Translate
Saturday, September 25, 2010
Friday, September 24, 2010
Giang hồ oan
Lê Trần Luật
Chiều nay, đang lang thang đi tìm nhà thuê tình cờ gặp lại một người em giang hồ. Qua những lời tâm sự biết được hắn đã bỏ xứ ra đi để tránh “Lệnh cưỡng bức”.
Lệnh cưỡng bức nghe có vẻ xa lạ đối với nhiều người nhưng đối với dân giang hồ thì không ai không biết đến lệnh này. Nó còn được biết đến với một tên gọi khác là “Lệnh cưỡng bức lao động”.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam nó có tên hết sức “nhân đạo và cao cả”: Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên và quyết định đưa vào cơ sở giáo dục đối với người thành niên. Đây là một loại quyết định hành chính.
Giới giang hồ thường kháo với nhau rằng: thà đi tù chứ đừng bao giờ đi cưỡng bức lao động vì trong trại giáo dưỡng hay cơ sở giáo dục còn kinh khủng hơn trong nhà tù.
![]() |
| Nguyễn Minh Triết trao Bằng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng, Bộ Công an Nguồn Ảnh: C.G |
Kinh nghiệm của những người từng bị đưa vào trường giáo dưỡng hay cơ sở giáo dục được truyền trong giới giang hồ là nếu thấy khả năng có thể bị đưa đi cưỡng bức thì tốt nhất là bỏ xứ, không thì nên cố tình phạm một tội nào đó nhẹ nhẹ để được Tòa án xử bằng một bản án. Thoạt nghe thấy vô lý, nhưng tìm hiểu các quy định của pháp luật về vấn đề này chúng ta sẽ thấy lời khuyên trên là có cơ sở vì các lẽ sau đây:
1. Bản chất của trường giáo dưỡng hay cơ sở giáo dục là một nhà tù.
2. Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục là một quyết định hành chính có hiệu lực thi hành ngay, không có cơ hội kháng cáo, kháng nghị như bản án của Tòa án, tức là cơ hội giành lại sự tự do hoàn toàn không có.
3. Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục thường có thời hạn là 24 tháng. Trong khi đó bản án của Tòa có thể là 6 tháng, 9 tháng hoặc một năm nếu phạm tội ít nghiêm trọng, ngoài ra bản án có thể là tù treo hoặc cải tạo không giam giữ.
4. Những bản án 6 tháng, 9 tháng hay một năm thì thông thường được thụ án tại trại giam tỉnh nhà, người thân dễ có điều kiện để thăm nuôi.
Đối chiếu các quy định pháp luật về Quy chế cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng chúng ta thấy nó giống như chế độ của trại giam, đó là:
- Diện tích chỗ nằm của trại viên, học viên là 2,5m2.
- Mỗi năm, mỗi trại viên được cấp 2 bộ quần áo dài, 2 bô quần áo lót, 2 khăn mặt, một đôi dép, một bàn chải đánh răng, 1 chiếc mũ. Một quý được cấp 1 hộp kem đánh răng; 0,6kg xà phòng. Ba năm được cấp 1 chăn, 1 màn.
- Định mức ăn hàng tháng của trại viên là: gạo 15kg; thịt hoặc cá 0,8kg; đường 0,3kg; muối 0,5kg.
- Mỗi ngày lao động 8 giờ.
- Mỗi tháng được thăm nuôi 2 lần, mỗi lần không quá 2h.
- Thân nhân muốn thăm nuôi phải có đơn xin thăm nuôi được xác nhận của chính quyền địa phương.
- Khi chấp hành xong quyết định được cấp giấy chứng nhận.
Ngoài những điểm giống nhau như trên thì cán bộ quản giáo ở cơ sở giáo dục và trại giam đều phải có các điều kiện giống nhau là tốt nghiệp trường cảnh sát hoặc trường an ninh. Cơ sở giáo dục hoặc trường giáo dưỡng được cấp và sử dụng vũ khí như trại giam.Còn rất nhiều điểm giống nhau nữa mà xét thấy không cần phải liệt kê ra hết ở đây.
Như vậy, giới giang hồ đã không sai khi nói cơ sở giáo dục, giáo dưỡng của Việt nam cũng giống như nhà tù. Ở đây chỉ có sự khác nhau về tên gọi đó là: Tù nhân và trại viên; nhà tù và trường giáo dưỡng, giáo dục.
Sự đánh tráo tên gọi ở đây nhằm che đậy một sự thật hết sức man rợ của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay là tước đoạt sự tự do của con người mà không cần phán quyết của Tòa án. Trong khi đó cả nhân loại và nhà nước Việt Nam đều xác định rằng: “Con người chỉ bị mất tự do bởi một phán quyết có hiệu lực của Tòa án”.
Pháp lệnh xử phạt hành chính 2002, điều 24 và 25 quy định những người sau đây có thể bị đưa vào trường giáo dưỡng hoặc cơ sở giáo dục:
- Người từ 12 tuổi đến 14 tuổi có dấu hiệu phạm tội rất nghiêm trọng, hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
- Người từ đủ 14 tuổi đến 18 tuổi nhiều lần thực hiện hành vi ăn cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ v.v...
- Người đủ 18 tuổi thực hiện các hành vi vi phạm nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Với quy định như vậy rõ ràng không cần phạm một tội trong bộ luật hình sự, chỉ cần có dấu hiệu hoặc có hành vi chưa tới mức truy cứu thì có thể bị tước đoạt sự tự do đến hai năm.
Cũng cần lưu ý rằng đối với bản án, sau khi chấp hành xong thì được trả tự do ngay, còn đối với quyết định đưa vào trường giáo dưỡng hoặc cơ sở giáo dục có thể bị gia hạn thêm nếu vi phạm các nội quy của trường hoặc cơ sở giáo dục.
Không biết việc giáo dục giáo dưỡng như thế nào nhưng đa số các “học viên”, “trại viên” sau khi trở về đều trở thành những tay “anh chị” đầy số má trong giang hồ và liều lĩnh hơn. Có nhiều trường hợp đã chết trong trường giáo dưỡng hoặc cơ sở giáo dục. Có trường hợp bị tàn phế sau khi đưa đi cơ sở giáo dục về như trường hợp của anh Nguyễn Minh Hà (khu 4, xã Phú Ninh, Huyện Phú Lộc, tỉnh Phú Thọ) mà báo Pháp luật TpHCM đã đưa tin ngày 18/04/2010.
Chúng ta không bào chữa hay biện minh cho những hành động càn quấy, sai trái của giới giang hồ nhưng chúng ta phải thấy rằng sự tự do của con người không thể bị tước đoạt một cách hết sức đơn giản như vậy.
Nhà nước có Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, có Công an, có Kiểm sát, có Tòa án, có nhà tù thì sự tự do của con người chỉ bị tước đoạt khi và chỉ khi có phán quyết của Tòa án. Cho dù giang hồ có càn quấy, có sai trái như thế nào đi chăng nữa thì khi và chỉ khi họ phạm một điều luật của Bộ luật hình sự mới bị tước đoạt sự tự do. Không thể lấy lý do phòng ngừa tội phạm để tước đoạt “quá sớm” sự tự do của con người như vậy được!
Mất sự tự do không bằng một phán quyết có hiệu lực của Tòa án là một sự oan sai.
Human Rights Watch kêu gọi Việt Nam điều tra về tình trạng công an bạo hành

Hôm qua, tổ chức bảo vệ nhân quyền của Mỹ Human Rights Watch, trụ sở tại New York, đã công bố báo cáo ( bản tiếng Việt ) rất chi tiết về tình trạng công an bạo hành, khiến nhiều người chết khi bị tạm giam ở Việt Nam. Tuy nhiên, chưa có thông tin nào cho thấy công an bị tòa kết án về những hành động của họ.
Chỉ dựa vào những thông tin đăng trên báo chí trong nước, bản báo cáo đã thống kê 19 trường hợp bạo hành của công an dẫn dến cái chết của 15 người. Trong 19 vụ việc kể trên, được ghi nhận kể từ tháng 9/2009, chưa có báo cáo nào cho thấy công an bị tòa kết án về những hành động của họ.
Phó giám đốc đặc trách châu Á của Human Rights Watch, ông Phil Robertson, nhận định rằng “tình trạng bạo hành của công an tại mọi miền ở Việt Nam được ghi nhận ở mức độ đáng báo động, làm tăng thêm mối quan ngại sâu sắc rằng những vụ bạo hành lạm quyền hiện lan rộng và có tính chất hệ thống.”
Bản báo cáo cho biết là “trong một số vụ việc, nạn nhân bị đánh khi đang bị công an hoặc dân phòng giam giữ. Một số trường hợp khác, nạn nhân chết ở nơi đông người do công an sử dụng bạo lực bị xem là quá mức cần thiết. Nhiều cái cái chết như thế đã gây nên những cuộc biểu tình phản đối của dân chúng Việt Nam trong năm vừa qua”.
Theo bản báo cáo, trong nhiều trường hợp, nạn nhân tử vong bị bắt chỉ vì những vi phạm rất nhỏ, nhưng trường hợp của anh Vũ Văn Hiền, chết ngày 30/6 /2010 trong đồn công an khi bị bắt vì xô xác với mẹ. Ba tuần sau đó, ngày 23/7, biểu tình đông người đã nổ ra ở Bắc Giang sau ciá chết của anh Nguyễn Văn Khương, chết chỉ vài giờ sau khi bị công an bắt vì tội đi xe máy không đội mũ bảo hiểm.
Tổ chức Human Rights Watch cũng lưu ý rằng một số vụ việc đã không hề được báo chí trong nước loan tải, chẳng hạn như cái chết của anh Nguyễn Thành Năm tại giáo xứ Cồn Dầu, Đà Nẳng, bị bắt sau các vụ đụng độ giữa giáo dân với lực lượng an ninh tại nghĩa trang Cồn Dầu, khu vực mà chính quyền muốn giải tỏa. Anh Năm qua đời ngày 3/7, một ngày sau khi được thả về, sau nhiều ngày bị công an giam giữ và đánh đập.
Theo tổ chức Human Rights Watch, “chính phủ Việt Nam cần công khai thừa nhận vấn đề này và ban hành luật quy định rõ hành vi lạm quyền của công an ở mọi cấp bậc đều là phạm pháp, đồng thời quy định rõ là bất kỳ cán bộ công an nào bị phát hiện vi phạm đều phải chịu kỷ luật và nều cần thì truy tố hình sự”.
Thursday, September 23, 2010
Csvn Kiên Quyết Theo Mác Lê Cấm Báo Đưa Ý Kiến Phản Bác
| Việt Báo Thứ Tư, 9/22/2010, 12:00:00 AM |
CSVN Kiên Quyết Theo Mác Lê Cấm Báo Đưa Ý Kiến Phản Bác; Công An Liên Tục Trấn Áp Những Người Đòi Từ Bỏ Chủ Nghĩa Mác-Lê HANOI (VB tổng hợp) – Nhà nước CSVN tuần này đã phổ biến một số bản văn căn bản về Đại Hội XI, trong đó lập trường kiên định chủ nghĩa xã hội được đề cao, theo bản văn “Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trình Đại hội XI” do Ban Chấp Hành Trung Ương soạn thảo và đăng trên thông tấn Tuần Việt Nam. Điểm chú ý là, bản chất nền kinh tế VN chỉ là chủ nghĩa tư bản nhà nước, và xây dựng tầng lớp cán bộ trở thành doanh gia và địa chủ kiểu mới, nhưng Dự Thảo Cương Lĩnh vẫn mặt dày đấu tố chủ nghĩa tư bản... |
Wednesday, September 22, 2010
Quá nhiều bài học từ vụ đụng tàu Hoa – Nhật
Ngô Văn
Vào trung tuần tháng 8/2010, các ngư phủ Nhật hành nghề ở vùng biển Okinawa bỗng nhiên thấy nhiều tàu đánh cá của Trung quốc xâm nhập vào vùng biển này giăng lưới bắt cá, trung bình mỗi ngày có khoảng 70 chiếc ra vào.
