Translate
Monday, February 7, 2011
Nguyễn Xuân Diện: NGƯỜI HÀ NỘI VÀ HÀO KHÍ LỄ HỘI ĐỐNG ĐA
Sunday, February 6, 2011
Saturday, February 5, 2011
Friday, February 4, 2011
Thursday, February 3, 2011
Chủ nghĩa đa phương mới (Bs Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Bắc Truyển ghi)
Lời giới thiệu: Nhiều cuộc cách mạng Dân Chủ đang dồn dập nổ ra ở Tunisia, Algeria, Yemen, Ai Cập… Giới trẻ Việt Nam thấy có nhu cầu tìm hiểu. Nhớ lại những năm tháng nằm trong lao tù cộng sản, tôi có nghe nhiều anh em nhắc đến Thế Chiến Lược Toàn Cầu Mới do Bs Nguyễn Đan Quế phổ biến. Ra khỏi tù, tôi có dịp gặp Bs Quế và hỏi về Thế Chiến Lược này.
Tôi xin ghi lại đây nội dung chính để gửi đến những anh chị em đang tranh đấu cho Nhân quyền và Dân chủ tại Việt Nam như tài liệu nội bộ để nghiên cứu, cũng như những Quí Vị nào quan tâm đến vấn đề này.
Nguyễn Bắc Truyển
Tù chính trị hiện bị quản chế.
CHỦ NGHĨA ĐA PHƯƠNG MỚI
Thế kỷ 21 đặt ra cho nhân loại những thách thức cấp bách, lớn lao, chưa từng có trong lịch sử, vượt xa khả năng giải quyết của bất cứ siêu cường nào. Điều này đòi hỏi phải có một chiến lược chung của “tập thể các siêu cường” mới có thể đối phó được.
Hướng đi là phải như thế. Nhưng để các siêu cường đồng ý thực thi mới vô cùng khó khăn.
Ý chí chính trị cuối cùng có tính quyết định nằm nơi Mỹ, cường quốc số một trên hành tinh. Hoàn cảnh nào? Khi nào? Và ai? đã khởi động tiến trình.
Chính trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu do bể bong bóng ngân hàng và địa ốc ở Mỹ năm 2008; trong khi Mỹ đang dính líu vào hai cuộc chiến chống khủng bố ở Afganistan và Iraq, cùng lúc phải đối phó với đe dọa hạt nhân từ Iran và Bắc Triều Tiên còn nhùng nhằng chưa xong. Các thăm dò ngoại giao hậu trường cho thấy có lẽ hướng giúp giải quyết tốt đẹp hữu hiệu nhất chỉ có thể là: hợp tác trong cạnh tranh (chứ không phải đối đầu) giữa các siêu cường.
Chính quyền Obama cam kết thực hiện một chính sách ngoại giao khôn ngoan hơn, hứa sẵn sàng nói chuyện với kẻ thù, thay vì đe dọa sử dụng hay sử dụng sức mạnh quân sự. Ông mạnh mẽ lên tiếng cổ võ chính sách đa phương mới, nhằm thiết lập một trật tự thế giới mới về kinh tế. Obama cũng cố gắng biện minh cho đa phương có thể dễ giúp giải quyết tốt hơn những mâu thuẫn quyền lợi trên thế giới, từ Hồi giáo đến bất đồng với Nga, với Trung quốc, cũng như những khó khăn với đồng minh Âu Châu hay Nhật Bản. Điều này nói lên tầm vóc điều chỉnh chiến lược chưa từng có của Mỹ kể từ sau Chiến tranh Thế giới II.
NHƯNG ai cũng hiểu rất rõ rằng:
Mỗi siêu cường có thế chiến lược toàn cầu riêng của mình. Vấn đề nào dính líu đến quyền lợi thiết thân của nhiều siêu cường, thì hướng giải quyết là thương lượng, nhân nhượng để tìm ra cách đối phó chung. Có quyền lợi chung, tất nhiên phải có trách nhiệm chung.
Chiến tranh giờ đây không phải là giải pháp tối ưu, vì chiến tranh giữa các siêu cường có thể dẫn đến dùng võ khí nguyên tử, hủy diệt nền văn minh nhân loại. Muốn nói gì thì nói, nền văn minh trên hành tinh của chúng ta là độc nhất vô nhị, chưa thấy ở bất cứ nơi nào trong vũ trụ. Nhân loại hơn 6 tỉ người có quyền lên tiếng đòi những nhà lãnh đạo các nước trên thế giới, cả giầu lẫn nghèo, trân trọng và làm nở rộ hơn nền văn minh này, để truyền lại cho đời sau. Nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin toàn cầu, bất cứ từ hang cùng ngõ hẻm nào trên trái đất này, tiếng nói của 1 cá nhân nhỏ bé cũng có thể được nhiều người khắp nơi lắng nghe, chia sẻ, ủng hộ.
I. NHỮNG THÁCH THỨC TOÀN CẦU
Nghèo gây bất ổn.
2/3 nhân loại hiện sống trong nghèo đói thiếu thốn. Hố xa cách giữa các nước giầu và các nước nghèo trên thế giới là vô cùng gay gắt. Người dân hay chính phủ của nước giầu hay nước nghèo đều thấy cần phải giải quyết hố xa cách giầu – nghèo quá đáng này. Điều này có thể thực hiện được khi mà khoa học đang mang lại nhiều tiến bộ chưa từng có cho nhân loại.
Cùng là con người cả, người giầu sẽ khó cảm nhận hạnh phúc giữa hàng tỉ người nghèo bao quanh. Khi bị dồn vào đói khổ quá con người dễ làm liều, vì người ta không còn con đường nào, phương cách nào, khả năng nào ngoài bạo động cướp của nhà giầu để sống còn. Trước bất công đó, nước giầu nào giúp các nước nghèo sẽ được cộng đồng nhân loại trọng thị, vì nể.
Thế giới ngày nay đang cố gắng tiến đến chỗ tạo dựng một bầu không khí cảm thông, trong đó hạnh phúc và tương lai nhân loại phụ thuộc lẫn nhau, để các nước giầu sẵn lòng chia sẻ giúp các nước nghèo phát triển.
Đương nhiên, không dễ xóa bỏ một bất bình đẳng qui mô toàn cầu, đã kéo dài nhiều thế kỷ, và hiện đang có nguy cơ tiếp tục mở rộng.
