Translate

Sunday, June 27, 2010

Nguyễn Thanh Ty: Gần bắn xa đâm!

Trích NguoiViet Boston
Phép trị nước từ thưở thanh bình, vua Nghiêu, vua Thuấn dùng âm nhạc để dạy dân. Đời sống nhân dân rất an bình, hiền hòa, ai nấy đều chăm lo cầy cấy, luôn hạnh phúc trong câu ca tiếng hát.

Đó là thuật chăn dân bằng nhạc gọi là Nhạc trị của bậc Đế. Gọi là Đế đạo.
Đến đời vua Vũ, vua Thang nhân tính có phần biến đổi, chán nghe âm nhạc, mãi mê săn bắn, thích giết thú lấy thịt để ăn hơn là chăm việc ruộng đồng. Tính tình trở nên hung hăng. Xã hội có phần rối loạn. Để thuần hóa lại nhân tính, hai vị vua này đặt ra Lễ, Nghi để dạy dân biết ôn nhu, kính trên nhường dưới, trên thuận dưới hòa, vãn hồi trật tự xã hội.
Đó là thuật vỗ về, chăn dân bằng Lễ gọi là Lễ trị của bậc Vương. Gọi là Vương đạo.
Đến thời nhà Chu, khoảng 390 TCN (trước Công Nguyên) thiên hạ đại loạn. Nước Tàu chia ra thành mười mấy nước nước lớn, nhỏ đua nhau tranh hùng, xưng bá, chém giết nhau liên miên, bất tận để cướp đất đai, của cải lẫn nhau. Ai mạnh thì được. Ai yếu thì bị diệt vong. Đế đạo, vương đạo không còn hiệu lực để vỗ yên trăm họ được nữa.
Lúc ấy, có một người nước Vệ, tài cao, túc trí đa mưu, tên là Công tôn Ưởng, sau đổi thành Vệ Ưởng, đề xuất ra một học thuật mới gọi là Bá đạo, giúp vua Tần Hiếu công, chấn hưng đất nước, lập nên nghiệp bá.
Thoạt đầu Tần Hiếu công không hiểu Bá thuật là gì. Ưởng giải thích:
-Bá thuật khác với Đế thuật và Vương thuật. Đế thuật, Vương thuật thì cốt thuận dân tình. Bá thuật tất phải trái dân tình mới được.
Tần Hiếu công lấy làm lạ, biến sắc mặt hỏi:
-Bá thuật cứ phải trái với dân tình mới được sao?
Ưởng nói:
-Đàn cầm, đàn sắt nghe không êm ái thì phải thay dây, gióng lại. Chính trị cũng thế. Không chỉnh, đổi lại, không được. Ngày xưa Quản Trọng giúp Tề Hoàn công đặt ra phép nội chính và phép quân lệnh, chia nước Tề thành 25 hướng, đổi hết pháp luật nước Tề, đâu có phải bọn tiểu dân vui lòng mà theo! Đến khi nước cường thịnh, thì dân mới biết Quản Trọng là bậc kỳ tài trong thiên hạ. (Bá thuật rất ép phê, mạnh và mau. Giống như công an bây giờ, sáng ra đứng đường thâu tiền mãi lộ. Chiều về rượu thịt ê hề, gái gú tươi mát phủ phê)
Tần Hiếu công nghe ra, mừng lắm, bèn phong ngay cho Vệ Ưởng chức thừa tướng, được toàn quyền định đoạt. Ai trái lệnh sẽ bị xử.
Vệ Ưởng liền soạn thảo “Pháp lệnh thất điều”. (Sử gọi đó là Biến pháp của Vệ Ưởng) Vệ Ưởng chưa dám tuyên bố vì sợ dân chúng không theo, bèn nghĩ ra một cách:
Ông cho dựng ở cửa Đông một cây cột mà ai cũng đủ sức vác, rồi cho lính rao:
-Ai mang cây cột này sang đặt ở cửa Bắc sẽ được thưởng 10 lạng vàng.
Mọi người đều nghi ngờ, vì nghĩ mình vác nó dễ dàng, chỉ sợ quan trên đánh lừa, nên không ai dám vác. Vệ Ưởng thấy vậy bèn tăng thưởng lên 50 lạng vàng. Có một kẻ nghèo liều mạng đến vác cây cột ra cửa Bắc. Người bu theo coi rất đông. Lập tức Vệ Ưởng thưởng 50 lạng vàng mà không có điều kiện gì. Ai nấy đều khen:
-Quan trên biết giữ lời!
Hôm sau, Vệ Ưởng lập tức tuyên bố “Biến pháp thất điều”. Bảy điều rất khắc nghiệt, cả Thái tử cũng phàn nàn:
-Thật là rắc rối cho thứ pháp luật này!
Hàng ngàn người tỏ ý tán đồng theo Thái tử đều bị trị tội. Vì Thái tử sau này nối ngôi nên không thể bắt tội. Thầy dậy học Thái tử là hai vị hoàng thân đều phải bị thích chữ vào mặt để trị tội thay. Ai nấy đều sợ hãi, tuân hành răm rắp.
Trong “Biến pháp thất điều”, điều thứ 7 là khắc nghiệt hơn cả.
Điều thứ 7- Cấm gian: Cứ năm nhà là một bảo, có bảo trưởng coi ngó. Mười nhà là một liên, có liên trưởng quán xuyến. Nếu một nhà có lỗi, chỉ cần một trong chín nhà không tố thì cả mười nhà đều bị chém. Ai tố cáo được một chuyện gian coi như chém được một đầu giặc.Chứa người có tội hoặc không có giấy tờ thì gia sản bị tịch biên hoặc tùy theo nặng nhẹ mà xử phạt.

Pháp lệnh thi hành trong 10 năm, dân Tần sống có nề nếp trật tự, ngoài đường không ai nhặt của rơi, trong xóm không có người gây gỗ, ẩu đã, trong núi không có trộm cướp. Nước Tần trở nên hùng mạnh. Các nước xung quanh đều tự đến xin thần phục.
Triệu Lương là người cùng thời với Vệ Ưởng, từng đến gặp và khuyên Ưởng nên từ quan bỏ đất (Ưởng được phong 15 ấp ở đất U, đất Thương, phong hiệu là Thương Quân nên gọi là Thương Ưởng) mới giữ nỗi mạng do pháp chế của ông quá nặng, lại có quá nhiều người oán ông. Ưởng không nghe vẫn làm quan. Sau khi Tần Hiếu công mất, Thái tử lên ngôi, tức Tần Huệ vương, lập tức ra lệnh bắt Ưởng, vu cho tội phản nghịch. Ưởng bỏ trốn nhưng không có giấy “Hộ khẩu” nên không ai dám chứa. Ưởng bị bắt và bị hành hình phân thây giữa chợ bởi năm con trâu. Trăm họ xúm lại tranh nhau ăn thịt, chỉ một lúc là hết.
Pháp lệnh và hình phạt này do Ưởng đặt ra và bây giờ Ưởng rước lấy. Gieo nhân gặt quả.
Đến đời Tần Thủy Hoàng, 259 TCN- 210 TCN, vị vua đầu tiên tóm thâu sáu nước chư hầu, thống nhất nước Tàu rộng lớn, đặt nền cai trị chính sách rất hà khắc, tàn bạo.
Chính sách này do thừa tướng Lý Tư đặt ra.
Năm 213 TCN, theo đề nghị của Lý Tư, Thủy Hoàng ra lệnh đốt sách và chôn nho: đốt hết các bản Tứ thư, Ngũ kinh và bách gia chư tử trong dân gian, chỉ giữ lại một bản tàng trữ trong thư viện của triều đình. Các bộ sử của lục quốc cũng phải đốt hêt, chỉ được giữ những sách về kỹ thuật, như sách thuốc, sách trồng trọt, sách bói… Kẻ nào không tuân lệnh mà lén lút giữ thì bị kết tội là phản quốc. Có người phải giấu sách vào trong tư tưởng, có người lại ráng học thuộc lòng thư và kinh để truyền miệng lại đời sau. Số nhà nho bị chôn sống ở Hàm Dương là 460 người. Sau mỗi ngày một đông, đều bị đày ra ngoài biển.Các trường tư bị dẹp hết. Dân muốn học thì phải học các quan (bác sĩ) của triều đình, mà chỉ được dạy cho mỗi môn là pháp luật của quốc gia.(Wikipedia)

(Sau tháng 4 năm 1975, Cộng sản Bắc Việt Nam cưỡng chiếm miền Nam xong cũng thi hành chính sách “Đốt sách, chôn học trò” như đời Tần, nhưng tinh vi hơn. Thay vì đi xây Vạn lý Trường thành, Cộng sản bắt giam cả triệu quân, cán, chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa vào rừng sâu, nước độc, bắt lao động khổ sai để làm ra của cải vật chất cho Đảng, lại bị bỏ đói, hoặc cho ăn rất ít để tù nhân kiệt sức, bị bệnh tật rồi chết dần, chết mòn.)

Tần Thủy Hoàng theo Pháp gia nên khuyến khích binh, nông, ghét công, thương. Muốn nắm hết mối lợi thương nghiệp, triều đình đày hết phú thương có những xưởng sản xuất sắt lại miền Thiểm Tây và miền Tứ Xuyên. Hai trăm ngàn gia đình phú thương, tiểu thương bị đày tại xứ Thục và miền An Dương (phía nam Lạc Dương ngày nay), hẳn là để làm ruộng.
Nông dân được ưu đãi. Đất không còn là sở hữu của nhà vua nữa, mà của người làm ruộng. Người chủ ruộng có quyển bán ruộng và ai cũng có quyền mua. Chế độ đó gọi là danh điền, tạo nên một giới địa chủ có những cơ sở rất lớn, dần dần thành một giai cấp có quyền hành tương tự như các chư hầu nhỏ thời trước.
(Cộng sản Việt Nam rập khuôn chính sách của Tần, nhưng tham và ác hơn Tần. Đảng diệt trừ công, thương xong, cướp luôn ruộng đất của nông dân mà ban đầu phỉnh gạt họ đứng lên “cướp chính quyền” nói là để lấy lại đất ruộng của địa chủ, phân chia cho nông dân. Nhưng khi cướp được rồi thì Đảng một tay thâu tóm quản lý)
Bạo chúa Tần Thủy Hoàng cũng chỉ ngồi được trên ngài vàng gần 40 năm rồi mất. Nước Tần lại bị suy vi. Bia đời sử sách chỉ còn ghi lại tiếng xấu:
“Tần Thủy Hoàng là một bạo chúa. Trong gần 40 năm ngồi trên ngai vàng, ông có nhiều hành động được cho là tội ác, đó là: Xây Vạn Lý Trường Thành, xây cung Lương Sơn , xây cung A Phòng, đốt sách, chôn học trò và xây lăng mộ cho riêng mình”.

Đến giữa thế kỷ thứ 19, năm 1848, có một du thuyết ở Vương quốc Phổ, thuộc Tây phương, tên Các Mác, là một lão râu xồm, trán hói, mắt cú, mũi diều hâu, nhiều tham vọng, xướng lên một học thuyết mới gọi là “Trường phái Mác Xít”. Phái này lấy “Đấu tranh giai cấp” để chống lại triều đình mà ông ta gọi là “chế độ tư bản” bóc lột giới công, nông. Mác hô hào lập ra “giai cấp vô sản công nghiệp”, làm sức mạnh để đi cướp chính quyền.
Các Mác là một du thuyết “bàng môn tả đạo”, giỏi dùng thuật ngữ xảo ngôn để lừa bịp giới công, nông ít học. Những lời lẽ trong bản “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” của ông ta cho rằng: “Lịch sử của tất cả các xã hội từ trước tới nay là lịch sử của “đấu tranh giai cấp” là một thứ xảo biện. Thật ra nó chỉ là “lợi dụng, tập hợp đám dân nghèo lại để đi cướp chính quyền”.
Mác còn chủ trương tam vô: vô thần, vô gia đình, vô tổ quốc. Mác gọi là thế giới đại đồng. Của cải tập trung vào tay một nhóm người, gọi là cộng sản.
Tư tưởng của Mác là chủ nghĩa duy vật biện chứng. Mác cho rằng, con người có thể quyết định vật chất qua việc sản xuất và con người cũng chỉ là một cổ máy sản xuất ra vật chất.
Cuối tháng 11/1842, Mác gặp Ph. Ăng Ghen người nước Đức, đang trên đường sang Anh, cũng là một du thuyết loại “bàng môn tả đạo”, có nhiều ý tưởng kỳ quái, lạ đời như Mác. Hai người trở nên bạn cùng chung lý tưởng và quan điểm trong tất cả mọi vấn đề lý luận và thực tiễn.
Mác bị Chính phủ Pháp trục xuất theo lời yêu cầu của Vương quốc Phổ, phải sang sống ở Bỉ. Năm 1848, cách mạng Pháp nổ ra, Chính phủ Bỉ lại trục xuất Mác. Mác cùng Ăng Ghen về Phổ thành lập tờ Nhật báo tỉnh Ranh để tiếp tục kêu gọi giới công, nông nổi loạn. Năm 1849, Chính phủ Phổ đóng cửa tờ báo và trục xuất Các Mác. Mác phải đi Luân Đôn sống ở đó đến cuối đời. Mác qua đời ngày 14 tháng Ba năm 1833.
Suốt đời Mác bị các nước xua đuổi, phải sống thang lang từ nước này sang nước khác, không thi thố được học thuyết của mình.
Chủ nghĩa Mác-Lê lại được Lênin ở Nga vận dụng tạo ra cuộc cách mạng giải phóng lớp công nhân thợ thuyền bị bóc lột và các dân tộc nhược tiểu bị áp bức. Lênin tổ chức Đảng Cộng sản Liên xô, tập hợp hầu hết giới thợ thuyền để thành lực lượng liều mạng đi cướp chính quyền.
Cung điện Mùa Đông Kremllin bị tấn công đêm 24 rạng 25 tháng 10. Lénin chiến thắng vào ngày 07 tháng 11, tuyên bố lập trật tự xã hội bằng sự tàn sát cũng như đày ải những ai không theo chủ nghĩa cộng sản. Vô thần và duy vật bắt đầu gieo rắc đau khổ cho nhân loại kể từ ngày 07-1-1917.
Lênin là người có dòng máu lai từ thời tổ tiên. Là người Nga nhưng ông ta có dòng máu của người Kalmyk qua ông nội, của người Đức Volga qua bà ngoại và của người Do Thái qua ông ngoại nên bản tính rất hung ác, giết người không ghê tay hay chớp mắt. Hồ Chí Minh rất tương đồng với Lênin chính ở điểm này nên lúc sinh thời, suy tôn Lênin như một ông thánh và cho lập tượng thờ ở Hà Nội. Nhưng người dân Hà Nội không biết Lênin là ai, mới có câu vè:
Lênin ông ở nước Nga,
Cớ sao ông đến vườn hoa nước này?
Ông ngửng mặt, ông chỉ tay,
Chủ nghĩa xã hội nước này còn lâu!
Lênin mất vào tháng 1 năm 1924.

