Translate

Sunday, February 1, 2009

Nguyễn Thanh Ty: Năm Sửu cà kê dê ngỗng về trâu!

By anlac • Jan 31st, 2009 • Category: Nguyễn Thanh Ty
Trích Người Việt Boston

Tết Kỷ Sửu năm nay, ngày Mồng Một Tết lại nhằm ngày thứ Hai, 26 tháng 01 năm 2009, vì là trâu ở xứ người nên phải đi cầy như thường chứ đâu có được như trâu ở xứ mình nằm nhà thảnh thơi nhơi cỏ ba ngày Tết như cái “thuở thanh bình” ba mươi lăm năm trước còn ở quê nhà, một quê hương miền Nam muôn ngàn yêu dấu.

Hóa ra cái kiếp trâu đi đâu, ở đâu cứ vẫn phải khổ. Có đấu tranh cách mấy cũng vẫn bị đánh trâu! Buồn thật! Sầu đời thật!

Dục phá thành sầu chi dụng tửu!
Thôi thì để phá nỗi buồn của ba ngày Tết tha phương, chúng ta hãy cùng nhau “ngày Xuân nâng chén” rồi đem cái năm Kỷ Sửu này ra tán chuyện trâu cho đỡ buồn. Biết đâu cũng có đôi điều thú vị!
Trước tiên là cái tuổi Sửu “di động”. Ngày mới qua Mỹ, bỗng dưng ai cũng tự mình đổi qua tuổi Sửu hết trơn, dù cho mình trước đó là tuổi Tý hay tuổi Dần, Ngọ, Mùi… Đi làm hùng hục một ngày 2 job, 16 tiếng đồng hồ liên tục, về đến nhà là lăn ra ngủ như chết không biết trời đất là gì. Thức dậy, ăn vội ba hột cơm, hay gói mì rồi lại hối hả đi làm. Chẳng khác gì con trâu đi cày. Được ngày nghỉ, hỏi muốn gì? - Muốn ngủ! Câu trả lời ngắn gọn, dứt khoát. Quả thật, cái xã hội thực dụng làm cho con người buộc phải quay cuồng theo nó để mà thích nghi và sinh tồn. Nếu không thì cái lũ giặc “bill” hè nhau đánh tới tấp, tối tăm mặt mũi, từ chết đến bị thương, không trốn tránh đi đâu được. Vậy chẳng phải “ô tô ma tích” đổi thành tuổi Sửu là gì?

Thế rồi chừng năm, bảy năm sau, thi đậu vào quốc tịch, trở thành công dân Mỹ, đã tậu được nhà, tậu được xe mới, trong “băng” có tí tiền “xe vin” thì lại đổi tuổi một lần nữa thành tuổi Dậu, làm con gà trống có cái đuôi cong vòng ngũ sắc, gáy vang trời.

Lúc này hăm hăm hở hở xênh xang áo gấm chuẩn bị về làng.

Cầu trời cho mấy con gà trống này đừng có dại mà nghe lời con cáo trong truyện ngụ ngôn của ông Tây Cà lồ Lã phụng Tiên, nhắm mắt lại mà gáy.

Con cáo của ông Lã phụng Tiện đem miếng phó mát ra dụ xem ra ít nguy hiểm. Còn con cáo của ông Hồ thì đem chùm khế ngọt với “em bé chân dài” ra dụ thì đáng sợ hơn nhiều. Nó rất “ép phê” đối với mấy con gà trống mới mọc lông đuôi, gọi là giầu nẫy, xưa nay chưa hưởng mùi đời, nên khi nghe con cáo Hồ ca bài ca con cá ngọt như đường phèn thì hai mắt cứ nhắm tít lại mà gáy. Lúc con cáo Hồ nhảy lên nhe hai hàm răng chơm chởm, nhọn hoắc ngoặm vào cổ, lúc đó mới mở mắt ra thì ô hô! ai tai! việc đã rồi.

Đó là chuyện giả tỉ thôi. Thực ra người Việt tị nạn cộng sản đã bỏ của chạy lấy người, mười phần cầm chắc chết hết chín thì không ai dại mậu gì mà nghe lời dụ dỗ của bầy cáo đã thành hồ ly tinh mà bị mắc bẫy một lần nữa.

Có chăng là chỉ mấy anh chị “Vịt kìu” yêu nước ham danh, ham lợi, kéo nhau về nhận bằng khen, nhận khăn quàng đỏ để rồi bị ngoạm cổ không kêu lên được một tiếng.
Cũng là đáng đời và đáng với cái giá phải trả cho sự tham lam và ngờ nghệch.

Bây giờ chúng ta hãy cùng nhau cà kê dê ngỗng về chuyện trâu để uống rượu thưởng Xuân chơi, cho nó dzui dzẻ cái cuộc đời!

Địa danh Trâu

Từ cái thời Đông Chu, ông Khổng Khâu người nước Lỗ, tức Đức Vạn thế sư biểu Khổng tử còn dẫn học trò đi lang thang khắp nơi để truyền bá tư tưởng thì đã đi qua nhiều nước trong đó có nước Trâu, nước Quắc, nước Đồ…

Ngày nay tra cứu không còn biết các nước đó nằm ở đâu trên cái xứ Trung Hoa rộng mênh mông.
Trong binh thư của Tôn Vũ tử có ghi chép mưu kế “Dĩ Đồ diệt Quắc” nghĩa là giả vờ mượn đường của nước Đồ để diệt nước Quắc. Khi quân binh lọt được vào nước Đồ rồi thì trở mặt cướp luôn nước Đồ. Tích này nhắc lại hai địa danh Quắc và Đồ, không thấy sách nào nhắc đến nước Trâu cả.
Đất nước Trung Hoa rộng vậy mà bọn vua chúa Tàu vẫn cứ còn tham, luôn có ý đồ xâm chiếm nước khác. Chúng đã chiếm một phần đất, mười mấy ngàn thước vuông sát biên giới và mấy quần đảo ngoài khơi của Việt Nam rồi, mà cái bọn cầm quyền Việt Nam hiện tại cứ ngậm miệng êm ru bà rù, lại còn cấm cản và bắt bớ tất cả những ai lên tiếng hay biểu tình chống đối sự xâm chiếm ấy. Người dân trong nước có ý ngờ rằng hình như bọn cầm quyền đã có ý đồng lõa bán, nhượng lãnh thổ cho giặc.
Ở Việt Nam, Hồ Tây, một thắng cảnh của Hà Nội, trước khi mang tên Dâm Đàm (hồ mù sương) ở thời Lý, Đoái hồ, Tây hồ dưới thời Lê, đã từng mang tên là hồ Trâu, hồ Trâu vàng. Một câu thơ cổ còn nhắc nhở:

Ngưu hồ dĩ biến tam triều cục
Long đỗ nhưng lưu bách chiến thành
(Hồ Trâu đã trãi ba triều đại
Thành (bách) chiến còn lưu đất Rốn Rồng)

Họ Trâu

Cái họ Trâu này người Việt chắc không ai có. Ngày xưa ở bên Tàu, cũng thời Đông Chu, chỉ có một người duy nhất. Đó là Trâu Kỵ. Ngoài ra xưa nay chưa nghe nói tới người thứ hai. Con cháu ông này cũng không thấy sách vở Tàu nói tới. Chuyện ông Trâu Kỵ này cũng lý thú lắm. Xin chép lại đây để làm mồi uống thêm đôi ba ly nữa cũng đậm đà. Truyện như sau:
“ Tề Uy vương từ khi lên làm vua, say đắm tửu sắc, lại ham mê âm nhạc, không nghĩ gì đế quốc chánh. Trong khoảng 9 năm, các nước Hàn, Ngụy, Lỗ, Triệu đều đem quân đến đánh. Quân Tề thua luôn. Một hôm có người thư sinh, xin vào yết kiến tự xưng họ là Trâu tên Kỵ, có biết gẩy đàn cầm, nghe nói vua Tề thích âm nhạc nên tìm đến. Tề Uy vương cho mời đến và đưa cho cây đàn cầm. Trâu Kỵ lên dây đàn mà không gẩy.

Uy vương hỏi:
- Tiên sinh đã là người khéo gẩy đàn cầm thì nên cho ta nghe một bài. Nay tiên sinh lên dây mà không gẩy dễ thường cây đàn không được tốt hay là chê ta không biết nghe đàn chăng?
Trâu Kỵ đặt cây đàn xuống rồi nghiêm nét mặt, đáp rằng:

- Tôi biết là biết cầm lý, còn như tiếng chỉ, đường tơ là của bọn nhạc công, tôi dẫu biết cũng không đáng gẩy hầu đại vương làm gì.
Uy vương nói:
- Cầm lý thế nào? Xin tiên sinh cho nghe!

Trâu Kỵ nói:
- Cầm tức là cấm, tức là cấm chỉ những sự dâm tà thì mới giữ được chính đạo. Vua Phục Hi đời xưa chế ra đàn cầm có năm dây. Dây lớn là vua, dây nhỏ là bề tôi. Đến đời Văn vương, Vũ vương mỗi ngài lại thêm một dây nữa, để hợp cái tình ý vua tôi. Xem thế đủ biết rằng vua tôi có tương đắc nhau thì chính lệnh mới hòa hợp, cái đạo trị nước chẳng qua như thế mà thôi.

Uy vương nói:
- Tiên sinh nói phải lắm! Nhưng tiên sinh đã biết cầm lý thì tất biết cầm âm, xin tiên sinh hãy gẩy chơi một khúc

Trâu Kỵ nói:
- Tôi học nghề đàn thì phải biết cái phép chơi đàn. Đại vương lo việc nước, há lại không biết cái đạo trị nước hay sao? Nay đại vương bỏ nước mà không trị có khác gì tôi ôm đàn mà không gẩy hay không? Tôi ôm đàn mà không gẩy thì đại vương không được thỏa lòng, thế thì đại vương bỏ nước mà không trị, chắc là muôn dân không được thỏa lòng vậy.

Uy vương ngạc nhiên nói rằng:
- Thế là tiên sinh mượn cây đàn cầm để can ta đó. Ta hiểu rồi.
Uy vương mời Trâu Kỵ lưu lại ở hữu thất. Ngày hôm sau, Tề Uy vương tắm gội sạch sẽ rồi triệu Trâu Kỵ vào bàn việc nước. Trâu Kỵ khuyên Tề Uy vương tiết bớt những sự tửu sắc, tin dùng người trung lương, trừ bỏ đứa gian nịnh, sai luyện tập binh mã. Tề Uy vương bằng lòng lắm. Tức khắc cho Trâu Kỵ làm tướng quốc. (Thủ tướng). Nhờ có tài của Trâu Kỵ mà nước Tề trở nên bá chủ. Các nước Sở, Ngụy, Hàn, Triệu, Yên đều chịu kém và hàng phục không còn dám đem quân xâm chiếm bờ cõi nữa.

Con trâu với nhà nông.

Việt Nam là nước nông nghiệp. Chín chục phần trăm người dân sống nhờ ruộng đồng. Con trâu là bạn thân thiết của nông dân. Thuở nhỏ học tiểu học, ai ai mà chẳng thuộc lòng bài học thuộc lòng: Trâu ơi!

Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây, trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ ngọn lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

Hoặc là:

Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cày, vợ cấy con trâu đi bừa

Hay gần gủi, thân thương như trai với gái như một câu thành ngữ của người Thái:

Nhinh chăm trai, quai nhăm cả
(Gái gần trai, trâu gần mạ)

Trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà.

Thuở xưa cái cảnh êm đềm giữa người và trâu giúp đỡ nhau trong công việc đồng án là vậy. Nhưng kể từ ngày “Bác Hồ” cõng rắn Cộng sản vào cắn gà nhà với chính sách “Cải cách ruộng đất” rồi tiến tới Hợp tác xã thì nhân dân miền Bắc đói khổ triền miên. Cái cảnh cha chung không ai khóc, gọi là “làm chủ tập thể”, người dân trắng tay, ruộng tư hữu của mình bỗng dưng bị trưng thu làm của chung nên chẳng ai tha thiết gì công việc một nắng hai sương trên đồng ruộng. Do đó, hồi xưa ruộng tư hữu, trồng lau ra lúa, bây giờ Hợp tác xã, trồng lúa lại ra lau, là do chẳng ai buồn làm cỏ lúa.
Vừa mất mùa do thiên tai, vừa mất mùa trên sân phơi. Người dân đói quá bèn làm ca dao để lâu lâu nhai lưỡi nuốt nước miếng cho đỡ đói:

Hợp tác rồi lại hợp te,
Không còn miếng vải để che “Bác Hồ”

Khi cưỡng chiếm được miền Nam, việc đầu tiên của kẻ thắng trận là cướp lấy hết máy cầy của dân chúng đồng bằng sông Cửu Long chở về Bắc, tuyên truyền rằng “dùng chiến lợi phẩm của địch để công nghiệp hóa nông thôn ta”. Rồi đặt tên cho máy cầy miền Nam là “Trâu đỏ” có lẽ vì màu sơn đỏ hay cái gì vào tay cộng sản phải đỏ như máu mới gọi là cách mạng chăng?
Khổ nỗi, máy cầy thì chất đống ở ngoài trời thi gan cùng mưa nắng ngày này qua tháng nọ, không ai biết xử dụng con trâu đỏ cày bừa ra làm sao. Phải năn nỉ mấy ông nông dân “ngụy” dạy cho biết cách điều khiển. Học xong rồi, cán bộ ta về Bắc lái máy cầy cứ vênh mặt lên trời, trổ mòi “cách mạng chuyên chính”. Hợp tác xã nào chịu đút lót thì mới chịu đến cầy, nơi nào không của đút thì đồng ruộng ta cứ nằm đó … chờ cho đến hết thời vụ.
Nông thôn miền Bắc lại xãy ra cảnh: Trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà”.
Khi nào trâu đỏ được ăn gà thì máy mới chạy được. Dầu cặn, dầu nhớt trâu đỏ ăn thiếu dinh dưỡng máy không chịu chạy.
Chỉ mấy năm sau, máy móc hỏng hóc, không ai biết sửa, không có phụ tùng thay thế, trâu đỏ biến thành đống sắt vụn bán đồng nát. Cốt khỉ vẫn hoàn cốt khỉ. Hợp tác xã thành tan tác xã. Nhà nước ta xấu hổ nhưng không dám công nhận đành len lén nhắm mắt cho “khoán chui”, tức là cho nông dân làm ruộng lại y như cũ. Rõ là “mèo lại hoàn mèo”.