Tuy nhiên, bằng việc thừa nhận rằng nguyên nhân chính của nghèo đói là do thất bại của các chính phủ cùng các định chế, chúng ta có cơ hội để đảo ngược tình thế. Bằng cách nào? Đó là bầu cử tự do.
An ninh ổn định trên thế giới
Sau vụ khủng bố đâm máy bay vào tòa tháp đôi ở New York ngày 11-9-2001, Mỹ và các nước giầu cảm thấy bất an ngay trong nội địa đất nước mình, đâu cũng có thể bất thần bị đánh bom, không đâu còn là an tòan 100% nữa.
Mỹ hiện cầm đầu nỗ lực chống khủng bố trên thế giới, trực tiếp tham chiến tại Iraq và Afganistan, và đang cố gắng tháo gỡ mối đe dọa nguyên tử của Iran và Bắc Triều Tiên.
Thực tế chứng minh nỗ lực sử dụng sức mạnh quân sự không đưa lại kết quả mong muốn, và có nguy cơ còn bị sa lầy kéo dài.
Đối với an ninh của Mỹ, chống khủng bố là quan trọng hàng đầu. Bởi vậy, chính sách ngoại giao Mỹ là hỗ trợ các nước nghèo phát triển kinh tế, kết hợp với hợp tác quốc phòng. Nhưng thực thi nay cần mềm mỏng mới có thể đạt kết quả mong muốn.
Ấm nóng khí hậu toàn cầu và bảo vệ môi trường sống
Từ khi xuất hiện nền công nghiệp trên trái đất cách đây hơn 3 thế kỷ, các hoạt động của con người đã thải vào bầu khí quyển một lượng khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính, khiến nhiệt độ bề mặt trái đất ấm lên. Nạn phá rừng bừa bãi lấy đất trồng trọt làm giảm mức hấp thụ CO2 là lý do lớn khác nữa. Tan các tảng băng ở Bắc cực, Nam cực và các đỉnh núi cao như Hy Mã Lạp Sơn để lộ xác động thực vật chôn vùi lâu ngày cũng thải ra 1 lượng lớn CO2. Tan băng đồng thời cũng làm nước biển dâng cao, nhấn chìm một số đảo và biển lấn đất liền, thu hẹp diện tích trồng trọt.
Mấy lúc gần đây, thiên tai, băng giá, bão lụt, hạn hán, thời tiết trái mùa đang liên tiếp xẩy ra khắp nơi trên thế giới
Giảm CO2 gây hiện tượng nhà kính là vấn đề cấp bách. Các nước nghèo qui trách nhiệm cho nước giầu, yêu cầu các nước giầu phải cắt giảm nhiều và phải trợ giúp các nước nghèo. Các nước giầu có nhân sự, có kỹ thuật, có tiền bạc để chuyển đổi nền kinh tế sang xử dụng năng lượng sạch. Làm sao các nước nghèo có thể làm theo tiêu chuẩn mà các nước giầu đề ra? Mặc dầu nghị định thư Kyoto, một văn kiện có tính ràng buộc pháp lý năm 1997 được 37 quốc gia đặt bút ký và sẽ chấm dứt vào năm 2012, nhưng 2 nước thải CO2 nhiều nhất là Hoa Kỳ và Trung Quốc lại không ký. Hội nghị Copenhagen do LHQ tổ chức từ 7 đến 18-12-2009 đã không đạt kết quả như nhiều nước mong đợi, nhưng lần này có được thoả thuận: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ, Ba Tây và Nam Phi đồng ý sẽ ký. Bản Thỏa thuận Copenhagen ấn định mục tiêu hạn chế mức tăng nhiệt độ ở 2 độ C so với mức của thời kỳ tiền công nghiệp, nhưng không đề ra những phương cách đạt được mục tiêu ấy. Mới đây, hội nghị Cancun từ 29-11 đến 10-12-2010 đạt được thỏa thuận bao gồm một Quỹ khí-hậu-xanh (Green Climate Fund) nhằm quyên góp và giải ngân 100 tỉ USD mỗi năm từ nay tới năm 2020 để bảo vệ các nước nghèo chống lại ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và hỗ trợ họ phát triển với mức thải CO2 thấp. Một Ủy ban Thích ứng mới sẽ hỗ trợ các quốc gia khi họ lập kế hoạch bảo vệ khí hậu. Quỹ khí-hậu-xanh ban đầu sẽ sử dụng Ngân hàng Thế giới là cơ quan được ủy thác (theo đòi hỏi của Mỹ, EU và Nhật Bản) trong khi việc giám sát sẽ được giao cho một cơ quan mới cân bằng giữa các nước phát triển và đang phát triển. Các nước đang phát triển sẽ có biện pháp kiềm chế phát khí thải của mình, và phải chịu xác minh của quốc tế chỉ khi nào họ được tài trợ bằng tiền của Tây phương.
Vũ khí nguyên tử
Kiểm soát phổ biến để đi đến loại bỏ hẳn vũ khí nguyên tử. Mỹ và Nga chiếm 96% toàn kho của thế giới. Hiệp ước giảm vũ khí chiến lược START (strategic arm reduction treaty), ký năm 1991, đã hết hạn ngày 5-12-2009. Ngày 8-4-2010 Mỹ và Nga ký START MỚI tại thủ đô Praha của Cộng hòa Czech. Theo hiệp ước mới, mỗi bên sẽ được phép lưu kho 1.550 đầu đạn và dưới 700 hệ thống tên lửa đạn đạo xuyên lục địa, tên lửa đạn đạo bắn từ tàu ngầm, và máy bay ném bom hạng nặng trang bị vũ khí hạt nhân. Ngày 22-12-2010 Thượng viện Mỹ đã thông qua Start mới. Viện Douma Nga cũng đã thông qua ngày 26-1-2011.
Phi quân sự hoá không gian.
Kinh nghiệm khó khăn trong việc giải quyết hậu quả chạy đua vũ trang nguyên tử trước đây, các nước trong câu lạc bộ không gian cảm thấy ngay từ bây giờ cần thoả thuận có tính ràng buộc trong việc xử dụng hoà bình vũ trụ, nghiêm cấm đặt vũ khí nguyên tử trong không gian.