Được ngư dân thông báo, lực lượng tuần dương Nhật ở khu vực này đã tăng cường số tàu đi tuần và vào sáng ngày 7 tháng 8 năm 2010 phát hiện khoảng 30 tàu đánh cá Trung quốc đang thả neo hành nghề trong lãnh hải của Nhật, chỉ cách đảo Kuma chừng 15 cây số về hướng Tây bắc.
Các tàu đánh cá Trung quốc khi thấy tàu tuần dương Nhật đến đã tháo chạy, nhưng có một chiếc vẫn an nhiên tự tại hành nghề. Một chiếc tàu tuần dương của Nhật mang tên Yonaki đã mấy lần đánh tín hiệu và bắc loa ra lệnh cho chiếc tàu còn lại đó phải rút đi vì đây là hải phận của Nhật. Chiếc tàu đánh cá Trung quốc đó chẳng những không tuân lịnh mà còn quay lại húc vào sườn tàu tuần dương Nhật rồi mới bỏ chạy. Khoảng 40 phút sau, một chiếc tàu tuần dương khác của Nhật là Mizuki đón đầu được, bắt phải dừng lại để kiểm tra. Thấy không thể chạy thoát, tàu đánh cá Trung quốc bèn chơi trò liều mạng, đâm ngang hông tàu Mizuki, nhưng tàu chỉ bị hư hại nhẹ và cuối cùng đã bắt được toàn bộ 15 ngư phủ Trung quốc trên tàu đánh cá đem về Okinawa. Thái độ quá khác thường của chiếc tàu đánh cá dân sự duy nhất này đối với 2 chiến thuyền đầy đủ súng ống của Nhật khiến nhiều quan sát viên nghi ngờ đây là hành động có sắp đặt trước để cố tình tạo biến sự của Bắc Kinh. Tuy nhiên, các tàu chiến Nhật đều không nổ súng nhưng toàn bộ cuộc truy đuổi này được trực thăng Nhật thu hình đầy đủ để kháng nghị với chính quyền Trung quốc.
Nhưng Tokyo chưa kịp phản đối thì Bắc Kinh đã ra tay trước bằng cách cho người phát ngôn bộ Ngoại giao là bà Khương Du lên tiếng khẳng định rằng đó là vùng biển thuộc lãnh hải Trung quốc. Bà cũng khẳng định hành động vừa rồi của Nhật đã gây phương hại đến hoạt động đánh cá của ngư phủ Trung quốc, và đòi hỏi Nhật phải thả ngay 15 ngư phủ Trung quốc và đòi bồi thuờng thiệt hại. Nếu không thì Trung quốc sẽ có những “phối trí thích ứng”. Báo, đài ở Hoa lục trong tuần qua đã liên tục lên án gắt gao Tokyo. Tuy không đưa ra được một bằng chứng cụ thể nào cả, nhưng cả hệ thống tuyên truyền Trung quốc đều khẳng định và cáo buộc tàu tuần dương Nhật đã tông vào tàu đánh cá Trung quốc đang hành nghề trong lãnh hải của mình, rồi bắt Nhật phải tạ tội và bồi thường thiệt hại.
Cùng ngày xảy ra sự việc, Đại sứ Nhật ở Bắc Kinh là ông Niwa — mới sang nhậm chức được mấy ngày — bị ông Tống Đào (Thứ trưởng Ngoại giao Trung quốc) gọi đến để kháng nghị. Nhưng Đại sứ Nhật trả lời rằng: “Chúng tôi có bằng chứng cụ thể về chuyện tàu đánh cá Trung quốc xâm phạm lãnh hải Nhật. Những bằng chứng này sẽ được chuyển đến cho quý ông xem và yêu cầu các ông phải ra lịnh cho tất cả tàu bè của quý quốc từ đây không được xâm phạm lãnh hải Nhật”.
Tiếp theo đó là những cuộc biểu tình của dân Tàu trước đại sứ quán Nhật ở Bắc Kinh. Họ đốt cờ Nhật, và hô khẩu hiệu lên án Tokyo. Tại đây một đại diện ngư phủ Trung quốc tuyên bố rằng: “Nếu chính phủ không làm mạnh vụ này thì chúng tôi sẽ kéo vài trăm chiếc tàu đến vùng biển Điếu Ngư đánh cá, xem Nhật có dám bắt hay không”.
Trong thời gian này, Ngoại trưởng Nhật đang đi công vụ ở Berlin. Khi nhận được báo cáo ông đã mở ngay một cuộc họp báo và cho hay: “Chúng tôi có đầy đủ bằng chứng về chuyện tàu đánh cá Trung quốc xâm phạm lãnh hải Nhật và còn có hành động chống trả tàu tuần dương Nhật đang thi hành nhiệm vụ. Chắc chắn những ngư phủ Trung quốc mà chúng tôi vừa bắt sẽ bị đem ra xử theo đúng luật lệ hiện hành của Nhật”. Theo kinh nghiệm quá khứ về cách hành xử của chính phủ Nhật thì một khi ông Ngoại Trưởng Nhật đã tuyên bố như thế, chính quyền Tokyo sẽ không nhượng bộ cho dù Bắc Kinh có tìm cách gây hấn. Lý do đơn giản là vì nếu nhượng bộ, chính phủ Nhật sẽ khó giải thích với người dân Nhật.
Theo các chuyên viên quan sát tình hình biển Đông, tình hình xã hội và kinh tế Trung Quốc càng có chỉ dấu mất ổn định thì càng có xác suất nhà nước Bắc Kinh cố tình tạo ra các biến cố với nước ngoài để đánh động lòng ái quốc dân tộc, kéo quần chúng ủng hộ quanh chính quyền, và tạm quên các bất công xã hội lẫn nguy cơ kinh tế sắp nổ xập vào trong (implosion).
Có lẽ sau khi xem được một vài đoạn phim mà chính phủ Nhật công bố, Bắc Kinh đã cho Tân Hoa Xã bắt đầu xuống giọng bằng cách loan tin bà nội người thuyền trưởng tàu đánh cá bị Nhật bắt vừa mới qua đời hôm 08/09/2010, rồi đề nghị Tokyo thả người thuyền trưởng để cho ông ta về chịu tang bà nội.
Qua sự việc này, các lãnh đạo Hà Nội có thể học được nhiều bài học từ cả chính phủ Nhật và Trung Quốc. Chính yếu từ phía Nhật là thu thập hình ảnh trọn vẹn của vụ việc và trình bày ngay trước thế giới và chính công luận Trung Quốc qua hệ thống Internet. Cách thức này đã phá hỏng hoàn toàn kế hoạch “kiếm chuyện” của Bắc Kinh, đóng miệng hệ thống tuyên truyền Trung Quốc, và buộc kẻ gây hấn phải xuống giọng.
Từ phía Trung Quốc, các bài học chính cho Hà Nội là mọi chính quyền khôn ngoan, dù có giàu mạnh cách mấy, vẫn phải dựa vào sức dân tộc để đối phó với ngoại bang. Bắc kinh dù có đủ loại tàu chiến chìm nổi, dù rất sợ dân biểu tình tại thủ đô vì bất kỳ lý do gì, vẫn phải để các cuộc biểu tình chống Nhật diễn ra để có hình ảnh vận động cả nước và có lý cớ áp lực chính phủ Nhật. Thông điệp tóm tắt: “Người dân chúng tôi phẫn uất đến mức này đây. Nếu không thả các ngư dân thì khó mà tránh những chuyện đáng tiếc.”
Điều bất hạnh cho đất nước ta là: lãnh đạo CSVN sao chép nguyên vẹn rất nhiều bài học từ Trung Quốc đem về áp dụng, suốt từ chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất 60 năm trước kéo dài đến các cách làm tin tặc phá hoại báo chí “lề trái” hiện nay. Duy chỉ có bài học làm sao đối phó với bá quyền Bắc Kinh là không nằm trong giáo án. Và toàn ban lãnh đạo Hà Nội hiện nay nhất định không học từ ai khác.
Tuesday, September 21, 2010
Trung Quốc lại kêu gọi Mỹ không can thiệp vào hồ sơ Biển Đông

Ba ngày trước khi khai mạc Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ-ASEAN, chính quyền Trung Quốc lên tiếng chống lại điều mà họ gọi là Mỹ « can thiệp vào chuyện không phải của mình ». Một lần nữa, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc khẳng định có chủ quyền trên các đảo và Biển Đông mà Bắc Kinh gọi là biển Nam Trung Hoa.
Trong cuộc họp báo hôm nay, 21/09/2010, tại Bắc Kinh, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc, Khương Du, tuyên bố là Trung Quốc « theo dõi sát bản thông cáo chung mà Hoa Kỳ và hiệp hội ASEAN » sẽ công bố trước cuộc họp dự kiến vào thứ năm 24/09/2010.
Bà Khương Du nói thêm là Trung Quốc « kiên quyết chống lại hành động của những nước không liên hệ can thiệp vào cuộc tranh chấp » lãnh thổ đối đầu « giữa Trung Quốc và các quốc gia trong vùng ».
Bà khẳng định hai việc : Thứ nhất, « hiện thời, biển Nam Trung Hoa ổn định và Trung Quốc củng cố và nới rộng quan hệ với các nước Đông Nam Á ». Thứ hai, Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi trên vùng biển đảo này ».
Cuối cùng, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc nhấn mạnh là Bắc Kinh từ chối « quốc tế hóa » hồ sơ Biển Đông, viện cớ giải pháp thích hợp nhất là đàm phán song phương với từng nước trong ASEAN.
Theo AFP, tổng thống Mỹ Obama và lãnh đạo các nước ASEAN sẽ gặp nhau vào ngày thứ năm tới tại NewYork, bên lề Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, trong bối cảnh Washington tìm hậu thuẫn để tăng cường vai trò của mình trong khu vực trước ảnh hưởng đang lên của Trung Quốc.
Tình hình tại biển Hoa Đông giữa Trung Quốc và Nhật Bản cũng đột nhiên căng thẳng lên, từ khi một tàu đánh cá Trung Quốc đụng vào tàu tuần tra của Nhật Bản, ngày 07/09/2010. Viên thuyền trưởng Trung Quốc bị tư pháp Nhật tiếp tục giam giữ để điều tra. Để trả đũa, Bắc Kinh tuyên bố đình chỉ mọi cuộc gặp cấp cao với Tokyo.
Monday, September 20, 2010
Việt Cộng trả nợ máu
Sunday, September 19, 2010
Nín thở chờ giải quyết hòa bình tranh chấp biển Hoa Đông
Không chỉ riêng Trung Quốc, Nhật Bản mà các nước trong khu vực Đông Á đều mong muốn môi trường hòa bình ổn định để phát triển. Vì vậy đối thoại hòa bình giải quyết tranh chấp Trung - Nhật tại biển Hoa Đông là điều các quốc gia trong khu vực mong đợi.
>> Đại sứ bị triệu lần 4, Nhật không nhân nhượng Trung Quốc
>> Trung Quốc triệu đại sứ Nhật lần 5, Mỹ vào cuộc
Căng thẳng
Cuộc tranh cãi chủ quyền xung quanh quần đảo Điếu Ngư - Senkaku gần đây ngày càng trở nên căng thẳng giữa hai nước Trung Quốc và Nhật Bản. Trung Quốc luôn khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Điếu Ngư (Senkaku) và các đảo nhỏ lân cận. Nhưng ngày 5/9 lãnh đạo Đảng Dân chủ đương nhiệm của Nhật Bản (DPJ) Ichiro Ozawa đã khẳng định rằng các đảo Điếu Ngư "trong lịch sử chưa bao giờ được công nhận là lãnh thổ Trung Quốc".
Sau đó, tranh chấp chủ quyền quần đảo Điếu Ngư - Senkaku lại được hâm nóng hơn khi xảy ra đụng độ giữa tàu đánh cá Trung Quốc với tàu tuần tra Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản (JCG) vào ngày 7/9. Điều này khiến căng thẳng tranh chấp chủ quyền tại quần đảo Điếu Ngư - Senkaku bước vào giai đoạn mới, đó là cuộc va chạm thực sự chứ không dừng ở lời tuyên bố của Trung Quốc và Nhật Bản nữa.