Huyền thoại Trâu vàng và nguồn gốc dùng trâu cầy ruộng.

Hồ Trâu và dòng sông Kim Ngưu, một nhánh sông Tô chảy bao quanh phía Nam Hà Nội, từ Tây sang Đông, còn gợi lại một huyền tích của thời kỳ thần thoại Việt Nam:

Ở vùng đầm lầy chân núi Tiên Du (Bắc Ninh) có con trâu vàng náu mình. Một pháp sư dùng tích trượng yểm lên trán trâu. Trâu lồng chạy xuống phía nam, quần nát cả một vùng Khoái Châu lầy lội, vùng ấy sau gọi là Vũng trâu đầm. Chưa hết cơn giận giữ, trâu lại bơi qua sông Cái rồi chạy ngược lên phía bắc, đường do vết chân trâu dẫm lún thành sông Kim Ngưu. Rồi trâu chạy vòng vo làm sụt cả một vùng thành đầm hồ và ẩn kín dưới nơi ấy. Đó là hồ Trâu Vàng.

Những chỗ trâu quậy nát mọc lên một loài lúa dại. Người dân hái lúa dại để làm thực phẩm rồi dần tiến tới việc trồng lúa. Ban đầu, người dân chưa biết cách cầy bừa. Mãi đến khi thái thú Sĩ Nhiếp đem kỹ thuật làm cày, bừa và cách dùng trâu để vỡ đất, cày ruông dạy cho dân, lúc đó việc canh tác mới phát triễn rộng rãi.

Lúc đầu người dân sử dụng trâu vào việc dẫm nát cỏ, sục bùn trong ruộng để sửa soạn đất đai trồng lúa. Lề lối canh tác này sách cổ gọi là “thủy nậu”. Lối làm ruộng này kéo dài cho đến trước và sau cái gọi là Cách mạng mùa Thu vẫn còn phổ biến trong các thung lũng Thái, Mường miền Tây Bắc.

Chuyện ngụ ngôn: Cái khôn mày để ở đâu?

Câu chuyện này, người viết học từ cái thời còn để chỏm, lớp ba trường làng, cách đây hơn 60 năm nên quên gần hết nguyên bản, chỉ nhớ lỏm bỏm đại ý câu chuyện, vậy xin được kể theo cách viết hình sự của báo Công An Nhân Dân trong nước, như sau:

Cái thuở đất trời còn nguyên thủy cộng sản, người và vật sống chung hài hòa với nhau trong thế giới đại đồng, làm tùy sức, ăn tiêu tùy cầu, chẳng ai có máu lạnh hay khát máu. Duy chỉ trong cánh rừng kia có con cọp ỷ mình mạnh bạo, thường hay hiếp đáp kẻ yếu, làm điều xằng bậy, nên tự xưng là Hổ Mạnh Đại Vương, thỉnh thoảng mò ra làng trộm chó, bắt trâu ăn thịt, dân làng đã kịch liệt phản đối nhiều lần. Đại Vương Hổ Mạnh lần nào cũng đem luật rừng xanh có 4 điều ghi chép ra thề thốt, hứa hưu, hứa nai, xin khắc phục, nghiêm khắc kiểm điểm và rút kinh nghiệm. Nhưng chứng nào vẫn tật ấy.
Cạnh bìa rừng có một lực điền trai trẻ tên là Tấn Lực sống cùng với con trâu khoẻ mạnh, dễ bảo. Anh Lực đặt tên nó là Doãn. Mỗi lần đánh trâu ra ruộng, anh chỉ vỗ nhẹ lên đầu nó và nói: “Doãn ơi! Ta bảo Doãn này!” là trâu vâng lời anh Lực một cách ngoan ngoãn nên anh Lực chẳng cần dùng đến roi mây bao giờ. Trâu Doãn có đặc tính là luôn luôn đi lề bên phải. Có lúc anh Lực lơ đảng ngó lên trời xanh, lắng tai nghe chim họa mi hót trên đầu, quên bẵng việc lái lưỡi cày mà trâu Doãn cũng cứ theo quán tính “lề bên phải” mà đi đúng luật, nên đường cầy cứ thẳng băng y như ông sĩ phu họ Hà nhắm mắt “dắt tay nhau đi dưới tấm bảng chỉ đường…” vậy.

Một hôm, anh Lực cùng trâu Doãn đang mãi mê cầy ruộng nên không để ý đến Đại vương Hổ Mạnh đã ngồi rình trên bờ ruộng từ lâu. Khi cầy ngang qua chổ Đại vương Hổ Mạnh ngồi, trâu Doãn nhe răng ra cười cầu tài với Hổ Mạnh. Hổ Mạnh cất tiếng hỏi:

- Này đồng chí Doãn! Đồng chí to xác khoẻ mạnh như thế kia cớ sao lại cứ sợ thằng người nhỏ bé như thế? Tại sao cứ để cho nó bóc lột sức lao động của mình mà không chịu vùng lên theo cách mạng để cướp lại quyền làm chủ tập thể của mình hử?

Trâu Doãn lại nhe hàm răng trắng nhỡn lớn quá khổ ra cười cười trả lời rằng:
- Báo cáo đồng chí Đại vương nắm! Thằng người tuy nhỏ mà nó có trí khôn!
- Trí khôn là cái gì vậy, đồng chí Doãn!
- Hãy hỏi thằng người thì khắc biết.
Đại vương Hổ Mạnh tò mò muốn biết trí khôn là cái củ gì mà thằng người lại có thể sai khiến được con vật to lớn hơn nó đến mấy lần mà không cần đến điều 4 luật rừng xanh và móng vuốt sắc bén của mình nên quay sang hỏi nông dân Tấn Lực:
- Này thằng nông dân kia! Cái khôn của mày để ở đâu đưa cho tao coi thử!
- Thưa Đại vương, trí khôn tôi để ở nhà! Anh Lực trả lời.
- Vậy hãy về nhà lấy ra đây cho ta xem mau!
- Tôi về, ở đây Đại vương ăn thịt con trâu của tôi sao?
- Ta xin thề trên điều 4 là không ăn thịt con trâu của ngươi!
- Xin lỗi Đại vương nghe! Đại vượng thề nhiều lần quá nên lời thề hết linh rồi!
- Vậy, mày muốn ta làm sao để cho mầy tin?
- Nếu Đại vương chịu để cho tôi trói vào gốc cây kia tôi mới yên tâm về nhà.
- Được! Mầy cứ trói ta lại.
Sau khi trói chắc Hổ Mạnh vào gốc cây trên bờ ruộng xong, Tấn Lực xuống ruộng tháo quải ra cho trâu Doãn đi ăn cỏ, anh lấy cái bắp cầy đến quất túi bụi vào lưng Hổ Mạnh. Vừa quất, anh vừa quát:
- Trí khôn của tao đây này!
Đại vương Hổ Mạnh đau đớn vô cùng, vừa khóc vừa van xin tha mạng rối rít.

Người viết không nhớ đoạn kết anh Lực này đánh chết Hổ Mạnh hay vì lòng nhân đạo mà tha cho Hổ Mạnh về rừng. Nhưng sau gần một thế kỷ, người viết đoán chừng rằng, có lẽ anh Lực vì lòng nhân (đàn bà) đã tha cho Hổ Mạnh nên con cháu đời sau mới bị cái hậu quả khôn lường “thả hổ về rừng”, khiến cho 80 triệu dân phải điêu linh đồ thán vì nạn hổ vồ.

Công lao của trâu.

Trong truyện “Lục súc tranh công” của tác giả “Vô danh”, trâu đã kể công như sau:
Trâu mỏi nhọc trâu liền năn nỉ
“Một mình trâu ghe nỗi gian nan
Lóng canh gà vừa mới gáy tan
Chủ đã gọi thằng chăn vội vã
Dạy rằng: đuổi trâu ra thảo dã
Cho nó ăn ba miếng đỡ lòng
Chưa bao lâu thoắt đã rạng đông
Vừa đến buổi cày bừa bua việc
Trước cổ đã mang hai cái niệt
Sau đuôi thêm kéo một cái cầy
Miệng đã dàm, mũi lại dòng dây
Trên lưng ruồi bâu, dưới chân đĩa cắn…

Làm không kịp thở
Ăn không kịp nhai
Tắm mưa trãi gió chi nài
Đạp tuyết dày sương chi sá…

Từ đồng cạn đến đồng sâu, trâu bao thầu hết mọi việc cày bừa. Đến mùa gặt, xe trâu lại lo chuyên chở lúa về nhà. Hết vụ mùa, trâu lên rừng kéo gỗ, kéo củi, kéo tranh tre lá về cất nhà, cất trại…Quả thật thân trâu vất vả một đời chẳng có lúc nghỉ ngơi, làm quần quật cho đến ngày sức tàn, lực mỏi. Rồi bị đem đi xẻ thịt.
Về công trận, trâu ngày xưa được xử dụng như đoàn chiến xa bây giờ. Trâu được buộc gươm nhọn trên sừng và cho uống rượu say sau đó lùa xô vào húc, chém phá đội hình quân địch. Trâu cũng dùng trong trận hỏa công bằng cách buộc mồi lửa sau đuôi rồi lùa vào dinh trại của giặc.
Trong thời Chiến quốc bên Tàu, quân Yên đã hạ hơn 70 thành của Tề, chỉ còn sót lại mỗi thành Cừ Tức Mặc. Tướng nước Yên là Điền Đan dùng mưu bắt 1000 con trâu đực khỏe mạnh, mình khoác áo đỏ vẻ nhiều màu sặc sỡ, sừng buộc gươm nhọn sắc. Đuôi buộc sẵn một bó cỏ khô tẩm dầu. Khi xuất trận quân Tề xua đàn trâu đi trước rồi đốt những bó cỏ khô buộc đuôi. Trâu bị nóng cuống cuồng chạy xông vào trận địch, khiến quân Yên hoảng sợ, rối loạn hàng ngũ, hoảng loạn xéo lên nhau mà chạy, chết rất nhiều. Thừa thắng Điền Đan chiếm lại được những thành trì đã mất.
Tác giả Khuyết danh có làm bài thơ nhắc đến tích này:

Con trâu già
Một nắm xương khô một nắm da
Bao nhiêu cái ách đã từng qua
Đuôi kia biếng vẫy Điền Đan hỏa
Tai nọ buồn nghe Ninh tử ca
Sớm thả đồng đào ăn đủng đỉnh
Tối về chuồng quế thở nghi nga
Có người đem dắt tô chuông mới
Ơn đức vua Tề lại được tha.

Bài thơ có nhắc thêm mấy sự tích như Ninh tử tức Ninh Thích lúc chưa gặp thời, đi chăn trâu thường nghêu ngao gõ sừng trâu mà ca lên chí lớn của mình. Sau gặp được vua Tề Hoàn công biết đến và trọng dụng. Sự tích tô chuông, ngày xưa khi đúc xong một quả chuông thì phải giết một con trâu làm lễ Hấn Chung tức Bôi Chuông. Lấy máu trâu bôi vào chuông, tiếng chuông đánh lên mới ngân nga và vang xa. Bài thơ trên nhắc đến việc vua Tề Tuyên công thấy người ta dắt trâu đi để giết lấy máu tô chuông, liền tỏ lòng thương và ra lệnh tha cho con trâu này khỏi bị giết.
Trong Việt sử có ghi chép chuyện Đinh Bộ Lĩnh cùng trẻ mục đồng cưỡi trâu tập trận trong thung lũng Hoa Lư. Lê Đại Hành lùa trâu cùng quân sĩ dàn dày đặc ở bờ sông Hoàng Long để chào đón và dọa dẫm tinh thần sứ thần nhà Tống.

Công dụng của trâu

Trâu là con vật rất quí đối với nhà nông nên ít ai đem ngã thịt để làm thức ăn, trừ khi trâu đã già yếu, mắt mờ, chân chậm, chưa ra sức đã “thở hồng hộc như… trâu” thì mới đành lòng đem đi mổ.
Thịt trâu màu hơi tái, không thơm ngon bằng thịt bò nhưng có vị mát rất tốt cho những người vượng hỏa. Da trâu dùng bịt trống. Bong bóng trâu sau khi tẩy mùi dùng làm bình đựng nước hay rượu rất tốt trong việc đi xa. Xương trâu dùng để nấu…xì dầu.

Sừng trâu có thể làm tù và và các vật trang sức như lược, hoa tai, tiện con cờ, mõ, cái hộp, tỉa cán quạt, cán dao.

Sừng trâu cũng có thể thay sừng tê giác làm thuốc. Hiện nay tê giác là loài động vật quí hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng, đã đưa vào danh sách đỏ và cấm săn bắt. Y học hiện đại đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng chữa bệnh của sừng trâu và kết quả cho thấy sừng trâu và sừng tê giác thành phần các chất hữu cơ và vô cơ tương đồng. Theo Đông y, sừng trâu vị đắng có tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc lương huyết dùng chữa ôn bệnh sốt cao, hôn mê nói nhảm, kinh phong điên cuồng, các chứng xuất huyết như thổ huyết, nục huyết, ban xuất huyết…

Cũng vì sự quí hiếm của sừng tê giác nhất là đặc tính kỳ lạ của nó, người ta đồn nhau rằng con tê giác có khả năng giao cấu từ 2 đến 4 giờ đồng hồ và khả năng ấy đều dồn lên cái sừng của nó. Một ít bột mài từ sừng của nó cũng đủ khiến cho người nhược dương trở thành người đàn ông phi trường trong việc “phòng sự”, Viagra phải chào thua!

Giá một ký sừng tê giác giao động từ 50.000USD đến 20.000USD.
Các đại gia kháo nhau “ lúc trẻ bỏ sức kiếm tiền về già dùng tiền mua sức”, để vớt vát lại tuổi thanh xuân, các đại gia đua nhau lùng mua “thần dược” này để dùng cho bản thân và dành để chiêu đãi các quan lớn trong triều.

