Translate

Friday, March 6, 2009

Đài chân trời mới phỏng vấn kỹ sư Đỗ Nam Hải về dự án Bauxite

Trích Việt Bao Online

Đài Chân Trời Mới Phỏng Vấn KS Đỗ Nam Hải Về Dự Án Bauxite:
sẽ gây thảm họa sinh thái rộng, thành vùng đất chết
Kính thưa quý thính giả,
Trong thời gian qua, vấn đề khai thác bauxite ở Tây Nguyên đã gây ra nhiều xôn xao trong dư luận. Khi đọc được những thông tin báo động về việc gây tác hại cho môi trường của vấn đề khai thác bauxite, không ai có thể làm ngơ và không thể hiểu được vì sao những dự án loại này có thể được quyết định tiến hành. Trong phần phỏng vấn hôm nay, chúng tôi xin mới quý thính giả chia sẻ những ưu tư của anh Đỗ Nam Hải, hiện đang sống tại Sài Gòn.
1/ Xin kính chào anh Đỗ Nam Hải và xin mời anh lên tiếng chào quý thính giả nghe đài.
Trả lời: Vâng, xin kính chào anh Hoàng Hà, xin kính chào quý thính giả của đài Chân Trời Mới. Tôi là Phương Nam - Đỗ Nam Hải đang phát biểu từ thành phố Sài Gòn - Việt Nam.
2/ Thưa anh, là người theo dõi tin tức thời sự thường xuyên trong nước, xin anh có thể chia sẻ những suy nghĩ của anh khi đọc những thông tin liên quan đến vụ khai thác bauxite tại Việt Nam?
Trả lời: Vâng, tôi được đọc và được nghe những thông tin liên quan đến việc Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam (NCQ CSVN) đã thỏa thuận với Nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc (NCQ CSTQ) cho phép các công ty Trung Quốc khai thác bauxite tại vùng Tây Nguyên của Việt Nam. Những thông tin này đến với tôi từ những nguồn cả trong và ngoài nước. Đặc biệt, ngày 4/2/2009 vừa qua, các báo, đài ở Việt Nam có đưa tin về kết luận của ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam hiện nay, rằng: “Ngày 5/1/2009, tại Văn phòng chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chủ trì cuộc họp về thăm dò, khai thác bauxite, sản xuất alumin và luyện nhôm. Tham dự có các Phó thủ tướng: Nguyễn Sinh Hùng, Trương Vĩnh Trọng, Hoàng Trung Hải và Nguyễn Thiện Nhân, lãnh đạo các Bộ: Công Thương, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Khoa học & Công nghệ, Giao thông vận tải, Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch; Uỷ ban nhân dân các tỉnh: Đắk Nông, Lâm Đồng, Gia Lai; Văn phòng chính phủ, Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam.
Sau khi nghe Bộ Công thương báo cáo, ý kiến của lãnh đạo các Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Nông và Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có ý kiến kết luận như sau: Việc khai thác bauxit, sản xuất alumin và luyện nhôm tại Tây Nguyên là phù hợp với chủ trương của Đảng và Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bauxit giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến 2025 đã được TTg CP phê duyệt tại QĐ số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01/11/2007…”.
Như vậy, rõ ràng đây không phải là tin đồn đại nữa mà là tin thật 100%. Theo kế hoạch thì dự án này sẽ diễn ra tại tỉnh Đắk Nông ở Tây Nguyên. Qua nghiên cứu tài liệu, tôi được biết rằng: khi dự án này triển khai thì nó sẽ gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng cho Việt Nam. Cụ thể như sau:
+ Không có hiệu quả về tất cả các mặt kinh tế, tài chính và xã hội.
+ Với trình độ công nghệ khai thác bauxite của Trung Quốc hiện tại vẫn còn khá lạc hậu thì dự án này sẽ phá hủy môi trường tại chỗ của Tây Nguyên. Nó sẽ gây thảm họa về sinh thái trên diện rộng cho cả các tỉnh Nam Trung Bộ và một số tỉnh của Campuchia. Đất đai tại vùng khai thác bauxite sau đó sẽ biến thành vùng đất chết và người nông dân Việt Nam sẽ không thể canh tác được nữa.
+ Vùng khai thác bauxite lại ở đầu nguồn của các con sông Đồng Nai và sông Sêrêpốc, nên dự án khi triển khai thực hiện sẽ vừa làm ô nhiễm, vừa làm cạn kiệt nước của 2 con sông này. Trong khi chúng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc ổn định và phát triển về kinh tế, xã hội của các khu vực đông dân cư và rộng lớn như: Sài Gòn, Biên Hòa, Bình Dương, …
+ Nó cần nhiều nước trong khi Tây Nguyên lại đang thiếu nước! Nó cần nhiều điện trong khi Việt Nam vẫn còn đang thiếu điện! Nó cần nhiều lao động nhưng theo thỏa thuận giữa 2 nước thì lại là lao động Trung Quốc, chứ không phải lao động Việt Nam! Nó chiếm một diện tích đất rộng lớn, trong khi hiện tại người dân Tây Nguyên lại đang thiếu đất!
+ v.v…
Đã có nhiều người ở cả trong và ngoài nước lên tiếng phản biện về dự án này như các ông: Võ Nguyên Giáp, Nguyên Ngọc, Nguyễn Lân Dũng, Dương Trung Quốc, Nguyễn Trung, Bùi Tín, Ngô Nhân Dụng và các nhà khoa học như các tiến sỹ: Nguyễn Thành Sơn, Nguyễn Đông Hải, Trần Bỉnh Chư, Phạm Duy Hiến, Nguyễn Ngọc Sinh, Hoàng Cơ Định, Mai Thanh Truyết, v.v… và đề nghị các nhà lãnh đạo Việt Nam xem xét không cho phép triển khai dự án. Tuy nhiên, với những gì đã và đang diễn ra ở Việt Nam, xuất phát từ chế độ chính trị độc tài toàn trị thì theo tôi, khả năng ngăn chặn được nó sẽ là rất khó khăn.
Theo tôi, nếu dự án này cứ tiếp tục được thực hiện thì đây là mối nguy hiểm lớn cho dân tộc Việt Nam về tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh và quốc phòng. Với tư cách là một công dân Việt Nam, tôi kịch liệt phản đối dự án khai thác bauxite này và cũng xin đề nghị mọi người hãy đóng góp công sức, trí tuệ để cùng lên tiếng phản đối nó.
3/ Cũng khắc khoải như mọi người, chúng tôi có cơ hội đọc qua tài liệu của một số nhà nghiên cứu, đặc biệt là bài "10 lý do đề nghị tạm dừng dự án bô xít Tây Nguyên" của hai tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Nguyễn Đông Hải và nhà văn Nguyên Ngọc. Các vị ấy đã chứng minh rất khoa học rằng khai thác các quặng bauxite trên vùng Tây nguyên hoàn toàn bất lợi. Theo anh thì tại sao chính quyền Việt Nam vẫn quyết định tiến hành dự án này bất chấp sự cảnh báo của các nhà khoa học ?
Trả lời: Trước hết, tôi xin được khẳng định quan điểm của mình rằng: họ chỉ là Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam thôi, chứ họ không phải là chính quyền Việt Nam, theo đúng nghĩa cao quý của từ “chính quyền”. Bởi vì, nếu gọi là chính quyền thì chính quyền ấy phải thực sự do nhân dân Việt Nam bầu ra bằng những lá phiếu thực sự dân chủ. Trong khi, sự cầm quyền của những nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam từ trước đến nay là hoàn toàn không theo tiến trình bầu cử dân chủ thực sự, mà chỉ là thứ dân chủ giả hiệu, lừa mị theo cách “đảng cử, dân bầu” mà thôi.
Cũng chính vì vậy mà NCQ CSVN đã tự ý đánh đồng họ với đất nước và dân tộc. Họ đã nhiều lần xưng danh đất nước và dân tộc để quyết định nhiều vấn đề phản dân, hại nước trong suốt hơn 63 năm qua, tính từ ngày 2/9/1945 đến nay. Chẳng những là lần này, với dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên mà còn là nhiều lần khác trước đó như: chiến dịch Cải cách ruộng đất ở miền Bắc, từ năm 1953 đến 1957; ký Hiệp định Genève ngày 20/7/1954, về việc khôi phục hòa bình ở Đông Dương; Công hàm bán nước của ông Phạm Văn Đồng gửi ông Chu Ân Lai, ngày 14/9/1958; Hiệp ước biên giới trên đất liền, ký ngày 30/12/1999 và Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ, ký ngày 25/12/2000, v.v… Tất cả đều có hại cho Việt Nam và có lợi cho Trung Quốc! Tất cả đều có sự can thiệp xấu xa của NCQCS Trung Quốc đối với dân tộc Việt Nam.
Như vậy, một vấn đề cần đặt ra ở đây là: NCQCS Việt Nam trước đây và hiện nay có biết được bản chất xấu xa đó của NCQCS Trung Quốc hay không? Nếu biết thì tại sao họ vẫn cứ chấp nhận cúi đầu làm theo? Theo tôi, câu trả lời là rõ ràng: họ có biết, không những thế họ còn biết rất rõ! Chúng ta hãy nghe sau đây một đoạn văn trong cuốn sách “Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua”, do Bộ ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam công bố và được Nhà xuất bản Sự thật - Hà Nội, phát hành vào tháng 10/1979 để chứng minh cho khẳng định trên:
“… Trên thế giới chưa có những người lãnh đạo một nước nào mang danh là “cách mạng”, là “xã hội chủ nghĩa” và dùng những lời lẽ “rất cách mạng” để thực hiện một chiến lược phản cách mạng, cực kỳ phản động như những người lãnh đạo Trung Quốc. Trên thế giới chưa có những người lãnh đạo một nước nào về mặt chiến lược đã lật ngược chính sách liên minh, đổi bạn thành thù, đổi thù thành bạn nhanh chóng và toàn diện như những người lãnh đạo Trung Quốc. Từ chỗ coi Liên Xô là đồng minh lớn nhất, họ đi đến chỗ coi Liên Xô là kẻ thù nguy hiểm nhất. Từ chỗ coi đế quốc Mỹ là kẻ thù nguy hiểm nhất mà bản chất không bao giờ thay đổi, họ đi đến chỗ coi đế quốc Mỹ là đồng minh tin cậy, câu kết với đế quốc Mỹ và trắng trợn tuyên bố: “Trung Quốc là NATO phương Đông”
… Họ tập trung mọi cố gắng để dấy lên một cuộc “thập tự chinh quốc tế” của các lực lượng đế quốc và phản động chống Liên Xô dưới chiêu bài “chống bá quyền”, theo công thức của Chủ tịch Mao Trạch Đông “Ngồi trên núi xem hổ đánh nhau”. Như nhiều nhà chính trị và báo chí Tây Âu nhận định, Trung Quốc quyết tâm “đánh Liên Xô đến người Tây Âu cuối cùng” cũng như Trung Quốc trước đây đã quyết tâm “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”.
Chiến lược quốc tế ngày nay của những người lãnh đạo Trung Quốc, mặc dầu núp dưới chiêu bài nào, đã phơi trần tính chất cực kỳ phản cách mạng của nó và những người lãnh đạo Trung Quốc đã hiện nguyên hình là những người theo chủ nghĩa sô-vanh nước lớn, những người dân tộc chủ nghĩa tư sản. Chính sách ngày nay của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam, mặc dầu được ngụy trang khéo léo như thế nào, vẫn chỉ là chính sách của những hoàng đế “thiên triều” trong mấy nghìn năm qua, nhằm thôn tính Việt Nam, khuất phục nhân dân Việt Nam, biến Việt Nam thành một chư hầu của Trung Quốc”.
Theo tôi, toàn bộ các ủy viên Bộ chính trị ĐCSVN khóa 10 hiện nay và khóa 9 trước đó - Những người đã quyết định chủ trương ký kết dự án khai thác bauxite mà chúng ta đang bàn, cũng như ký 2 Hiệp định năm 1999 và 2000 nói trên nhất định đã phải “quán triệt sâu sắc” tài liệu quan trọng này. Vì vậy, họ không thể không nắm rõ bản chất xấu xa của NCQ CS Trung Quốc đối với Việt Nam. Thế nhưng, họ vẫn cứ quyết tâm làm. Chỉ có một cách giải thích duy nhất: Tất cả họ đều đã ấn quyền lợi của dân tộc xuống đáy và đẩy “tinh thần” bán nước cầu vinh, cầu lợi của họ lên trên!
4/ Anh có thể cho biết dư luận của đồng bào trong nước ra sao về dự án khai thác bauxite trên?
Trả lời: Nếu tôi được tự do đi lại, nhất định tôi sẽ lên Tây Nguyên, lên Đắk Nông và nhiều vùng khác của Tổ quốc để tìm hiểu kỹ hơn về nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề trên. Thế nhưng, từ ngày 8/4/2006 đến nay, khi bản Tuyên ngôn 8406 ra đời thì công an Việt Nam bám chặt tôi như hình với bóng ở mọi lúc mọi nơi. Qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với những người có nhận được những thông tin trên thì tất cả họ đều rất căm phẫn. Họ căm phẫn về dã tâm của NCQCS Trung Quốc 1, thì họ căm phẫn sự phản dân hại nước; sự hèn hạ, bạc nhược của NCQCS Việt Nam 10.
Về điểm này, trong bài “Việt Nam Đất Nước Tôi”, được gửi lên Internet vào tháng 6 năm 2000, khi còn sinh sống tại Australia, tôi cũng đã đề cập, đại ý: “Một khi đã biết được dã tâm xấu xa của cha con Triệu Đà, Trọng Thủy muốn đánh tráo nỏ thần rồi, mà vẫn cứ cho họ được “ở rể” thì những kẻ có tội lớn đối với đất nước và dân tộc chính là những “An Dương Vương” thời nay!”. Không nghi ngờ gì nữa: chính họ sẽ phải trả lời trước dân tộc và lịch sử về những tội lỗi trời không dung đất không tha của họ, khi dân tộc này chuyển mình!
5/ Trong cơ chế của các nước dân chủ, quốc hội có quyền ngăn cản những dự án có hại cho quốc gia như thế này. Theo anh thì chúng ta có thể làm gì để thay đổi quyết định tai hại này của nhà cầm quyền CSVN để may ra còn có thể cứu vãn cả một vùng đất của quê hương?
Trả lời: Đây cũng là thêm một động lực nữa cho những người Việt Nam yêu nước hôm nay quyết tâm đấu tranh để đất nước phải có một nền dân chủ thực sự. Cụ thể là phải thay thế được một cách triệt để từ chế độ chính trị độc tài toàn trị hiện nay sang chế độ dân chủ đa nguyên, đa đảng và pháp trị tiến bộ trong tương lai. Chỉ có khi ấy thì các cơ quan quyền lực của quốc gia như: hành pháp, lập pháp, tư pháp; kể cả cơ quan quyền lực thứ tư là truyền thông mới phát huy được tốt chức năng, nhiệm vụ của nó. Chỉ có khi ấy nó mới có thể ngăn chặn hoặc thay đổi được những chủ trương, chính sách sai lầm của một nhóm thiểu số nắm quyền lực bất lương. Còn với chế độ phản dân chủ và phản dân tộc hiện nay ở Việt Nam thì câu trả lời rõ ràng và dứt khoát là: không thể!
Quan điểm cho rằng: có thể chống Chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc hiện đại bằng cách “Đoàn kết xung quanh Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh”, miễn là phải làm sao để “Đảng của chúng ta” trở nên trong sạch, vững mạnh hơn (!?) là hoàn toàn sai lầm. Theo tôi, đây chính là điều không tưởng. Thực tiễn đã chứng minh một cách hùng hồn rằng: tất cả các chế độ độc tài độc đảng không chấp nhận sự cạnh tranh trên chính trường chỉ ngày càng tha hóa, biến chất đi mà thôi. Đây là vấn đề mang tính quy luật và ở Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ: những kẻ “thẻ đỏ, tim đen” không hề giảm đi mà ngược lại, chúng ngày càng xuất hiện nhung nhúc và đậm đặc trong lòng xã hội hôm nay!
Tất nhiên, trong khi Việt Nam chưa có được một nền dân chủ thực sự thì chúng ta cũng có thể cùng quyết tâm làm một số việc cụ thể sau đây, nhằm hạn chế được càng nhiều càng tốt những thiệt hại mà dự án trên có thể gây ra, khi mà NCQ CSVN vẫn bất chấp dư luận xã hội để triển khai nó:
+ Bằng mọi phương tiện và khả năng, chúng ta thông tin những tác hại về mọi mặt của dự án khai thác bauxite trên cho đồng bào trong nước biết, nhất là cho đồng bào Tây Nguyên. Từ đó, họ sẽ tạo ra những áp lực phản đối liên tục, thường xuyên lên cả nhà cầm quyền địa phương lẫn trung ương. Kể cả khi dự án này đã được triển khai.
+ Tuyên bố nhân dân Việt Nam không chấp nhận dự án này, cũng như không chấp nhận Công hàm do ông Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958 và 2 Hiệp Định giữa Việt Nam - Trung Quốc, ký năm 1999 và 2000, như đã nói ở trên. Vì tất cả chúng đều là những thỏa thuận bán nước cầu vinh của tập đoàn phản động “Nông Chiêu Thống” hiện nay và trước đó. Họ chỉ là một thiểu số nắm thực quyền bất lương trong ĐCS Việt Nam. Họ là tội phạm! Họ không xứng đáng đại diện cho dân tộc Việt Nam!
+ Tranh thủ sự ủng hộ của thế giới tiến bộ, tranh thủ sự ủng hộ của chính phủ và nhân dân Campuchia, vì chính họ cũng phải chịu những ảnh hưởng xấu của dự án này; để họ cùng gây áp lực với NCQCS Trung Quốc và NCQCS Việt Nam hủy bỏ dự án tai hại này.
+ v.v…
6/ Anh nhìn nhận thế nào về hiểm họa của sự hiện diện đông đảo người Hoa Lục được đưa vào vùng Tây Nguyên để thực thi kế hoạch khai thác bauxite này?
Rất nguy hiểm. Tình cảnh của dân tộc ta hôm qua và hôm nay thật là bi đát, không chỉ những gì liên quan đến vùng Tây Nguyên:
+ Trên biển Đông thì ngư dân đi đánh cá bị bắt, bị đánh đập, bị tịch thu tài sản và bị bắn bởi lính trên tầu tuần duyên Trung Quốc. Máu của người Việt Nam đã đổ!
+ Các công ty khai thác dầu hỏa nước ngoài thăm dò dầu khí trên vùng biển Việt Nam theo thỏa thuận với Việt Nam đã bị phía Trung Quốc phản đối và họ đã phải rút lui. Trong khi đó thì phía Việt Nam phản đối rất yếu ớt, lúng búng như gà mắc tóc.
+ Trên biên giới phía Bắc thì phía Trung Quốc tìm mọi cách xâm nhập gặm nhấm bao năm qua, mà bất cứ người dân Việt Nam nào ở vùng biên giới cũng đều đã tận mắt chứng kiến.
+ Nay họ táo tợn tiến thêm một bước nữa là vào sâu trong nội địa Việt Nam. Tây Nguyên lại là vùng có tính chất hiểm yếu về an ninh và quốc phòng. Tại đây, họ sẽ có những điều kiện thuận lợi để chuyển các phương tiện do thám quân sự hoặc hơn thế nữa, mà việc khai thác bauxite có khi chỉ là cái cớ. Do vậy, nguy cơ mất nước kiểu mới mà Trung Quốc không cần phải tiến hành một cuộc chiến tranh quân sự theo kiểu truyền thống là điều hoàn toàn có thể xảy ra đối với dân tộc ta.
+ v.v…
Tuy nhiên, nếu nhìn ở một góc độ khác thì tôi lại thấy xuất hiện những yếu tố tích cực. Đó là: chính sự hèn hạ bạc nhược, chính sự xa hoa thối nát đến cùng cực của NCQCS Việt Nam, cộng với dã tâm xâm lược thâm độc của NCQCS Trung Quốc sẽ làm tăng cường tình đoàn kết dân tộc. Qua đó, tạo nên một sức mạnh mới có thể nhấn chìm cả bè lũ bán nước lẫn lũ cướp nước.
Tôi luôn tin tưởng một cách mãnh liệt rằng: truyền thống hào hùng của những Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa,… của dân tộc ta từ ngàn năm xưa nhất định sẽ được phát huy cao độ trong cuộc chiến đấu và nhất định sẽ chiến thắng hôm nay. Đó là cuộc chiến đấu giành tự do dân chủ cho dân tộc ta! Đó là cuộc chiến đấu của dân tộc ta chống lại chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Quốc hiện đại!
Cuối cùng, xin kính chúc quý thính giả của đài Chân Trời Mới luôn mạnh khỏe và gặp mọi sự an lành. Xin chúc cho nền dân chủ Việt Nam đến sớm.
Xin thành thật cám ơn anh Đỗ Nam Hải đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn hôm nay và xin hẹn gặp lại anh trong một dịp khác, nhất là để cùng nhau khởi xướng những hành động cụ thể để bảo toàn quê cha đất tổ.
(ghi lại những nội dung chính - tháng 2/2009)

