câu trả lời của thiền sư Pháp Thuận đối với câu hỏi của nhà vua về vận nước trong bối cảnh thù trong giặc ngoài. Câu hỏi thể hiện một trực cảm của nhà chính trị đứng trước những thử thách khắc nghiệt của một vương triều mới dấy nghiệp, và câu trả lời cũng là một trực cảm chính trị sâu sắc trên nền tảng một triết lý nhân bản thâm hậu.

Trọng lực của ý tưởng cũng như sự đúc kết toàn bộ triết lý của tác giả bài thơ dồn vào khái niệm "vô vi". Vận nước có dài lâu được hay không tùy thuộc vào nhận thức và ứng xử của người gánh vác trọng trách với sơn hà xã tắc, đất trời Nam đang hưởng thái bình liệu có duy trì được tiếp hay không, là do ở chỗ "Vô vi cư điện các. Xứ xứ tức đao binh" [nếu triều đình thấm nhuần lẽ vô vi [thì] mọi nơi sẽ không còn chiến tranh".

Chiến tranh ở đây là những cuộc tranh bá đồ vương, nồi da xáo thịt của anh em dòng họ và của các phe nhóm muốn tranh giành ngôi vua, kiếm chác quyền lực mà hệ lụy là loạn lạc, là máu xương đổ lên đầu trăm họ. Loạn 12 sứ quân làm sụp đổ vương triều Ngô, rồi loạn Đỗ Thích giết vua để rồi bị giết và tiếp theo là các tướng cũ của Đinh Tiên Hoàng định mưu phạt Lê Hoàn [Lê Đại Hành] để rồi bị giết, kết thúc vương triều Đinh.

Và đồng thời, đáng ngại hơn nữa, là âm mưu xâm lược từ phương Bắc khi mà nhà Tống chấm dứt thời kỳ "ngũ đại thập quốc" và đang bành trướng về phía nam. Tháng tư năm 981 đội quân xâm lược do Hầu Nhân Bảo chỉ huy chia quân làm hai ngả, hòng nuốt chửng quốc gia nhỏ bé không chịu thần phục cứ như cái xương mắc trong họng khiến không nuốt được những miếng mồi ngon phương Nam! Bị đánh tan tác trên cửa sông Bạch Đằng, Hầu Nhân Bảo phải đền mạng. Năm 1005, Lê Đại Hành mất, các con tranh chấp ngôi vua, đem quân đánh lẫn nhau, kết thúc nhà Tiền Lê.

Có hiểu bối cảnh đó mới hiểu được ý tưởng của thiền sư Pháp Thuận muốn tác động đến suy nghĩ của người đứng đầu trăm họ. Liệu có phải hai chữ "vô vi" trong bài thơ của ông có gốc gác từ kinh "Lục độ tập" của nhà Phật "Cẩn thận không kiêu ngạo, là hạnh của học sĩ, bỏ lòng dơ ân ái, không lấm bụi bậm của sáu tình, không để các ái nhỏ như tóc tơ che dấu trong lòng mình thì các niệm lắng diệt, đó là vô vi"? ** Xin đọc thêm hai bài thơ sau:

Thiền sư Chân Không [1046-1100] trong bài "Cảm Hoài" [Tỏ nỗi lòng] thì lại nói đến khái niệm "vô vi" dưới một chiều cạnh khác:

Diệu bản hư vô nhật nhật khoa

Hòa phong xuy khởi biến sa bà

Nhân nhân tận thức vô vi lạc

Nhược đắc vô vi thủy thị gia.

[cái bản tính vi diệu trống không ngày ngày có mặt/Gây nên cơn gió hòa ở khắp thế gian/Người người ai cũng biết cái hạnh phúc của vô vi/Phải thể hiện được cái vô vi đó trong cuộc sống mới gọi là nhà]

Thiền sư Từ Đạo Hạnh [?-1117] trong bài "Hữu Không" [Có và không] lại cho rằng:

Tác hữu trần sa hữu

Vi không nhất thiết không

Hữu, không như thủy nguyệt

Vật trước hữu không không

[Có thì có tự mảy may

Không thì cả thế gian này cũng không

Kìa xem bóng nguyệt dòng sông

Ai hay không có, có không là gì]

Tục truyền theo Huyền Quang Tam Tổ

Rõ ràng là "vô vi cư điện các" hàm nghĩa một phẩm chất được hình thành và nuôi dưỡng từ một tư tưởng triết học Phật rất sâu sắc.

Sự suy thoái về phẩm chất, về đạo lý của người cầm quyền gắn liền với sự rối ren của thời cuộc, sự ly tán của lòng dân, vận nước gặp buổi khó khăn dẫn tới sự sụp đổ của một triều đại là điều thường thấy, và dường như đã thành quy luật "đẩy thuyền là dân mà lật đổ thuyền cũng là dân".

Mới đây thôi, trong cái ồn ào, bụi bậm của dòng đời thời hiện đại ào ạt tuôn chảy, trong tập thơ đượm màu sắc triết lý "Cỏ dọc đường trần" của Việt Phương, nhà thơ và là nhà nghiên cứu, có hai câu gợi nhiều suy tưởng từ bài thơ có nhan đề là "Nghĩa" dường như muốn diễn đạt sự cảm nhận của mình về tinh thần cơ bản của triết học ấy:

"Không có gì tạo thành tất cả

Tất cả đầy những không có gì"***

Liệu có thể nhận thức rằng "tất cả là không có gì, và không có gì là tất cả" chính là sự thâu tóm một cách đơn giản nhất triết học Phật? Có lẽ phải trên tinh thần đó mới có thể hiểu rõ khái niệm "vô vi" trong bài thơ "Vận nước" của Pháp Thuận.

Để có thể "vô vi cư điện các" [triều đình thấm nhuần lẽ vô vi] thì tất nhiên người đứng đầu trăm họ phải là người có trí và có đức. Có được điều đó mới chấm dứt được nạn binh đao khiến muôn dân chịu cảnh lầm than, đem xương máu lót đường cho những mưu ma chước quỷ trong những cuộc tranh bá đồ vương nhằm giành giật cái ghế quyền lực.

Oái oăm thay, những con người với những phẩm chất như vậy thường chỉ xuất hiện trong thời kỳ mở đầu cho một triều đại! Rồi triều đại do họ lập nên thịnh suy, dài ngắn ra sao gắn liền với việc những phẩm chất đẹp đẽ như vừa nói của người nắm quyền được gìn giữ, kế thừa và phát huy đến đâu, hay lụn bại dần dần rồi dẫn đến chỗ băng hoại.

Người lập nên triều đại Tiền Lê, người anh hùng dân tộc đánh tan quân xâm lược nhà Tống làm rạng rỡ non sông, nhưng rồi khi nằm xuống thì các con trai ông đã giết nhau để tranh ngôi. Lê Long Đỉnh, người tranh được chiếc ngai vàng sau khi giết hết anh em mình, đã không ngồi được trên ngai, mà phải "ngọa triều" để điều hành việc nước! Và thế tất là phải hèn mạt cúi đầu trước nhà Tống để duy trì cho được tư thế "ngọa triều" đó, để rồi chóng vánh chấm dứt triều đại do cha mình lập nên! Và đây là chuyện diễn ra không chỉ một lần trong lịch sử.

Sự suy thoái về phẩm chất, về đạo lý của người cầm quyền gắn liền với sự rối ren của thời cuộc, sự ly tán của lòng dân, vận nước gặp buổi khó khăn dẫn tới sự sụp đổ của một triều đại là điều thường thấy, và dường như đã thành quy luật "đẩy thuyền là dân mà lật đổ thuyền cũng là dân".

Chỉ một lời bình được chép trong Đại Việt Sử ký Toàn thư về "Ngọa triều Hoàng đế" đủ diễn tả được quy luật ấy: "Vua làm việc càn rỡ, giết vua cướp ngôi, thích dâm đãng tàn bạo, muốn không mất nước sao được?"! Cũng chẳng cần đến loại "ngọa triều" như Lê Long Đỉnh mới làm sụp đổ chóng vánh một triều đại! Lịch sử đầy rẫy những thảm họa từ bọn vô tài bất tướng, vì những lý do khác nhau mà ngoi lên nắm được quyền hành, đẩy trăm họ đến chỗ lầm than, sơn hà nghiêng ngả, đấy là thời vận nước suy. Điều này chẳng lấy gì khó hiểu.

Những người lập nên một triều đại mới thường phải trải qua thời "nằm gai nếm mật" nên hiểu được nguyên lý "đẩy thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân" nói trên, do vậy mà biết lo tìm cách "an dân", "khoan thư sức dân", thu phục nhân tâm, trọng dụng hiền tài.

Nhưng rồi những hậu duệ của họ, nếu không được giáo dục và rèn luyện, thì theo quy luật khắc nghiệt của quyền lực bị tha hóa, sẽ chóng vánh bộc lộ những bệnh hoạn của kẻ ăn trên ngồi trốc nhờ những ngẫu nhiên của lịch sử mà leo được lên, không có "đức", cũng chẳng có "trí", thế tất nhanh chóng bị lịch sử phế bỏ! Đó là chuyện xảy ra như cơm bữa, xưa nay đều như vậy!

Xem ra, sự diễn đạt hết sức cô đọng quan điểm triết lý "Nhậm vận thịnh suy vô bố úy/ Thịnh suy như lộ thảo đầu phô" trong lời thị tịch của Vạn Hạnh không chỉ biểu lộ một bản lĩnh, một nhân cách mà còn là sự đúc kết một quy luật.

Nối liền bài thơ này với hai bài thơ thị tịch trước đó của đại sư Khuông Việt và thiền sư Pháp Thuận dẫn ra ở trên, và sau đó như những bài thơ của thiền sư Viên Chiếu [999-1090], thiền sư Mãn Giác [1052-1096] và nhiều bài thơ Thiền khác nữa mà ở đây không thể kể ra hết được, sẽ thấy rõ một dòng mạch tư tưởng trong nền văn học ghi đậm ảnh hưởng triết học Phật có ý nghĩa lớn thế nào đến vương triều Lý với Lý Thái Tổ.

Xin dẫn thêm lời danh nho Ngô Thì Sĩ, cũng trong "Việt sử tiêu án" đã chép ở trên, để hiểu hơn vai trò của văn hóa Phật giáo với những đóng góp lớn lao của họ vào đời sống tinh thần của xã hội ta thông qua các vị danh sư của thế kỷ thứ X và XI: "Văn nhân cũng không thể làm hơn được, không biết học hành dồi mài từ đâu. Anh hùng cái thế ra đời, luôn không thiếu người...". Chính họ đã giúp sinh thành nên một Lý Thái Tổ với "Chiếu dời đô".

Cần lưu ý rằng, trong bối cảnh của xã hội ta thời kỳ này thì nhà chùa không chỉ là trường học mà còn là những trung tâm văn hóa. Hầu hết các lễ hội dân gian hiện đang tồn tại thì xem ra ít nhiều đều gắn bó với nhà chùa, nếu không muốn nói rằng phần lớn xuất phát từ đó. Ba lễ hội lớn như hội Khám, hội Dâu và hội Gióng đều xoay quanh ngày Phật đản, tức là ngày mồng tám tháng tư. Đừng quên là đền Gióng nằm sát cạnh chùa Kiến Sơ và lễ hội thường diễn ra tại chùa.