Chính vì vậy mà các ông bà trong các tòa đại sứ của Nhà nước ta ở Nam Phi ham làm giàu mau chóng bằng cách buôn lậu sừng tê giác mang về nước bán cho các quan lớn. Vừa mới đây, bà Vũ mộc Anh, Bí thư Thứ Nhất tại Nam phi bị bắt quả tang lúc mua bán sừng tê giác ngay trước Tòa đại sứ mới gọi là gan cóc tía coi pháp luật Nam Phi không ra cái thá gì. Khi bị giới truyền thông Nam Phi lên tiếng chỉ trích, bà Mộc Anh liền thi thố ngón võ gia truyền của bà Thúy Thanh và ông Lê Dũng là dài lưỡi ra chối lia, chối lịa rằng thì là em chả. Và luôn thề rằng: “Em mà có buôn lậu thì cho Bác Nông vật ngữa em ra đi! Mỗi tháng em bị hộc máu một lần!”. Cả một đống người trong tòa đại sứ cũng hùa nhau chối phăng, chối phắt rằng nhân viên chúng tôi đã được học tập rất kỹ đạo đức của “Bác” là thật thà, dũng cảm, không bao giờ làm chuyện xấu hổ nhục nhã như thế đâu. Đề nghị các ông chớ hồ đồ loan tin “trước khi mọi việc được điều tra rõ” mà làm mất đi sự hợp tác thân thiện đẹp đẽ của hai nước.
Đến khi truyền hình Nam phi chiếu trên ti vi cái mặt bèn bẹt của bà Mộc Anh hai năm rõ mười thì, theo tờ Tuổi Trẻ tường thuật, Ông đại sứ CSViệt Nam mới “lấy làm hối tiếc” dù “đã nhắc nhở nhiều lần” nhưng “vẫn xãy ra” và cho rằng hành vi của bà Mộc Anh là “hám lợi”. Về phần bà Mộc Anh thì cứ cương quyết không chịu nhận mình là buôn lậu và không chịu viết bản kiểm điểm nhận tội, cứ một mực nói là chỉ cầm dùm cho “người khác” thôi. Đến đây thì báo Tuổi Trẻ không dám nói rõ “người khác” đó là ai mà có quyền to có thể sai khiến bà Mộc Anh Bí thư Thứ nhất của Tòa đại sứ cầm dùm?

Cái gương bị mất chức và đi tù của PV Chiến cứ lù lù trước mặt.

Đây không phải là lần đầu nhân viên toà đại sứ CSVN bị bắt. Hai năm trước một nhân viên thương mại của toà đại sứ CSVN tên là Khánh Toàn cũng bị bắt về vụ buôn lậu sừng tê giác và bị “xử lý”.
Hiện nay bà Mộc Anh đã bị triệu hồi về nước để điều tra làm rõ để tìm cách… ngừa đẻ.
Thật là đẹp mặt cho cái chế độ ưu việt.

Con trâu trong ca dao tục ngữ

Trong hàng gia súc, có lẽ con trâu là được người nông dân thương yêu trìu mến nhất, ngay cả loài chó vốn được yêu quí vì đức tính trung thành cũng chưa được bằng. Trâu được nhắc nhở nhiều qua ca dao, thành ngữ.

Trong cách chọn lựa mua trâu phải chọn loại: Sừng cánh ná, dạ bình vôi, mắt ốc nhồi, Mồm gàu dai, tai lá mít, đít lồng bàn.

Và nên tránh những con: Xa rừng mắt lại nhỏ con, Vụng đàn chậm chạp ai còn mua chi
Áp dụng trong đời sống hàng ngày: Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi - Muốn giàu nuôi trâu cái, muốn lụn bại nuôi chim bồ câu – Trâu năm sáu tuổi còn nhanh, Bò năm sáu tuổi đã tranh cõi già. – Trâu quá sá (quá tuổi) mạ quá thì – Trâu trắng đi đâu, mất mùa đến đấy. – Trâu he (gầy) cũng bằng bò khỏe. - Con trâu là đầu cơ nghiệp - Tậu trâu, lấy vợ cất nhà, trong ba việc ấy thật là khó thay…
Có những thành ngữ dùng trâu để ám chỉ về người như: Trâu chậm uống nước đục dùng để chế diễu những người chậm chạp nên thường bị thiệt thòi. Những người hiềm khích hay ghen ghét nhau thì có câu trâu cột ghét trâu ăn. Câu trâu lấm vấy quanh dành để chỉ những người làm sai nhưng hay đổ lỗi cho người khác. Những ai hay mơ làm chuyện hảo thì bị chế diễu là dắt trâu qua ống. Ngày xưa mấy anh lái trâu ưa có thói lường gạt theo kiểu mua trâu vẻ bóng. Vì vậy, cảnh mẹ chồng nàng dâu luôn xích mích thì câu thật thà như thể lái trâu, thương nhau như thể nàng dâu mẹ chồng thiệt thích hợp.

Ca dao tục ngữ về con trâu rất nhiều kể không xuể. Chừng nào hết cảnh trâu tìm cột chứ có bao giờ cột lại tìm trâu thì lúc ấy họa may dân gian mới hết nói về trâu.

Một chuyện tiếu lâm về trâu

Để độc giả xả hơi, thư giãn đôi chút vì từ nãy tới giờ theo dõi ba cái chuyện khô khan nhức đầu, người viết xin kể một chuyện tiếu lâm dân gian nơi chốn đồng quê có con trâu đi cầy để quí vị nghe chơi cho vui tí chút.

Một hôm nọ, anh sui trai góa vợ băng đồng sang làng kế cạnh để thăm đứa con gái đang làm dâu cho bà sui cũng đang góa chồng. Nhằm lúc hai vợ chồng đứa con còn đang ở ngoài đồng cấy lúa chưa về, bà sui đem rượu ra mời anh sui vừa nhâm nhi vừa nói chuyện để chờ bọn trẻ về rồi ăn cơm luôn thể.
Hai anh chị sui nói chuyện râm ran hồi lâu, tâm tình coi bộ vui vẻ lắm. Bỗng chị sui cao hứng đố anh sui:

- Nè anh sui! Đang lúc vui tui đố anh một câu để anh đoán thử nó là cái gì nghen!
- Ừa! Chị cứ đố để tui ráng đoán để trả lời chị. Anh sui cũng vui vẻ đáp lại.
- Vậy chớ đố anh, cái gì bằng bàn tay, xung quanh có lông, chính giữa có cái lỗ. Chị sui vừa nói vừa ra điệu bộ, dơ bàn tay khum khum, dứ dứ trước mặt anh sui. Anh sui nghe thấy vậy mới miệng cười chúm chím, trong bụng nghĩ thầm:
- Chà! Đố cái điệu này chắc chị sui có ý thả câu thòng mở đường sẵn cho mình trổ mòi “dê” đây.
Nghĩ xong, anh sui tằng hắng một cái để lấy giọng, rồi nói:
- Tui biết ý chị muốn đố cái gì rùi. Nhưng trước khi trả lời câu đố của chị, tui đố lại một câu trước đã, chị chịu hôn?
- Cũng được, anh đố đại đi.
- Ừa hén, chị nghe đây. Đố chị cái gì bằng cườm tay, nằm ngay cái của chị.
Anh sui cũng vừa đố vừa ra điệu bộ như chị sui lúc nãy. Anh đưa cánh tay mặt lên rồi co lại hình thước thợ, dứ dứ về phía chị sui. Miệng thì cười cười ra vẻ đắc ý. Không ngờ nghe xong, chị sui nổi giận đùng đùng, mắng như tát nước vô mặt:
- Nè anh sui! Tui tưởng anh là người đứng đắn đàng hoàng tui mới đố giởn với anh cho vui. Dè đâu anh là người mất nết, ba trợn, anh lại ăn nói bậy bạ với tui như vậy. Anh có muốn ăn chổi chà lên đầu không?

Anh sui đang hí hửng trong bụng dè đâu bị bà sui trở mặt mắng nhiếc tàn tê như vậy, đưa tay bợ miệng không kịp, mặt mày xụi lơ, cố chống chế mà không biết nói năng ra sao. Đúng lúc ông Lý trưởng trong làng đi ngang qua nghe hai người đang lớn tiếng bèn ghe vô coi thử chuyện gì. Được dịp, bà sui nhờ ông Lý phân xử dùm ai phải, ai quấy. Hai người theo ông Lý trưởng về đình làng để xử kiện.
Khi yên vị, Lý trưởng kêu bà sui kể lại đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong, ông Lý cũng tức cười, bèn hỏi:
- Vậy chớ cái mà bà đố ông ấy là cái gì?
- Dạ thưa nó là cái lỗ tai trâu!
- À há! Phải! Bằng cái bàn tay, xung quanh có lông, chính giữa có lỗ. Đúng là cái lỗ tai trâu. Ông Lý gật gù thích chí, quay sang hỏi anh sui:
- Còn anh kia! Cái anh đố nó là cái gì?
- Dạ thưa ông Lý, cái tui đố là cái sừng trâu ạ.
- Phải! Phải! Bằng cái cườm tay, nằm ngay cái của chị! Đúng là cái sừng trâu rồi chứ là cái gì nữa mà chị lại đi thưa ảnh? Thôi, tui xử huề. Hai người làm hòa với nhau, về nhà đi. Lấy câu “dĩ hoà vi quí” cho nó vui vẻ , đừng để mất tình sui gia.
Chi sui có vẻ chưa bằng lòng, vùng vằng bỏ đi te te một nước. Anh sui lật đật chạy theo, vừa thở hổn hển vừa gọi với:
- Chị sui ơi! Chờ tui với! Cám ơn chị nghen! Cám ơn chị lắm lắm!
Chị sui quay lại sắc mặt hãy còn giận, nói lẫy:
- Anh ngon rùi mà! Còn bày đặt nói mỉa, cám ơn tui làm chi cho má nó khi.
- Không phải như vậy đâu chị sui ơi! Tui cám ơn thiệt lòng mà. Hồi nãy mà chị nói cái lỗ tai ngựa thì chết tiá tui rùi!!!

Đầu trâu mặt ngựa

Cái loài thú có cái đầu trâu mà cái mặt lại giống ngựa này chúng ta chỉ nghe nói trong chuyện Mục Kiền Liên đi tìm mẹ ở dưới chín tầng địa ngục Âm phủ. Đó là thứ ngạ quĩ, lính của Diêm Vương, chuyên canh gác hỏa ngục và tra tấn trừng phạt những kẻ làm ác, làm bậy hại người lương thiện, ăn hiền ở lành lúc còn sống ở trần gian.

Mặt mày lũ đầu trâu mặt ngựa đều lộ vẻ hung quang, tay cầm đủ thứ binh khí nào là chỉa ba, cào cỏ, gươm giáo…

Thực tế, từ xưa đến giờ, chưa có một ai thấy chúng.

Nhưng kể từ ngày “Bác Hồ” đem cái “bàng môn tả đạo” của mấy lão phù thủy bên Nga La Sát về thì cái đám âm binh đầu trâu mặt ngựa này “ăn theo” kéo về đông đảo. Nhờ môi trường “máu và đầu lâu” của mấy trăm ngàn người vô tội chết oan ức trong vụ “Bác” thi triển đạo bùa “Cải cách ruộng đất”, sái đậu thành binh, để cào bằng xã hội theo phép bá đạo của hai lão đạo sĩ Giáo Mác và Ăn Ghen mà chỉ trong có mấy chục năm đã sinh sôi nẫy nở lên đông đảo vô cùng. Thường thường, bọn âm binh đầu trâu mặt ngựa này sống lén lút trong bóng tối vì chúng rất sợ ánh sáng mặt trời. Nhưng dạo sau này, chúng ngang nhiên xuất hiện nghênh ngang khắp nơi, tha hồ tác yêu tác quái, nhũng nhiễu dân lành, coi phép nước như cái củ thìu biu của chúng. Đó là do chúng được nuôi dưỡng và đặc biệt o bế của cái Tổng cục 2 hay 3 gì đó, có quyền “tiền trảm hậu tấu” rất ghê gớm. Nhà nước cộng sản Việt Nam sở dĩ còn tồn tại đến ngày hôm nay đều do cái đám âm bình này phò (độ) và hộ (trì).
Đặc điểm của loài đầu trâu mặt ngựa này là cái đầu không có óc để suy nghĩ phân biệt đúng sai, tốt xấu. Chúng chỉ biết nhắm mắt, cúi đầu triệt để thi hành mệnh lệnh của chủ. Loài này còn có đặc điếm nữa là trước mặt chủ thì đi bốn chân. Khi ra ngoài thì đi bằng hai chân, mặt thì cứ nghếch lên trời.
Quí độc giả muốn biết rõ mặt mũi và hành động của đám âm binh đầu trâu mặt ngựa này ra sao cứ xem mấy đoạn phim quay cảnh Nhà nước cộng sản Việt Nam dàn binh bố trận đánh cướp đất đai của ấp Thái Hà và Tòa Khâm Sứ Hà Nội trong mấy tháng vừa qua, hoặc cảnh dàn chào thanh niên, học sinh, sinh viên đi biểu tình chống giặc Tàu ô cướp nước hay cảnh dân oan kéo nhau đi khiếu kiện đất đai, sẽ được mãn nhãn.

Sấm ký của Học Lạc

Chúng ta thường nghe nói tới Sấm Trạng Trình lưu truyền trong dân gian. Lời sấm tiên đoán nhiều biến cố lịch sử mà có khi cả chục năm, trăm năm sau người dân mới thấy ứng nghiệm.
Chẳng hạn như câu:

Bao giờ lúa mọc trên chì, voi đi trên giấy tây thì về tây.
Lúc đương thời không một ai có thể hiểu và lý giải được vì sao lúa lại có thể mọc được trên chì và voi đi trên giấy. Còn tây về tây là nghĩa gì. Câu sấm này ám chỉ việc gì? Thật là bí ẩn.
Sau khi nước ta bị thực dân Pháp đô hộ suốt gần 100 năm, nhiều phong trào yêu nước nổi lên khắp nơi để đánh đuổi giặc Pháp, trường kỳ kháng chiến, mãi cho đến năm 1945 (?) Ngân hàng Đông dương chung của ba nước Việt, Miên, Lào cho phát hành đồng bạc bằng chì, mẫu tròn, một mặt có in hình nổi bụi lúa và tờ giấy bạc mệnh giá một trăm đồng, trên in hình con voi thì Pháp thua trận Điện Biên phủ, buộc phải rút quân về nước.

Lúc đó người ta mới vỡ ra cái ý nghĩa của câu sấm Trạng Trình.

Nhắc qua câu sấm của Trạng Trình, người viết muốn giới thiệu với quí độc giả một người khác cũng có tài tiên tri mà lâu nay ít người lưu ý. Người này cũng có sấm ký lưu lại gần cả trăm năm, tiên đoán rằng nước ta sẽ dần dà suy thoái về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế nhất là về văn hóa bị biến thành một nền văn hóa nhai lại, giống như trâu, nhai 70 năm một chủ thuyết lỗi thời bị vất bỏ vào giỏ rác lịch sử, không biết mệt và chán, kéo lùi cả dân tộc trở về thời sơ khai.
Đó là Học Lạc. Học Lạc là ai vậy?