Hai bộ mặt của Xã Hội Chủ Nghĩa hiện nay

Trích XCafe'

Nguyễn Vọng

1) Nông dân trên đường phố

Trên đây là một biển cấm trên con đường Bạch đằng, một trong số những đường phố được xem là bộ mặt phồn vinh phát triển của thành phố Đà-nẵng. Nội dung của biển cấm nầy là: “Ngiêm cấm mọi hoạt động đánh giày, bán sách dạo, bán báo dạo, bán hàng rong, tụ họp mua bán” . Đây là một trong những con phố tập trung nhiều nhà hàng khách sạn sang trọng và là tuyến đường chính dẫn đến những khu nghĩ dưỡng sang trọng bên kia sông. Du khách nước ngoài đến bằng đường biển hay đường hàng không đều đi qua con đường này cho nên người ta phải che dấu những biểu hiện của đói nghèo, nhếch nhác. Nhớ ngày nào khi nón cối dép râu mới bước chân vào thành phố, đi đâu cũng nghe mấy đồng chí oang-oang: “Cái thành phố nầy đúng là phồn vinh giả tạo”. Người dân thành phố lúc ấy đang còn sợ quá nên nghe vậy mà nào dám cải lại, bỡi họ thấy có cái gì là “giả” đâu: nhà cao cửa rộng, đường sá phẳng phiu, hang hoá tràn đầy, cái nào cũng thật, sờ tận tay thậm chí các đồng chí thi nhau chỡ ra Bắc trên những đoàn con-voi mấy năm chưa dứt.

Bây giờ, sau hơn 30 năm, nhờ bán đất cho tư bản nước ngoài các đồng chí xây được vài cây cầu, làm được vài con phố đã tự cho là mình có tài kinh bang tế thế. Thậm chí có mấy tên bồi bút nâng bi đã không ngượng mồm gọi vùng đất bên kia sông Hàn nơi tập trung những khu biệt thự sang trọng của đám quan chức địa phương và trung ương, các khu khách sạn, Resort của nước ngoài đầu tư là Khu phố Đông của Đà nẵng, ngầm so sánh với khu Phố đông của Thượng Hải bên Tàu. Bỡi vậy, những hạng người đầu tiên có thể làm xấu đi bộ mặt sang trọng của thành phố là những em bán báo, đánh giày, những chị đẩy xe hang rong bị cấm tuyệt lai vãng. Khi nghe cái lệnh cấm này ban ra người dân thành phố chỉ biết lắc đầu ngán ngẩm cho cái kiểu làm “tốt khoe, xấu che”, lần nầy mới đích thị là phồn vinh giả tạo!

Giờ chúng ta cùng dõi theo cuộc sống của những con ngưòi là đối tượng của cái lệnh cấm nầy.

Bán hàng rong, chị là ai ?

Ngày xưa, nhưng cũng chưa xưa lắm, người nông dân khi công việc đồng án đã xong, khoảng thời gian này được gọi là lúc nông-nhàn, và đúng như tên gọi người nông dân có thể nghỉ ngơi chút đỉnh sau những ngày cày bừa nhọc nhằn, bỡi vậy cho nên những lễ hội ở nông thôn thường diễn ra vào dịp này. Bây giờ mọi chuyện chẳng còn như xưa, ruộng đất mỗi ngày mỗi teo tóp, đã vậy ruộng đất còn được trưng thu để xây dụng các khu công nghiêp, các khu đô thị, các khu ăn chơi hưởng thụ của những kẻ lắm tiền cả trong lẫn ngoài nước, vì vậy mà ruộng đất của nông dân ở những vùng quê chung quanh các thành phố chẳng còn được bao nhiêu. Có người mất trắng chẳng còn gì. Chẳng nói đâu xa, nhớ hồi có kế hoạch xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quấc và khu đô thị Vạn Tường, biết bao làng xóm đã bị di dời để lấy đất xây nhà máy và xây thành phố mới.

Người ta đã hứa như đinh đóng cột với người dân là cứ yên tâm mà dọn đến chỗ ở mới đi, nhất định chỗ ở mới sẽ tốt hơn làng cũ, cả ông thủ tướng thời đó là Võ văn Kiệt lẫn các quan chức của tỉnh Quảng Ngãi đều cao giọng cam kết như thế, nhưng sự thật là cho đến nay, sau hơn 10 năm, đến ngày nhà máy cho ra mẻ dầu đầu tiên thì đám cư dân của những ngôi làng mới đó vẫn còn lưu lạc kiếm ăn tận miền Nam xa xôi, trong làng đến nay cũng chỉ còn lại toàn trẻ con và người già trong những ngôi làng vuông vức như bàn cờ nhưng chẳng có ruộng để cày. Ruộng ở đâu ra? Địa phương mới chịu chia cho miếng đất thổ cư để làm nhà cho dân mới đến chứ ruộng có đâu mà chia? Số phận người nông dân quanh cái thành phố phồn vinh Đà nẵng cũng thế thôi. Bị thu hồi hết ruộng đất chẳng nói làm chi vì đường nào rồi cũng ra thành phố làm mướn hay bán buôn linh tinh chỉ cốt kiếm sống cho qua ngày chứ còn biết gì đến chuyện tương lai bỡi những chương trình chuyển đổi ngành nghề chỉ là chuyện trên giấy, nói chơi cho vui chứ trên thực tế là con số không to tướng. Người nông dân từ 40 đến 60 tuổi, thậm chí đến 70 tuổi vẫn có thể lao động để kiếm sống ở nông thôn, bây giờ không còn làm nông thì họ biết làm gì để sống ngoại trừ làm những công việc lao động giản đơn. Người nông dân còn ruộng để cày số phận cũng chẳng sáng sủa hơn chút nào: một nhà vài ba sào ruộng, mỗi vụ lúa kéo dài trên 3 tháng nhưng công việc cày bừa chăm sóc cả nhà xúm lại làm nhoáng một cái thì lâu nhất cũng khoảng 1 tháng là xong, 2 tháng còn lại đành phải gọi là nông nhàn chứ biết gọi là gì bây giờ? Nhưng “nhàn” mà được sao? Vài ba sào ruộng thì chỉ đủ gạo ăn cho cả nhà chứ có dư ra được đâu.

Miền Trung đất hẹp người đông, có phải là miền Nam đâu mà mỗi nhà có thể làm vài ba mẫu đất để có gạo thừa đem xuất khẩu kiếm ngoại tệ về cho nhà nước, vậy mà nông dân vẫn không khá lên được, vẫn nhà dột cột xiêu, bao nhiêu rồi cũng vào tay mấy công ty phân bón, mấy công ty xuất khẩu gạo. Vâng, vậy là vợ chồng con cái lao vào thành phố để kiếm sống. Hàng rong thì thành phố nào cũng có, là phương tiện kiếm sống của một bộ phận dân nghèo thành phố. Người nông dân vào thành phố kiếm sống không thuộc loại hàng rong này, người phụ nữ nông thôn hầu như không có khả năng bán rong nhưng thứ đòi hỏi kỉ năng nấu nướng nên đành chọn phương thức bán buôn đơn giản là mặt hàng nông sản, rau quả, trái cây theo mùa vụ, phương tiện hành nghề chỉ là chiếc xe đạp cà tàng giá chỉ vài ba chục ngàn đồng mà người dân thành phố thải ra, chở theo chiếc giỏ thép hay đơn giản hơn là 2 chiếc rỗ tre gắn trước sau kèm chiếc cân nhựa nhỏ, vốn liếng cao nhất chỉ 200 ngàn đồng trở lại. Mỗi sáng tinh mơ các chị tập trung về 2 khu chợ đầu mối ở 2 đầu thành phố để cất hàng, mùa nào thức ấy chẳng có gì phải chọn lựa, cho dù là trái cây hay rau củ cũng chỉ dám mua trong phạm vi chừng ấy vốn, trọng lượng cũng không dám vượt qua sức chịu đựng của chiếc xe đạp và đôi chân gầy của mình.