Giới thân cận Lênin nói ông đã phải chịu đựng ba cơn đột quỵ liên tục để cuối cùng dẫn đến cái chết của ông. Nhưng chứng cứ mới được phát hiện cho thấy Lênin qua đời vì đã tửu sắc, dâm dục quá độ, chết vì căn bệnh lây truyền qua đường tình dục: giang mai…
Sau khi Lênin chết, Xít Ta Lin lên nắm quyền bính. Bản tính Xít Ta Lin còn hung tợn hơn cả Lênin, người dân Nga lúc bấy giờ xem y như là một con quĩ dữ, chuyên ăn uống máu người.
Trong những năm sau đó, hàng triệu người đã chết trong các cuộc thanh trừng tập thể và hàng triệu người khác đã chết vì đói và trong chiến dịch tập thể hóa nông nghiệp. Những cuộc bắt bớ tùy tiện và vụ di dân cưỡng bách các nhóm dân thiểu số đi đến những vùng xa xôi của Liên Bang Xô Viết làm xáo trộn đến tận gốc đời sống của nhiều người.
Thời kỳ Xít Ta Lin cai trị Liên Xô là một xã hội bưng bít, một xã hội thiên đường hoang tưởng, bắt đầu từ việc thần thánh hoá một cá nhân, thần bí hoá và không có cá tính hoá một cá nhân. Đó là tệ sùng bái cá nhân. Nếu ai đó bị ông ta coi là kẻ thù thì không thể thoát chết được. Nạn nhân của tệ sùng bái cá nhân là những tướng lĩnh công huân, những vị lãnh đạo lão thành, các chính trị – kinh tế gia tài giỏi. Cơ quan đàn áp của Xít Ta Lin ngụy tạo những chứng cớ về tội danh “Kẻ thù của nhân dân”, “tập đoàn phản cách mạng hoạt động chống Liên Xô” để tiến hành những cuộc tàn sát, thanh trừng bất chấp đạo lý phi nhân tính.
Hồ Chí Minh rất sùng bái Xít Ta Lin, muốn mình cũng sẽ được sùng bái như thế nên thẳng tay đàn áp phe Xét lại và phong trào Nhân văn Giai phẩm. Nhiều ngàn người đã bị chết hoặc tù đày trong thời gian này. Hồ tự mình viết sách ca ngợi, thần thánh hóa cá nhân mình, nhưng che dấu dưới cái tên già là Trần Dân Tiên và T. Lan. Hồ còn ra lệnh cho văn nô Tố Hữu (Bôn Lành) làm thơ ca tụng, nịnh bợ hắn ta lên tận mây xanh:
Xít Ta Lin! Xít Ta Lin!
Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Xít Ta Lin!

Thương cha, thương mẹ, thương chồng,
Thương mình thương một, thương Ông thương mười…

Ngược lại, người dân Nga rất ghê tởm và oán hận, căm ghét Xít Ta Lin đến tận xương tủy.
Ngày Xít Ta Lin vừa bị hạ bệ, nhân dân Nga reo mừng kéo nhau ra đường đập tan nát hết các tượng của Xít Ta Lin để trả thù, rửa hận.
Tổng thống Nga Dmitry Medvedev đã lớn tiếng chỉ trích những ai có ý định phục hồi vị thế của cựu lãnh tụ Xô viết Xít Ta Lin. Hàng triệu người dân Liên xô cũ chết dưới thời Xít Ta Lin và ông Medvedev khẳng định không có lời giải thích thỏa đáng cho hành động của những người lãnh đão huỷ diệt chính nhân dân mình…Ông Medvedev nói ông không thể tưởng tượng nổi quy mô đàn áp dưới thời Xít Ta Lin khi nhiều nhóm người bị tàn sát và thậm chí mất cả quyền được chôn cất.
Riêng ở Liên Sô: “Cách đây đúng 70 năm, trong giai đoạn 1937-1938, chế độ độc tài của nhà độc tài sắt máu Xít Ta Lin, mở đầu hàng loạt vụ bắt bớ, thủ tiêu và thanh trừng chính trị. Từ tháng 8-1937 đến tháng 10-1938, chỉ riêng trong nhà tù tại Uỷ ban An ninh quốc gia, chế độ Stalin đã bắn bỏ 20.760 người, trong đó có khoảng 1.000 người lãnh đạo tôn giáo. Giáo chủ giáo phận St.Petersburg Serafincũng bị giết vào thời gian này…Hơn 700 ngàn người bị giết. Theo Alexandr Solzhenitsyn, nhà văn đoạt giải thưởng văn học, có khoảng 60 triệu người đã bị chết trong chế độ Xô viết trong giai đoạn từ 1917 đến 1956…”(BBC online ngày 12-08-2007 )
Tại Trung Hoa, Mao Trạch Đông cũng áp dụng chủ thuyết Mác Lê để cướp chính quyền của Chính phủ Tưởng Giới Thạch, mở ra một giai đoạn lịch sử tàn ác, ghê tởm nhất, máu người dân Trung Hoa đã chảy thành sông.
“Đặc biệt là cuộc Cách mạng Văn hóa đã làm đổ máu hàng 10 triệu người mà tiêu biểu nhất là ông Lưu thiếu Kỳ, ông Bành đức Hoài, nguyên soái Hạ Long đã bị đối xử một cách tàn khốc, bị đọa đày, bị bắt phải quỳ xuống, bị đánh đá hộc máu. Gọi Cách mạng Văn hóa mà không có một tí gì văn hóa cả…
”(RFA online ngày 14-02-2008)
Trong phong trào Đại Nhảy Vọt năm 1958, ước tính 30 triệu người đã chết đói…
Mao Trạch Đông sinh năm 1893 chết năm1976. Mao nắm giữ chức Chủ tịch Đảng cộng sản Trung Quốc nhiệm kỳ từ 1943 đến tháng 9/ 1976.
Thành tích giết người lớn nhất của Mao là “Bước nhảy vọt Văn hóa”:
“Bước nhảy vọt của họ Mao đem đến nạn đói bi thảm nhất trong lịch sử Trung hoa với con số lên đến bốn mươi ba triệu người chết. Cuộc Cánh mạng Văn hóa thì đẩy đất nước vào tình trạng hổn loạn, tiêu huỷ đời sống người dân, phá hại gia đình, làm vỡ tan tình bằng hữu và toàn bộ cơ cấu xã hội Trung hoa…”

Bên cạnh việc làm ác, đời sống của Mao cũng sa đọa, tê hại, hơn cả Xít ta Lin và Lênin.
“Con số các cô gái trẻ đẹp hầu hạ cho họ Mao tăng lên nhiều hơn trước, khắp mọi nơi…Chung quanh ông lúc nào cũng có một bầy con gái. Lúc Cách mạng Văn hóa trở thành cao trào thì họ Mao nằm trên giường với ba, bốn hoặc năm cô cùng một lúc…”
(Trích “Bí mật cuộc đời Mao trạch Đông” do Bs Lý Chí Tuy viết và Ngọc Dung dịch)
Còn ở xứ Việt Nam khốn khổ, khốn nạn của chúng ta thì Hồ Chí Minh ôm mớ tà thuyết Mác xít từ Liên xô về nước đã áp dụng ra sao sau khi xua nông dân làm bia đỡ đạn để cướp chính quyền của Hoàng đế Bảo Đại vào mùa Thu tháng Tám năm 1945?
Chiêu thức đại ác đầu tiên Hồ ra tay là “Cải cách ruộng đất 1953-1956” :
Hòa thượng Thích Quảng Độ, trong cuốn“ Nhận định về những sai lầm tai hại của đảng CSVN đối với dân tộc và Phật giáo Việt nam”, đoạn viết về cuộc tàn sát những người dân vô tội của cộng sản trong chiến dịch cải cách ruộng đất, ông viết:“…cuộc đấu tranh căm thù giai cấp diễn ra suốt sáu tháng trời trên toàn miền Bắc chết chóc quá nhiều, đến 700 ngàn người (trong đó có nhiều trường hợp, như một cán bộ đã nói với tôi nguyên văn như sau: “cộng sản chặt đầu cộng sản mới đau chứ.” Ông Bùi Tín một người bất đồng quan điểm với chính phủ CSVN cũng nêu lên con số nạn nhân là 500 ngàn người do Michel Tauriac, nhà văn, nhà báo đưa ra. Bùi Tín cũng cho rằng con số này hợp lý nếu kể cả người bị giết, bị chết trong tù, bị chết sau khi thả ra và tự tử.
Vụ đại ác lớn thứ nhì là: Thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế:
Trích bài “Huế, 40 năm sau Tết Mậu thân…” của Pv Thiện Giao đài RFA:
“Học gỉả Douglas Pike, thuộc Phòng Thông tin Hoa kỳ, trong bản báo cáo hoàn tất vào ngày 01 tháng 02 năm 1970 tại Sài gòn, đã viết: chỉ trong Mậu thân tại Huế, gần 4.800 thường dân đã chết và mất tích. Ông Pike kết thức lời mở đầu của báo cáo bằng một câu khẳng định:“Nếu báo cáo của tôi là một bản án đối với thái độ của người cộng sản, thì thật sự nó là như vậy đấy. Đơn giản vì thái độ ấy đáng bị lên án.” (RFA online ngày 4-2-2008)
Theo giáo sư Nguyễn Lý Tưởng, người tham dự cuộc tìm kiếm xác các nạn nhân bị cộng sản sát hại trong Tết Mậu Thân tại Huế trong bài “ Huế, 25 ngày kinh hoàng của 40 năm trước” của phóng viên Thiện Giao đài RFA viết lại thì:
“ Tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, 22 địa điểm tìm được là các mồ chôn tập thể Trong 22 địa điểm này, người ta đếm được2.326 sọ người. Sau tết, chúng tôi lập Hội Gia đình Nạn nhân Cộng sản trong Tết Mậu Thân. Các gia đình kê khai có người chết, có người mất tích, lên đến 4.000 gia đình. Người ta ước tính vào khoảng 6.000 người, có nhà báo ước tính 5.000.Chúng tôi cho con số 5 đến 6 ngàn là không sai lệch lắm đâu.”
(RFA online ngày 31-01-2008)
Chủ thuyết Mác Xít-Lênin chỉ tồn tại có 70 năm rồi sụp đổ, diệt vong theo các triều đại bạo chúa Tần Thủy Hoàng và Vệ Ưởng ngay tại cái nôi cộng sản của mình, kéo ngã theo cả khối Đông Âu nằm dưới quyền kiểm soát của Liên sô: Bungary, Ba Lan, Cộng hòa Séc, Slovakia, Hungary, Romania, Belarus, Ukraina, Moldova… Chấm dứt một giai đoạn khủng khiếp của nạn diệt chủng do tà thuyết cộng sản gây ra cho một nữa nhân loại.
Tuy vậy hiện nay, chủ nghĩa cộng sản vẫn còn lạc lõng bốn nhà nước ngoan cố duy trì cái ác, phản lại nhân loại, quyết bịt mắt bưng tai trước sự phát triễn văn minh, tiến bộ của nhân loại .
Đó là bốn nước gồm Trung Quốc, Bắc Hàn, Cuba và Việt Nam.
Các nước theo chủ nghĩa cộng sản đều theo một chính sách như nhau là dùng và xúi dục giới công, nông dân nổi loạn, đứng lên “làm cách mạng”, nghĩa là làm bia đỡ đạn cho bọn cán bộ CS núp bên trong hoặc đi phía sau, bí mật chỉ huy, xách động đi cướp chính quyền. Khi đã thành công, thì bọn này quay mặt lại với nhân dân, cai trị nhân dân bằng một chính sách tàn ác hơn nhiều lần so với thời phong kiến, thực dân, đế quốc.
Bởi do bản chất bá đạo đi ăn cướp mà có, không thuận lòng dân, nên dù nắm toàn quyền cai trị trong tay, đám lãnh tụ CS vẫn luôn luôn nơm nớp lo sợ không biết lúc nào bị nhân dân lật đổ. Và để bảo vệ chế độ ăn cướp bất nhân này Nhà nước cộng sản nào cũng đều phải dùng lực lượng công an, một công cụ chuyên chính sắt máu, vô nhân tính để duy trì quyền lực và địa vị.
Rút tỉa kinh nghiệm sụp đổ của Liên sô và khối Đông Âu, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập một chế độ “công an trị” để tạo nên một thành trì sắt thép vững chắc bảo vệ cho mình.
Chế độ “Công an trị” còn “khủng” hơn “Pháp lệnh thất điều” của Vệ Ưởng khi xưa.
Những nhà dân chủ trong nước lên tiếng đòi nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do tư tưởng cho nhân dân đều bị chúng quản thúc tại gia, bao vây kinh tế, khủng bố tinh thần, dàn dựng tai nạn giao thông, bắt cóc, đánh đập dã man… Và cuối cùng thì ngụy tạo chứng cớ vô lý để xử tù.
Một nửa ngân sách Nhà nước được Đảng CS dùng để nuôi bộ máy “công an trị” khổng lồ này gồm 1 triệu công an chìm, nổi đủ loại và hơn nửa triệu bọn đầu gấu, xì ke ma túy để hỗ trợ chúng trong các vụ đàn áp dân chúng, mà chúng gọi hoa mỹ là thành phần “nhân dân tự phát”.
Lực lượng công an đa số đều được tuyển chọn trong đám lưu manh côn đồ, trộm cắp, thất học nhưng rất trung thành với cấp trên theo tiêu chuẩn “hồng hơn chuyên”.
Chúng được huấn luyện theo cách dạy Quân khuyển, tuyệt đối tuân theo lệnh chủ mà thi hành, không cần biết đúng sai.
Bộ Công An Cộng sản Việt Nam do đại tướng Lê Hồng Anh nắm, là cơ quan quyền lực nhất của chế độ, nó được Đảng giao phó thực hiện chức năng quản lý về an ninh trật tự, phản gián, điều tra tội phạm, thi hành án, tạm giữ, tạm giam, bảo vệ dân…
Bộ Công an quản lý Lực lượng Công an Nhân dân.
Trên thực tế, khẩu hiệu “Công an là bạn của dân” lại là kẻ đàn áp nhân dân tàn bạo nhất thay vì bảo vệ dân, nên mỗi khi thấy công an: “ở xa thì sợ, đến gần thì run”.
Chế độ càng thối nát, tham nhũng lại càng ra sức o bế lực lượng công an để lực lượng này phải trung thành tuyệt đối với mình. Vì vậy, công an trở nên “kiêu binh”, ngày càng “loạn”, làm nhiều điều càn rỡ tàn ác, bất chấp luật pháp luật mà mình có bỗn phận phải gìn giữ, bảo vệ.
Người dân bị áp chế, ngược đãi vô cớ ngày càng nhiều, chỉ biết uất hận cam chịu mà không biết phải thưa gởi kêu cứu với ai.
Xin đơn cử vài trường hợp điển hình:
1/ Công an đánh người chỉ vì sợi râu đẹp.

