Translate

Monday, March 2, 2009

Dạy sai có thể khiến cả một dân tộc sai lầm

Trích VietNamNet

(TuanVietNam)- “Hiện nay từ đào tạo mẫu giáo đến đào tạo tiến sĩ phương pháp dạy đều giống nhau. Cách làm này sẽ thủ tiêu sức sống cá nhân. Cứ học dồn, cứ nghĩ rằng làm trước là xong mà không thấy chất lượng cuộc sống của mỗi giai đoạn một khác... Bản thân tôi cả một đời dạy học. Với tôi, “trẻ em là cứu tinh của dân tộc”. Giáo sư Hồ Ngọc Đại trăn trở.


Giáo sư Hồ Ngọc Đại (trái) và Nhà báo Nguyễn Quang Thiều.
Ảnh Phạm Hải


Trẻ con luôn luôn đúng?

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thưa quý vị độc giả, câu hỏi muôn thuở của xã hội về một thứ sản phẩm, và đây cũng là sản phẩm quan trọng nhất, hệ trọng nhất làm nên đời sống, xã hội. Đó là sản phẩm người. Nhưng chúng ta cũng bắt đầu thấy lo lắng về sản phẩm này. Dường như có điều bất ổn, khiếm khuyết, sai lầm, ở đâu đó trong hệ thống giáo dục.

Cũng chính vì điều đó, VietNamNet đã mời Giáo sư Hồ Ngọc Đại- một người dành tâm huyết cả đời mình cho nền giáo dục, cùng bàn luận về một trong những vấn đề cấp bách của giáo dục nước nhà: đào tạo dạy dỗ học sinh tiểu học.

GS. Hồ Ngọc Đại: Cuộc sống hiện nay đã khác trước rất nhiều. Có căn cứ nào để chúng ta nói về sự đúng - sai. Theo tôi, có hai căn cứ để xác định một vấn đề là sai hay đúng trong giáo dục.

Căn cứ quan trọng nhất là cuộc sống thật, cuộc sống ta đang sống, mà triết học gọi là khách quan. Gọi là cuộc sống thật, vì nó phải sống thật, không thể giả dối được. Cuộc sống ấy phải là cơ sở để xử lý tất cả mọi vấn đề (văn hóa, khoa học, chính trị, thơ văn...). Và cuộc sống thật của ta so với cuộc sống thật của nền giáo dục hiện nay như thế nào?

Căn cứ thứ hai là trẻ em hiện đại. Giáo dục trẻ em, dạy trẻ con, cần phải biết nó là cái gì? Từ cuối thế kỷ 20, khi ở châu Âu, tôi đã nhận thức được một điều là cuộc sống biến đổi ghê gớm. Tôi đã chứng kiến sự nổi loạn của sinh viên. Tôi cũng đã từng có một cuộc phiêu lưu lớn trong giáo dục. Nhưng cuộc phiêu lưu ấy thất bại.

Vì sao có cuộc nổi loạn của sinh viên năm 1968 và tại sao lại có sự nổi loạn của giáo dục thế giới hồi năm 1960? Là vì họ không chấp nhận được cái nền giáo dục hiện tại của họ. Không thể chấp nhận được vì cuộc sống hiện đại đã hoàn toàn thay đổi.

Sự biến đổi của tuổi trẻ thế kỷ này đã khác rất nhiều so với thế kỷ trước. Những đứa trẻ lên 5 lên 6 tuổi sống ở thế kỷ 20 đã có thể đi làm nuôi em. Nhưng giờ đây, lứa tuổi 18, 20 vẫn còn bé bỏng, vẫn cần cha mẹ chu cấp.

Do vậy, tôi kết luận: cuộc sống thực luôn luôn đúng. Cuộc sống thực không thể sai. Cuộc sống là như thế, vì nó buộc phải như thế. Cho nên, tôi gọi triết lý gốc của con người là từ đó: Muốn gì thì gì, phải sống đã. Và rồi mới tính đến chuyện sống tốt hơn.

Trong cuộc sống thực ấy, chúng ta cứ giả định trẻ em luôn sống đúng. Điều đó có thể khiến các thầy giáo sẽ khó chấp nhận. Vậy trong tình huống này phải xử lý thế nào?

Khi mà cuộc sống diễn ra hiển nhiên như thế và dĩ nhiên ta phải sống. Do vậy có khi anh phải chấp nhận chịu thua cuộc sống, đơn giản vì anh không thể thắng nổi. Đối với trẻ em, vì đã xác định chúng luôn đúng, cho nên ta phải bằng lòng với hiện thực này.

Nguyên lý một nhà giáo dục là phải biết chịu thua trẻ em, để rồi sau đó tìm cách thắng lại, mà phải làm sao để thắng được cái lý của chúng, chứ không phải thắng cái lý của mình.

Nếu độc giả chấp nhận hai mệnh đề tôi vừa đề xuất là cuộc sống thực luôn luôn đúng và trẻ em luôn luôn đúng thì cứ căn cứ vào đó chúng ta sẽ xử lý được mọi vấn đề.

Do vậy, trong một nền giáo dục mà được trẻ em chấp nhận, thì mới hi vọng nền giáo dục đó đúng. Còn với một nền giáo dục mà trẻ em không chấp nhận, chúng cảm thấy bất hạnh, thì dứt khoát đó là một nền giáo dục sai, một nền giáo dục thất bại.

Nhà trường sai, người lớn sai?

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Tôi đồng ý với GS rằng cuộc sống thực luôn luôn đúng. Nhưng khi nói trẻ em luôn luôn đúng thì hơi khó thuyết phục. Phải chăng chúng đang sai, chúng đang trốn chạy nhà trường? Hoặc là nhà trường sai?

GS. Hồ Ngọc Đại: Nhà trường sai. Thầy giáo sai. Người lớn sai.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: GS có thể chỉ ra vài điều cơ bản nhất để minh chứng rằng trẻ con đúng và nhà trường đang sai. Do đó, hiện thực đang đòi hỏi phải có sự quan tâm cẩn trọng hơn nữa, đặc biệt hơn nữa đối với cấp tiểu học?

GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi có một cách tiếp cận khác với khái niệm trẻ con. Cách đây 30 năm, chúng ta phải đồng ý với quan điểm rằng coi trẻ em là của trời đất, cha mẹ, văn hoá, truyền thống, tự nhiên. Phải coi các em như thực thể sống trong đời, hít thở không khí, chịu ánh sáng tự nhiên, đói thì ăn, khát thì uống.

Nhưng hiểu lầm lớn nhất xưa nay là cứ bắt trẻ con phải làm theo mình, nếu trẻ con mà làm trái ý là coi như sai. Đáng lẽ khi trẻ con hiểu sai ý mình, thì mình phải tìm hiểu cái lý của nó là gì? Trẻ con không có âm mưu, chỉ suy nghĩ trên cơ sở chính nó, vì lợi ích cơ bản của nó, vì sự sống của nó chứ nó không tính về phía anh. Nhưng người lớn thì cái gì cũng tính về mình. Hai cách tính khác nhau, nên vênh.

Trẻ con phải hồn nhiên, vui tươi, không có gì đau khổ, vì ở vào lứa tuổi đó, chúng không đáng phải đau khổ. Chỉ có người lớn chúng ta mới đau khổ. Trẻ con khi đã không thích là không thích, nhiều khi bố mẹ còn cảm thấy ngượng với khách vì con, những khi mà không thích thì chúng thản nhiên bỏ đi, mặc kệ khách khứa. Nhưng chúng ta vẫn phải tôn trọng nó như một thực thể tự nhiên, bọn trẻ vốn sống hồn nhiên. Chúng có sai là sai theo ý mình, chúng cư xử trên cái lý của chúng.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Một trong những bức thư của các em học sinh gửi đến cho chúng tôi, bức thư của em Thảo Ly ở Hưng Yên. Bức thư này là một thông điệp, một lời cảnh báo, một tiếng kêu cứu của một đứa trẻ đối với nền giáo dục mà em đang sống trong đó, đang phải gánh chịu nó, đang phải cố gắng để vượt qua và thực hiện những tham vọng của người lớn. Bức thư viết : Cháu đang học lớp 3, cháu cảm thấy mệt mỏi vì chương trình học quá tải, chúng cháu học cả ngày, tối về lại ôn bài, làm bài, chuẩn bị cho ngày hôm sau. Cuối tuần, chúng cháu có rất nhiều phiếu ôn tập nhà trường giao cho, chúng cháu mong Bộ Giáo dục chỉ bắt chúng cháu học nửa ngày thôi, để buổi chiều chúng cháu có thể ôn bài, có thể chuẩn bị bài, có thể vui chơi, có thể chia sẻ, buổi tối chúng cháu có thể xem những chương trình tivi dành cho chúng cháu, được chọn trò chơi, được đọc truyện..

GS. Hồ Ngọc Đại: Em ấy nói đúng, cuộc sống không chỉ có chữ, cuộc sống nó còn nhiều thứ khác. Một trong những sai lầm từ ngàn năm nay của giáo dục là gì? Đến trường để kiếm dăm ba chữ, và ai hơn mình nửa chữ thôi cũng tôn làm thầy. Điều này ở một khía cạnh nào đó có nghĩa nhưng ở khía cạnh khác lại là vô nghĩa, chữ không phải là tất cả.

Tôi đã phê phán khẩu hiệu "vì tương lai con em chúng ta". Sao lại đi hứa hão với bọn trẻ rằng cứ chịu khổ đi, chịu khó đi rồi nay mai sẽ hạnh phúc. Và thế là bọn trẻ bị đầy đọa từng ngày. Đáng lý ra khẩu hiểu đó phải là: “Ngày hôm nay các em hạnh phúc, ngày mai các em còn hạnh phúc hơn”. Tại sao lại không vì hạnh phúc ngay hôm nay, hạnh phúc ngay bây giờ của con em chúng ta. Hãy nói với chúng rằng, ngày hôm nay em đến trường vui, ngày mai em đến trường vui hơn.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Phụ huynh Nguyễn Văn Trường ở Hà Nam viết về thời gian biểu của con mình mà lại ngập tràn đau xót : “Cháu không còn một chút thời gian nào để nghỉ ngơi và chơi, lúc nào cũng trong tình trạng như hoảng loạn. Nhiều khi buổi tối cháu học mệt quá ngủ gục trên bàn, tôi bế cháu lên giường ngủ thì cháu choàng tỉnh dậy vội cầm bút ngơ ngác học tiếp”. Tôi thấy thời gian biểu của một học sinh không mang lại cho em một cảm hứng nào mà lại như là một án phạt đối với em. Những đứa trẻ đến trường với một nỗi sợ hãi như thế thì nền giáo dục ấy mang lại gì cho những công dân tương lai của một dân tộc ?

GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi cũng đau khổ lắm, như tất cả các vị. Bởi vì người lớn có thể chịu đựng mọi nỗi đau khổ, nhưng trẻ con không đáng phải chịu đựng như thế.

Trẻ con cần hưởng hạnh phúc, trẻ con cần được vui chơi và chưa đến lúc phải chịu nỗi khổ của người lớn. Cái đúng là sự hồn nhiên, thanh thản, được làm theo ý mình.

Ta cứ nghĩ trẻ làm theo ý mình là hư – nhưng cuộc sống thực của nó bảo nó phải làm như thế, chứ nó không tự ý.

Xã hội đã ngàn đời coi trọng bằng cấp, đè nén con người khủng khiếp. Chính nỗi đau đó cũng là nỗi đau của các thầy giáo.

"Hãy nói với chúng rằng, ngày hôm nay em đến trường vui,
ngày mai em đến trường vui hơn". Ảnh: antdonline


Nhà báo Nguyễn Quang Thiều:
Có một bạn đọc phản ánh, trước kia con chúng tôi phải vác 1 cặp sách, thì nay, sau cải cách, con chúng tôi phải vác đến 3 chiếc cặp sách đến trường?

GS. Hồ Ngọc Đại: Một bước tiến của nền giáo dục trong nền văn minh hiện đại là phải có tư tưởng mới và cách làm đúng. Để có những bước phát triển mới thì phải có tư tưởng và cách làm mới. Cách làm xưa nay là thầy giảng, trò ghi nhớ. Cách làm của tôi là thầy không giảng giải, trò tự làm tất cả. Cách làm cũ là trò phải cố gắng, còn cách làm của tôi là trò không phải cố gắng, hãy cứ tự nhiên.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Mọi người đều quan tâm đến một sáng tạo của giáo sư đối với nền giáo dục Việt Nam đó là trường Thực Nghiệm?