Phản ứng của chính phủ hai nước Trung Quốc và Nhật Bản đối với đụng độ tàu cá Trung Quốc và tàu tuần tra của Nhật Bản tại quần đảo Điếu Ngư - Senkaku đều rất quyết liệt: Nhật Bản lập tức bắt giữ toàn bộ thủy thủ đoàn và viên thuyền trưởng tàu cá mang số hiệu 5179 thuộc tỉnh Phúc Kiến của Trung Quốc.
Người phát ngôn Cục Tuần tra biển của Nhật Bản, ông Daisuke Takahashi cho hay người thuyền trưởng đã bị thẩm vấn, có khả năng bị truy tố ở tòa án Nhật Bản.
Hai tàu tuần tra Nhật Bản "kèm" tàu cá Trung Quốc sau vụ va chạm ở vùng biển tranh chấp. Ảnh: AP |
Chiều 13/9 Nhật Bản phóng thích 14 thủy thủ của Trung Quốc sau khi đã tiến hành thẩm vấn, nhưng riêng viên thuyền trưởng thì vẫn tiếp tục bị giữ lại ít nhất đến ngày 19/9 để phục vụ điều tra.
Tính đến nay Trung Quốc đã 5 lần liên tục triệu tập Đại sứ Nhật Bản Uichiro Niwa đến để yêu cầu Tokyo trả tự do vô điều kiện cho thủ thủy đoàn, trả tự do cho thuyền trưởng, và thả tàu cá của Trung Quốc.
Trung Quốc còn gia tăng áp lực ngoại giao đối với Nhật Bản bằng việc đơn phương tuyên bố hoãn cuộc đàm phán với Nhật Bản về ký kết hiệp định cùng khai thác khí đốt ở vùng biển giáp ranh trên Biển Hoa Đông, dự kiến diễn ra vào trung tuần tháng 9/2010.
Dư luận Nhật Bản yêu cầu chính phủ Nhật Bản phải truy xét nghiêm khắc đối với thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Nhật Bản. Báo chí Nhật Bản coi đây không phải là vụ việc vi phạm luật pháp đơn thuần mà còn có nghi vấn tàu này núp danh tàu cá để hoạt động thu thập thông tin và nghiệp vụ. Theo phía Nhật Bản, vụ việc lần này thể hiện rõ tình trạng va chạm quyền lợi ngày càng căng thẳng giữa Trung Quốc đang trỗi dậy cả về kinh tế và quân sự với các nước xung quanh.
Hãng tin Tân Hoa Xã đăng tải kịp thời phản ứng của người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Khương Du, và công tác bảo hộ công dân của lãnh sự Trung Quốc tại Nhật Bản. Người dân Trung Quốc thể hiện thái độ bài Nhật bằng cách biểu tình tụ tập trước Đại sứ quán Nhật ở Bắc Kinh. Các nhóm dân sự của Trung Quốc còn hẹn nhau bơi thuyền ra quần đảo Điếu Ngư để phản đối Nhật Bản.
Và kiềm chế
Vụ đụng độ tàu cá Trung Quốc và tàu tuần tra Nhật Bản trên biển Hoa Đông đẩy quan hệ chính trị Trung - Nhật vào thời kỳ căng thẳng. Nhưng căng thẳng này khó dẫn đến đổ vỡ quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản.
Quan hệ Trung - Nhật sở dĩ căng thẳng như vậy là vì cả hai nước đều cho là mình bị xúc phạm. Ông Ralph Cossa, Chủ tịch Viện nghiên cứu chính sách Diễn đàn Thái Bình Dương có trụ sở ở Hawaii nói thêm: "Phía Trung Quốc không hài lòng vì họ nhận chủ quyền vùng hải phận đó. Vì thế, theo lập trường của Trung Quốc, đây là một hành vi phạm pháp. Nhưng phía Nhật Bản lâu nay vẫn chiếm đóng và quản lý nhóm đảo mà họ gọi là Senkaku này. Vì thế, khi xảy ra một vụ đụng chạm, họ phải mở cuộc điều tra".
Dù trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp này, Nhật Bản có công bố Sách Trắng Quốc Phòng chỉ trích sự tăng cường lực lượng quân sự của Trung Quốc ở sát các vùng biển của Nhật Bản. Điều này cho thấy sức mạnh quân sự của Trung Quốc đã khiến Nhật Bản lo ngại và lên tiếng.
Chính phủ Nhật Bản trước đó luôn khẳng định "không tồn tại cái gọi là tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Senkaku" và muốn xử lý vụ đụng độ trên thông qua pháp luật dân sự. Tuy nhiên, ngày 14/9, Bộ trưởng cải cách hành chính Renho Murata đã thừa nhận có tranh chấp lãnh thổ tại quần đảo Điếu Ngư - Senkaku trên biển Hoa Đông với Trung Quốc.
Việc Trung Quốc đơn phương tuyên bố hoãn cuộc đàm phán với Nhật Bản về ký kết hiệp định cùng khai thác khí đốt ở vùng biển giáp ranh trên biển Hoa Đông cho thấy thái độ cứng rắn của Trung Quốc đối với nước láng giềng Nhật Bản trong những vụ tranh chấp lãnh thổ, cả trong những lời tuyên bố lẫn trong thái độ.
Ông Robert Dujarric, Giám đốc Viện nghiên cứu các vấn đề châu Á đương đại của trường Đại học Temple ở Tokyo cho rằng là viên thuyền trưởng của chiếc tàu đánh cá Trung Quốc cuối cùng cũng sẽ được gửi trả về nước, cho dù ông ta có bị đưa ra toà và kết án, bởi vì Nhật Bản không có ý muốn gây thêm căng thẳng với Trung Quốc.
Tối ngày 12/9 Bắc Kinh đã ngăn cản một cuộc biểu tình để khẳng định chủ quyền của Trung Quốc tại quần đảo Điếu Ngư. Khi Nhật Bản phóng thích đoàn thủy thủ 14 người Trung Quốc vào ngày 13/9, có nhiều dấu hiệu cho thấy sự cố trên biển này đã qua khỏi giai đoạn căng thẳng nhất.
Tuy nhiên, chưa thể nói là quan hệ Nhật - Trung đã dịu lại. Mới đây Trung Quốc gia tăng sức ép với Nhật Bản thông qua việc hủy chuyến thăm của ông Lý Kiến Quốc, Phó Chủ tịch Ban Thường vụ của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội Trung Quốc) tới Tokyo.
Từ ngày 7/9 đến nay hai nước lớn trong khu vực Đông Á là Trung Quốc và Nhật Bản vẫn luôn kiềm chế trong việc xử lý vụ đụng độ tàu cá nói trên, hai nước đều không muốn ảnh hưởng đến lợi ích phát triển kinh tế quốc gia.
Đối thoại hòa bình giải quyết tranh chấp
Trung Quốc luôn đề cao đường lối phát triển hòa bình của mình trong đường lối ngoại giao. Qua sự kiện đụng độ tàu cá Trung Quốc và tàu tuần tra Nhật Bản lần này, Trung Quốc phần nào nhận thức được rằng các nước khác, nhất là các nước láng giềng có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc đang theo dõi sát sao thái độ của nước lớn này qua sự kiện Điếu Ngư - Senkaku.
Trung Quốc cũng hiểu rõ, việc gia tăng căng thẳng sẽ tạo ra những bất ổn tiềm tàng về an ninh, phát triển đối với khu vực Đông Á nói riêng và châu Á Thái Bình Dương nói chung. Từ năm 2003 đến nay đã được 7 năm Trung Quốc thực hiện đường lối phát triển hòa bình, do vậy khi xử lý vấn đề nhạy cảm với các nước láng giềng Trung Quốc vẫn đặt trong chiến lược phát triển chung của quốc gia.
Về phía Nhật Bản, ngày 14/9 Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan đã tái đắc cử chức Chủ tịch Đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ), đánh bại đối thủ Ichiro Ozawa, một trong số những nhân vật quyền lực nhất trong đảng cầm quyền nước này. Với thắng lợi này, ông Kan sẽ vẫn là thủ tướng của Nhật Bản.
Thủ tướng Naoto Kan đã khẳng định việc đưa nền kinh tế nước này thoát khỏi tình trạng thiểu phát kéo dài và tạo thêm việc làm mới là những ưu tiên hàng đầu của chính phủ. Chính phủ Nhật Bản sẽ tăng cường thực hiện chiến lược tăng trưởng kinh tế mới mà nội các đã thông qua hồi tháng 6/2010, đồng thời khẳng định chính phủ "có thể vượt qua tình trạng bế tắc hiện nay nếu giành được sự tin tưởng của người dân".
Ổn định chính trị của Nhật Bản sẽ mở ra hướng mới cho đường lối đối ngoại của Nhật Bản.
Vụ đụng độ giữa tàu đánh cá Trung Quốc và tàu tuần tra Nhật Bản ngày 7/9 cũng không quá lớn để đẩy Trung Quốc và Nhật Bản đối đầu đến mức đổ vỡ quan hệ làm ăn kinh tế. Riêng Nhật Bản càng cần thu xếp ổn thoả vụ này để tập trung ưu tiên thoát khỏi tình trạng suy thoái kinh tế ở trong nước.
Trung Quốc có nhiều mối quan hệ rắc rối về biển đảo với nhiều nước trong khu vực lại càng không muốn các vụ việc ảnh hưởng tới dư luận quốc tế rằng Trung Quốc đang dựa vào sức mạnh để lấn lướt các quốc gia có tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc.
Hiện nay không chỉ riêng Trung Quốc, Nhật Bản mà các nước trong khu vực Đông Á đều mong muốn môi trường hòa bình ổn định để phát triển. Vì vậy đối thoại hòa bình giải quyết tranh chấp Trung - Nhật tại biển Hoa Đông là điều các quốc gia trong khu vực mong đợi.
Đối thoại hòa bình là cách giải quyết tranh chấp hợp lý nhất đem lại lợi ích cho các bên khi xử lý tranh chấp tại khu vực Đông Á nói riêng, và khu vực Châu Á Thái Bình Dương nói chung. Phương thức đối thoại hòa bình nên được áp dụng chung để giải quyết đối với tất cả các tranh chấp trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.
Saturday, September 18, 2010
Bản chất quốc hội CSVN hiện nay
tamthucviet.com
September 16, 2010
Nghe
Tải xuống để lưu giữ
Trong phiên họp Quốc Hội CHXHCNVN chiều ngày 25/8, người dân đã chứng kiến phương cách làm việc của các đại biểu Quốc Hội cho thấy họ chủ yếu là công cụ của đảng chứ không là đại diện của dân. Theo tin báo chí trong nước, Ủy ban Thường vụ đảng cộng sản Việt Nam tại phiên họp đã đưa ra vấn đề khẩn cấp sửa đổi một số điều của Hiến pháp 1992 ngay trong kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XII, diễn ra vào tháng 10 tới đây hoặc tại một kỳ họp bất thường trong năm 2010. Tại kỳ họp thứ 8 này, Quốc hội sẽ nghe Báo cáo tổng kết việc thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường. Theo Chủ nhiệm văn phòng QH Trần Đình Đàn, một số điều của Hiến pháp 1992 có thể phải sửa ngay tại kỳ họp này, bởi vì tháng 1/2011 đã phải công bố ngày bầu cử HĐND diễn ra vào tháng 5/2011. Chủ nhiệm UB Quốc phòng An ninh Lê Quang Bình trong khi đó đề nghị có báo cáo đại biểu Quốc hội về tình hình biển Đông, tình hình an ninh trước Đại hội Đảng. Chủ nhiệm UB Các vấn đề xã hội, Trương Thị Mai cho rằng, có thể báo cáo với Quốc hội về tình hình biển Đông, nhưng không nên thảo luận về vấn đề này. Chủ nhiệm UB Tư pháp, Lê Thị Thu Ba lại đề nghị, không báo cáo các vấn đề trên trước Quốc hội, chỉ nên báo cáo về tình hình an ninh quốc phòng trong một báo cáo chung.