Theo báo Pháp Luật, ngày 9/907, Nguyễn văn Long ngụ tại xã An Lư, huyện Thủy Nguyên bị một số CA đánh trọng thương tại trụ sở CA huyện chỉ vì anh Long có sợi râu đẹp. Hai công an tên Cường và Hải thấy Long có sợi râu dưới cằm. Cường nói: “Thằng này có cái râu cong dài thế này là gấu lắm đây!” Hải bảo:”Để tao nhổ cái nào!”. Long không đồng ý, lấy tay che lại, nên bị Hải đạp vào bụng. Long đấm lại làm Hải rơi kính. Lập tức có 4 CA xông vào đánh Long. Sauk hi đánh ở phòng ngoài, Hải còn gọi những CA khác lôi Long vào phòng ngủ của các điều tra viên đánh tiếp. Gần một tiếng đồng hồ sau, Long mới được đưa ra ngoài. Gia đình phải đưa Long vào bệnh viện cấp cứu.
(Không thấy báo Pháp Luật nói đám CA huyện Thủy Nguyên sau đó có bị xử lý ra sao)
2/ Công an đánh tài xế xe Bộ trưởng

Theo VietNamNet: Sự việc một sĩ quan CA thành phố Hà Nội đánh lái xe của Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ đã làm bạn đọc VietNamNet dây lên làn sóng bất bình về sư xuống cấp đạo đức của những người “vì dân phục vụ”.
Báo viết:
Hành vi này của người sĩ quan công an đã được Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc xác nhận tại buổi họp báo chiều 1/2, sau phiên họp thường kỳ Chính phủ.
Ông Phúc cho hay, một buổi sáng cách đây hơn 10 ngày, trên đường đi làm, xe của ông (biển số xanh) đã bị một xe biển số tư nhân đi phía sau đâm vào làm hư hỏng nhẹ. Đây là hành vi vi phạm pháp luật.
Không dừng lại ở đó, khi bước xuống xe, chủ nhân chiếc xe vi phạm (là một sĩ quan công an Hà Nội) đã bạt tai tài xế lái xe cho ông Phúc.
Ông Phúc nói: Đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng tư cách đạo đức người chiến sĩ công an nhân dân cần bị xử lý nghiêm túc. Trách nhiệm xử lý thuộc về Giám đốc Công an TP Hà Nội, nơi quản lý cán bộ.
3/ Nghi can công an đánh chết người tàn bạo. (15/3/2010)

Theo lời kể của ông Bình, cha của nạn nhân với VnExpress.net, chiều 10/11/09, có hai người đàn ông tự giới thiệu là công an quận Hà Đông đến nhà, nói nhờ Hùng chút việc. Họ không xuất trình giấy tờ chứng minh là cán bộ đang làm nhiệm vụ, nhưng con trai ông vẫn tin tưởng đi theo.
Tối hôm ấy con trai ông không về. Một tuần sau, gia đình ông nhận được giấy thông báo từ Công an Hà Đông rằng Hùng đã chết. Ông đau đớn kinh hoàng khi trông thấy xác con. “Toàn bộ phận than thể khô đét lại. 10 đầu ngón tay, chân bầm tím… Từ 1/3 đùi trở xuống đến bàn chân phù nề và thâm tím”. Với kinh nghiệm lâu năm làm việc liên quan với ngành y, ông Bình nhận định với VnExpress: “Cái chết của con trai ông không phải là cái chết tự nhiên”. Ông Bình cho rằng: “Phải chăng cháu bị đánh đập, hành hạ bằng cách không cho ăn uống, hay dùng xung điện?”
Công an Hà Đông vẫn im lặng không trả lời câu hỏi của gia đình ông Bình vì sao cháu bị bắt? Vì sao bị chết?
Đã 5 tháng trôi qua, nghi án công an đánh chết người một cách tàn bạo vẫn chìm trong im lặng.
4/ Hai vụ xãy ra cách nhau hai tháng, hai người tử vong tại cơ quan công an quận Hai Bà Trưng và quận Hà Đông.

Tháng 11/09, nạn nhân là Nguyễn Mạnh Hùng bị tạm giam vì nghi là trộm cắp. Sau một hôm tạm giữ, anh Hùng được mang đi cấp cứu nhưng đã ngừng thở.
Ngày 21/1/2010, nạn nhân là Nguyễn quốc Bảo bị công an Hai Bà Trưng tạm giữ hành chính vì mang trong người một dao, một kéo. Rạng sáng, 22/1/2010, anh Bảo được đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong vì bị chấn thương sọ não.
Công an Hà Nội và Hà Đông có biên bản kết luận hai người vì sơ ý bị ngã nên bị vỡ nền sọ và chấn động não.
Cũng giống như những vụ Thái Hà, Tòa Khâm Sứ, Giáo xứ Đồng Chiêm, núi Chẽ, Cồn Dầu… công an đã kéo đến đông hàng ngàn với vũ khí trang bị tận răng để “ bảo vệ dân nhưng nhân dân bị kích động bởi các phần tử quá khích và các thành phần phản động muốn lật đổ chính quyền, ngăn cản nhân viên thừa hành công vụ, có hành động điên cuồng đâm đầu vào khiên và dùi cui, roi điện của công an nên bị thương chảy máu chứ công an không hề ra tay đánh dân. Công an luôn luôn là bạn của dân, vì dân, do dân, phục vụ dân”. Báo Công An Nhân dân và An ninh Thế giới đều đăng tải như thế.
5/ Công an CSVN thú nhận bắn chết người

Gần đây nhất, ngày 25/5/2010, công an xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia trong lúc “tham gia đảm bảo an ninh trật tự trong quá trính giải tỏa mặt bằng (tức cướp đất của dân để chia lô bán cho ngoại quốc) đã xô xát với nhân dân, thấy tình hình phức tạp, một công an viên đã dùng súng bắn chỉ thiên khiến cho 2 người bị thương và một người chết”. Đó là lời phát biểu của Thiếu tướng Đồng Đại Lộc, Giám đốc Công an tỉnh Thanh Hóa trả lời PV báo Dân Trí ngay sau vụ việc công an nổ súng bắn chết dân.
“Em Lê Xuân Dũng 12 tuổi, ông Lê hữu Nam 40 tuổi bị bắn chết và chị Lê thị Thanh bị thương ở tay là những phần tử quá khích đã giằng cướp súng của của công an nên bị đạn lạc”.

Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam với quyết tâm: “CHỈ BIẾT CÒN ĐẢNG CÒN MÌNH” không chỉ là một khẩu hiệu nằm trên các tấm panô vĩ đại. Nó đã thể hiện bằng hành động sắt máu của công an khắp nơi.
Chỉ nhục một điều là, Công an nhân dân Việt Nam “anh hùng ta” chỉ giỏi trong việc hà hiếp, đàn áp, khủng bố dân một cách rất nhiệt tình, hăng say mù quáng trong vai trò làm chó săn bảo vệ cho bọn lãnh tụ Cộng sản Việt Nam được ngồi vững trên chiếc ghế độc tài lâu dài tiếp tục đè đầu cưỡi cổ nhân dân. Trái lại đứng trước kẻ thù xâm lược là bọn Tàu phù thì lại khiếp nhược, khúm núm quỵ lụy rất ti tiện, hèn hạ.
Mỗi khi đối mặt với bọn Tàu phù nghênh ngang, hống hách trên đất nước mình, trong các vụ xích mích ở các công trường hay ngay trên phố Hà Nội, trên Tây nguyên…hoặc trường hơp ngư dân bị bọn Tàu ô bắn giết ở đảo Hoàng Sa, kêu cứu, thì “Công an anh hùng ta” đều thực hiện mưu kế thứ 37 trong binh pháp Hồ Vỏ Chuối là “gần bắn xa đâm”.
-Bác nói lạ! Xưa nay trong binh pháp, chiến đấu với địch, xa thì bắn, gần thì đâm, cớ sao Bác lại nói ngược như thế?
- Ông anh nói chí phải! Binh pháp Tôn Võ Tử thì đúng là như vậy. Nhưng “Công an anh hùng ta” chỉ là một bọn vô học, lưu manh côn đồ, du thủ du thực, được tuyển dụng huấn luyện chuyên làm tay sai cho bọn Mafia lãnh đạo ăn cướp, chỉ biết hà hiếp dân là chính thì biết gì về quân sự chiến đấu với kẻ thù. Bởi vậy khi đối mặt kẻ thù thì xử dụng chiêu thức “gần bắn xa đâm”. Nghĩa là khi địch quân ở gần thì “Công an anh hùng ta” sợ quá, bắn cả cứt đái ra quần. Còn khi thấy địch ở xa xa thì đã ba chân bốn cẵng đâm đầu chạy trốn trối chết rồi! Đó chính là binh pháp Hồ Vỏ Chuối của bác Hồ chứ không phải của Tôn Võ Tử.
-Ra là thế! Thảo nào chủ sao thì tớ vậy! Bọn lãnh đạo chóp bu tại Bắc Bộ phủ đã hèn hạ khom lưng, cúi đầu trước bọn bá quyền Bắc kinh dâng đất, dâng biển để cầu an thì đám chó săn lâu la, lục chốt, tép riêu sức mấy mà dám ho he với bọn Tàu khựa!
Năm Kỷ Hợi, tháng Đinh Sửu, ngày Đinh Tỵ, chế độ cộng sản Việt Nam sụp đổ. Chỉ trong một đêm có hơn 5 vạn công an viên bị cắt gân tay. Điều lạ lùng là công an nào dùng tay trái đánh dân thì gân tay trái bị cắt. Công an nào dùng tay phải bắn dân thì gân tay phải bị cắt.
Không biết thủ phạm là ai. Chỉ nghe huyên truyền là do dân oan tự động làm để báo thù.

Nguyễn Thanh Ty Boston, 14/6/10

Friday, June 25, 2010

Báo chí Việt Nam dưới mắt nhà báo tự do

Gia Minh, Biên tập viên RFA

clip_image001

Một cửa hàng bán báo tại Hà Nội, ảnh chụp hôm 26/04/2010. RFA Photo/Tyler Chapman

Tại Việt Nam, ngày 21 tháng 6 hàng năm được dành cho các nhà báo. Năm nay chính quyền Hà Nội cho tiến hành kỷ niệm 85 năm ngày báo chí cách mạng Việt Nam.

Báo chí lề trái

Đây là ngày của những người tham gia làng báo được Chính phủ công nhận, cấp phép. Trong khi đó ở Việt Nam còn có một đội ngũ gọi là ‘báo chí lề trái’ gồm những người không muốn ghép mình vào khuôn khổ mà cơ quan chức năng đề ra cho công việc đưa tin.

Vậy những người này có cái nhìn ra sao đối với báo chí chính thức đi theo lề phải mà cơ quan chức năng đề ra? Gia Minh trình bày trong phần sau.

Chính quyền Hà Nội thường trưng ra con số chừng 700 báo và tạp chí in, hai chục báo điện tử, cùng gần bảy mươi đài phát thanh – truyền hình trên cả nước để chứng minh cho hệ thống báo chí được gọi là rộng mở tại Việt Nam. Hoạt động trong lĩnh vực này còn có 17 ngàn người được cơ quan chức năng cấp thẻ, gọi là thẻ nhà báo.

Tôi hay nói đùa cùng bạn bè ‘cách mạng quá đến nổi không cần thay đổi mình’. Báo chí trong nước chỉ cần đi bên ‘lề phải’ thôi.

Bà Dương Thị Xuân

Tuy nhiên, lâu nay có ý kiến cho rằng gần như tất cả các cơ quan báo chí, truyền thông tại Việt Nam chỉ nói lên một tiếng nói duy nhất là tiếng nói của Đảng và Chính phủ, chứ chưa được phép thực hiện nhiệm vụ đích thực của báo chí là thông tin một cách khách quan, trung thực, đa chiều; báo chí phải hoạt động độc lập, không chịu sự chi phối của cơ quan chức năng, của Chính phủ.

Chính những người đang hoạt động trong lĩnh vực báo chí tại Việt Nam thừa nhận có những vấn đề mà họ không được đề cập đến, đó là những đề tài mà Nhà Nước cho là nhạy cảm như tình hình tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải với phía Trung Quốc, rồi tình hình đấu tranh cho dân chủ - nhân quyền - tự do tôn giáo của những đối tượng bất đồng chính kiến, các vụ biểu tình đòi đất, đòi tài sản, khiếu kiện đông người… Tất cả những vấn đề vừa nêu đều phải viết theo chỉ đạo, tức sau khi được ‘bật đèn xanh’ và trình bày với góc nhìn có lợi cho phía Nhà Nước…

Nhiều trường hợp vì có những bài viết nêu ra thực trạng đất nước một cách thẳng thắn, hay nói lên tình cảnh của những người bị đàn áp, đối xử bất công như trường hợp cô Phạm Thanh Nghiên, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa ở Hải Phòng… đã bị kêu án tù với kết buộc từ phía cơ quan chức năng là ‘tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam’ theo điều 88 Bộ Luật Hình sự Việt Nam.

clip_image002

Báo chí tại VN dành nhiều trang để bình luận về World Cup, ảnh chụp tháng 6/2010. RFA Photo.

Ông Bùi Như Thủy ở Hải Phòng, một người lâu nay từng viết tổng cộng 21 thư kiến nghị gửi cho Quốc hội, nói về trường hợp ông này muốn nêu ra các bức xúc trên báo chí chính thức của nhà nước mà không được đành phải tìm đến với hệ thống báo chí ngoài luồng:

“Tôi đã gửi cho rất nhiều báo nhưng họ không nơi nào họ dám đăng. Tôi đi thăm dò bạn bè, họ chỉ cho tôi đến với trang mạng ‘Boxitvn’ Tôi gửi cho trang mạng này thư kiến nghị thứ 20 của tôi. Hai ngày sau họ đăng toàn bộ bức thư đó và cũng nói rõ ‘thái độ’ của ‘boxitvn’. Sau một tháng tôi định gửi thư kiến nghị 21 vào đầu kỳ họp Quốc hội; nhưng ở Hải Phòng mất điện nhiều, đánh máy rồi đi in cũng mất công nhiều. Dẫu vậy tôi cũng gửi dịp này vì các vị Đại biểu đều có đọc ‘boxitvn’ do mạng này đề cập đến các vị ấy nhiều nên họ đều tìm để xem” .

Internet, vị cứu tinh

Nhờ hệ thống Internet với các trang mạng xã hội, cũng như nhật ký blog, nhiều người lâu nay có thể phổ biến ý kiến thẳng thắn, cũng như loan đi những thông tin mà báo chí chính thức không được phép truyền tải.

Một nhà báo tự do, bà Dương Thị Xuân, lâu nay cũng có những bài viết đưa lên mạng về các vấn đề bị cho là nhạy cảm, có nhận xét về hệ thống truyền thông hiện nay trong nước:

“Tất cả những điều tôi nêu ra đều tương tự những điều mà ông Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh nêu, và đến nay đều còn giá trị. Tuy vậy chính những điều đó Nhà nước Việt Nam đang mắc chẳng khác gì chế độ thực dân Pháp trước đây, mà có khi còn nặng nề hơn. Bởi vì dưới chế độ thực dân Pháp trước đây, báo chí còn có báo chí tự do, còn có báo chí tư nhân, còn có những nhà báo có thể thành lập báo tư nhân như của Cụ Huỳnh Thúc Kháng (từng có lúc là Phó Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa), báo ‘Tiếng Chuông Rè’; rồi Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu… cũng là nhà báo tự do.