GS. Hồ Ngọc Đại: Đó là một sáng tạo của thế kỷ 20 của những nhà tâm lý học Liên Xô.

Trường Thực nghiệm vừa là trường, vừa không phải là trường. Ở đây những tư tưởng, ý tưởng phải được làm thật, trên những con người thật.

Anh đã dám làm khoa học trên những con người thật, thì khoa học của anh phải thật và anh cũng phải thật. Và trẻ cảm nhận mỗi ngày đi học đúng là một ngày vui. Thay vì bắt trẻ làm theo ý mình, ở đây chúng tôi nói với chúng: "Thưa các em, thầy nghĩ như thế, thầy làm như thế, các em xem có đúng không, các em có chấp nhận hay không?".

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Nó ưu việt như vậy, nhưng vì sao mô hình trường Thực nghiệm hay những phần ưu việt của mô hình này vẫn chưa được phổ cập trong đời sống giáo dục của nước ta? Phải chăng các nhà quản lý giáo dục không nhận ra điều ấy ? Hay họ nhận ra nhưng không làm ? Chúng ta đang vì những học sinh hay chỉ vì lợi ích và lòng tự ái của chúng ta ?

GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi đã từng đề xuất “Học sinh là nhân vật trung tâm, thầy giáo đóng vai trò quyết định” và “Đưa công nghệ giáo dục mới vào nhà trường”. Nhưng khi đưa vào Nghị quyết thì lại thành: “Học sinh là nhân vật trung tâm” và “Đưa công nghệ mới vào giáo dục nhà trường”.

Tôi đem thắc mắc này đi hỏi và được giải thích: “Xưa nay ta vẫn quen đề cao giáo viên, nay phải nhấn mạnh vai trò của học trò thì nên đặt dấu chấm ở đấy cho gọn. Còn câu thứ hai, nếu đưa nguyên xi vào thì hóa ra ngả hẳn về phía cậu à?”.

Sau đó Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định cả nước dùng chung một bộ sách giáo khoa, chung một phương pháp, và đương nhiên tôi trở thành thiểu số...

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Tôi đã thăm một trường tiểu học ở Boston (Hoa Kỳ), được xem một vở kịch của các em lớp 1 diễn. Chúng tranh luận với nhau về việc ai làm đổ cái chuồng của chúng. Và một con lừa già xuất hiện nói: “Ta xin lỗi, chính ta đã làm đổ cái chuồng, nhưng lúc trước ta đã không dám thừa nhận, vì ta xấu hổ, ta sĩ diện, ta hão huyền, ta ngạo mạn…”.. Tôi đã rất “kinh hãi” và xúc động vì con lừa đó do ông hiệu trưởng đóng. Họ thật sự hoà đồng, chia sẻ, và lắng nghe. Xin tất cả hãy suy ngẫm thật kỹ về câu chuyện này. Những điều này sao không có trong các trường ở Việt Nam ?

GS. Hồ Ngọc Đại: Ngày xưa, chúng ta giáo dục dựa trên nền tảng là vì lợi ích của người lớn, còn ngày nay là vì lợi ích của đứa trẻ. Đó là hai vấn đề khác nhau.

Lâu nay người lớn chúng ta vẫn quan niệm trẻ con là trẻ con. Nhưng với tôi, trẻ con là dân tộc, là thiên nhiên, chúng sống thánh thiện và vô tư. Khi chúng không bằng lòng là không bằng lòng thật. Không giống người lớn, thất bại nhiều rồi nên nhiều khi phải giả vờ. Mà giả vờ chính là sự hèn mọn. Do không phải giả vờ nên bọn trẻ con chưa hèn, cuộc đời chưa làm cho chúng hèn đi. Vì vậy, bọn trẻ đáng được tôn trọng, và chúng ta phải tôn trọng thật, chứ không phải sự tôn trọng giả vờ.

Còn đối với nhà giáo, trong một ý nghĩa nào đó phải coi học sinh là cấp trên. Nghĩ như vậy không phải là chúng ta hạ mình, mà đây chính là trách nhiệm, chính là lương tâm.

Không thể cứ sai lầm mãi

GS Hồ Ngọc Đại: "Trẻ em là cứu tinh của dân tộc. Ảnh: hocmai.vn


Nhà báo Nguyễn Quang Thiều:

Có một quan niệm sai lệch trong nền giáo dục của chúng ta là bậc đại học thì được quan tâm hơn tiểu học. Nhưng tiểu học lại là thời điểm con trẻ hay có thể nói chính xác hơn là thời điểm quan trọng nhất của một đời người để bắt đầu nhận thức thế giới xung quanh, với con người bên cạnh, với muông thú, cây cỏ, côn trùng, đất trời… nhằm đặt nền tảng cho tâm hồn và nhân cách con người thì càng cần những “người thầy vĩ đại” nhất, thấu hiểu chúng, biết lắng nghe chúng, chia sẻ với chúng, hướng dẫn chúng, gợi mở chúng. Thì GD Việt Nam lại làm ngược lại tất cả các nguyên lý cơ bản đó. Có ai nhận ra điều đó không? Tại sao vẫn để tồn tại?

GS. Hồ Ngọc Đại: Muốn giải quyết nền giáo dục hiện nay thì phải tập trung vào giải quyết 2 bậc Tiểu học và Đại học. Và phải làm mới hoàn toàn.

Thứ nhất, bậc tiểu học có 2 đặc điểm cơ bản, học sinh tiểu học còn nhỏ, còn bố mẹ, ông bà nội ngoại, còn họ hàng… có hàng chục người gắn vào học sinh lớp 1. Nếu học sinh lớp chúng hạnh phúc thì hàng chục người đó hạnh phúc. Nếu giáo dục nhà trường tốt thì gia đình dễ yên ấm, xã hội dễ yên lành.

Thứ hai, với cấp tiểu học, đặc biệt nhóm lớp 1 nghiệp vụ phải tinh tế nhất, cao siêu nhất, chắc chắn nhất.

Và cấp tiểu học cũng nên kéo dài 6 năm, Vì đây là khoảng thời gian chúng ta có thể chuyển tải tất cả những gì gọi là bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc, đạo lý dân tộc, quan hệ giữa người với người, hạnh phúc gia đình, hạnh phúc xã hội,...

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thưa Giáo sư, với những đứa trẻ từ mầm non đến tiểu học chúng ta đào tạo để đưa chúng tiếp cận với những nền khoa học, những vấn đề chính trị thời đại hay là để chúng được trau dồi những nền tảng của mỹ học. Song nếu đưa chúng đến với nền tảng mỹ học, giàu tính nhân văn thì dường như phương pháp giáo dục của chúng ta và giáo trình của chúng đang sai?

GS. Hồ Ngọc Đại: Sai! Bởi nếu đã học văn hoá, học sinh phải tiếp cận với nền văn hoá hiện đại, thành tựu khoa học hiện đại, cuộc sống học hành giải trí hiện đại, vậy hà cớ gì phải học những cái cũ, chữ nghĩa từ mấy thế kỉ trước.

Dạy sai có thể khiến cả một dân tộc sai lầm

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Chứng kiến trong ngày quốc khánh Mỹ, tôi thấy những đứa trẻ Mỹ ở một trường tiểu học tự viết diễn văn, tự nói về dân tộc... Các thầy cô chỉ là những người quan sát, hỗ trợ và gợi ý. Và trong tâm hồn trong sáng, công bằng, không vụ lợi và đầy trí tưởng tượng về dân tộc của chúng, người lớn chúng ta sẽ có cơ hội nhìn thấy dân tộc họ trong một hình ảnh mới đầy sức sống và sáng tạo. Tôi tự đặt câu hỏi, nếu những điều đó là chân lý vậy tại sao chúng ta không làm? Trong khi đó, chúng ta đang biến những đứa trẻ trở thành những robot thực thi các “lệnh” của chúng ta ?

GS. Hồ Ngọc Đại: Khi một điều gì đó ra vượt khỏi nhà trường và vào xã hội, đó là quyền lực hành chính. Khoa học thì không bao giờ có quyền lực, chỉ có lời khuyên thôi.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Có một bạn đọc ở Xuân Trường (Hải Dương) hỏi: Thực tế cho thấy chất lượng sản phẩm giáo dục của chúng ta, rất thiếu sức khoẻ, thiếu kĩ năng sống, thiếu vốn kiến thức cơ bản để hoà nhập với đời sống xã hội và thiên nhiên. Thưa Giáo sư, thực trạng này là do chúng ta thiếu tiền hay thiếu chính những người thày có chất lượng?

GS. Hồ Ngọc Đại: Có những người thầy khiến tôi rất kính trọng. Nhưng đúng là nhiều người thầy hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Với những người làm thầy cần nhất là sự lương thiện. Đó là cách để làm ra sản phẩm thật cho xã hội.

Khi mà 5% dân cư đi học, và thất bại cả 5% thì ko sao. Nhưng với một nền giáo dục mà tất cả trẻ em đều đến trường mà lại được dạy bảo sai thì điều đó sẽ khiến cho cả một thế hệ sai lầm, cả một cả dân tộc sai lầm. Dân tộc đó là dân tộc của một trăm năm nữa, chứ không phải dân tộc của ngày hôm nay. Đây là nỗi đau của cả dân tộc.

Dạy trẻ con tự cảm nhận theo cách của mình

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thực tế cho thấy ngày càng nhiều giáo viên dạy văn đã không còn cảm xúc. Dạy văn, mục đích cơ bản là để học sinh tiếp cận vẻ đẹp ngôn ngữ và vẻ đẹp tâm hồn cũng như lòng nhân ái chứa đựng trong ngôn ngữ đó. Nhưng những buổi học văn vô cảm sẽ không mang lại bất cứ điều gì cho học sinh. Theo Giáo sư, điều gì đã mang lại sự vô cảm trong những bài giảng hiện nay? Phải chăng đó là những giáo trình sơ cứng và những phương pháp dạy bị động không sáng tạo?

GS. Hồ Ngọc Đại: Có 2 sai lầm. Nền giáo dục cũ hiện nay đề cao quá vào lí trí, chữ nghĩa, coi thường tình cảm, niềm tin, đạo đức. Mất niềm tin đạo đức sẽ trở thành người vô đạo đức. Lí trí hoá nền giáo dục, và lí trí hoá cuộc sống con người đi nhiều. Do vậy, phải tôn trọng tình cảm, mà tình cảm do nghệ thuật mang đến. Có thể áp đặt về lí trí, nhưng không thể áp đặt trong nghệ thuật và đạo đức.

Tôi luôn chú ý cả 3 lĩnh vực: khoa học, nghệ thuật và lối sống. Lõi của lối sống là niềm tin đạo đức. Nghệ thuật không thể giảng được. Nhưng có thể gợi ý, định hướng và hướng dẫn. Các em hoà nhập vào tác phẩm để cảm nhận theo cách riêng của mình.

Hãy để các em thoả sức tìm tòi.
Không nên ràng buộc các em bằng những chuẩn hoá quá sớm. Ảnh: hoikunblog



Nhà báo Nguyễn Quang Thiều:
Ông sẽ dạy những gì cho những học sinh không học trong trường thực nghiệm. Và ông sẽ chia sẻ những gì với cha mẹ chúng?

GS. Hồ Ngọc Đại: Việc này khó. Bởi họ đã quen nếp cũ, nếu thay đổi, phải thay đổi đồng bộ. Thay đổi giáo trình, phương pháp dạy với đứa trẻ. Thay đổi các mối quan hệ giữa đứa trẻ và thầy giáo, giữa thầy giáo và phụ huynh. Quan hệ giữa thầy giáo và phụ huynh hiện nay là quan hệ đối phó, chưa phải hợp tác.

Hiện nay phụ huynh thường có tâm lý trăm sự nhờ thầy giáo, hoặc lấy lòng thầy giáo vì sợ thầy giáo không hài lòng thì con mình khổ.

Đã không ai thấy rằng thành quả của các em là do gia đình và nhà trường cùng làm nên. Trong tương lai phụ huynh học sinh phải được đào tạo thành phụ huynh học sinh theo đúng nghĩa vụ, thầy giáo đúng trách nhiệm và nghĩa vụ, hai bên hợp tác nhau, không bên nào làm lẫn nhiệm vụ của bên nào, có vậy đứa trẻ mới thấy được hạnh phúc cả khi ở với gia đình lẫn ở trường. Với nền giáo dục hiện nay một số người đã không chịu nổi, và khi tất cả đều không chịu nổi thì sẽ khác.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Nhiều bạn đọc của VietNamNet đã gửi thư bày tỏ băn khoăn, lo lắng về quy định chuẩn cho trẻ 5 tuổi. Giáo sư có ý kiến gì về vấn đề này?