Mồng bảy hội Khám

Mồng tám hội Dâu

Mồng chín đâu đâu

Kéo về hội Gióng

Trong những lời hát tại lễ hội này, có cả lời hát vào chùa xin lễ:

Vào chùa thắp một nén nhang

Khói lên nghi ngút bốn phương nhà chùa...**

Có thấy ra điều đó mới hiểu được ý nghĩa sâu xa việc Lý Công Uẩn, như "Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục" ghi: "Khi lên ba tuổi, sư chùa Cổ Pháp là Lý Khánh Văn nuôi làm con, nhân đấy lấy theo họ Lý".

Sách "Đại Nam nhất thống chí" cũng chép rằng: "Chùa Cổ Pháp ở xã Đình Bảng, huyện đông Ngạn, là nơi trụ trì của Lý Khánh văn. Sử chép Lý Thái Tổ sinh được ba năm thì mẹ ẵm đến đây, được Khánh Văn nhận nuôi. Nay trong chùa có tượng mẹ Lý Thái Tổ". Sách "Đại Việt Sử Ký Toàn thư" lại chép: "Vua sinh ra mới 3 tuổi, mẹ ẵm đến nhà Lý Khánh Văn. Khánh Văn bèn nhận làm con nuôi. Bé đã thông minh, vẻ người tuấn tú khác thường. Lúc nhỏ đi học, nhà sư ở chùa Lục Tổ là Vạn Hạnh thấy, khen rằng: "Đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy, gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ".

Bằng những phân tích dựa trên các dữ liệu sưu tập được, tác giả của "Lịch sử Phật giáo Việt Nam" đưa ra nhận định: "nếu chùa Lục Tổ là chùa Cổ Pháp đổi tên thì rõ ràng Lý Khánh Văn chính là thiền sư Vạn Hạnh. Người đã nhận cậu bé Lý Công Uẩn làm con nuôi và người thầy dạy dỗ cậu là một..."**

Không đi sâu vào dữ liệu còn tranh cãi, điều cần khẳng định là: tài đức của Lý Thái Tổ, người khai sáng thế kỷ XI, mở ra một trang mới trong lịch sử nước nhà với thủ đô Thăng Long trường tồn cả nghìn năm, trải nghiệm bao thăng trầm biến động không phải ngẫu nhiên mà có.

Tài đức ấy, bản lĩnh ấy là do được dạy dỗ, rèn đúc từ ấu thơ bởi những bậc danh sư như thiền sư Vạn Hạnh, một đỉnh cao của tri thức đương thời như đã phân tích ở trên. Mà tầm cao tri thức ấy là do thu góp cả một đời người từng sống qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê để góp phần dựng nên vương triều Lý. Phải chăng vì thế mà gây dựng được nền móng cho một vương triều kéo dài 216 năm, có thể nói là dài hơn bất cứ triều đại nào sau đó.

Chẳng phải bây giờ, mà trước đây, Lý Nhân Tông sống vào nửa thế kỷ sau Van Hạnh, vẫn hết lời ghi nhận công đức của vị thiền sư có công lớn dựng nên cơ nghiệp nhà Lý: "Vạn Hạnh dựng ba cõi/ Thật hợp sấm lời xưa/ Quê hương tên Cổ Pháp/ Chống gậy giữ kinh vua".

Tưởng cũng nên nói thêm đôi điều về Lý Nhân Tông người đã tôn vinh công đức vị danh sư, người thầy của vị vua sáng lập vương triều Lý. Đến Nhân tông, triều Lý đã được 4 đời trải qua 127 năm, Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông đều là những minh quân.

Sử chép khi sắp mất, Nhân Tông gọi thái úy Lưu Khánh Đàm nhận di chiếu: "...Chôn cất hậu làm mất cơ nghiệp, để tang lâu làm tổn tính mệnh, trẫm không cho là phải. Ta đã ít đức, không lấy gì làm cho trăm họ được yên, đến khi chết đi lại khiến cho thứ dân mặc áo xô gai, sớm tối khóc lóc, giảm ăn uống, bỏ cúng tế, làm cho lỗi ta thêm nặng, thiên hạ sẽ bảo ta là người thế nào! ... chớ làm sai mệnh, trẫm dù nhắm mắt cũng không di hận. Việc tang thì chỉ 3 ngày bỏ áo trở, nên thôi thương khóc; việc chôn thì nên theo Hán văn Đế, cốt phải kiệm ước, không xây lăng mộ riêng, nên để ta hầu bên cạnh tiên đế...".*

Thì ra kiệm ước vì thương dân, tránh chuyện phô trương hình thức trong tang lễ, xây lăng mộ tốn kém đã là vấn đề được đặt ra cả nghìn năm trước khi mà thể chế quốc gia đã đi vào khuôn phép!

"Tiên đế" nói đây là Thánh Tông. Đại Việt sử ký Toàn thư chép: "Vua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về thu phục người xa, đắt khoa bác sĩ, hậu lễ dưỡng liêm, sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh, đáng gọi là bậc vua tốt"*

Chừng nào người đứng đầu trăm họ còn theo đuổi được một triết lý nhân bản, còn nắm được quy luật "nhậm vận thịnh suy, thịnh suy như lộ thảo đầu phô" thì vận nước còn có cơ hưng thịnh. Một khi mà những kẻ cầm quyền suy đốn, nhân tâm lý tán, họa ngoại bang rình rập thì vận nước suy vong.

Kế thừa là kế thừa công đức của vua cha Thái Tông, vị vua được Ngô Sĩ Liên bình như sau: "Cùng lòng cùng đức, tất sự nghiệp có thể thành. Có vua có tôi, gian hiểm nào cũng vượt được. Thái Tông đương lúc đau xót, biến loạn sinh ngay kẻ nách mà vua tôi xử trí gãy gọn phải lẽ, vượt được hiểm nạn làm nên sự nghiệp, tông miếu nhờ đó được vững yên. Không phải là vua tôi gặp gỡ cùng đức cùng lòng mà được như thế ư?". Đây là nói về chuyện vua nghĩ tình cốt nhục mà tha cho tội mưu phản không thành của hai người em.

Phải chăng ẩn chìm trong vấn đề "nghĩ tình cốt nhục" mà tha không giết lại cho phục chức như cũ chính là thực hành triết lý "vô vi cư điện các" mà thiền sư Pháp Thuận đã khuyến cáo?

Chừng nào người đứng đầu trăm họ còn theo đuổi được một triết lý nhân bản, còn nắm được quy luật "nhậm vận thịnh suy, thịnh suy như lộ thảo đầu phô" thì vận nước còn có cơ hưng thịnh. Một khi mà những kẻ cầm quyền suy đốn, nhân tâm lý tán, họa ngoại bang rình rập thì vận nước suy vong.

Tuy nhiên, "quốc tộ như đằng lạc" [vận nước đan xen với nhau như mây quấn], sự suy vong của một triều đại chỉ có thể là một sự chuẩn bị cho việc ra đời của một triều đại mới đáp ứng được khát vọng của nhân dân. Mà sức dân thì như nước có thể đẩy thuyền, cũng dư sức lật thuyền! Vả chăng, "thịnh suy nối tiếp nhau chỉ như khoảng thời gian hạt sương móc trên đầu ngọn cỏ ". Cái mới đã ươm mầm từ trong cái cũ, và sự ra đời của cái mới là không gì có thể cưỡng lại được!

Thì đấy, "Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận. Đình tiền tạc dạ nhất chi mai" [Đừng bảo xuân tàn hoa cũng rụng hết. Đêm hôm qua, trước sân (rộ) một cành mai]. Đây là lời nhắn gửi của thiền sư Mãn Giác, người sống cùng thời với Lý Thánh Tông, trong bài "Cáo tật thị chúng" [Có bệnh báo mọi người]. Ở đây là một cách diễn đạt khác về điều mà thiền sư Vạn Hạnh khuyến cáo vừa dẫn ở trên: "Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô" [Như muôn cây cỏ mùa xuân tươi tốt đến mùa thu khô héo].

Sự sống thật sự vô cùng vô tận và bất diệt. Đó là vận động bất tận. Mà vận động luôn luôn là tự thân vận động, những cú hích ở bên ngoài chỉ có tác động nhằm thúc đẩy nhanh những "hợp trội" khiến nảy sinh những đột biến, thúc đẩy sự phát triển. Sự tự thân vận động ấy là không sao cưỡng lại được. Thì chẳng thế sao: "Mộc trung nguyên hữu hỏa. Nguyên hỏa phục hoàn sanh" [trong cây vốn có lửa, sẵn lửa, lửa mới sinh ra]. Bởi lẽ "Nhược vị mộc vô hỏa. Toàn toại hà do manh" [nếu cây không có lửa. khi cọ xát sao lại thành?]

Suy ngẫm về ngày kỷ niệm 1000 năm Thăng Long đang đến gần, gợi nhớ hình ảnh vị vua khai sáng nhà Lý cách đây mười thế kỷ, đọc lại "Chiếu dời đô" càng thấm thía đến lẽ thịnh suy và vai trò của văn hóa trong sự định hình một triều đại vốn giữ một vị thế hết sức độc đáo trong lịch sử dân tộc. Ở đây là văn hóa thấm nhuần triết lý Phật. Vào thời đó, Phật giáo được xác định như một con đường "mà ngoài xã hội có thể cứu dân giúp nước, còn ở nhà thì có thể phụng thờ cha mẹ và lúc ở một mình có thể dùng để hoàn thiện bản thân" như Mâu Tử đã viết trong Lý Hoặc Luận!****

Với tính cách là một lực lượng văn hóa dân tộc, Phật giáo không thể tách rời sự nghiệp đấu tranh thường trực để dựng nước và giữ nước của dân tộc. Có thể hiểu vì sao những bài thơ Thiền thấm đãm triết lý Phật dẫn ra ở trên đều hàm chứa mối quan tâm đến vận nước. Chính ở đây, khi nói về về mối tương quan giữa thiên nhiên, đất nước và con người đã thể hiện sâu sắc quan điểm "duyên sanh" cơ bản của triết lý Phật giáo.

Đưa ra những cảm nhận trên đây cốt chỉ để trình bày một nhận thức: được đào luyện từ tấm bé, với một bản lĩnh văn hóa được dày công hun đúc, Lý Công Uẩn đã trở thành Lý Thái Tổ, mở đầu cho một triều đại dài nhất trong lịch sử dân tộc. Xét đến cùng , đó là bài học về văn hóa, mà ở thời đoạn lịch sử thế kỷ XI-XII là sự kết tinh của triết lý Phật, điểm tựa cơ bản nhất của triều đại nhà Lý!

Khí phách và bản lĩnh của vị vua khai sáng triều Lý thể hiện khá nổi bật trong bài thơ "Tức cảnh", tương truyền là Lý Công Uẩn làm lúc còn trẻ, nhân tình cảnh bị thầy phạt phải trói nằm dưới đất, không ngủ được, đã làm bài thơ tự vịnh:

Thiên vi khâm chẩm địa vi chiên

Nhật nguyệt đồng song đối ngã miên

Dạ thâm bất cảm trường thân túc

Chỉ khủng sơn hà xã tắc điên

[Trời làm chăn gối, đất làm nệm/ Trời trăng cùng đối diện giấc ngủ của ta/ Đêm tối quá không dám duỗi dài chân/ Chỉ sợ đất nước rối loạn] Nếu đích thực đây là bài thơ của người sẽ sáng lập nên vương triều Lý thì, thơ tức là người. Tưởng cũng chẳng nên bình luận gì thêm. Không có một bản lĩnh văn hóa, không có một điểm tựa đúng đắn và vững vàng về triết lý dẫn dắt cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước, khó để lập nên một triều đại hưng thịnh và dài lâu.