Nếu không có lề trái làm sao có lề phải. Sách cổ của các cụ cũng nói bàn tay có bàn phải, có bàn trái; vậy báo chí chỉ có ‘lề phải’ không thì có thể có trung thực không?

Bà Dương Thị Xuân

Còn dưới chế độ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay, với ngày 21 tháng Sáu hàng năm là ngày báo chí cách mạng Việt Nam, tôi hay nói đùa cùng bạn bè ‘cách mạng quá đến nỗi không cần thay đổi mình’. Báo chí trong nước chỉ cần đi bên ‘lề phải’ thôi.

Nếu không có lề trái làm sao có lề phải. Sách cổ của các cụ cũng nói bàn tay có bàn phải, có bàn trái; vậy báo chí chỉ có ‘lề phải’ không thì có thể có trung thực không?”

Vào ngày 5 tháng 5 vừa qua, Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ Thông tin Truyền thông và Hội Nhà báo Việt Nam chủ trì Hội nghị toàn quốc triển khai nhiệm vụ của các cơ quan báo chí năm nay.

Một vị tướng Tổng cục phó Tổng cục An ninh, thuộc Bộ Công an là Trung tướng Vũ Hải Triều cũng đến dự hội nghị này, và khi phát biểu ông này cho biết trong thời gian qua đã cho đánh sập 300 trang mạng và blog mà cơ quan chức năng liệt vào loại ‘xấu’.

Thông tin này không được báo chí trong nước nêu ra, mà lại do một nhà báo ở Việt Nam gửi cho bạn bè ở nước ngoài để rồi tin đó được loan ra.

Sự hiện diện của những quan chức thuộc ngành tuyên giáo, tư tưởng - văn hóa, an ninh tại một hội nghị quy tụ hầu như tất cả những người chủ chốt của các báo, tạp chí, cơ quan phát thanh - truyền hình trên cả nước tại hội nghị, cho thấy sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước đối với truyền thông tại Việt Nam. Không phải hàng năm, mà theo định kỳ hàng tuần hay hàng tháng các Tổng Biên tập phải đến cơ quan tư tưởng văn hóa các cấp để được hướng dẫn về các vấn đề họ được loan đi, hay mức độ trình bày vấn đề trên các phương tiện mà họ được phép quản lý.

GM

Thursday, June 24, 2010

Tội ác của Hồ Chí Minh

Nhận định của Phi Vũ

Tội ác của Hồ Chí Minh đối với đất nước Việt Nam, đối với nhân dân Việt Nam không có gì có thể kể hết được. Hắn có công giành độc lập cho đất nước ư? Môt sự cướp công trắng trợn. Cuộc Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng của toàn dân Việt Nam, bao gồm rất nhiều đảng phái chính trị, tôn giáo như Việt nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Cách Mạng Đảng…, các tôn giáo như Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo…nói chung đây là cuộc cách mạng của toàn dân. Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ là một bộ phận trong cuộc cách mạng này. Vây mà Hồ Chí Minh theo chỉ thị của Quốc Tề Cộng Sản loại trừ các đảng phái chính trị khác để giành quyền độc tôn. Đây là sự cướp công trắng trợn của một tên gian manh làm theo lệnh của quốc tế Cộng Sản. Sau năm 1954, vụ cải cách ruộng đất ở miền Bắc cũng do tên Hồ Chí Minh này khởi xướng theo lệnh quan thầy Liên Xô và Trung Cộng đã giết hại biết bao nhiêu người dân lương thiện, vô tội ở miền Bắc. Cũng theo lệnh của quan thầy, chính hắn đã làm cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn giữa người dân miền Bắc và miền Nam Việt Nam.Kếtt quả là hàng mây trieêu thanh niên vô tội của cả hai miền Nam và Bắc lao vào cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt do hắn phát động, biết bao nhiêu triệu người chết vì cuộc chiến này. Cũng phải kể là trong thời gian này, cuộc thảm sát đồng bào Huế trong dịp Tết Mậu Thân năm 1968 rất là dã man. Rồi thì pháo kích bừa bãi vào các thành phố ở miền Nam, tung lựu đạn vào chợ búa, bắn phá vào trường học ở Cai Lậy, Mỹ Tho…, biết bao nhiêu tội ác tày trời của tên Hồ Chí Minh này đã gây ra. Với những tội ác to lớn như vậy của hắn, chúng ta có thể kết luận môt cách rõ ràng và dứt khoát: Hồ Chí Minh là một tên tội đồ của dân tộc! Hắn là cái thá gì mà lại tôn vinh hắn là cha già dân tộc! Một lũ ngu xuẩn, mất dạy, dám buông lời vô lễ đến toàn thể nhân dân Việt Nam khi đem gán một tên bất nhân, tội đồ dân tộc làm cha già dân tộc.Đồ ngu xuẩn và mất dạy!

Phi Vũ
06/24/10

Luật pháp và phi luật pháp của xứ có hàng ngàn hàng vạn sứ quân

Trích NguoiViet Online

Tạ Phong Tần

Báo Lao Ðộng ngày 21 tháng 6, 2010 cho hay ông Ngô Tất Thắng (nguyên chánh văn phòng UBND huyện Hoành Bồ-Quảng Ninh, hiện là chủ tịch UBND xã Quảng La) muốn xây căn nhà vuông vắn trên một thửa đất méo nên đã lợi dụng lúc gia đình bà Phạm Thị Xung (hàng xóm) vắng nhà đập bức tường ngăn của nhà bà (xây từ 20 năm trước) “để thực hiện tham vọng”.

Ðiều không còn làm cho ai ngạc nhiên nữa là dù đập bức tường của người khác trái phép nhưng “đã hơn một năm, gia đình bà Xung có hàng chục lá đơn khiếu nại, kiến nghị, gửi các cơ quan chức năng đề nghị giải quyết dứt điểm,” “nhiều nhân chứng đều xác nhận: Ông Thắng phá bức tường nhà bà Xung để xây móng nhà mình là hành động lấn chiếm trái phép” nhưng Phòng Tài Nguyên Môi Trường huyện trả lời bằng công văn số 474 rằng “bà Xung khiếu nại, không có cơ sở xem xét”(?!).


Nguyễn Xuân Dũng, 12 tuổi, bị đội trưởng đội Cảnh Sát Cơ Ðộng tỉnh Thanh Hóa bắn chết, nằm tại nhà xác Bệnh viện đa khoa huyện Tĩnh Gia.
Dũng đi xem cuộc biểu tình của người dân chống giải tỏa đền bù bất công để làm khu công nghệ Nghi Sơn. (Hình: Ðất Việt)


Kết quả, “từ ngày phát sinh vụ khiếu nại đến nay đã hơn 1 năm, quyền lợi của gia đình bà Xung đã như rơi vào quên lãng, nhưng ngôi nhà 4 tầng của ông Thắng vẫn mọc lên như thách thức dư luận,” “và một điều kỳ quặc là sau vụ tranh chấp tai tiếng trên, ông Ngô Tất Thắng được ‘hạ phóng’ xuống làm chủ tịch UBND xã Quảng La.”

Phát biểu ý kiến về việc tìm biện pháp chống tình trạng mãi lộ của cảnh sát giao thông, một bạn có nick là Lãng Du Buồn viết: “Theo tôi, cảnh sát giao thông ở ta thì không cần phải là những con người, vì làm việc ấy rất vất vả mà lại không cần tư duy. Thứ nhất là nguyên tắc giao thông đã có sẵn, thứ hai là đường giao thông đã có sẵn, thứ ba là người tham gia giao thông có tuân thủ các nguyên tắc đó hay không. Ta chỉ cần gắn những con rôbốt không biết xài tiền được lập trình xử lý các quy tắc giao thông, thế là xong. Việc này vừa tiết kiệm bởi nếu thuê các thành viên các đội rôbôcon thiết kế, kinh phí sẽ rẻ hơn việc trả lương cho một cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông, lại vừa đảm bảo uy tín cho ngành công an.”

Thanh Niên ngày 21 tháng 6, 2010 đăng tin trong hai ngày 18 và 19 tháng 6, “hàng trăm người dân xã Quỳnh Hội, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã áp giải lãnh đạo chính quyền xã đến bao vây chi nhánh điện và UBND huyện Quỳnh Phụ để đòi được phân phối điện một cách công bằng.” Thanh Niên cho rằng nguyên nhân là do thời tiết quá nóng bức nhưng chi nhánh điện Quỳnh Phụ đã liên tục cúp điện mà không công khai lịch cúp. Khách hàng nào bỏ tiền ra đấu nối đường dây trực tiếp từ trạm điện về cơ sở thì được cấp điện liên tục, nếu không thì bị cúp. Người dân địa phương đã “thế thiên hành đạo” bằng cách “bắt một số nhân viên chi nhánh điện phơi nắng hoặc nhốt trong nhà kín để chịu cảnh nóng nực; đồng thời cắt dỡ đường dây điện của nhà chủ tịch UBND huyện.”

Tình hình là những ngày gần đây, người dân tự cho mình cái quyền “thế thiên hành đạo” xảy ra ngày càng nhiều. Vietnamnet ngày 20 tháng 6, 2010 đăng bản tin dân xã Ðại Sơn (huyện Ðại Lộc, tỉnh Quảng Nam) “đã tập trung biểu tình, phá hỏng hệ thống giàn bơm nước trị giá gần 5 tỉ đồng của công ty, đồng thời ngăn không cho xe chở thức ăn đi vào trại, làm cho ‘gần 1.000 con heo chết khát’ vì không có nước uống.”

“Trước đó, ngày 12 tháng 6, gần 500 người xã Ðại Sơn đã bao vây, đập hỏng hệ thống giàn bơm nước, phá một số đường ống xả thải của trại nuôi heo của công ty này. Cơn thịnh nộ của người dân bắt nguồn từ việc công ty Thái Dương xả thải gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Theo phản ánh của họ, trại heo giống của công ty này thường xả trộm chất thải thẳng xuống đập nước Trụ Tràn làm cá chết hàng loạt, trâu bò không có nước để uống, mùi hôi thối từ phân heo và nước bốc lên nồng nặc,” nhưng việc khiếu nại của dân không được cơ quan chức năng giải quyết thỏa đáng.

Theo một blogger miền Trung, tin mới nhất của ngày hôm nay (22 tháng 6) là: Tối hôm qua (21 tháng 6) khoảng 800 thanh niên quê Nghệ An đang trải áo nằm ngay thềm công ty Sovylaco (quận Cầu Giấy, Hà Nội) để đòi quyền lợi. Sự việc là khoảng tháng 1, 2010 “công ty Sovilaco đã tuyển 4,000 lao động Việt Nam đi làm bảo vệ ở Ả Rập Xê Út (thực chất là lính đánh thuê). Trong lúc xảy ra xô xát trong doanh trại huấn luyện giữa các binh lính Nghệ An và binh lính bản xứ, làm cho 3 lính người Nghệ An chết, hàng chục người bị thương được đưa đi cấp cứu. Chính phủ Ả Rập buộc cắt hợp đồng với tất cả binh lính là người Nghệ An, Hà Tĩnh tống cổ về nước sau thời gian mới được 2 tháng 23 ngày. Một lính người Nghệ An cho biết: Việc chính phủ Ả Rập cắt hợp đồng là không đúng bởi trong số hơn một ngàn lính Nghệ-Tỉnh không phải ai cũng vi phạm.” Hiện chưa có ai (người của cơ quan chức năng lẫn công ty tuyển lao động) đứng ra để làm việc, một số báo chí đã có mặt để “tác nghiệp” nhưng cho đến thời điểm này vẫn chưa thấy trên các báo “lề phải” có đưa tin.

Tác giả bản tin còn nhấn mạnh: “Ðây là tin có thật 100%” vì hiện tại “đang có người cháu cũng là một trong số bị hại cũng đi và sẽ đóng vai ‘thông tấn huyện’ (không phải thông tấn xã đâu nhé) hiện đang nằm ở công ty. Ðáng lẽ tin này cập nhật lúc tối nhưng vì lúc tối mất điện.”

Ngày 21 tháng 6, khi cả nước nô nức “kỷ niệm ngày báo chí cách mạng Việt Nam,” nhà báo Trương Duy Nhất viết rằng: “Báo chí, nhất là báo mạng, đang dần bị sex, thủ dâm và... hiếp dâm hóa. Có vẻ như đây đang là chiêu thức làm báo được ưa chuộng và hiệu quả nhất nhằm kéo hút bạn đọc trong thời đoạn khó khăn bế tắc về đưa tin chính trị. Những bản tin sex dâm và... thủ dâm choán đầy mặt báo mỗi ngày. Trào lưu sex dâm đang là sự lựa chọn số một của không ít báo, nhất là báo điện tử, nhằm kéo hút bạn đọc, xoay xở trong thời đoạn khó khăn bế tắc về đưa tin chính trị. Ðặc biệt, để câu hút khách, không ít trang báo điện tử có tích hợp phần mềm xem video đã ào ạt đưa lên những đoạn clip rất thô tục, phản cảm và kích dâm. Thậm chí có tòa báo tổ chức hẳn một đội ngũ phóng viên chuyên đi rình để quay lén những cảnh làm tình, rung ngực hở mông của phụ nữ để tung lên báo.” Nhà báo Trương Duy Nhất đặt câu hỏi: “Chẳng lẽ đây lại là... bước ngoặt mới của nền báo chí Việt? Ðiều kỳ lạ: Không nghe thấy tiếng còi quen tai của các nhà... quản giáo tư tưởng.” Chức danh “quản giáo” chỉ có trong các trại giam người. Tư tưởng con người mà bị “quản giáo” chẳng khác nào cánh làm báo trong nước đang làm việc trong tình trạng “tù ngục tâm hồn.”

Trong khi người ta đang cố gắng dùng mọi biện pháp (kể cả lạm dụng pháp luật) để “nỗ lực bịt mồm” dư luận, thì thực tế xã hội đã thể hiện tình trạng pháp luật dường như đã trở thành bất lực không bảo vệ được công lý và lẽ phải, không đứng về phía dân lành. Blogger chauxuannguyen (Úc) nhận xét: “Ðây là những triệu chúng hùng hồn mà tiếng Anh chúng tôi gọi là: ‘The broken down of Laws and Orders, People take the Laws into their own hands because the Government failed to uphold the Laws and protect their own citizens,’ nghĩa là: ‘Luật pháp đang sụp đổ, người dân tự xử (lập tòa án để phán quyết) theo ý của minh vì chính phủ không còn gìn giữ được luật lệ nữa, không bảo vệ được dân lành nữa.’”

Tạ Phong Tần

Wednesday, June 23, 2010

Lời nhắn của người lính già

Trích DCV Online
mythanh ghi

Lời nhắn nhủ của người chiến sĩ già

(Tường thuật buổi nói chuyện và ra mắt sách của ông Võ Đại Tôn tại Little Saigon, California, ngày 12 tháng 6 năm 2010)

Những slide ảnh chiếu hình một cuộc họp báo, khá đông người, các phóng viên ngoại quốc với máy chụp hình quay phim nhưng người đàn ông có khuôn mặt gầy là nhân vật chính, đứng trong vị trí tội phạm ‒ Có khi có tiếng nói, có khi không. Những lời thật nghiêm trọng rõ ràng, “Vì đây là những lời về cuộc đời và sự nghiệp chính trị của tôi, rất quan trọng nên tôi xin các nhà báo và các thông dịch viên, hãy hết sức trung thực.”