GS. Hồ Ngọc Đại: Những năm 70 ở Liên Xô có cuộc tranh luận. 1 phái nhận trẻ con 6 tuổi vào lớp 1 và phái kia nhận trẻ 7 tuổi (tôi là phái 7 tuổi).

Tại sao phải trì hoãn tuổi đi học? Bởi trong cuộc đời không có giai đoạn nào đẹp hơn thời kì từ 0 đến 6 tuổi. Tuổi này mà được ở nhà, được vui chơi thoải mái là thích nhất. 6 tuổi là thời điểm tích luỹ kinh nghiệm một cách thiên nhiên, bản tính. Giai đoạn này trẻ thích mầy mò, khám phá. Nên hãy để các em thảo sức tìm tòi. Dĩ nhiên có thất bại, có thành công…. không nên ràng buộc các em bằng những chuẩn hoá quá sớm.

Không dám nhìn vào sự thật

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: GS có thể nói gì về cái quy chuẩn trẻ 5 tuổi?

GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi cho rằng không cần thiết. Việc các trường mẫu giáo dạy chữ trước khi trẻ vào lớp 1 là hi sinh một thứ rất lớn để đổi lấy thứ không cần thiết.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Chúng ta đang mắc những sai lầm lớn trong giáo dục mầm non, tiểu học. Chúng ta phải từ bỏ ngay ý nghĩ những đứa trẻ phải nhất nhất nghe lời chúng ta. Chúng ta đã bỏ rơi chúng trong chính ngôi nhà của mình, nhà trường của mình và ngay cả trong xã hội của mình mà cứ lầm tưởng là chúng ta đang chăm sóc chúng. Thực tế, chúng ta đang chỉ chăm sóc phần xác của chúng mà thôi. Vậy theo Giáo sư, chúng ta làm gì để khắc phục những sai lầm đó, phải mất bao lâu thời gian để khắc phục?

GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi thấy đau xót vì không ai nhìn thẳng vào sự thật. Có thể nói thành lời, nhưng không ai cảm thấy rằng trẻ con là máu thịt của mình, không ai cảm thấy đứa con đau khổ chính là mình đau khổ. Và không thấy được sự tối ưu của mỗi giai đoạn khác nhau.

Hiện nay từ lớp mẫu giáo cho đến các bậc tiến sĩ dạy đều có phương pháp dạy giống như nhau. Cách làm này sẽ thủ tiêu sức sống của cá nhân. Phương pháp cứ dồn góp, cứ nghĩ rằng làm trước là xong, mà không thấy được chất lượng cuộc sống mỗi giai đoạn một khác. Do vậy, phải có phương pháp giáo dục riêng cho từng cấp học, mầm non khác, tiểu học khác, tiến sĩ phải càng khác. Bản thân tôi cả một đời dạy học. Tôi luôn quan niệm trẻ em là cứu tinh của dân tộc.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Cuộc trò chuyện chỉ vọn vẻn trong khoảng hơn 1 tiếng, nhưng chúng ta nhận ra quá nhiều điều bất ổn trong những đứa trẻ thời nay. Chúng ta không biết điều đó, và ngay cả những người biết nhưng đã chôn vùi những lỗi lo lớn ấy của xã hội vào giấc ngủ hưởng thụ và tự mãn của cá nhân mình. Chúng ta phải thừa nhận rằng: tất cả những lầm lẫn trong giáo dục hay những thất vọng về những đứa trẻ nào đấy đều do người lớn chúng ta gây ra. Có một lúc nào đó Giáo sư tuyệt vọng vì những lỗi lầm này?

GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi đã nói những điều này từ cách đây 30 năm nay rồi. Tôi không sợ ai giận cả. Tôi không tuyệt vọng. Tôi có chiến lược, chứ không phải làm ẩu.

Khi tôi về nước, tôi hi vọng sau 20 năm sẽ có nền giáo dục mới. Tôi bỏ ra 10 năm đầu để làm mất nền giáo dục hiện nay đi, cùng lúc đó, tôi thiết kế một nền giáo dục khác. Khi không có những đứa trẻ thật, những cha mẹ thật, một nền giáo dục thật thì tất cả đều là viển vông. Dân tộc ở lại mãi mãi, trẻ em ở lại mãi mãi.

Tôi chịu trách nhiệm với trẻ em. Qua trẻ em tôi chịu trách nhiệm với cha mẹ. Qua trẻ em và cha mẹ chúng tôi chịu trách nhiệm với dân tộc này.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Nhiều người đều cảm nhận và không hài lòng với cách giáo dục hiện tại. Họ lo ngại điều đó sẽ mang lại tai hoạ cho đất nước. Đây cũng là nỗi lòng mà đông đảo các vị phụ huynh trên cả nước, những người có lương tâm giáo dục chia sẻ với Giáo sư và chúng tôi.

Vẫn còn rất nhiều câu hỏi của bạn đọc, nhưng tạm thời xin được phép khép lại cuộc bàn tròn nhỏ với một vấn đề quá lớn và còn quá nhiều điều phải bàn. Nhưng không còn cách nào là chúng ta phải lên tiếng.

Xin thay mặt bạn đọc VietnamNet, Tuần Việt Nam cám ơn Giáo sư. Mong rằng tất cả mọi người trong cộng đồng này cùng lên tiếng, lên tiếng mãi cho đến khi chúng ta đổi thay, kiên trì như Giáo sư Hồ Ngọc Đại để đến một ngày nào đó nền giáo dục mầm non nói riêng và nền giáo dục Việt Nam nói chung có sự đột phá khởi sắc.

1,001 kiểu bớt xén tiền Tết của người nghèo

Trích VNExpress

Bộ Lao động Thương binh Xã hội vừa báo cáo Thủ tướng kết quả kiểm tra việc cấp phát tiền cho người nghèo Tết Kỷ Sửu. Hàng nghìn trường hợp sai phạm như không đúng đối tượng, chia bình quân, giữ lại tiền... đã được làm rõ.

Ba đoàn công tác của Bộ Lao động Thương binh Xã hội phối hợp với Bộ Tài chính đã xuống một số tỉnh, thành. Theo đó, ngoài việc cấp tiền không đúng đối tượng, trưởng thôn tại hàng loạt tỉnh như Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bắc Giang, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Trà Vinh, Sóc Trăng... đã cấp tiền không đủ định mức với số người nghèo, tranh thủ truy thu các khoản người nghèo còn nợ, thu thêm các khoản đóng góp để làm việc chung của thôn.

Tại nhiều thôn của Hà Tĩnh, Sóc Trăng, Trà Vinh, Kon Tum..., khoản tiền hỗ trợ người nghèo đã không được cấp phát trước Tết. Một số nơi bỏ sót người nghèo là trẻ em dưới 6 tuổi, người già trên 85 tuổi, trẻ em mới sinh, hộ nghèo mới tách khẩu... Đặc biệt, một số thôn chỉ cấp phát một lần, tự ý giữ lại không cấp hết cho người nghèo.

Nhiều hộ nghèo vẫn phải xung tiền vào quỹ khuyến học. Ảnh: Trường Long.

Hiện các tỉnh thành đã kiểm tra và xử lý xong sai phạm. Như Quảng Bình đã kiểm tra và thu hồi 272 triệu đồng tiền cấp sai của xã Trung Hóa, huyện Tuyên Hóa; 24 triệu đồng ở thôn Thống Nhất, xã An Ninh, huyện Quảng Ninh.

Huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, đã thu hồi 292 triệu đồng cấp sai cho 1.140 hộ không nghèo của 13 xã, cấp lại đủ cho 1.160 hộ còn thiếu. UBND huyện cũng đã đình chỉ 5 chủ tịch xã để làm kiểm điểm.

Các địa phương đang kiểm điểm và xem xét xử lý kỷ luật đối với cán bộ sai phạm. Bộ Lao động cho biết sẽ phối hợp với UBND các tỉnh, thành tăng cường rà soát hộ nghèo hằng năm, chấn chỉnh công tác quản lý hộ nghèo.

Trong báo cáo gửi Chính phủ, Bộ Lao động chỉ rõ nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên là năng lực cán bộ thôn bản còn hạn chế, chưa thật sự công tâm. Lãnh đạo chính quyền địa phương thiếu sự chỉ đạo, giám sát. Đặc biệt, việc quản lý rà soát hộ nghèo hằng năm còn thiếu khách quan, không dân chủ, có nơi còn nặng bệnh thành tích.

Trước Tết Kỷ Sửu, ngày 15/1, Thủ tướng đã ban hành Quyết định 81 hỗ trợ cho các hộ nghèo với mức 200.000 đồng một người, nhưng không vượt quá 1 triệu đồng một hộ. Trong quá trình thực hiện, nhiều tỉnh thành đã phát sinh sai phạm gây bức xúc dư luận.

Ngày 9/2, Thủ tướng yêu cầu chủ tịch UBND các tỉnh thành chỉ đạo kiểm tra, làm rõ sai phạm, có biện pháp xử lý và báo cáo Thủ tướng kết quả.

Hiện theo chuẩn nghèo (200.000 đồng một người mỗi tháng ở nông thôn và 260.000 đồng một người mỗi tháng ở thành thị), cả nước có 2,4 triệu hộ nghèo với trên 10 triệu nhân khẩu.

Trong dịp Tết Âm lịch vừa qua, theo báo cáo của 63 tỉnh thành, hơn 2,3 triệu hộ nghèo với 9,2 triệu nhân khẩu đã được hỗ trợ với tổng kinh phí 1.766 tỷ đồng.

Hồng Khánh

Sunday, March 1, 2009

Về tiểu thuyết Ma Chiến Hữu của Mạc Ngôn

Trích X Cafe

Linh's blog
25.02.2009

Trên blog đang ồn ào bàn tán về cuốn Ma chiến hữu của Mạc Ngôn do dịch giả Trần Trung Hỷ dịch, công ty Phương Nam và Nhà xuất bản Văn học xuất bản. Có thể đọc ở trên blog Người buôn gióblog Hoang Linh. Cũng xem thêm nhận xét của Trương Thái Du trên BBCVietnamese:

Tôi đã đọc cuốn này sau khi được biết (qua blog Trương Thái Du) rằng cuốn này đề cập tới số phận những người lính Trung Quốc trong chiến tranh Việt-Trung 1979. Tôi nghĩ một cuốn sách đề cập tới một cuộc chiến tranh với góc nhìn từ phía bên kia sẽ gợi mở nhiều điều thú vị. Tôi tìm đọc cuốn này cũng như trước kia từng tìm đọc các cuốn The Quiet American của Graham Greene, The Things They Carried của Tim O'Brien hay Tree of Smoke của Denis Johnson, hoặc xem các phim Trung Đội, Trời và Đất, Rambo, Apocalyse Now, Full Metal Jacket...

Tôi chưa đọc bản tiếng Hoa của cuốn sách (và cũng không biết tiếng Hoa để đọc) nên không thể nói về nguyên bản mà chỉ có thể nói về bản dịch của Trần Trung Hỷ. Cũng không rõ bản dịch tiếng Việt có cắt xén gì so với bản tiếng Hoa không. Nhìn chung, tôi nghĩ Ma Chiến Hữu là một cuốn sách hay. Cuốn sách đề cập tới thân phận của những người lính Trung Quốc tham chiến tại Việt Nam. Họ đều là những thanh niên nông thôn nghèo thất học. Họ tham chiến mà không biết rõ lý do tại sao lại tham chiến, chỉ đơn giản là bị bắt lính và đi lính thì đỡ miệng cơm ở nhà, nếu chết trận thì gia đình ở nhà cũng được một khoản tử tuất còm. Đến khi kết thúc chiến tranh thì kẻ còn, người mất, những kẻ sống sót cũng có số phận mạt rệp, nghèo khổ, cùng quẫn, chịu ảnh hưởng bởi di chứng chiến tranh. Không những thế, họ còn bị chính quyền và nhân dân lãng quên. Trong truyện có đoạn các hồn ma tử sĩ Trung Quốc khóc than đau đớn khi biết tin Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ và họ cảm thấy rằng cái chết của họ là vô nghĩa.