Học Lạc tên thật là Nguyễn văn Lạc (1842-1915) biệt hiệu là Sầm Giang, người làng Mỹ Chánh, thuộc tỉnh Mỹ Tho, nay là tỉnh Tiền Giang. Học Lạc tuy nhà nghèo, nhưng nhờ có trí thông minh nên được tuyển thẳng vào ngạch học sinh, ngạch do triều đình nhà Nguyễn đặt ra, được cấp lương và được học tại trường của quan đốc học địa phương. Do đó, người ta mới gọi là “học sinh Lạc”, dần dần bỏ mất chữ “sinh”, còn lại hai chữ “Học Lạc”. Học Lạc học giỏi nhưng thi mãi vẫn không đậu, sau đó triều đình Huế phải ký hòa ước 1862 nhường đứt ba tỉnh miền Đông cho Pháp, nên Học Lạc bỏ thi luôn, bỏ làng Mỹ Chánh, dời nhà về chợ Thuộc Nhiêu (Mỹ Tho) chọn nghề dạy học và bốc thuốc để sinh sống cho hết đời.

Ông thường làm thơ trào phúng, châm biếm như Chu Mạnh Trinh, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến..
Ví dụ như bài “Thằng Lạc”, khi bị các quan viên đình làng bắt phạt chỉ vì không có danh thiếp gắn trên các phẩm vật của mình mang tới cúng đình. Ai ai cũng có tấm danh thiếp đề tên như: Đại Hương Cả, Hương Trưởng, Hương Chủ, Hương Thân… còn trên mâm xôi của ông chỉ có mảnh giấy ghi hai chữ “Thằng Lạc”. Làng bắt vạ, phải làm bài thơ tạ lỗi, lấy ngay hai chữ “Thằng Lạc” làm đề tài. Ông ứng khẩu đọc ngay:

Vành mâm xôi tên đề Thằng Lạc
Nghĩ mình ti tiểu không đài các
Văn chương chẳng phải bọn mèo quào
Danh phận không ra cái cốc rác
Đã chẳng bơ phờ thẹn núi sông
Dám đâu vút vắt ngạo cô bác
Sự tình ai có thấu cùng chăng
Trong có ông Thần, ngoài cặp hạc.

Hội đồng Hương ai cũng chịu là bài thơ hay lại gieo vần trắc rất ác nên bằng lòng tha tội.
Hiện nay ở Sài Gòn vẫn còn có con đường mang tên ông: Học Lạc.
Trở lại với tài tiên tri của Học Lạc, người viết xin đan cử ba bài sấm ký sau đây để làm đề tài “Đố vui có thưởng” gửi đến quí vị ngẫm chơi trong ba ngày Tết tha phương, nhớ nhà buồn thúi cái “khúc ruột ngàn dặm”.

Bài 1.

Con Tôm
Chẳng phải vương công chẳng phải hầu
Học đòi đái kiếm lại mang râu
Khoe khoang mắt đỏ trong dòng bích
Chẳng biết mình va cứt lộn đầu…

Bài 2.

Chó chết trôi
Sống thời bắt thỏ, thỏ kêu rêu
Thác thả dòng sông xác nổi phều
Vằn vện sắc còn phơi lẩn dẩn
Thốt tha danh hỡi nổi lêu bêu
Tới lui bịn rin bầy tôm tép
Đưa đón lao xao, lũ quạ diều
Một trận sóng dồi cùng gió dập
Tan tành xương thịt biết bao nhiêu!

Bài 3.

Con trâu
Mài sừng cho lắm cũng là Trâu
Ngẫm lại mà coi thật lớn đầu
Trong bụng lam nham ba lá sách
Ngoài cằm lém đém một chòm râu
Mắc mưu đốt đít tơi bời chạy
Làm lễ bôi chuông nhớn nhác sầu
Nghé ngọ già đời quen nghé ngọ
Năm dây đàn gẩy biết chi đâu.

Câu đố là: Ba bài sấm ký trên nhà tiên tri Học Lạc đã tiên đoán về giai đoạn lịch sử nào? Ba con vật được nhân cách hóa ám chỉ ai?
Ai đoán và giải tương đối trúng nhất sẽ được thưởng một cái sừng tê giác “o ri gin” vừa mới đem từ Nam Phi về và sẽ do bà Vũ Mộc Anh Bí thư Thứ nhất của Tòa đại sứ Nam Phi trao tặng với sự chứng kiến của toàn bộ ban bệ Bắc Bộ phủ. Buổi lễ trao giải sẽ được tổ chức long trọng y như lễ trao huy hiệu “60 năm tuổi đảng” cho bà Nguyễn thị Bình vậy.

Tử vi Kỷ Sửu

Cuối cùng cuộc cà kê dê ngỗng về con trâu mà không có mục coi bói, xem tử vi tuổi Kỷ Sửu thì cũng kém phần vui nhộn. Người viết xin lượt chép lại vài hàng tử vi sưu tầm được cho những ai thuộc tuổi con trâu:

1.- Nam mạng:
Tuổi Kỷ Sửu thuộc mạng Hỏa. Tánh nóng nảy hay có những hờn dỗi vô lý làm cho cuộc sống thiếu cả tình cảm bạn bè. Lúc còn nhỏ không được may mắn lắm nhưng về sau có tương lai đẹp. Số có phú quí nhưng lại đau khổ về tình duyên, gia đạo.
Tình duyên:
Tuổi Kỷ Sửu có số đào hoa nhưng có nhiều lúc thăng trầm. Tình duyên long đong ở tuổi 21, 22, 23. Nếu ai sanh trong những tháng 2, 3 và 9 Âm lịch sẽ có đến đời vợ thứ ba mới có hạnh phúc.
Gia đạo và công danh:
Công danh và cơ hội phát triển lên cao vào những năm 20 đến 25 tuổi. Hy vọng sẽ hoàn toàn thành công ở tuổi 27. 28. Về gia đạo, số phải sống cô độc nhiều hơn là sống êm ấm trong gia đình.
Sự nghiệp tiền tài.
Tuổi Kỷ Sửu hoàn thành sự nghiệp vào tuổi 29, 30 nhưng qua 31 và 33 lại bị đổ võ hoàn toàn vì quá tin bạn nhất là thất bại vì đàn bà.
Những tuổi hạp cho làm ăn: Canh Dần. Quý Tỵ,Giáp Ngọ, Bính Thân, Mậu Tý, Đinh Hợi giúp bạn thành công hơn.
Những tuổi đại kỵ: Tân Mão, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Quý Mão, Bính Tuất, Ất Dậu.

2.- Nữ mạng:
Cuộc đời: Cuộc đời nhiều cay đắng lúc nhỏ nhưng cuộc sống có nhiều triễn vọng tốt đẹp ở hậu vận. Cuộc sống lên cao bắt đầu từ 24 trở đi.
Tình duyên: Tuổi Kỷ Sử tình duyên đối với nữ mạng là vấn đề nan giải, gặp rất nhiều trở lực trong cuộc đời. Những ai sinh trong tháng 3,6,8 và 10 Âm lịch phải ba lần thay đổi mới có hạnh phúc. Sanh vào những tháng 2,4,7,9 và 11 Âm lịch thay đổi 2 lần. Nếu may mắn sanh trong tháng 1, 5 và 12 Âm lịch thì cuộc đời hoàn toàn hạnh phúc.
Gia đạo công danh:Gia đạo được đầy đủ và nhiều thương yêu. Công danh có nhiều tốt đẹp trong tương lai. Rất hạp với sự buôn bán./.


Nguyễn Thanh Ty

Trích Người Việt Boston


Saturday, January 31, 2009

Những hình ảnh cuộc diễn hành Xuân Kỷ Sửu Của Cộng đồng Việt Nam Nam California




























































































































































Trong những hình ảnh này, có hình của dân biểu Liên bang Joseph Cao cùng tham dự với đoàn diễn hành



















Ra về mà lòng còn ở lại

Tối nay nhậu về mà chẳng say
Vợ hỏi có điều chi khác thường ?
Có gì đâu đời như toán học
Âm cộng với âm bất thành dương

!Một lẽ say là say tình bạn
Gặp đầu năm, tay bắt mặt mừng
Ôn lại chuyện xưa thời đi học
Tuổi ngũ tuần - xuân vẫn còn xuân

Nửa vòng trái đất có Hương heo
Điện về chúc Tết gặp từng người
Cám ơn chân tình người xa xứ
Vẫn góp tình tạo dịp bạn bè vui

!Uống bia bạn mời năm nay dư
Không biết bao nhiêu mà say lâu
Điểm danh lại thấy sao còn thiếu
Có năm nào bạn đến đủ đâu !!

Thôi kệ còn bia ta cứ say
Chúc bạn thơ càng làm càng hay
Chúc con cái ta luôn thành đạt
Phúc nhà cháu nội ngoại bồng ngay !

Ta nhớ đến ta một tấm lòng
Mà sao có người đến, người không ?
Ta ra về lòng ta ở lại
Mong sao năm tới bạn đến đông

!Mồng bốn Tết Kỷ Sửu 2009
Họp mặt lớp tại nhà Mèo

HẢI LÊ

Tín hiệu tốt

Tờ báo Xuân Kỷ Sửu đã có bài báo nói về cuộc xuống đường của thanh niên, sinh viên Việt Nam chống Trung Quốc. Đây là tín hiệu tốt mà chúng ta cần phải trân trọng. Ngoài ra tờ báo này còn đăng bài thơ Hận Nam Quan của nhà thơ Hoàng Cầm. Nhà báo Ngô Nhân Dụng có bài Hận Nam Quan nói về vấn đề này.

Diễn hành Tết Kỷ Sửu năm 2009 tại Little Saigon với sự tham dự của Dân biểu Liên bang Joseph Cao

Vào ngày thứ bảy 01/31/09 tại Little Saigon, dân biểu Liên bang Joseph Cao sẽ dẫn đầu cuộc diễn hành đầu năm. Đây là lần đầu tiên một dân biểu liên bang gốc Việt tham dự cuộc diễn hành Tết của cộng đồng Việt Nam

Wednesday, January 28, 2009

Chuyến đò định mệnh ngày cuối năm

Con thuyền chở gần 80 người đi sắm Tết đã chìm xuống dòng sông Gianh vào ngày 30 Tết, khiến hơn 40 người bị chết và mất tích.

Người dân đến bờ sông, mong tìm thấy xác người thân. Ảnh: Xuân Hưng

Tại bến sông xã Quảng Hải (Quảng Trạch, Quảng Bình), gần 7h ngày 25/1 (30 Tết) hàng trăm người già, trẻ, gái, trai háo hức, chen chúc để được lên thuyền qua sông đi chợ Tết (chợ Điền bên kia sông thuộc xã Quảng Thanh). Và gần 80 người đã lên con thuyền "định mệnh" của anh Nguyễn Tứ Quý.

Một khách đi trên thuyền cho biết, thuyền của anh Quý chở khoảng 80 người, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em. Khi cách bờ khoảng 20 m, nhiều người chen chúc nhau để được lên trước nên đứng trước mũi, cộng với sóng, to gió lớn, nước tràn vào mũi thuyền. Con thuyền bị tắt máy và chìm dần xuống dòng nước.

Sau khi thuyền chìm, hàng chục người may mắn chống chọi được với dòng nước chảy xiết, cùng với sự ứng cứu kịp thời của các thuyền gần đó nên đã thoát nạn. Anh Mai Thanh Phong (19 tuổi) kể lại: “Nghe bà con hô hoán, tôi và hai người bạn lao thẳng thuyền của mình về hướng chiếc thuyền bị đắm và nhào sông xuống cứu sống hàng chục người".

Nhận được tin dữ, hàng nghìn người đổ ra hai bên bờ sông than khóc. Họ hướng về những con thuyền sắp cập bến đi từ chợ Điền, hy vọng trong số hành khách kia có người thân của họ sống sót trở về. Nhưng tất cả đều vô vọng.

Anh Hoàng Văn Đồng (25 tuổi, huyện Bố Trạch) khi nghe tin bạn gái bị chết đuối đã có mặt tại hiện trường. Anh thổ lộ: “Cô ấy cùng với chị, mẹ và cháu đi chợ. Mấy người kia được cứu sống… còn người yêu em thì đến nay vẫn chưa tìm được xác”.

Còn ông Cao Ngọc Xinh (65 tuổi) vật vã bên người vợ đã trên 40 gắn bó cùng nhau. Ông nói trong nước mắt: “Sáng nay, trước khi đi chợ bà còn dặn tôi ở nhà chuẩn bị bàn thờ để mua đồ về thắp hương cho ông bà, thế là giờ phải thắp hương cho bà, bà ơi”.

Thương tâm nhất là gia đình bà Cao Thị Hoạt (80 tuổi) có tới 4 người tử nạn. Ngoài bà Hoạt còn có hai con gái và một đứa cháu.

Ông Ngô Xuân Cư (Bí thư Huyện ủy Quảng Trạch) cho biết: "Sau khi nhận được thông tin, chúng tôi ngay huy động mọi lực lượng đến tại hiện trường, cùng với người dân địa phương phối hợp để cứu vớt những người không may mắn".

Theo thượng tá Trịnh Trung Hợi (Huyện đội Quảng Trạch), trên 30 cán bộ, chiến sĩ, cùng với gần 30 người của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Bình đi tìm kiếm, cứu vớt và giúp đỡ mai táng cùng với bà con.

UBND xã Quảng Hải cho biết, sau một ngày tìm kiếm đã xác định được 42 người chết và mất tích. Hiện đã vớt xác được của 40 người.

Không khí tang tóc bao trùm xã Quảng Hải. Khắp nơi trên các đường làng ngõ xóm, các đám tang hàng nối hàng, người này đến người khác. Do số lượng người chết quá đông, chính quyền địa phương phối hợp với các lực lượng, chủ yếu là lực lượng bộ đội đến giúp đỡ bà con khâm liệm, đưa tang.

Lau mồ hôi chảy dài trên má, một quân nhân thổ lộ: “Tận mắt chứng kiến những hoàn cảnh quá thương tâm khiến sự mệt nhọc của bọn em tan biến, phải giúp đỡ bà con thôi… chứ không thì tội nghiệp lắm”.