Hình như ông lập lại hơn một lần như vậy. Và những lời tuyên ngôn như:

‒ “Tôi sẽ không phản bội bất cứ ai đã giúp đỡ, ủng hộ tôi.”

‒ “Tôi tiếp tục duy trì lập trường chính trị của tôi, để tranh đấu cho tự do và giải phóng dân tộc.”

‒ “Tôi đã sẵn sàng nhận bất cứ bản án nào mà chế độ CS dành cho tôi”

Đó là tiếng nói của người tù Võ Đại Tôn trong cuộc họp báo ngày 13/07/1982 tại Hà Nội. Khi coi xong đoạn phim, cử toạ được nghe thêm chuyện “sau hậu trường”:

“(…) tên chính uỷ lên ghé tai tôi bảo ‘Mày có câm ngay và đi xuống không!’ Phần tôi thì khấn nguyện trong đầu với người mẹ đã khuất là ‘Mẹ ơi, đợi con mấy phút nữa, con sẽ về với mẹ.’ Sau đó tất cả các nhà báo đều bị nhà cầm quyền CS thu giữ hết phim ảnh của cuộc họp báo.”

Chỉ có một nhà báo Nhật đã giấu được cuốn phim của mình, và thế giới tự do mới bùng nổ tin Võ Đại Tôn đã trở về và đang ở trong tù CS.

Sau đây là những lời kể chuyện tiếp theo của ông Võ Đại Tôn:

“Tôi đã bỏ vợ con, bỏ cuộc sống ở một nước tự do để trở về Việt Nam tìm cách thay đổi thể chế Cộng Sản, không phải là vì tôi muốn làm anh hùng. Tôi chỉ muốn là chiến hữu của quý vị.

“Tôi muốn kể về hai người chiến hữu của tôi. Đó là Thiếu uý Vũ Đình Khoa và Trung sĩ Nguyễn văn Lộc, hai người đã cùng bên cạnh tôi trên đường trở về kháng chiến.

“Khoa ở trại tị nạn đã có người yêu, có giấy nhập cảnh Pháp. Nhưng nghe tôi về lại Việt Nam kháng chiến, Khoa đã xé hộ chiếu Pháp và nói với người yêu “Anh phải theo thầy về cứu nước.” Khoa đã bị bắn chết bên dòng thác Champi, khi chúng tôi bị lọt vào ổ phục kích tại Lào. Câu cuối cùng Khoa thét với tôi trong làn mưa đạn “Thầy chạy đi! Con làm bia!”

“Tôi và Lộc bị bắt tại Lào sau đó, và bị giao giải về Việt Nam. Tới phi trường Gia Lâm, đói và rét suốt mấy ngày, đợi ở phi trường lạnh cóng. Khi tên sĩ quan Việt Cộng đưa cho chúng tôi ổ bánh mì, tôi phải nhắc hắn tay chân chúng tôi bị còng làm sao ăn được, hắn mới sực nhớ ra lệnh mở còng. Lộc tay chân mới được mở còng tê cóng cầm ổ bánh mì, lết đến bên tôi đưa cho tôi “Thầy ăn đi! Con còn trẻ chịu được. Thầy phải sống. […]”

“Tôi có đi thăm lại các trại tị nạn xưa, giờ không còn nữa. Tại Indonesia, một dân địa phương đã dẫn tôi băng đồng tới một nơi hoang vắng gần bờ biển. Nơi đó có một cái trang nhỏ (miếu thờ) và kể, trang này người dân đã lập ra để thờ, gọi là miếu Ba Cô. Ngày xưa có ba cô gái Việt Nam đã bị hải tặc hãm hiếp và thả trôi giạt vào bờ, vẫn còn sống. Nhưng ba cô vì quá nhục nhã, đã rủ nhau cùng treo cổ trên cây gần đó tự tử. Tôi nhìn vào, chỉ thấy nhang tàn khói lạnh. Không có gì cả! Tôi đã quỳ xuống khóc. Tôi nghĩ đến thân phận của người con gái Việt Nam. Bên kia bờ Thái Bình Dương là ngôi nhà nghỉ mát cực kỳ lộng lẫy của con gái Thủ tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng, mổi năm chỉ ghé nghỉ vài lần. Bên đây bờ Thái Bình là cái trang hoang lạnh của ba người con gái Việt đi tìm tự do. Tại sao những người con gái này lại chịu số phận khắc nghiệt như vậy?


Hàng trên Võ Đại Tôn 1982 (Hà Nội); trở về sau 10 năm tù CS. Hàng dưới: vợ và con trai Võ Đại Tôn (Úc)
Nguồn: Vietbao.com
“Tại Moscow, năm đó tôi đi diễn thuyết trong một Đại hội Quốc tế Nhân Quyền, cô thông dịch viên cho tôi là một sinh viên Đại học Hà Nội du học. Sau năm ngày làm việc với tôi trong chân thông dịch, cho đến ngày chia tay ra phi trường thì cô chợt đến bên tôi nói “Bác ơi, con muốn nói chuyện riêng với Bác.” Tôi thật hổ thẹn vì lúc đó tôi đã nghĩ trong đầu là chắc cô này muốn xin mình giúp đỡ đi tị nạn, hay cô muốn xin tiền. Tôi thật rất hổ thẹn vì đã nghĩ như vậy. Khi tôi theo cô vào một góc riêng, cô kể: Con sinh ra và sống dưới chế độ CS. Bố con chết trên đường đi B. Con đã được kết nạp là đảng viên CS và được đi du học. Nhưng sau khi biết bác, làm việc với bác 5 ngày, con muốn xin bác một điều là, cho con ôm bác trước khi từ giã. Và cô ôm tôi nói “Bố ơi! Đừng bỏ con!” Cô chỉ muốn một lần nói, không xin tiền, không nhờ vả gì cả. Cô là một đảng viên CS, và tôi là một tên cựu tù phản động của chế độ CS.

“Một lần ở trên đường phố Singapore, tôi chợt thấy một đám các cô ăn mặc sặc sỡ, đáng tuổi con cháu tôi. Các cô đứng bên đường thấy tôi, ngoắc gọi : “Go! Go! Have fun!” Nhìn vào ánh mắt tôi cảm được các cô là người Việt Nam. Tiến đến gần tôi hỏi “Các con có phải là người Việt Nam không?” Các cô tròn mắt “Bác là người Việt Nam à?” Tôi bảo các cô ngồi xuống uống nước nói chuyện. Các cô nói “Không được đâu, nói chuyện má mì bắt phải trả tiền đấy.” Và tôi đã gọi hai cô vào một quán nước để hỏi chuyện. Một cô 18, một cô 19, hai cô kể quê ở Vĩnh Long, đi qua Singapore theo diện xuất khẩu lao động, nhưng từ khi qua đây thì làm nghề gọi khách như vầy. Và mỗi tháng có được 50 đô để gửi về cho má. Một cô nói “Chắc má con nhận được mừng lắm.” (Tôi có làm một bài thơ tựa đề này) Rồi sau đó tôi đã phải trả tiền, và nhìn các cô lên xe taxi của má mì chở đi với khách. Đó là hình ảnh phụ nữ Việt Nam tôi đã gặp ở Singapore.

“Ngày tôi ở trong tù ở Việt Nam, có một con bé 5 tuổi con của cai tù ‒ Gia đình cai ngục cũng ở cùng trong khu vực với tù ‒ Con bé thường tìm đến tôi mỗi ngày, đưa giấy nhờ tôi xếp hình chim cò cho nó. Đến khi nó lên 10 tuổi, tôi vẫn ở đó, nhưng nó đi qua không nhìn tôi nữa. Tôi gọi nó “Con ơi, con còn nhớ bác không?” Nó cúi mặt, lẩn đi, không nhìn lại. Cho đến khi nó thành một thiếu nữ 15 tuổi đi qua, tôi lại gọi “Con ơi, con còn nhớ bác không?” Nó quay lại, nhìn thẳng mặt tôi nói “Câm cha cái lỗ mồm lại! Thằng phản động!” Đó là đứa con gái nhỏ ngày xưa vẫn đến chơi bên tôi, nhờ tôi xếp hình, và sau 10 năm được giáo dục dưới chế độ CS, lớn lên chỉ mặt một ông già trọng tuổi, nói như vậy đó.

“Thầy chạy đi! Con làm bia.”

“Thầy ăn đi! Thầy phải sống!”

“Bố ơi! Đừng bỏ con!”

“Đó là những tiếng gọi đã nâng đỡ tôi, đã ở bên tôi giúp tôi chiến đấu. Chính những người bạn trẻ này là chiến hữu của tôi. VC đã giết mẹ tôi, đã chôn sống bà, nhưng chúng ta chiến đấu không phải để trả thù. Chúng ta chiến đấu để cho người Việt Nam không còn tủi nhục. Ngày xưa, trên con đường về nước, chúng tôi đã mơ ước khi đặt chân đến Tây Nguyên, vùng đất của Việt Nam, chúng tôi sẽ quỳ xuống hôn đất Mẹ và nói : Mẹ Việt Nam ơi! Chúng con vẫn còn đây!”


Võ Đại Tôn: người và tranh
Nguồn: MT
Đó là những gì tôi có thể viết lại từ những lời tâm sự của ông Võ Đại Tôn trong buổi thơ nhạc Hoàng Phong Linh với chủ đề “Mẹ Việt Nam ơi! Chúng con vẫn còn đây” tại nhà hàng Emerald Bay, Little Saigon, Orange County chiều ngày 12 tháng 6 năm 2010. Ông còn nói rất nhiều. Mỗi lời, mỗi chuyện của ông đâm suốt vào trái tim người nghe. Rằng ông không hề có ý làm anh hùng, rằng ông chỉ muốn là một chiến hữu của mọi người, rằng ông chỉ muốn là một viên gạch lót đường... Và hôm nay đã là một cụ già, tóc bạc trắng, ông vẫn đứng thẳng, cất to lời kêu gọi: “Không có miền Nam thua! Không có miền Bắc thắng! Chỉ có dân tộc Việt Nam đã thua. Và chúng ta phải chiến đấu để giành lại cho bằng được chiến thắng sau cùng. Các bạn trẻ! Tôi tình nguyện, hãy giẵm lên thân xác già này để giành lại tự do dân chủ cho quê hương.”

Tôi không nắm vững được thời gian qua bao lâu vì tôi hoàn toàn cuốn hút theo từng câu, từng chuyện ông nói. Đó đây trong khán giả, có tôi nữa, thỉnh thoảng không ngừng được phải chậm nước mắt. Biết bao lần nghe diễn thuyết, kể cả những bài giảng lễ chủ nhật, tôi biết được không ít người có tài hùng biện. Nhưng tôi chỉ nghe được hai người có tiếng nói phát xuất từ tim óc đi thẳng và thấm sâu vào tim óc người nghe như vậy là nhà thơ Nguyễn Chí Thiện (cũng hiện diện, ngồi cùng bàn danh dự) và hôm nay là chiến sĩ Võ Đại Tôn ‒ Rồng Nam, Phụng Bắc ‒ tuyệt đối không sai. Từ cách dãy bàn, nhìn hai mái đầu bac khả kính, tôi chợt thầm cầu nguyện cho hai vị sẽ được nhìn thấy một Việt Nam tự do như ý nguyện trong đời này của họ.

© DCVOnline

Tuesday, June 22, 2010

[Boston] Ngày Quân Lực (19 tháng 6) 2010 tại Boston

Trích NguoiViet Boston

quanluc196a
(Sân khấu, ảnh báo Phương Đông)

quangluc196
(Quan khách và đồng hương, ảnh báo Phương Đông)

Ngày Quân Lực 19 tháng 6 2010 đã được tổ chức trọng thể tại Boston với hàng loạt các sinh hoạt đầy ý nghĩa. Buổi diễn hành vinh danh Quân Lực VNCH được thực hiện tại Townfield Partk, Dorchester, Massachusetts, từ 12 giờ trưa đến 3 giờ chiều. Tiệc gây quỹ giúp Thương Phế Binh VNCH được tổ chức từ 6 giờ chiều đến 11:30 khuya tại nhà hàng Empire Garden, Boston, Massachusetts.

Theo lời anh Nguyễn Tấn Toàn, Trưởng Ban Tổ Chức và ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch BCH Cộng Đồng Việt Nam tại Massachusetts cả hai sinh hoạt đã đem lại các kết quả tốt đẹp với sự hiện diện của đại diện các quân binh chủng thuộc quân lực VNCH và khoảng 500 đồng hương. Đặc biệt, ông Phó Thống Đốc Massachusetts Tim Murray đã đích thân đến tham dự và thay mặt Thống Đốc Massachusetts Deval Patrick trao quyết định Công Nhận Ngày Quân Lực VNCH tại tiểu bang Massachusetts.

Chị Vinh Tuyến, người phụ trách ban tài chánh, một ban vất vả nhất trong toàn bộ chương trình tổ chức, cho biết vào giữa chương trình gây quỹ, mặc dù chưa tổng kết xong về số vé phát hành được cũng như các khoản chi nhà hàng, ca sĩ, âm thanh v.v. chỉ riêng số tiền bảo trợ từ các cơ sở thương mại, đoàn thể và đồng hương, đã được vào khoảng 13 ngàn đô-la. Nhiều nhà hảo tâm như nhà báo Nguyễn Mạnh Cường của báo Thăng Long đã đóng góp thêm 500 đô-la và ông chủ nhà hàng Empire Garden, David Wong, người đã tích cực ủng hộ các sinh hoạt văn hóa xã hội của cộng đồng người Việt hàng chục năm nay, cũng đóng góp 500 đô-la ngay tại chỗ. Các đồng hương đóng góp bằng cách bỏ vào thùng hiện chưa tổng kết được. Như chị Vinh Tuyến đã thông báo, bảng tổng kết chính thức sẽ được công bố trong thời gian ngắn tới đây.

Hầu hết các tiết mục trong đêm gây quỹ đều xuất sắc. Từ các bài phát biểu của các ông Nguyễn Tấn Toàn, Nguyễn Thanh Bình, Lại Tư Mỹ cũng như của các cháu thuộc thế hệ thứ hai, đều ngắn gọn và ý nghĩa. Hai ca sĩ đến từ California Quỳnh Dung và Quang Lê đã cống hiến một chương trình văn nghệ rất hay. Các DVD do Quang Lê và Quỳnh Dung mang đến đều là quà tặng dành cho ngày gây quỹ. Tuy nhiên, các tiếng hát từ thành phố Boston như Ngọc Diễm, Hoàng Kate, Ngọc Trâm, Hoàng Thông, Hoàng Vân, Hoàng Thao, Nguyễn Thiện Khán mới thực sự để lại trong lòng 500 người tham dự những cảm tình sâu đậm. Nhân dịp này, NguoiVietBoston kêu gọi cộng đồng, các tổ chức, đoàn thể và đồng hương đáp lại nhiệt tình của các ca sĩ vùng New England bằng cách ủng hộ các sinh hoạt do các anh chị ca sĩ, nghệ sĩ tổ chức trong tương lai, bởi vì chính những tiếng hát xuất sắc đó, những tấm lòng thiện nguyện đó mới thật sự góp phần nuôi dưỡng và làm khởi sắc các sinh hoạt từ đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ đến văn hóa, xã hội trong cộng đồng Việt Nam chúng ta.