Tôi nghĩ chủ đề cơ bản của cuốn sách này mà tác giả của nó là một nhà văn quân đội rất nổi tiếng của Trung Quốc là phản chiến. Đứng trên phương diện người Trung Quốc, tác giả cho rằng cuộc chiến Việt-Trung vô nghĩa và người mất mát và hy sinh, rốt cục, lại cũng chỉ là những người lính thường nghèo khổ. Trong bản dịch tiếng Việt, tôi cũng không thấy có những chi tiết nhạo báng, chửi bới, nhục mạ người Việt hay quân đội Việt Nam. Đúng là có những chi tiết những người lính Tàu chúc tụng nhau lập nhiều chiến công, giết nhiều quân địch (như trong trích dẫn trên blog Người buôn gió)...nhưng đó là những việc xảy ra ở bất cứ quân đội nào, trong bất cứ cuộc chiến nào. Tiểu thuyết này còn có sự mỉa mai châm biếm khi nhân vật được coi là anh hùng, tài giỏi nhất truyện, thượng sĩ Tiền Anh Hào- người được bạn đồng ngũ kỳ vọng sẽ lên làm Tư lệnh trong tương lai- lại chết lãng nhách, khi chưa giết được một người Việt nào chỉ bởi cái mông nhô quá cao của viên Tiểu đội trưởng khiến cả tiểu đội lính Tàu hứng trọn trận pháo Việt. Và cũng không có dòng nào mô tả ai trong các cựu chiến binh ấy đã giết được người Việt như thế nào.

Tôi có thể hiểu sự phẫn nộ của nhiều người đọc với những người chịu trách nhiệm trong việc dịch và in cuốn Ma Chiến Hữu ra tiếng Việt. Tuy nhiên, tôi không cho rằng cuốn sách này là một cuốn ca ngợi chủ nghĩa anh hùng như lời PR ngu xuẩn của nhà xuất bản Văn học ở bìa 4. Không phải là ca ngợi mà đó là sự nhạo báng, lên án của một nhà văn quân đội Trung Quốc đối với một cuộc chiến tranh vô nghĩa, vô lý và không cần thiết. Với những người lính Tàu sống hay chết tại cuộc chiến thì Mạc Ngôn có một sự cảm thông sâu sắc, nhưng cái khiến tác phẩm sống động cũng không phải là ở "chủ nghĩa anh hùng" mà là ở tình đồng đội. Đó chính là lý do khiến cuốn sách này có tên là "Chiến hữu trùng phùng" trong bản tiếng Hoa. Nhưng chính điều đó lại càng khiến lời PR trên bìa 4 của tác phẩm ("Một cách ca tụng riêng về chủ nghĩa anh hùng") thêm phần ngu xuẩn và phản cảm. Bởi lẽ khi tán tụng chủ nghĩa anh hùng của các quân nhân Trung Quốc trong cuộc chiến chống Việt Nam thì NXB Văn học đã xúc phạm tới những người Việt đã hy sinh trong cuộc chiến đó dưới bàn tay của các "anh hùng" Trung Quốc. Hơn thế, như tôi đã nói, nó còn sai lệch so với chủ đề tác phẩm.

Dù sao, tôi nghĩ nên đón đọc cuốn sách này một cách bình tĩnh. Chúng ta có thể xem phim, đọc sách của người Mỹ về chiến tranh Việt Nam đứng trên phương diện của người Mỹ thì việc đọc sách của người Tàu viết về chiến tranh Việt Trung trên quan điểm của người Tàu cũng là chuyện bình thường, để có thể hiểu thêm những góc độ khác của chiến tranh (miễn là những tác phẩm đó không xuyên tạc, bôi nhọ một cách có dụng ý).

Như vậy, tự thân nó thì việc dịch, xuất bản và đọc cuốn sách này ở Việt Nam thực ra không có vấn đề gì cả. Nó cũng tương tự với việc ở Mỹ người ta xuất bản Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Nhưng nó chỉ là bình thường với một điều kiện: đó là sách vở, báo chí Việt Nam được tự do bàn luận tới chiến tranh biên giới, được tri ân những liệt sĩ hy sinh, được bình luận, phê phán những góc độ khác nhau của chiến tranh... Nếu điều kiện đó không được đáp ứng thì việc xuất bản cuốn sách này lại là một việc rất bất thường và phản cảm.

Nó cho chúng ta thấy sự méo mó, dị hợm, nhược tiểu, hèn nhát của chúng ta. Trong khi người Trung Quốc có thể viết sách về chiến tranh Việt-Trung, xuất bản chúng thì người Việt Nam không thể: từ tiểu thuyết của Trần Thu Trang bị yêu cầu cắt xén vài câu liên quan tới chiến tranh Việt Trung cho tới tập truyện ngắn của Vũ Ngọc Tiến bị thu hồi và nhà xuất bản Đà Nẵng bị đóng cửa bởi lý do trên. Trong khi người Việt không thể đọc được những tác phẩm của các nhà văn Việt Nam viết về chiến tranh Việt-Trung thì lại có thể dễ dàng mua được sách của người Trung Quốc viết về chiến tranh này. Trong khi báo chí Việt Nam không được đề cập tới chiến tranh Việt Trung thì lại vẫn có thể đọc thông tin từ các trang mạng bán chính thức của Trung Quốc về vấn đề này*.

Đó quả là nghịch lý. Và đáng buồn là cái nghịch lý ấy lại phổ biến đến mức thành chân lý, cứ như tằm ăn rỗi, nuốt trọn dần tâm thức người Việt, khi mà phim ảnh, sách báo Trung Quốc tràn ngập thị trường văn hóa Việt Nam. Rồi cứ đà này, người Việt sẽ chỉ biết Càn Long là vị minh quân thánh chúa chứ không biết y là kẻ xâm lược Việt Nam năm 1789. Sẽ chỉ biết Đặng Tiểu Bình là vị lãnh tụ xuất chúng siêu quần chứ không biết y là kẻ xua quân đánh Việt Nam năm 1979. Sẽ chỉ biết Hứa Thế Hữu là lão tướng tài năng được Mao Chủ tịch yêu dấu chứ không biết y là kẻ đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, Lạng Sơn và Cao Bằng 1979 (cho dù vị "tướng tài" mà báo Hà Nội Mới ca ngợi đó đã bị quân địa phương Việt Nam gây thiệt hại nặng nề đến mức bị Đặng tước quyền Tổng tư lệnh cuộc chiến xâm lược Việt Nam năm 1979). Sẽ chỉ biết tới những anh hùng quân đội Trung Quốc như "liệt sĩ" Tiền Anh Hào trong cuộc chiến Việt-Trung chứ không thể thuộc tên một anh hùng quân đội, một liệt sĩ Việt Nam nào trong cuộc chiến này.

Và rồi cuối cùng, chúng ta sẽ nhìn lịch sử Việt Nam bằng mắt của người Trung Quốc.

-------------------------------------
*Gọi là "bán chính thức" theo nghĩa các trang này được chính phủ Trung Quốc cho phép thành lập hay trực thuộc một cơ quan của chính phủ, chịu sự kiểm duyệt về nội dung của chính quyền tuy nội dung là do các thành viên đưa lên. Có thể lấy ví dụ về sự kiện trang sina.com đưa "kế hoạch" tiến chiếm Việt Nam (mà Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng phản đối) hay gần đây hơn, việc một số trang web Trung Quốc đưa tin, bình luận về cuộc chiến "tự vệ" của Trung Quốc trước Việt Nam (gọi là "tự vệ" theo cách gọi chính thức của Trung Quốc với chiến tranh biên giới Việt-Trung)

Những nhận định khác về bản dịch cuốn sách "Ma Chiến Hữu":