Tượng Lý Thái Tổ trầm mặc bên Hồ Gươm đang nhắc nhở con cháu hôm nay nghĩ về cách ông cha mình đã trả lời "những câu hỏi lớn" của lịch sử như thế nào, và dựa vào đâu để có bản lĩnh trả lời câu hỏi cho vận nước.

Để trả lời câu hỏi ấy, có lẽ phải trở lại với câu thơ "Nam nhi tự hữu xung thiên chí. Hưu hướng Như Lai hành xứ hành" trong bài thơ "Đừng đi theo vết chân Như Lai" [Hưu hướng Như Lai] của thiền sư Quảng Nghiêm [1122-1190]. Câu thơ ra đời từ một nghìn năm trước mà nay đọc lại, bỗng thấy choáng ngợp với ý tưởng mới mẻ, độc đáo và sao mà "hiện đại" đến thế !Thật là chống giáo điều ngay trong chuyện tu hành!

Phải bằng bản lĩnh ấy, khí phách ấy để trả lời câu hỏi lớn về vận nước. Đừng quên rằng, "Xe vẫn chạy nghìn đời... Nguyễn Trãi, Nguyễn Du từng đi chuyến trước, Những chuyến xe không có khứ hồi" [Chế Lan Viên. "Di cảo thơ"]. Chính vì những chuyến xe lịch sử không có khứ hồi, cho nên, tiếp bước cha ông không phải là dẫm theo lối mòn có sẵn, mà là dũng cảm gạt bỏ mọi trở ngại để vươn về phía trước, như dòng sông chỉ có chảy ra biển mới gọi là trung thành với ngọn nguồn của nó.

Sự nghiệp của ông cha để lại, vận mệnh của dân tộc "sẽ được quyết định khi một thế hệ mới sẽ lớn lên... Khi những con người như thế xuất hiện, họ sẽ vứt bỏ tất cả những điều mà theo quan niệm hiện nay họ phải làm: họ sẽ tự biết cần phải làm như thế nào"3

Vận nước sẽ được quyết định bởi thế hệ trẻ năng động và sáng tạo!

___________________

1. Gustave le Bon "Tâm lý học đám đông" "Tâm lý học đám đông" NXB Tri thức 2008, tr.213

2. Việt Phương "Cỏ dọc đường trân". NXB Hội Nhà văn.2010, tr.46

3. Thơ Thiền Lý Trần. "Lời nói đầu". NXB Văn hóa Sài Gòn. 2005, tr.7.

4. C.Mác & Ph.Angghen Toàn Tập , Tập XXI. NXBCTQG . Hà Nội, 1995 tr..128

* Đại Việt Sử ký Toàn thư. Tập 1. NXBKHXH Hà Nội 1998, tr.241, tr.122, tr.247, tr.233, tr.250, tr.240, tr.271

** Lê Mạnh Thát. "Lịch sử Phật giáo Việt Nam".Tập II. NXBTổng Hợp TPHCM. 2006, tr. 363, tr.442, tr. 450, tr.365, tr.395

Friday, October 1, 2010

Học cách giết người của Mao

Theo NguoiViet Online

Ngô Nhân Dụng

Nói đến văn hóa, chúng ta thường nghĩ tới những điều lớn lao như tư tưởng, triết học, cách giáo dục, cách tổ chức xã hội, vân vân. Nhưng đời sống văn hóa hai dân tộc khác nhau được thể hiện trong cách sống hàng ngày, cách người ta chào hỏi nhau, ăn uống với nhau, chúc mừng, biếu xén nhau, vân vân. Văn hóa khác nhau, trong cách sống, cách chết, ngay cả cách giết người cũng khác nhau.

Văn hóa Việt Nam xưa nay biểu lộ những quan niệm về sống, chết khác hẳn người Trung Hoa. Nhưng phải thú nhận phong cách giết người của nước mình rất thô sơ, chưa bao giờ nhiều sáng kiến phong phú như bên Trung Quốc. Tiểu thuyết Ðàn Hương Hình của Mặc Ngôn cho rất nhiều thí dụ về các kỹ thuật độc đáo của người Trung Hoa trong việc tra tấn người đến chết. Trong lịch sử còn ghi những chuyện thật, không hư cấu. Ðời Võ Hậu nhà Ðường, Tố Nguyên Lễ đã sáng chế ra các khí cụ và phương pháp tra tấn gọi tên là Lồng Sắt và Phơi Cánh. Không có tài liệu mô tả các hình cụ đó thế nào, nhưng các quan trong triều chỉ nghe thấy đã rùng mình. Nguyên tắc của hình quan là hễ bắt một người thì phải làm sao cho hắn phải khai ra hàng chục người khác để trị tội. Tố Nguyên Lễ đã dùng phương pháp dây chuyền này xử tử hình cả nghìn người. Một người kế vị ông ta là Lai Tuấn Thần, đã phát minh ra những cách tra tấn kỳ diệu hơn và giết nhiều người hơn nữa. Khi tên này bị Thái Bình Công Chúa phản công bắt giết, kẻ thù khắp nơi mừng rỡ. Họ chờ sẵn để được băm vằm cái xác hắn ta rồi “tranh nhau róc thịt, chốc lát thi thể chẳng còn gì nữa.” “Chốc lát!” Chỉ có sử gia Trung Quốc mới có hai chữ thần tình như thế. Việt Nam không có những viên quan giết nhiều người bằng các phương pháp độc đáo để dân phải oán hận như vậy, vì văn hóa nước mình khác.

Cái nguy bị nhiễm “văn hóa giết người” bắt đầu từ khi Hồ Chí Minh mời các cố vấn Trung Quốc Vĩ Ðại vào nước ta thực hiện chủ nghĩa Mao Trạch Ðông. Giữa thế kỷ 20, người Việt Nam mình cũng học và áp dụng cách giết người rất tàn bạo nhờ học các cố vấn Tầu. Thí dụ, trong cuộc cải cách ruộng đất, người Việt chôn sống đồng bào mình, chôn đứng chỉ để hở cái đầu, rồi cho trâu kéo cày đi qua lại nhiều lần, đến lúc nạn nhân chết mới thôi. Thi sĩ Hữu Loan, tác giả Mầu Tím Hoa Sim đã kể chuyện này, nếu không chắc nhiều người không tin cảnh đó có thật. Chính song thân bà vợ của Hữu Loan đã bị giết như thế. Hai cụ từng được phong làm địa chủ cứu quốc; nhiều lần đã chở gạo nuôi bộ đội Sư Ðoàn 304 của ông, cho nên thi sĩ biết ơn. Khi hai cụ bị giết, Hữu Loan đã cưu mang người con gái của họ, nếu không chắc cô ta sẽ chết đói. Sau ông lấy cô làm vợ mặc dù lấy con địa chủ thì phải ra khỏi đảng, bị mất hết các quyền lợi của đảng viên.

Những cách giết người mới mẻ, như chôn người ta xuống giết bằng lưỡi cày, chắc là do các cố vấn Trung Cộng giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ đạo trong thời Cải Cách Ruộng Ðất. Người Việt mình khó có ai nẩy ra được những sáng kiến như thế. Cũng như người mình phải học trong sách Tầu mới biết những món ăn, như múc óc khỉ còn sống ra, ăn ngay trên bàn. Người mình không ai nỡ đối xử với loài vật hay với con người ác độc như vậy. Giết một mạng người cũng là ác quá rồi; chớ đừng nói trước khi giết còn hành hạ, tra tấn người ta bằng lưỡi cày!

Ở bên Tầu thì khác. Họ là một quốc gia rộng lớn, vĩ đại, đông dân; người vùng này có khi coi người vùng kia như là dân khác giống. Mao Trạch Ðông đã nói nếu chiến tranh làm chết mất một nửa thì dân số Trung Hoa cũng vẫn còn đông nhất thế giới. Ðối với Mao, nhân dân chỉ là một con số, giết một mạng người đâu nghĩa lý gì. Các vua quan Việt Nam có đời nào nghĩ về dân, nói về dân mình như thế hay không? Trước thời cộng sản, chưa thấy có.

Việc nhập cảng một phương pháp giết người, số người bị giết không quan trọng bằng hậu quả, là hành động giết người tàn nhẫn đã thay đổi quan niệm của dân. Cách người ta nhìn giá trị một con người, về mạng sống một cá nhân đã thay đổi sau khi được chứng kiến các cảnh giết chóc mới. Nó thay đổi đến cách chúng ta nhìn vào mặt nhau, như những con người, như đồng bào. Chúng ta đã thấy xã hội mình có thay đổi thật sau khi được huấn luyện nuôi lòng căm thù, theo chủ trương của Mao.

Lòng căm thù phải được thổi lên và nuôi dưỡng bao nhiêu lâu mới khiến con người trở thành lạnh lùng, sẵn sàng giết đồng bào và chứng kiến cảnh giết người như thế? Cái tâm của người Việt đã thay đổi đến mức nào thì mới tổ chức được những cuộc giết người độc đáo y như bên Trung Quốc vậy?

Cứ nhìn các phương pháp giết người mới, Tâm con người phải thay đổi. Con người nhìn lẫn nhau không còn thấy đó là những người làng, những hàng xóm, anh em. Họ được huấn luyện chỉ còn nhìn thấy đó là những đối tượng đấu tranh, căm thù.

Bởi vậy, học giết người theo lối Trung Cộng, người Việt sẽ dần dần cũng bị đồng hóa theo nếp sống, nếp suy nghĩ và nếp tình cảm của cán bộ Trung Cộng. Cuộc đồng hóa diễn ra theo một quá trình được hoạch định rất quy mô, dưới sự chỉ đạo của các cố vấn. Cả một đội ngũ văn nghệ sĩ được lệnh làm thơ dạy bảo người Việt Nam “chưa biết căm thù thì chưa biết yêu thương.” Ý kiến đó trái ngược hẳn với những lời dạy của Lý Nhân Tông, Trần Thái Tông, Nguyễn Trãi.

Ðó là một vấn đề văn hóa. Cứ hỏi tại sao nền nếp đạo lý của nước mình bây giờ bị tàn hoại, trẻ em cũng biết ăn cắp, biết trấn lột lẫn nhau. Chỉ vì người lớn đã chấp nhận nô lệ về văn hóa từ hơn nửa thế kỷ trước. Học tập Mao chủ tịch trong cách giết người của văn hóa Trung Hoa là nô lệ văn hóa nước bạn láng giềng. Nó khiến người Việt Nam nhìn nhau theo lối người Trung Hoa. Trong lịch sử Trung Hoa có nhiều lúc họ phải nhìn nhau như thù địch, như súc vật. Vì những điều kiện địa lý, kinh tế của họ khác hẳn hoàn cảnh nước mình.

Trong lịch sử Trung Quốc có những vụ giết người “vĩ đại” không thể nào xảy ra ở Việt Nam được. Thí dụ như Tướng Bạch Khởi nước Tần, tỉnh Thiểm Tây bây giờ. Chủ trương quân sự của Bạch Khởi (không rõ năm sanh, chết năm 257 trước Công nguyên), là châm ngôn “Tận địch vi thượng” trong Chu Ngữ. Câu này nghĩa là “Giết hết quân địch là mưu lược cao nhất.” Trong cuộc đời chiến tranh 37 năm, Bạch Khởi đã chỉ huy 10 chiến dịch lớn, chiếm 70 thành trì, san bằng các nước Hàn, Ngụy, Triệu, Sở, mở rộng biên giới nước Tần, chuẩn bị cho việc thống nhất nước Trung Hoa.