Trên đường phố chúng ta dễ dàng nhận ra các chị trong dáng lầm lũi đạp xe, trong dáng nhìn ngơ ngác kiếm tìm một tiếng gọi hàng bên đường. Chúng ta còn dễ dàng nhận ra các chị qua cung cách bán hàng thật thà, chẳng dám noi thách bỡi trên đường biết bao ngưòi như chị, chẳng bao giờ dám nghĩ đến chuyện trúng mánh lãi nhiều để gạt những khách hang dễ tính. Nhiều lần mua hàng của các chị trên đường tôi thử hỏi xem chị kiếm được bao nhiêu khi bán hết hàng trong giỏ, thì chị nào cũng bảo “Dạ! suông sẽ thì kiếm được 20 ngàn là mừng rồi”. Tôi tin các chị nói thật bỡi vì nhiều lần mua hang trả giá có chị không dám kèo nài nhiều chỉ nhỏ nhẹ “thôi chị cho em xin thêm (…) chớ chừng ni chưa đủ vốn”, tôi tin chị nói thật. Cung cách bán buôn của những nông dân trên đường nhựa là vậy, mong kiếm lời được chừng nào thì cứ thế mà bán. Buổi trưa trời nắng chan chan cũng không dám nghỉ, chỉ mong sao bán cho hết mà về, hàng rau quả để qua ngày có nước đem đổ. Con cái cũng theo cha mẹ vào phố, mùa hè đi bán vé số dạo kiếm tiền để vào năm học mới có tiền phụ giúp cha mẹ sắm sửa áo quần sách vỡ, mỗi tờ vé số kiếm được 500 đồng, buổi trưa kiếm bóng mát vật vờ cơm bụi, may ra buổi tối khi trở về nhà còn dư ra được mươi lăm ngàn đưa cho mẹ.

Vậy nhưng cũng còn nhiều người mê ngũ, hùa theo bọn bất lương ra rã ca tụng cái thành tựu kinh tế thần kì, ngưỡng mộ ngắm nhìn những toà cao ốc đồ sộ mà chẳng hề nghĩ đến chuyện những ai đang làm chủ, đang ngự trị trong những ngôi nhà đó.

2) Những ngôi nhà “hoành tráng” ở Đà Nẵng

Ngôi biệt thự màu trắng là của nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn thị Bình, tọa lạc trên con đường chạy dọc bờ biển Mỹ Khê, ĐN, ngôi biệt thự này là “quà tặng” của thành phố Đà Nẵng, hay nói chính xác hơn là quà tặng của Bí thư thành uỷ Nguyễn bá Thanh biếu không cho bà Bình theo kiểu “chìa khoá trao tay” nghĩa là bà Bình chẳng cần bỏ tiền của, chăm sóc xây dựng gì cả. Dĩ nhiên, hiện nay bà Bình không ở trong ngôi biệt thự này, nhưng bà cho ngoại kiều thuê với giá 2.000 USD/tháng, bởi vì bà cũng như tất cả những quan chức ở Hà nội có không biết bao nhiêu là nhà theo kiểu nầy, trên khắp các thành phố của cả nước, chỗ nào có quy hoạch, giải tỏa đất đai của dân, là các ngài ở trung ương lại được biếu xén những miếng đất ngon lành nhất, rồi sau đó, tuỳ theo chức vụ hay thế lực của từng quan chức để các quan địa phương tính toán để cấp luôn cả tiền xây dựng. Bởi vậy, cho nên người ta chẳng lạ gì khi có biết bao nhiêu đơn tố cáo, khiếu nại gửi ra Trung ương (kể cả đơn tố cáo của những cán bộ, đảng viên tai địa phương như ông Đỗ xuân Hiền chẳng hạn) nhưng ông Thanh vẫn bình chân như vại, thậm chí ông Thiếu tướng CA Trần văn Thanh là người trước kia lúc con làm Giám đốc CA/ĐN đã điều tra vụ ông Nguyễn bá Thanh tham nhũng, cũng đang đứng trước nguy cơ mất chức!

Hai ngôi biệt thự nằm kề nhau này là của 2 cán bộ thành phố ĐN –Bà Lan và ông Hồ Việt (con của Hồ Nghinh nguyên bí thư thành uỷ Quảng Nam ĐN sau 1975). Hai ngôi biệt thự này nằm cách Biệt thự Bà Bình 1 con đường- ta có thể thây biệt thự bà Bình nằm xa bên phải. Có một thời, mấy tên nhà báo nịnh bợ đã gọi Nguyễn bá Thanh là Nguyễn bá THÁNH, nhằm tâng bốc ông ta là tài giỏi, đã biến thành phố Đà Nẵng từ một thành phố nhỏ bé thành rộng lớn “hoành tráng” như hiện nay. Nhưng chúng ta thử xem bên kia sông Hàn có cái gì để ông Thanh phải tự hào. Chẳng có cái gì cả! một khu công nhiệp nhỏ bằng cái lỗ mũi, nhưng cũng chẳng có doanh nghiệp, nhà máy nào (số nhà máy trong đó đếm chưa đầy mấy ngón tay, đến nỗi gần đây phải cắt bớt đất để làm khu dân cư). Ngoài ra chỉ toàn là khu resort, khách sạn của nước ngoài, và biệt thự chẳng biết của ai, kéo dài đến tận núi Sơn Chà. Vậy mà chính quyền thành phố ĐN đi vay tiền để xây dựng 5 cây cầu bắc qua sông. Người ta kháo nhau là “mấy ổng” dùng tiền đi vay xây cầu chẳng qua để làm tăng giá trị những khu đất của mấy ổng bên đó mà thôi.

Phải chăng những ngôi nhà “hoành tráng” ở Đà Nẵng, là xương máu cướp đoạt của nhân dân?

Nguyễn Vọng
Một cư dân thành phố Đà Nẵng

Đại loạn tại Trường Yên

Vấn đề giải toả đất và đền bù không thỏa đáng cho nhân dân vẫn là đề tài muôn thuở của Việt Nam Cộng Sản. Sự ăn chặn tiền đền bù của nhân dân làm cho người dân khắp nơi từ Bắc chí Nam thường xuyên khiếu kiện. Ta hãy xem bài viết của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy: Đại loạn tại Trường Yên, một vùng đất ở gần Hà Nội.

Thursday, March 5, 2009

Cuộc tập kích đã thành công tốt đẹp

Trích Blog Công Lý Và Sự Thật (Blogger Tạ Phong Tần)


Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 04/3/2009, tôi và Luật sư Đạt vừa từ một quán cơm gần Văn phòng trở về thì có 3 xe gắn máy chở 6 thanh niên lạ mặt chạy đến ép xe chúng tôi và ra lệnh "Xuống xe". Không biết chuyện gì xảy ra, tôi hỏi: "Chuyện gì?" thì một thanh niên quát Ls Đạt: "Không liên quan đến anh, anh đi chổ khác. Chị này lên xe tôi". Tôi hỏi: "Anh là ai? Bộ mấy anh muốn bắt cóc tôi sao?". Anh ta bảo: "Chúng tôi mời chị mà chị không đi". Tôi nói: "Các anh có giấy tờ gì mà mời?". Anh thanh niên này chưa kịp trả lời thì bỗng nhiên xuất hiện thêm 1 xe 4 bánh bên hông sơn 2 chữ Cảnh Sát màu xanh và 5-6 người khác, một người đàn ông khoảng hơn 50 tuổi tướng tá bặm trợn ra lệnh: "Không đi thì lôi lên xe", đồng thời ông ta cùng với 3-4 thanh niên khác túm lấy tôi quẳng lên xe chạy thẳng vào bên trong sân trụ sở Công an quận Gò Vấp. Hơn chục thanh niên, đàn ông to khỏe áp đảo duy nhất 1 phụ nữ là tôi. Vậy là cuộc "tập kích" của "quân ta" đã "thành công tốt đẹp".

Xuống xe xong, tôi hỏi: "Ở đây ai làm việc với tôi?". Không ai trả lời. Một người đàn ông đứng tuổi khác đi tới, tôi hỏi ông ta: "Anh là cán bộ ở đây à?". Ông ta nói: "Phải". Tôi hỏi tiếp: "Thế anh tên gì?". Ông ta cũng không trả lời mà lãng đi nơi khác. Người đàn ông bắt tôi lúc quát tôi: "Đi lên lầu, có người làm việc với chị". "Tôi không đi, anh phải cho tôi biết anh là ai, muốn làm việc gì với tôi?". Ông ta không nói không rằng hung hăng xông tới chộp tay tôi bẻ quặt lôi tôi lên lầu 1 và tống vào 1 căn phòng. Trong phòng này có 1 bàn lớn hình chữ nhật và một bàn viết kê nối với nhau và hai hàng ghế gỗ. Trên cái bàn viết có tấm bảng mê ca xanh ghi họ tên chức vụ của một ông Đội phó nào đó. Người thanh niên trẻ khoảng 30 tuổi có nhiệm vụ canh giữ tôi vội vàng lấy tấm lịch để bàn đậy cái bảng tên mê ca lại. Tôi nhìn thấy thái độ của anh ta mà buồn cười. Tôi mới nói: "Anh đậy bảng tên lại làm cái gì? Tôi không quan tâm đến chuyện đó đâu. Cái ông có tên trên bảng ấy đâu có ngồi đây, ông ta cũng đâu đụng chạm gì đến tôi, tôi để ý tên ông ta làm gì. Nếu biết việc mình làm là xấu thì đừng làm, anh che bảng tên ở đây nhưng không che được con mắt của nhiều người nhìn thấy các anh dùng vũ lực bắt tôi trái pháp luật. Hay là các anh lại dí súng vào đầu để bịt mồm bịt miệng người ta đừng nói chuyện này ra? Tôi không làm việc với những người vô danh đâu".

Tôi nói xong thì kéo mấy cái ghế kê lại thành hàng để trèo lên nằm ngủ. Định trèo lên cái bàn dài, nhưng thấy bàn hơi cao, leo lên đó nằm có phần bất lịch sự nên thôi.

Hơn 1 giờ chiều thì có hai người bước vào. Hóa ra là "người quen" tên Hải và Thắng, chính là hai vị đã từng cản trở không cho tôi đến dự phiên tòa xét xử sơ thẩm blogger Điếu Cày. Anh ta gọi tôi thức dậy để "làm việc". Tôi hỏi anh tên Hải: "Anh đến đây với tư cách gì? Nếu anh muốn nói chuyện như anh em thì nói ở chổ khác, không nói ở đây. Nếu anh muốn nhân danh cái gì đó làm việc với tôi thì anh về mặc quân phục vô, đeo bảng tên đàng hoàng rồi làm việc". Anh ta hỏi tôi "Bộ không biết tôi là ai sao mà còn đòi quân phục với bảng tên?". Tôi nói: "Tôi không biết. Các anh dùng vũ lực bắt tôi đến đây thì các anh phải có tên họ đàng hoàng, tôi không làm việc với người không có tên". Anh ta lại yêu cầu tôi phải bỏ điện thoại di động lên bàn, không được nghe điện thoại. Tôi nói: "Cho đến giờ phút này, tôi vẫn là người có đầy đủ quyền công dân, tôi có quyền giữ đồ vật tài sản trong người tôi, tại sao tôi phải bỏ ra. Nếu các anh muốn chiếm đoạt thì cứ việc dùng bạo lực mà chiếm đoạt". Một người nữ khoảng 30 tuổi mặc cái áo ngắn màu nâu nhàu nhĩ ngồi ghế kế bên láu táu chen vào, tôi bực mình quay sang trừng mắt nhìn cô ta: "Ai cho phép cô chen vào? Chuyện riêng của tôi không khiến cô xen vô. Cô là cái gì ở đây? Ăn mặc lôi thôi như thế, cô là ai? Nãy giờ tôi nói chuyện với anh này là tôi còn nể anh ta, chớ cô thì tôi không nói với cô". Cô nọ ngồi im.

Họ thấy tôi không đồng ý tắt điện thoại bỏ ra ngoài bèn gọi vào 4 mụ đàn bà mặc sắc phục an ninh, nhưng chỉ có 1 người đeo bảng tên Nguyễn Thị Nga, 3 người còn lại "vô danh" (không hiểu sao ở chổ này lắm kẻ "vô danh" đến thế?) xông vào nắm tay nắm chân tôi lại để móc túi quần lấy điện thoại di động và tiên trong túi quẳng lên bàn rồi ngăn cản không cho tôi lấy lại. Tôi chỉ thấy buồn cười về cái sự tự xưng là "chính" mà hành vi thì rất "tà", làm việc gì cũng dấm dúi, che giấu.

Suốt gần 30 phút, tôi và người tên Hải tranh cãi nhau nhì nhà nhì nhằng vụ anh ta cho rằng vì anh ta "mời" tôi không được nên "được phép dùng bạo lực". Còn tôi thì yêu cầu anh ta chỉ ra văn bản pháp luật nào quy định cái sự được "phép ấy" nhưng anh ta cứ loanh quanh mãi. Đại khái nó cũng giống như vụ tôi tố cáo Trưởng Công an phường Cầu Ông Lãnh bắt người trái pháp luật mà họ ậm à ậm ừ rồi nín thinh gần 2 năm nay.

Sau đó, "viện binh" tiếp theo là một ông ngoài 50 tuổi, không mặc sắc phục. Tôi hỏi ông này tên gì, cấp bậc chức vụ gì thì ông ta nói mình tên Trần Tiến Tùng, cán bộ Công an Gò Vấp. Tôi nói; "Anh nói thế thì tôi biết thế, thật sự anh có phải tên đó hay không tôi làm sao kiểm chứng được. Anh có giấy chứng nhận ngành cho tôi xem thì tôi mới tin". Ông ta hỏi tôi: "Có cần thiết như vậy không?". Tôi trả lời: "Cần thiết. Tôi cần biết tôi đang làm việc với ai". Ông ta bèn vặn lại tôi là "Chị đến đây có mang giấy chứng minh không?". "Ô hay! Các anh dùng vũ lực bắt tôi đến đây rồi anh hỏi tôi đến đây sao không có giấy chứng minh".