Khan hiếm lương thực – thực phẩm
Biến đổi khí hậu, biển lấn đất, sa mạc hóa, đô thị hóa, đã thu hẹp đáng kể đất canh tác khiến lượng sản xuất kém đi. Theo nhiều nhà khoa học, kỹ thuật biến đổi ‘gien’ có thể giúp giải quyết khó khăn về số lượng lương thực ; nhưng khó khăn nằm ở chỗ làm sao huy động số dư ở những nơi khác và phải có hệ thống phân phối nhanh, an toàn đưa ngay đến những vùng khủng hoảng. Điều này đòi hỏi phải có cơ chế hợp tác hữu hiệu liên chính phủ.
Khan hiếm nhiên liệu – năng lượng
Sau củi, than đá, khí đốt, dầu hoả, năng lượng hạt nhân… nhân loại đang hướng về năng lượng sạch như năng lượng mặt trời, gíó, thuỷ triều, năng lượng lấy từ lòng đất.
Khan hiếm tài nguyên kỹ nghệ
Tài nguyên lục địa đang cạn kiệt dần. Bây giờ chú ý đang nhắm vào tài nguyên dưới đáy biển. Biển chiếm 71% vỏ quả đất, tài nguyên đa dạng và phong phú như trong đất liền, còn trinh nguyên chưa bị khai thác. Kỹ-thuật-cao nay cho phép mở những kho tàng này. Nhưng vì đáy biển thuộc hải phận quốc tế là của chung nhân loại, cần phải có luật quốc tế về vấn đề này. Có ý kiến đề nghị: từ đáy biển xuống sâu 200m là của tất cả các nước. Sâu xuống hơn 200m đáy biển thuộc về ai có kỹ thuật khai thác. Và ai cũng biết chỉ có các siêu cường mới có khả năng này.
Nạn nhân mãn và di dân kinh tế.
Dân số thế giới hiện trên 6 tỉ, lên 9 tỉ vào năm 2050. Ngoài lo ăn mặc, còn lo giáo dục, y tế, việc làm, sao cho thế hệ sau khá hơn thế hệ trước.
Kiểm soát sinh nở có trách nhiệm và phát triển tốt kinh tế là ưu tiên toàn cầu. Sẽ có bùng nổ dân số, nếu không có kế hoạch. Khi đó không thể trách cứ người dân bỏ nước ra đi kiếm đời sống dễ thở nơi khác.
Và còn nhiều vấn đề khó khăn khác, như:
Vấn đề nổi loạn, chém giết lẫn nhau vì nghèo đói.
Tự do hoá mậu dịch và đầu tư toàn cầu.
Thăng tiến chất lượng cuộc sống, phẩm giá con người, nhân quyền và dân chủ.
II. NHÂN LỌAI ĐANG ĐI VÀO NỀN VĂN MINH MỚI
Thế kỷ XX, thuyết tương đối của Einstein và cơ học lượng tử đã mở ra chân trời mới, đưa đến hàng loạt những phát minh quan trọng, và sau đó được đem ứng dụng trong kỹ nghệ để phục vụ con người, như: thám hiểm không gian, xử dụng năng lượng nguyên tử trong y khoa – canh nông – kỹ nghệ, transitor, laser, chip điện tử, máy vi tính, kỹ thuật số…mà chúng ta thường gọi chung là cuộc cách mạng vi-điện-tử (hay cách mạng kỹ-thuật-cao).
Năm 1955 F. Crick và J. Watson chứng minh toàn bộ sự sống (con người – động vật – thực vật) có chung bốn chất: guanin, adenosin, cytosin và thymin phân bổ ở những vị trí khác nhau trên chuỗi xoắn desoxyribonucleic acid (DNA). Nghĩa là: Con người và thiên nhiên tương quan phụ thuộc lẫn nhau khắng khít.
Chính vì có những phát kiến vi-điện-tử và hiểu biết mới về con người – động vật – thực vật quá ư ghê gớm, quá ư bất ngờ, quá ư căn bản này, mà nhân loại đang đi vào nền văn minh mới, với hai cuộc cách mạng xã hội:
- một về kỹ thuật và sinh học mà tiến bộ đang diễn ra vũ bão trên toàn cầu.
- một về triết lý sống khôn ngoan hơn, minh triết hơn: Nhân Bản Hoá Xã Hội.
III. SỰ HÌNH THÀNH CHỦ NGHĨA ĐA PHƯƠNG MỚI
Đi vào nền văn minh mới, đòi hỏi phải giải quyết cấp bách một loạt những thách thức toàn cầu ngay trong thế kỷ 21 này, không thể trì hoãn được.
Trách nhiệm lớn nhất đặt lên vai những siêu cường có nền kinh tế kỹ-thuật-cao như: Mỹ, Nhật, Đức với liên minh Âu Châu (EU), Nga và Trung Quốc.
Mỗi siêu cường có đường lối chiến lược toàn cầu riêng của mình.
Trước những thách thức chung có tính toàn cầu cần chiến lược chung đối phó.
Từ đó, THẾ CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU LIÊN HOÀN ĐA PHƯƠNG MỚI đang nhanh chóng hình thành (hay còn gọi là MỘT NỀN TRẬT TỰ KINH TÊ QUỐC TẾ MỚI):
Mỹ, Nga, Nhật, Đức với EU, và Trung Quốc hợp thành thế liên hoàn để
- một mặt, giữ vững thế của nước giầu đối với nước nghèo, lọai trừ khủng bố, bảo đảm an ninh thế giới để cùng phát triển;
- mặt khác, chuyển giao kỹ-nghệ-hoá cho các nước nghèo qua vốn, kỹ thuật, quản lý để lấp bớt hố xa cách giầu – nghèo, một điều kiện quan yếu không thể thiếu được, nếu các nước giầu muốn tiến thêm bước nữa.
Mâu thuẫn quyền lợi giữa 5 Siêu Cường có thể xẩy ra bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu, trên bất cứ vấn đề gì, nhưng không phải là đối kháng, mà là cạnh tranh trong phát triển. Những mâu thuẫn này có thể thương thuyết tương nhượng, giải quyết thông qua mối quan hệ quyền lợi chằng chịt đa phương mang tính liên hoàn.