Năm 293 (trước Công nguyên), Bạch Khởi đem quân đánh liên quân Hàn và Ngụy. Tuy số quân bên địch đông gấp đôi, Bạch Khởi biết nhược điểm của họ là chia rẽ. Ông đánh quân Ngụy trước rồi đánh Hàn sau, giết chết 240,000 binh sĩ địch. Nhưng trận đánh tàn bạo nhất là trận Trường Bình (Chang Ping), năm 260 ở nước Triệu. Quân Tần vây thành Thượng Ðẳng ba năm không đánh được, đã dùng kế ly gián khiến vua Triệu cách chức tướng giỏi Liêm Pha, đưa tướng dốt Triệu Quát ra chỉ huy. Bạch Khởi được bí mật đưa tới mặt trận, đã dùng kế dụ cho Triệu Quát khinh địch tấn công trước. Rồi hai cánh quân Tần xông ra cắt ngang quân Triệu. Quân Triệu phải kép lên cao cố thủ, Bạch Khởi ra lệnh quân Tần “chỉ vây mà không đánh.” Quân Triệu bị vây hãm 46 ngày, hết lương thực, hết nước uống, ăn thịt, uống máu lẫn nhau. Triệu Quát liều mạng phá vòng vây, bị trúng tên chết trong đám loạn quân. Toàn bộ quân Triệu phải đầu hàng. Bạch Khởi đã chọn 240 trẻ vị thành niên trong đám hàng binh, thả cho về nước để gieo kinh hoảng. Số còn lại, tất cả bị chôn sống. Trong trận này quân Triệu thiệt hại tổng cộng 450,000 người, quân Tần chết khoảng trăm ngàn. Ðó là chủ trương “Tận địch vi thượng.”

Làm sao một người có thể quyết định chôn sống hàng trăm ngàn hàng binh trong một đêm? Muốn đang tâm làm việc đó, phải là những kẻ không coi các “đối tượng” là những con người giống như mình nữa. Chắc phải “đối tượng hóa,” nhìn người ta như là dê, cừu, gà, lợn, hay thấp hơn cả súc vật. Khi Ðặng Tiểu Bình ra lệnh xe tăng tiến vào Thiên An Môn bắn chết các sinh viên tay không đi biểu tình năm 1989, ông ta cũng phải có tấm lòng sắt đá lạnh lùng như Bạch Khởi. Cả hai đều có trong tay một bộ máy giết người để sử dụng, đám quân sẵn sàng tuân lệnh, không suy nghĩ.

Hạng Vũ khi vào kinh đô Hàm Dương nước Tần (206 trước Công nguyên). Muốn trả mối thù ngày xưa đã tới đây bán cơ bắp kiếm việc làm và bị sỉ nhục, Vũ bắt quan, dân, lính tráng, cung phi nước Tần làm nô lệ cho đám lính người Sở của mình. Nghe đồn dân Tần oán thoán, sợ chúng nổi loạn, Hạng Vũ ra lệnh giết 200 ngàn hàng binh, trừ hậu hoạn, đốt sạch kinh thành. Người nước Tần với người Sở nói tiếng khác nhau, y phục khác nhau, điệu hát cũng khác nhau; khi lòng thù hận nổi lên thì không những họ coi nhau như kẻ thù mà còn có thể nhìn người nước kia không khác gì cầm thú. Giết mà không ớn tay. Các lãnh tụ tài giỏi biết khích động lòng căm thù trong đám quần chúng theo mình, thì dễ thành công trong chiến trận.

Những kẻ giết người đều có lý do để tự biện minh. Nhưng trên căn bản, họ phải là những kẻ coi khinh mạng sống, coi khinh nhân loại. Mạng người rẻ quá, có lẽ vì họ vẫn nhìn chung quanh, thấy đông người quá. Cứ vài thế hệ nước Trung Hoa lại bị một trận mất mùa đói kém chết hàng loạt. Bọn vua quan không bị đói bao giờ cho nên không lo ngăn ngừa trước để dân tránh nạn đói. Nhiều miệng ăn mà thực phẩm thì có giới hạn, thức ăn có khi quý hơn mạng người. Giết người để cướp một nắm cơm cũng phải giết. Ðời Ðường, thành Thương châu bị vây hãm. Một đấu gạo giá 3 vạn quan tiền. Giết được một tên địch, cắt đầu đem nộp thì được thưởng một vạn quan. Ba cái đầu mới đong được một đấu gạo. Sống mãi như vậy thành quen, chết như vậy mãi cũng thành quen. Suốt dọc lịch sử nước Trung Hoa có những cuộc tàn sát vô lý mà người Việt Nam không thể nào hiểu nổi. Chắc chắn không ai bắt chước làm như họ được, trừ khi cứ nhắm mắt nghe theo lời cố vấn vĩ đại.

Ðời Ðường, Hoàng Sào đi thi không đậu, đi bán muối lậu bị bắt phải hối lộ bọn tham quan mới thoát chết. Nổi lên làm loạn, khi Hoàng Sào chiếm kinh đô Trường An năm 880, đã tàn sát hết bọn tôn thất họ Lý của nhà Ðường, và gia tộc tất cả các quan lại. Lòng thù hận ghê gớm như thế. Cuối đời Minh chế độ sắp tan, Trương Hiến Trung đánh thành Lục An mãi không thắng, giận lắm. Ðến khi chiếm được thành (năm 1642) ông ra lệnh giết hết dân chúng. Dân kêu oan, vì họ đã bị cưỡng bách phải giữ thành chứ họ không muốn chống cự. Hiến Trung giảm tội cho, ra lệnh chặt tay tất cả, đàn ông chặt tay trái, đàn bà chặt tay phải. Cả thành phố Lục An toàn người cụt tay. Năm sau, Trương Hiến Trung tấn công chiếm Vũ Xương. Tất cả những người dân còn sống được tập họp ở bờ sông, sai lính cưỡi ngựa xua đẩy dân xuống sông Trường Giang, cho chết đuối hết. Xác người lềnh bềnh, suốt mấy tháng trời không ai dám ăn cá

Tất nhiên mỗi lần muốn giết 100 ngàn người thì kỹ thuật thời đó đòi hỏi phải có hàng chục ngàn người đồng tình tham dự việc giết chóc mà không gớm tay. Kỳ Ngạn Thần, kể lại chuyện này trong cuốn “Người Trung Quốc, những hiểu lầm lịch sử” đã nhận xét là vụ tàn sát cả thành phố Vũ Xương này còn kinh khủng hơn cuộc đại thảm sát do quân Nhật gây ra ở Nam Kinh vào thế kỷ 20. Mà ở Vũ Xương lại là người Trung Hoa giết người Trung Hoa đấy.

Trong thế kỷ 20, người Trung Hoa vẫn giữ được thói quen giết người tập thể. Tác giả Giải Tư Trung, trong cuốn viết về “Sự khủng hoảng của tố chất quốc dân” kể lại rằng trong thời Ðại Cách Mạng Văn Hóa, tháng 8 năm 1966 ở huyện Ðại Hưng, bên ngoài thành phố Bắc Kinh, có 325 người đã bị chôn sống giữa ban ngày, gồm những người được gán nhãn hiệu “phần tử loại bốn” cùng với thân nhân; tổng cộng 22 gia đình; người già nhất 80 tuổi, trẻ nhất là một em bé mới ra đời được 38 ngày! Ở huyện Ðạo tỉnh Hồ Nam, trong 2 tháng có 4,193 người bị giết oan, do “hành động tự phát” của “quần chúng cách mạng.” Người Việt mình chịu thua.

Chúng ta không thể vì những vụ tàn sát kể trên mà nói rằng người Trung Hoa tàn ác hơn người Việt; cũng như không thể nói người Ðức đều ác độc căn cứ vào những vụ Ðức Quốc Xã tàn sát người Do Thái. Ðiều mà chúng ta có thể nhìn nhận là các bạo chúa, ở Ðức hay ở Trung Quốc, đều biết kích thích lòng hận thù của đám đông, thúc đẩy cho thú tính nổi dậy, gây ra tội ác tập thể. Một điều có thể nhận thấy nữa, là trong lịch sử Trung Quốc xảy ra nhiều vụ thảm sát; có lẽ bởi vì nước họ đông người quá, người cùng nước nhưng ở xa nhau là khác cả ngôn ngữ, văn hóa, quyền lợi, khó thông cảm với nhau. Nói chung họ không quý mạng sống của đồng bào như người Việt mình.

Một trong những tội nặng của đảng Cộng Sản Việt Nam là đã nhập cảng phương cách giết người của Cộng Sản Trung Hoa vào nước ta, không biết rằng nó ảnh hưởng xấu đến cả đạo lý một thế hệ, sau này sẽ còn mất nhiều thời gian gột rửa. Tuy nhiên, văn hóa một dân tộc được xây dựng trên những điều kiện địa dư, những lưu thông, trao đổi suốt lịch sử, đã được nung nấu hàng ngàn năm. Văn hóa, phong tục có bị thay đổi một thời gian ngắn thì cũng sẽ trở về nguồn gốc. Khi nào nước ta chấm dứt được cảnh lệ thuộc chủ nghĩa Mao và lối cai trị dân theo kiểu Cộng Sản Trung Hoa, người Việt sẽ xây dựng lại nền nếp thuần hậu của dân tộc mình.

Thursday, September 30, 2010

Lịch sử sẽ sang trang.

Lịch sử sẽ sang trang.

Ta bước đi theo chiều dài lịch sử
Nỗi nhọc nhằn vất vả của cha ông
Đấu cật chung vai gây dựng cơ đồ
Từ mảng đất hoang vu thành ruộng đồng trù phú

Từ buổi ban sơ thuở ban đầu dựng nước
Nước mắt mồ hôi cùng xương máu bao đời
Công tiền nhân mang gươm đi mở nước
Giang sơn thành hình chữ S hôm nay

Cũng trải qua lắm lần mất nước
Giặc ngoại xâm dày xéo non sông
Cha ông ta đã bao phen đuổi giặc
Đại Cáo Bình Ngô vang bóng một thời

Máu quân thù nhuộm đỏ Bạch Đằng Giang
Lý Thường Kiệt kiên cường khi phá Tống
Hưng Đạo Vương trỏ vào sông thề quyết
Giặc không tan quyết chẳng trở về

Vua Quang Trung đại phá giặc Mãn Thanh
Giữa kinh thành Thăng Long áo bào hoen thuốc súng
Dân Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam khiếp vía
Dắt díu nhau trốn chạy trước uy lực của Người

Ôi cha ông kiên cường bất khuất
Làm rạng danh dòng giống Lạc Hồng
Nay đất nước lại chìm trong cay đắng
Kẻ nội thù đang tàn phá giang sơn

Từng mảnh đất mất vào tay giặc Bắc
Biển đảo quê hương đang thu hẹp dần dần
Bao dân oan đang kêu gào thảm thiết
Mất nhà, mất cửa, mất cả ruộng vườn

Phải có ngày lịch sử sẽ sang trang
Sẽ quét sạch đi màn đêm hắc ám
Bình minh sẽ bừng lên rạng rỡ
Đất nước lại vươn mình hòa nhịp với năm châu

Phi Vũ
09/29/10

Wednesday, September 29, 2010

Mạng chó và mạng người

Theo Tuần Việt Nam


Xin ai đó hãy bày tỏ sự khó chịu và hãy phê phán cái tít bài báo này sau khi đọc câu chuyện tôi sẽ kể dưới đây. Tại sao tôi lại mào đầu bằng những dòng cay nghiệt như vậy. Bởi vì lâu nay, chúng ta thường tỏ ra khó chịu và phê phán những cái tít kiểu như thế.

Cái tít này không phải là cái tít tôi vắt đầu suy nghĩ để giật gân "câu" bạn đọc. Bản chất câu chuyện là như thế và tôi không còn cách đặt một cái tít nào khác được.