Túm lại là họ cứ viện lý do là gởi giấy mời nhiều lần mà tôi không đến, nhưng tôi yêu cầu họ có giấy tờ gì chứng minh cái sự "nhiều" ấy thì họ chỉ lòi ra được có 2 tờ, mà trong ấy có ghi ý kiến của tôi yêu cầu phải trao giấy mời trước 3 ngày mà tôi đã kể mấy hôm trước. Rồi họ mang ra một đống giấy bảo tôi phải ký tên xác nhận bài viết nào của tôi trong số đó. (Nói chung là tôi và cái nhà ông Tùng kia tranh luận nhiều chuyện rất là loanh quanh, buồn cười, đáng để viết thành một chuyện khôi hài, tôi sẽ kể lại cuộc tranh luận này vào một lúc khác). Tôi trả lời ông Tùng rằng: "Tôi phản đối việc các anh dùng vũ lực bắt tôi đến đây nên tôi không làm việc gì cả. Tôi sẽ làm việc với các anh vào một ngày khác. Các anh có giữ tôi ở đây thì cũng giống như giữ đống đất, đống đá mà thôi. Tôi không viết, không ký bất cứ cái gì hết". Ông ta có nói gì tôi cũng một mực im lặng ngồi gục đầu lên mặt bàn để ngủ, ông ta ngồi giở từng trang giấy đặt trên bàn ra đọc to lên rồi suy diễn ấm ớ theo kiểu khiêu khích cho tôi trả lời. Tôi bảo: "Anh đừng khiêu khích tôi, vô ích thôi. Tôi đã nói hôm nay tôi không làm việc với các anh là không làm việc" .

Anh chàng trẻ tên Thắng thì hung hăng đập bàn quát tôi, nào là "ngoan cố", "Rượu mời không uống muốn uống rựu phạt", "không khoan hồng", v.v... và v.v... . Tôi nhìn anh ta cười nhếch mép: "Hung hăng quá vậy! Thích quát à? Thích quát thì tự quát tự nghe đi nhé. Tôi không nói chuyện với anh". Tôi tiếp tục im lặng.

Một lúc sau, ông Tùng ra ngoài rồi trở vô đề nghị tôi chọn một một ngày khác để làm việc. Anh chàng Thắng lại đứng lên hăng hái chen vào, tôi quay lại bảo anh ta: "Tôi đang nói chuyện với ông này, không nói chuyện với anh", thì anh ta mới hậm hực ngồi xuống.

Cuối cùng, tôi đồng ý nhận 1 Giấy Mời khác làm việc vào lúc 14 giờ ngày 05/3/2009 vì buổi sáng tôi phải đến Thi Hành Án Gò Vấp, còn ngày thứ 6 thì phải đến Tòa án quận 9 làm đại diện theo ủy quyền cho ông Luật kiện ông Nguyễn Minh Luân- Phó Công an quận 9.

Nên hay không nên khai thác quặng Bauxite?

Trích rfa.org

Những vụ tranh cãi về việc nên hay không nên khai thác quặng bauxit trên vùng Tây Nguyên tiếp tục là đề tài chính trong nước đối với giới khoa học hiện nay. Liệu khi khai thác quặng sẽ ảnh hưởng đến môi trường như thế nào và ảnh hưởng này có đáng để làm dừng lại việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên này hay không?

boxit2-250.jpg
Các hồ chứa nước ở Tây Nguyên sẽ bị biến thành nơi chứa bùn đỏ. Photo courtesy of TuanVietnam
Mặc Lâm tìm câu trả lời qua bài phỏng vấn Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, Chủ Tịch Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam ở hải ngoại, về vấn đế này như sau đây.

Mặc Lâm:Thưa Tiến Sĩ, xin ông cho biết việc khai thác quặng bauxit sẽ được tiến hành như thế nào và liệu Việt Nam có đủ năng lực để thực hiện công việc khai thác khó khăn này hay không?

Tiến trình khai thác

TS Mai Thanh Truyết: Quặng bauxit là một loại quặng lộ thiên, nghĩa là chúng ta có thể khai thác thẳng quặng từ mặt đất chứ không cần phải đào đường hầm như khai thác mỏ than hay các quặng kim loại khác. Quy trình khai thác gồm có hai giai đoạn:

Đó là những nguy cơ rất quan trọng, tức là nguy cơ về không khí và nguy cơ về nguồn nước bao gồm nước sinh hoạt và nước ngầm.

TS Mai Thanh Truyết

Giai đoạn đầu là đào xới các quặng mỏ. Dĩ nhiên trong quặng mỏ đó có trộn đất đá và một số kim loại độc hại lẫn trong quặng bauxit, do đó cần phải tách rời ra bằng các phương pháp cơ học, nghĩa là tẩy rửa bằng nước và bằng sút để ra quặng alumina. Alumina là một hợp chất oxýt của nhôm (Al2O3). Còn lại chất phế thải là bùn đỏ trộn lẫn với sút và nước mà chúng ta gọi là một chất bẩn độc hại âm thầm.

Giai đoạn thứ hai thực sự ra quan trọng hơn, vì từ alumina người ta phải sử dụng điện phân để tách ra nhôm ròng. Đây là giai đoạn quan trọng nhứt vì nó đòi hỏi công nghệ cao cũng như cơ sở sản xuất trích ly điện phân rất là cao, trong khi giai đoạn đầu chỉ đòi hỏi những nhu cầu dụng cụ, thiết bị đào xới và nhân công không cần chuyên môn.

Ô nhiễm môi trường, nguồn nước

Mặc Lâm: Các nhà khoa học cho rằng khi khai thác quặng bauxit thì nhiều vấn đề về ô nhiễm sẽ xảy ra, xin Tiến Sĩ đơn cử một vài thí dụ điển hình về ô nhiễm mà người dân sẽ chịu trực tiếp ảnh hưởng sau này.

TS Mai Thanh Truyết: Nói về vấn đề ô nhiễm do khai thác quặng mỏ lộ thiên thì vấn đề bụi là vấn đề đầu tiên chúng ra đặt ra. Bụi ở đây không phải là bụi nằm trong vùng khai thác mà bụi đó sẽ chiếm lĩnh toàn vùng kể cả khu dân cư và khu nông nghiệp. Những bụi đỏ đó sẽ bám trên lá cây trồng trọt trong nông nghiệp, do đó cây trồng không thể phát triển được. Đối với con người, theo quy định của cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ thì bụi phải dưới 10 micro. Khi bụi đó đi vào đường khí quản và vào trong phổi trong một thời gian dài thì người bị nhiễm sẽ đi đến ung thư phổi. Qua kinh nghiệm ở những vùng khai thác mỏ than ở các quốc gia bên Tây Phương người ta thấy tình trạng ung thư phổi vì bụi là rất cao.

Những lập luận của các nhà gọi là khoa học gia đó cho rằng đất không tốt cho cây cỏ thì tôi nghĩ rằng cách nói đó chỉ để đáp ứng cái quyết tâm của chính phủ Việt Nam hiện tại là muốn khai thác bauxit.

TS Mai Thanh Truyết

Mặc Lâm: Ngoài bụi là vật có thể thấy và cảm nhận được ngay trước mắt thì các nhà môi trường còn lo về vấn đề nguồn nước sẽ bị độc chất tấn công, nhất là nguồn nước ngầm sử dụng trong sinh hoạt. Tiến Sĩ có chia sẻ gì về những quan tâm này, thưa ông?

TS Mai Thanh Truyết: Dĩ nhiên khi đào sới thì lớp đất thịt ở trên mặt sẽ không còn nữa và bùn đỏ có trộn lẫn hóa chất như sút và một số kim loại độc hại cũng như arsenic (thạch tín) là một kim loại kết hợp ái lực với sắt trong thiên nhiên chiếm tỷ lệ 4-5% trong đất, thì tất cả loại bùn đỏ đó sẽ chiếm một diện tích lớn trong việc khai thác. Người ta ước tính muốn khai thác một hecta quặng bauxit thì sẽ tái sinh ra 2 hecta bùn đỏ, và qua thời gian, qua mưa bão thì bùn đỏ có thể xâm nhập vào nguồn nước ngầm làm cho nguồn nước ngầm bị ô nhiễm. Thứ hai nữa, nước bùn đỏ, đặc biệt là tại vùng Đắc-Nông và Nhân Cơ, thì bùn đỏ đó qua mưa có thể di chuyển theo các rạch nước để đi vào sông suối thượng nguồn của sông Đồng Nai. Và như chúng ta đã biết, sông Đồng Nai là nguồn nước cung cấp cho toàn vùng Miền Đông Nam Bộ và đặc biệt là TP.HCM. Đó là những nguy cơ rất quan trọng, tức là nguy cơ về không khí và nguy cơ về nguồn nước bao gồm nước sinh hoạt và nước ngầm.

Hiệu quả kinh tế?

Mặc Lâm: Những người ủng hộ việc khai thác bauxit cho rằng trong tình hình khó khăn hiện nay, quặng bauxit trong thiên nhiên sẽ giúp Việt Nam tăng thêm nguồn thu nhập rất lớn. Liệu sự đánh giá này có làm giảm bớt sự lo ngại về môi trường hay không, thưa ông?

Vậy xét về hiệu quả kinh tế thì hoàn toàn không có hiệu quả kinh tế, nhưng thảm nạn về môi trường, về dân sự, chính trị, văn hóa sẽ ảnh hưởng về lâu về dài.

TS Mai Thanh Truyết

TS Mai Thanh Truyết: Câu hỏi này, về phương diện hiệu quả kinh tế và về phương diện điều kiện hiện có ở Việt Nam, chúng tôi thấy hoàn toàn không có hiệu quả kinh tế. Lý do là hiện nay khu Nhân Cơ và Đắc-Nông là hai khu trồng tiêu và cà phê, đây là hai nguồn lợi rất lớn. Tính ra một hecta tiêu hay một hecta cà phê có thể đem lại nguồn lợi cho người dân hiệu quả kinh tế từ 2 đến 3 ngàn đôla, trong lúc đó khai thác một diện tích bauxit 4 hecta chỉ cho ra 2 tấn alumina. Một tấn alumina có giá trị khoảng 3-4 trăm đôla mà thôi. Nhưng cả vùng đất đó sẽ bị hoang hóa trong tương lai. Vậy xét về hiệu quả kinh tế thì hoàn toàn không có hiệu quả kinh tế, nhưng thảm nạn về môi trường, về dân sự, chính trị, văn hóa sẽ ảnh hưởng về lâu về dài.

Mặc Lâm: Nhưng cũng chính những bản nghiên cứu của tỉnh Đắc Nông cho biết là các loại cây công nghiệp như cà phê hay tiêu thì không phát triển tốt được trong vùng đất có quặng bauxit vì quặng nằm sát mặt đất cản trở cho hệ thống phát triển của các loại cây này. Ông nghĩ sao về những quan điểm như vậy?

TS Mai Thanh Truyết: Tôi hoàn toàn không đồng ý. Những cây trồng trong hiện tại như cà phê, trà hay tiêu là những cây trồng thuộc loại cây nhỏ, nghĩa là chỉ bám trên mặt đất mà thôi. Vùng Tây Nguyên là vùng đất trước kia là vùng núi lửa cách đây hàng triệu năm, do đó vùng đất này gọi là đất bazan (đất đỏ) rất tốt cho việc trồng cao su, trà, cà phê. Những lập luận của các nhà gọi là khoa học gia đó cho rằng đất không tốt cho cây cỏ thì tôi nghĩ rằng cách nói đó chỉ để đáp ứng cái quyết tâm của chính phủ Việt Nam hiện tại là muốn khai thác bauxit.

Mặc Lâm: Xin cảm ơn TS Mai Thanh Truyết đã dành cho chúng tôi thời gian cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.

Wednesday, March 4, 2009

Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân

TRANG SỬ CŨ: Cố Thiếu Tướng TRƯƠNG QUANG ÂN Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh
03.03.2009 00:08

PHAN NHẬT NAM

Để biết được đầy đủ hơn về cuộc đời kiệt liệt của một người lính cực lớn, chúng ta phải bắt đầu lại chuyện kể từ thời điểm sớm nhất, ngày TSQ Trương Quang Ân tốt nghiệp thiếu úy khóa 7 Sĩ Quan Hiện Dịch Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt với vị thứ thủ khoa, tháng 12, năm 1952.



Thiếu úy Trương Quang Ân có đủ tất cả điều kiện thuận lợi để được thuyên chuyển đến một văn phòng bình yên tránh nơi lửa đạn, hoặc một đơn vị tham mưu, chuyên môn (mới thật sự đúng với khả năng tham mưu sắc sảo của ông sẽ được chứng thực ở thời gian sau). Nhưng không, ông đã chọn binh chủng Nhảy Dù, đơn vị tổng trừ bị cho những chiến trận lớn nổ rộng suốt miền châu thổ Bắc Việt Nam, nơi những đỉnh núi cao lẫn trong mây vùng bắc Trường sơn dọc biên giới Lào Việt.

Trận Bản Hiu Siu cuối năm 1953 bùng nổ trên vùng Cánh Đồng Chum nơi cao nguyên Trấn Ninh, vị trí xung trí xung yếu của miền Trung Lào, đầu nguồn sông Nậm Ngung, do tướng Cogny, tư lệnh quân đội Pháp miền bắc Đông Dương chỉ huy có mục đích bẻ gãy mũi tiến công của cộng sản có ý tiến về thủ đô Vạn Tượng của Lào (nhưng sau nầy hồ sơ trận liệt giải thích, và giải thích đúng, đấy là ý niệm điều quân của phía bộ đội cộng sản cố đánh lạc hướng, hoặc là cách nhử quân đội Pháp chiếm đóng Điện Biên Phủ) Bộ phận địa phương giữ Bản Hiu Siu xin quân tăng viện, Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù, đơn vị đầu đời của Thiếu úy Trương Quang Ân nhảy xuống với 2 đại đội của Tiểu đoàn 7 Dù tăng pháị (Lưu ý, tất cả các tiểu đoàn Dù vào giai đoạn nầy mang phiên hiệu BEP hoặc BPC - Battaillon Parachustiste Colonial, thuộc Liên đoàn Không vận số 3 (GAP/3è- Groupe Aeroporté) của quân đội Liên hiệp Pháp; chỉ mỗi Tiểu đoàn 5 Dù nơi miền Nam mới có danh hiệu Tiểu đoàn Nhảy Dù Việt Nam (BPVN) Trận đánh không cân sức diễn ra ngay từ phút đầu tiên vì bộ đội Việt Minh sẵn có ưu thế quân số, chuẩn bị, chọn lựa và chiếm giữ trận địa.