Khi có điễm nóng tại nơi nào trên thế giới đi ngược lại thế chiến lược toàn cầu chung, 5 Siêu Cường phát huy cơ chế liên hoành dựa trên tham khảo và hợp tác nhằm đạt mức đồng thuận nào đó cho hướng giải quyết chung, nhất là trong trường hợp cần dụng binh. Sau đó, mỗi siêu cường có chiến lược, chiến thuật, kỹ thuật thực hiện, cùng nghệ thuật thi hành riêng của mình, để hướng các bên tranh chấp đi đến thỏa hiệp quyền lợi hợp tình, hợp lý dựa trên công pháp và thông lệ quốc tế.
Nói một cách khác, thế giới đang đi vào thế Hợp Tác Bắc – Nam:
* Khối Bắc: Sở dĩ gọi như vậy vì đường nối liền 5 thủ đô Hoa Thịnh Đốn, Đông Kinh, Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa, Bá Linh nằm về Bắc bán cầu. Khối Bắc chiếm gần 1/3 dân số toàn cầu.
* Khối Nam chiếm khoảng 2/3 gồm tất cả những nước đang phát triển. Khối Nam gồm 5 vùng: Đông Nam Á – Thái Bình Dương, Tiểu lục địa Ấn Độ, Phi Châu, Trung Đông và Châu Mỹ La Tinh.
Giữa Bắc và Nam là những nước giầu, tiến hành mạnh mẽ cuộc cách mạng vi-điện-tử (kỹ-thật-cao) như Canada, Úc, Bắc Âu, Ấn Độ, Ba Tây, Nam Phi, Nam Triều Tiên, Singapore… nhưng không phải là những trung tâm quyền lực trong nền sinh hoạt chính trị toàn cầu.
Ý của Bs Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Bắc Truyển ghi.
Xuân Tân Mão 2011
Giữa đêm giao thừa
Giữa đêm giao thừa
Nhấm ly rượu mừng xuân
Lòng vẫn nhiều xốn xang
Men rượu cay thành men rượu đắng
Thương luật sư Cù Huy Hà Vũ
Vẫn đang ở trong chốn lao lung
Chỉ vì những dân oan khiếu kiện
Chỉ vì nhìn Tổ Quốc đang gặp cảnh nhiễu nhương
Đã không quản thân mình
Đứng giữa đầu gió ngọn sóng
Để đương đầu với bạo quyền
Chỉ vì câu
'Quốc gia hưng vong
Thất phu hữu trách
Nên đã ôm những cay đắng vào mình
Chắc chắn rồi sẽ có ngày
Những ước mơ của luật sư sẽ thành sự thật
Đất nước rồi sẽ được thăng hoa
Tự do dân chủ
Và ngẩng đầu cao
Cùng toàn thể địa cầu
Tân Xuân Tân Mão
Cũng sẽ là năm cáo chung
Của chế độ bạo quyền
Đất nước yên lành
Nhân dân hạnh phúc
Sau Tunisia
Chắc chắn sẽ là Việt Nam
Phi Vũ
02/03/11
Wednesday, February 2, 2011
Cầu mong đầu năm
Mùa xuân lại về
Ta nghe vọng từ hồn thiêng sông núi
Những lời của tiền nhân
Những nỗi vất vả nhọc nhằn
Trên từng tất đất
Trên từng đoạn sông
Trên từng ngọn núi
Trên từng góc biển quê hương
Để tạo nên non sông gấm vóc
Nỗi ngậm ngùi đớn đau
Quê hương đã trải qua
Bao lần mất nước
Bởi giặc “ngoại xâm”
Nhưng không đau đớn nào bằng
Nỗi đau bị giặc “nội xâm”
Tàn phá
Cũng đã gần sáu mươi sáu năm
Đau thương cay đ ắng
Những nhà đấu tranh dân chủ
Vẫn còn trong vòng lao lý
Chỉ vì yêu công bằng lẽ phải
Chỉ vì dân chủ cho đất nước
Chỉ vì tự do cho người dân
Mà đã phải dấn thân
Không ngại cảnh tù đày.
Tân xuân Tân Mão
Chỉ cầu mong
Đất nước được yên bình
Quốc thái dân an
Nhà nhà hạnh phúc
Mong lắm thay!
Phi Vũ
02/02/11
Mai Việt Tú – 24 điểm nhận xét về vụ án TS Cù Huy Hà Vũ
Điểm 1: Tôi chia ra từng điểm để những người còn yêu nước Việt Nam qua vụ án TS Cù Huy Hà Vũ thảo luận, bổ xung, phản biện để uốn nắng con đường xây dựng một nước Việt Nam đẹp hơn.
Điểm 2: Circumstancial evidence, một ca luật pháp bắt đầu là đã có tính cách sự kiện hơn là bằng chứng trực tiếp (direct evidence). Chỉ cần lời khai của vị nữ luật sư và DNA của hai cái bọc cao su và lời tuyên bố của Bộ Công An Việt Nam về hành động dâm ô của TS Vũ là toàn cáo trạng án sụp đổ.
Điểm 3: Pendent jurisdiction, có sự nghi ngờ là vụ án này là quyết định của lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, do đó toàn cáo trạng án sụp đổ.
Điểm 4: Prejudice, ai bất đồng ý kiến với nhà nước đều phải phạm tội.
Điểm 5: Quasi-judicial, nhân viên Bộ Công An đã xâm lấn rất nhiều lãnh vực tư pháp qua quá trình điều tra và công bố.
Điểm 6: Offence of specific intent, Bộ Công An dàn dựng vụ dâm ô để đưa đến buộc tội của điều 88 bộ luật hình sự, một dụng ý để cố tình gây ra hậu quả rõ ràng do đó toàn cáo trạng án sụp đổ.
Điểm 7: Honour and dignity, Điều 71 Hiến Pháp Công dân có quyền bất khả xâm phạm danh dự và nhân phẩm. Công an đã vi hiến khi dàn dựng vụ dâm ô đối với bị cáo do đó toàn cáo trạng án sụp đổ.
Điểm 8: Code of Ethics, phong cách và đạo đức của nhân viên khi dàn dựng vụ án sự kiện, kể cả chụp hình bị cáo ở trần.