Các nàng Kiều thế kỷ 21: Việc buôn bán phụ nữ Việt Nam

Trích Việt Báo Online

Bài của Jaehee Park
Đỗ Văn Phúc dịch
Bài báo này nói về tội ác buôn người và những hậu quả đối với phụ nữ Việt Nam. Thêm vào đó, sẽ có hai bài về các hậu quả cuả việc buôn người đối với các lao nô, và các trẻ vị thành niên gồm cả các em bé sơ sinh và trẻ nhỏ.
“Thúy Nguyễn mặc chiếc áo dài lụa, đeo hoa tai và vòng xuyến lấp lánh. Khi bước vào làng quê nghèo khổ, côn được mọi người vây quanh trầm trồ về những trang sức lộng lậy trên người cô. Cô nói với dân làng rằng các cô gái của họ cũng sẽ được như cô, nếu họ chịu theo bước của cô, đi Đài Loan để tìm công ăn việc làm tốt.”
Bản thân Nguyễn cũng từng là một cô gái quê đã hy sinh để giúp đỡ gia đình. Giống như chuyện “Nàng Thúy Kiều” đã bán mình chuộc cha. Cô đã đi theo một phụ nữ cũng trang phục lộng lẫy như cô ngày hôm nay, để đến Đài Loan tìm việc kiếm tiền nuôi sống gia đình.
Thúy Nguyễn nói trên không phải là người thật, mà chỉ là một hình ảnh được người ta vẽ ra của một thiếu nữ Việt Nam đã bị sa vào cái bẫy của âm mưu buôn bán phụ nữ mà những gì xảy ra sau đó là sự thật và có tính chất tiêu biểu.
Theo ước tính của cơ quan UNICEF và các tổ chức khác, có khoảng 400,000 phụ nữ và trẻ em Việt Nam đã bị bán ra nước ngoài, hầu hết là sau khi chấm dứt Chiến Tranh Lạnh. Nhiều phụ nữ, trẻ em Việt Nam bị bán qua Căm Bốt, Trung Hoa, Đài Loan, Nam Hàn, và Thái Lan để phục vụ trong các nhà chứa, lao động cưỡng bức trong các xí nghiệp, hay làm đầy tớ tư nhân.
Cũng như câu chuyện cô Thúy Nguyễn trên, các nạn nhân nhận những lời hứa hẹn bịp bợm rằng sẽ có công ăn việc làm, hoặc qua sự kết hôn gian dối, hoặc qua những cơ quan tuyển người và di dân hợp pháp hay bất hợp pháp. Bọn buôn người đôi khi ngụy trang những nạn nhân của chúng thành những du khách, công nhân của những chương trình xuất cảng lao động; và rồi sẽ đưa họ đến các nuớc khác. Họ cũng tuyển các cô gái qua các tổ chức tìm việc và rồi bán các cô gái đáng thương này cho bọn tú bà ở Trung Cộng và Mã Lai Á. Họ cũng dùng phương tiện internet để lừa gạt nạn nhân.
Bị Mắc Kẹt Trên Xứ Người
“Những gia đình đồng ý cho con gái mình đi nước ngoài được trả từ 150 cho đến 450 đô la, tuỳ theo dung mạo và trinh tiết của cô gái. Sau đó, bọn buôn người sẽ đưa nạn nhân đến phi trường ra đi. Khi đến đất nước người, họ được đưa vào một căn phòng nhỏ và bị lấy hết các giấy tờ tùy thân.”
Một khi đã ra nước ngoài và bị vào vòng kiềm tỏa của bọn buôn người, các cô còn trinh tiết sẽ được đưa vào các nhà thổ hay các phòng khách sạn để chờ đợi người khách mua hoa đầu tiên. Do sự tin tưởng rằng giao cấu với gái trinh sẽ đem lại nhiều may mắn, -cùng với sự an tâm rằng gái trinh sẽ không lây truyền bệnh AIDS và các bệnh hoa liễu. - khách phải trả một giá rất đắt. Thông thường khách trả từ 300 đến 400 đô la cho một tuần ăn nằm với gái trinh. Sau đó, các cô gái được coi là “đồ vật đã xài rồi” và giá đi khách chỉ còn khoảng 2 dollars một lần đi khách.
“Các cô được đưa đến các phòng riêng biệt trên lầu. Thoạt tiên, Nguyễn tưởng rằng đó là phòng riêng của mình. Nhưng không ngờ, có một người đàn ông lạ vào đòi làm tình với cô. Khi Nguyễn kháng cự, khách bỏ đi. Nhưng người chủ lại bước vào lôi cô xuống tầng hầm, đánh đập và nhốt cô nơi đây không cho ăn uống trong nhiều ngày.”
Nguyễn lúc này mới nhận thức rằng mình không còn sự lựa chọn nào ngoài việc phải theo lệnh chủ để được sống sót. Nhà thổ, nơi đã mua cô, đã lấy hết các giấy tờ tùy than của cô. Vì thế nếu cô trốn đi, thì sẽ bị bắt giam vì là dân lậu. Bị sa bẫy và cô lập, cô bị buộc phải tiếp khách khoảng 10 lần trong một ngày. Và chỉ dược miễn khi cô đến kỳ kinh nguyệt.
Các cô gái nô lệ tình dục này phải làm việc cho đến lúc họ trả xong món nợ mà khách đã bỏ ra mua họ. Đó là các khoản tiền “nợ” mà gia đình họ đã nhận được, cộng thêm tiền ứng trước cho các cô, tiền vé máy bay, di chuyển, ăn ở… Tuy thế, không phải đơn giản đâu. Vì cái tiền nợ này cứ tăng theo các khoản nuôi ăn, tiền áo quần, tiền thuốc men và cả tiền phí tổn phá thai…
Qua cách tính này, chủ nhân các nhà thổ sẽ lưu giữ các cô lâu dài, cho đến khi các cô đã trở thành quá già, quá bệnh hoạn để có thể hấp dẫn khách làng chơi.
Cuộc sống trong các nhà thổ rất tàn bạo. Bọn chủ chứa muốn đánh đập các cô lúc nào cũng được. Thậm chí còn dùng cả roi điện để hành hạ. Khi các cô từ chối tiếp khách, bọn chúng tiêm ma tuý để các cô phải tòng phục. Đối với những gia chủ nuôi các cô làm đầy tớ, thì tình trạng cũng chẳng dễ dãi gì hơn. Trong nhiều trường hợp, các cô bị nhục mạ, tra tấn về tinh thần và thể xác. Đã có nhiều trường hợp các cô bị cưỡng hiếp và bỏ đói.
Trốn Thoát và Các Sự Trợ Giúp
“Một hôm, cô Nguyễn nghe lén được các cô gái khác bàn chuyện trốn thoát. Họ bàn tính rất kỹ lưỡng, nhưng chỉ có hai cô thoát được nhờ sự trợ giúp của một tổ chức Phi Chính Phủ (NGO). Nguyễn và các cô gái thiếu may mắn bị bắt lại bởi cảnh sát địa phương và bị trả về lại nhà chứa.”
Trong khi nhiệm vụ của Cảnh sát và các cơ quan thẩm quyền là giúp đỡ nạn nhân của nạn buôn người; thì đa phần họ vướng vào sự tham nhũng. Các Tổ chức Phi Chính Phủ cấp quốc gia hay quốc tế cố gắng đưa ra những chương trình cứu giúp các nạn nhân bằng các đường điện thoại “nóng” và các nơi tạm trú an toàn. Tổ chức Quốc Tế về Di Trú (International Organization for Migration - IOM) cũng có nhiều nỗ lực giúp đỡ các nạn nhân.
Tu sĩ Nguyễn Văn Hùng là một trong những lãnh đạo các tổ chức bất vị lợi đã nhận giải thưởng cho những cố gắng của ông chống lại nạn buôn người. Theo báo điện tử OneViet, Cha Hùng đã cứu vớt được hơn 2000 nạn nhân đem về nuôi dưỡng tại nơi tạm trú do cha lập ra. Tuy nhiên, không phải các nạn nhân đều may mắn đụợc cha Hùng cứu thoát. Và vấn nạn không chỉ giới hạn trong vài quốc gia, mà theo cha Hùng: “là một vấn nạn của nhân loại, của quyền làm người.”
Sự Giúp Đỡ Từ Hoa Kỳ
Theo bà Lisa Lynn Chapman, Giám đốc cơ quan Dịch Vụ Giải Thoát (Survivor Sevices Department) của BoatPeople SOS (BPSOS), tuy rằng việc buôn người không phải là vấn đề của Hoa Kỳ, nhưng cũng đã có trường hợp mà nạn nhân đã được buôn bán đến đất Mỹ.
Bà nói: “Họ bị bán đến Mỹ qua nhiều hình thức. Thông thường là sự hứa hẹn có việc làm tốt và có phương cách để giúp đỡ gia đình bên Việt Nam.”
Nhưng bất hạnh thay, một khi đến Hoa Kỳ, họ bị buộc phải làm việc trong những điều kiện như lao nô - không được trả lương, không được rời khỏi nơi làm việc, và bị doạ hành hung về thể xác cũng như những điều phương hại cho gia đình ở Việt Nam. Các cô gái cũng bị buộc làm gái điếm, vũ nữ khoả thân, hay phục vụ trong những kỹ nghệ tình dục.
Một cách khác là qua việc hôn nhân. Thay vì đến Mỹ để lấy chồng, các cô bị ép vào các nghề khác mà không được trả lương. Họ không được học Anh ngữ, và không cho tiếp xúc với Cộng đồng Việt Nam. Họ sống kiếp nô lệ. Đây cũng là hình thức buôn người và là cách thông thường nhất.
Đối với các nạn nhân Việt Nam, có nhiều cách cho họ để tìm được sự giúp đỡ.
Bà Chapman nói: “Quý vị có thể gọi BPSOS - Cơ Quan Dịch Vụ Giải Thoát - số điện thoiạ (703) 538-2190. Chúng tôi sẽ giúp đỡ những gì quý vị cần đến. Chúng tôi muốn bảo đảm rằng những người Việt Nam (đàn ông, đàn bà, hay trẻ em) có được nơi trông cậy nếu họ bị rơi vào các tình trạng trên.
Bà Chapman cho hay, nạn nhân cũng có thể gọi số 911 cho Cảnh Sát Mỹ. Họ nên kể rõ ràng câu chuyện của bản thân mình và Cảnh sát sẽ tìm cho họ những nguồn giúp đỡ. Họ cnũg có thể gọi điện thoại hotline cho nơi tạm trú dành cho nạn nhân của nạn bạo hành trong gia đình.
“Ngày nay, cô Nguyễn đã trở về Việt Nam như một nhân viên tuyển mộ bất đắc dĩ của bọn tú bà, sở khanh do sự đe doạ của bọn này. Khi cô buớc trên những con đường nhỏ hẹp của một thị trấn, cô nhìn các cô gái đi qua, cô nhớ lại chính mình - một cô gái nghèo ít học, đã tưởng rằng mình hy sinh để giúp đỡ cho gia đình khá hơn. Và cô đã tự vấn rằng nếu ngày đó, cô thoát được cùng nhóm các cô gái kia, thì sự việc đã xoay chuyển thế nào? Hoặc nếu cô đã được một Cha Hùng giúp đỡ?”

Chú thích: Những đoạn viết trong ngoặc kép là câu chuyện làm nền cho vấn đề được nêu ra.

Cái giá của sự nói dối

VietCatholic News
(27 Feb 2009 11:00)

Ghi Chú: Đây là bài viết từ trong nước cho nên tác giả dùng từ "chính quyền" để chỉ "nhà cầm quyền Cộng Sản VN". Xin ghi chú ở đây để tránh sự ngộ nhận.

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO để tránh tiếng bắt bớ vô cớ những người đấu tranh cho tự do dân chủ, nhà cầm quyền buộc phải dùng đến nhiều loại thủ đoạn hèn hạ khác nhau để triệt hạ họ. Và vì phải làm chuyện ‘mượn gió bẻ măng’ nên tất cả những lý lẽ họ đưa ra đều rất ư là… vớ vẩn !!!

Có thể nhắc lại vài trường hợp điển hình:

- Blogger “điếu cày’ Nguyễn Hoàng Hải, bị đi tù không phải vì biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn Hoàng Sa, Trường Sa hay viết báo không đi bên lề phải mà vì … trốn thuế!

- Còn đối với sinh viên Nguyễn Tiến Trung sau khi du học nước ngoài về liền bị bắt thi hành nghĩa vụ quân sự mặc dù đã sắp hết tuổi. Trong trại lính không computer với internet bị cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài nào có khác gì đi tù mà khỏi bị mang tiếng!

- Bà Bùi Kim Thành một luật sư hay bênh vực dân oan ở Sàigòn, trước khi được sang Mỹ tỵ nạn trong năm 2008 vừa qua cũng đã từng bao phen khốn khổ vì sự chăm sóc hết sức nhiệt tình của chính quyền tại nhà thương điên Biên Hòa vì bị cho là mắc bệnh tâm thần (!?) v.v...

Và nay thì đến lượt Ls. Lê Trần Luật. Văn phòng Luật sư (VPLS) Pháp Quyền của anh bị chính quyền quận Gò Vấp, Saigòn ‘tấn công’ nhân danh một vụ tranh chấp dân sự nhỏ nhoi.

Trong kinh doanh ở bất cứ lĩnh vực nào, những chuyện rắc rối với khách hàng là điều bình thường khó ai tránh khỏi, càng làm ăn lớn càng dễ có nguy cơ cao. Ngay cả đến ‘người khổng lồ’ Microsoft mà vẫn phải khăn gói đi hầu tòa gần như mỗi năm. Đến nỗi ông chủ Bill Gates của tập đoàn này phải nuôi cả một đội quân hùng hậu nghe nói đến gần 40 chục mạng gồm các luật sư và những nhà tư vấn pháp lý, họ ăn lương chỉ để đi chuyên lo giải quyết việc Microsoft bị thưa kiện.

Ở Việt Nam những năm vừa qua đã xảy ra nhiều vụ tai tiếng với một số VPLS. Tuy nhiên, với Ls. Lê Trần Luật, mặc dù người viết chưa có dịp tiếp xúc với anh nhưng bằng hành động dũng cảm dám đứng ra bênh vực công lý giúp những giáo dân thấp cổ bé họng bất chấp những đe dọa từ phía chính quyền. Bấy nhiêu thiết nghĩ cũng đã quá đủ để chứng minh anh không thể thuộc loại luật sư chỉ biết kiếm có tiền, vì thế VPLS Pháp Quyền của anh chắc chắn không thể là loại văn phòng tư vấn pháp lý chuyên đi làm chuyện lừa đảo. Bản thân anh, một người trẻ với trình độ luật sư muốn tìm cho mình và gia đình một cuộc sống sung sướng như bao người chắc chắn không phải là việc gì quá khó!

Do vậy, chỉ cần ‘ngửi mùi’ sự việc mà chẳng cần đến tận nơi tìm hiểu, chắc chắn mọi người cũng thừa biết rằng chính quyền đã mượn vụ tranh chấp giữa VPLS Pháp Quyền và vị khách hàng nào đó (thậm chí không loại trừ khả năng anh VP của Ls. Luật đã bị họ gài bẫy!) để ra tay đánh phá. Đơn giản chỉ vì chính quyền không muốn thấy từ giấy phép hoạt động của VPLS này, Ls. Luật dùng nó để nhận trách nhiệm bào chữa cho tám giáo dân xứ Thái Hà ‘làm khó’ lại nhà nước.

Tóm lại, bằng những loại tội danh hết sức ‘vô duyên’ chính quyền CSVN quyết tâm nhổ bỏ cho bằng sạch tất cả những ai dám ‘lợi dụng dân chủ’ để ‘bắt bí’ họ khi biết cách khai thác tử huyệt của chế độ đó là sự gian dối khiến họ phải bẽ mặt với thế giới.

Chúng ta có thể xem đây như là những qui luật tất yếu của thời hậu XHCN khi chính quyền phải đối mặt với những hậu quả do chính họ gây ra trước kia. Ở đây là chuyện đài THVN và tờ HàNội Mới của đảng bị các giáo dân Thái Hà kiện vì thói quen ăn ngược nói ngạo lâu nay.

Càng lâm vào ngõ cụt, chó dữ sẽ cắn càng đau. Bất cứ ai bị đặt trong tầm ngắm của chính quyền rồi thì từng mili-giây đời tư của họ sẽ được một nhóm ‘chuyên gia’ bơi móc đời tư nghiên cứu kỹ lưỡng. Đã là con người rất khó ai có thể hoàn hảo, ‘bới lá’ mãi thế nào cũng có lúc họ tìm thấy sâu.

‘Cháy nhà lòi mặt chuột’, vụ đánh phá VPLS Pháp Quyền của Ls. Luật chỉ khiến mọi người thêm thất vọng. Bản chất ‘nói một đàng làm một nẻo’ của cộng sản dường như sẽ là bất di bất dịch. Xưa cũng như nay, bao cấp hay đổi mới, mỗi khi phải đối mặt với sự thật, thái độ của họ vẫn không có gì thay đổi, vẫn chỉ là lối ‘thoát hiểm’ bằng những con đường lươn lẹo và bằng… cửa hậu!