Qua nội dung các tin trên người dân thấy được điều gì?
Không cần nghĩ lâu một người bình thường có thể thấy ngay rằng lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã coi thường người dân, hành xử độc tài trong khi miệng luôn nói: Dân là chủ. Ủy ban Thường vụ cộng sản Việt Nam quyết định thay đổi Hiến Pháp, để có thể thi hành việc bỏ tổ chức HĐND huyện, quận, phường mà đảng đã thử làm ở một số thí điểm. Các đại biểu theo nguyên tắc là đại diện dân, thay vì nói lên ý kiến của người dân, thì đã lại cư xử theo hướng bảo vệ quan điểm đảng.
Phó chủ tịch QH Uông Chu Lưu cho biết, Ủy ban Pháp luật của QH đã chuẩn bị sẵn quy trình cho việc sửa đổi Hiến pháp, trong đó dự kiến đề nghị trình nội dung này ra đầu kỳ họp thứ 8. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng nói có thể xem xét, quyết định sửa đổi Hiến pháp ngay tại kỳ họp thứ 8 hoặc phải chuẩn bị các điều kiện để xem xét sửa vào một kỳ họp khác, có thể là tháng 12/2010. Hai thủ lãnh này nói như thế chỉ để cho các đại biểu yên lòng là mọi sự đã có sửa soạn cả rồi.
Theo Trưởng ban Dân nguyện Trần Thế Vượng, tuy nhiên việc sửa đổi Hiến pháp tại kỳ họp tới của Quốc hội là “không chấp nhận được”, sửa đổi Hiến pháp là điều hệ trọng không thể làm gấp gáp khi chưa có sự chuẩn bị kỹ càng. Bởi lẽ theo quy định, phải có một UB sửa đổi Hiến pháp, lấy ý kiến nhân dân, trình Trung ương và Bộ Chính trị. Nói như thế nghe có vẻ ngon lành, nhưng thực sự ông Vượng cũng chỉ nêu lên một vấn đề nguyên tắc cho phải đạo và thuận tai, chứ không phải là cưỡng lại ý kiến chỉ đạo của Đảng, vì ý kiến nhân dân cũng chỉ là để trình Trung Ương và Bộ Chính trị.
Sang vấn đề tình hình biển Đông, qua việc Chủ nhiệm UB Các vấn đề xã hội, Trương Thị Mai cho rằng có thể báo cáo với Quốc hội nhưng không nên thảo luận về vấn đề tình hình biển Đông, còn Chủ nhiệm UB Tư pháp, Lê Thị Thu Ba thì đề nghị không báo cáo các vấn đề trên trước Quốc hội, mà chỉ nên báo cáo về tình hình an ninh quốc phòng trong một báo cáo chung cho thấy rằng các đại biểu này hành xử như những đảng viên thuần thành biết tránh những vấn đề mà lãnh đạo coi là nhậy cảm.
Những lời qua tiếng lại giữa các đại biểu không bao giờ có trong những quốc hội trước, thời toàn trị, đã cho các chuyên gia và truyền thông ngoại quốc nhận xét rằng đã có tiến bộ ở VN, tuy rằng họ chưa bỏ hẳn cái ý kiến quốc hội này vẫn là một cái dấu để đóng vào các quyết định của đảng. Nhìn sâu xa hơn và đối chiếu với những thay đổi trong cách tuyên truyền cũng như sửa đổi một số cơ cấu hành chính của Hà nội, thì phải nói rằng đảng CSVN đang biến thái thêm một chút, là chuyển dần nhân sự quyền hành sang quốc hội, để giảm dần vai trò của đảng, cho hợp với cách nhìn dân chủ Tây phương của những kẻ bàng quan.
Tuệ Vân
Ngày 16 tháng 9 năm 2010
Friday, September 17, 2010
Trần Gia Phụng: DÂN CHỦ, CHÌA KHÓA TƯƠNG LAI VIỆT NAM
Tuyên ngôn thiên niên kỷ (United Nations Millennium Declaration) được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc khoá 55 thông qua ngày 8-9-2000, gồm 8 điểm: Giá trị và nguyên tắc. Hòa bình, an ninh và giải trừ quân bị. Phát triển [đời sống] và thanh toán nạn nghèo đói. Bảo vệ môi trường chung. Nhân quyền, dân chủ và điều hành tốt đất nước. Bảo vệ trẻ em và người khuyết tật. Đáp ứng nhu cầu đặc biệt của Phi Châu. Tăng cường Liên Hiệp Quốc.
Trong tám điểm trên, nói chung, điểm 1 và điểm 5 nhấn mạnh đến sự tôn trọng những giá trị và quyền lợi căn bản của con người như bình đẳng, tự do, dân chủ. Điểm 5 kêu gọi các nước trên thế giới phát triển dân chủ, thực thi luật pháp, tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản của con người.
Bên cạnh đó, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc cũng đã thông qua bản Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (Millennium Developpement Goals), theo đó các nước thành viên Liên Hiệp Quốc sẽ vận động thực hiện cho đến năm 2015 tám mục tiêu sau đây:
Triệt để loại trừ tình trạng nghèo đói và thiếu ăn. Phổ cập giáo dục tiểu học cho tất cả trẻ em. Bình đẳng giới tính trong mọi lãnh vực. Giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em. Cải thiện sức khỏe các bà mẹ, chú trọng chăm sóc phụ nữ sinh sản. Phòng chống các chứng bệnh AIDS (SIDA), sốt rét và các bệnh dịch. Bảo vệ môi trường, nước sạch, giải quyết tệ nạn nhà ổ chuột. Tăng cường quan hệ bình đẳng toàn cầu về thương mại và tài chính, không phân biệt đối xử giữa các nước giàu nghèo, giúp đỡ các nước đang phát triển.
Nhà nước cộng sản Việt Nam (CSVN) đã ký vào bản Tuyên ngôn thiên niên kỷ và bản Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, nghĩa là chỉ còn 5 năm nữa (2015), nhà nước CSVN cam kết thực hiện và hoàn thành những mục tiêu trên đây.
Tuy nhiên, nhìn vào thực tế tình hình Việt Nam ngày nay, không một ai, kể cả những đảng viên cộng sản, tin rằng nhà nước CSVN có thể thực hiện được các mục tiêu căn bản do Liên Hiệp Quốc đề ra. Hiện nay, nhà nước CSVN ra sức đàn áp tôn giáo; những vụ Thái Hà, Cồn Dầu, Phật giáo Thống nhất còn đó. Về chính trị, nhà nước CSVN chủ trương độc tài, độc đảng toàn trị, giam cầm những nhà tranh đấu dân chủ… Luật pháp có tính cách một chiều, chỉ áp dụng cho những ai không nằm trong hệ thống của nhà cầm quyền, trong khi cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên cao cấp thuộc Trung ương đảng thì được miễn giảm. Dân oan “khiếu kiện” không giải quyết mà còn bị đánh đập, ngược đãi. Về văn hóa, nhà nước CSVN vẫn tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lê, trong khi chủ nghĩa Mác Lê đã bị xóa bỏ tại Nga và các nước Đông Âu đã 20 năm nay. Nền giáo dục Việt Nam hiện nay suy đồi hơn bao giờ cả. Gia nhập dòng sống kinh tế thế giới mà Việt Nam vẫn đeo cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” sau lưng kinh tế thị trường. Tham ô nhũng lạm tràn lan, từ trên xuống dưới.
Xét cho kỹ, tất cả những tệ nạn trên đây chỉ bắt nguồn từ một nguyên nhân duy nhất. Đó là vì nạn độc tài toàn trị của đảng CSVN, hoàn toàn thiếu vắng tự do dân chủ trong đời sống của dân chúng Việt Nam ngày nay. Không có tự do tôn giáo, thì làm sao tinh thần con người có thể ổn định để điều hướng sinh hoạt hằng ngày. Không có tự do dân chủ, làm sao bầu cử đúng người, đúng chỗ, làm sao có nhân tài ra giúp nước. Thiếu tự do dân chủ, dẹp bỏ “think tank” thì con người dần dần thui chột, đi vào cõi u tối chứ không tiến lên miền tươi sáng. Thiếu tự do dân chủ, nền giáo dục CSVN chỉ đào tạo những con người hồng hơn chuyên, nhà tù mở ra nhiều hơn trường học. Thiếu tự do dân chủ nên thay vì phát triển thương mại thì chỉ bán đất, bán biển, bán luôn rừng núi. Thiếu tự do dân chủ, nước Việt Nam hiện nay thiếu tất cả. Nếu có thừa, thì thừa độc tài, thừa tham nhũng, thừa dĩ điếm, thừa ma-cô, thừa ma túy…
Để có thể tiến bước theo những mục tiêu do Liên Hiệp Quốc đề ra, Việt Nam chỉ còn con đường duy nhất để tiến lên là phải dân chủ hóa đất nước. Nhà cầm quyền CSVN không chấp nhận dân chủ hóa, tiếp tục ngoan cố, đi ngược với trào lưu tiến hóa của toàn thế giới, thì dân chúng Việt Nam phải đứng lên đòi hỏi dân chủ hóa. Dân chủ là chìa khóa tương lai của dân tộc Việt Nam.
Hiện nay, trong nước đang có những người đã hy sinh tất cả, kể cả hy sinh thân mạng để tranh đấu đòi hỏi tự do dân chủ. Những vị nầy không tranh đấu cho riêng cá nhân mà tranh đấu cho toàn dân Việt Nam, cho tương lai của cả dân tộc.
Xin đồng bào hải ngoại đã được hưởng tự do dân chủ ở các nước tân tiến, hãy hết lòng ủng hộ Phong Trào Dân Chủ Quốc Nội. Xin kính mời quý vị góp một bàn tay, góp một lời chào để khuyến khích những người đang tranh đấu vì tự do dân chủ ở trong nước. Xin mời quý vị đến tham dự DẠ TIỆC & DẠVŨ GÂY QŨY yểm trợ Phong trào Dân Chủ Quốc nội sẽ được tổ chức vào lúc 6 giờ chiều THỨ BẢY 18-9-2010 tại ROYAL DRAGON CHINESE RESTAURANT, số 888 Dundas Street East (nhà hàng Sun Sun cũ, bên trong phố Tàu Mississauga). Đặc biệt trong dạ tiệc nầy, ông Đỗ Thành Công, phát ngôn nhân đảng Dân Chủ Nhân Dân, đến từ Hoa Kỳ, sẽ thuyết trình về đề tài: “Tình hình vận động dân chủ cho Việt Nam”.
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 12-9-2010)
Thursday, September 16, 2010
Xung quanh phim “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long”: hai bài của Đoan Trang
Bài 1: Kiến trúc nguy nga, trang phục lộng lẫy kiểu… Tàu
- Đoan Trang
Sau khi Pháp luật TP.HCM đăng bài phản ánh về việc phim “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long” mang đậm yếu tố Trung Hoa, độc giả Trần Hùng Phương đã có phản hồi (trích): “… rất cảm ơn các nhà sử học đã nghiên cứu rất nhiều về lịch sử Việt Nam. Nhưng các ông có thể nào ngồi lại cùng nhau cho chúng tôi biết rằng lịch sử Việt Nam là như thế nào không? Các ông ngồi đó mà bàn cãi với nhau việc này, việc nọ thì các nhà làm phim sao mà dám làm nhiều về phim cổ trang?... ”.
Nhiều khán giả của phim cũng băn khoăn, vậy nếu phim mang đậm chất Việt, thì chất Việt phải như thế nào? Đi xa hơn nữa, trường hợp của “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long” đặt ra vấn đề: Cần làm phim lịch sử ở Việt Nam ra sao để không cho ra những sản phẩm vừa tốn kém vừa bị phản ứng kịch liệt như thế này.
“Đường tới thành Thăng Long” quá nguy nga
Ấn tượng nổi bật từ những hình ảnh của phim “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long” (mà những đoạn hấp dẫn nhất hoặc đặc trưng nhất đã được đưa vào trailer quảng cáo) là sự hoành tráng của bối cảnh và sự ấm áp, rực rỡ của trang phục Việt giai đoạn Đinh - Tiền Lê – Lý (từ năm 980 khi Lê Hoàn lên ngôi đến năm 1010 Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long).