Xuân Hưng

Trích từ VnExpress

Xuân này mẹ ngồi mong con

Ở Việt Nam, nhất là ở miền Bắc cuộc sống củ người dân vẫn còn rất nhiều vất vả. Đa số gia đình nào cũng phải để những đứa con đã lớn vào Sài Gòn kiếm sống hầu kiếm tiền gởi về phụ giúp gia đình. Có những người mẹ ngày tết trông mong con mình trở về ăn Tết, để sum họp gia đình trong những ngày xuân, nhưng chỉ` là những chờ đợi mỏi mòn. Đọc bài báo Xuân này mẹ ngồi mong con, ta không khỏi mủi lòng rơi lệ cho hoàn cảnh thương tâm của những người mẹ trông ngóng chờ con, nhưng đứa con vẫn biền biệt mấy năm không về ăn Tết.

Cảm đề xuân

Thương tặng Mạ


Xuân năm nay con nghĩ nhiều về mạ
Càng nghĩ nhiều con lại càng thương
Đời của mạ vất vả sau ngày quê hương mất vào tay giặc
Ba bị vào tù nơi núi thẳm rừng sâu

Mẹ con ta chúng đâu để yên nơi thành phố
Chúng đày vào nơi rừng núi âm u
Ban đêm nghe tiếng chim kêu, vượn hú
Gió thẳm mưa ngàn bao vất vả điêu linh.

Bàn tay mạ phải chặt từng bụi cây, đám cỏ
Tuổi xuân thì trông mạ đã héo hon
Còn đâu nữa những tháng ngày xưa cũ
Chỉ còn đây những cay đắng trầm luân

Bao nhiêu năm rồi gia đình rời xa quê hương đất nước
Mạ quyết không về khi kẻ thù vẫn còn ngự trị ở quê hương
Mạ ơi mạ! con thương mạ không kể xiết
Khi mạ không về dù mạ vẫn còn rất nhớ quê hương.

PHP
01/28/09

Tuesday, January 27, 2009

Cộng Sản sẽ chết như thế nào trong năm 2009?

Trong năm 2009, tình hình kinh tế của thế giới vẫn còn nhiều khó khăn. Điều này dĩ nhiên sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinh tế của Việt Nam Cộng Sản. Bài viết Cộng Sản sẽ chết như thế nào trong năm 2009 của tác giả Xuân Khuê đã tổng hợp báo chí, đài phát thanh trên thế giới, ngay cả truyền thông báo chí trong nước của Cộng Sản Việt Nam để cho chúng ta thấy được sự tụt dốc thê thảm của nền kinh tế của Cộng Sản Việt Nam.

Đại sứ Việt Cộng

Mới đây, đài BBC có phỏng vấn tên Lê Công Phụng là đại sứ Cộng Sản Việt Nam ở Washington DC. Hắn ta đã dùng lời chỉ trích dân biểu liên bang gốc Việt Joseph Cao. Hắn đâu có biết đây là niềm tự hào của người Việt hải ngoại không Cộng Sản. Đọc bài viết Đại sứ Việt Cộng chỉ trích dân biểu Mỹ gốc Việt của Nguyễn Đạt Thịnh dể thấy rõ hơn bộ mặt ngu xuẩn của tên đại sứ đốn mạt va đần độn này.

Ta chỉ mong

Có bao giò ta ngồi nhìn lại
Những dấu chân xưa ta đã bước qua
Những con đường xưa đã một thời kỷ niệm
Những người bạn xưa và cả những người tình

Có bao giờ ta nhớ lại quê hương
Là nơi ta đãcất tiếng khóc chào đời
Là nơi ta đã trưởng thành khôn lớn
Là nơi ta đã gánh chịu những đau thương

Kể từ khi quỷ dữ biến thành người
Cũng là khi đất trời đảo điên, điên đảo
Cũng là khi nhân dân gánh quá nhiều tai họa
Cũng là khi đất nước hết mùa xuân.

Ta chỉ mong một ngày mai tươi sáng
Là ngày đất nước rực sáng mùa xuân
Để bé thơ thôi không còn tức tưởi
Để mọi người luôn nở nụ cười tươi.

PHP
1/26/2009
·

Monday, January 26, 2009

Mùa xuân Hân

mày gởi email tao nói đi thăm hết phố
thăm giùm đi thằng bạn nhỏ hồi xưa
tao nhớ lắm con đường thừa bóng mát
tuổi nhỏ bọn mình lâu vẫn nín thinh

trong trí nhớ con đường nhìn quá khứ
mày sẽ gởi tao đầy ứ nự đổi thay
chỉ có bạn bè là không thay đổi
từ thuở lớp sáu ngồi cho đến lúc nổi trôi

sáng đầu năm nhận vài lời thăm hỏi
tao vui như hồi phá phách tuổi thơ
cứ thế trừ đi năm nay một tuổi
như lì xì tao to tát ơn đời

ê bạn cũ, gọi quen rồi hân ngọng
mấy mươi năm bè bạn vẫn lòng vòng
rớt chụp lại như từ sông ra biển
từ biển lại về mưa rớt xuống sông

tao viết gởi mày ở đà nẵng ngóng
như tao, bọn tao lòng vẫn không xa
phan chu trinh mỗi ngày là hạnh phúc
như tao vẫn tin từ lạc quê nhà./.

nna
26 tháng 1, 2009

Cám ơn Hân

Cám ơn mày đã đi thăm hộ tao
Kiệt Tám Hoàng Diệu là nơi tuổi thơ tao sinh sống
Chùa Tịnh Xá Ngọc Cơ vẫn còn nguyên vẹn
Góc ngã tư vẫn còn cây mận yêu thương

Đường Bạch Đằng với nhiều ghế đá
Tha hồ ngồi khi tao về thăm lại quê hương
Vẫn còn đó những con đường xưa cũ
Của tuổi học trò chợt bừng sống lại trong tao.

Và còn đó biết bao nhiêu kỷ niệm
Của những yêu thương, của những buổi hẹn hò
Đà Nẵng của tao giờ đã xa tầm tay với
Mỗi mùa xuân về lại nhớ nhớ thương thương

PHP
01/26/09

Gần giao thừa

mày dzô tủ lạnh lấy luôn
bia gì cũng được cụng buồn sẽ trôi
từ trên xuống dưới xong rồi
đón con Trâu tới giữa đời rong chơi
tao cũng chạy kiếm bia rồi
dzô dzô xỉn đợi Giao Thừa về vui ./.

nna
25 tháng 1, 2009

Chúc bạn đầu xuân

Tặng Mùi.



Bạn học nơi đây chỉ có mày
Đầu năm tao biết chúc gì đây?
Ly rượu trên tay vừa uống cạn
Thay lời chúc Phúc, Lôc, An Khang

Quên đi những lo toan, phiền não
Những trái ngang, ngang trái đời thường
Tình bạn vẫn luôn luôn bền vững
Dù thời gian thay đổi, đổi thay.

PHP
Đêm Giao Thừa 01/25/09

Sunday, January 25, 2009

Vùng trời kỷ niệm

Nhớ những tàng cây thơ mộng dọc bến sông Hàn
Những ghế đá thân thương mang bao nhiêu kỷ niệm
Đà Nẵng đó giờ đã xa lơ xa lắc
Bao nhiêu xuân về lòng thương nhớ khôn nguôi

Đường Độc`Lập xưa giờ đã thay tên đổi họ
Nào Paster, Lê Lợi nay còn đâu
Hoàng Diệu, Phan Chu Trinh là vùng trời thương nhớ
ÔI Đà Nẵng buồn ta thương nhớ suốt ngày dêm

Bao nhiêu năm xa quê là bấy nhiêu năm buồn áo nảo
Mỗi độ xuân về lòng chạnh nhớ khôn nguôi
Kiệt tám của ta giớ đâu còn nữa
Chỉ còn trong ta lòng thương tiếc ngậm ngùi...

PHP
Mùa xuân Kỷ Sửu

Mùa xuân và tình yêu

Đất trời vùng rung chuyển
Đón nắng vàng dịu êm
Gió nhẹ nhàng lưu luyến
Mùa xuân về bên em.

Qua rồi hạ nắng gắt
Đốt cháy rụi vườn hồn
Khô cằn từng giọt thở
Nứt nẻ gót chân son.

Qua rồi thu tàn úa
Tâm hoang vắng thê lương
Vàng vọt từng ý niệm
Chết lịm ngọn tơ vương.

Qua rồi đông băng giá
Rét buốt mạch tâm can
Hồn run theo mưa lạnh
Sụt sùi tiếng than van

Ôi đã bao ngày tháng
Trôi dạt giữa dòng đời
Bới tìm trong vô vọng
Hạnh phúc hồ ma trơi.

Mãi vật vờ trôi nổi
Lúc sống vội điên cuồng
Khi hững hờ hoang lạnh
Mặc bóng chiều dần buông.

Chân lý nào toả sáng
Xua đuổi bóng đêm đen?
Trầm hùng chuông tỉnh thức,
Nhẹ nhàng mõ ru êm!

Học niệm từng hơi thở,
Học sống bởi muôn loài,
Học yêu trùm vũ trụ,
Pháp Phật - Ánh sáng soi!

"Chúng sanh xin nguyện độ!
Não phiền xin nguyện đoạn!
Pháp Phật xin nguyện học!
Quả Phật xin nguyện thành!"

Đất trời vùng rung chuyển
Đón nắng vàng dịu êm
Gió nhẹ nhàng lưu luyến
Mùa xuân về trong em.

Quang Viên - Julie Phan
California, December 31, 2008

Saturday, January 24, 2009

SOS


Đất nước Việt Nam của chúng ta ông cha đã tốn biết bao mồ hôi và xương máu để tạo dựng và bồi đắp. Vậy mà giờ đây Cộng Sản Việt Nam đã run sợ trước cường quyền phương Bắc. Bài viết Biển VN sắp mất làm cho chúng ta đau lòng không ít.
Publié le 23/01/2009
Par thanhuu

BIỂN VIỆT NAM SẮP… MẤT


Ngày 11 Tháng 5 Năm 2009 là thời hạn cuối cùng mà các Nước phải nộp bản đồ về lãnh hải của các Nuớc cho Uûy Ban Ðịnh Ranh Thềm Lục Ðịa của Liên Hiệp Quốc. Một nguồn tin cho biết, các Nước trên thế giới có liên quan đến biển đều đã hoàn tất các thủ tục, ngay tại các quốc gia vùng Ðông Nam Á như Phi Luật Tân, Mã Lai, Indonesia, Ðài Loan, Trung Cộng…v..v.. cũng đều nộp bản đồ về biển của quốc gia họ, nhưng riêng nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thì cho đến nay vẩn chưa thấy đệ nạp. Thông báo của Liên Hiệp Quốc đã có hơn 10 năm nay và thời hạn cuối cùng là ngày 11 tháng 5 năm 2009 là thời hạn chót.
Nếu đến thời hạn chót mà Việt Cộng vẩn không đệ nạp thì Biển Việt Nam xem như bị mất hàng triệu m2 một cách cố ý và có hệ thống. Nên nhớ rằng biển bao gồm các hải đảo, tài nguyên thiên nhiên kể cả việc sinh sống đánh cá của hàng triệu ngư dân Nước Việt. Trong khi đó Trung Cộng đã không che dấu được ý đồ dùng sức mạnh xâm chiếm biển đông, bành trướng lãnh thổ, lãnh hải, đồng hóa các Nước nhược tiểu và làm bá chủ Ðông nam á. Bất chấp các hòa ước, định ước quốc tế mà chính Trung Cộng đã ký kết kể cả Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển đã ký với 118 quốc gia hội viên Liên hiệp quốc vào năm 1982.
Việt Nam là một Nước đang bị Trung Cộng khống chế, xâm lấn một cách ngang ngược và thô bạo với sự đồng lỏa cũa Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Từ bức công hàm của Phạm Văn Ðồng ký ngày 4/8/1958, Trung Cộng đã đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, đánh chiếm Trường Sa năm 1988, đến hiệp định biên giới Việt Trung ký ngày 30/12/1999 đến hiệp định lãnh hải Việt Trung ký ngày 25/12/2000 …v..v… tất cả đều ký kết một cách bí mật mà ngay cả Quốc hội bù nhìn Việt Cộng cũng không được nghe , biết và quyết định. Từ đó Việt Nam đã mất đi ải nam quan, thác bản giốc, các địa danh và hàng ngàn cây số dọc theo biên giới. Riêng về lãnh hải Trung Cộng lại đưa ra thuyết Biển Lịch Sử hay lưỡi rồng từ thời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Ðế, Minh Thành Tổ để nuốt trọn biển Việt Nam một cách trắng trợn.
Thời hạn đệ nạp Bản đồ về biển đã gần kề. Cộng Sản Việt Nam kẻ đang quàng ách thống trị bạo tàn trên đất nước và dân tộc Việt Nam phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước lịch sử. Nếu khiếp nhược yếu hèn không dám dùng xương máu để chống lại bọn bành trướng xâm lược Bắc Kinh thì cũng phải thực hiện những nguyên tắc mà Công ước quốc tế đã quy định cho mổi quốc gia có chủ thể quyền lợi và tố quyền nhằm bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải một cách toàn vẹn.

VNCH Foundation


Aucun commentaire

Xuân của tình thương


Chuột vừa đi chàng trâu lại đến
Bản chất vốn chân chất hiền lành
Củ mỉ cù mì siêng năng cần mẫn
Lúa tốt đầy đồng cũng nhờ công trâu

Chú mục đồng ngồi trên lưng trâu
Hình ảnh của nông thôn hiền hòa, bình dị
Xuân Kỷ Sửu cầu mong quê hương đất nước
Không còn cảnh khiếu kiện của dân oan

Cầu mong mọi điều tốt đẹp an lành
Quốc thái dân an, nhà nhà thịnh vượng
Gia đình cùng thương yêu nhau đầm ấm

Xuân thanh bình xuân của tình thương.

PHP
01/23/09

Thursday, January 22, 2009

Đài truyền hình Cộng Sản tại Hoa Kỳ

Vào tháng 2 năm 2009, tất cả các đài truyền hình của Mỹ đều chuyền sang hệ thống digital, không còn ở hệ thống analog (sử dụng antenna) nữa..Hiện nay tại Orange County có 4 đài truyền hình Việt Ngữ phát hình 24/24. Đài truyền hình VTV4 của Cộng Sản Việt Nam cũng nhân cơ hội này muốn nhảy vào phát sóng tại Hoa Kỳ, đặc biệt tại Quận Cam, nơi có đông người Việt sinh sống nhất tại hải ngoại. Đọc bài viết Đài Ti Vi Việt Cộng ... qua Mỹ để thấy rõ âm mưu của Cộng Sản Việt Nam trên mặt trận đậc biệt này.