Nhưng dần dần thắng lợi nghiêng về phía quân Nhảy Dù bởi sức chiến đấu quá đổi kiên cường. Phản công, giữ vững, kiểm soát được những vị trí xung yếu của vùng Cánh Đồng Chum, đẩy quân đội cộng sản trở về hướng Bặc Thành. Quả chiến trận không phải là điều bất ngờ, bởi Tiểu đoàn 3 Dù là một đơn vị ngoại hạng của 17 tiểu đoàn tổng trừ bị mặt trận phía bắc Việt Nam, như trường hợp một đơn vị bạn khác, Tiểu đoàn 6 Dù (6è BEP) đã từng chận đứng một sư đoàn cộng sản (SĐ/320) để những đồn bót thuộc tả ngạn sông Đà có thời gian triệt thoái trong chiến dịch rút bỏ Na Sản, Nghĩa Lộ (cùng năm 1953) Kết quả trận đánh đồng thời đã chứng minh cho thành phần lãnh đạo Pháp Việt thấy rõ một yếu tố mới: những sĩ quan trẻ, những hạ sĩ quan, binh sĩ người Việt (tình nguyện) trong đơn vị chính là nhân tố kết nên thắng lợi.

Quân đội chỉ mới khai sinh trong vài năm qua (1951) nay đã dần trở nên là đạo quân chính qui của một quốc gia đang trong giai đoạn lịch sử quyết định về bản lãnh và giá trị của mình. Chiến sử dài theo những năm sau đã chứng thật đánh giá buổi ban đầu nầy: Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù Việt Nam là một trong những đơn vị đầu tiên của quân đội Cộng Hòa được tuyên dương Bảo quốc huân chương, kỳ hiệu đơn vị mang dây biểu chương Tam hợp vàng xanh đỏ do công trận chỉ huy bởi những những thiếu úy, trung úy của năm 1953 nầy, những sĩ quan có tên Trương Quang Ân, Phan Trọng Chinh...

Bộ tư lệnh quân đoàn viễn chinh Pháp với lớp cán bộ nhà nghề cũng đã nhận ra khả năng lãnh đạo tiềm ẩn nơi viên thiếu úy trẻ tuổi mà họa hằm lắm mới biểu lộ ra đối với những sĩ quan trẻ tuổi cực kỳ xuất sắc, như những Thiếu úy de Gaulle, de Lattre của học viện quân sự Saint Cyr, những người đã từng nắm giữ vận mệnh quốc gia và quân đội Pháp, nên họ mau chóng đưa Trung úy Ân vào trường tham mưu quân sự tại Pháp vào năm sau, 1954 khi ông vừa được đặc cách vinh thăng trung úy tại mặt trận.
Những sĩ quan chỉ huy Trường Sĩ Quan Đà Lạt và ở bộ tham mưu Liên đoàn Không vận số 3 quả thật đã không lầm khi đánh giá như trên. Hơn thế nữa, họ còn có dự định chọn viên trung úy ngoại hạng nầy vào chức vụ chỉ huy Đại đội xung kích Lê Dương Sen Đầm cho chiến trường Algérie đang bắt đầu có dấu hiệu sôi động. Khóa sĩ quan tham mưu tại Pháp cốt để làm đầu cầu cho dự định nầy. Thêm một lần nữa, ông lại đỗ thủ khoa khóa học, trên cao hơn toàn thể những học viên có 75 quốc tịch của khối Liên hiệp Pháp, đa số là người Tây Âu.

Trung úy Trương Quang Ân đậu hạng thủ khoa mà không hề có tị hiềm từ những học viên, bởi qua bản tự đánh giá, khóa học đồng ý hầu như toàn thể về người sĩ quan Việt Nam tài năng xuất sắc nầy. Sau thất bại Điện Biên Phủ, tháng 5, 1954, bộ tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp cố gắng tập trung những tiểu đoàn Nhảy Dù còn lại ở miền Bắc đưa gấp vào Đà Nẵng, Nha Trang, để từ đây có kế hoạch tái trang bị, bổ sung sang chiến trường Bắc Phi. Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù trở nên đơn vị trụ cột đầu tiên của Liên đoàn Nhảy Dù Việt Nam, thành lập ngày 29 tháng 9, 1954, và Trung úy Trương Quang Ân ở lại với quân đội Việt Nam dưới phiên hiệu đơn vị mới như một điều tất nhiên, nhưng cũng do lời kêu gọi từ một Thiếu sinh quân khác, người anh cả của toàn quân, Thiếu tướng Lê văn Tỵ, vị Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mở đầu kỳ độc lập, tự chủ nơi miền Nam, 29 tháng 11, năm 1954.

Ngày 1 tháng 1, 1955 bắt đầu năm mới với những biến động chính trị nghiêm trọng xẩy ra tại thủ đô Sài Gòn từ những mầm mống va chạm sẳn có giữa các lực lượng giáo phái, tổ chức vũ trang với chính phủ Thủ tướng Ngô Đình Diệm vừa được thành lập ngày 20 tháng 7, 1954. Chính phủ mới mang đủ tất cả gánh nặng của quá khứ gần 100 năm lệ thuộc người Pháp, tình thế quân sự suy sụp hỗn loạn sau thất trận Điện Biên Phủ của quân đội Pháp và công cuộc định cư hơn triệu người di cư từ miền Bắc vào Nam.

Các lực lượng chống đối kết hợp thành Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia yêu cầu Thủ tướng Ngô Đình Diệm giải tán nội các, cải tổ chính phủ và chấp thuận để họ duy trì tình trạng cát cứ của những tổ chức quân sự tại những địa phương riêng biệt. Chính phủ Sài Gòn giữ nguyên lập trường: thống nhất quân đội trước khi bàn đến những cải tổ chính trị. Thành phần mặt trận gồm 3 khuynh hướng: Phe ôn hòa muốn trở về hợp tác với chính phủ; phe trung lập không có ý kiến và thành phần quá khích nhất quyết tổ chức nổi loạn quân sự.

Lực lượng Bình Xuyên dưới quyền chỉ huy của Thiếu tướng Lê văn Viễn (quân hàm do chính phủ Pháp trao gắn theo nguyên tắc đồng hóa) thuộc nhóm thứ ba. Ngày 1 tháng 1, 1955 Thủ tướng Ngô Đình Diệm đóng cửa các cơ sở kinh tài quan trọng của Bình Xuyên, sòng bạc Đại Thế Giới, Kim Chung và nhà chứa Bình Khang; ngày 26 tháng 4, cách chức tổng giám đốc Cảnh sát và Công an của Lại văn Sang, một người thân tín đắc lực của Thiếu tướng Viễn.

Cuối cùng việc phải đến, ngày 28 tháng 4, lực lượng Bình Xuyên nổ súng tấn công quân chính phủ, nhưng Liên đoàn Nhảy Dù với 4 Tiểu đoàn 1, 3, 5, 6 đã hình thành những trụ cột chống đỡ nền móng quốc gia. Chỉ một ngày sau, quân Nhảy Dù đã làm chủ tình hình toàn bộ đô thành Sài Gòn, Chợ Lớn. Ngày 30 tháng 4 Nhảy Dù và Bình Xuyên dàn trận đối diện dọc kinh Đôi bên kia cầu chữ Y.

Dù đã được người Pháp ngấm ngầm hỗ trợ nhưng Bình Xuyên không thể nào là địch thủ của những tiểu đoàn Nhảy Dù thiện chiến nên mặt trận Sài Gòn mau chóng kết thúc vào ngày 5 tháng 5, tàn binh Bình Xuyên rút về Rừng Sát, vùng sình lầy dọc theo sông Sài Gòn và Đồng Nai lập thế chống cự. Tháng 9, lực lượng chính phủ mở cuộc hành quân Hoàng Diệu truy quét đám phản loạn, cũng với lực lượng Nhảy Dù làm thành phần xung kích.

Ngày 24 tháng 10 kết thúc chiến dịch, nơi khuôn viên Dinh Dộc Lập lần đầu tiên diễn ra khung cảnh đại hội ân thưởng toàn quân kể từ ngày mở nước về phương Nam. Cũng là lần đầu tiên, quân, quốc kỳ cùng bay rạng rỡ trên kỳ đài tòa dinh thự báo hiệu thống nhất quân đội, chủ quyền quốc gia qui về một mối.

Trung úy Trương Quang Ân đứng hàng đầu giữa những chiến binh của quân đội Cộng Hòa được tuyên công. Ông được trao gắn một lần hai Anh dũng bội tinh với nhành dương liễu, hiện tượng độc nhất đã xẩy ra trong các quá trình nghi lễ trao gắn huy chương. Cho dù về sau nầy khi chiến trường trở nên nặng độ và có những chiến công lớn lao với những nhân vật xuất chúng khác như Lưu Trọng Kiệt, Hồ Ngọc Cẩn... cũng không hề được lập lại thêm lần thứ hai. Năm 1957, Đại tá Nguyễn Chánh Thi thay thế Đại tá Đỗ Cao Trí giữ chức tư lệnh Liên đoàn Nhảy Dù.

Đại úy Trương Quang Ân cùng với viên tiểu đoàn trưởng, Thiếu tá Phan Trọng Chinh, rời Tiểu đoàn 3 Dù về bộ tư lệnh với chức vụ mới, trưởng phòng 3, và tham mưu trưởng Liên đoàn. Bộ tư lệnh Liên đoàn Nhảy Dù với thành phần sĩ quan chỉ huy, tham mưu tài năng mới mẻ nầy đã nhanh chóng canh tân, trở nên một đại đơn vị mẫu mực đối với toàn quân, có phẩm, lượng cao về khả năng hành quân tác chiến lẫn tổ chức tham mưu.

Một sự kiện quan trọng xẩy ra trong đời sống cá nhân Đại úy Trương Quang Ân, đồng thời cũng là một biểu tượng đặc thù của binh chủng nếu không nói của toàn quân độị Ông làm lễ thành hôn với Chuẩn úy Dương thị Kim Thanh, một trong những nữ quân nhân đầu tiên của binh chủng Nhảy Dù. Cuộc kết ước được chính vị tư lệnh làm chủ hôn, và hôn lễ được thực hiện theo nghi thức thuần túy quân đội: Đại úy Trương Quang Ân trao nhẫn đính hôn cho nữ Chuẩn úy Dương thị Thanh từ nơi cửa máy bay, xong hai người cùng nắm tay điều khiển dù nhảy xuống đất nơi bãi đáp Ấp Đồn, Hóc Môn.


Trương Quang Ân (1932-1968)
Dương Thị Kim Thanh (1931-1968)


nguồn: Người Việt Boston

Cảnh tượng cảm xúc trên chắc hẳn không phải là màn trình diễn của đôi vợ chồng trẻ muốn làm nên sự kiện độc đáo ngoạn mục, nhưng đấy là hành vi biểu hiện lòng sắc son của hai người lính muốn kết hợp lời nguyền hiến dâng đời sống bản thân, gia đình cho Quân Đội và Tổ Quốc. Chúng ta không nói điều ước đoán theo cảm tính, bởi cuộc sống đầy chiến đấu của hai người suốt quãng đời tiếp theo đã hiện thực nghi lễ cao thượng của buổi thanh xuân nầy trong bầu trời và trên mặt đất quê hương.

Năm 1959, Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù được thành lập, Đại úy Trương Quang Ân nhận lãnh chức vụ tiểu đoàn trưởng đầu tiên của đơn vị. Lần xuất quân của Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù cũng là dịp phá vỡ huyền thoại về mật khu Bời Lời (vùng tây bắc ven đô nằm dọc sông Sài Gòn), căn cứ địa đã được lực lượng quân sự cộng sản thành hình từ chiến tranh 1945-1954, nay đang được củng cố cho cuộc chiến mới với nhiệm vụ chiến thuật quan trọng, từ đây làm khu vực bản lề tiếp vận của 3 tỉnh Gia Định, Bình Dương, Hậu Nghĩa, hình thành đầu cầu để tiến chiếm Sài Gòn (chiến dịch Mậu Thân 1968 chứng thực cho quan điểm chiến thuật nầy) Tiểu đoàn 8 Dù đã truy kích địch dài theo con sông, phá vỡ toàn thể những địa đạo vừa được xây dựng, đánh bật tất cả các cụm, tổ du kích, đuổi sạch đám cán bộ vừa trở lại từ miền Bắc, nay được gài chặt với cơ sở địa phương để hình thành lớp cán bộ hạ tầng của Mặt trận giải phóng miền Nam.

Công trận nầy cùng lần với những đơn vị quân đội khác đã kiến tạo nên một thời hưng thịnh bình yên từ 1954 đến 1960 ở miền Nam. Dân chúng từ Sài Gòn có thể ra đi bất cứ nơi nào trong đêm và trở lại thủ đô vào giờ rạng sáng để làm việc. Có mấy ai trong thuở ấy và sau nầy nhớ lại buổi bình an kia để nhắc nhở đến gian khổ của mỗi người lính, những người không ai biết đến tính danh. Người hiến dâng đời sống mình cho quê hương, đồng bào nhưng không hề nói lên lời, dù là lời đơn giản, khiêm nhượng. Biến cố 11 tháng 11, 1960 lần đầu tiên đẩy quân đội trực tiếp tham dự vào diễn trường chính trị, Liên đoàn Nhảy Dù lại là thành phần nòng cốt quyết định để thực hiện việc dứt điểm chế độ và người lãnh đạo.

Nhưng Đại úy Trương Quang Ân đã vô cùng tinh tế để nhận rõ nguyên do lẫn hậu quả của lần bạo loạn tranh chấp, ông từ nhiệm cáo bịnh lánh mặt khỏi cảnh huống khốc liệt, vị tiểu đoàn phó được chỉ định tạm thời thay thế ông trong tình thế khẩn cấp. Cuộc đảo chính 11 tháng 11 thất bại, những giới chức cao cấp của Liên đoàn Dù phải chịu cảnh chạy trốn, lưu vong ra khỏi nước, hoặc bị bắt giữ; các đơn vị phải tái biên chế, xáo trộn, thay đổi cấp chỉ huy. Chỉ riêng Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù vẫn giữ nguyên phong độ và khả năng chiến đấu truyền thống bởi Thiếu tá Trương Quang Ân lại trở về, giữ vững đơn vị tồn tại, phát triển sau cơn hỗn loạn.