Câu chuyện là thế này: lâu nay, nạn bắt trộm chó càng ngày càng lan rộng. Trước kia, những kẻ bắt trộm chó lợi dụng đêm tối dùng bả vứt cho chó ăn. Chó ăn phải bả thì hết đường chạy. Nhưng đến thời @ thì bọn bắt trộm chó dùng xe máy Nhật để thực thi "công vụ". Cùng với xe máy, bọn trộm chó dùng cả loại súng hơi đặc biệt. Bóp cò một cái là chó gục ngay. Bọn trộm chó cứ thế ung dung quấn băng dính vào mõm chó cho nó khỏi kêu, cắn khi tỉnh lại và bỏ vào bao tải lướt đi.

Ăn trộm chó ngày nay trở thành nghề của một số kẻ lười nhác mà lại thích có tiền tiêu. Thế là mua sắm một số đồ nghề để bắt trộm chó. Bắt trộm chó chỉ có thể bắt ở nông thôn vì người ta hay thả chó chạy rông ngoài ngõ, ngoài đường. Ở nhiều làng, vì mất chó nhiều quá mà người ta căm thù bọ bắt trộm chó vô cùng. Thế là họ thề "ăn tươi nuốt sống" bọn bắt trộm chó.

Hiện trường một vụ giết kẻ trộm chó tại TP Vinh, Nghệ An.
Báo chí đã từng đưa tin những kẻ bắt trộm chó bị người làng đánh cho tới chết. Nghe thật tang thương, thật đau lòng. Mới mấy tuần trước đây, những người ở xóm Trại của tôi đã đánh một thanh niên ăn trộm chó bất tỉnh nhân sự phải cấp cứu ở bệnh viện. Khi phát hiện ra kẻ bắt trộm chó, cả làng gọi nhau. Thế là già trẻ, trai gái vác gậy, vác dao vây bắt kẻ ăn trộm. Họ lao vào đấm đá như không còn biết trời đất là gì nữa. Đến ngày hôm sau, những người làng vẫn còn "hân hoan" và "say sưa" kể về chiến công độc ác ấy.

Câu chuyện đau lòng bắt đầu từ đó và một thông điệp đen tối về nhân tính bắt đầu từ đó. Trước kia những người ăn trộm trong làng khi bị bắt sẽ phải đeo một cái biển trước ngực có dòng chữ: Từ nay tôi không ăn trộm nữa và phải đi dọc làng để răn dạy những kẻ hư hỏng. Ngày ấy đói ngèo hơn bây giờ cả trăm ngàn lần. Thế mà không ai nỡ đánh đến chết kẻ ăn trộm cả. Nếu có đánh cũng chỉ là người mất của đánh vài cái cho bõ tức mà thôi. Còn ngày nay, cả một đám đông lao vào đánh kẻ ăn trộm như đánh một con chó dại và lòng tràn ngập "sung sướng" và "hả hê".

Con người càng ngày càng vô cảm hơn và độc ác hơn. Người ta sẵn sàng bán thịt lợn hoặc gia cầm chết bệnh cho người khác, người ta ngang nhiên đổ chất thải làm ô nhiễm gây ra cả làng bị ung thư, người ta công khai bán cả thuốc chữa bệnh rởm, người ta vênh váo tài trợ với cái tên "từ thiện" cả sữa hết hạn xử dụng cho trẻ em, người ta chỉ vì mất một con chó mà đánh chết một mạng người....

Thế mà chẳng mấy người lên tiếng về những điều vô cảm và độc ác ấy. Mà khi có người lên tiếng thì lại bị phê phán. Thế mới là chuyện kỳ dị ở xứ sở chúng ta. Lẽ ra, người ta phải lên tiếng về sự vô cảm và độc ác ấy hơn tất cả những điều khác chứ. Nhưng thương thay, chuyện đó lại xẩy ra quá ít.

Câu chuyện đánh chết những kẻ trộm chó vì bất cứ lý do gì liệu có còn cách nói hay cách biện minh nào khác cho tội ác đó không. Hành động cả xóm, cả làng gào thét lao vào đánh cho tới chết kẻ bắt trộm chó chỉ còn một cách nói mà thôi. Đó là, chúng ta đã bắt đầu bước vào một thời đại mà con người tiếc một con chó bị bắt trộm hơn tiếc một mạng người.

Câu chuyện tôi đã kể xong. Bây giờ xin các ngài phán xét cái tít bài báo của tôi đi.

Tuesday, September 28, 2010

Nguyển Ngọc Quang: LỜI KÊU GỌI TẨY CHAY LỄ HỘI MỘT NGÀN NĂM THĂNG LONG – HÀ NỘI

Theo NguoiViet Boston

hoangsatruongsaPHẢN ĐỐI VIỆC NHÀ CẦM QUYỀN CÔNG SẢN VIỆT NAM BÁN NƯỚC VÀ PHỤ THUỘC TRUNG CỘNG BẰNG CAO TRÀO VIẾT BA CHỮ CHỐNG GIẶC TÀU

Kính thưa toàn thể Đồng Bào Việt Nam Quốc Nội và Hải Ngoại

- Xét rằng: Việc tổ chức một lễ hội kỷ niệm đánh dấu một ngàn năm Thăng Long – Hà nội là một việc tốt nhằm mục đích giáo dục cho hậu thế về công đức trời biển của các Tiền Nhân trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của Dân Tộc Việt ta. Đặc biệt, việc tổ chức lễ hội kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long – Hà Nội còn có ý nghĩa nhắc nhở về truyền thống bất khuất, hào hùng của Dân Tộc trong việc chống giặc ngoại xâm phương Bắc – kẻ thù truyền kiếp luôn ôm ấp dã tâm xâm lược nước Việt Nam ta trong suốt hai ngàn năm qua.

Thế nhưng ý nghĩa tốt đẹp đang được cả Dân Tộc chờ đợi đó đã bị nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chà đạp và xúc phạm nặng nề lòng tự tôn, niềm tự hào chính đáng của dân tộc ta với những lý do sau :

1/ Vua Lý Thái Tổ trong khoảng thời gian trị vì (1009 – 1028), vào tháng 7 năm Thuận Thiên thứ nhất ( tháng 7, năm Canh Tuất – 1010), vua Lý Thái Tổ đã dời kinh đô từ Hoa Lư về thành Đại La, sau đó đổi tên thành Đại La thành Thăng Long. Như vậy, đúng theo chính sử, đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long phải bắt đầu từ ngày 10/08/2010 dương lịch. Việc nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã ấn định ngày 01/10/2010 trùng với ngày quốc khánh nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, đã cho thấy CSVN đã cố tình xuyên tạc và bóp méo sự thật lịch sử Dân Tộc Việt, chà đạp lên danh dự Tổ Quốc, xúc phạm nặng nề lòng tự tôn, niềm tự hào chính đáng của dân tộc ta và sự thuần phục hèn hạ của các thái thú Ba Đình Hà Nội với bá quyền Trung Cộng. Ngoài ra, việc tổ chức đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội trùng với ngày quốc khánh Trung Cộng, đã cho ta thấy rõ CSVN thực chất là tổ chức lễ kỹ niệm quốc khánh thiên triều để lấy lòng Trung Cộng được trá hình dưới vỏ bọc đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.

2/ Trong tình hình kinh tế đất nước chịu ảnh hưởng chung của cuộc suy thoái kinh tế toán cầu; nhân dân Việt Nam số đông đang còn lầm than và sống dưới mức nghèo đói; vấn nạn tham nhũng tràn lan không khắc phục được; đạo đức xã hội suy đồi, xuống cấp trầm trong. Đứng trước tình hình xã hội như vậy, CSVN đã vung tay sử dụng đến hơn 94 ngàn tỷ đồng ( tương đương với khoảng 4,5 tỉ đô la Mỹ !!!) tiền thuế của dân cho toàn cuộc lễ với nhiều chi phí sai phạm và vô lý ( cổng chào, con đường gốm sứ, cải tạo mới Hà Nội cổ, phim ảnh v.v…). Điều đó đã chứng minh rõ cho thấy CSVN đã cố tình phô trương để lấy lòng Trung Cộng, chứ không hề nghĩ đến nhân dân Việt Nam, không hề nghĩ đến tương lai của Tổ Quốc Việt Nam.

3/ Tất cả các chương trình lễ hội đều cho thấy mang đậm bản sắc văn hóa Trung Hoa. Đây không thể là một sự tình cờ trùng hợp vô thức, mà là sự chủ động của CSVN muốn đẩy cả Dân Tộc Việt vào con đương nô dịch về văn hóa, để từng bước đồng hóa Dân Tộc Việt thành Hán theo ý đồ chủ động của các quan thầy Trung Cộng của CSVN. Việc cố tình đẩy Dân Tộc vào con đường nô dịch văn hóa đã cho thấy quá rõ sự quy phục hèn hạ của CSVN với Trung Cộng. Hiểm họa mất nước đang hiển hiện. Không một ai trong hơn 80 triệu người Việt có thể chịu ngồi yên để cho lịch sử đau thương từ ngàn năm trước tái diễn.

Với ba lý do về lịch sử, kinh tế – xã hội và văn hóa vừa nêu. Chúng tôi kêu gọi toàn thể Người Việt trên khắp thế giới, mọi tổ chức, đảng phái người Việt Quốc Gia hãy cực lực PHẢN ĐỐI và TẨY CHAY ĐẠI LỄ NGÀN NĂM THĂNG LONG – HÀ NỘI do nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam tổ chức.

- Xét rằng: Quốc thổ là tài sản thiêng liêng của toàn Dân do Tiền Nhân từ nhiều đời tạo lập, giữ gìn để lại. Không một đảng phái nào có quyền cắt bán cho ngoại bang. Người Trung Hoa phương Bắc đã thực hiện dã tâm nuốt chửng Tổ Quốc ta qua những cuộc xâm lăng từ mấy ngàn năm nay. Dã tâm ấy đến nay càng thể hiện rõ qua việc vạch một đường lưỡi bò trên biển, nhằm mục đích thôn tính các nước lân bang tiếp giáp và đặc biệt là nhắm vào nước Việt Nam chúng ta. Dã tâm trên của Trung Cộng đã và đang được tiếp tay hổ trợ của đảng CSVN qua các Hiệp Định Biên Giới Việt Trung ( 1999 và 2000); qua Công Hàm bán nước của chính phủ Hồ Chí Minh do Phạm Văn Đồng đại diện ký (14.9.1958); qua các hợp đồng dài hạn cho thuê đất với giá như cho không và việc cho khai thác bô xít trên Tây Nguyên do đảng CSVN thực hiện thông qua bàn tay của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng; qua việc hợp đồng ưu tiên cho Tàu trong việc xây dựng các công trình trọng điểm quốc gia; và đặc biệt, việc thực hiện dự án thành lập một khu phát triển mậu dịch giữa đôi bên Việt Nam và Trung Cộng đã được bàn tính từ năm 2007. Theo dự án này, mỗi bên để ra tám triệu rưởi cây số vuông. Việc đó, liên hệ đến an ninh quốc gia và sự vẹn toàn lãnh thổ.