Wednesday, January 21, 2009

Diễn văn nhậm chức của Tổng Thống Barack Obama - Trần Trung Đạo dịch

By anlac • Jan 21st, 2009 • Category: Đường Vào Bạch Ốc

Kính thưa toàn thể nhân dân Hoa Kỳ

Tôi đứng đây bằng sự khiêm cung trước trách nhiệm đang chờ phía trước chúng ta, lòng biết ơn vì sự tin tưởng của nhân dân Hoa Kỳ đã dành cho tôi, nghĩ đến những hy sinh mà các bậc tiền nhân của chúng ta đã chịu đựng. Tôi cám ơn Tổng Thống Bush về sự phục vụ của ông đối với quốc gia chúng ta, cũng như sự rộng lượng và hợp tác mà ông đã chứng tỏ trong suốt thời gian chuyển tiếp.

Đến nay, bốn mươi bốn người Mỹ đã tuyên thệ nhậm chức tổng thống. Nhiều lời tuyên thệ đã được đọc khi những đợt sóng phồn vinh dâng cao và giòng nước lặng của hòa bình. Tuy nhiên, cũng nhiều khi lời tuyên thệ được đọc khi những áng mây u ám đang tụ tập và những cơn giông bão hoành hành. Trong những lúc như thế, nước Mỹ đã tiếp tục cuộc hành trình không phải đơn giản bằng khả năng hay tầm nhìn của những người lãnh đạo cấp cao, nhưng bởi vì Chúng Ta, Nhân Dân Hoa Kỳ, đã giữ được lòng trung thành vào lý tưởng của các bậc tiền nhân, và chân thật đối với văn kiện hình thành nên quốc gia này.

Điều đó đã từng xảy ra trong quá khứ. Điều đó lại phải diễn ra với thế hệ người Mỹ hôm nay.

Chúng ta đang sống giữa cuộc khủng hoảng mà ai cũng hiểu quá rõ ràng. Đất nước chúng ta đang trong thời chiến tranh, chống lại một hệ thống rộng lớn của bạo động và thù ghét. Nền kinh tế của chúng ta bị yếu kém một cách trầm trọng, một hậu quả của lòng tham và sự vô trách nhiệm của một số người, tuy nhiên đó cũng còn là một sự thất bại có tính tập thể của chúng ta để thực hiện các quyết định khó khăn và chuẩn bị quốc gia bước vào kỷ nguyên mới. Nhà cửa bị tịch thu, nhiều công việc làm bị cắt giảm, các cơ sở thương mại bị đóng cửa. Chương trình chăm sóc sức khỏe của chúng ta quá tốn kém, nhiều trường học đã làm quá nhiều người thất bại, và mỗi ngày thêm nhiều bằng chứng rằng cách chúng ta đang xử dụng năng lượng chỉ làm mạnh thêm đối thủ của chúng ta và đe dọa hành tinh chúng ta đang sống.

Đây là những dấu chỉ của khủng hoảng, xác định bằng các số liệu và thống kê. Ít đo lường được nhưng không kém phần sâu sắc là việc mất niềm tin ở khắp nơi trên nước Mỹ, một nỗi lo sợ thường xuyên rằng sự suy thoái của nước Mỹ là điều không thể tránh khỏi, và rằng thế hệ tới đây phải hạ thấp tầm nhìn.

Hôm nay, tôi muốn thưa cùng quý vị rằng những thách thức của chúng ta là thật. Những thách thức đó rất là nghiêm trọng và rất nhiều. Những thách thức đó không dễ dàng đối phó hay có thể giải quyết xong trong một thời gian ngắn. Nhưng xin biết rằng, chúng sẽ được giải quyết.

Hôm nay, chúng ta tập trung về đây bởi vì chúng ta đã chọn lựa hy vọng thay vì sợ hãi, đoàn kết mục đích thay vì xung đột và bất hòa.

Vào hôm nay, chúng ta tuyên bố một sự chấm dứt đối với những sự phàn nàn nhỏ nhẹt, những hứa hẹn hảo huyền, những lời buộc tội, và những chủ thuyết lỗi thời, đã quá lâu đè nghẹt sinh hoạt chính trị của chúng ta.

Chúng ta vẫn là một quốc gia trẻ, nhưng theo lời của Kinh Thánh, thời điểm đã đến để đặt qua bên những trò ấu trỉ. Thời điểm đã đến để khẳng định lần nữa tinh thần kiên trì, để chọn một lịch sử tốt đẹp hơn, để mang món quà quý giá của tiền nhân sang một giai đoạn khác, lý tưởng cao cả đó, được truyền đi từ thế này sang thế hệ khác: Lời hứa Thượng Đế ban cho chúng ta rằng tất cả con người đều bình đẳng, tất cả con người đều tự do và tất cả con người xứng đáng một cơ hội để mưu cầu hạnh phúc toàn vẹn.

Trong khi xác quyết sự vĩ đại của đất nước chúng ta, chúng ta hiểu rằng sự vĩ đại mà chúng ta có được không bao giờ tự nhiên mà đến. Vĩ đại phải đạt được bằng nỗ lực. Cuộc viễn hành của chúng ta chưa bao giờ là một con đường tắt hay dễ dàng chấp nhận một thành quả không xứng đáng. Không có con đường dành cho những kẻ nhút nhát, cho những người thích hưởng nhàn hơn làm làm việc, hay chỉ biết mưu cầu lạc thú của giàu sang và danh vọng. Nhưng thay vào đó, là con đường dành cho những ai biết chấp nhận rủi ro, những người hành động, những người làm ra của cải vật chất, một số được nỗi tiếng nhưng đông hơn vẫn là những đàn ông, những phụ nữ lao động trong âm thầm, họ là những người đã đưa chúng ta băng qua con đường dài, gập ghềnh hướng đến thịnh vượng và tự do.

Vì chúng ta, họ đã gói ghém một ít tài sản của cả đời và vượt qua các đại dương để tìm kiếm một cuộc sống mới.

Vì chúng ta, họ đã chịu đựng hành hạ trong các cơ xưởng và định cư miền Tây; chịu đựng đòn roi và cày bừa trên những thửa đất cằn khô.

Vì chúng ta, họ đã chiến đấu và hy sinh trong những nơi như Concord và Gettysburd, Normandy và Khe Sanh.

Bao nhiêu lần như thế, những đàn ông và phụ nữ nầy đã tranh đấu, hy sinh và lao động cho đến khi đôi tay họ rướm máu để chúng ta có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Họ đã thấy nước Mỹ lớn hơn tổng cộng của tất cả tham vọng cá nhân, lớn hơn tất cả những dị biệt về nguồn gốc sinh thành, của cải hay thành phần.

Đây là cuộc viễn hành mà chúng ta tiếp tục hôm nay. Chúng ta vẫn còn là quốc gia giàu có nhất, mạnh mẻ nhất trên Trái Đất. Năng suất của công nhân chúng ta không kém hơn khi cuộc khủng hoảng bắt đầu. Trí óc của chúng ta không phải ít sáng tạo, hàng hóa và dịch vụ của chúng ta không phải ít được cần hơn mức độ chúng được cần vào tuần trước, tháng trước hay năm ngoái. Năng lực của chúng ta không suy giảm. Nhưng thời gian của thái độ từ chối để đổi thay, chỉ biết bảo vệ những lợi ích hẹp hòi, và trì hoản những quyết định khó khăn, chắc chắn đã trôi qua. Bắt đầu từ hôm nay, chúng ta phải tự dựng chính chúng ta đứng dậy, phủi lớp bụi trên người, và bắt đầu lần nữa nỗ lực tái xây dựng nước Mỹ.

Nhìn đâu chúng ta cũng thấy có việc phải làm. Tình trạng kinh tế đòi hỏi hành động, cương quyết và nhanh chóng, và chúng ta phải ra tay ngay, không chỉ để tạo công ăn việc làm, nhưng còn để thiết lập một nền tảng mới cho phát triển. Chúng ta phải xây dựng đường sá và cầu cống, các mạng lưới điện, các đường dây dữ liệu số cung cấp cho thương mại cũng như nối kết chúng ta. Chúng ta sẽ đặt khoa học trở lại đúng vị trí, và vận dụng những kỳ diệu kỹ thuật để nâng cao phẩm chất của việc chăm sóc sức khỏe và hạ thấp chi phí của công việc này. Chúng ta sẽ khai thác năng lượng từ mặt trời, gió và đất để làm nhiên liệu cho xe cộ và nhà máy. Chúng ta sẽ chuyển hóa hệ thống trường học từ các cấp từ thấp đến cao để thỏa mãn các nhu cầu của một kỷ nguyên mới. Tất cả điều này chúng ta có thể làm và sẽ làm.

Bây giờ, có những người đặt câu hỏi vào tầm vóc của tham vọng chúng ta muốn theo đuổi, những người đề nghị rằng hệ thống của chúng ta không kham nỗi quá nhiều kế hoạch đồ sộ như vậy. Trí nhớ của họ quả thật là kém. Vì họ đã quên những gì quốc gia này đã hoàn thành, những gì con người, nam và nữ tự do, có thể đạt được khi sức tưởng tượng được đan kết với mục đích chung, và sự cần thiết của lòng can đảm.

Những gì mà những kẻ hoài nghì không thể nghĩ ra được là rằng mặt đất đã di chuyển phía dưới họ, rằng những tranh cải chính trị lỗi thời làm tiêu cạn năng lực chúng ta trong một thời gian dài đã không còn được áp dụng nữa. Câu hỏi mà chúng ta hỏi hôm nay không phải là chính phủ của chúng ta quá lớn hay quá nhỏ, nhưng là chính phủ có hoạt động hiệu quả hay không, liệu chính phủ có giúp cho các gia đình tìm việc với một đồng lương xứng đáng, những dịch vụ chăm sóc mà họ có thể trang trải được, những ngày hưu trí đàng hoàng tử tế dành cho họ. Nơi nào câu trả lời là có, chúng ta có ý định sẽ tiến tới. Nơi nào câu trả lời là không, chương trình sẽ phải ngưng lại. Những ai trong số chúng ta điều hành các ngân quỹ công cộng sẽ phải chịu trách nhiệm để xử dụng một cách khôn ngoan, thay đổi các thói xấu, và điều hành công việc một cách trong sáng, bởi vì chỉ khi đó chúng ta mới có thể tái lập niềm tin sống còn giữa nhân dân và chính phủ của họ.

Cũng không phải câu hỏi đặt trước chúng ta liệu thị trường là một lực lượng tốt hay xấu. Sức mạnh của nó để tạo ra sự thịnh vượng và mở rộng tự do thật là vô địch, nhưng cuộc khủng hoảng này đã nhắc nhở chúng ta rằng nếu không có cặp mắt quan sát, thị trường có thể vụt ra khỏi sự kiểm soát, và rằng một quốc gia không thể thăng tiến lâu dài khi thị trường chỉ tạo thuận lợi cho những người giàu có. Sự thành công của nền kinh tế chúng ta tùy thuộc không chỉ vào kích thước của Tổng Sản Lượng Nội Địa, nhưng vào khả năng để đạt được sự thịnh vượng, vào khả năng để mở rộng cơ hội cho những trái tim đang ao ước, không phải phát xuất từ từ thiện, nhưng bởi vì đó là con đường chắc chắn nhất để đạt đến mụch đích chung.

Đối với mụch đích quốc phòng chung của chúng ta, chúng ta từ chối được xem như là một sai lầm khi chọn lựa giữa sự an toàn và lý tưởng của chúng ta. Những Người Cha Lập Quốc cũng đã đối phó với những hiểm nguy mà chúng ta hiếm khi tưởng tượng nỗi, đã soạn ra một văn bản để bảo đảm các nguyên tắc luật pháp và quyền của con người, một văn bản đã được viết thêm bằng máu của nhiều thế hệ. Những lý tưởng đó vẫn còn thắp sáng thế giới, và chúng ta sẽ không từ bỏ các lý tưởng đó chỉ vì các lợi ích có tính cách nhất thời. Và đối với nhân dân và chính phủ khác đang theo dõi buổi lễ nhậm chức hôm nay, từ các thủ đô uy nghi đến cả một thôn làng nhỏ bé, nơi cha tôi đã sinh ra: xin hãy biết rằng, nước Mỹ là một người bạn của mọi quốc gia, của mọi đàn ông, đàn bà, và em bé đang tìm kiếm một tương lai hòa bình và tử tế, và rằng chúng ta sẳn sàng để lãnh đạo một lần nữa.

Hãy nhắc lại rằng những thế hệ trước đây đã đánh bại chủ nghĩa Phát-xít và chủ nghĩa Cộng Sản không chỉ bằng hỏa tiển hay xe tăng, nhưng bằng sự liên minh kiên quyết và niềm tin bền bĩ. Họ hiểu rõ rằng chỉ bằng sức mạnh thôi sẽ không bảo vệ được chúng ta, mà cũng không ai ban cho chúng ta cái quyền làm những điều chúng ta muốn. Thay vì, họ biết rằng khả năng chúng ta được phát huy xuyên qua sự xử dụng sức mạnh một cách thận trọng, nền an ninh của chúng ta bắt nguồn từ các mục đích có chính nghĩa, sức mạnh của gương sáng, phẩm chất của nhún nhường và kiềm chế.

Chúng ta là những người bảo vệ truyền thống tốt đẹp này. Được hưởng dẫn bởi các nguyên tắc này một lần nữa, chúng ta đáp ứng những đe dọa mới đòi hỏi ngay cả những nỗ lức lớn hơn, ngay cả sự hợp tác và hiểu biết rộng rãi hơn giữa các quốc gia. Chúng ta sẽ bắt đầu để chuyển giao một cách trách nhiệm Iraq lại cho nhân dân của quốc gia này và tìm cách tiến đến một nền hòa bình rất khó khăn tại Afghanistan. Với bạn cũ và những kẻ thù cũ, chúng tôi sẽ làm việc không mệt mỏi để làm giảm mức đe dọa của vũ khí nguyên tử, và xoay ngược đi mối ám ảnh của hành tinh mỗi ngày một ấm thêm. Chúng tôi sẽ không xin lỗi ai cho lối sống của chúng tôi, và cũng không do dự để bảo vệ lối sống đó, và đối với những kẻ theo đuổi mục đích của họ bằng gây ra khủng bố và tàn sát người dân vô tội, chúng tôi nói thẳng với các ngươi biết rằng tinh thần của chúng tôi mạnh hơn và không thể nào bị tan vở, các ngươi không sẽ tồn tại lâu hơn chúng tôi được, và chúng tôi sẽ đánh bại các ngươi.