NguoiVietBoston cám ơn anh Chiêm Bảo Nghi của báo Phương Đông, anh Tô Tấn Tài, chị Bùi Hoa và các độc giả NguoiVietBoston khác đã cho phép xử dụng các tấm hình rất đẹp dưới đây.

BBT NguoiVietBoston
—————————————————————————–

quanluc1

quanluc2

quanluc50

quanluc51

quanluc3

quanluc5

quanluc6

quanluc7

quanluc8

quanluc9

quanluc10

quanluc11

quanluc12

quanluc13

quanluc20

quanluc21

quanluc23

quanluc41

quanluc24

quanluc40

quanluc60

quanluc25

quanluc26

quanluc27

quanluc28

quanluc29

quanluc30

Monday, June 21, 2010

TS Cù Huy Hà Vũ, từ khởi kiện Thủ tướng đến yêu cầu xóa bỏ điều 4 Hiến pháp

Trích VOA News

Cách đây một năm, Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ ở Hà Nội đã nạp đơn kiện đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra toà do đã xâm hại nghiêm trọng quyền lợi quốc gia khi cho phép Trung Quốc khai thác bauxite trên quy mô lớn tại Tây Nguyên mà không thông qua Quốc hội, tạo nên một sự kiện pháp lý – chính trị chưa từng có không chỉ ở Việt Nam mà trong lịch sử thế giới cộng sản. Kỷ niệm một năm vụ kiện, VOA có cuộc phỏng vấn người khởi kiện.

Tổng bí thư Nông Ðức Mạnh (trái) và Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ
Hình: Cù Huy Hà Vũ

Tổng bí thư Nông Ðức Mạnh (trái) và Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ

VOA: Thưa Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ, việc ông khởi kiện đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã được dư luận trong và ngoài Việt Nam đánh giá rất cao. Các nhà trí thức của trang mạng Bauxite Việt Nam thậm chí coi hành vi khởi kiện này của ông là một cuộc cách mạng khi gọi đó là “Xô Viết Nghệ - Tĩnh thời nay”. Ông nghĩ sao về sự đánh giá này?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ:
Sự ủng hộ mạnh mẽ của dư luận rộng rãi mà trước hết của người dân Việt Nam đối với vụ kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà tôi tiến hành ngày 11/6/2009 chắc chắn là một sự động viên vô cùng đặc biệt đối với cá nhân tôi, một người luôn tâm niệm Thượng tôn Tổ quốc Việt Nam, Hiến pháp và Pháp luật. Nhưng thành thật mà nói, tôi cảm thấy buồn nhiều hơn là vui.

VOA: Tại sao có chuyện buồn hơn vui khi được sự ủng hộ của nhiều người, thưa ông?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Bởi vì một hành vi pháp lý quá ư bình thường ở các nước khác lại trở thành một sự kiện ở Việt Nam. Thực vậy, ở các quốc gia thực sự dân chủ hay thực sự pháp quyền thì việc công dân kiện người đứng đầu Chính phủ hay nguyên thủ quốc gia, tất nhiên phải có lý do chính đáng, thậm chí là chuyện đáng khuyến khích vì nó thể hiện ở mức độ mẫu mực nguyên tắc “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”.

Thế nhưng ở Việt Nam, mặc dầu nguyên tắc trên được Hiến pháp quy định rất rõ ràng ở Điều 52 và mặc dầu được cả một hệ thống các đạo luật, từ Luật Khiếu nại, tố cáo cho đến Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính và các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành bảo hộ, việc công dân khởi kiện ra tòa quan chức chính quyền dù ở cấp thấp do có những hành vi hay quyết định hành chính trái pháp luật trên bình diện chung vẫn là bất khả thi hay vẫn là chuyện “con kiến kiện củ khoai” theo cách nói dân gian Việt Nam. Mà đã không kiện được thì người đi kiện cầm chắc khả năng bị đòn thù từ phía chính quyền.

Nghĩa là Việt Nam đang ở trong một “quái trạng pháp luật”!

Thành thử, việc tôi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dĩ nhiên là nằm ngoài sự suy nghĩ thông thường của mọi người và bởi thế trở thành sự kiện, đáng tiếc là bất đắc dĩ.

VOA: Vậy theo Tiến sĩ, làm thế nào để những điều bình thường về pháp luật trên thế giới không còn trở thành bất bình thường, không còn trở thành “sự kiện bất đắc dĩ” ở Việt Nam?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Về nguyên tắc, không có sự tha hóa chính trị - pháp luật nào không giải quyết được nếu ta xác định đúng nguyên nhân.

Cho dù ở Việt Nam có câu “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi” thì tôi vẫn phải nhắc lại, và luôn sẵn sàng nhắc lại, rằng nguyên nhân của quái trạng pháp luật ở Việt Nam chính là sự độc quyền lãnh đạo đất nước của Đảng cộng sản được Hiến pháp ghi ở Điều 4.

Thực vậy, sở dĩ tòa án không dám xử quan chức chính quyền, Quốc hội không dám giải tán Chính phủ tham nhũng và yếu kém là vì cả Lập pháp, Tư pháp và Hành pháp chỉ là công cụ cai trị của Đảng cộng sản chứ không phải là công cụ quản lý quốc gia, quản lý xã hội của nhân dân. Huống hồ Đảng cộng sản lại đồng nhất với Chính phủ trên thực tế mà một trong những bằng chứng rõ nhất là đảng chi tiêu bằng ngân sách Nhà nước do Chính phủ quản lý.

Cái sự lệ thuộc của cơ quan lập pháp đối với Đảng cộng sản còn thể hiện ở sự lép vế của Quốc Hội trước đảng cũng ngay trong Hiến pháp khi văn bản pháp lý cao nhất này khẳng định Đảng cộng sản Việt Nam là “đại biểu trung thành của cả dân tộc” trong khi chỉ dành cho Quốc Hội quy chế “đại biểu của nhân dân”, nếu như ta bỏ qua cái sự buồn cười là người dân được đại diện những hai lần bởi hai cơ cấu chính trị khác hẳn nhau!

Mặc dầu biết rõ hơn ai hết không thể có sự độc lập hoạt động giữa Lập pháp, Tư pháp và Hành pháp với nhau hay “Tam quyền phân lập” dưới sự cai trị của họ, ban lãnh đạo Đảng cộng sản cũng không thể công nhiên khẳng định sự độc tài, chuyên chế của đảng nhất là trong thời buổi hội nhập quốc tế trở thành vấn đề sống còn của Việt Nam. Vả lại, trung thành với truyền thống mỵ dân bằng ngôn từ, ban lãnh đạo Đảng cộng sản đã sáng tác ra một công thức gồm ba vế hòng thay thay thế “Tam quyền phân lập”: đó là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”.

Thế nhưng “lợi bất cập hại”, công thức mỵ dân mới này của bậc thầy tuyên truyền trong giới cộng sản châu Á lại có tác dụng ngược, vạch rõ hơn bao giờ hết bản chất toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam

VOA: Tại sao ông lại cho rằng công thức “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” trong thực tế đã thể hiện bản chất toàn trị, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Trong công thức này thì vế “Đảng lãnh đạo” hẳn không phải giải thích gì thêm.

Thế nhưng tiếp đến vế “Nhà nước quản lý” thì quả là điên rồ vì “Nhà nước” đồng nhất với “quản lý”. Thực vậy, “Nhà nước” được sinh ra là để thực hiện chức năng “quản lý” quốc gia, xã hội. Nếu thay thuật ngữ “Nhà nước” bằng thuật ngữ “quản lý” và ngược lại thì chúng ta sẽ có “Nhà nước Nhà nước” và “Quản lý quản lý” hoàn toàn vô nghĩa.

Vậy tại sao sự vô nghĩa trên vẫn có thể tồn tại? Là bởi tầm quan trọng của “Nhà nước quản lý” là ở chỗ khác, ở chỗ ai là Nhà nước.

Có thể nói không ngoa rằng 100% người có chức vụ trong bộ máy công quyền là đảng viên. Vậy hoàn toàn có thể nói “Nhà nước quản lý” là “Đảng quản lý”.

Còn vế cuối “Nhân dân làm chủ” thì trừ con nít ai cũng hiểu rằng nhân dân không thể trực tiếp làm chủ đất nước mà phải thông qua Nhà nước. Vậy “Nhân dân làm chủ” là “Nhà nước làm chủ”. Mà Nhà nước lại là Đảng cộng sản như trên vừa phân tích, thành thử “Nhà nước làm chủ” là “Đảng làm chủ”. Rốt cuộc, “Nhân dân làm chủ” là “Đảng làm chủ”!

Tóm lại, “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” thực chất là “Đảng lãnh đạo, Đảng quản lý, Đảng làm chủ”. Vậy nói thể chế chính trị ở Việt Nam không phải là chế độ dân chủ mà là chế độ toàn trị bởi Đảng cộng sản là tuyệt đối chính xác!

Để nói, không thể có “Tam quyền phân lập” hay “Tam quyền nhất lập” do Đảng cộng sản lũng đoạn đồng nghĩa tòa án mặc nhiên bó tay trước những xâm hại lợi ích quốc gia, xâm hại lợi ích của người dân từ phía chính quyền sẽ không được giải quyết chừng nào độc quyền lãnh đạo đất nước của Đảng cộng sản vẫn được Hiến định tại Điều 4.

VOA: Thế nhưng như Tiến sĩ đã phân tích, mọi thứ đều do Đảng cộng sản nắm, kể cả Quốc Hội, thì làm sao việc thay đổi độc quyền lãnh đạo của đảng này lại có thể diễn ra được?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Không có gì là không thể. Trước hết phải xem Điều 4 Hiến pháp có lý không đã. Nếu không có lý thì xóa bỏ là chuyện hoàn toàn bình thường.

Nguyên văn Điều 4 Hiến pháp là: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Ỏ đây có nhiều phi lý đến cùng cực.

Thứ nhất, “Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước” mà Nhà nước là Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp, tức gồm Quốc Hội. Nghĩa là đảng lãnh đạo Quốc Hội.

Thế nhưng, cũng vẫn Điều 4 Hiến pháp ghi: “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” thì điều này có nghĩa Đảng cộng sản Việt Nam phải tuân thủ Điều 83 Hiến pháp theo đó “Quốc Hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp”.

Nghĩa là trên Quốc Hội không còn cơ quan quyền lực nào khác có thể lãnh đạo, có thể ra lệnh cho Quốc Hội, đồng nghĩa Đảng cộng sản Việt Nam phải chịu sự lãnh đạo của Quốc Hội, bởi nếu ngược lại thì Điều 83 Hiến pháp đã phải ghi: “Quốc Hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao thứ Nhì của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sau Đảng cộng sản Việt Nam”.

Thứ hai, vẫn theo Điều 4 Hiến pháp, Đảng cộng sản Việt Nam được quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội là vì đảng là “đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”.

Thế nhưng “đại biểu” phải là kết quả của bầu cử. Thực vậy, “đại” là đại diện”, “biểu” là biểu quyết, “đại biểu” là đại diện được lựa chọn thông qua biểu quyết, tức thông qua bầu cử. Thú thật là từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ tôi chưa từng nghe Đảng cộng sản Việt Nam hay ai đó nói rằng trong cuộc bầu cử X, Y, Z nào đó đảng được “giai cấp công nhân”, “nhân dân lao động” và “cả dân tộc” bầu làm “đại biểu”cho bản thân.

Đến như các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc Hội mà bản thân tôi, Cù Huy Hà Vũ, với tư cách là công dân trực tiếp bầu ra, còn chưa bao giờ được Ủy ban nhân dân phường Điện Biên, thành phố Hà Nội là nơi tôi cư trú thông báo để tôi có thể tham gia thì lấy đâu ra các cuộc họp hay đại hội của “giai cấp công nhân”, của “nhân dân lao động”, của “cả dân tộc” để bầu Đảng cộng sản Việt Nam làm “đại biểu” cho mình!

Nói cách khác, “đại biểu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc” dứt khoát là sự mạo nhận của Đảng cộng sản Việt Nam, không phải do bầu cử mà có nên quyết không thể là “chính danh”. Mà đảng đã không “chính danh” thì quyết không thể “lãnh đạo” bất kỳ ai!

Tóm lại, Điều 4 Hiến pháp Việt Nam là hoàn toàn phi lý và vì vậy dứt khoát phải xóa bỏ.

Người Việt Nam có câu: “Cha mẹ sinh con, Trời sinh tính” mà Trời ở đây chính là Nhân dân thì dù nguồn gốc là do Đảng cộng sản chọn hay theo ngôn từ của đảng, “cơ cấu” đi chăng nữa Quốc Hội cũng phải sớm thôi là công cụ của đảng và trở lại thiên chức “đại biểu cao nhất của Nhân dân” để làm cái việc phế bỏ này, cho dù có khổ tâm.

VOA: Theo như Tiến sĩ đã phân tích thì Điều 4 Hiến pháp Việt Nam không thể tồn tại, thế nhưng bộ máy tuyên truyền của Đảng cộng sản Việt Nam vẫn lập luận rằng đảng có công trong chiến tranh thì phải lãnh đạo quốc gia thời hậu chiến. Tiến sĩ nghĩ sao về điều này?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Lập luận này của Đảng cộng sản Việt Nam cũng sai nốt, vì nhiều lẽ.

Thứ nhất, tiến hành chiến tranh chỉ để giành quyền cai trị quốc gia, tức coi quốc gia là “chiến lợi phẩm” thì đó là tư tưởng “được làm vua, thua làm giặc” đặc sệt lục lâm, thảo khấu, chứ không phải lý tưởng của những người Cộng hòa Dân chủ mà Đảng cộng sản Việt Nam tự mệnh danh suốt 30 năm chiến tranh, từ 1945 đến 1975.

Thứ hai, trong thắng lợi của các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước trong thế kỷ trước, phải khẳng định rằng Đảng cộng sản Việt Nam có công lớn nhưng vai trò quyết định và công đầu luôn thuộc về nhân dân, điều mà đảng chưa bao giờ dám công khai phủ nhận.

Vậy xét theo quan điểm “lãnh đạo theo công trạng” thì lãnh đạo đất nước phải là nhân dân chứ quyết không thể là Đảng cộng sản Việt Nam. Thành thử việc đảng nắm quyền lãnh đạo đất nước chỉ có thể là hành vi tiếm quyền, là hành vi chiếm đoạt thành quả của nhân dân!