Điểm 9: Exculpatory self-evidence: những chứng cứ đưa ra trong cáo trạng mà công an đã được biết trong quá khứ mà không có tác động đưa đến bị cáo xem như là bằng chứng không phạm pháp hoặc không nghĩ là cố ý phạm pháp.
Điểm 10: Perjury, Bộ Công An có những hành vi dối trá trong khi thi hành công vụ có thể mang trọng tội là tội bội thề và tất cả người lãnh đạo và nhân viên có thể bị truy tố trước pháp luật.
Điểm 11: Ambiguity, không rõ ràng trong thi hành pháp luật, Điều 69 Hiến Pháp Công dân có quyền tự do ngôn luận, Điều 8 Hiến Pháp cơ quan nhà nước (kể cả công an) phải lắng nghe ý kiến của dân, trong khi điều 88 bộ luật hình sự lại nói về tiên truyền chống phá một cách kém thực tiễn và rõ ràng. Nên nhớ Hiến Pháp là bộ luật cao nhất, do đó điều 88 bộ luật hình sự có thể vi hiến.
Điểm 12: Perverting the course of justice, một số nhân viên của Bộ Công An đã làm sai lệch tiến trình của công lý, như là dàn dựng chứng cớ, xâm phạm chỗ ở (dù là tạm) của công dân v.v…
Điểm 13: Persona Non Grata, những nhân viên chính phủ không đạt tiêu chuẩn để được chấp nhận trong toàn tiến trình điều tra để thành lập cáo trạng.
Điểm 14: Computer evidence, chứng cứ trên máy tính và mạng có thể không được thụ lý bởi vì chỉ cần sai một dấu phết là không được chấp nhận bằng chứng (admission of evidence) cho dù chính tác giả thừa nhận là bài viết của mình đi chăng nữa.
Điểm 15: Admission of opinion evidence, cáo trạng dựa trên bằng chứng là ý kiến tư duy do đó không có cái tòa nào trên thế giới chấp nhận bằng chứng như vậy. Nên nhớ ngay cả người trả lời cuộc phỏng vấn hay viết một bài viết là người nói lên “ý kiến của mình”.
Điểm 16: Public International Law, Nước Việt Nam đã chấp nhận là thành viên của Liên Hiệp Quốc thì phải tuân theo Công Pháp Quốc Tế.
Điểm 17: Public mischief, vụ dâm ô và hai cái bọc cao su đã dao động công dân Việt Nam và đưa đến sự nghi ngờ giả dối của vụ án một cách rộng rãi.
Điểm 18: Publicity, công an đã cố ý bôi nhọ bị cáo mà còn chính thức truyền thông rộng rãi sẽ không còn sự công bằng cho bị cáo nữa. Do đó vụ án không thể tiến hành được.
Điểm 19: Ex aequo et bono (Latin), toàn dân Việt Nam và cộng đồng thế giới không những mong đợi mà còn yêu cầu chính phủ Việt Nam thực thi nền tảng của công lý là công bằng, lẻ phải và lương tâm.
Điểm 20: Conscience of the Court, lương tri của toà án không thể tiếp tục vụ án qua quá nhiều những sai trái trong công lý. Nếu là một nước văn minh dân chủ thì chắc chắn chánh án sẽ vứt vụ án này ra khỏi tòa và sẽ có khối nhân viên chính phủ đi tù về tội perjury (Điểm 10) và tội perverting the course of justice (Điểm 12) bởi vì chính vị chánh án không muốn bị ở tù về hai tội trên. Ở Úc đã có một chánh án ở tù về hai tội trên.
Điểm 21: TS Hà Vũ xuất thân từ Viện đại học Sorbonne, những người xuất thân từ Viện đại học này sẽ biết là chính phủ Việt Nam ngồi trên Công Pháp Quốc Tế để tế thần một đồng nghiệp tiến sĩ luật của họ một cách rẻ tiền hạ cấp và trong số họ sẽ có những người có quyền lực hoặc ảnh hưởng đến những người có quyền lực sẽ tạo bất lợi cho đất nước Việt Nam. Đó là chưa kể những người khác từ những Viện đại học nổi tiếng giống như Sorbonne, thí dụ Harvard, Oxford, Cambridge v.v… sẽ tạo bất lợi cho đất nước Việt Nam. Chính phủ Việt Nam cũng muốn đi hàng hai với Trung Quốc và Hoa Kỳ và kể cả các nước khác, do đó vụ án này không nên xúc tiến vì cái thế của Việt Nam bây giờ là phải thêm bạn bớt thù.
Điểm 22: Cám ơn một người Việt yêu nước đã cung cấp cáo trạng của vụ án TS Cù Huy Hà Vũ cho Dân Luận, cám ơn Dân Luận đã thông báo cho mọi người Việt Nam trong và ngoài nước biết, và cám ơn Dân Luận cho đăng những bài phản biện lại cáo trạng này.
Điểm 23: Những chia sẽ trên đây nếu đến tay được TS Hà Vũ trong tù thì rất cám ơn. Cầu xin tổ tiên dân tộc nước Việt Nam (hai chữ này đầy đủ ý nghĩa không cần thêm thắt hàng nhập gắn thêm vào làm gì) phù hộ cho TS Hà Vũ sớm ra tù đoàn tụ với vợ con.
Điểm 24: Dân tộc Việt Nam có thể đoán đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam đang tính toán gì, nhưng dân tộc Việt Nam LUÔN LUÔN VÀ LUÔN LUÔN NHÌN THẤY NHỮNG GÌ mà đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam ĐÃ LÀM.
Mai Việt Tú
(Mai này nước Việt đẹp hơn)
Đêm 30 tết ngày 2 thàng 2 năm 2011
Tuesday, February 1, 2011
Thế giới có thật sự hòa bình?
Tác giả: Huỳnh Thục Vy
Hòa bình là khao khát muôn đời của nhân loại bởi lẽ con người luôn mong ước được sống trong một không gian đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của họ. Thế nhưng lịch sử nhân loại lại được viết nên bởi vô vàn những cuộc chiến tranh và bạo loạn đẫm máu. Nói về nguyên nhân cụ thể thì thực sự khó nhưng nôm na là bởi sự khác biệt về quyền lợi và giá trị của những cộng đồng người khác nhau.