Nói về bối cảnh, cung điện trong phim có tòa tới 2-3 tầng, lợp ngói sắc xanh xám. Thế mà, theo mô tả trong những tư liệu sớm nhất của người phương Tây về Thăng Long (thế kỷ 17), hầu hết nhà ở kinh thành thời đó là nhà tranh nứa lá, mái rạ. Giáo sĩ Baldinotti viết năm 1686: “Vì nhà bằng tre nứa nên Thăng Long hay bị hỏa hoạn, có lần thiêu rụi tới năm, sáu nghìn nóc nhà, song nhờ Kẻ Chợ vốn có nhiều hồ ao nên dập tắt lửa dễ dàng và chỉ bốn, năm hôm sau, nhà cửa lại dựng lên san sát như cũ”. Cho tới thế kỷ 19, nhà cửa trên các phố ở Hà Nội vẫn chủ yếu bằng tre nứa lá (xem ảnh) và chỉ có một tầng, không ngói.
Không có sử liệu về kiến trúc thời Lê Hoàn - Lý Công Uẩn, song các nhà làm phim hoàn toàn có thể suy luận rằng vào thế kỷ 10-11, kỹ thuật xây dựng của nước ta rất khó tạo ra được những tòa nhà gạch 2-3 tầng lợp ngói. Ngay cả đình, chùa bằng gỗ cũng chỉ có một tầng trên mặt đất và một gác chuông trên “tầng” hai. Về mái ngói, mãi tới cuối đời Lê, đầu đời Nguyễn, nước ta mới có ngói lợp tráng men (và kỹ thuật tráng men này đã là một bước tiến rất lớn của nghề gốm). Theo ông Phạm Hoàng Quân, chuyên gia cổ sử Trung Quốc và Việt Nam, do tráng men óng ánh nên nó được gọi là ngói lưu ly. Một số công trình ở kinh thành Huế thời Nguyễn đã được lợp thứ ngói rất xa xỉ này. Có hai loại ngói chính là thanh lưu ly (màu xanh) và hoàng lưu ly (màu vàng).
Vậy phải “phục dựng” khung cảnh thế kỷ 10-11 ra sao? Họa sĩ Tú Ân, một người từng bỏ nhiều năm tìm hiểu kiến trúc, trang phục cổ Việt Nam để minh họa truyện tranh, suy đoán rằng nhà cửa của dân ngày ấy là nhà tranh vách đất, mái rạ, còn “đình, chùa và cung điện có thể xây bằng gỗ, rừng Việt Nam ngày ấy chắc còn nhiều gỗ quý”, hoặc gạch (kỹ thuật làm gạch của người Trung Quốc đã được lưu truyền sang Việt Nam từ thời Bắc thuộc). Điều chắc chắn là ở vào thời Đinh - Tiền Lê - Lý, cung điện, nhà cửa của Việt Nam chưa thể lợp ngói xanh, cao tới 2-3 tầng như vậy.
Chưa kể, địa thế Hoa Lư thời ấy nhỏ hẹp với đồi núi, sông ngòi, Thăng Long cũng vẫn còn là đất trũng, nhiều ao tù, không thể xây dựng trên đó những cung điện nguy nga, hoành tráng như bộ phim đã mô tả. Ngay cả ở châu Âu, nơi vốn được xem là tiến nhanh hơn châu Á về cấp độ văn minh, các công trình lớn cũng phải trải qua vài trăm năm mới hình thành.
… và quá lộng lẫy
Về phục trang, điều gây ấn tượng là sự ấm áp, dày dặn và màu sắc rực rỡ của trang phục trong phim “Lý Công Uẩn”. Các chuyên gia lịch sử thời trang Việt, nếu được hỏi ý kiến, đều sẽ cho biết rằng ngành may mặc của Việt Nam đã phải trải qua “một chặng đường tiến hóa” dài đến mức nào, từ chất liệu tới kỹ thuật. Buổi đầu phát triển, chất liệu của chúng ta đã chỉ là vải thô, dệt rất thưa (do kỹ thuật dệt còn kém), với những màu nhuộm đơn giản: đen, nâu, chàm, tím…, sử dụng những nguyên liệu tạo màu dễ kiếm như vỏ cây, rễ cây, hoa lá…
Đập vào mắt khán giả là những chiếc mũ đội đầu có “mái che” rất giống mũ của… Tần Thủy Hoàng. Các nhà làm phim lập luận rằng vua nước ta rập khuôn trang phục của hoàng đế Trung Hoa. Tuy nhiên, theo ông Phạm Hoàng Quân, rất khó có khả năng Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ “bệ nguyên” mũ của vua Trung Quốc: “Triều đình Trung Hoa không khi nào chịu cho vua một nước “đàn em” mặc vương phục và đội mũ y hệt vua của họ, vì với họ, mũ mão của hoàng đế là để thể hiện uy quyền của “thiên tử”. Vua nước ta có muốn sử dụng theo cũng phải chế lại”.
Bà Đoàn Thị Tình, họa sĩ thiết kế chính của phim, cho biết bà đã tham khảo nhiều sử liệu, trong đó có Lịch triều Hiến chương Loại chí (Phan Huy Chú) để thiết kế phục trang. Nhưng nếu theo đúng sách này, thì ở mục “Quy chế về mũ áo của đế vương” (thuộc phần Lễ nghi chí) có chép:
“Lê Đại Hành lên ngôi, mặc áo long cổn, về sau mặc áo phần nhiều dùng vóc đỏ, mũ sức trân châu.
Lý Thái Tông mới chế thứ mũ gọi là ‘bát giác tiêu dao’ bằng vàng (tên mũ, lối mũ ấy nay không khảo cứu được).
Lời xét của Phan Huy Chú:
Từ đời Lý, đời Trần trở về trước, mũ áo của vua thế nào, không thể khảo cứu được. Xem trong sử có hai thứ kể trên, tạm chép ra đây để biết đại khái”. (bản dịch của Viện Sử học)
Điều đó có nghĩa là mũ của vua Lê, vua Lý Thái Tổ thế nào, Phan Huy Chú cũng không biết được, nhưng khả năng “bê nguyên xi” chiếc mũ “Tần Thủy Hoàng” của Trung Quốc là rất thấp.
Cũng sách của Phan Huy Chú chép, phần về phẩm phục của các quan: “Lý Thánh Tông năm Chương Thánh thứ nhất (1059), vua ngự điện Thủy Tinh, các quan đến chầu, bắt phải đội mũ đi hia mới cho vào chầu. Nghi lễ vào chầu đủ cả mũ hia bắt đầu từ đó”. Chính vị sử gia đã có lời xét về phẩm phục các quan trước đó rằng như thế “đủ thấy là sơ sài”.
Một chi tiết nữa là những họa tiết thêu trên áo vua quan, hoàng hậu. Nếu thừa nhận ông tổ nghề thêu là Lê Công Hành, đi sứ sang Trung Quốc vào đời Lê Thái Tông (trị vì từ 1433-1442) thì ta phải thấy rằng vào thời Tiền Lê - Lý Công Uẩn, áo xống của người triều đình chưa thể thêu thùa lộng lẫy như thế.
Các họa sĩ thiết kế và cố vấn mỹ thuật của phim đều chưa bình luận về màu sắc vải vóc cũng như chiếc mũ của vua trong phim “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long”.
|
Bài 2: Phim lịch sử Việt Nam: Làm sai là di hại cho khán giả
- Đoan Trang
Cái khó lớn của việc làm phim lịch sử Việt Nam, mà ai cũng thừa nhận, là sự thiếu thốn về tư liệu. Do đó, người làm phim, đặc biệt họa sĩ thiết kế, bắt buộc phải tìm tòi các nguồn sử liệu, kết hợp với sự phân tích logic, để đưa ra những giải pháp chấp nhận được. Ở đây, không chỉ cần đến kiến thức về lịch sử các triều đại, mà đòi hỏi một sự hiểu biết tổng hợp cả về kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, tâm lý dân tộc.
Một nhà kinh tế ở Hà Nội (giấu tên vì không muốn “can thiệp” vào lĩnh vực phim ảnh ngoài chuyên môn) nhận định: “Thời xưa, người Việt chắc chắn thấp bé vì dinh dưỡng thấp. Người Trung Quốc, nhất là khu vực phía bắc, có xu hướng du mục nên chăn nuôi gia súc và ăn thịt nhiều hơn ta, nên đủ dinh dưỡng hơn. Ta cũng có nuôi gia súc nhưng nguồn nông sản cung cấp không đủ. Ngựa ta cũng bé nhỏ chứ không to lớn như ngựa xích thố thế. Thật ra ở một nền kinh tế quy mô nhỏ, đất nước ít thảo nguyên như Việt Nam, thường người làm thay ngựa, nên ít có truyền thống đi xe ngựa mà là người khiêng hoặc kéo, còn đi xa thì dùng đường thủy”.
Như vậy đủ thấy, làm phim lịch sử đòi hỏi phải nghiên cứu đa ngành để có kiến thức rất tổng hợp, và suy luận logic.
Cần đẹp hay đúng?
Những đặc điểm của kinh tế - văn hóa Việt Nam, phía các chuyên gia làm phim của Trung Quốc khó mà biết được. Trong một bài trả lời phỏng vấn với tạp chí Hồn Việt, tháng 5 vừa qua, họa sĩ Phan Cẩm Thượng – cố vấn văn hóa của phim “Lý Công Uẩn” – nói rằng: “Các nhà làm phim Trung Quốc quan niệm đã làm phim thì trang phục, bối cảnh, ánh sáng… đều phải đẹp, câu chuyện có tình duyên và diễn xuất diễn viên tốt. (…) Rồi rất nhiều bộ y phục khác cũng vậy, người Trung Quốc muốn dùng màu sắc rực rỡ, nhiều hoa văn, các chất liệu tơ lụa, trong khi bên ta phần nhiều chỉ dùng màu sắc trầm, ít trang trí, và các loại vải bông, gai. Đây là tập tục văn hóa nên hai bên không có cách gì hiểu nhau…”.
Một số nhà quay phim và họa sĩ Việt Nam có tính duy mỹ cũng cho rằng phim lịch sử, cổ trang “cốt đẹp chứ không cốt đúng”, bởi “nếu thiết kế bối cảnh y như thật thì nhếch nhác lắm vì Việt Nam ngày xưa rất nghèo”. Về điểm này, chuyên gia cổ sử Phạm Hoàng Quân nhận định: “Tôi nghĩ làm phim lịch sử thì nên nghiên cứu cẩn thận và căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội của thời đại đó để thể hiện cho phù hợp, ít nhất không gây sốc, gây choáng cho người xem vì độ hoành tráng và… xa lạ của cảnh quan”. Còn họa sĩ Tú Ân thẳng thắn: “Tôi không biết làm phim cổ trang thì cần đẹp với sang tới mức nào, tôi chỉ biết phim kể về Việt Nam, câu chuyện Việt Nam, con người Việt Nam, thì phải ra chất Việt Nam”.
“Chất Việt Nam” là gì? Từ lâu, các chuyên gia nghiên cứu văn hóa như Phan Ngọc, Hữu Ngọc, Trần Ngọc Thêm… đã nói về cái đẹp dung dị, đơn sơ, xinh xắn của những công trình kiến trúc ở Việt Nam, so với sự đồ sộ, quy mô, hoành tráng của Trung Quốc như muốn tỏa “tinh thần bá quyền” ra muôn phương. Làm phim cổ trang như “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long”, phim càng thể hiện hoành tráng thì khán giả càng thấy xa lạ. Ông Phạm Hoàng Quân gợi ý: “Nếu không có sử liệu chính xác về kiến trúc cung điện thời ấy, đạo diễn và họa sĩ có thể cho thiết kế nhà cửa thấp, một tầng, lợp ngói thường thôi thay vì lợp ngói lưu ly. Trang phục thì nhuộm màu đơn giản, hết sức tránh rực rỡ nhiều màu sắc”.