Vì chúng ta biết rằng gia tài của chúng ta được đan kết từ nhiều mảnh nhỏ là một sức mạnh chứ không phải là thế yếu. Chúng ta là quốc gia của những người theo đạo Thiên Chúa và đạo Hồi, đạo Do Thái và Ấn Giáo, và cả những người không có đức tin tôn giáo. Quốc gia chúng ta được định hình bằng mọi ngôn ngữ và văn hóa, rút tỉa các bài học từ tận cùng các ngã đường của trái đất này, và bởi vì chúng ta đã từng nếm mùi vị đắng cay của nội chiến và phân biệt đối xử theo màu da, và xuất hiện từ chương đen tối đó để trở nên mạnh hơn và đoàn kết hơn, chúng ta không thể không tin rằng những thù ghét cũ một ngày rồi sẽ qua đi, rằng ranh giới giừa các bộ lạc sẽ được xóa bỏ, rằng khi thế giới ngày càng nhỏ hơn, đặc tính con người chung của tất cả chúng ta sẽ thể hiện, và rằng nước Mỹ sẽ đóng vai trò hướng dẫn nhân loại vào kỷ nguyên mới của hòa bình.

Đối với thế giới Hồi Giáo, chúng tôi tìm kiếm một con đường mới về phía trước, đặt cơ sở trên những lợi ích và sự kính trọng hổ tương. Đối với các nhà lãnh đạo chung quanh thế giới, những người đang gieo mầm xung đột, hay đổ thừa các căn bịnh xã hội của họ vào phía Tây Phương, hãy biết rằng nhân dân của quý vị sẽ phán xét quý vị dựa vào những gì mà quý vị xây dựng được chứ không phải những gì quý vị đã tàn phá. Đối với những kẻ đang bám vào quyền lực bằng tham nhũng, bằng lừa dối và bằng bịt miệng những người chống đối, hãy biết rằng quý vị đang đứng bên phía sai của lịch sử, nhưng chúng tôi sẽ đưa tay nếu quý vị biết nới lỏng nắm tay của mình.

Đối với nhân dân các quốc gia nghèo khó, chúng tôi cam kết cùng làm việc với quý vị để giúp cho nông trại của quý vị được phát đạt và để dòng nước trong được chảy, để nuôi dưỡng những thân thể thiếu ăn và trí óc đang đói khát. Và đối với các quốc gia giống như chúng tôi, đang thụ hưởng tương đối dư thừa, chúng ta hãy cùng nói rằng, chúng ta không còn có thể làm ngơ trước những chịu đựng phía bên ngoài biên giới chúng ta, và cũng không thể tiêu thụ tài nguyên thế giới mà không quan tâm đến hiệu quả. Vì thế giới đã đổi thay, chúng ta phải thay đổi cùng với thế giới.

Khi chúng ta nhận xét con đường đang mở ra trước chúng ta, chúng ta khiêm cung nghĩ đến với lòng biết ơn dành những người Mỹ can đảm, trong giờ này, đang tuần tra trong sa mạc ngút ngàn hay trong các dải núi xa xôi cách trở. Họ có nhiều điều để kể cho chúng ta nghe, như những anh hùng đã hy sinh, đang yên nghĩ trong nghĩa trang quốc gia Arlington vẫn đang thì thầm qua nhiều thời đại. Chúng ta vinh danh họ không phải chỉ vì họ là những người bảo vệ cho tự do của chúng ta mà còn là hiện thân của tinh thần phục vụ, một ước vọng đi tìm ý nghĩa trong những công việc cao cả hơn chính họ. Và tại lúc này, một thời điểm đang xác định một thế hệ, một cách chính xác tinh thần phục vụ này phải hiện hữu trong tất cả chúng ta.

Nhiều như những gì chính phủ có thể làm và phải làm, tối hậu là lòng trung thành và sự quyết tâm của nhân dân Hoa Kỳ mà quốc gia này đang dựa vào. Đó chính là lòng nhân từ để tiếp nhận một người xa lạ khi con đê bị vở, lòng vị tha của những công nhân thà bị cắt bớt giờ làm hơn là nhìn thấy một người bạn bị mất việc đã soi sáng cho chúng ta xuyên qua những giờ đen tối nhất. Đó là lòng can đảm của người lính cứu hỏa đã khai thông một cầu thang mịt mù khói, nhưng cũng ước mơ của cha mẹ dưỡng nuôi một đứa con, cuối cùng đã quyết định số phận của chúng ta.

Những thay đổi của chúng ta có thể mới. Những phương tiện chúng ta dùng để thay đổi có thể mới. Nhưng những giá trị giúp chúng ta thành công – làm việc cần mẫn, lương thiện, can đảm, công bằng, bao dung, tò mò, trung thành và yêu nước - Những đức tính đó không phải mới. Những đức tính đó là sự thật. Những đức tính đó là sức đẩy thầm lặng xuyên suốt dòng lịch sử của chúng ta. Những gì được yêu cầu là quay về với các giá trị sự thật đó. Những gì đang đòi hỏi ở chúng ta hiện nay là một kỷ nguyên mới của tinh thần trách nhiệm, một sự công nhận, về phần của mỗi người Mỹ, rằng chúng ta có trách nhiệm đối với chúng ta, quốc gia chúng ta, và thế giới, các trách nhiệm đó chúng ta không chấp nhận một cách miễn cưởng mà vui mừng đón nhận, vững chắc trong sự hiểu biết rằng không có gì làm thỏa mản về tinh thần, xác định đặc tính của chúng ta hơn là dâng hiến khả năng của tất cả chúng ta cho một nhiệm vụ khó khăn.

Đây là cái giá và lời hứa của một quyền công dân.

Đây là cội nguồn của lòng tin bằng sự hiểu biết rằng Thượng Đế trông cậy vào chúng ta để định hình một số phận đầy bất ổn.

Đây cũng là ý nghĩa của tự do và tín điều của chúng ta, lý do mà tất cả đàn ông, phụ nữ, trẻ em của mọi màu da, mọi niềm tin có thể cùng nhau chào mừng tại quảng đời uy nghi này, và lý do tại sao một người đàn ông có cha cách đây 60 năm không được phép ngồi ăn trong một nhà hàng địa phương bây giờ có thể đứng trước quý vị để đọc lời tuyên thệ thiêng liêng nhất.

Vì vậy, hãy đánh dấu ngày hôm nay bằng hồi tưởng, về chúng ta là ai và bao xa chúng ta đã đi được. Vào năm nước Mỹ mới ra đời, trong những tháng lạnh nhất, một nhóm nhỏ những người yêu nước tụ họp chung quanh đốm lửa đang lụi tàn bên bờ một dòng sông đông lạnh. Thủ đô bị bỏ trống. Kẻ thù đang tiến tới. Tuyết trắng còn hoen màu máu. Tại một thời điểm khi thành quả của cuộc cách mạng vô cùng mong manh, người cha của nước Mỹ đã ra lịnh đọc cho cả nước nghe những dòng chữ sau đây:”Hãy kể cho thế giới tương lai …rằng trong thăm thẳm của mùa đông, khi chẳng có gì ngoài hy vọng và đức tính có thể sống sót …rằng thành phố và đất nước, được báo động có một nguy hiểm chung, đã tiến lên và đương đầu.”

Hỡi nước Mỹ. Đối diện với nguy hiểm chung của chúng ta trong mùa đông khó khăn này, hãy nhớ những lời vượt thời gian này. Với hy vọng và đức tính, hãy cùng nhau lần nữa băng qua dòng nước giá băng và chịu đựng những bão giông có thể đến. Hãy để các thế hệ con cháu chúng ta kể lại rằng khi chúng ta chạm phải thử thách, chúng ta từ chối để dừng cuộc viễn hành, rằng chúng ta đã không quay lui hay chùn bước, và với đôi mắt nhìn về phía chân trời và ơn phước Thượng Đế ban cho, chúng đã mang món quà vĩ đại của tự do tiếp tục đi về phía trước và chuyển giao một cách an toàn cho các thế hệ tương lai.

Cám ơn quý vị. Cầu xin Chúa ban phước cho quý vị. Và cầu nguyện Chúa ban phước cho Liên Bang Hoa Kỳ.

(Trần Trung Đạo dịch)

Tuesday, January 20, 2009

Giấc mơ

Hôm nay, ngày 20 tháng 1 năm 2009 là ngày nhậm chức của tân Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama. Cách đây mấy chục năm, nhà tranh đấu cho Nhân quyền nổi tiếng Martin Luther King đã có câu nói nổi tiếng: "I have a dream". Cái "giấc mơ" của ông ngày nay đã biến thành sự thật: lần đầu tiên của lịch sử Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, Tổng Thống của cường quốc hàng đầu thế giới là một người da màu. Đọc bài Nhìn về nước Mỹ hôm nay, tôi có một câu hỏi và một giấc mơ của tác giả Như Hà để cho ta thấy sức mạnh của dân chủ và của nhân dân khi người dân thật sự được làm chủ vận mệnh đất nước, được làm chủ bản thân mình.

Monday, January 19, 2009

Bài thơ cho bạn bè cũ

30 năm
Bánh xe thời gian như tung hoành ngang dọc
Mới ngày nào bọn chúng ta còn mài đủng quần nơi trường học
Mà giờ đây tóc đều điểm tuyết sương
Những nếp nhăn trên trán hình như ghi chép đầy đủ dấu đoạn trường
Ánh mắt xa xăm như muốn xuyên thấu hàng triệu năm ánh sáng!

Phải hàng triệu năm ánh sáng để đưa chúng ta về lại mái trường xưa của một thời dĩ vãng
Để giúp từng thằng nhận rõ từng khuôn mặt thân quen
Để thấm thía cái vinh quang lẫn những đau đớn nhục hèn
Và để thấy tình bằng hữu Phan Châu Trinh mình ngàn đời không phai nét

Ôi! cái lớp 8/1 ngày xưa sao mà thân thiết
30 năm rồi vẫn như mới hôm qua
Tóc bạc, da nhăn, vầng trán hói thấy thật già
Nhưng nụ cười hào sảng ngày nào vẫn vang vang trong nắng ấm

30 năm
Một quảng đường dài bao cuộc đời thấy thấm!
Thầy cũ, bạn bè chung trường lang bạc khắp mười phương
Đứa tít mù xa tháng năm ca mãi khúc cơm áo đoạn trường
Thằng góc núi miệt mài học thuộc lòng bài tháng Tư mất nước

Bằng hữu ta ơi! Có bao nhiêu điều không thể nào biết trước
Rằng phải cần 30 năm dài mới có dịp hội ngộ trên thế giới ảo hôm nay
Mường tượng mặt nhau qua trái đất nửa vòng xoay
Còn hơn chuyện Ba Tư với ngàn lẻ một đêm thần thoại

30 năm
Có đến trăm ngàn điều muốn nói
Nhưng biết bao giờ mới có dịp thỏa nguồn cơn
Giữa chúng ta vẫn còn những bóng ma thấp thoáng chập chờn
Cản ngăn ta gần 30 năm chưa một lần về thăm trường cũ

Phan Châu Trinh trường ơi! Sau những tháng ngày cuồng lũ
Ngươi vẫn trong tim ta thắm đượm trọn mối tình
Dẫu vôi tường có bạc phết, tình này mãi trung trinh
Vẫn ray rức quắt quay mỗi lần thoáng mùi hương xứ Quảng

Chiều cuối năm trên xứ người vào đây khơi đào giòng sông cạn
Nhặt – Ngắm từng viên sỏi của một thời thơ ấu xa xăm
Hình ảnh ngày xưa như giữa màn đêm bỗng những tia chớp sáng
Ta nhìn Ta mà ngỡ bóng trăm năm

Sơn Thy
(Houston TX, 01/18/09, chiều 23 Tết)


Chuyện kiện tụng ở Việt Nam

Ở Việt Nam hiện nay, 8 giáo dân giáo xứ Thái Hà nhờ luật sư kiện các cơ quan truyền thông báo chí của Cộng Sản Việt Nam thông tin sai sự thật khi họ nói rằng những giáo dân này cúi đầu nhận tội. Nhưng thực tế không phải là như vậy. Ở Việt Nam từ khi Cộng Sản cai trị đất nước không hề xảy ra `chuyện người dân có thể kiện chính quyền. Đây chẳng qua là con kiến đi kiện củ khoai. Dân gian miền Trung có câu: Nói như nói với đầu gối. Quả thật là nói với Cộng Sản Việt Nam cũng như nói với đầu gối mà thôi!

Saturday, January 17, 2009

Năm Sửu nói chuyện Trâu

Chỉ còn mấy ngày nữa là đã hết năm Mậu Tý và năm Kỷ sửu đến. Năm sửu có những đặc`điểm như thế nào. Ta hãy đọc bài Năm Sửu nói chuyện Trâu của Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ, một bài viết rất là đặc`sấc .

Friday, January 16, 2009

Nhớ ngày xưa Hoàng Thị

Màu áo phai vì mưa nắng
nước chảy mòn hồn anh xưa
nên giờ lòng đầy cay đắng
còn ai kể chuyện nắng mưa

Bầy con gái bên trường Nữ
có chuyện về gã áo đà
những cánh môi hồng nhiễu sự
còn ghẹo “anh bà con xa” ?