Năm 1962, ông di chuyển từ trại Trần Quí Mại của Tiểu đoàn 8, nơi khuôn viên căn cứ Hoàng Hoa Thám của Lữ đoàn Nhảy Dù trong phi cảng Tân Sơn Nhất về trại Quang Trung, Tam Hiệp, Biên Hòa, bản doanh Tiểu đoàn 5 Dù, cũng là của Chiến đoàn 2 Dù, đơn vị chỉ huy chiến thuật vừa được thành lập gồm các Tiểu đoàn 5, 6, 7. Doanh trại xây trên một ngọn đồi hùng vĩ bên cạnh sông Đồng Nai, và người chỉ huy đầu tiên của đơn vị tân lập đã thực hiện những nền tảng vô cùng kiến hiệu để các tiểu đoàn thuộc quyền có điều kiện thuận lợi khai triển tối đa năng lực chiến đấu với tầm vóc mới.

Thiếu tá Trương Quang Ân đã chứng thực một khả năng lãnh đạo lớn trong cương vị mới, với kích thước của người chỉ huy tài năng, đạo đức tưởng chừng chỉ có trong những huyền thoại về những con người của lịch sử phương Đông xưa cũ. Vào một buổi họp của toàn thể sĩ quan thuộc các tiểu đoàn trực thuộc và bộ tham mưu chiến đoàn, mọi người đã vào ghế ngồi để đợi vị chỉ huy trưởng. Cây kim chỉ phút của chiếc đồng hồ ở phòng hội sắp sửa chập vào số 12 để chỉ đúng 12 giờ, giờ bắt đầu buổi họp, nhiều người sửa soạn đứng lên để chào đón chiến đoàn trưởng, họ nhìn ra cửa, hướng về phía văn phòng của Thiếu tá Ân cách hội trường một khoảng đồi khá xa, trống trải nằm phơi dưới nắng hạ chí miền Nam.

Bỗng một bóng người xuất hiện từ khung cửa căn phòng, gỡ chiếc nón đỏ cầm tay và chạy về phía hội trường với tốc độ cực nhanh, Thiếu tá chiến đoàn trưởng Trương Quang Ân bước vào hội trường. Sau khi đội lại chiếc mũ, chào tay trả lại lệnh chào kính của toàn thể sĩ quan. Ông nói gấp: - Xin lỗi quí vị sĩ quan, tôi bị trễ gần một phút vì phải trả lời điện thoại với Đại tá tư lệnh, nên anh em phải ngồi đợi!

Thiếu tá Ân nhìn lên kim đồng hồ vừa nhếch quá chữ số 12. Tính chính xác, hành vi nghiêm chỉnh, sự kính trọng đối với tất cả các cấp quân đội là cách xử thế thường hằng mà người chỉ huy Trương Quang Ân luôn thực hiện, tổng hợp tấm lòng của kẻ sĩ khiêm cung, nhân ái và tính nguyên tắc, tinh thần trách nhiệm cao của người lính. Hàng tháng, nếu không phải bận hành quân, ông soạn lịch trình đến thăm viếng, kiểm soát những tiểu đoàn thuộc quyền.

Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù của Thiếu tá Nguyễn văn Minh, người bạn cũ cùng Trường Thiếu Sinh Quân là đơn vị ông lưu tâm nhất vì ở nơi xa xôi (Vũng Tầu) so với 2 tiểu đoàn 5, 7 cùng trong vùng Biên Hòa của chiến đoàn. Mỗi lần thăm viếng đều được ông chuẩn bị nghiêm chỉnh như một cuộc thanh tra đơn vị, mà bản thân ông là người trước tiên phải hội đủ khả năng, tư cách, phẩm chất của một giới chức chỉ huy, thanh tra.

Trước ngày đi, ông nói cùng Đại úy Nguyễn Thái Hợp, nay đã kiêm nhiệm chức vụ tham mưu trưởng chiến đoàn:

- Đại úy nhớ nhắc nhở, kiểm soát anh em mình phải mang đủ bi đông nước, lương khô để khỏi làm phiền dưới Tiểu đoàn 6 nghe!

- Nhưng Thiếu tá Minh đã báo cho tôi bằng 106 (máy truyền tin siêu tần số dùng bạch thoại để chuyển những nội dung không cần phải mã hóa) là dưới đó đã chuẩn bị bữa ăn cho chiến đoàn mình rồi Thiếu tá!

Đại úy Hợp vội vã trả lời.

- Cơm thân mật trong tiểu đoàn hay tiệm ngoài phố?

Thiếu tá Ân hỏi gấp.

- Vâng, ở một tiệm nơi Bãi Sau!

- Vậy đại úy phải nói liền với Thiếu tá Minh là tôi không nhận. Mình đi thanh tra tiểu đoàn chứ đâu phải đi Vũng Tàu tắm biển, ăn tiệc!

Cuối cùng, ông lên xe với nón sắt hai lớp, súng Colt nơi thắt lưng có bi đông nước đầy, gói lương khô, và ngồi thẳng trong suốt chặng đường đi từ Tam Hiệp, Biên Hòa về đến Tiểu đoàn 6 ở Vũng Tàu.

- Đường đi xa hơn trăm cây số, Thiếu tá dựa lưng một chút cho đỡ mỏi!

Người tài xế ái ngại nhắc nhở.

- Không được đâu, mình tới thăm viếng, thanh tra mà lưng áo bị nhăn như thế trông thấy có vẻ thiếu kính trọng đơn vị và anh em! Thiếu tá Ân giải thích với người tài xế, không quên hỏi thêm:

- Mà anh có đem đủ bi đông nước dùng cho cả ngày và nhớ bỏ thuốc lọc nước vào chưa?

Cũng liên quan đến người tài xế, chiếc xe, một hôm ông gọi bà vào văn phòng với vẻ nghiêm trọng, và sau đó có những lời:

- Mình là sĩ quan nữ quân nhân, mình biết cũng rõ quân kỷ như tôi; thế nên, chiếc Jeep là của chiến đoàn cấp cho chiến đoàn trưởng, chứ không phải cho riêng cá nhân tôi. Vậy khi nào mình đi thăm gia đình binh sĩ với tư cách chủ tịch gia đình binh sĩ Chiến đoàn 2 thì mình sử dụng và ngồi vào ghế trưởng xa. Nhưng ngoài giờ làm việc, nếu cần chú tài xế đưa đi đâu thì mình phải ngồi băng sau, vì xe đó là của quân đội chứ đâu phải của riêng gia đình mình.

Tôi đã dặn chú ấy, khi nào không có mặt tôi thì lưng ghế trưởng xa phải gập xuống, vậy mình đừng bảo chú ấy làm trái lời tôi!

Bà im lặng nghe, và tuân theo lời ông không một phản ứng nhỏ tị hiềm, khó chịu, dẫu bà chỉ thua ông một cấp bậc. Đầu năm 1965 để chuẩn bị đưa ông vào những chức vụ cao hơn, Bộ Tổng tham mưu tuyển chọn Trung tá Ân theo học Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ.

Vào thời điểm nầy, tiếng Anh vẫn còn là một ngôn ngữ xa lạ đối với những sĩ quan xuất thân từ quân đội Liên hiệp Pháp, nhưng ông đã vượt qua khỏi trở ngại kia bằng biện pháp: luôn luôn trên tay, trước mặt, trong tầm với, có những sách tự học Anh ngữ. Ông vào Trường Sinh Ngữ Quân Đội với thái độ chuyên cần của một sinh viên chuyên khoa, và sử dụng toàn bộ thời giờ vào công việc đọc, viết, học tài liệu khóa học và tài liệu nghiên cứu.

Và cũng như hai mươi năm trước, Trung tá Trương Quang Ân lại tốt nghiệp khóa học với vị thứ thủ khoa kèm lời khen ngợi nồng nhiệt kính phục từ ban giám đốc trường. Đây là học viên tốt nghiệp với số điểm cao nhất từ trước đến naỵ Ông đứng đầu trên 45 sĩ quan cao cấp của quân đội toàn thế giới, kể cả những tướng lãnh, cấp tá thuộc quân lực Mỹ.

Năm 1966, trong buổi tiệc tiễn ông đi làm tỉnh trưởng Gia Định, binh sĩ, hạ sĩ quan của bộ chỉ huy chiến đoàn và sĩ quan của những tiểu đoàn trực thuộc trong vùng Biên Hòa đều được mời tham dự. Mỗi người có một hộp giấy gồm 2 pâté chaud, 2 bánh ngọt và 1 sandwich; thức uống gồm một chai bia và nước ngọt Quân tiếp vụ.

Trung sĩ Đâu, Ban 2 chiến đoàn vốn là tay ưa ăn nhậu, cất tiếng rổn rảng:

- Trung tá đi làm tỉnh trưởng cái tỉnh to nhất nước mà không cho tụi em uống một bữa cho đã!

Trung tá Ân nghiêm sắc mặt, nhưng từ tốn nói với Đâu:

- Trung sĩ Đâu nói như vậy là phụ lòng tôi, bữa tiệc nầy là do tiền lương tôi xin lãnh trước để đãi anh em. Chứ còn như trong Chợ Lớn đã có mấy tiệm ăn, tửu lầu gì đó, nghe tin tôi về làm tỉnh trưởng, họ đã đưa đề nghị đãi hết người của chiến đoàn mình. Nhưng đó là của họ, mình ăn làm chi anh Đâu!

Căn phòng im lặng, lắng xuống, Đâu cười cười:

- Em nói giỡn cho vui thôi, tụi em biết ông thầy nghèo mà, ông thầy cho uống chi tụi em cũng chịu hết. Vì được ở với ông thầy là vui rồi, nay ông thầy đi tụi em buồn lắm!

Vô tình, Đâu đã nói lời tiễn biệt chính xác, hàm xúc nhất với tấm lòng đơn giản trung hậu của người lính đối với một cấp chỉ huy hằng sống với đơn vị mà âm hưởng luôn bền chặt tồn tại. Nhưng nếu có một lần người chỉ huy Trương Quang Ân phải chịu nhận phần tiêu cực thất bại trong toàn bộ sự nghiệp của mình lại là chính với chức vụ không tiếng súng, tại văn phòng bình yên nơi tòa tỉnh trưởng Gia Định. Vào một ngày của năm 1967, Đại tá tỉnh trưởng Gia Định nhận danh thiếp thiếu tá chánh văn phòng của vị phu nhân một viên tướng cao cấp nhất của quân lực.

Viên thiếu tá đặt lên bàn giấy ông tỉnh trưởng tập hồ sơ thổ trạch đứng tên bà tướng với lời yêu cầu ông phê chuẩn sự hợp thức hóa tình trạng sỡ hữu phần đất của bà. Sau khi xem xét kỹ hồ sơ và những qui định hành chánh về thủ tục hợp thức hóa đất đai thuộc phạm vi tỉnh, Đại tá tỉnh trưởng Trương Quang Ân có lời quyết định:

- Thiếu tá có thể trở về trình với bà tướng như thế nầy: Tôi đã xem xét kỹ càng về thủ tục hợp thức hóa thổ cư, điền thổ theo như các qui định hành chánh cho phép, nhưng lô đất nầy dẫu thuộc về tỉnh Gia Định, cũng là công thổ quốc gia nên tôi không thể hợp thức hóa quyền sỡ hữu của bà đối với phần đất đó được! Khoảng một thời gian ngắn sau, viên thiếu tá trở lại với lá thư viết tay của bà tướng cũng với yêu cầu như đã kể với lời lẽ quyết liệt dứt khoát hơn, kèm theo ý nghĩa đe dọa, chức vụ ông có thể bị ảnh hưởng xấu nếu tiếp tục đường lối cũ.

Và Đại tá tỉnh trưởng Gia Định cũng trả lời dứt khoát với nội dung minh bạch như đã nói một lần:

- Công thổ, công điền không thể bị chiếm đoạt, sang nhượng cho bất cứ ai. Kết quả Đại tá tỉnh trưởng Gia Định bàn giao chức vụ lại cho một viên đại tá sau nầy phải ra tòa vì tội buôn lậu và tham nhũng.

Đại tá Trương Quang Ân rời tỉnh Gia Định với luyến tiếc của mọi tầng lớp thân hào, nhân sĩ cùng binh sĩ, đồng bào các quận ven đô. Hãy nghe anh Heo, trung đội trưởng Nghĩa quân ấp Vĩnh Lộc, xã Tân Sơn Nhì, quận Tân Bình nói với chúng tôi (Tiểu đoàn 9 Dù đang giữ an ninh vòng đai Biệt khu Thủ đô vào thời điểm 1966-1967):

- Từ khi có ông tỉnh với mấy anh về đây, ban đêm tui ngủ ở nhà và đi nhậu như ở Sài Gòn!

Nếu Đại tá tỉnh trưởng Trương Quang Ân còn ở Gia Định vị tất các đơn vị Việt cộng có thể ngang nhiên tập trung nơi những chỗ ém quân ở Nhị Bình, Thạnh Lộc (Gò Vấp), hoặc Bà Điểm, Bà Hom (Hóc Môn), hay Phú Lâm, An Lạc (Bình Chánh)... để tấn công vào Sài Gòn trong những ngày đầu năm 1968. Và nếu điều nầy không xẩy ra thì chắc rằng mặt trận Sài Gòn Chợ Lớn Gia Định ắt sẽ có những hình thái khác. Đau thương của dân chúng, sinh mạng người lính hẳn sẽ bớt phần khốc liệt oan khiên hơn. Nhưng bởi người lính đã ra đi. Vị tỉnh trưởng thanh liêm phải rời bỏ nhiệm sở.

***

Phi trường Phụng Dực Ban Mê Thuột hôm ấy có một sinh hoạt khác hơn ngày thường với giàn quân nhạc của Sư đoàn 23 Bộ Binh đứng xếp hàng nhiêm chỉnh. Phòng khách phi trường được quét dọn sạch sẽ, có mặt gần như đầy đủ thành phần sĩ quan cao cấp của đơn vị và tiểu khu Darlac, đơn vị hành chính cùng có chung một địa bàn hoạt động với Sư đoàn, lực lượng diện địa quan yếu của Khu 23 Chiến thuật.