Tuy nhiên trong chuyện này có vẻ như vì quá giận Ls. Luật mà chính quyền đã mất khôn. Giải pháp ‘đánh hội đồng’ VPLS xét cho cùng chỉ có giá trị ‘giận cá chém thớt’ không hơn không kém. Bởi cho dẫu họ có cố moi móc cho bằng được lý do ‘chính đáng’ để xoá sổ VPLS Pháp Quyền và thu hồi giấy phép hành nghề đối với Ls. Lê Trần Luật thì vụ kiện đài THVN và Báo Hà Nội Mới với tội danh ‘vu khống’ của các giáo dân Thái Hà càng khiến họ không thể vì thế mà dừng lại nếu không muốn bị hiểu là vì bị “kẻ xấu xúi giục”.

Hơn nữa sai lầm của hai cơ quan truyền thông khi đưa tin về phiên tòa đã quá trắng trợn. Bản tin vu khống “giáo dân đã cúi đầu nhận tội” nay đã bay đi khắp thế giới. Với tang chứng vật chứng rành rọt bằng cả audio lẫn text các giáo dân đang có trong tay, việc tranh luận tại tòa nay gần như chỉ còn xoay quanh hai chữ ‘Yes’ hoặc ‘No’. Một phiên tòa lập ra chỉ để xác nhận bấy nhiêu thì tám giáo dân Thái Hà, tự mỗi người đã là có thể một luật sư giỏi tự bào chữa cho mình và để cùng nhau buộc hai cơ quan truyền thông nọ phải “cúi đầu nhận tội” ngược lại, vì không thể chối cãi đằng nào được nữa.

Đây là ‘ván cờ’ quá khó đối với chính quyền. Chính vì không thể để việc này xảy ra nên họ đang tìm mọi cách vùi dập vụ kiện. Bên cạnh chơi trò cù nhầy thủ tục ‘hành là chính’ nay họ đánh phá luôn VPLS Pháp Quyền của Ls. Luật với hy vọng gia tăng thêm áp lực với các cha giáo xứ Thái Hà, liệu có nên tiếp tục vì bổn đạo mình mà làm khổ liên lụy đến vị luật sư?

Tóm lại, đằng sau việc đánh phá VPLS Pháp Quyền bức thông điệp chính quyền muốn gởi cho xứ Thái Hà hết sức rõ ràng: “làm khó nhau bấy nhiêu đã là quá đủ, chúng tôi đã hiểu… và xin quí vị hãy từ bỏ vụ kiện!!!.”

Cho dẫu vụ kiện kết cục ra sao chắc chắn nó sẽ trở thành là bài học ‘nhớ đời’ đối với Đài THVN và tờ Hà Nội Mới cũng như tất cả những báo đài khác khi nhận lệnh chỉ đạo của đảng khi đưa tin về những vụ việc tương tự như Thái Hà phải cân nhắc thận trọng nếu không muốn tự mình đút đầu vào rọ!

Vụ kiện của tám giáo dân Thái Hà có thể sẽ được ghi nhận như một trong những bước đi quan trọng đầu tiên của VN trên con đường tiến về đích ‘xã hội dân chủ’.

Sàigòn, 27/2/2009
Alfonso Hoàng Gia Bảo

Đồng Congo và bauxite Viet Nam

Ngô Nhân Dụng.

Trên một chuyến xe buýt đi ra phi trường Quảng Châu tuần trước, tôi tới ngồi kế bên một thanh niên Phi Châu ăn mặc rất lịch sự. Sau khi chào hỏi nhau bằng tiếng Anh, người bạn đồng hành tự giới thiệu anh từ nước Congo sang Trung Quốc du học một ngành mới về tin học. Anh đang trên đường đi Thượng Hải gặp bạn bè cùng quê ở Congo, trong dịp các trường còn nghỉ Tết Nguyên Ðán. Anh ngưng nói chuyện với tôi nhiều lần để trả lời điện thoại di động. Có lúc anh nói điện thoại với cùng một người bằng hai thứ tiếng, tiếng phổ thông (quan thoại) của người Trung Hoa, và tiếng Pháp.

Khi hỏi thăm đến nước Congo của anh ra sao sau những cuộc chiến tranh gần đây, anh được dịp đả kích chính sách của chính phủ Mỹ, mà anh coi là thủ phạm gây ra những xung đột chết người đó.

Chỉ một lát sau, anh bắt đầu nói đến vai trò của Trung Quốc. Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Pháp cho kín đáo. Anh bạn Congo thổ lộ: Không biết người Trung Hoa họ sang Phi Châu làm gì mà đi đông thế? Anh nhấn mạnh: “Họ không chỉ tới các thành phố lớn đâu! Ở xứ tôi, họ đi tới từng làng một! Tới cả những làng trong miền rừng núi mà chính chúng tôi chẳng ai muốn tới nữa!” Anh vươn vai, quơ tay, thắc mắc hỏi: “Ðể làm gì? Ðể làm gì ở đó?”

Họ đi tìm quặng mỏ, chỉ có lý do đó thôi, anh sinh viên Congo này không biết hoặc không nhớ. Hai chính phủ Congo và Trung Quốc năm ngoái đã ký kết với nhau cho phép Trung Quốc khai thác những mỏ kim loại tới khoảng 10 triệu tấn đồng (copper) và 400 ngàn tấn cobalt, đổi lại Trung Quốc sẽ trao ngay cho chính phủ của Tổng Thống Joseph Kabila 3 tỷ đô la Mỹ, rồi sau 3 năm sẽ thêm hai đợt mỗi lần 3 tỷ nữa, trong đó sẽ xây dựng cho Congo gần 4 ngàn cây số đường sắt, hơn 3000 cây số xa lộ, 32 bệnh viện, 2 đại học, và hàng trăm phòng khám bệnh. Các kỹ sư Trung Quốc đang đi cùng các phụ tá người Congo đi khắp nước, mang theo máy GPS định vị trí bằng vệ tinh nhân tạo, và vẽ bản đồ. Trung Quốc cũng sẽ đi tìm và khai thác kim cương, uranium, măng gan, thép và tantalum, một thứ kim loại dùng trong những điện thoại di động và máy vi tính xách tay (laptop). Congo là một nước có diện tích lớn hơn vùng Tây Âu nhưng lợi tức theo đầu người chỉ có 714 đô la một năm; một nửa dân số 56 triệu người chưa có nước sạch để dùng hàng ngày. Tổng Thống Kabila cầm đầu một chế độ được gọi là “kleptocratic,” độc tài đạo tặc.

Tuy là một nước độc tài nhưng ở Congo vẫn có những người dám đưa ra tiếng nói độc lập. Thỏa ước giữa hai chính phủ Congo và Trung Quốc đã bị giới tranh đấu cho nhân quyền ở Congo phản đối, họ đòi phải đưa ra cho công luận phán xét trước khi thi hành. Luật sư Georges Kapiamba ở Katanga lên án bản thỏa hiệp sơ khởi này là “hoàn toàn tối ám” (totally opaque), cho phép Trung Quốc tận dụng tài nguyên xứ này không khác gì quyền khai thác của các công ty mỏ nước Bỉ khi còn cai trị Congo như một thuộc địa. Các công ty Trung Quốc sẽ được miễn đủ các thứ thuế và quan thuế, cho tới khi việc xây cất hoàn tất.

Với giá các kim loại có triển vọng sẽ còn lên vì nhu cầu gia tăng trên thế giới, các nhà kinh tế Congo đã tính ra Trung Quốc có thể được lợi tới 42 tỷ mỹ kim trong công việc khai thác này, mà vốn đầu tư khai mỏ của Trung Quốc chỉ là 2 tỷ đô la. Người Trung Quốc đã sang Congo đông đảo, đến nỗi có lúc chính quyền tỉnh Katanga giầu quặng mỏ đã trục xuất 600 người Tầu vì họ ở lậu không có phép cư trú. Một người Trung Quốc đã bị bắt ở phi trường khi thấy mang trong túi một miếng đá có quặng mỏ.

Tôi không có dịp nói với anh sinh viên người Congo về những dữ kiện và số liệu trên, nhưng anh có thể vào Google tự tìm lấy được. Tôi chợt nhớ đến anh sau khi đọc bài tường trình của Gia Ðịnh về việc khai thác quặng bô xít (bauxite) ở Việt Nam, đăng trên Nhật Báo Người Việt trong hai ngày trước đây.

Trung Quốc đang hợp tác với một số công ty quốc tế khai thác quặng mỏ bauxite ở vùng Ðắc Nông, cao nguyên miền Tây Trung phần Việt Nam. Tháng Sáu năm 2008 ông Nông Ðức Mạnh sang Bắc Kinh đã ký giấy chấp nhận cho công ty Chalco của Trung Quốc đứng cái vụ khai thác này.

Nhưng họ đã chú ý đến quặng bauxite ở nước ta từ lâu. Ngày 1 Tháng Tám năm 2005, Trung Quốc Nhật Báo (China Daily) đã đăng một bản tin về tài nguyên bauxite ở Việt Nam. Bản tin cho biết vùng Tây Nguyên có 7.9 tỷ tấn quặng bauxite dự trữ. Cộng với 120 triệu tấn ở Cao Bằng, Lạng Sơn và các vùng khác thì nước Việt Nam có hơn 8 tỷ tấn bauxite có thể khai thác. Trong bản tin đó cũng so sánh hiện nay số quặng bauxite dự trữ cao nhất thế giới là ở Guinea, 8.6 tỷ tấn, rồi tới Úc Châu (7.4 tỷ) và Brazil (4.9 tỷ). Nếu Trung Quốc khai thác được bauxite ở Việt Nam, nước Việt Nam sẽ được ghi vào đứng hạng thứ nhì trên thế giới, chỉ thua Guinea.

Như trình bày trong bài của Gia Ðịnh, các chuyên gia Việt Nam, trong đó có cả những người đang làm việc trong Tập Ðoàn Công Nghiệp Than và Khoáng Sản Việt Nam (TKV) đã lên tiếng phản đối việc cho phép Trung Quốc khai thác mỏ bauxite ở cao nguyên Trung phần. Ngoài ra còn những lời phản đối của giới trí thức, văn nghệ, vì những tai hại của công trình khai mỏ này. Những tai họa sẽ giáng xuống trên môi trường sống, trên mặt xã hội và văn hóa, gây tai hại cho nông nghiệp, cho lâm sản, làm cạn nguồn nước, và làm đất đai nhiễm độc không những ở Tây Nguyên mà còn lan xuống tới cả vùng đồng bằng ven biển miền Trung. Khí hậu miền Trung sẽ thay đổi; miền Tây nguyên sẽ thiếu nước, thiếu điện thì các nông trường cà phê, trà, cao su sẽ gặp khó khăn; lớp đất mầu sẽ bị nước cuốn trôi ra biển; hạn hán sẽ kéo dài hơn, và lụt lội sẽ thường xuyên và tàn bạo hơn. Còn rất nhiều tai họa khác nữa.

Trong số những người đã lên tiếng có Tiến Sĩ Nguyễn Thành Sơn, nhà văn Nguyên Ngọc, giáo sư Ðào Công Tiến và Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp. Như đã trình bày trong mục này trước đây, ông Giáp mới viết thư can ngăn Nguyễn Tấn Dũng không nên cho khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Vì chính ông Giáp đã đứng đầu việc nghiên cứu khả năng khai thác bauxite ở đây gần 30 năm trước, khi khối COMECON (hợp tác kinh tế giữa các nước cộng sản Ðông Âu và Nga) có kế hoạch đó. Sau cùng dự án của COMECON bị hủy bỏ, theo lời ông Giáp, vì các chuyên gia COMECON thấy những nguy hại cho môi trường sống quá lớn so với những lợi ích kinh tế.

Tại sao Trung Quốc có thể chấp nhận một dự án kinh doanh mà khối COMECON đã phải bỏ vì thấy không có lợi? Vì việc khai thác bauxite ở Tây nguyên hoàn toàn có tính cách sơ đẳng. Theo ông Nguyễn Thành Sơn, công ty khai thác chỉ đào quặng mỏ lên, biến chế thành chất alumina, rồi alumina được chuyên chở ra nước ngoài để tạo thành nhôm. Khúc đó mới là khúc sinh lợi, người nước ngoài sẽ hưởng.