Thứ ba, tất cả những người Việt Nam đã chấp nhận sự chỉ huy hay lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước là vì họ đã đặt sự tồn vong của Tổ quốc lên trên hết chứ tuyệt nhiên không vì chủ nghĩa Mác – Lê nin bởi nếu không thì đảng đã có hàng triệu chứ không chỉ 5.000 thành viên khi Việt Nam giành độc lập vào năm 1945, có cả chục triệu chứ không chỉ 1,5 triệu thành viên khi cuộc chiến kết thúc vào năm 1975. Và tôi cũng tin chắc rằng đó cũng chính là lý do gia nhập đảng của tuyệt đại đa số các đảng viên trong giai đoạn máu lửa này.

Vậy một khi Độc lập dân tộc và Thống nhất đất nước đã đạt được thì sự chỉ huy hay sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với tuyệt đại đa số người Việt Nam tất không còn lý do tồn tại. Do đó, để có cơ hội tiếp tục vai trò lãnh đạo quốc gia Việt Nam thời hậu chiến thì Đảng cộng sản phải giành được sự tín nhiệm của đa số công dân thông qua các cuộc tổng tuyển cử thực sự dân chủ với sự tham gia của mọi đảng phái chính trị được tự do thành lập.

Nói cho đúng thì Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã phải cạnh tranh gay gắt và đi đến thỏa hiệp với nhiều đảng phái và phong trào chính trị khác để có được vai trò lãnh đạo trong chiến tranh.

Thực vậy, Đảng cộng sản Đông Dương - tên khác của Đảng cộng sản Việt Nam - đã phải tự giải thể vào tháng 11/1945 và hoạt động dưới danh nghĩa Mặt trận Việt Minh để có được sự ủng hộ của quảng đại nhân dân, đã phải liên hiệp với Việt Nam Quốc Dân Ðảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách Mệnh Ðồng minh hội (Việt Cách) để lập ra Chính phủ Liên hiệp lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; rồi Chính phủ Liên hiệp quốc gia vào năm 1946; liên hiệp với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch để lập ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào năm 1969...

Để nói sự chỉ huy hay sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam ngay trong giai đoạn chiến tranh cũng không phải là mặc nhiên mà là kết quả của sự thỏa hiệp với các đảng phái và phong trào chính trị khác thì không có lý gì đảng lại có thể độc quyền lãnh đạo quốc gia thời bình, thời mà cơ hội tham gia quản lý Nhà nước và xã hội được chia đều cho mọi công dân, như Điều 53 Hiến pháp đã quy định.

Cũng phải nói rõ là không có Đảng cộng sản Việt Nam thì Độc lập dân tộc và Thống nhất đất nước vẫn cứ đến với người Việt Nam như lịch sử đã minh chứng trong suốt hai nghìn năm qua, vì chủ nghĩa Nhất thể Việt (Vietnamunism) của người Việt, mà nội hàm của nó là - Một dân tộc, Một quốc gia hay Dân tộc đồng nhất với Quốc gia - không cho phép có kết quả nào khác.

Chắc chắn, Hai Bà Trưng, Lý Bí, Triệu Quang Phục, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh…không phải là Tổng bí thư hay ủy viên trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khi tiến hành thành công các cuộc chiến tranh đánh đuổi quân xâm lược phong kiến Trung Hoa để dành Độc lập dân tộc hay để thống nhất đất nước.

Bốn là, thời chiến và thời bình tuân theo những quy luật khác hẳn nhau, nôm na thời chiến là “phá” còn thời bình là “xây”, thời chiến là “ra mệnh lệnh và chấp hành mệnh lệnh”, thời bình là “dân chủ hay tự do phản biện”. Do đó tư lệnh quân sự mà chuyển sang quản lý kinh tế ngay sau chiến tranh thì kinh tế quốc dân chỉ có nước “nát”. Điều này giải thích vì sao những anh hùng thời chiến như Tướng De Gaulle của Pháp, Thủ tướng Churchill của Anh đã bị người dân bỏ phiếu “veto” ngay sau khi Thế chiến II kết thúc.

Còn ở Việt Nam sau năm 1975, Đảng cộng sản đã thực hiện “chủ nghĩa xã hội trại lính” với kết quả ăn mày đầy đường vào năm 1986 và từ 1986 trở đi, “chủ nghĩa tư bản dã man” dẫn đến tài nguyên bị tàn phá tan hoang, người lao động bị bóc lột thậm tệ, thậm chí trở thành món hàng xuất khẩu béo bở mà vì lẽ đó Việt Nam đã bị Hoa Kỳ liệt vào diện quốc gia buôn người… ngần ấy sự việc đã quá đủ để chứng minh không phải cứ “kẻ thù nào cũng đánh thắng” là có thể giải quyết thành công mọi vấn đề của đất nước thời hậu chiến, ngược lại là đằng khác!.

Suy cho cùng, quy chế “lãnh đạo suốt đời” của Đảng cộng sản Việt Nam được cụ thể hoá bằng Điều 4 Hiến pháp là nhằm bảo đảm cho ban lãnh đạo đảng không bị thách thức trong việc bỏ túi tài sản quốc gia chứ không phải là kết quả của chủ nghĩa duy ý chí trong điều hành đất nước của đảng.

VOA: Ngoài những gì mà Tiến sĩ vừa nói về Điều 4 Hiến pháp thì Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết có nói đại ý là “Bỏ Điều 4 Hiến pháp là tự sát”. Ông nghĩ sao về phát biểu này?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Trước hết phải khẳng định rằng đã sinh ra trong đời là để sống chứ không phải để chết và vì thế tự sát họa là hành vi của kẻ tâm thần, bệnh hoạn. Tuy nhiên sự sống không bao giờ giáo điều mà ngược lại, luôn thực tiễn. Nghĩa là không phải cứ hô mình vạn tuế là mình không thể chết và ngược lại, dám nhảy vào chỗ chết thì lại ra đất sống!

Vấn đề là ai “tự sát” trong phát biểu này của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, uỷ viên Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam, là dân tộc Việt Nam hay Đảng cộng sản Việt Nam?

Nếu đó là “dân tộc Việt Nam” thì phát biểu này là hoàn toàn ngô nghê, ngớ ngẩn vì dân tộc Việt Nam tồn tại từ 4000 năm nay trong khi Điều 4 Hiến pháp Việt Nam mới tồn tại non hai thập kỷ nay, từ 1992. Vậy chỉ còn khả năng chủ thể của “tự sát” trong phát biểu của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết là “Đảng cộng sản Việt Nam”.

Tuy nhiên trong một chế độ dân chủ ai mà nói đảng cầm quyền rời bỏ vị trí đang nắm giữ là “tự sát” ắt bị trẻ nó cười vào lỗ mũi. Thế nên một âm hưởng “sợ chết” đến như vậy chỉ có thể toát ra từ những bạo chúa, từ những kẻ cầm quyền phạm tội ác chống lại chính dân tộc, chống lại chính nhân dân mình! Vậy phải chăng Đảng cộng sản Việt Nam hay chính xác hơn, ban lãnh đạo đảng thuộc trường hợp này?

Điều không thể chối cãi là bằng việc tiếp tay cho Trung Quốc xâm lược cả “mềm” lẫn “cứng” lãnh thổ của Việt Nam qua việc cho các công ty nước này hoặc trá hình khai thác bauxite tại địa bàn chiến lược Tây Nguyên và thuê trong 50 năm hàng bốn trăm nghìn hécta rừng đa phần giáp giới nước phương Bắc có thâm niên bành trướng này, bằng sự đớn hèn trước sự lấn lướt và đe dọa xâm lược vũ trang của Bắc Kinh tại những vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bằng tham nhũng siêu nghiêm trọng từ tham ô trực tiếp tài sản quốc gia đến vay bừa tiêu vung để nhiều thế hệ người dân sẽ phải è cổ trả nợ, bằng cướp đất của người dân, đặc biệt của nông dân tràn lan kiểu “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”, bằng bóp nghẹt những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp bảo hộ các quyền tự do như quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận, quyền được thông tin, quyền biểu tình, quyền đình công, quyền giữ gìn nơi thờ tự của các tín ngưỡng…, ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam rõ ràng đang đi ngược 180 độ lợi ích của dân tộc và toàn thể nhân dân Việt Nam.

Chính bởi những hành vi “phản Nước hại Dân” siêu nghiêm trọng ấy mà sự tiêu vong của ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam kéo theo sự tiêu vong của đảng với tư cách tổ chức là có thể nhìn thấy trước! Vì vậy, nỗi hãi hùng, thậm chí hoảng loạn của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đại diện cho ban lãnh đạo đảng trước viễn cảnh này là hoàn toàn có cơ sở.

Vì vậy, để tránh bị triệt tiêu thậm chí một cách thê thảm, ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam không còn sự lựa chọn nào khác là phải quay về với dân tộc, quay về với nhân dân bằng cách tự phá bỏ quy chế độc tài của bản thân và thực hiện một nền chính trị Đa đảng.

Vả lại, Đa đảng là cội nguồn, là đường lối của chính Đảng cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sau này - sáng lập.

VOA: Ông căn cứ vào đâu để xác quyết như vậy, trong khi Chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Nguyễn Phú Trọng khi đi thăm Ấn Độ mới đây khẳng định đại ý là “Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan có chế độ đa đảng”?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Chính sử của Đảng cộng sản Việt Nam ghi rõ: tháng 2 năm 1930 dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất ba đảng theo Đệ tam Quốc tế là Đông dương cộng sản Đảng, An Nam cộng sản Đảng và Đông dương cộng sản Liên đoàn.

Như vậy, Đa đảng không những là thực tại khách quan của chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam mà hơn thế nữa, Đa đảng đã “đẻ” ra chính Đảng cộng sản Việt Nam!

Còn trong cả bốn bản Hiến pháp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam - 1946, 1959 mà cha tôi Bộ trưởng Cù Huy Cận là Tổng thư ký Ủy ban soạn thảo và 1980, 1992 – không có bất cứ Điều nào, Khoản nào quy định Đảng cộng sản Việt Nam là đảng phái chính trị duy nhất ở Việt Nam.

Không kể Quốc Hội khoá I bao gồm thành viên của nhiều đảng phái chính trị như Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh), Đảng Dân chủ, Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách), Đảng Xã hội và Đảng Dân chủ hoạt động hoàn toàn hợp pháp dưới chính thể Việt Nam cộng sản cho đến năm 1988 là thời điểm hai đảng này tuyên bố tự giải thể cho dù bất đắc dĩ. Không những thế, Tổng thư ký Đảng Dân chủ Nghiêm Xuân Yêm và Tổng thư ký Đảng Xã hội Nguyễn Xiển còn giữ chức vụ Phó Chủ tịch Quốc hội.

Trên bình diện quốc tế, chưa kể Việt Nam và trừ Cuba, Triều Tiên, Lào, Syria, Turmenistan và Eritrea theo chế độ độc đảng mà hầu hết thuộc diện quốc gia kém phát triển nhất, con số 185 quốc gia thực hiện chế độ đa đảng, chiếm 97% thành viên Liên Hiệp Quốc cũng đã đủ chứng minh đa đảng là thực tại bao trùm, là sự cần thiết khách quan đối với mọi quốc gia trong thế giới hiện tại.

Cũng cần nói thêm rằng ở Trung Quốc ngoài Đảng cộng sản còn có 8 đảng phái chính trị khác song song tồn tại.

Do đó, với phát biểu “Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan có chế độ đa đảng”, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, từng là Chủ tịch Hội đồng lý luận trung ương và là đương kim Phó Trưởng Tiểu ban thường trực Tiểu ban Cương lĩnh và Báo cáo chính trị Đại hội toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ XI, không chỉ cho thấy ông này, oái ăm thay, hoặc lú lẫn hoặc thực hiện “chính sách đà điểu” – rúc đầu vào cát để khỏi nhận chân sự thật đang diễn ra xung quanh - mà nghiêm trọng hơn, đã xuyên tạc trắng trợn lịch sử dân tộc Việt Nam đương đại, xuyên tạc trắng trợn lịch sử của chính Đảng cộng sản Việt Nam.

Nói cách khác, việc ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay khăng khăng chống đa đảng dứt khoát là hành vi phản bội dân tộc, phản bội ngay chính Đảng cộng sản Việt Nam, phản bội ngay chính Hồ Chí Minh.

Một sự bội phản như vậy chắc chắn không chỉ nhân dân Việt Nam không dung mà hàng triệu đảng viên cộng sản và bản thân Hồ Chí Minh - nếu quả thật “sống mãi” như khẩu hiệu của đảng - không tha!

Do đó tôi nhắc lại một lần nữa, quay lại chế độ Đa đảng là con đường sống duy nhất đối với Đảng cộng sản Việt Nam!

VOA: Thưa Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, giả sử Đảng cộng sản Việt Nam làm theo như ông nói thì có thể có những kịch bản nào xảy ra?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Trong trường hợp đó, tựu trung có hai kịch bản sau đây cho Đảng cộng sản Việt Nam.

Thứ nhất, Quốc Hội chủ động hủy bỏ Điều 4 Hiến pháp và tổ chức tổng tuyển cử với sự tham gia của mọi đảng phái chính trị được tự do thành lập mà nơi đăng ký sẽ là Tòa án tối cao. Nếu kịch bản này xảy ra thì tôi tin chắc Đảng cộng sản Việt Nam sẽ được vinh danh bởi toàn thể người Việt Nam trên toàn thế giới, kể cả những người chống cộng cực đoan nhất.

Thứ hai, căn cứ Khoản 14 Điều 84 Hiến pháp, Quốc hội quyết định Trưng cầu dân ý về Điều 4 Hiến pháp và về quyền bình đẳng của các đảng phái chính trị trong việc sử dụng các phương tiện tài chính và truyền thông của Nhà nước trong vận động bầu cử Quốc Hội.

Sở dĩ tôi đưa vào Trưng cầu dân ý nội dung thứ hai vì đây là điều kiện tiên quyết để bầu cử Quốc Hội không trở thành màn độc diễn của Đảng cộng sản như đã từng, để bầu cử Đa đảng không trở thành “hữu danh vô thực”.

Thực vậy, ở Việt Nam không có báo chí tư nhân, mọi phương tiện truyền thông đều nằm trong tay Nhà nước, tức trong tay Đảng cộng sản. Do đó, nếu ứng viên của các đảng phái chính trị khác không được tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng, tức không có cơ hội trình bày cương lĩnh tranh cử của mình trước cử tri rộng rãi thì thất cử trước ứng viên của Đảng cộng sản là không phải bàn cãi.

Tiếp sau Trưng cầu dân ý, Quốc hội sẽ tổ chức tổng tuyển cử với sự tham gia của mọi đảng phái chính trị được tự do thành lập mà nơi đăng ký, như tôi đã đề cập, là Tòa án tối cao.

Cả hai kịch bản đều để ngỏ cửa cho Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo đất nước cũng như dành một lối thoát danh dự cho đảng trong trường hợp đảng không dành được tín nhiệm của đa số cử tri.

VOA: Thưa Tiến sĩ, trong hai kịch bản này thì cái nào khả thi nhất?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Cá nhân tôi không cho rằng ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay có đủ dũng cảm và tự tin để đi theo kịch bản đầu. Vậy chỉ có kịch bản thứ hai là khả thi. Tuy nhiên ngay cả kịch bản này để diễn ra một cách nghiêm túc và thực chất thì cũng phải có điều kiện đi kèm.