Từ sau cuộc đại chiến thế giới lần hai, tuy nhân loại chưa phải kinh qua một cuộc cuộc chiến nào có tầm vóc tương đương nhưng cũng chưa bao giờ ngưng những chết chóc vì bạo loạn. Nếu không phải là chiến tranh lạnh Mỹ – Xô thì cũng là cuộc chiến vùng Vịnh; nếu không phải là cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 chấn động thế giới thì cũng là bạo loạn vùng Tân Cương làm tổn thương lương tâm nhân loại. Thật vậy, chúng ta cổ vũ cho nền hòa bình thế giới như là sự nhân danh và bênh vực cho lẽ phải và đạo đức. Thế nhưng nền hòa bình ấy có thể đạt được không chỉ với niềm tin của chúng ta?! Hỏi như thế cũng chính là đã trả lời. Một minh chứng gần đây nhất cho những mối bất ổn, sự sục sôi của lòng người, sự mất cân bằng của xã hội tồn tại tiềm tàng trên khắp các vùng đất khác nhau trên thế giới, đó là hai cuộc bạo động của người dân chống chính quyền độc tài ở Tunisia và Ai Cập. Thế giới này chưa hề thực sự hòa bình, ổn định.
Hầu như tất cả các chế độ độc tài trên thế giới từ chế độ Cộng sản Trung Quốc, chính quyền quân phiệt Miến Điện, các chế độ độc tài ở thế giới Ả Rập cho đến chính quyền cộng sản Việt Nam… đều thích hô to khẩu hiệu “hòa bình và ổn định”. Bởi lẽ nếu thế giới còn ổn định, người dân sống ở những nơi này còn cam chịu, an phận thì họ – những phe nhóm lãnh đạo độc tài sẽ tiếp tục hưởng vinh hoa phú quý trên đầu trên cổ người dân, vẫn tiếp tục hết thế hệ này đến thế hệ khác nắm quyền và tác oai tác quái. Họ tuyệt nhiên không muốn có sự xáo trộn chính trị nào. Còn người dân thì lại sợ hãi khi nghĩ đến “sự lật đổ chính quyền”. Thế nhưng như người Trung hoa cổ đã nói: “Vật cùng tất phản, sự cùng tất biến”. Mọi thứ luôn có một cái mốc, cái đỉnh điểm của nó. Và khi mọi đàn áp của chính quyền và sự sục sôi, bất bình của người dân đã lên đến đỉnh điểm thì…
Hòa bình ổn định chẳng thể giữ được nếu chỉ một mặt đàn áp bằng sức mạnh của quyền lực Nhà nước với lực lượng quân đội và công an, một mặt tuyên truyền về sự “bình ổn”. Sự ổn định của một Nhà nước và xã hội không phải được xây dựng dựa trên nền tảng độc quyền chính trị và sự sợ hãi không dám đối kháng của người dân. Kẻ nào nghĩ như thế nhất định sẽ gánh lấy hậu quả của chính sự ngu dốt của mình. Vì sự khao khát mang tính bản năng của con người chính là hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn cho cá nhân mình. Nó là luật tự nhiên, mọi ràng buộc có chủ ý của con người trái với luật tự nhiên sẽ dẫn đến thất bại. Lịch sử nhân loại đẫm máu nhưng cũng chính là những trang sử hào hùng ghi lại những cuộc đấu tranh không ngừng cho tự do. Con người muốn có các quyền tự do, bởi tự do sẽ chu cấp cho họ mọi phương tiện để sống một cuộc đời xứng đáng với phẩm giá của họ. Mọi sự tước đoạt quyền tự do sẽ là lời tuyên chiến với lương tri nhân loại và quy luật của Tạo Hóa.
Các chế độ độc tài luôn sợ hãi một cuộc khủng hoảng chế độ – đó là điều không bao giờ có trong tâm thức những nhà lãnh đạo ở các nước tự do dân chủ. Ở các nước dân chủ tiến bộ chỉ có thể có những cuộc khủng hoảng chính phủ chứ điều này không liên quan gì đến cả một chế độ, nó không làm suy suyển bất cứ giềng mối nào của xã hội. Bản thân chế độ dân chủ vốn có những đặc tính tạo ra sự ổn định và hài hòa một cách tự nhiên nhất. Còn ở các chế độ độc tài, nếu không giữ được ổn định nữa thì mọi thứ sẽ đổ ụp xuống trong phút chốc. Và hậu quả của việc này không chỉ có các chế độ độc tài phải gánh chịu mà nó còn ảnh hưởng nặng nề lên toàn xã hội trong một khoảng thời gian nhất định. Đó là điều chúng ta không bao giờ mong muốn. Tại sao chúng ta không thể làm khác đi? Tại sao chúng ta không tạo dựng một xã hội mà ở đó mọi sự đổi thay diễn ra trong hòa bình?
Chúng ta ngợi ca hòa bình, chúng ta “chống lại việc dân tộc này sử dụng vũ lực chống lại dân tộc khác chứ không chống lại việc chính phủ của một nước sử dụng vũ lực nhằm chống lại các công dân của chính nó”. Tôi vẫn nhớ mãi câu nói nổi tiếng này của Ayn Rand trong “Nguồn gốc của chiến tranh”. Bà nói điều này trong thời kỳ Chiến tranh lạnh nhưng đến hôm nay tác phẩm của bà vẫn giữ nguyên giá trị của nó. Thế giới ngày hôm nay vẫn tiếp tục cổ vũ cho hòa bình theo cái cách thiếu suy nghĩ như thế. Thế giới sẽ mãi mãi không bao giờ ngưng tiếng súng nếu ở đó vẫn còn có những phe nhóm muốn đi ngược chiều lịch sử, muốn chống lại luật tự nhiên, muốn ngăn cản sự tiến bộ của nhân loại.
Như một ý rất hay trong một bài viết của ông Hà Sĩ Phu rằng: ngoài kia một chiếc lá ngô đồng lìa cành, khắp nhân gian biết rằng mùa thu đã về (Ngô đồng nhất diệp lạc – Thiên hạ cộng tri thu). Hôm nay khắp thế giới chứng kiến thêm hai cuộc nổi dậy chống độc tài, lòng người hân hoan và hi vọng.
Những người cộng sản Việt Nam nghĩ gì, hay họ vẫn muốn níu kéo mùa hạ đã qua không gì giữ nổi?!