Trong quá khứ, chúng ta cũng từng có những bộ phim cổ trang thể hiện được khá “sát thực tế” cái chất nhỏ bé, đơn sơ của văn hóa Việt Nam, ví dụ Học trò thủy thần (1990) của đạo diễn Khánh Dư, một bộ phim đen trắng kể về bậc “vạn thế sư biểu” Chu Văn An và người học trò vốn là con trai vua Thủy tề.
Cẩu thả, vô trách nhiệm, hay bị ép?
Cũng họa sĩ Phan Cẩm Thượng phản ánh: “Ngay từ đầu, tôi phản đối những trang phục đó nhưng tôi chỉ là cố vấn. Người mình thời đó cởi trần đóng khố và chèo thuyền quỳ với 20 tay chèo nhưng bây giờ bắt diễn viên cởi trần đóng khố thì không ai chịu làm thế, kể cả người dân tộc. Trang phục Việt Nam đơn sơ hơn trang phục Trung Quốc nên nếu mặc thế thì diễn viên chết rét…”. Ông còn bảo: “Các phim của họ thường là phim lịch sử cổ trang chứ không phải phim lịch sử hiện thực. Họ nói thẳng, những phim lịch sử Trung Quốc phải nâng lên rất nhiều so với những gì đã diễn ra trong lịch sử”.
Những gì mà các nhà làm phim Trung Quốc “ép” đối tác Việt Nam là có thể hiểu được, nếu chúng ta tìm trở lại chính sách văn hóa của đất nước này. Tháng 3-1987, Bộ Phát thanh - Truyền hình Trung Quốc triệu tập một hội nghị các đơn vị sản xuất truyền hình trên cả nước. Tại đây, Bộ đưa ra chính sách: tích cực, chủ động dồn lực sản xuất những bộ phim có mục đích truyền bá lịch sử, văn hóa, tư tưởng và thẩm mỹ của Trung Hoa tới mỗi người dân Trung Quốc và thế giới. Những phim này được Nhà nước hỗ trợ nhiều mặt, chẳng hạn ưu tiên chiếu ở các đài địa phương lớn vào giờ vàng, được hỗ trợ xuất khẩu (cho không hoặc bán giá rẻ) sang các quốc gia trong khu vực. Đồng thời với đó, giới làm phim tiến hành “Trung Hoa hóa” các sản phẩm văn hóa của nước ngoài. Bộ phim “Hà Nội – Hà Nội” chỉ được chiếu ở đài tỉnh Quảng Tây vào đêm khuya, với một generiqué toàn chữ Trung Quốc, khiến khán giả xem khó mà để ý rằng đó là sản phẩm hợp tác với Việt Nam.
Ngay cả việc các nhà làm phim Trung Quốc quan niệm đã làm phim cổ trang “trang phục, bối cảnh, ánh sáng… đều phải đẹp”, “nâng lên rất nhiều” so với lịch sử, cũng phản ánh một phần mục đích tuyên truyền văn hóa của họ. Ngoài ra, như chính ông Phan Cẩm Thượng nói, “với phim tư nhân thì họ xác định phim cần có thị trường và kỷ niệm chỉ là một dịp đưa phim ra thị trường. Các nhà làm phim quan niệm, phim mà không kinh doanh là không được. Phim này làm trên góc độ thị trường chứ không phải chỉ là phim kỷ niệm”.
Với các quan niệm, chính sách và mục đích như vậy, khi sản phẩm làm ra không mang chất Việt Nam thì không phải lỗi của các nhà làm phim Trung Quốc. Câu hỏi đặt ra là vì sao phía Việt Nam chấp nhận “bị ép” như vậy, đối với một bộ phim lớn, được đầu tư tới 108 tỷ đồng và để phát sóng trên đài quốc gia nhân dịp đại lễ?
| ||
|
Wednesday, September 15, 2010
Nguyễn Xuân Diện: CÁI ẤY CỦA BỘ XÂY DỰNG CONG HAY THẲNG?
Nguyễn Xuân Diện: BÚT KÝ CỦA GS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG - Phần 6
Trần Gia Phụng: KỶ NIỆM THĂNG LONG VÀ NHU CẦU CHÍNH TRỊ
Vào tháng 7 năm canh tuất (1010), vua Lý Thái Tổ (trị vì 1010-1028) đời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Đại La, và ngài đổi tên Đại La thành Thăng Long. Tính cho đến nay, danh xưng Thăng Long được chẳn một ngàn năm. Nhà nước cộng sản Việt Nam (CSVN) dự tính tổ chức Lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long vào ngày thứ Sáu 1-10-2010 (24-8 canh dần).
Ngày dương lịch và âm lịch nầy không phải là ngày dời đô, cũng không phải là một ngày trọng đại trong lịch sử Việt Nam. Ngày 1-10 là ngày quốc khánh của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (CHNDTQ). Như thế nói trắng ra, vì nhu cầu chính trị, CSVN mượn Lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long để tập họp dân chúng, mừng quốc khánh cộng sản Trung Quốc (CSTQ).
Đây không phải là lần đầu vì nhu cầu chính trị, CSVN sử dụng thủ thuật nầy. Khi mới cướp chính quyền năm 1945, Hồ Chí Minh đã một lần sáng kiến ra cách thức nầy để lấy lòng viên cao ủy Pháp tại Đông Dương là đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu.
Nguyên theo tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945, tại Việt Nam giải giới quân đột Nhật ở nam vĩ tuyến 16 là quân đội Anh và ở bắc vĩ tuyến 16 là quân dội Trung Hoa Quốc Dân Đảng (THQDĐ). Sau khi theo quân Anh, tái chiếm miền Nam Việt Nam, Pháp thương lượng với THQDĐ đưa quân ra Bắc. Sợ bị tiêu diệt, Hồ Chí Minh vội vàng ký với Pháp thỏa ước Sơ bộ ngày 6-3-1946, theo đó Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre), có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương (LBĐD) và trong Liên Hiệp Pháp (điều 1); Việt Nam sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa để giải giáp quân đội Nhật (điều 2).
Thỏa ước Sơ bộ hoàn toàn trái ngược với lời thề chống Pháp của Hồ Chí Minh khi trình diện chính phủ vào ngày 2-9-1945. (Đoàn Thêm, 1945-1964: Việc từng ngày, Hai mươi năm qua, California: Nxb. Xuân Thu tái bản không đề năm, tr. 13.) Thỏa ước Sơ bộ bị dân chúng và các đảng phái chính trị theo chủ trương dân tộc phản đối.
Sau khi thương thuyết với THQDĐ, cao uỷ Pháp tại Đông Dương, đô đốc D’Argenlieu, mở cuộc kinh lý khu vực phía bắc vĩ tuyến 16 từ ngày 14-5-1946. D’Argenlieu đến Vạn Tượng (Vientiane, Laos) ngày 17-5-1946, đến Hà Nội chiều ngày 18-5-1946. Trên danh nghĩa, D’Argenlieu là cao uỷ, đại diện chính phủ Pháp tại LBĐD. Việt Nam là một quốc gia trong LBĐD. Vậy D’Argenlieu là nhà lãnh đạo hay quốc trưởng của Việt Nam và là cấp chỉ huy của Hồ Chí Minh. Theo nghi thức ngoại giao, để đón tiếp quốc trưởng, nhà cầm quyền Việt Minh phải treo quốc kỳ (cờ đỏ sao vàng) trong ba ngày để đón D’Argenlieu, nhưng VM nói là để mừng sinh nhật Hồ Chí Minh là ngày 19-5, tránh làm cho dân chúng phản đối chuyện đón quan chức Pháp.
Ngày sinh nhật nầy có nhiều câu hỏi cần được đặt ra. 1) Nhiều tài liệu cho thấy Hồ Chí Minh nhiều lần ghi năm sinh khác nhau, không chính xác. 2) Riêng trong đơn xin vào Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie) vào đầu năm 1922, Hồ Chí Minh, lúc đó có tên là Nguyễn Ái Quốc, ghi trong phiếu cá nhân rằng ông sinh ngày 15-2-1895. (Jacques Dalloz, “Les Vietnamiens dans la Franc-Maçonnerie coloniale”, Revue française d’Histoire d’Outre-mer, 3ème Trimestre, Paris: Société Française d’Histoire d’Outre-mer, 1998, tr. 105.) Vậy tại sao bây giờ lại đổi ngày sinh thành 19-5. 3) Trước đó, Hồ Chí Minh không đề cập đến sinh nhật, thì tại sao nhân cuộc viếng thăm của D’Argenlieu lại có chuyện sinh nhật Hồ Chí Minh?
Vì các lẽ đó, dư luận cho rằng Hồ Chí Minh ngụy tạo sinh nhật để treo cờ, nhằm đón tiếp D’Argenlieu. Tuy nhiên, nếu treo cờ để đón đại diện Pháp thì Hồ Chí Minh sợ dân chúng phản đối và kết tội phản bội vì lúc đó tinh thần chống Pháp của dân chúng rất cao, nên Hồ Chí Minh vì nhu cầu chính trị, mượn cớ treo cờ mừng sinh nhật để tránh sự bất bình của dân chúng. Cần chú ý, ngày 19-5 là ngày ra mắt công khai mặt trận Việt Minh năm 1941 ở Pắc Bó, Cao Bằng.
Trường hợp sửa đổi ngày kỷ niệm vì nhu cầu chính trị thứ hai là ngày thành lập đảng CSVN. Vào ngày 6-1-1930, Hồ Chí Minh, lúc đó lấy tên là Lý Thụy, với tư cách là đại biểu của Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS), đứng ra thành lập đảng CSVN tại Hồng Kông. Ngoài những tài liệu Tây phương, tài liệu cụ thể về ngày thành lập đảng là “Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ II của đảng” do Hồ Chí Minh trình bày ngày 11-2-1951. Trong mục thứ hai tiểu đề “Đảng ta ra đời”, Hồ Chí Minh xác định: “Ngày 6-1, Đảng ta ra đời.” (Bài nầy được đăng trong sách do Hồ Chí Minh viết, Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1976, tt. 97-120; và được đăng lại trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Hà Nội: Nxb. ChínhTrị Quốc Gia, 2000, tt. 153-176.)
Như thế, rõ ràng ngày thành lập đảng CSVN là ngày 6-1-1930. Xin kèm theo đây một tài liệu kỷ niệm thành lập đảng CSĐD năm 1948. (Chú ý câu mở đầu: Chính đảng của công nhân Đông Dương thành lập vào ngày 6-1-1930.) (Trích: Chính Đạo, Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại, tập 1, in lần thứ hai, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 247.)

Tuy nhiên, về sau tại Đại hội III đảng Lao Động (tức đảng CSVN) ở Hà Nội từ 5 đến 10-9-1960, Bộ chính trị Trung ương đảng Lao Đông yêu cầu Đại hội thông qua quyết định thay đổi ngày thành lập đảng là 3-2-1930, vì “các đồng chí Liên Xô cho biết ngày đó mới đúng theo tài liệu lưu trữ của Liên Xô.” (Nguyễn Minh Cần, Đảng Cộng Sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế, Nxb. Tuổi Xanh, không đề nơi xuất bản, 2001, tr. 74.)
Năm 1960, do nhu cầu chính trị, đảng Lao Động sửa ngày thành lập đảng theo lệnh của Liên Xô, nhưng cho đến nay, Liên Xô sụp đổ 20 năm rồi, đảng CSVN vẫn chưa chịu sửa lại cho đúng ngày thành lập, mà vẫn bắt học sinh học tập sai ngày, và đảng viên kỷ niệm sai ngày thành lập đảng CSVN.