Chiếc máy bay C-47 hàng không quân sự đáp xuống, lố nhố những hành khách quân nhân và gia đình ào ra từ cửa máy bay. Giàn quân nhạc chuẩn bị nhạc cụ, sửa soạn trình tấu khúc Thượng Cấp Võ; đám sĩ quan vội vã xếp đội hình, tất cả chờ đợi viên tân tư lệnh xuất hiện. Họ chờ một tướng lãnh mặt trận có uy danh với những chiến công nơi trận địa mà ông đã thu đạt từ binh chủng Nhảy Dù qua những chức vụ sĩ quan chỉ huy những đơn vị tác chiến. Nhưng vị tướng với vóc dáng, y phục, cách thế như chờ đợi ấy đã không xuất hiện.

Người ta chỉ thấy một người lính với nón sắt hai lớp, lưới ngụy trang, quân phục tác chiến xanh của bộ binh, vai mang ba lô, tay xách sac marin đi lẫn vào cùng đám quân nhân hành khách.

- Hay là ông chưa tới?

Có thể ông đi máy bay Air Việt Nam để được sạch sẽ, lịch sự hơn chăng?! Đám sĩ quan nghi lễ bàn tán. Bỗng một người nhác thấy người lính đi hàng cuối mang bảng tên màu trắng kẻ chữ "Ân" đen trên nắp túi áo và ngôi sao huy hiệu cấp tướng màu đen may tiệp vào cổ áo tác chiến.

Không một chiếc huy chương ở phần ngực áo. Người nầy vội vã, hốt hoảng:

- Vào hàng! Vào hàng! Phắc!

Hành khách quân nhân cuối cùng kia vội đi nhanh đến chỗ viên sĩ quan trưởng toán chào kính, và nói nhanh, dẫu tiếng nhỏ nhưng dứt khoát:

- Trung tá cho anh em nghỉ, tôi không thể nhận!

Và khi đứng hẳn trước đoàn người, tướng Trương Quang Ân khiêm tốn giải thích:

- Cám ơn anh em đã đón tôi với đủ lễ nghi quân cách, nhưng tôi không được phép nhận vì chưa bàn giao đơn vị. Vậy chỉ cho tôi một xe Jeep cũng như những sĩ quan vừa đáo nhậm đơn vị mới và chờ cho tôi bàn giao với vị chỉ huy trưởng xong, các anh em hẳn dành cho tôi quân lễ đối với một tân tư lệnh!

Ông lên một chiếc Jeep trần trụi, sửa lại thế ngồi, bi đông nước, khẩu súng Colt, chiếc nón sắt hai lớp đội thẳng, sát xuống mí mắt đúng quân phong, quân kỷ ấn định. Đoàn xe ra khỏi phi trường, hướng khu dân cư nơi đặt những cơ sở quân sự của khu chiến thuật và tòa tỉnh trưởng. Sau chiếc Jeep cũ kỷ chở vị tân tư lệnh, một chiếc khác bóng loáng mới tinh khôi cắm cờ hiệu cấp tướng không người ngồi, chạy theo giữa bụi mù. Ngay sau khi nhậm chức, Tướng quân được dịp chứng nghiệm khả năng chỉ huy vào dịp Tết Mậu Thân, 1968 khi quân cộng sản tổng tấn công miền Nam mà thị xã Ban Mê Thuột với bộ tư lệnh Sư đoàn 23 là mục tiêu đầu tiên bị Trung đoàn 33 Cộng sản Bắc Việt tập trung dứt điểm.

Liền sau giờ giao thừa, lúc 1 giờ 35 đêm 29 rạng 30 tháng 1, 1968, 4 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 33 tăng cường 2 Tiểu đoàn 401 và 301 Cơ động tỉnh và 4 đại đội địa phương cùng du kích đồng loạt tấn công những mục tiêu của thị xã. Sở Hành chánh tài chánh, tòa hành chánh, dinh tỉnh trưởng, bộ chỉ huy tiểu khu, Đại đội 514 Vận tải, trại gia binh Đại đội Trinh sát, cư xá sĩ quan và bản doanh bộ tư lệnh sư đoàn là những vị trí phải được chiếm cứ trước hết.

Bởi phía chỉ huy quân sự đối phương hiểu rõ rằng, nếu đập vỡ được cơ quan chỉ huy, khống chế được thành phần nhân sự hoặc thân nhân, gia đình của lực lượng trừ bị tiếp ứng (Đại đội Trinh sát, thành phần sĩ quan chỉ huy, tham mưu sư đoàn) thì cuộc tấn công ắt chiếm giữ phần ưu thắng. Nhưng tất cả mũi tấn công đồng bị chận đứng trước cổng các doanh trại và âm mưu lùa dân vào thị xã biểu tình thực hiện bước tổng nổi dậy tiếp theo hoàn toàn bị thất bại.

Bởi từ bộ tư lệnh Sư đoàn 23, Tướng quân đã điều động ngay trong đêm cuộc phản công với Thiết đoàn 8 Kỵ binh, các Tiểu đoàn 2, và 3 thuộc Trung đoàn 45 Bộ Binh và Đại đội 45 Trinh sát đang hành quân bên ngoài thị xã. Lực lượng tấn công cộng sản hóa thành bị bao vây, chia cắt bởi đoàn quân tiếp ứng. Sáng ngày 30 (mồng một Tết âm lịch) lực lượng thiết kỵ và bộ binh của sư đoàn đã hoàn toàn giữ vững những vị trí, cơ quan quân sự, hành chánh trọng yếu của tỉnh và thị xã.

Về mặt chiến thuật, chúng ta có thể nói rằng âm mưu tiến chiếm Ban Mê Thuột bị dập tắt từ giờ phút đầu tiên, chỉ trừ những cơ sở như ty ngân khố, Sở Hành chánh tài chánh số 3 còn bị những tiểu tổ du kích chiếm đóng mà vì cốt tránh thiệt hại về nhân mạng cũng như tài sản chung nên phía tiểu khu, bộ tư lệnh sư đoàn chưa cho lệnh phản kích lấy lại.

Tính đến ngày mồng 6 Tết, mặt trận Ban Mê Thuột hoàn toàn được giải tỏa, Trung đoàn 33 và các đơn vị địa phương, du kích bị đánh bật ra khỏi vành đai thị xã để lại 924 xác trên hiện trường và 143 bị bắt sống. Nhưng mỉa mai thay, có một "lạnh nhạt cố ý" rất đáng chê trách: suốt chiến dịch ca ngợi thắng lợi kiên trì giữ vững miền Nam sau biến cố lớn lao nầy, công trận thủ thắng ở mặt trận Ban Mê Thuột "hình như" được cố ý loại bỏ. Điều nầy càng thấy được cụ thể qua tập quân sử tổng kết "Cuộc Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa của Việt Cộng Tết Mậu Thân 1968", danh tính vị Tướng quân tư lệnh Sư đoàn 23, Chuẩn tướng Trương Quang Ân hoàn toàn không được nhắc tới một lần, cho dù có hình ảnh của người cùng viên tư lệnh Quân khu đi xem xét chiến lợi phẩm sau khi mặt trận im tiếng súng và quân địch đã toàn phần bị đánh bại.

Khi những người cầm quyền quốc gia, lãnh đạo quân đội xem nhẹ kẻ sĩ, bạc đãi chiến sĩ, danh tướng thì chỉ dấu suy thoái của quốc gia, quân đội đó ắt đã phát hiện. Nếu những người lính mang tên Trương Quang Ân, Nguyễn Viết Thanh, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Trần văn Hai, Lê văn Hưng nắm quyền thống lĩnh quân đội, trọng trách vận mệnh quốc gia từ thập niên 60, đầu những năm 70, thì đâu có ngày đau thương oan nghiệt 30 tháng 4, 1975. Chúng ta phải kêu lên tiếng uất hận vỡ trời cùng anh linh Chiến Sĩ - Tướng Quân. Một ngày hè giữa năm 1970 sau buổi thuyết trình buổi sáng tại trung tâm hành quân, Chuẩn tướng tư lệnh cùng cố vấn sư đoàn, vị sĩ quan Phòng 3 ra bãi đáp trực thăng cạnh bộ tư lệnh để đi thanh tra, kiểm soát những đơn vị thuộc quyền đang hành quân trong phạm vi quận Đức Lập.

Theo thường lệ, Tướng quân đi cùng những giới chức trên bằng trực thăng UH-1D của hệ thống cố vấn Mỹ, nhưng bởi sáng nay có bà tháp tùng theo cùng để đến thăm gia đình binh sĩ của đơn vị có hậu cứ tại quận lỵ, nên hai người quyết định sử dụng trực thăng H-34 của Không quân Việt Nam, cũng cốt để chở được nhiều nhu yếu phẩm, quà tặng cho binh sĩ và gia đình của họ. Hai vợ chồng Người Lính lớn nhất của đơn vị đi thăm hỏi mỗi gia đình binh sĩ, bà ngồi xuống giữa những người vợ lính, những em bé xao xác do thiếu dinh dưỡng, trú ngụ nơi những lều trại dã chiến mà người lính tạm dựng lên tại tiền trạm vùng hành quân. Bà bối rối, băn khoăn về nỗi khổ của từng người, bà ôm không hết những em nhỏ với nước mắt rưng rưng thương cảm.

Ông yên lặng đi đến tại mỗi vị trí phòng thủ, xem xét những khẩu pháo, hỏi kỹ về nhu cầu của đơn vị và luôn nhắc nhở cán bộ sĩ quan:

- Phải luôn cố gắng chăm sóc đời sống anh em, họ đã quá thiếu thốn, quá gian khổ, bổn phận của cấp chỉ huy là phải tận tụy hết lòng với mỗi người lính của mình. Ai cũng có thể có khuyết điểm nhưng cần nhất là biết phục thiện, sửa chữa.

Buổi thăm viếng đã quá lâu, cố vấn Mỹ, toán sĩ quan tham mưu, cũng như cá nhân tướng tư lệnh phải trở về Ban Mê Thuột; những người vợ binh sĩ vây quanh bà, bà bước đi ngập ngừng. "Về mình ạ, mình còn trở lại nhiều lần nữa, mình nói với các chị, các cháu như thế!" Ông bắt tay từng sĩ quan, ân cần đáp lại ánh mắt lưu luyến của binh sĩ. Cánh quạt chiếc H-34 bắt đầu quay, Tướng quân đỡ phu nhân, chiến hữu sắc son của Người suốt đời dài binh đao, bước lên cửa máy bay vì sức gió mạnh xô đẩy. Hai Người Lính nhìn lại những bóng người dưới đất bắt đầu mờ dần do nước mắt của bà đã thấm nhòa cảm xúc.

Người dưới đất đưa tay ngoắc từ biệt. Bỗng như tia chớp cực mạnh lóe sáng, con tàu bùng vỡ thành khối lửa hung hản ác độc và lao nhanh xuống như một mũi tên. Khu trại gia binh đồng la lớn kinh hoàng:

- Chết rồi! Chết rồi trời ơi!

- Ông bà tướng chết rồi trời ơi! Trời ơi là trời ơi!!

Những người vợ lính bật khóc cùng với những đứa con gào ngất trong tay bởi ánh lửa đỏ rực sáng loáng khoảng trời. Tướng quân Trương Quang Ân cùng phu nhân Dương thị Thanh trở về cùng mặt đất quê hương như trong tuổi thanh xuân hai Người Lính đã kết hợp giữa bầu trời Tổ Quốc.

Trong buổi phát tang nhị liệt vị, sĩ quan nghi lễ kê khai phần tài sản để lại gồm: 53,000 đồng, tiền lương tháng cuối cùng của Tướng quân, và 8 chiếc áo dài nội hóa của phu nhân.

Chúng ta hôm nay cùng sông núi kính cẩn nghiêng mình trước Anh Linh Người Lính Thanh Cao, Trung Liệt đã vô vàn tận hiến với nước Việt Miền Nam: Thiếu Sinh Quân - Người Lính Cộng Hòa Trương Quang Ân.


Vài hình ảnh tang lễ vợ chồng vị Tướng lãnh nổi tiếng là kỷ luật và thanh liêm của Quân lực VNCH do Phòng Nhiếp ảnh, Bộ Thông Tin Tâm Lý Chiến, Việt Nam Cộng Hòa thực hiện.

(nguồn: Người Việt Boston)

Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu và Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ đến chia buồn cùng tang quyến tại tư gia cố Chuẩn Tướng Trương Quang Ân, số 58 cư xá Lê Đại Hành, Phú Thọ, Sài gòn vào thứ tư ngày 11 tháng 9 năm 1968.

Thủ Tướng Trần Văn Hương, Tổng Trưởng Quốc Phòng Trung Tướng Nguyễn Văn Vỹ và các Tổng Trưởng trong nội các.

Các Tướng Lãnh trong quân phục tác chiến từ trái: Thiếu Tướng Trần Văn Trung, Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh Chính trị; Đề Đốc Trần Văn Chơn, Tư Lệnh Hải Quân; Thiếu Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân; Chuẩn Tướng Đồng Văn Khuyên, Tổng Cục Trưởng Tổng cục Tiếp Vận; một vị Thiếu Tướng và Thiếu Tướng Nguyễn Văn Mạnh, Tư lệnh Quân đoàn IV và Quân khu 4, cựu Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh.

Bàn thờ và quan tài tại tư gia có Đại tá Vũ Quang Tài, Cục trưởng Cục Xã hội hầu quan tài.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu truy thăng cấp Thiếu Tướng và truy tặng Đệ nhị đẳng Bảo Quốc Huân Chương kèm Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu cho cố Chuẩn Tướng Trương Quang Ân.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu truy tặng Đệ ngũ đẳng Bảo Quốc Huân Chương cho phu nhân Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân, bà Dương Thị Kim Thanh, Chủ Tịch Hội Bảo Trợ Gia Đình Binh Sĩ Sư đoàn 23 Bộ binh và Khu 23 Chiến thuật.

Động quan, linh cữu Cố Thiếu tướng Trương Quang Ân rời nhà


Thủ Tướng Trần Văn Hương, Đại Tá Nguyễn Cả, Trưởng Phòng Nhất Bộ TTM và gia đình trước nhà

Xe tang chuyển bánh và đoàn xe dẫn đầu dưới cơn mưa tầm tã

Đến nghiã trang Mạc Đĩnh Chi trời vẫn mưa nặng hột.