Cách khai thác như vậy khiến cho chi phí chuyên chở là một khoản chi tiêu rất lớn, nhất là vào thập niên 1980 khi khối COMECON và Liên Xô còn yếu về hàng hải thương thuyền và không sẵn bến cảng trong vùng nước ấm. Cứ 4 tấn quặng bauxite thì tạo được 2 tấn alumina, từ đó làm ra một tấn nhôm. Cho nên việc chuyên chở alumina từ Việt Nam qua vùng Hắc Hải và biển Caspian bên Nga gây tốn phí; khiến hồi đó khối COMECON không muốn khai thác bauxite ở Việt Nam nữa.

Nhưng hiện nay Trung Quốc ở sát bên nước Việt Nam, và kỹ thuật vận tải của loài người đã tiến bộ, giảm được rất nhiều chi phí. Cùng lúc đó, Trung Quốc đang có chiến lược tấn công tất cả các nước Á Châu, Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh để tìm tất cả các loại quặng mỏ kim loại, dầu lửa, vàng và kim cương, vân vân mà họ có thể mua được. Năm 2007 nước Mỹ mua 22% số dầu lửa xuất cảng của châu Phi, còn Trung Quốc mua 28%. Trung Quốc ủng hộ các chế độ độc tài diệt chủng ở Sudan vì mua 60% số dầu lửa xứ này bán ra ngoài. Họ bảo vệ nhóm quân phiệt ở Myanmar vì đây là nơi họ được quyền khai thác gỗ quý, đá, lúa gạo và ngọc thạch.

Trung Quốc lại đang lo bảo vệ tài nguyên khoáng sản trong nước họ, cho nên càng cần phải tìm thêm ở bên ngoài. Giáo sư Chen Qiyuan (Trần Khải Nguyên) thuộc Ðại học Trung Nam ở thành phố Tràng Sa đứng đầu một chương trình mang số 973 chỉ nghiên cứu việc đi tìm nguyên liệu khoáng sản. Ông cho biết các mỏ đồng của Trung Quốc chỉ còn hoạt động được 12 năm nữa thôi, nếu tiếp tục khai thác theo nhịp độ hiện nay. Mỏ kẽm còn được 18 năm và mỏ kền sẽ tồn tại được 40 năm rồi hết. Cho nên Trung Quốc phải nỗ lực đi tìm các nguồn cung cấp mới. Hiện nay họ sử dụng 30% số kẽm, 25% số chì và 25% số nhôm của cả thế giới.

Trung Quốc chú trọng đến việc xây dựng nhiều nhà máy thép và nhôm trong chiến lược phát triển của họ. Năm 2004 Trung Quốc sản xuất 6.7 triệu tấn nhôm, năm 2008 đã lên trên 13 triệu tấn, và còn lên nữa. Cho nên họ sẵn sàng trả bất cứ giá nào, mua chuộc, hối lộ bất cứ ai để đạt mục đích tăng sản xuất, giữ việc làm cho công nhân. Các công nghiệp tại Trung Quốc cũng ngày càng sử dụng nhiều nhôm hơn. Năm 2002 họ dùng 4.3 triệu tấn nhôm, năm 2005 dùng 6 triệu tấn, và dự trù đến năm 2010 sẽ dùng tới 8.8 triệu tấn.

Nhưng Bắc Kinh vẫn phải tìm tài nguyên ở nước ngoài vì họ cũng đang đóng cửa nhiều mỏ bauxite trong nước, khi chúng gây tai hại cho dân Trung Quốc. Tháng Hai năm ngoái, Trung Quốc ký một thỏa hiệp khai thác bauxite ở cao nguyên Boleven, tỉnh Champassack thuộc nước Lào, ba tháng trước khi bắt tay với các ông Nông Ðức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng để bước vào Tây nguyên Việt Nam. Trong bản tin chính thức VNN của chính quyền Việt Nam, khi loan tin ngày 17 tháng 12 năm 2008, cho phép Trung Quốc khai thác mỏ bauxite ở hai huyện Quảng Yên và Phúc Hòa, tỉnh Cao Bằng, đã tiết lộ rằng “Gần đây Trung Quốc đã đóng cửa một trăm mỏ bauxite vì những ảnh hưởng ô nhiễm tai hại môi trường nghiêm trọng.” Bài tường trình của Gia Ðịnh trong tuần qua trên Nhật báo Người Việt cũng cho biết mỏ bauxite ở Nhữ An, Trung Quốc đã đóng cửa sau một năm hoạt động, vì nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề, sinh ra nhiều chứng bệnh lạ.

Nhưng Trung Quốc sẵn sàng khai thác bauxite ở Việt Nam, một nguồn tài nguyên mà họ đã chú ý tới từ lâu. Cũng như họ đã nhắm vào những mỏ đồng, mỏ cobalt, tantalum ở xứ Congo. Tại Congo, cũng như tại Việt Nam, đã nhiều nhà trí thức lên tiếng báo động về việc chính quyền bán rẻ tài nguyên quốc gia cho Trung Quốc. Luật Sư Kapiamba đã yêu cầu thành lập một ủy ban các luật gia độc lập người Congo để nghiên cứu và thẩm định giá trị của những hợp đồng ký kết giữa nhà độc tài Joseph Kabila và chính quyền Bắc Kinh. Không biết sau khi lên tiếng phản đối, các nhà trí thức Việt Nam có khả năng thành lập một ủy ban điều tra độc lập về vụ bán tài nguyên của dân tộc cho nước cộng sản láng giềng phương bắc hay không?

Năm ngoái khi Trung Quốc thành lập quận Tam Sa ở tỉnh Hải Nam để chính thức hóa chủ quyền của họ trên các quần đảo của nước ta ngoài biển Ðông, người Việt ở trong nước và ngoài nước đã gây một phong trào phản đối. Lúc đó không ai chú ý đến cuộc đột kích khác của Trung Quốc đem mấy trăm chuyên viên kỹ thuật âm thầm tiến vào Tây Nguyên khai thác mỏ bauxite! Nhà thơ Bùi Minh Quốc thống thiết báo động “diễn biến hòa bình” của cộng sản Trung Hoa nhằm chiếm trọn Hoàng Sa và Trường Sa; ông cũng quên không nhắc đến việc họ tiến chiếm những mỏ bauxite ở Ðắc Nông và Cao Bằng. Rõ ràng là các đồng chí Trung Quốc đã dùng mẹo “dương Ðông kích Tây!”

Khi một nước đặt dưới quyền cai trị của một đảng độc tài, chỉ cần nắm đầu được đảng đó là nắm vận mạng quốc gia của họ. Bao giờ chấm dứt chế độ độc tài thì mới bảo vệ được chủ quyền và tài nguyên của dân tộc. Người Congo cũng thông minh như người Việt Nam, cả hai đều biết như vậy! Vậy bao giờ chế độ độc tài mới chấm dứt? Có thể người Congo sẽ đi trước người Việt Nam!

Ngô Nhân Dụng


Saturday, February 28, 2009

NHƯ ÁNH BÌNH MINH XUA TAN ĐÊM TỐI

Như hơi thở hiền hòa của Mẹ Âu Cơ trong huyền sử Việt
Như dòng máu kiêu hùng của 18 đời Vua Hùng từ bốn năm nghìn năm dựng và giữ nước xa xưa

Như giữa cơn đại hạn gặp được những hạt mưa
Tiếng nói của Sinh Viên Yêu Nước từ quê nhà như tia sáng cuối đường hầm tăm tối


Tiếng nói ngân vang từ xa xăm nguồn cội
Bắt nguồn từ Động Đình Hồ với Cha Lạc Mẹ Âu
Từ nghĩa đồng bào “một bọc trăm trứng” minh triết thâm sâu
Từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau một dãi giang san cẩm tú


Tiếng nói đó như những giọt sương long lanh bên rừng hoa héo rũ
Như những tia nắng bình minh chấm dứt đêm trường
Như những anh hùng can đảm đứng dậy giữa hỗn loạn nhiễu nhương
Như những hậu duệ Vua Hùng đang nối gót tiền nhân đi làm lịch sử


Dưới vực thẳm suy vong, tiếng nói này thăng hoa đến tột cùng ngôn ngữ
Bởi từng chữ được viết bằng máu, nước mắt, trí tuệ lẫn con tim
Tiếng nói mà trọn tuổi thanh xuân ta đã mòn mõi kiếm tìm
Từ Tháng Tư Đen ngày non sông sa vào tay giặc đỏ


Ôi! Tuổi trẻ Việt Nam ơi!
Hơn 30 năm lạc loài như đàn ong vỡ tổ
Mất quê hương ngay trên đất nước mình
Trước mặt mịt mù, sau lưng chẳng niềm tin
Phải nuốt hận nín thinh nhìn bầy kên kên dày vò thân xác Mẹ


Non nửa thế kỷ đồng bào ta lầm than nô lệ
Vong bản – Vong thân – Thất quốc – Lưu vong
Triệu triệu mảnh đời như lục bình trôi giạt trên sông
Ta đã sống, phải sống những chuỗi ngày tủi nhục


Sinh Viên Yêu Nước!
Tiếng nói đó như cành lan đẹp huy hoàng trên cành gỗ mục
Như những cánh én âm thầm, nhẫn nại đi dựng lại mùa Xuân
Vun vén niềm tin giữa ngỗn ngang nghi kỵ, chồng chất gian truân
Sẽ là ánh binh minh xua tan đi đêm tối


Hỡi tiên tổ anh linh!
Hỡi hồn thiêng sông núi!

Hãy độ trì cho tuổi trẻ Việt Nam giữ vững lửa đấu tranh
Mạnh bước lên đàng “lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh” (1)
Giành lại Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền cho đồng bào non song Việt


Từ Đà Thành
(02/27/09)

(1) Hai câu thơ "Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh" trong bài Quá Linh Đinh Dương của Văn Thiên Tường đời Tống. Người ở đời chẳng ai mà không chết, phải làm sao lưu lại tấm lòng son soi trong sử xanh. Cụ Nguyễn Công Trứ đã dung hai câu nay trong bài thơ Chí Làm Trai.


Chuyện Giáo Xứ An Bằng sắp nổ lớn

Cộng Sản Việt Nam lại chuẩn bị đàn áp thêm một Giáo xứ nữa. Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam ở tỉnh Thừa Thiên - Huế lại ra lệnh giáo dân ở An Bằng phải tháo gỡ đài Thánh Giá giáp An Bắc, nếu không xã sẽ tổ chức lực lượng cưỡng chế. Bài viết Chuyện Giáo Xứ An Bằng sắp nổ lớn sẽ cho ta một bức tranh rõ nét về tin tức thời sự nóng hổi này.