Mùa đông tay em ôm cặp
qua sông có muốn gặp người
sương nhả từ trời cùng khắp
tóc em có ướt đường ngôi

Trời hè có người rời rã
nhìn đàn áo trắng qua sông
sách vỡ ngày thi vội vã
bỏ mặc, cả đời đứng không

Xin cảm tạ người nhạc sĩ
làm ra khúc hát đón đưa
anh bây giờ đà mỏi chí
chồn chân trong tiếng hát xưa

Dù trời có mưa hay nắng
Dù trong lòng có chia phôi
thì sông quê ta nước mặn
nắng mưa cũng khổ như người

Nếu có một ngày bỗng nhớ
xin em tóc bỏ đuôi gà
như một lần xưa bở ngỡ
trên đường Hoàng Thị bước qua

Hải Lê

các em hoàng thị

các em hoàng thị là bông
giờ đây đã bước theo chồng về đâu
trắng vôi trường nữ bạc đầu
trường nam nhuộm tóc nhưng sầu vẫn mang
các em hoàng thị sang ngang
đi luôn qua biển để vàng thu anh
chừng thu em cũng chỉ cành
hình như mới đó mà đành trôi xa
các em trường nữ người ta
và các anh chỉ ngậm tà huy thương ./.


nna
Jan 14, 2009

Mùa xuân đến

Mùa xuân đến muôn sắc màu tươi thắm
Như đón chào một năm mới bình an
Đất trời xuân, lòng người cũng nhuốm xuân
Nhớ tuổi nhỏ luôn ước mơ ngày Tết đến

Xúng xính trong bộ quần áo mới
Tay cầm phong bì Tết lì xì
Bên ngoài pháo đì đùng inh ỏi
Xuân thanh bình, xuân mong ước của nhân gian

PHP
01/16/08

Lễ nhậm chức của tân tổng thống Barack Obama


Ngày 20 tháng 1 tới đây là ngày lịch sử của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, tổng thống là người da đen. Bây giờ tại Washington DC, người ta đã có những chuẩn bị và chương trình lễ nhậm chức của ông Obama. Ước tính sẽ có khoảng 300,000 người tham dự lễ nhậm chức lịch sử này. Có người ví von rằng giả sử ông Barack Obama sinh trưởng ở Việt Nam, ông không thuộc gia đình cách mạng thì chắc chắn là ông sẽ không bao giờ được làm chủ tịch nước như hiện tại ông được đắc cử tổng thống Hoa Kỳ. Vậy thì nước dân chủ và nước độc tài có một khoảng cách quá sức là xa!

Thursday, January 15, 2009

Thiên thời, địa lợi, nhân hòa

Những ai say mê truyện Tam Quốc Chí, đọc bài Thiên thời- Chu Du vs Khổng Minh của tác gỉa Vũ Nam Hải sẽ cảm thấy thích thú.

Wednesday, January 14, 2009

Bá0 chí quốc nội nổi dậy

Những người làm truyền thông báo chí ở Việt Nam "có lòng" với nhân dân đã dùng phương tiện truyền thông của Cộng Sản để nêu lên những mặt trái của xã hội. Nhà báo Vi Anh với bài viết
Báo chí quốc nội nổi dậy đã phân tích vấn đề này rất là độc đáo.

Tuesday, January 13, 2009

người thầy học cũ thời Phan Châu Trinh

[Kính tặng thầy Pháp Văn số 1 của học trò ☺]
dưới lớp đi lên thầy trên nhìn xuống
lúc đó học trò quá nhỏ biết đâu
câu hỏi khó tò mò đôi mắt ngó
thầy nhìn trò ai biết đến mai sau
lên trên net thấy hình năm xưa đó
trò nhìn thầy hướng dẫn lớp mình đây
vẫn hào sảng những ngày sân bóng nhảy
vẫn gầy gầy dẫu mấy chục năm nay
thầy ngồi đó với Hân [ kêu Hân ngọng ]
biệt danh thôi [ như em dính Mouillé ]
giờ nhớ lại cám ơn dăm thằng bạn
tặng cho nhau tên gọi để mang về
em cũng thấy hình thầy nơi trường cũ
dẫy hành lang vui trú nắng trú mưa
xuống chút nữa là phòng dân chín một [91]
“toàn con ông Trời lạc lối ngồi chơi”
cỡ như Tuyến, Mỹ, Mèo, Tô Thành Đức
lạc về đâu đã mấy chục năm hơn
Phạm May giờ râu muốn dài quá trớn
Quân Cảnh đâu quên hốt nó vô đồn ☺
dưới lớp đi lên ngày xưa lộn xộn
thầy dạy lớp đêm nhỏ hạnh xinh thời
mới lớn xôn xao nhịp banh bóng rổ
giả vờ đi ngang liếc cái rồi thôi
sáng nay phương xa ngồi chờ cái Tết
chợt nhớ những ngày học vớI thầy vui
Course de Langue hách xì xằng quên hết
chỉ nhớ thầy, số 1, của trường thôi ./.

nna
January 14, 2009

Saturday, January 10, 2009

Hồ cáo là ai?

Tác giả Tuổi trẻ Việt Nam Vọng Trấn Quốc đã có bài viết Sự thật về Hồ Cáo là ai? đã lật lại vấn đề về bộ mặt thật của Hồ Chí Minh. Thực tế mà nói hắn chỉ là một tên giả danh giả nghĩa, một tên tội đồ của dân tộc

Dương Thu Hương

Lâu nay, chúng ta cứ nghĩ rằng Dương Thu Hương là người chống Cộng. Nhưng thực`tế như thế nào? Mới đây tại Paris, y thị cho xuất bản cuốn sách Au Zenith (Đỉnh cao chói lọi). Lâm Phong đã phân tích vấn đề rất cặn kẽ qua bài viết Dương Thu Hương và cuốn tiểu thuyết mới viết "Tại đỉnh cao" (Au Zenith)

Câu chuyện vụ trộm

Vào tháng 12 năm 2008, ba người Mỹ gốc`Việt bị bắt vì có liên quan đến vụ trộm ống dòm nhìn xuyên đêm. Sụ thật đằng sau vụ trộm này như thế nào. Ta hãy xem nhàbáo Đỗ Thái Nhiên nói qua bài viết Vụ trộm thứ hai.

Friday, January 9, 2009

Gởi cho em

Gởi cho em một cành hoa
Để em nhớ mãi đường xa dặm dài
Gởi cho em chút mến thương
Gói tròn nỗi nhớ lòng vương vấn hoài.

PHP
01/08/09

Thursday, January 8, 2009

Tài năng người Việt hải ngoại

Sau năm 1975, những người Việt tài giỏi ở miền Nam lần lượt bỏ nước ra đi. Ra đi với đôi bàn tay trắng, nhưng họ đã làm vẻ vang không ít cho dân tộc Việt Nam. Gần đây, tại Đức Quốc, một người gốc Việt được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Kinh tế tiểu bang..Đây là niềm hãnh diện không nhỏ cho Cộng đồng người Việt hải ngoại không Cộng Sản.

Wednesday, January 7, 2009

Vấn đề biên giới Việt Trung

Việt Nam và Trung Quốc cùng tuyên bố rằng đã hoàn thành việc cắm mốc để phân định biên giới Việt Trung. Riêng chính phủ Việt Nam còn cho rằng đây là một thắng lợi. Nhưng thực tế như thế nào? Ta hãy xem bài: Hoàn tất phân giới cắm mốc biên giới Việt Trung: Đâu là sự thật- Đâu là dối trá lừa bịp của tác già Lê Phương Nga. Tác giả đã dùng những chứng cớ là những tư liệu đã xuất bản của Nhà xuất bản Sự thật của Cộng Sản Việt Nam để trả lời câu hỏi ở trên.

Tuesday, January 6, 2009

Thực trạng giáo dục Việt Nam

So với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam Cộng Sản là quốc gia cải cách giáo dục cũng như thay đổi phương pháp giáo dục nhiều nhất. Nhưng thực chất là tình trạng thầy đọc trò chép vẫn rất phổ biến. Điều này cũng dễ hiểu bởi lẽ đội ngũ giáo viên ở Việt Nam được đào tạo không đến nơi đến chốn. Trình độ kiến thức của giáo viên vẫn còn nhiều hạn chế. Mặt khác đồng lương của thầy cô giáo dĩ nhiên là đứng gần hạng...bét trong xã hội. Vì đồng tiền mà trong giáo dục vẫn còn nhiều tình trạng rầu lòng. Biết bao giờ thì giáo dục của Việt Nam mới vươn lên ngang tầm với các nước trong khu vực (Chưa dám mơ tưởng ngang tầm với các quốc gia khác trên thế giới)

Sunday, January 4, 2009

Tuyến xe lửa Nam Ninh - Hà Nội

Bắt đầu từ đầu năm 2009, hàng ngày đều có tuyến xe lửa nối liền Nam Ninh, thủ phủ của tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc với Hà Nội. Trên căn bản thì người ta nói là để mọi người dân của hai nước qua lại dễ dàng, nhưng thực tế là để Trung Quốc nhanh chóng đem những hàng hóa không xuất cảng được sang Việt Nam. Những hàng hóa này các nước phương Tây từ chối nhập cảng vì phẩm chất của hàng hóa có vấn đề. Vô hình chung, người dân Việt Nam phải mua những hàng hóa ế ẩm và kém chất lượng của Trung Quốc.

Khắc Khoải

Ta cúi xuống nhìn thấy nhiều tăm tối
Như những mảnh vụn làm đau đớn cả tâm can
Ngày đầu năm sao vẫn còn nhiều ray rức
Men rượu cay đâu xóa sạch những ưu phiền

Ta thao thức từng đêm dài không ngủ
Những nỗi muộn phiền không lối thoát trong ta
Một năm nữa có khác gì năm cũ ?
Cũng vẫn chỉ là những khắc khoải bất an...

PHP
01/02/09

Saturday, January 3, 2009

Tổ Quốc Việt Nam : Tuyên Ngôn Dân-Chủ và Nhân-Quyền

Tổ Quốc Việt Nam : Tuyên Ngôn Dân-Chủ và Nhân-Quyền

Việt Nam cải cách cuội

Mười mấy năm trở lại đây, Việt Nam đề ra phương cách cải cách. Nhưng thật ra Việt Nam có cải cách thật sự hay là không? Đọc bài Những dấu lửng cải cách để nhìn rthấy sự thật của vấn đề.

Đôi dòng tản mạn

Đầu năm, đọc bài Đôi dòng tản mạn của tác giả Trần Khải Thanh Thủy, một người được giáo dục va trưởng thành từ chế độ Cộng Sản, nhưng đã sớm thấy được rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ`là một "ung nhọt" của dân tộc Việt Nam, cần phải bị phá vỡ ngay.

Lời cam kết giả mạo

Gần đây trên mạng lưới internet có tung ra bản cam kết rằng Hòa Thượng Thích Quảng Độ sẽ chấm dứt mọi "hành động chống phá nhà nước" . Đây chỉ là một bản cam kết giả mạo. Phòng thông tin Phật Giáo quốc tế tại Paris vừa xác nhận rằng không có chuyện đó xảy ra qua bài phỏng vấn cuả thông tín viên Ỷ Lan với Hòa Thượng Thích Quảng Độ.

Friday, January 2, 2009

Bản tuyên ngôn dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam

Kính mời mọi người cùng ký tên và phổ biến Bản tuyên ngôn dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam. Đây là việc` làm cần thiết và quan trọng.

Báo chí Việt Nam bị siết chặt thêm.

Vào đầu năm mới 2009, nhiều tờ báo ở Việt Nam đã thay đổi người lãnh đạo. Đây có phải là "chiêu" mới của Đảng Cộng Sản Việt Nam nhằm siết chặt truyền thông báo chí?

Cúi xuống là đất

Đọc bài Cúi xuống là đất của tác giả Nguyễn Ngọc Tư để thấy nỗi đau bị mất đất , nỗi ngậm ngùi mà tác giả muốn gởi gắm qua một đoản văn.

Thursday, January 1, 2009

Mứt Tết sản xuất tại Việt Nam

Hàng năm môt số lượng rất lớn mứt sản xuất tại Việt Nam và được đem sang Mỹ để bán cho người Việt tại hải ngoại. Đọc bài viết Mời "Việt Kiều" xơi mứt Viẹt Nam chúng ta hết muốn ăn mứt sản xuất tại Việt Nam trong những ngày Tết.

Tuesday, December 30, 2008

nhật ký di tản

hình như lâu lắm rồi tôi mang sang đây quả lựu đạn
khi cầm bút ký giấy tờ bảo trợ thân nhân
lựu đạn bật chốt nhưng không nổ
trúng con tôi sưng đầu từ lúc mẹ cha bung

cách đây vài năm tôi lại mang sang một trái bom nguyên tử mông lung
lại sống như lửa bập bùng mới chết
trái bom rớt không nổ mà sập hết
tôi sắp lại lên đường di tản về đâu ./.

nna
30 tháng 12, 08

Monday, December 29, 2008

Tản mạn Giáng Sinh 2008

Hiến pháp của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam công nhận người dân có quyền tự do tôn giáo. Nhưng sự thật có phải vậy không?
Đọc bài Tản mạn Noel 2008- Sơn La: Chuyện lạ có thật của JB Nguyễn Hữu Vinh sẽ cho ta thấy những hình ảnh thật về người Công Giáo Việt Nam tại tỉnh Sơn La và bộ mặt thật của Cộng Sản Việt Nam. Những giáo điều Mác Xít- Lê Nin Nít đã bị phá sản ở Liên Xô và Đông Âu nhưng vẫn còn tồn tại ở Việt Nam và vài nước còn những kẻ ngu muội vẫn bám víu vào chủ nghĩa quái đản hòng đè đầu cưỡi cổ nhân dân.

Sunday, December 28, 2008

Nhục cả nước

Chúng ta, người Việt Nam thường tự hào mình là người Việt Nam có bốn ngàn năm văn hiến. Nhưng từ khi đất nước bị cai trị bởi một lũ "giòi bọ" thì chắc hẳn là chúng ta khó mà còn lòng tự hào này. Đọc bài viết Nhục cả nước của Ngô Nhân Dụng để thấy rằng ngày nào còn chế độ Cộng Sản thì ngày đó đất nước và nhân dân vẫn còn những đau khổ triền miên và nhục nhã do lũ "vượn người" mang lại.

Saturday, December 27, 2008

Đêm cuối năm

Đêm dần trôi anh ngồi bên cửa sổ

Hồn thả hồn theo từng nhịp thời gian

Tiếng đồng hồ vẫn tích tắc bên tai

Lòng tự nhủ: thôi hãy quên đi tất cả


Nhưng anh không thể nào quên đi được

Từng mảng đời anh đã bước dần qua

Từng mảng không gian ắp đầy kỷ niệm

Từng mảng thời gian anh nhớ mãi không quên


Chôn dấu đi một chút càng nhớ nhiều thêm một chút

Xa nhau nhiều lại thêm nhớ nhiều hơn

Đêm cuối năm tay cầm ly rượu

Hớp một ngụm đầy lòng chợt thấy buồn tênh...


PHP

12/27/08