Trên đường đến nơi an nghỉ: quan tài Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân

Theo sau là quan tài cựu Chuẩn Úy Dương Thị Kim Thanh

Hai quan tài song song trên huyệt lạnh dưới bầu trời ảm đạm.

Trung Tướng Nguyễn Văn Là, Tổng Tham Mưu Phó kiêm Tư Lệnh Điạ Phương Quân và Nghiã quân, đại diện Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đọc điếu văn.

Xếp cờ phủ - Quân lực Việt nam Cộng hòa chào vĩnh biệt.

(bên trái) Đại Tá Võ Văn Cảnh, Quyền Tư Lệnh Sư đoàn với nắm đất cuối cùng cho vị tiền nhiệm.
(bên phải) Các con với nắm đất vĩnh viễn mất cha mẹ.

(bên trái) Hai ngôi mộ tại nghiã trang Mạc đỉnh Chi trước ngày giải tỏa (trong hình: Trương Quang Thế Anh, con trai duy nhất của ông bà Ân-Thanh đứng cạnh bà ngoại, cụ Tôn Nữ Kim Hoàng)

Ngày nay, hương khói tại chùa Vạn Phước, Sài gòn.

BCH (Theo Phan Nhật Nam)

TS Nguyễn Đình Thắng: Nỗi đau và nỗi nhục của chúng ta, tình trạng buôn bán người Việt

Trích Người Việt Boston

By anlac • Mar 4th, 2009 • Category: Từ Thiện Xã Hội

Đối với một dân tộc thì không có gì nhục và đau hơn là dân bị buôn và nước bị bán. Đó là hoàn cảnh của chúng ta ngày hôm nay. Một phần của đất nước bị dâng hiến cho ngoại bang thì nhiều người đã nói đến. Còn dân bị buôn thì chưa mấy ai biết hoặc quan tâm.

Mỗi năm hàng trăm, hàng ngàn đồng bào bị buôn, qua rất nhiều hình thức. Nào là những cô dâu bị đưa sang Đài Loan, Nam Hàn, Singapore. Và rồi hàng trăm phụ nữ và trẻ em bị đưa vào các hang ổ mãi dâm ở Cambốt, Thái Lan. Nhưng kinh khủng nhất thì phải nói đến các lao nô: một số lớn trong tổng số 600 ngàn công nhân Việt đang lao động ở ngoài nước nằm trong tình trạng nô lệ. Và hiểm hoạ tăng lên khi Việt Nam bắt đầu xuất cảng người Việt đi ở đợ cho chủ ở Mã Lai và các quốc gia Trung Đông.


Một số nạn nhân buôn người (ảnh CAMSA)

Khi đang viết những dòng này tôi nhận được điện thoại của một thanh niên Việt từ Phoenix, Arizona. Hốt hoảng và bủn rủn, anh cầu cứu hộ cho một người thân. Người này, một thiếu nữ từ Hậu Giang, cho biết là môi giới Việt Nam hứa hẹn đưa sang Mã Lai để làm trong nhà hàng với mức lương khá cao. Đến phi trường Kuala Lumpur thì cô bị tịch thu sổ thông hành và chở xe ô tô ra vùng ngoại ô nào đó. Cô bị giam cách li và tối tối được chở ra nhà điếm để đi khách. Tại đây cô gặp một số thiếu nữ Việt khác cùng hoàn cảnh, có người đã ba năm nay. Không ai biết mình đang ở đâu, thành phố nào. Gia đình ở Việt Nam xem như họ bị mất tích.

Trước những cảnh đau lòng ấy, chúng ta không thể không bùi ngùi cho thân phận của đồng bào. Điều may mắn là, nếu tập trung tâm trí và cùng dốc sức, chúng ta có cơ hội bài trừ tệ nạn buôn người này tận gốc rễ.

Chúng ta không đơn độc. Năm 2000 Liên Hiệp Quốc khởi xướng nỗ lực toàn cầu để chống buôn người. Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đầu tiên hưởng ứng. Ngày càng nhiều những quốc gia tham gia. Chúng ta có thể nương vào lực lượng quốc tế ngày càng lớn mạnh này để đối phó với tệ trạng buôn người đang hoành hành ở Việt Nam.

Để thực hiện điều này, tháng 2 năm 2008 bốn tổ chức từ ba quốc gia Hoa Kỳ, Gia Nã Đại và Đức cùng nhau thành lập Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Mới Ở Á Châu (Coalition to Abolish Modern-day Slavery in Asia, tức CAMSA). Chỉ trong vòng hai tháng, Liên Minh CAMSA đã giải cứu và can thiệp thành công cho hàng ngàn đồng bào ở Jordan và Mã Lai. Đầu năm nay Liên Minh CAMSA đã đóng góp tích cực cho đạo luật chống buôn người vừa được chính phủ Đài Loan ban hành.

Liên Minh CAMSA thực hiện kế hoạch toàn diện về cả chiều sâu lẫn bề rộng. Về chiều sâu, kế hoạch áp dụng nguyên tắc “truy nguyên”, nghĩa là khởi sự bằng cuộc giải cứu nạn nhân, rồi truy ngược về gốc ngõ hầu nhận diện các nhân tố buôn người: chủ sử dụng lao động, công ty môi giới ở quốc gia tiếp nhận, công ty môi giới ở Việt Nam và có khi cả những giới chức chính quyền can dự vào việc buôn người. Về bề rộng, kế hoạch này vận dụng tất cả những biện pháp đa dạng nhằm tạo áp lực tối đa lên từng nhân tố: vận động dư luận, truy tố dân sự và hình sự, đánh quyền lợi kinh tế, tạo ảnh hưởng ngoại giao và chính trị từ các chính phủ… Tôi tin tưởng rằng với kế hoạch này thì chỉ trong 5 năm chúng ta có thể làm giảm hẳn đi tình trạng buôn người ở Việt Nam.

Bước tiên khởi để thực hiện kế hoạch là thiết lập văn phòng thường trực, mà chúng tôi mệnh danh là “toà đại sứ tình thương”, ở những quốc gia có đông người Việt bị buôn. Qua đó chúng ta giải cứu nạn nhân và khởi đầu việc truy nguyên. Văn phòng này cũng sẽ là điểm tựa để huy động áp lực tổng hợp ở địa phương và phối hợp với những áp lực quốc tế. Hiện nay Liên Minh CAMSA đã lập toà đại sứ tình thương ở Mã Lai và dự định sẽ lập thêm toà đại sứ tình thương ở hai quốc gia nữa.

Để thực hiện kế hoạch toàn diện, chúng tôi rất cần sự tiếp tay của đồng bào ở khắp nơi. Mỗi toà đại sứ tình thương cần khoảng 50 ngàn Mỹ kim một năm để duy trì và điều hành. Đây không phải là một ngân khoản quá lớn cho tập thể lên đến hàng triệu người Việt ở hải ngoại.

Trở lại trường hợp đáng thương tâm kể trên, toà đại sứ tình thương ở Mã Lai đang tìm cách giải cứu cho các thiếu nữ Việt đang là nạn nhân. Riêng về anh thanh niên ở Phoenix, khi được biết tôi sẽ đến thành phố của anh trong ngày gần đây để dấy lên phong trào chống buôn người, anh cho biết sẽ hết lòng tiếp tay trong công tác này.

Buôn người ở thế kỷ 21 là điều nằm ngoài sức tưởng tượng của nhiều người, nhưng nó rầt cận kề. Đồng bào đang là nạn nhân và có thể chính thân nhân của chúng ta cũng sẽ không thoát khỏi nanh vuốt của kẻ đi buôn người.

Chúng ta hãy cùng nhau xoa dịu nỗi đau và rửa đi nỗi nhục chung này.
Mọi thông tin hay đóng góp, xin gởi về:

BPSOS/CAMSA
PO Box 8065
Falls Church, VA 22041-8065

Luật Sư Lê Thị Công Nhân được đề cử giải thưởng quốc tế Gruber về Luật

Trích Người Việt Online

Tuesday, March 03, 2009



medium_VN_74122856_LTCN.jpg

Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân trong phiên tòa ngày 11 Tháng Năm 2007. Cô bị vu cho tội “tuyên truyền chống nhà nước” và bị bản án 3 năm tù. (Hình: AFP/Getty Images)


PARIS 3-3 (NV) - Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân được Nghiệp Ðoàn Luật Sư Quốc Tế đề cử giải thưởng nhân quyền về nghề luật cho giải thưởng quốc tế Gruber International Prize Program.

“Luật Sư Lê Thị Công Nhân được Nghiệp Ðoàn Luật Sư Quốc Tế (UIA) đề nghị cho giải thưởng về nghề luật của tổ chức Peter and Patricia Gruber Foundation”. Ðiện thư gửi tới cho báo Người Việt từ nhóm thân hữu của Luật Sư Công Nhân báo tin này ngày hôm qua.

Ðây là một giải thưởng có giá trị tiền bạc khá lớn và một số người được trao giải thưởng này sau đó đã được trao giải thưởng Nobel.

“Ðính kèm theo thư này là đơn đề cử của UIA. Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân hiện đang bị cầm tù... Cũng đính kèm theo thư này là các tài liệu liệt kê thành tích của cô Lê Thị Công Nhân trong lãnh vực luật pháp bảo vệ nhân quyền khi cô hành nghề luật sư tại Việt Nam”. Bức thư của bà Julie Goffin, đồng phối trí viên bộ phận Nhân Quyền và Sự Bênh Vực Quyền Bào Chữa (Human Rights & Defence of The Defence Co-Ordinator) của tổ chức UIA, viết như vậy cho bà Sarah Hreha, phó chủ tịch điều hành Gruber Foundation.

Gruber Foundation đặt theo tên của vợ chồng ông Peter và bà Patricia Gruber. Ông Peter Gruber, sinh năm 1929, là di dân từ Hung Gia Lợi. Ông đã theo cha mẹ trốn được sang Ấn Ðộ với cha mẹ năm 1939 trước Thế Chiến Thứ Hai có hai tháng. Ông được gửi đi học ở một trường Dòng Tên ở Himalayas, nơi ông có cơ hội tìm hiểu ý nghĩa cũng như mục đích của đời người.

Thế Chiến II chấm dứt, ông trở nên chú ý nhiều đến cả khoa học, tôn giáo và triết học khi du học ở Úc. Ông cũng nghiên cứu về đạo Phật một thời gian và di cư đến New York Hoa Kỳ mà nơi đây ông thành lập Hội Nghiên Cứu Ðông Phương, bảo trợ các công trình phiên dịch và xuất bản sang Anh ngữ các tài liệu bằng chữ Tây Tạng.

Có một thời gian ngắn, ông phục vụ trong ngành tài chính của quân đội Hoa Kỳ rồi sau đó hoạt động ở thị trường chứng khoán New York.

Ông đã tạo lập được một tài sản lớn lao nhờ kinh doanh quản trị tài sản. Từ đó vợ chồng ông đã quyết định thành lập Gruber Foundation từ năm 1993 để hàng năm trao giải thưởng cho các nhân vật quốc tế đáng ca ngợi trong các lãnh vực về thần kinh học, thiên văn học, di truyền học, nữ quyền và luật pháp. Tiền cho mỗi giải thưởng hàng năm là $500,000 đô la.

“Tôi có được thông báo về chuyện này. Ðây là một vinh dự cho con gái tôi khi được đề cử dự tranh một giải thưởng quốc tế cao quí. Có nhiều người cũng được đề cử để tùy Hội Ðồng Cứu Xét tuyển chọn.” Bà Trần Thị Lệ, mẹ nữ luật sư Lê Thị Công Nhân nói như vậy với báo Người Việt sáng 3 Tháng Ba 2009.

Bà mới đi thăm con gái cách đây hơn một tuần lễ. Cô vẫn bị giam chung với những người khác gồm 60 tất cả trong một căn phòng chật hẹp hơn 40m2. Mỗi người chỉ được chia cho bề ngang có 80cm nên hè nóng cũng như Mùa Ðông phải nằm cài vào nhau trên sàn xi măng. Không đủ chỗ cho từng đó người nên phải xây thêm một cái “gác lửng” bằng xi măng thành 2 tầng trong một căn phòng giam.

Vì chế độ ăn uống dành cho tù nhân chỉ gồm ít cơm hẩm và rau luộc, bà Lệ phải tiếp tế đồ ăn khô cho con gái. Ðây cũng là trường hợp của Luật Sư Nguyễn Văn Ðài, (cùng vụ án với Luật Sư Lê Thị Công Nhân) và bao nhiêu tù nhân khác. Gia đình phải tiếp tế lương thực, quần áo, chăn màn cho thân nhân ở trong tù.

Bà Lê cho hay khoảng 4 tháng trước, bà có nhờ Tòa Ðại Sứ Mỹ chuyển qua đường ngoại giao vào nhà tù cho con gái 2 quyển tự điển lớn, một số sách thuật ngữ luật. Ðồng thời, Tòa Ðại Sứ Mỹ cũng gửi thêm vào cho Lê Thị Công Nhân một số sách. Cho đến nay, những thứ sách đó vẫn không được trao cho cô dù không phải là các loại sách bị cấm đọc trong tù.

Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, 30 tuổi, và Luật Sư Nguyễn Văn Ðài, 40 tuổi, bị CSVN vu cho tội “tuyên truyền chống nhà nước” và bị kết án tù ngày 11 Tháng Năm 2007. Phiên tòa phúc thẩm ngày 27 Tháng Mười Một 2007 chỉ giảm án từ 4 năm còn 3 năm cho Luật Sư Lê Thị Công Nhân và từ 5 năm xuống còn 4 năm cho Luật Sư Nguyễn Văn Ðài dù các luật sư biện hộ đã chứng minh rất thuyết phục cho thấy không những hai người này không hề vi phạm điều luật nào của chế độ, hệ thống tòa án CSVN đã sai trái trong thủ tục tố tụng hình sự.

Dù vậy, họ vẫn bị nhốt vào tù. Nhiều chính phủ Tây phương và các tổ chức nhân quyền quốc tế đã kịch liệt đả kích chế độ Hà Nội đã bóp nghẹt quyền làm người của Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân cũng như của những người tham gia đấu tranh đòi tự do dân chủ ở trong nước.

Mới đây, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ công bố bản phúc trình thường niên về tình hình nhân quyền thế giới đã nói rằng tình hình nhân quyền tại Việt Nam vẫn tồi tệ.