- Xét rằng: Người dân Việt Nam ta luôn có một truyền thống yêu nước và tinh thần chiến đấu chống ngoại xâm bất khuất suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Qua một ngàn năm bị giặc Tàu đô hộ, chúng ta đã dấy lên không biết bao nhiêu cuộc kháng chiến để bảo vệ Sơn Hà Xã Tắc va Độc Lập Đất Nước. Chúng ta đã bảo tồn được đặc trưng văn hóa Việt. Chữ Hán đã được cải biên thành chữ Nôm của người Việt. Qua gần 100 năm bị người Pháp xâm lược. Noi gương Tiền Nhân, Dân Tộc ta đã thể hiện lòng yêu nước quật cường qua các cuộc khởi nghĩa. Để thoát khỏi sự nô dịch về văn hóa, cha ông ta đã thoát khỏi chữ Tây để thay vào đó chữ Quốc Ngữ với sự góp sức của một số nhà truyền giáo, mà đặc biệt là Linh Mục truyền giáo dòng Tên Alexandre de Rhodes người Avignon – Pháp.

Giai đoạn lịch sữ hiện tại, chúng ta không chờ trông được gì qua những việc làm hèn hạ và đang bán đất nước của đảng CSVN. Tất cả mọi người dân Việt quốc nội cũng như hải ngoại, hãy đoàn kết, cùng đứng lên tổng nổi dậy theo gương tiền nhân, chung sức đánh đuổi Tàu Cộng và bè lũ việt gian bán nước. Chúng tôi kêu gọi tất cả mọi tổ chức, đảng phái người Việt Quốc Gia và toàn thể nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước hãy thể hiện lòng yêu nước bằng một việc làm cụ thể và rất dễ mà ai cũng có thể làm được: Hãy viết ba chữ CHỐNG GIẶC TÀU bằng bất kỳ chất liệu gì và vào bất cứ vị trí nào thích hợp, phù hợp với mỹ quan và văn hóa trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Kính mong toàn thể các tổ chức, các chính đảng người Việt Quốc Gia và toàn dân Việt Nam hưởng ứng cao trào CHỐNG GIẶC TÀU.

Việt Nam ngày 26/09/2010

Kính kêu gọi

Nguyển Ngọc Quang – thành viên Khối 8406

Monday, September 27, 2010

LM Nguyễn Văn Lý là một trong 9 người được đề cử giải nhân quyền Sakharov năm 2010

VietCatholic News (25 Sep 2010 22:44)
LM Nguyễn Văn Lý, 64 tuổi,.đang chữa bệnh ở nhà chung Huế được một tổ chức ở Quốc Hội Âu Châu đề cử giải thưởng nhân quyền Sakharov năm 2010. Ðây là giải thưởng nhân quyền hàng năm của Quốc Hội Âu Châu đặt tên vinh danh nhà khoa học Nga Andrei Sakharov, có từ năm 1988 đến nay. Tiến Sĩ Sakharov là người đấu tranh chống độc tài cộng sản Liên Xô.

Linh mục Lý là 1 trong 9 người đượ đề cử cho giải thưởng nói trên. Ngoài cha Lý, còn có luật sư nhân quyền người Syria là Haytham Al-Maleh, bác sĩ người Cuba là Guillermo Farinas, bà Aminatou Haidar, người vận động nhân quyền cho nên độc lập của một quốc gia “Tây Sahara,” bà Birtukan Mideksa, chính trị gia nước Ethiopia và một số tổ chức vận động nhân quyền, cũng được đề cử.

Tất cả những người được đề cử đều có thành tích đấu tranh bất chấp tù tội, mạng sống, cho quyền làm người ở các quốc gia của họ.

Vào ngày 5 tháng 10, 2010 tới đây, những đơn đề cử sẽ được đệ trình ở ủy ban hỗn hợp của Ủy Ban Ðối Ngoại và Phát Triển và Tiểu Ban Nhân Quyền. Sau đó, một cuộc bỏ phiếu sẽ diễn ra vào ngày 18 tháng 10 để quyết định chọn 3 người vào vòng chung kết. Người cuối cùng được lựa chọn trúng giải Sakharov 2010 sẽ được Hội Ðồng Chủ Tịch Quốc Hội Liên Âu quyết định vào ngày 21 tháng 10, 2010 trong phiên họp ở Strasbourg. Người trúng giải sẽ được mời đến dự lễ trao giảo sẽ được tổ chức ở Strasbourg vào ngày 15 tháng 12, 2010.

LM Nguyễn Văn Lý là một người vận động nhân quyền, tự do tôn giáo không ngừng nghỉ từ khi cộng sản nhuộm đỏ cả nước năm 1975. Ngài đã ở tù và bị quản chế gần hết thời gian kể từ đó đến nay. Riêng 3 lần ở tù đã hơn 17 năm.

(Nguồn: http://www.europarl.europa.eu/news/expert/infopress_page/015-83453-266-09-39-902-20100923IPR83450-23-09-2010-2010-false/default_en.htm)
European Parliamnet

Sunday, September 26, 2010

Mỹ và Asean siết chặt quan hệ trước tham vọng bá quyền của Bắc Kinh

Theo RFI

Tổng thống Hoa Kỳ chụp ảnh chung với các lãnh đạo ASEAN (từ trái qua phải) Chủ tịch Lào, Chủ tịch Việt Nam, Tổng thống Mỹ, Tổng thống Philippines, Thủ tướng Malaysian (New York, 24/09/2010)
Tổng thống Hoa Kỳ chụp ảnh chung với các lãnh đạo ASEAN (từ trái qua phải) Chủ tịch Lào, Chủ tịch Việt Nam, Tổng thống Mỹ, Tổng thống Philippines, Thủ tướng Malaysian (New York, 24/09/2010)
REUTERS/Jason Reed
Tú Anh

Trong cuộc họp thượng đỉnh Washington-Asean lần hai vào ngày hôm qua tại NewYork, tổng thống Mỹ và các nhà lãnh đạo ĐôngNam Á tìm cách củng cố mối quan hệ trên mọi lãnh vực từ chính trị, kinh tế đến an ninh. Tổng thống Barack Obama khẳng định quyết tâm của Mỹ đóng vai trò then chốt tại châu Á, trong lúc ông Nguyễn Minh Triết, chủ tịch Việt Nam kiêm chủ tịch luân lưu Asean, tuyên bố hai bên sẽ tăng cường hợp tác bảo vệ hòa bình trong khu vực. Những lời cam kết trên đây được đưa ra vào lúc Bắc Kinh công khai làm mưa làm gió tại biển Đông.

Theo AFP, mở đầu hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ-Asean lần hai tại New York, Tổng thống Barack Obama long trọng tuyên bố với các nhà lãnh đạo Đông Nam Á : « với tư cách là Tổng thống, tôi tuyên bố một cách rõ ràng là Hoa Kỳ có ý định đóng vai trò quan trọng tại châu Á. Hoa kỳ đã tăng cường các liên minh cũ, đẩy mạnh quan hệ với đối tác mới … như với Trung Quốc, và một lần nữa chúng tôi tham dự vào quan hệ với các tổ chức cấp vùng, trong đó có Asean ».

Tổng thống Mỹ giải thích là Asean với 10 nước thành viên, gồm Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Singapore, Malaysia, Brunei, Miến Điện, Cam-bốt và Lào « đang giữ một vai trò quyết định trong khu vực và có thể trở thành một thế lực tích cực trong việc điều hành các vấn đề trên thế giới ».

Đáp lại thông điệp của Tổng thống Obama, chủ tịch Việt Nam Nguyễn Minh Triết tuyên bố : « Asean rất mong muốn nâng quan hệ với Mỹ lên một tầm cao mới để duy trì hòa bình ổn định, và phát triển trong khu vực ».

Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Asean lần hai là bước chuẩn bị cho chuyến công du châu Á của tổng thống Obama vào đầu tháng 11 qua 4 nước Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Indonesia, là nơi ông sinh sống lúc thiếu thời.
Trong hồ sơ thương mại, hai bên đồng ý cùng thúc đẩy phát huy buôn bán hai chiều, hiện lên đến 84 tỷ đôla trong sáu tháng đầu năm nay, tăng 28% so với cùng thời kỳ năm ngoái.

Trong lãnh vực chính trị, Tổng thống Mỹ một lần nữa kêu gọi Miến Điện trả tự do cho tất cả tù nhân chính trị và thật tâm dân chủ hóa chế độ.

Ngoài chủ đề thương mại, đầu tư, hội nghị còn tập trung vào tình hình an ninh cấp vùng. Đây là một vấn đề nóng bỏng do sức mạnh đang lên của Trung Quốc và tham vọng bá quyền của ban lãnh đạo Bắc Kinh.

Bốn ngày trước khi hội nghị khai mạc, Bộ Ngoại giao Trung Quốc lên tiếng trước với lời lẽ cảnh cáo chống lại điều mà Bắc Kinh gọi là « mọi tuyên bố can thiệp vào chủ quyền không thể tranh cãi được của Trung Quốc » tại biển Đông.

Lập trường nước lớn của Trung Quốc cũng đã được Thủ tướng Ôn Gia Bảo đề cập đến trong cuộc gặp với Tổng thống Mỹ hôm thứ năm, bên lề khóa họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc.

Tuy nhiên , dù không gọi đích danh Trung Quốc, nhưng bản thông cáo chung của thượng đỉnh Hoa Kỳ-Asean công bố hôm qua thứ sáu 24 tháng 9 năm 2010 « khẳng định tầm quan trọng của nền hòa bình và ổn định trong khu vực, của an ninh hàng hải, của quyền tự do giao thông trên biển theo quy định của luật quốc tế » và kêu gọi « giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp ôn hòa ».

Thái độ dấn thân của Mỹ còn được biểu lộ qua lời hứa của tổng thống Obama là ông sẽ tham dự hội nghị thượng đỉnh Đông Á vào năm tới tại Jakarta, thúc đẩy chiến lược phát huy ảnh hưởng trong khu vực, một chính sách vốn bị các chính quyền tiền nhiệm xem nhẹ.

Tại biển Hoa Đông, Trung Quốc tiếp tục gây sức ép ngoại giao với Nhật Bản, buộc Tokyo phải xin lỗi và bồi thường, sau vụ bắt một thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc gần đảo Điếu Ngư /Senkaku.

Căng thẳng về địa lý chính trị đi đôi với thái độ khăng khăng của Bắc Kinh về chính sách kềm giá đồng nhân dân tệ để cạnh tranh bất chính với hàng hóa Tây phương.

Xung khắc Mỹ Trung có nguy cơ trầm trọng thêm trong bối cảnh quốc hội Mỹ chuẩn bị biểu quyết các biện pháp trả đũa Bắc Kinh.

Theo giới phân tích, tuy là thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An và biểu lộ quyết tâm làm đại cường, nhưng ban lãnh đạo Bắc Kinh dường như không quan tâm đến quyền lợi của các nước láng giềng và quyền lợi chung của cộng đồng thế giới.

Friday, September 24, 2010

Giang hồ oan

Theo DCV Online
Lê Trần Luật

Chiều nay, đang lang thang đi tìm nhà thuê tình cờ gặp lại một người em giang hồ. Qua những lời tâm sự biết được hắn đã bỏ xứ ra đi để tránh “Lệnh cưỡng bức”.

Lệnh cưỡng bức nghe có vẻ xa lạ đối với nhiều người nhưng đối với dân giang hồ thì không ai không biết đến lệnh này. Nó còn được biết đến với một tên gọi khác là “Lệnh cưỡng bức lao động”.

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam nó có tên hết sức “nhân đạo và cao cả”: Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên và quyết định đưa vào cơ sở giáo dục đối với người thành niên. Đây là một loại quyết định hành chính.

Giới giang hồ thường kháo với nhau rằng: thà đi tù chứ đừng bao giờ đi cưỡng bức lao động vì trong trại giáo dưỡng hay cơ sở giáo dục còn kinh khủng hơn trong nhà tù.