Chẳng những đổi ngày vì nhu cầu chính trị, mà cũng vì nhu cầu chính trị, CSVN còn sửa luôn lịch để tạo sự bất ngờ trong cuộc tổng tấn công miền Nam Việt Nam vào năm 1968. Nguyên sau khi Bộ chính trị Trung ương đảng Lao Động (CSVN) quyết định sẽ tổng tấn công miền Nam vào dịp Tết Mậu Thân, chính phủ Bắc Việt ra quyết định số 121/CP ngày 8-8-1967, cho Nha Khí tượng thay đổi âm lịch, theo đó tháng chạp năm đinh mùi trong lịch mới ở Bắc Việt không có ngày 30 (âm lịch), trong khi ở Nam Việt có ngày 30 (âm lịch). Điều đó có nghĩa là Tết Bắc Việt Nam đến trước Tết Nam Việt Nam một ngày.
Việc đổi âm lịch nầy có hai điểm đáng ghi nhận: 1) Nha Khí tượng Hà Nội xác nhận việc đổi âm lịch không theo tính toán của những nhà khoa học lịch pháp, mà theo quyết định của nhà cầm quyền Hà Nội, tức việc đổi âm lịch có tính cách chính trị. (”Lời giới thiệu của Nha Khí tượng” Hà Nội, trong sách Lịch thế kỷ XX , Nxb. Phổ Thông, Hà Nội, 1968.) 2) Việc đổi âm lịch không được thông báo trước mà chỉ cho dân chúng Bắc Việt biết khi in lịch cho dân chúng sử dụng vào đầu năm 1968, nghĩa là chỉ còn hơn một tháng là đến Tết âm lịch năm mới (mậu thân). (Điều nầy được xác nhận trong “Lời nói đầu” hoặc “Lời giới thiệu” của các lần xuất bản về sau nầy; ví dụ lần xuất bản thứ nhì (1977), thứ ba (1982), và thứ tư (1991). Như thế, phải chăng Hà Nội muốn giữ bí mật việc đổi âm lịch để chuẩn bị cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân?
Việc đổi âm lịch đúng ngày mồng Một Tết Mậu Thân ở ngoài Bắc trùng hợp vào dịp tổng tấn công ở miền Nam Việt Nam, khiến về sau người ta nghi ngờ đây không phải là sự ngẫu trùng, mà đây là một âm mưu có tính toán để đánh lừa Nam Việt Nam và thế giới về lệnh tấn công của Hồ Chí Minh tại Hà Nội vào ngày mồng Một Tết Mậu Thân, 24 giờ đồng hồ tức trước Tết ở miền Nam Việt Nam.
Chẳng những Hồ Chí Minh mà các học trò của ông cũng học theo Hồ Chí Minh đổi ngày vì nhu cầu chính trị. Hồ Chí Minh chết ngày 2-9-1969. Ngày 2-9 là ngày quốc khánh của Bắc Việt cộng sản. Vì vậy, Bộ chính trị đảng Lao Động liền quyết định công bố cho dân chúng biết ngày chết của Hồ Chí Minh là ngày 3-9-1969. Lần nầy nhiều người biết chuyện Hồ Chí Minh chết, đảng Lao Đông không thể “lấy thúng úp tai voi” mãi, nên sau năm 1975, đảng CSVN đành phải điều chỉnh trở lại ngày chết của Hồ Chí Minh là 2-9, trùng với ngày quốc khánh của chế độ CSVN.
Quả thật các đảng viên CSVN rất thuộc bài vở của Hồ Chí Minh. Nay thủ thuật ra lệnh cho dân chúng treo cờ để mừng sinh nhật chủ tịch, lại được đảng CSVN tái ứng dụng lần nữa, dùng lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long để tập họp dân chúng Việt Nam mừng quốc khánh CHNDTQ.
Đảng CSVN mừng quốc khánh CSTQ là noi gương chính trị của Hồ Chí Minh, vì Hồ Chí Minh là đảng viên đảng CSTQ. Sau đây là lời tự bạch của Hồ Chí Minh trong bài “Cách mạng Trung Quốc và cách mạng Việt”, viết nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập đảng CSTQ (1/7/1921 – 1/7/1961). Hồ Chí Minh kể rằng: “Riêng về phần tôi, trong hai thời kỳ, tôi đã có vinh dự hoạt động trong đảng Cộng sản Trung Quốc. Đến Quảng Châu hồi 1924-1927, tôi vừa theo dõi phong trào cách mạng trong nước ta,vừa tham gia công việc đo đảng Cộng sản Trung Quốc giao phó… Tôi được tham gia việc dịch tài liệu nội bộ và việc “tuyên truyền đối ngoại”, tức là viết bài về phong trào công nông cho một số báo bằng tiếng Anh. Lần thứ hai tôi đến Trung Quốc (cuối năm 1938) vào thời kỳ kháng chiến chống Nhật. Là một người binh nhì trong “Bát lộ quân”, tôi làm chủ nhiệm câu lạc bộ của một đơn vị ở Quế Lâm. Sau đó, được bầu làm bí thư của chi bộ (kiêm phụ trách nghe rađiô) của một đơn vị ở Hành Dương...” Cũng trong bài viết trên, Hồ Chí Minh đã mô tả “mối quan hệ giữa cách mạng Trung Quốc và cách mạng Việt Nam thật là: Trăm ơn, ngàn nghĩa, vạn tình,/ Tinh thần hữu nghị quang vinh muôn đời!” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tt. 366-367.)
Người sáng lập và lãnh đạo đảng CSVN có vinh dự hoạt động trong đảng CSTQ thì đảng CSVN mừng kỷ niệm quốc khánh CSTQ là chuyện không mới. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh và đảng CSVN mang ơn đảng CSTQ (“Trăm ơn, ngàn nghĩa, vạn tình...”) và muốn trả ơn như thế nào, đó là chuyện của CSVN, chứ không phải là ơn nghĩa của Trung Quốc đối với dân tộc Việt Nam. Dân tộc Việt Nam, ngay từ trước một ngàn năm Thăng Long, từ thời Hai Bà Trưng cho đến bây giờ, đã có quá nhiều kinh nghiệm xương máu với tập đoàn lãnh đạo bá quyền Bắc Kinh.
Không thể vì ơn nghĩa giữa hai đảng mà CSVN phản quốc, bán đứng Việt Nam cho CHNDTQ. Vào cuối thế kỷ 20, đảng CSVN đã ký liên tiếp hai bản hiệp ước dâng đất dâng biển cho CHNDTQ trước sự phẫn nộ của dân tộc Việt. Đó là Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, ký tại Hà Nội ngày 30-12-1999, nhượng cho Trung Quốc ải Nam Quan lịch sử, một nửa Thác Bản Giốc, nhiều cao điểm quân sự trọng yếu dọc biên giới phía bắc nước ta; và Hiệp ước phân định lãnh hải, ký tại Bắc Kinh ngày 25-12-2000 làm cho Việt Nam mất vào tay Trung Quốc khoảng 10,000 Km2 hay khoảng 8% mặt biển Vịnh Bắc Việt.
Nay một lần nữa, Thăng Long, cựu đô trong khoảng 8 thế kỷ của dân tộc Việt Nam, bị đảng CSVN đưa ra làm phẩm vật hiến tế, để mừng quốc khánh của CHNDTQ. Các nhà cầm quyền Trung Quốc đã bao lần đem quân xâm lược Việt Nam và giày xéo cố đô Thăng Long. Trung Quốc là một đại họa thường trực cho dân tộc Việt Nam từ thời cổ đại cho đến ngày nay.
Mượn chuyện kỷ niệm ngàn năm Thăng Long để mừng quốc khánh CHNDTQ là một điều hoàn toàn trái ngược với truyền thống lịch sử của cựu đô Thăng Long và lịch sử của dân tộc Việt Nam. Dân tộc Việt Nam vốn HIẾU HÒA, KHÔNG GÂY HẤN VỚI TRUNG QUỐC, NHƯNG SẴN SÀNG CHỐNG TRẢ TẤT CẢ NHỮNG CUỘC XÂM LĂNG CỦA TRUNG QUỐC. Vì thế, người Việt Nam không chấp nhận và phản đối mạnh mẽ hành vi nhục nhã của nhà cầm quyền CSVN, vì nhu cầu chính trị, mượn lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long để mừng quốc khánh CHNDTQ.
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 5-9-2010)
Tuesday, September 14, 2010
Ls Lê Thị Công Nhân: Tội âm mưu lật đổ chính quyền là sản phẩm của bộ óc cộng sản
Vào ngày 10/9/2010, phóng viên Tin Chúa Cứu Thế Việt Nam (VRNs) đã có cuộc nói chuyện với Luật sư Lê Thị Công Nhân về sự kiện Giáo sư Phạm Minh Hoàng sau 24 ngày bị bắt lại chính thức có có lệnh tạm giam 4 tháng để điều tra về tội “âm mưu lật đổ chính quyền”, theo điều 79 bộ luật hình sự.
Nguyên là một Luật sư và là người đã từng bị an ninh Việt Nam bắt, bị tòa án kết tội và bị nhốt tù 3 năm với những tội danh theo điều 79 “âm mưu lật đổ chính quyền”. Luật sư Lê Thị Công Nhân nói gì về sự kiện an ninh bắt và ra lệnh tạm giam để điều tra Giáo sư Hoàng?
Chúng ta hãy cùng theo dõi cuộc nói chuyện giữa phóng viên Paulus Lê Sơn của VRNs với Luật sư Lê Thị Công Nhân.
—————–
Pv: Xin chào chị, chúng tôi rất vui hôm nay có được cuộc nói chuyện với chị về chủ đề Giáo sư Phạm Minh Hoàng bị an ninh Việt Nam bắt và ra lệnh tạm giam 4 tháng để điều tra ông về tội “âm mưu lật đổ chính quyền”, theo điều luật 79.
Thưa chị, trong thời gian vừa qua chị có theo dõi các thông tin liên quan đến Giáo sư Phạm Minh Hoàng, là giảng viên trường Đại học Bách Khoa TP HCM bị an ninh bắt và tạm giam, theo như công an nói là tạm giam để điều tra về tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền”, dư luận xã hội được biết chị từng là một người đã phải trải qua những sự việc tương tự như Giáo sư Hoàng hiện nay. Chị có thể cho biết về những sự việc tương tự giữa chị và các nhà đấu tranh dân chủ khác mà cụ thể ở đây là giáo sư Hoàng? Chị có ý kiến, suy nghĩ và chị có cái nhìn như thế nào trong vụ này?
Luật sư Lê Thị Công Nhân (LsLTCN): Với những gì mà cá nhân tôi đã từng trải qua và những gì tôi biết về các trường hợp khác thì tôi thấy rõ một điều là nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam hành xử hết sức là tùy tiện và không có một nền tảng chung hoặc những qui định chung mà họ xử sự trong những vụ án chính trị. Cho nên, chúng ta thấy rằng cách thức mà nhà cầm quyền đàn áp các nhà dân chủ thì rất là đa dạng, mỗi người sẽ bị một kiểu khác nhau. Nếu mà mình không hiểu được cách hành xử của cộng sản tùy tiện thì mình sẽ nghĩ hay là những người này (nhà dân chủ) như thế nào đó.
Quay lại vấn đề của Giáo sư Phạm Minh Hoàng, tôi nghĩ về mặt pháp lý trong việc bắt giữ, tạm giam giáo sư mà không có quyết định khởi tố để tống đạt cho chính đương sự là bị can và cho gia đình thì đó là sự vi phạm pháp luật tố tụng của pháp luật Việt Nam hiện hành. Nhưng mà thật sự trong những vụ án chính trị thì chúng ta cũng không nên nói đến những qui định của pháp luật nhà nước. Bởi vì bộ máy an ninh tức là những người công an làm về các vụ án chính trị thì họ cũng không hành xử theo bất kỳ qui định nào của nhà nước hết.
Chúng ta biết là sau khi giáo sư Phạm Minh Hoàng bị bắt một thời gian (sau 24 ngày bị bắt) thì mới có quyết đinh khởi tố mà có nói là theo cái điều như vậy.