© Huỳnh Thục Vy
© Đàn Chim Việt
Monday, January 31, 2011
Nghe Chuyện Quê Nhà
Trần Khải
Một năm cũ sắp qua đi; một năm mới sắp tới... Chuyện quê nhà lúc nào cũng làm xao động lòng người.
Điều bi thảm cuối năm là hoàn cảnh hàng trăm công nhân phải đình công đòi tăng lương. Bản tin nhan đề “Hàng trăm công nhân Panasonic đình công” đăng ngày 28-1-2011 trên báo Dân Việt đã kể:
“...Ngày 27-1, hàng trăm công nhân Công ty TNHH Panasonic Home Appliance Việt Nam ở Lô B6 Khu công nghiệp Thăng Long (Đông Anh, Hà Nội) đình công đòi tăng lương dưới trời rét buốt.
Anh Nguyễn Tiến Bình – công nhân làm tại công ty cho biết: “Khu sản xuất tủ lạnh của đơn vị có khoảng gần 400 người đều bỏ việc đình công từ ngày 22-7, vì quá bức xúc với mức lương mà công ty trả cho công nhân. Mức lương hiện tại của công nhân mới vào làm trung bình chỉ 1,5 triệu đồng/người/tháng...
...Theo đơn kiến nghị của các công nhân Panasonic gửi lên Báo NTNN có yêu cầu 7 nội dung gồm: Tăng lương cơ bản và lương tháng 1; tăng lương theo mức trượt giá của thị trường; thưởng theo thâm niên và theo năng lực làm việc; chuyển phụ cấp cá nhân thành lương cơ bản; bữa ăn giữa ca phải đảm bảo 15.000 đồng/suất….”(hết trích)
Đó là công ty ngoaị quốc, đó là Panasonic nổi tiếng toàn cầu, và đó là ngay ở thủ đô Hà Nội... Công nhân đói, gần Tết vẫn phải đình công.
Trong khi đó, tận phía nam, tỉnh Kiên Giang “kêu gọi Việt kiều tham gia xây dựng giao thông nông thôn.” Đó là bản tin ngày Thứ sáu, 28-1-2011 trên báo Nhân Dân Điện Tử:
“Chiều tối ngày 28-1, tại khu đô thị 16ha, TP. Rạch Giá (Kiên Giang), hơn một nghìn Việt kiều và thân nhân đã có có buổi họp mặt mừng Xuân đầy ý nghĩa. Buổi họp mặt do Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh Kiên Giang tổ chức....
...Ông Lê Văn Hồng, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh Kiên Giang cho biết: Thời gian gần đây, đã có 31 tổ chức, cá nhân và bà con Việt kiều cam kết tài trợ với số tiền trên 58 tỷ đồng để xây dựng các công trình phục vụ dân sinh.
Theo ông Lê Văn Hồng, Liên hiệp lấy năm 2011 là năm “Đồng khởi giao thông nông thôn” và tiếp tục kêu gọi các tổ chức, cá nhân và bà con Việt kiều đóng góp xây dựng 40 cây cầu, 56km đường giao thông nông thôn mới cho các huyện An Minh, An Biên, Giồng Riềng, Giang Thành….”(hết trích)
Có vẻ như Bộ Giao Thông và Bộ Xây Dựng Cầu Đường sắp giaỉ thể. Hay đã giaỉ thể? Bởi vì chuyện xây cầu đẩy trách nhiệm sang cho Việt Kiểu quả nhiên là độc chiêu “mượn hoa cúng Phật” tuyệt vời.
Tuy nhiên, không phải Việt Kiều nào cũng đóng gop1 cầu đường. Đối với nhiều vị trí thức, đóng góp lời nói thẳng vẫn là cách thực sự có thể sửa chưã được “lỗi hệ thống,” một căn bệnh tận gốc mà ông Nguyễn Văn An (cựu chủ tịch quốc hội CSVN) đã chỉ ra trong cơ chế nhà nước CSVN.
Nhà văn Tưởng Năng Tiến trong bài viết nhan đề “ Ông Đinh Thế Huynh & Báo Nhân Dân” đã góp lời nói thẳng để chúc xuân quê nhà, trích:
“...Trên trang Dân Luận, đọc được hôm 13 tháng 01 năm 2011, có bài viết (Tuyên Ngôn Của Họ Đinh) xin được trích dẫn vài câu – đọc chơi cho biết:
“Tổng biên tập báo Nhân Dân ông Đinh Thế Huynh, tờ báo cơ quan phát ngôn của Đảng CSVN phát biểu trước thềm đại hội ĐCSVN toàn quốc lần thứ 11 rằng: Việt Nam không có nhu cầu đa nguyên, đa đảng...”
Tác giả bài viết – Người Buôn Gió – cũng đưa ra một tuyên ngôn khác, nghe có vẻ , mỉa mai :”Gia súc, gia cầm ở Việt Nam không có nhu cầu dùng cám khác ngoài Cám Con Cò!”
Ông Lái Gió – rõ ràng – có vẻ hậm hực về kiểu ăn nói (hàm hồ) của ông Lái Báo. Chuyện ăn cám của đám gia cầm và gia súc hay chuyện kết bè kết cánh, đàn đúm tụ tập (và ăn bẩn) của đám đảng viên của ĐCS Việt Nam ra sao – nói thiệt tình – tôi không bận tâm gì cho lắm. Tôi chỉ hơi băn khoăn về với lời chú thích, ghi bên dưới bức hình chụp ông Đinh Thế Huynh, của anh em Dân Luận thôi: “Tổng biên tập báo Nhân Dân, một tờ báo ít người đọc.”...
...Hồi thế kỷ trước, giáo sư Nguyễn Ngọc Lan – trong một cuộc phỏng vấn dành cho RFI – cũng đã (buồn rầu) cho biết rằng nhân dân không ai chịu đọc tờ báo này hết trơn hết trọi. Họ chỉ mua vì rẻ, và để dùng vào những việc khác thôi:
- “I was reminded of the time when there was a severe shortage of paper across the country. People literally lined up daily to buy the inexpensive Nhan Dan for household uses”(Robert Templer, Shadows And Wind. Penguin Group. New York: 1988, 165).