Nguyễn Minh Triết trao Bằng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng, Bộ Công an
Nguồn Ảnh: C.G

Kinh nghiệm của những người từng bị đưa vào trường giáo dưỡng hay cơ sở giáo dục được truyền trong giới giang hồ là nếu thấy khả năng có thể bị đưa đi cưỡng bức thì tốt nhất là bỏ xứ, không thì nên cố tình phạm một tội nào đó nhẹ nhẹ để được Tòa án xử bằng một bản án. Thoạt nghe thấy vô lý, nhưng tìm hiểu các quy định của pháp luật về vấn đề này chúng ta sẽ thấy lời khuyên trên là có cơ sở vì các lẽ sau đây:

1. Bản chất của trường giáo dưỡng hay cơ sở giáo dục là một nhà tù.

2. Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục là một quyết định hành chính có hiệu lực thi hành ngay, không có cơ hội kháng cáo, kháng nghị như bản án của Tòa án, tức là cơ hội giành lại sự tự do hoàn toàn không có.

3. Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục thường có thời hạn là 24 tháng. Trong khi đó bản án của Tòa có thể là 6 tháng, 9 tháng hoặc một năm nếu phạm tội ít nghiêm trọng, ngoài ra bản án có thể là tù treo hoặc cải tạo không giam giữ.

4. Những bản án 6 tháng, 9 tháng hay một năm thì thông thường được thụ án tại trại giam tỉnh nhà, người thân dễ có điều kiện để thăm nuôi.

Đối chiếu các quy định pháp luật về Quy chế cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng chúng ta thấy nó giống như chế độ của trại giam, đó là:

- Diện tích chỗ nằm của trại viên, học viên là 2,5m2.

- Mỗi năm, mỗi trại viên được cấp 2 bộ quần áo dài, 2 bô quần áo lót, 2 khăn mặt, một đôi dép, một bàn chải đánh răng, 1 chiếc mũ. Một quý được cấp 1 hộp kem đánh răng; 0,6kg xà phòng. Ba năm được cấp 1 chăn, 1 màn.

- Định mức ăn hàng tháng của trại viên là: gạo 15kg; thịt hoặc cá 0,8kg; đường 0,3kg; muối 0,5kg.

- Mỗi ngày lao động 8 giờ.

- Mỗi tháng được thăm nuôi 2 lần, mỗi lần không quá 2h.

- Thân nhân muốn thăm nuôi phải có đơn xin thăm nuôi được xác nhận của chính quyền địa phương.

- Khi chấp hành xong quyết định được cấp giấy chứng nhận.

Ngoài những điểm giống nhau như trên thì cán bộ quản giáo ở cơ sở giáo dục và trại giam đều phải có các điều kiện giống nhau là tốt nghiệp trường cảnh sát hoặc trường an ninh. Cơ sở giáo dục hoặc trường giáo dưỡng được cấp và sử dụng vũ khí như trại giam.Còn rất nhiều điểm giống nhau nữa mà xét thấy không cần phải liệt kê ra hết ở đây.

Như vậy, giới giang hồ đã không sai khi nói cơ sở giáo dục, giáo dưỡng của Việt nam cũng giống như nhà tù. Ở đây chỉ có sự khác nhau về tên gọi đó là: Tù nhân và trại viên; nhà tù và trường giáo dưỡng, giáo dục.

Sự đánh tráo tên gọi ở đây nhằm che đậy một sự thật hết sức man rợ của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay là tước đoạt sự tự do của con người mà không cần phán quyết của Tòa án
. Trong khi đó cả nhân loại và nhà nước Việt Nam đều xác định rằng: “Con người chỉ bị mất tự do bởi một phán quyết có hiệu lực của Tòa án”.

Pháp lệnh xử phạt hành chính 2002, điều 24 và 25 quy định những người sau đây có thể bị đưa vào trường giáo dưỡng hoặc cơ sở giáo dục:

- Người từ 12 tuổi đến 14 tuổi có dấu hiệu phạm tội rất nghiêm trọng, hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

- Người từ đủ 14 tuổi đến 18 tuổi nhiều lần thực hiện hành vi ăn cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ v.v...

- Người đủ 18 tuổi thực hiện các hành vi vi phạm nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Với quy định như vậy rõ ràng không cần phạm một tội trong bộ luật hình sự, chỉ cần có dấu hiệu hoặc có hành vi chưa tới mức truy cứu thì có thể bị tước đoạt sự tự do đến hai năm.

Cũng cần lưu ý rằng đối với bản án, sau khi chấp hành xong thì được trả tự do ngay, còn đối với quyết định đưa vào trường giáo dưỡng hoặc cơ sở giáo dục có thể bị gia hạn thêm nếu vi phạm các nội quy của trường hoặc cơ sở giáo dục.

Không biết việc giáo dục giáo dưỡng như thế nào nhưng đa số các “học viên”, “trại viên” sau khi trở về đều trở thành những tay “anh chị” đầy số má trong giang hồ và liều lĩnh hơn. Có nhiều trường hợp đã chết trong trường giáo dưỡng hoặc cơ sở giáo dục. Có trường hợp bị tàn phế sau khi đưa đi cơ sở giáo dục về như trường hợp của anh Nguyễn Minh Hà (khu 4, xã Phú Ninh, Huyện Phú Lộc, tỉnh Phú Thọ) mà báo Pháp luật TpHCM đã đưa tin ngày 18/04/2010.

Chúng ta không bào chữa hay biện minh cho những hành động càn quấy, sai trái của giới giang hồ nhưng chúng ta phải thấy rằng sự tự do của con người không thể bị tước đoạt một cách hết sức đơn giản như vậy.

Nhà nước có Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, có Công an, có Kiểm sát, có Tòa án, có nhà tù thì sự tự do của con người chỉ bị tước đoạt khi và chỉ khi có phán quyết của Tòa án. Cho dù giang hồ có càn quấy, có sai trái như thế nào đi chăng nữa thì khi và chỉ khi họ phạm một điều luật của Bộ luật hình sự mới bị tước đoạt sự tự do. Không thể lấy lý do phòng ngừa tội phạm để tước đoạt “quá sớm” sự tự do của con người như vậy được!

Mất sự tự do không bằng một phán quyết có hiệu lực của Tòa án là một sự oan sai.




Bài do tác giả gởi. DCVOnline biên tập và minh hoạ

Human Rights Watch kêu gọi Việt Nam điều tra về tình trạng công an bạo hành

Theo RFI

Thanh Phương

Hôm qua, tổ chức bảo vệ nhân quyền của Mỹ Human Rights Watch, trụ sở tại New York, đã công bố báo cáo ( bản tiếng Việt ) rất chi tiết về tình trạng công an bạo hành, khiến nhiều người chết khi bị tạm giam ở Việt Nam. Tuy nhiên, chưa có thông tin nào cho thấy công an bị tòa kết án về những hành động của họ.

Chỉ dựa vào những thông tin đăng trên báo chí trong nước, bản báo cáo đã thống kê 19 trường hợp bạo hành của công an dẫn dến cái chết của 15 người. Trong 19 vụ việc kể trên, được ghi nhận kể từ tháng 9/2009, chưa có báo cáo nào cho thấy công an bị tòa kết án về những hành động của họ.

Phó giám đốc đặc trách châu Á của Human Rights Watch, ông Phil Robertson, nhận định rằng “tình trạng bạo hành của công an tại mọi miền ở Việt Nam được ghi nhận ở mức độ đáng báo động, làm tăng thêm mối quan ngại sâu sắc rằng những vụ bạo hành lạm quyền hiện lan rộng và có tính chất hệ thống.”

Bản báo cáo cho biết là “trong một số vụ việc, nạn nhân bị đánh khi đang bị công an hoặc dân phòng giam giữ. Một số trường hợp khác, nạn nhân chết ở nơi đông người do công an sử dụng bạo lực bị xem là quá mức cần thiết. Nhiều cái cái chết như thế đã gây nên những cuộc biểu tình phản đối của dân chúng Việt Nam trong năm vừa qua”.

Theo bản báo cáo, trong nhiều trường hợp, nạn nhân tử vong bị bắt chỉ vì những vi phạm rất nhỏ, nhưng trường hợp của anh Vũ Văn Hiền, chết ngày 30/6 /2010 trong đồn công an khi bị bắt vì xô xác với mẹ. Ba tuần sau đó, ngày 23/7, biểu tình đông người đã nổ ra ở Bắc Giang sau ciá chết của anh Nguyễn Văn Khương, chết chỉ vài giờ sau khi bị công an bắt vì tội đi xe máy không đội mũ bảo hiểm.

Tổ chức Human Rights Watch cũng lưu ý rằng một số vụ việc đã không hề được báo chí trong nước loan tải, chẳng hạn như cái chết của anh Nguyễn Thành Năm tại giáo xứ Cồn Dầu, Đà Nẳng, bị bắt sau các vụ đụng độ giữa giáo dân với lực lượng an ninh tại nghĩa trang Cồn Dầu, khu vực mà chính quyền muốn giải tỏa. Anh Năm qua đời ngày 3/7, một ngày sau khi được thả về, sau nhiều ngày bị công an giam giữ và đánh đập.

Theo tổ chức Human Rights Watch, “chính phủ Việt Nam cần công khai thừa nhận vấn đề này và ban hành luật quy định rõ hành vi lạm quyền của công an ở mọi cấp bậc đều là phạm pháp, đồng thời quy định rõ là bất kỳ cán bộ công an nào bị phát hiện vi phạm đều phải chịu kỷ luật và nều cần thì truy tố hình sự”.

Thursday, September 23, 2010

Csvn Kiên Quyết Theo Mác Lê Cấm Báo Đưa Ý Kiến Phản Bác

Việt Báo Thứ Tư, 9/22/2010, 12:00:00 AM

CSVN Kiên Quyết Theo Mác Lê Cấm Báo Đưa Ý Kiến Phản Bác; Công An Liên Tục Trấn Áp Những Người Đòi Từ Bỏ Chủ Nghĩa Mác-Lê