Quay lại câu chuyện của tôi, trước khi tôi bị bắt giam và đi tù luôn đó thì tôi bị bắt bớ (tôi phải phân biệt bắt giam và bắt bớ) rất là nhiều lần trong một thời gian hàng nửa năm. Tức là từ khi Đảng Thăng Tiến công khai hoạt động ngày 08/9/2006, đến khi tôi bị bắt là tháng 3 năm 2007. Trong quá trình họ (công an) bắt bớ và thẩm vấn tôi, họ liên tục vu cho tôi, qui kết cho tôi, dọa tôi về các tội danh mà tôi không thể nào hình dung được. Tôi đã bị dọa các tội như điều 79 là hoạt động nhằm lật đổ chính quyền, tôi bị dọa một tội nữa là “gián điệp”, tôi bị dọa về tội “khủng bố” theo điều 84, còn điều 88 thì dọa đi dọa lại nhiều lần. Tức là, những hoạt động của tôi thì vẫn chỉ như vậy thôi, nhưng mà cái cách nhà cầm quyền nhìn nhận, thưa với quý vị đó cũng chỉ là một vài cá nhân làm cái vụ án trực tiếp hay một ông nào đó lãnh đạo cấp cao trong bộ Chính trị thích thú một điều khoản nào đấy để nghĩ ra chứ cũng chẳng có một hành xử chuyên nghiệp nào hết. Mỗi lúc họ nói một kiểu, ngay trong các cuộc thẩm vấn mà nhiều khi tôi còn cười to vì họ bảo tôi làm gián điệp, tôi chả hiểu là tôi làm gián điệp cho ai. Họ nói những điều khoản rất là kinh khủng, thậm chí có lần còn dọa tôi là có dấu hiệu vi phạm điều 258 BLHS, tức là tội lạm dụng các quyền tự do dân chủ. Tội này mà mỗi lần nhắc đến với các Luật sư tham gia đấu tranh dân chủ thì cảm thấy thật là lố bịch, bởi vì ai cũng trả lời là Việt Nam làm gì có tự do dân chủ mà lợi dụng.
Cho nên tôi muốn nói việc nhà cầm quyền quy kết giáo sư Phạm Minh Hoàng vi phạm vào điều 79 thì cũng không có gì là chắc chắn ngay cả qui định của cái dấu hiệu tội phạm trong tội danh đó trong bộ luật hình sự hiện hành. Bởi vì rất có thể sau này họ sẽ đổi sang một tội danh khác mà nếu có giữ nguyên thì nó cũng không đúng ngay từ đầu, cái điều này thì đã xảy ra rất nhiều lần. Nhưng thường có một vấn đề như chúng ta thấy tỉ lệ mà những người đấu tranh dân chủ được cho là có tội theo cái điều 88 như tôi chẳng hạn là điều chống phá nhà nước và điều 79 là hoạt động nhằm lật đổ chính quyền thì hai cái tội này vẫn là bị quy kết là có nhiều người vi phạm nhiều nhất.
Thực ra là không thể nào có được hai cái tội như vậy được trừ cái bộ óc thiên tài của cộng sản họ nghĩ ra. Khi muốn thay thế một chính quyền này bằng một chính quyền khác tốt hơn, cụ thể chính quyền cũng chỉ là một khái niệm, rồi là những anh A, chị B, v.v… những người cụ thể lên làm thôi. Như vậy, chúng ta thấy điều đó rất là bình thường trong một xã hội dân chủ, thậm chí đó rất đơn giản, gần như là một điều tự nhiên khi con người hình thành mối quan hệ xã hội với nhau. Nhưng mà ở Việt Nam thì không bao giờ được phép như vậy.
Khi có tiếng nói phản kháng, không đồng tình, không chấp nhận được chế độ hiện tại thì người ta (đảng cộng sản) gọi đó là chống lại, tuyên truyền chống phá nhà nước hoặc là hoạt động nhằm thay đổi nhà nước đó. Đối với tên độc tài với bất kỳ cái gì mà khác với chúng thì đều bị coi là tội phạm chứ chưa nói là chống.
Tôi cũng không hiểu nhiều lắm về những hoạt động sâu xa của anh Phạm Minh Hoàng, tôi được biết anh Phạm Minh Hoàng ngoài những bài viết để nói lên cái tâm tư nguyện vọng của mình về việc dân chủ hóa Việt Nam thì ngay cả khi anh ấy tham gia vào một đảng phái, mà nhất là đảng phái đó có một đường lối đấu tranh rõ ràng đi theo phương thức ôn hòa bất bạo động và mục tiêu là để cho Việt Nam có được nền dân chủ. Vâng, tôi nhắc lại là dân chủ cũng chỉ là một khái niệm thôi. Tức là biểu hiện cụ thể của nó là đa nguyên và đa đảng. Như chúng ta thấy là có những tin đồn, thậm chí là của cả phe dân chủ cũng như phe độc tài nói rằng anh ấy tham gia đảng Việt Tân. Tôi nghĩ anh ấy có tham gia đảng Việt Tân thì cũng tốt thôi không có vấn đề gì mà phải thành kiến, đánh lên án.
Nhưng mà chúng ta thấy đảng Cộng Sản mà quá sợ đảng Việt Tân đến mức độ như vậy thì có lẽ là chúng ta nên nhìn nhận vai trò của đảng Việt Tân, họ đã thực sự mạnh mẽ và đã làm được những công việc mà ăn sâu, cắm sâu vào trong đời sống xã hội có những kết quả nhất định và làm cho đảng Cộng Sản phải run sợ.
Trong những vụ án chính trị như thế này mà như tôi vừa nói, cái việc đối nội thì họ cũng không tha thiết gì, chính quyền cộng sản cũng không tha thiết gì, họ làm rất là tùy tiện. Nhưng một mặt thì họ cũng hiểu được cái sự quan tâm của quốc tế đối với các vụ án chính trị, họ cũng có những chuẩn bị để trưng ra, tỏ ra là có cái cách làm việc chuyên nghiệp một chút hoặc là có cái căn cứ nào đó một chút.
Trong những vụ án chính trị như vậy thì họ cũng phải có một cái sự cân nhắc. Việc bắt giữ một người với vị trí, nhân thân như vậy sẽ gây nên một sự chấn động, nhưng mà họ vẫn làm. Không phải là họ có một căn cứ chính đáng nào đâu, tất cả những điều họ nói chỉ là những lý sự cùn, trong sự ngang ngược, nền tảng trịnh thượng kiêu căng của họ thôi. Nhưng họ vẫn làm, có lẽ có một điều…, tôi tin hay có lẽ là tôi ngây thơ hơn quý vị nhưng tôi nghĩ rằng là họ đã có những nỗi sợ, họ chấp nhận cái sự trả giá lên án của quốc tế cũng như là quốc nội về cái hành động bắt người và vu cáo cho người ta như vậy.
Pv: Xin cám ơn những chia sẻ, nhận định của chị!
Thực hiện ngày 10/9/2010
Paulus Lê Sơn
Monday, September 13, 2010
Thái Lan phản đối cuộc họp báo lên án vi phạm nhân quyền ở Việt Nam
Thái Lan phản đối cuộc họp báo lên án vi phạm nhân quyền ở Việt Nam
Bangkok – Thái Lan từ chối không cho dùng thủ đô Bangkok làm địa điểm công bố chuyện Việt Nam vi phạm nhân quyền và theo tường thuật, Thái Lan đã từ chối chiếu khán nhập cảnh cho người cầm đầu chương trình này, theo nguồn tin cho hay hôm nay Chủ Nhật ngày 12 tháng Chín năm 2010.
Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền (IFHR) và Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam (VCHR) có trụ sở ở Ba Lê (Paris) có kế hoạch tổ chức một cuộc họp báo ở Bangkok hôm thứ Hai ở Câu lạc bộ Báo chí Thái Lan (FCCT) để công bố bản báo cáo mang tựa đề Từ Viễn mơ đến Thực tế: Nhân quyền cho Việt Nam.
Việt Nam, một trong những nước cộng sản còn sót lại, hiện đang giữ vai trò chủ tịch Hiệp hội Các Nước Đông Nam Á châu (ASEAN), mà Thái Lan là một thành viên thành lập.
“Mặc dù chính phủ Hoàng gia Thái Lan xem nguyên tắc tự do ngôn luận và thể hiện quan điểm đa dạng là điều rất quan trọng, chính phủ Thái Lan cũng có một lập trường lâu dài là không cho phép những tổ chức hay cá nhân nào dùng Thái Lan như một nơi đề từ đó tiến hành những hoạt động làm phương hại đến những nước khác,” phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Thái Lan ông Thani Thongpaksi nói trong một thông báo gởi cho báo chí.
“Vì vậy, tôi hy vọng Câu lạc bộ Báo chí sẽ tôn trọng lập trường này và không cho phép cơ sở của mình được dùng cho những hoạt động như thế,” ông nói.
Cuộc họp báo sẽ được chủ tọa bởi Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm người Việt Nam ông Võ Văn Ái và phó chủ tịch bà Penelope Faulkner.
Ông Võ Văn Ái, người chỉ trích nhà nước Việt Nam và cũng là người điều hành Phòng Thông tin Phật giáo ở Ba Lê (Paris), thoạt đầu được cấp chiếu khán nhập cảnh Thái Lan nhưng sau đó bị hủy bởi toà Đại sứ Thái Lan ở Pháp, theo những nguồn tin cho hay.
“Chúng tôi cảm nhận đây là một điều không may rằng chính phủ Thái Lan áp lực lên chúng tôi như thế này. Chúng tôi rất cám ơn nếu chính phủ (Hoàng gia Thái Lan) xét duyệt lại áp lực này,” FCCT nói trong bản thông báo.
Theo bản thông tin báo chí của IFHR và VCHR hôm thứ Sáu ngày 10 tháng Chín, ông Võ Văn Ái trình bày quan điểm của mình: “Là Chủ tịch luân phiên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Việt Nam đã thất bại trong việc duy trì các ngưỡng vọng nhân quyền và bảo đảm những điều quy định trong Hiến chương ASEAN cũng như trong Hiến pháp Việt Nam. Tình trạng nhân quyền tồi tệ của Việt Nam đang phá hoại nghiêm trọng nỗ lực mà ASEAN mong muốn xây dựng một Cộng đồng cho dân, và cai quản bằng pháp quyền”.
Bà Souhayr Belhassen, Chủ tịch Liên Đoàn Quốc tế Nhân quyền thì cho rằng: “Dù đã tham gia ký kết bảy công ước nhân quyền, nhưng Việt Nam ít thực hiện những lời cam kết theo luật pháp quốc tế, lại tiếp tục vi phạm những nhân quyền cơ bản đối với nhân dân nước họ.”
Được biết, Cuộc Họp báo do ông Võ Văn Ái chủ trì - nếu được tiến hành - sẽ xảy ra vào ngày hôm nay thứ Hai, 13 tháng Chín tại Câu Lạc Bộ Báo chí Quốc tế ở Thái Lan.
Theo thống kê của Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam cho hay trên trang mạng của mình, “trong tháng 8.2010, có ít nhất 258 tù nhân chính trị đang bị tù mặc dù Hà Nội không ngừng khẳng định rằng ở Việt Nam không có tù nhân chính trị.
Ít nhất có 17 người bị tù vì sử dụng ôn hòa quyền ngôn luận trên mạng Internet. Đã có 749 trường hợp sách nhiễu và đe dọa các nhà báo trong năm 2009. Chỉ riêng trong tháng giêng 2010, đã có 359 trường hợp tương tự xẩy ra.
Án tử hình xẩy ra thường xuyên, nhưng số liệu thống kê bị liệt vào “bí mật quốc gia” kể từ tháng giêng năm 2004. Năm nay, 2010, theo nguồn tin chính thức đã có 11 án tử hình riêng trong tháng giêng.”
Theo bản tin mới nhất của DPA, cuộc họp báo này đã bị hủy bỏ, "Chúng tôi quyết định không tổ chức cuộc họp báo này nữa, vì cả hai diễn giả đã bị từ chối chiếu khán nhập cảnh vào Thái Lan," ông Shwe Ye, phát ngôn viên của Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền cho hay hôm nay Chủ Nhật ngày 12 tháng Chín năm 2010.
© DCVOnline

Hai tàu tuần tra Nhật Bản "kèm" tàu cá Trung Quốc sau vụ va chạm ở vùng biển tranh chấp. Ảnh: AP