VOA: Điều kiện nào vậy, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Với kinh nghiệm của một người đã từng tranh cử Đại biểu Quốc hội với tư cách ứng viên độc lập, tôi khẳng định một lần nữa rằng Quốc Hội Việt Nam gọi là do dân bầu nhưng thực tế là do Đảng cộng sản chọn sẵn. Thực vậy, tuyệt đại đa số những người tự ứng cử, tức không do đảng chọn, đều bị ban tổ chức bầu cử loại bỏ ngay từ vòng ngoài bằng những thủ đoạn có thể nói vô liêm sỉ nhất.

Chẳng hạn Luật bầu cử Quốc Hội quy định lấy ý kiến cử tri của tổ dân phố nơi ứng viên có hộ khẩu thường trú, mà ai cũng biết rằng ở Việt Nam hộ khẩu thường trú chỉ có một, thì trong kỳ bầu cừ Quốc Hội năm 2007 Mặt trận Tổ quốc phường Điện Biên lại đạp lên Luật, triệu tập cử tri của 4 tổ dân phố thay vì của 1 tổ dân phố nơi tôi có hộ khẩu thường trú, tức vượt khung “hai đánh một chẳng chột thì què”, để lấy ý kiến về tôi với tư cách ứng viên Đại biểu Quốc Hội. Kết quả là ứng viên Cù Huy Hà Vũ chỉ được tín nhiệm của 1/3 cử tri của 4 tổ dân phố và thế là bị loại một cách cực kỳ “dân chủ”!

Đó chưa kể những lời vu cáo của những người tôi chưa từng nghe tên, thấy mặt, nhẹ nhất cũng là “ứng viên không gương mẫu vì chẳng thấy ứng viên tham gia quét rác đường phố”, giọng thì hồng hộc, hậm hực, hổn hển, ngất lên, ngất xuống, như thể tôi là kẻ thù của “giai cấp”, kẻ thù của “cách mạng” trong các cuộc đấu tố địa chủ thời kỳ cách ruộng đất những năm 1950 của thế kỷ trước cũng vẫn do Đảng cộng sản Việt Nam tổ chức.

Vì vậy, để không lặp lại màn “tự biên tự diễn” hay “dân chủ giả hiệu” của Đảng cộng sản Việt Nam như trong bầu cử Quốc hội và để Trưng cầu dân ý phản ánh chính xác và đầy đủ nguyện vọng của nhân dân thì cơ chế dân chủ này cần được tổ chức dưới sự giám sát của Liên Hiệp quốc mà Việt Nam là thành viên đầy đủ.

Việc Việt Nam mong muốn đưa quân đội nhân dân Việt Nam tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc càng cho thấy việc Liên Hiệp Quốc thực hiện giám sát Trưng cầu dân ý ở Việt Nam là rất khả thi. Vấn đề còn lại là tài chính để tổ chức giám sát Trưng cầu dân ý thì tôi tin rằng Liên Hiệp Quốc sẽ không quá eo hẹp để có thể từ chối.

Nói cách khác, Đảng cộng sản Việt Nam chỉ có thể chính danh lãnh đạo đất nước nếu giành được sự tín nhiệm của đa số thường cử tri thông qua Trưng cầu dân ý được tổ chức dưới sự giám sát của Liên Hiệp quốc.

VOA:
Bây giờ xin trở lại vụ công dân Cù Huy Hà Vũ kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, vụ này đã đến đâu rồi, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Cho đến giờ Chánh án Toà án tối cao Trương Hoà Bình không thụ lý nhưng cũng không dám trả lại tôi Đơn khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vì không tìm nổi lý do để trả lại đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Rõ ràng cái việc Chánh án Trương Hòa Bình ngâm đơn khởi kiện của tôi không những là hành vi trực tiếp phá hoại Công lý mà còn là hành vi tiếp tay Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xâm hại nghiêm trọng quốc phòng, an ninh quốc gia, xâm hại môi trường và bản sắc văn hoá Việt Nam.

Phải khẳng định một lần nữa rằng Nước Việt đã hình thành từ bốn nghìn năm nay bằng xương máu và công sức của biết bao thế hệ người Việt trong đó có Đô chỉ huy sứ Cù Ngọc Xán, Tổng chỉ huy quân đội thời Nhà Lê, được vua ban quốc tính, được Triều Nguyễn sắc phong Thần là bậc tổ nội của tôi ở xã Ân Phú, Đức Thọ (nay là Vũ Quang), Hà Tĩnh, địa danh đặt theo danh ngôn “Dân Ân Quốc Phú – Dân Giàu Nước Mạnh”, có Đại tư mã Ngô Văn Sở và mười tám Quận công họ Ngô là những bậc tổ ngoại của tôi ở xã Trảo Nha, Can Lộc, Hà Tĩnh, địa danh đặt theo câu “Xã tắc Trảo Nha – Nanh vuốt của Quốc gia” do Chúa Trịnh tặng võ thần cự tộc họ Ngô ở mảnh đất này - chứ tuyệt nhiên không phải từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam thì mới hình thành để ban lãnh đạo đảng bây giờ muốn phá thì phá, muốn bán thì bán!

Cũng cần nói rõ vùng Hồng Sơn hay Hồng Lĩnh bao gồm ba huyện Đức Thọ, Can Lộc và Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh với cư dân là Việt Thường thị hay tộc Việt Thường chính là Cội nguồn, là Tổ của Việt Nam ngày nay. Truyền thuyết Hồng Bàng và Trăm trứng từ đó mà có.

Ngoài ra, làm mất nước Việt Nam không chỉ là làm mất những giá trị vật chất như lãnh thổ, tài nguyên, mà còn làm mất những giá trị phi vật thể vô giá mà ở đây là lịch sử, là văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc của người Việt trong đó cha tôi, thi sĩ Huy Cận cùng bác ruột và là cha nuôi tôi, thi sĩ Xuân Diệu, đã đóng góp một phần không nhỏ.

Do đó, bên cạnh tư cách công dân thì với nghĩa vụ của con cháu trực hệ của Tổ Nước Việt, với nghĩa vụ giữ gìn và bảo vệ di sản cả vật chất lẫn phi vật thể mà gia tộc từ xưa tới nay để lại, Cù Huy Hà Vũ này quyết chặn đứng và chấm dứt những hành vi xâm phạm Hiến pháp và pháp luật gây hiểm hoạ mất nước Việt Nam của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, của Chánh án Toà án tối cao Trương Hoà Bình nói riêng, của toàn thể ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam nói chung, trước hết bằng những biện pháp tư pháp quyết liệt trong thời gian tới.

VOA:
Xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ về sự chân thành và thẳng thắn, cũng như về thời gian mà ông đã dành cho VOA trong cuộc phỏng vấn này.

Friday, June 18, 2010

Cựu trợ lý Ngoại trưởng Mỹ 'không thấy VN nới rộng hệ thống chính trị'

Trích VOA News

Thưa quý vị, một cuộc điều trần với chủ đề ‘Hỗ trợ nhân quyền và Dân chủ: Gia tăng tính hiệu quả viện trợ nước ngoài của Hoa Kỳ’ mới đây đã diễn ra tại Ủy ban Đối ngoại Hạ Viện ở thủ đô Washington. Đại diện một số tổ chức thúc đẩy dân chủ cũng như giới chức Hoa Kỳ đã có mặt để trả lời các câu hỏi của cử tọa. Bên lề buổi điều trần, VOA Việt Ngữ đã phỏng vấn riêng ông Lorn W. Craner, Cựu trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ đặc trách về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động (2001 - 2004), về chương trình viện trợ này với các khía cạnh liên quan tới Việt Nam. Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn của Nguyễn Trung với ông Craner trong chuyên mục ‘Câu chuyện Việt Nam’ tuần này.

Mr. Craner testifies on Increasing the Effectiveness of Human  Rights and Democracy Assistance
Hình: Jennifer Allen

Ông Craner nói ông thấy Việt Nam 'lột xác' về kinh tế, nhưng 'không thấy tiến bộ' về chính trị.

Chia sẻ

Tin liên hệ

Ðường dẫn liên hệ

'Về mặt chính trị, tôi nghĩ không có mấy thay đổi từ thời kỳ những năm 80 hay 90 và năm 2010', ông Craner nói.

VOA: Thưa ông, một thành viên của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện từng nói rằng các chương trình hỗ trợ nước ngoài của chính phủ Hoa Kỳ là một khái niệm khá mới mẻ với không ít người. Thực chất chương trình này hoạt động ra sao?

Ông Lorne Craner: Chương trình này bắt đầu đi vào hoạt động trên khắp thế giới khoảng 25 năm trước. Theo tôi biết, hiện nay, chương trình có mặt tại hơn 100 nước, với nhiều mục tiêu khác nhau, chẳng hạn như xây dựng xã hội dân sự ở Trung Quốc, hay trợ giúp phụ nữ tham gia vào tiến trình bầu cử của một đảng phái nào đó.

Tôi phải nhấn mạnh rằng chương trình này không nhằm áp đặt mô hình dân chủ kiểu Mỹ. Trên thực tế, chương trình của chúng tôi có sự tham gia của nhiều người từ khắp nơi trên thế giới, chẳng hạn như người châu Á hoặc châu Phi giảng dạy người dân ở châu Mỹ - Latin về tình hình dân chủ của họ. Chương trình này thực tế đã hoạt động nhiều năm rồi.

VOA: Trong phần điều trần của mình, ông không đề cập tới Việt Nam?

Ông Lorne Craner: Đúng. Tôi không đề cập cụ thể tới nhiều nước.

VOA: Liệu có phải vì lý do từng có một số tuyên bố rằng tình trạng dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam đã được cải thiện?

Ông Lorne Craner: Tôi không biết bất kỳ ai từng nói điều đó. Theo tôi, đã có một sự thay đổi to lớn ở Việt Nam. Lần đầu tiên tôi đến Hà Nội những năm 90, và giờ khi tôi trở lại, đó là một nơi đã lột xác gần như hoàn toàn. Đấy là đánh giá giá từ khía cạnh kinh tế.

Nhưng về mặt chính trị, tôi nghĩ không có mấy thay đổi từ thời kỳ những năm 80 hay 90 và năm 2010. Thực ra tôi thấy Trung Quốc còn năng động hơn Việt Nam về mặt chính trị, nhất là về việc nới rộng hệ thống dân chủ.

VOA: Còn tình hình nhân quyền thì sao, thưa ông?

Ông Lorne Craner: Tôi không nghĩ có sự cải thiện nào từ thời kỳ nhiều người bị đưa đi trại cải tạo cho tới khi chấm dứt chuyện đó hồi những năm 80 và đầu 90. Nếu chúng ta xét từ thời kỳ đầu những năm 90 cho tới nay, tôi không thấy một sự mở rộng hơn trong hệ thống chính trị ở Việt Nam so với 15 hay 20 năm trước.

VOA: Từng là Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ, ông có biết về một chương trình hỗ trợ nhân quyền và dân chủ nào ở Việt Nam hay không?

Ông Lorne Craner: Tôi không biết. Nhưng tôi thấy một số nước châu Âu và Liên Hiệp Quốc có tham gia vào chương trình nhằm giúp Hà Nội khả năng đánh giá tiến trình lập pháp. Nhưng tôi không biết gì về bất kỳ chương trình nào của Hoa Kỳ.

VOA: Thưa ông, liệu người Việt Nam ở hải ngoại có thể nhận được các khoản hỗ trợ đó không?

Ông Lorne Craner: Phần lớn các khoản hỗ trợ đó được cung cấp cho các nhóm và tổ chức ở trong nước. Ngay lập tức, tôi không thể nghĩ ra là từng có nhóm bất đồng chính kiến người Việt ở Hoa Kỳ từng được hỗ trợ. Tôi chỉ biết có một số nhóm người Trung Quốc đã được hỗ trợ, nhưng cũng không thường xuyên. Tôi nghĩ là họ nên liên lạc với Bộ Ngoại giao hay Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ.

VOA: Việt Nam từng lên tiếng cáo buộc một số nhà bất đồng chính kiến nhận tài trợ từ các chính phủ nước ngoài, trong đó có Hoa Kỳ. Ông có nghĩ rằng những chương trình hỗ trợ nhân quyền và dân chủ như vậy sẽ đặt các nhà hoạt động vào tình thế mạo hiểm?

Ông Lorne Craner: Tôi nghĩ đó là chuyện có thể xảy ra, nhưng đó là sự lựa chọn của những người quyết định nhận hỗ trợ từ Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ không ép buộc ai phải lấy các đồng tiền thuế của người dân Hoa Kỳ. Đấy là điều đầu tiên.

Thứ hai, chính phủ Việt Nam nêu lên cáo buộc như vậy, nhưng nếu xét trong lịch sử của Việt Nam, trước năm 1954, chính quyền nhận nhiều viện trợ, nhiều đồng đôla từ các nước như Trung Quốc hay Liên bang Xô Viết.

VOA: Ông nói rằng hàng triệu người trên thế giới sẽ biết ơn Hoa Kỳ vì các nỗ lực giúp cải thiện tình trạng dân chủ và nhân quyền tại nước họ, và điều đó đồng thời giúp Mỹ hưởng lợi. Vì sao lại như vậy, thưa ông?

Ông Lorne Craner: Tôi đã sống đủ để biết rằng nhiều nước từng trong tình trạng không dân chủ. Còn giờ, khi tôi tới thăm các nước như Latvia, Nam Phi, Philippines hay El Salvador, mọi người thường hay nói cám ơn tôi vì vai trò của Hoa Kỳ trong việc cải thiện dân chủ ở nước họ, đồng thời nhấn mạnh rằng họ sẽ không bao giờ quên sự giúp đỡ như vậy.

Điều xảy ra sau đó 5 hay 10 năm, khi Hoa Kỳ trở lại nói rằng ‘chúng tôi từng rất sẵn lòng hỗ trợ các anh, giờ chúng tôi muốn nhận được một sự giúp đỡ nào đó’. Trong phần lớn các trường hợp, chúng tôi nhận được sự trợ giúp của họ, không chỉ về ngoại giao mà còn các vấn đề như Afghanistan chẳng hạn.

Nhiều binh sĩ ở Afghanistan xuất thân từ Trung Á. Theo tôi biết, chính phủ các nước ở khu vực này từng chia sẻ rằng việc đưa con em họ sang đó chiến đấu là một đóng góp nhỏ so với những gì Hoa Kỳ đã giúp đỡ họ.

Xin cám ơn ông Lorne Craner. Đến đây cũng đã kết thúc chuyên mục ‘Câu chuyện Việt Nam’, phát sóng vào lúc 10 giờ tối thứ Bảy hàng tuần. Nếu quý vị muốn chia sẻ với các quý độc giả khác các tin tức hữu ích từ nơi mình sinh sống, xin gửi email về cho chúng tôi tại địa chỉ: vietnamese@voanews.com. Xin ghi trên tiêu đề là gửi chuyên mục 'Câu chuyện Việt Nam'. Xin quý vị gửi kèm các thông tin liên hệ cụ thể. Nguyễn Trung sẽ liên lạc với quý vị. Xin chân thành cám ơn và hẹn gặp lại trong chương trình tuần sau.