HANOI (VB tổng hợp) – Nhà nước CSVN tuần này đã phổ biến một số bản văn căn bản về Đại Hội XI, trong đó lập trường kiên định chủ nghĩa xã hội được đề cao, theo bản văn “Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trình Đại hội XI” do Ban Chấp Hành Trung Ương soạn thảo và đăng trên thông tấn Tuần Việt Nam. Điểm chú ý là, bản chất nền kinh tế VN chỉ là chủ nghĩa tư bản nhà nước, và xây dựng tầng lớp cán bộ trở thành doanh gia và địa chủ kiểu mới, nhưng Dự Thảo Cương Lĩnh vẫn mặt dày đấu tố chủ nghĩa tư bản...
Trong khi đó, Ban Tuyên Giáó Trung Ương đưa ra bản văn về việc “chỉ đạo việc lấy ý kiến về văn kiện” chính thức cấm truyền thông nhà nước đăng những ý kiến phản bác chủ trương đường lối của Đảng... theo bản văn trên thông tấn VietnamNet hôm Thứ Ba. Nghĩa là, bịt miệng toàn bộ những người suy nghĩ bất đồng...
Và cùng lúc, công an liên tục trấn áp các ý kiến lề trái. Mới nhất là các hành vi trù dập Tiến sĩ Đỗ Xuân Thọ, theo tin của đài BBC.
Bản Dự Thảo Cương Lĩnh đăng trên Tuần Việt Nam có các đoạn đấu tố tư bản như sau:
“...Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là một tổn thất lớn đối với phong trào cách mạng thế giới, nhưng một số nước theo con đường xã hội chủ nghĩa vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng, tiến hành cải cách, đổi mới, giành được những thành tựu to lớn, tiếp tục phát triển; phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những bước hồi phục.
Tuy nhiên, các nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và cánh tả vẫn còn gặp nhiều khó khăn, các thế lực thù địch tiếp tục chống phá, tìm cách xóa bỏ chủ nghĩa xã hội.
Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra. Chính sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động các nước sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản...”
Trong khi đó, bản tin nhan đề “Ban Tuyên giáo chỉ đạo việc lấy ý kiến về văn kiện” đăng trên VietnamNet hôm Thứ Ba 21-9-2010 có chỉ thị cụ thể về việc cấm đăng các ý kiến trái nghịch. Bản văn ký tên ông Nguyễn Bắc Sơn, Phó Trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương, đăng trên bản tin có những dòng đáng chú ý sau:
“...Ngày 10/9/2010, Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành văn bản số 112-HD/BTGTW Hướng dẫn việc công bố và lấy ý kiến góp ý của các tổ chức, cán bộ, đảng viên và nhân dân vào các dự thảo văn kiện Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng...(...)
- Việc đăng, phát trên phương tiện thông tin đại chúng các ý kiến góp ý cần có sự chọn lọc, thận trọng, đảm bảo phát huy được trí tuệ, dân chủ của nhân dân, không để những phần tử xấu lợi dụng diễn đàn công kích, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta...
- Không đăng và phát trên các phương tiện thông tin đại chúng những ý kiến phản bác chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về học thuyết Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, về vai trò lãnh đạo của Đảng; những vấn đề cần giữ bí mật về quốc phòng, an ninh đối ngoại, những ý kiến đả kích cá nhân hoặc tổ chức đảng cơ quan nhà nước...”
Như thế có nghĩa là “muôn đời chủ nghĩa xã hội...” theo chỉ thị của Đảng CSVN.
Trong khi đó, trả lời một cuộc phỏng vấn trên đàì BBC, tiến sĩ Đỗ Xuân Thọ, 56 tuổi, từ Hà Nội, là người hồi tháng 3-2010 từng gửi thư cho Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN để kêu gọi từ bỏ chủ nghĩa Má-Lâ và thay bằngc hủ nghĩa dân tộc, nói ông đang trở thành mục tiêu đánh phá, hăm dọa và bôi nhọ thanh danh.
Bản tin BBC cho biết thêm:
“...Mới đây, ông cũng tuyên bố ý định đốt thẻ Đảng nếu như đại hội Đảng XI vẫn giữ nguyên lý tưởng Mác-Lênin.
Ông nói với BBC rằng hiện thẻ ngân hàng ATM của ông đã bị chặn, "không hiểu vì lý do gì".
"Sắp tới đảng bộ cơ quan tôi (Viện Khoa học Công nghệ Giao thông-Vận tải) thu thẻ Đảng để kiểm tra. Không rõ họ có trả lại thẻ cho tôi hay không."
Theo ông Đỗ Xuân Thọ, cơ quan an ninh đã tung nhiều tin thất thiệt về ông, rằng ông "bị bệnh hoang tưởng", khiến vợ chồng ông "đã phải tính chuyện ly dị để không liên lụy tới vợ con tôi"...”

Wednesday, September 22, 2010

Quá nhiều bài học từ vụ đụng tàu Hoa – Nhật

Theo NguoiViet Boston

Ngô Văn

japan-chinaVào trung tuần tháng 8/2010, các ngư phủ Nhật hành nghề ở vùng biển Okinawa bỗng nhiên thấy nhiều tàu đánh cá của Trung quốc xâm nhập vào vùng biển này giăng lưới bắt cá, trung bình mỗi ngày có khoảng 70 chiếc ra vào.
Được ngư dân thông báo, lực lượng tuần dương Nhật ở khu vực này đã tăng cường số tàu đi tuần và vào sáng ngày 7 tháng 8 năm 2010 phát hiện khoảng 30 tàu đánh cá Trung quốc đang thả neo hành nghề trong lãnh hải của Nhật, chỉ cách đảo Kuma chừng 15 cây số về hướng Tây bắc.
Các tàu đánh cá Trung quốc khi thấy tàu tuần dương Nhật đến đã tháo chạy, nhưng có một chiếc vẫn an nhiên tự tại hành nghề. Một chiếc tàu tuần dương của Nhật mang tên Yonaki đã mấy lần đánh tín hiệu và bắc loa ra lệnh cho chiếc tàu còn lại đó phải rút đi vì đây là hải phận của Nhật. Chiếc tàu đánh cá Trung quốc đó chẳng những không tuân lịnh mà còn quay lại húc vào sườn tàu tuần dương Nhật rồi mới bỏ chạy. Khoảng 40 phút sau, một chiếc tàu tuần dương khác của Nhật là Mizuki đón đầu được, bắt phải dừng lại để kiểm tra. Thấy không thể chạy thoát, tàu đánh cá Trung quốc bèn chơi trò liều mạng, đâm ngang hông tàu Mizuki, nhưng tàu chỉ bị hư hại nhẹ và cuối cùng đã bắt được toàn bộ 15 ngư phủ Trung quốc trên tàu đánh cá đem về Okinawa. Thái độ quá khác thường của chiếc tàu đánh cá dân sự duy nhất này đối với 2 chiến thuyền đầy đủ súng ống của Nhật khiến nhiều quan sát viên nghi ngờ đây là hành động có sắp đặt trước để cố tình tạo biến sự của Bắc Kinh. Tuy nhiên, các tàu chiến Nhật đều không nổ súng nhưng toàn bộ cuộc truy đuổi này được trực thăng Nhật thu hình đầy đủ để kháng nghị với chính quyền Trung quốc.

Nhưng Tokyo chưa kịp phản đối thì Bắc Kinh đã ra tay trước bằng cách cho người phát ngôn bộ Ngoại giao là bà Khương Du lên tiếng khẳng định rằng đó là vùng biển thuộc lãnh hải Trung quốc. Bà cũng khẳng định hành động vừa rồi của Nhật đã gây phương hại đến hoạt động đánh cá của ngư phủ Trung quốc, và đòi hỏi Nhật phải thả ngay 15 ngư phủ Trung quốc và đòi bồi thuờng thiệt hại. Nếu không thì Trung quốc sẽ có những “phối trí thích ứng”. Báo, đài ở Hoa lục trong tuần qua đã liên tục lên án gắt gao Tokyo. Tuy không đưa ra được một bằng chứng cụ thể nào cả, nhưng cả hệ thống tuyên truyền Trung quốc đều khẳng định và cáo buộc tàu tuần dương Nhật đã tông vào tàu đánh cá Trung quốc đang hành nghề trong lãnh hải của mình, rồi bắt Nhật phải tạ tội và bồi thường thiệt hại.
Cùng ngày xảy ra sự việc, Đại sứ Nhật ở Bắc Kinh là ông Niwa — mới sang nhậm chức được mấy ngày — bị ông Tống Đào (Thứ trưởng Ngoại giao Trung quốc) gọi đến để kháng nghị. Nhưng Đại sứ Nhật trả lời rằng: “Chúng tôi có bằng chứng cụ thể về chuyện tàu đánh cá Trung quốc xâm phạm lãnh hải Nhật. Những bằng chứng này sẽ được chuyển đến cho quý ông xem và yêu cầu các ông phải ra lịnh cho tất cả tàu bè của quý quốc từ đây không được xâm phạm lãnh hải Nhật”.
Tiếp theo đó là những cuộc biểu tình của dân Tàu trước đại sứ quán Nhật ở Bắc Kinh. Họ đốt cờ Nhật, và hô khẩu hiệu lên án Tokyo. Tại đây một đại diện ngư phủ Trung quốc tuyên bố rằng: “Nếu chính phủ không làm mạnh vụ này thì chúng tôi sẽ kéo vài trăm chiếc tàu đến vùng biển Điếu Ngư đánh cá, xem Nhật có dám bắt hay không”.

Trong thời gian này, Ngoại trưởng Nhật đang đi công vụ ở Berlin. Khi nhận được báo cáo ông đã mở ngay một cuộc họp báo và cho hay: “Chúng tôi có đầy đủ bằng chứng về chuyện tàu đánh cá Trung quốc xâm phạm lãnh hải Nhật và còn có hành động chống trả tàu tuần dương Nhật đang thi hành nhiệm vụ. Chắc chắn những ngư phủ Trung quốc mà chúng tôi vừa bắt sẽ bị đem ra xử theo đúng luật lệ hiện hành của Nhật”. Theo kinh nghiệm quá khứ về cách hành xử của chính phủ Nhật thì một khi ông Ngoại Trưởng Nhật đã tuyên bố như thế, chính quyền Tokyo sẽ không nhượng bộ cho dù Bắc Kinh có tìm cách gây hấn. Lý do đơn giản là vì nếu nhượng bộ, chính phủ Nhật sẽ khó giải thích với người dân Nhật.

Theo các chuyên viên quan sát tình hình biển Đông, tình hình xã hội và kinh tế Trung Quốc càng có chỉ dấu mất ổn định thì càng có xác suất nhà nước Bắc Kinh cố tình tạo ra các biến cố với nước ngoài để đánh động lòng ái quốc dân tộc, kéo quần chúng ủng hộ quanh chính quyền, và tạm quên các bất công xã hội lẫn nguy cơ kinh tế sắp nổ xập vào trong (implosion).
Có lẽ sau khi xem được một vài đoạn phim mà chính phủ Nhật công bố, Bắc Kinh đã cho Tân Hoa Xã bắt đầu xuống giọng bằng cách loan tin bà nội người thuyền trưởng tàu đánh cá bị Nhật bắt vừa mới qua đời hôm 08/09/2010, rồi đề nghị Tokyo thả người thuyền trưởng để cho ông ta về chịu tang bà nội.

Qua sự việc này, các lãnh đạo Hà Nội có thể học được nhiều bài học từ cả chính phủ Nhật và Trung Quốc. Chính yếu từ phía Nhật là thu thập hình ảnh trọn vẹn của vụ việc và trình bày ngay trước thế giới và chính công luận Trung Quốc qua hệ thống Internet. Cách thức này đã phá hỏng hoàn toàn kế hoạch “kiếm chuyện” của Bắc Kinh, đóng miệng hệ thống tuyên truyền Trung Quốc, và buộc kẻ gây hấn phải xuống giọng.
Từ phía Trung Quốc, các bài học chính cho Hà Nội là mọi chính quyền khôn ngoan, dù có giàu mạnh cách mấy, vẫn phải dựa vào sức dân tộc để đối phó với ngoại bang. Bắc kinh dù có đủ loại tàu chiến chìm nổi, dù rất sợ dân biểu tình tại thủ đô vì bất kỳ lý do gì, vẫn phải để các cuộc biểu tình chống Nhật diễn ra để có hình ảnh vận động cả nước và có lý cớ áp lực chính phủ Nhật. Thông điệp tóm tắt: “Người dân chúng tôi phẫn uất đến mức này đây. Nếu không thả các ngư dân thì khó mà tránh những chuyện đáng tiếc.”
Điều bất hạnh cho đất nước ta là: lãnh đạo CSVN sao chép nguyên vẹn rất nhiều bài học từ Trung Quốc đem về áp dụng, suốt từ chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất 60 năm trước kéo dài đến các cách làm tin tặc phá hoại báo chí “lề trái” hiện nay. Duy chỉ có bài học làm sao đối phó với bá quyền Bắc Kinh là không nằm trong giáo án. Và toàn ban lãnh đạo Hà Nội hiện nay nhất định không học từ ai khác.