Friday, February 27, 2009

Vụ kê biên tài sản quái gở





















































































































































































































































































8 giờ 10 phút ngày 25/2/2009, tôi vừa từ trong nhà vệ sinh bước ra thì nghe phía trước Văn phòng có tiếng lao xao, ồn ào, không hiểu có chuyện gì. Tôi đi ra thì thấy có rất đông người lạ mặt đang đứng đầy tại bàn tiếp khách phía trước. Tôi thấy một bà béo khoảng 50 tuổi, mặt mày cau có, gằm gằm, giọng nói chua loét eo éo, mặc đồng phục Thi hành án, đeo bảng tên Nguyễn THị Hạnh - Chấp hành viên quận Gò Vấp (SG). Bà béo đang đọc oang oang cái gì đó, phải mất vài phút sau tôi mới hiểu bà đọc cái Quyết định cưỡng chế thi hành Quyết định thi hành án. Tôi hỏi kỹ lại đó là vụ gì, hóa ra là để thực hiện Quyết định công nhận hòa giải thành của Tòa án quận Gò Vấp, nội dung là cưỡng chế thi hành (tức thu giữ) 42 triệu đồng đối với ông Lê Trần Luật - Trưởng Văn phòng Luật sư Pháp Quyền. Lúc này trong Văn phòng có Luật sư Hùng, Luật sư Đạt, 2 nhân viên khác, Bác sĩ Lê Trần Luân (anh ruột ông Luật) và tôi.Quy trình thi hành án hoàn toàn trái pháp luậtLuật sư Hùng chất vấn bà Hạnh rằng chị đã tống đạt hợp lệ Quyết định tự nguyện thi hành cho ông Luật chưa thì bà Hạnh nói rằng đã giao quyết định cho 1 người tên Nhung (?!). Cần phải nói rõ là người này không phải người trong gia đình ông Luật, nên việc giao quyết định cho người không liên quan gì là trái với điểm A, khoản 2, Điều 34 Pháp lệnh thi hành án dân sự. Tuy nhiên, chúng tôi cũng chỉ nghe bà Hạnh nói thế, mà yêu cầu bà cho xem biên bản tống đạt thì bà từ chối. Lẽ ra, nếu không gặp ông Luật để tống đạt, bà Hạnh phải gởi các lại quyết định, thông báo cho đương sự bằng đường Bưu điện, 2 lần đăng (hoặc phát) trên báo, đài (điểm c, khoản 2 Điều 34) nhưng bà không hề thực hiện đúng quy trình.Luật sư Hùng lại hỏi tiếp bà Hạnh rằng Thông báo cưỡng chế ký ngày 16/2/2009 này bà Hạnh đã tống đạt hợp lệ cho ông Luật chưa thì bà Hạnh nói rằng bà có đến Văn phòng Luật sư nhưng Văn phòng đóng cửa. Tôi nghe vậy mới hỏi tiếp: "Ngày 16 là thứ mấy vậy chị?". Bà Hạnh trả lời: "Thứ Hai". Tôi nói tiếp: "Ngày nào em cũng mở cửa Văn phòng, không hề nghỉ làm việc ngày nào sao em không thấy chị đến, cũng không thấy có niêm yết?". Bà Hạnh dấm dẳng: "Cái đó tôi không biết. Tôi đã niêm yết rồi". Tôi hỏi tiếp: "Chị niêm yết hồi nào? Ở đâu vậy?". Bà Hạnh trả lời: "Tôi niêm yết ngày hôm qua, ở đây?". "Ở đây là chổ nào?". Bà Hạnh lại lặp lại: "Cái đó tôi không biết". Rồi bà đột nhiên nổi cáu: "Ở đây ai là nhân viên Văn phòng này?". "Là chúng tôi đây" - Ba bốn người cùng trả lời. "Vậy giấy ủy quyền đâu? Thẻ nhân viên đâu? Tôi không thừa nhận các anh chị là nhân viên, không cần làm việc với các anh chị". Trời đất ơi, chính miệng bà Hạnh nói bà mới niêm yết ngày hôm qua mà đòi giấy ủy quyền? Ông Luật đang ở Hà Nội làm sao ủy quyền được? Văn phòng Luật sư chớ có phải cơ quan nhà nước đâu mà có thẻ nhân viên? Bà Hạnh đòi hỏi mà không nhìn lại coi anh cán bộ nhà nước (sau này mới biết tên Phong) "lính" của bà đi công tác mà ăn mặc lôi thôi, không có nổi cái thẻ đeo trên cổ cho đúng quy định mà bà Hạnh cứ thích đòi hỏi những chuyện không tưởng để ra oai với chúng tôi chăng? Tôi nói: "Đây là Lê Trần Luân, anh ruột ông Luật, vậy ông Luân đại diện cho ông Luật". Bà Hạnh lớn tiếng: "Tôi không biết ông này là ai, tôi không làm việc với người này". Mọi người ngạc nhiên: "Vậy chị vô đây làm việc với ai?". Tôi xen vào: "Mục đích của chị là muốn thi hành 42 triệu đồng chớ gì. Bây giờ em nộp chị 50 triệu đồng đây. Chị cứ kê biên khoản tiền này". "Tiền vẫn còn niêm phong của Ngân hàng, có ghi rõ trên giấy nè". "Tôi không nhận tiền vì tôi chưa tính phần lãi suất". "Thì ở đây là 50 triệu, dư so với quyết định rồi, chị cứ thu giữ 50 triệu, lãi suất tính sau". Bà Hạnh gạt ngang: "Tôi không nhận tiền, tôi không đếm nên không biết bao nhiêu tiền". Thật ngạc nhiên, trên đời này đi thu tiền thi hành án mà chê tiền thì chỉ có duy nhất bà Chấp hành viên Nguyễn Thị Hạnh này, nếu mắt bà không có vấn đề bất thường, nếu bà biết đọc chữ thì bà không cần đếm mà nhìn tờ giấy in Ngân hàng dán trên cục tiền cũng biết cục tiền đó là bao nhiêu triệu. Khi tôi hỏi "Tại sao chị đến đây thi hành án 42 triệu đồng mà tôi đưa 50 triệu chị không lấy là sao?". Bà Hạnh trả lời: "Tôi chưa tính được số tiền lãi". Rồi bà giục 2 thanh niên mặc thường phục (không có bảng tên) đi cùng bà gom các bộ máy vi tính lại.Người thanh niên mặc áo hồng xám xám đòi lên "kiểm tra" luôn các phòng trên lầu. Tôi cáu tiết lên nói: "Trên đó phòng ngủ của tôi, anh muốn vô phòng ngủ của tôi sao?". Anh ta đứng sựng sựng ấm ớ không trả lời được.Bà Hạnh chỉ huy cho "lính" bà đi gom 5 bộ máy tính trong Văn phòng lại và niêm phong. Điều làm tôi hết sức ngạc nhiên là họ tự ký tên lên giấy niêm phong rồi dán lên, không hề đưa cho người đại diện đương sự ký, và dán bên hông máy một cách sơ sài. Tôi thấy vậy mới nói:"Tôi đề nghị chị niêm phong kín lại, giấy niêm phong sao không đưa cho tôi ký vào. Các anh chị tự ký dán vô rồi mang về các anh chị xé ra thay đổi linh kiện trong đó rồi các anh chị dán lại ai mà biết được. Niêm phong mà các cổng, đầu cáp không niêm lại, thì các anh chị cắm cáp vào rút bớt dữ liệu hay thêm vào cái gì đó thì sao?". Bà Hạnh làm thinh như không nghe tôi nói gì.Dán giấy xong, họ viết biên bản rồi yêu cầu tôi ký mà lại không cho ông Luân đại diện gia đình. Tôi lặp lại yêu cầu niêm phong lại bộ máy vi tính đúng quy định như đề nghị của tôi lúc nãy nhưng bà Hạnh cứ làm thinh như điếc không nghe tôi nói gì. Ông Luân thắc mắc thì được bà Chấp hành viên phang cho ông Luân một câu:"Tôi không biết gia đình nào hết".Lại thêm điều quái lạ nữa, rõ ràng, một người "già lão" như bà Hạnh không thể không biết nguyên tắc niêm phong tài sản để không bị dịch chuyển giá trị là như thế nào, càng không thể nói bà không biết gì về khoản 3 Điều 6 Pháp Lệnh thi hành án, Điểm 2.2 Công văn số 404/TP-THA ngày 24/02/2005 của Bộ Tư pháp hướng dẫn nghiệp vụ thi hành án dân sự. Diễn biến sự việc cho thấy bà Nguyễn Thị Hạnh cố ý gây khó khăn cho hoạt động thường nhật của Văn phòng bằng cách nằng nặc kê biên máy mà chê tiền. Chẳng biết họ cố tình niêm phong trái quy định như vậy để nhằm phục vụ cho âm mưu đen tối nào đây?Tôi yêu cầu bà Hạnh viết 2 biên bản và đưa cho tôi giữ mỗi thứ 1 bản. Bà Hạnh vội vàng khất để... từ từ làm sau.Thấy vậy, tôi ghi vào trang ba tờ biên bản kê biên như sau:- Tôi đại diện cho Văn phòng Luật sư Pháp Quyền nộp cho bà Nguyễn Thị Hạnh 50 triệu đồng còn nguyên niêm phong của Ngân Hàng Nông nghiệp nhưng bà Hạnh không đồng ý nhận tiền thi hành án.- Năm bộ máy vi tính được phía Thi hành án Gồ Vấp niêm phong sơ sài, không đưa giấy niêm phong cho tôi ký tên, giấy niêm phong dán bên ngoài thùng máy, vì vậy vẫn có thể mở máy ra được và cắm dây vào thùng máy để thêm hoặc bớt dữ liệu bên trong mà không để lại dấu vết. Tôi đã đề nghị niêm phong kín lại nhưng chấp hành viên Nguyễn Thị Hạnh không đồng ý.- Nếu sau này ruột máy vi tính bị thay đổi thì bà Nguyễn Thị Hạnh và Thi hành án Gò Vấp hoàn toàn chịu trách nhiệm. Dữ liệu bên trong máy bị mất hay bị thêm vào nhằm mục đích đen tối chúng tôi không chịu trách nhiệm. Tôi được biết mỗi bộ máy vi tính (gồm thùng CPU và màn hình tinh thể lỏng) trị giá khi mua là 15 triệu đồng.Trong biên bản tạm giữ đồ vật tài sản, trang 2, tôi ghi lại nội dung giống như biên bản kê biên tà i sản. Khi tôi lấy máy ảnh ra chụp lại biên bản thì bà Hạnh chồm tới giựt lại tờ biên bản. Tôi nắm tờ giấy giật lại và nói:" Tôi là người đại điện, tôi ghi vào đấy cái gì thì thôi chụp lại để báo cho ông Luật cho chính xác" thì bà Hạnh mới đứng im.Sự xuất hiện của nhiều kẻ lạ mặt hung hăngCũng trong lúc làm việc, bên trong và bên ngoài văn phòng xuất hiện nhiều người lạ mặt không biết họ tên gì, nhởn nhơ đi luồng tuông qua lại trong Văn phòng, kẻ thì miệng cười tí toét, kẻ thì tích cực chụp ảnh, quay phim, thậm chí chen vào ngồi cùng bàn với cán bộ thi hành án, ở trong nhà mà mắt đậy cái kính đen to tổ bố như ông thầy bói mù. Những người này họ rất hănghái quay phim, chụp ảnh toàn bộ nhân viên và quang cảnh trong, ngoài Văn phòng; nhưng khi bị tôi chỉa ống kính máy ảnh vào họ thì họ đều quy mặt đi chổ khác hoặc cúi gằm mặt xuống, tôi phải "canh me" mãi, nhanh tay lẹ mắt lắm mới chộp được cái bản mặt của họ vào ống kính. Ban đầu, bà Hạnh nói rằng họ là người của Thi hành án, sau khi lập biên bản tôi mới biết ngoài cô Nguyễn Thị Tuyết Hồng - cánbộ Tư pháp phường 7 (có đeo bảng tên), anh Đặng Phương Quang- CSKV (mặc quân phục) , cô Trần Thị Cẩm Anh - Kiểm sát viên (mặc đồng phục), số còn lại không có họ tên, đồng phục, chẳng biết họ thuộc cái loại nào mà được "ưu tiên" ngang nhiên như chốn không người như thế?.Trong khi đó, người quen của chúng tôi như: cô Thu Duyên, anh Phan Thanh Hải đến Văn phòng thì bị những kẻ lạ mặt mày bậm trợn hăm he đuổi đi chổ khác. Tôi cũng thấy xung quanh Văn phòng xuất hiện rất nhiều kẻ lạ đông đến bất ngờ. Quái gỡ hơn là họ quay phim chụp ảnh ào ào hình ảnh cá nhân người khác mà không thèm xin phép ai, còn Luật sư Đạt cầm cái máy ảnh của tôi chụp hình ngoài sân thì bị một lũ côn đồ 4-5 tên không biết ở đâu ra đe dọa "Mày coi chừng tao" và rượt chạy vào nhà, chúng còn xông vào trong sân nhưng bị xe máy dựng trong sân khá nhiều cản trở, vì vậy chúng không rượt kịp.Anh Phan Thanh Hải "kém may mắn" hơn nên bị 4 thanh niên bặm trợn mặc thường phục đã nắm kéo sểnh nhét vào xe Cảnh sát, đè mặt xuống sát sàn xe trước sự chứng kiến của nhiều người, rồi chiếc xe Cảnh sát hú còi lao inh ỏi đi như vừa bắt được tên tội phạm nguy hiểm vì nó đã dám chụp hình, quay phim cảnh thi hành án(?!).Cuối cùng, họ mang đi 5 bộ máy vi tính và 1 máy photocopy.
* * *Theo hướng dẫn của Cục Thi hành án, nếu trước khi kê biên mà đương sự nộp tiền thi hành án thì phải chấm dứt việc kê biên. Động thái chê tiền khó hiểu cùng sự cố ý niêm phong tài sản sơ sài trái quy định bất chấp đề nghị của người đại diện đương sự, gạt phắt người nhà đương sự ra ngoài của bà Chấp hành viên Nguyễn Thị Hạnh, xuất hiện nhiều kẻ lạ dùng bạo lực bắt người trái pháp luật... cho thấy đằng sau việc kê biên này là một âm mưu đen tối.
Tạ Phong Tần