Dùng vô chuyện (thổ tả) gì khác thì dù có bị ra tấn – thảm thiết, đến chết thì thôi – ổng cũng nhất định không chịu nói! Người phương Tây thì khác. Họ không có thói quen ăn nói lịch sự, hay “bóng và gió” thế đâu. Tác giả cuốn sách dẫn thượng, Robert Templer – sau ba năm làm đặc phái viên cho A.F.P. tại Việt Nam, từ 1994 đến 1997 – đã thản nhiên tuyên bố :
“Dân Việt dùng báo Nhân Dân để đi cầu, chớ còn tin tức thì họ nghe từ chương trình phát thanh tiếng Việt của đài BBC, RFI và VOA.” (Vietnamese may have found Nhan Dan useful in the bathroom, but for information they turned to their radios and the Vietnamese language services of BBC, RFI and VOA).
Thảo nào, hồi vừa mới nhận chức, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã lật đật ban hành chỉ thị (37/2006/CT-TTg): “cấm tuyệt đối không cho phép sự có mặt của báo chí tư nhân.” Ai cũng tưởng là ổng lộ mặt độc tài, muốn bóp (nghẹt) quyền tự do ngôn luận – vốn đã nghẹt từ lâu – cho nó chết luôn. Sau mới vỡ lẽ ra là nguyên do chỉ vì chút tình ... đồng chí.
Ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ muốn giúp ông Đinh Thế Huynh giữ vững cái ghế Tổng Biên Tập, thế thôi. Chớ bị báo tư nhân cạnh tranh thì Nhân Dân chắc chết, chết chắc. Nó sẽ đi từ tình trạng “ít người đọc” đến hết người đọc (luôn) trong một khoảng thời gian rất ngắn. Sau đó, Tổng Biên Tập – tất nhiên – sẽ phải khăn gói về vườn, theo gương Thánh Gióng, vui thú ....điền viên...”(hết trích)
Tuyệt vời, quà xuân gửi về quê nhà cho cán bộ như thế là tuyệt vời. Chưa hết, nhà báo Bùi Tín trên trang blog ở đaì VOA cũng có một bài viết chúc xuân cho một tác giả trên tờ Quân Đội Nhân Dân.
Bài của nhà báo Bùi Tín có nhan đề “Một bài chính luận ngụy biện, nói lấy được!” có tríhc đoạn như sau:
“Tôi rất mừng khi đọc trên báo Quân đội Nhân dân trong nước số ra ngày chủ nhật 23-1-2011 trong mục “Chính luận” bài của tác giả Xuân Bằng với đầu đề là: “Cái nhìn siêu thực về một hiện tượng sống động”, nhằm tranh luận với bài viết của tôi trên VOA về Đại hội XI của đảng Cộng sản Việt Nam: “Nội dung siêu thực, nhân sự lên gân, đe dọa”.
Tôi vui vì bài báo của tôi đã được chú ý, được phản hồi từ trong nước, và có thể mở ra một cuộc tranh luận công khai bổ ích và lý thú về kết quả của Đại hội XI vừa kết thúc. Bài này là để đáp lễ ông Xuân Bằng.
Tôi cho rằng nội dung của 3 ngày thảo luận các văn kiện dự thảo nhìn chung là xa rời cuộc sống, tránh né những vấn đề lý luận và thực tiễn nóng bỏng nhất, và tôi vẫn cho đó là một nhận định chính xác, phản ánh đúng sự thật.
Tại sao không mở ra cuộc tranh luận sôi nổi lý thú vể vấn đề liệu chủ nghĩa Marx – Lenin còn cần thiết, còn có giá trị hay không? về chủ nghĩa xã hội kiểu Mác-xít còn cần thiết hay không? về chế đô độc đảng có ưu việt hơn chế độ đa đảng hay không? và có nên coi sở hữu quốc doanh là then chốt và chủ đạo trong nền kinh tế hay không?
Đó là những vấn đề nóng bỏng, thiết thực, có nhiều ý kiến khác nhau, trái ngược nhau, sao không nêu lên để thảo luận?
Nhà báo Xuân Bằng có thấy trong cả 27 bản tham luận ở hội trường, đã có đại biểu nào nêu lên vấn đề có nên khai thác bauxite trên vùng Tây Nguyên, có nên làm đường xe lửa cao tốc lúc này, giải quyết quyền sở hữu ruộng đất của nông dân ra sao, hay vấn đề bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ lãnh thổ, hải đảo quốc gia trong cuộc khủng hoảng ở vùng biển Đông ra sao hay không?
Tránh né một loạt vấn đề thực tiễn quan trọng cực lớn như vậy thì không phải là quay lưng lại với cuộc sống thật, không phải là siêu thực hay sao?(...)
...Và kỳ lạ nhất là thêm một ông Trung tướng Công an Trần Đại. Thêm một nhân vật chuyên chính trong Bộ Chính trị, bên cạnh Đại tướng Công an Lê Hồng Anh, để làm gì vậy? Thế không phải là “lên gân, đe dọa”, như tôi nhận định hay sao, thưa ông?
Trong Trung ương vừa bầu, có 1 đại tướng bộ trưởng và 7 thứ trưởng công an, chưa kể 1 tướng công an làm Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao. Bộ Quốc phòng củng không có nhiều thứ trưởng là ủy viên Trung ương như thế. Các Bộ Kinh tế Công thương, Lao động, Tài nguyên-Môi trường, Văn hóa, Giáo dục, Khoa học Công nghệ lại càng hiếm, vắng.
Giữa thời kỳ xây dựng hoà bình, thế không phải là lên gân, là đe dọa cả xã hội đang khao khát tự do, dân chủ và nhân quyền, đang thật lòng mong muốn sớm hội nhập với xã hội dân chủ văn minh hay không? Thế mà không siêu thực sao?”(hết trích)
Thế nên, giáo sư Nguyễn Hưng Quốc cũng trên blog ở VOA, qua bài viết “Đaị hội xong rồi... thì sao?” đã nhận xét:
“...Nhưng cơ chế không thể thay đổi nếu ý thức hệ không thay đổi. Mà khi cơ chế và ý thức hệ không thay đổi thì những thay đổi về nhân sự chẳng có ý nghĩa gì cả.
Nó chỉ giống việc thay đổi diễn viên trong một màn kịch cũ.
Ở Việt Nam, đó lại là một màn kịch dở ẹc.”(hết trích)
Thế mới biết, xuân mới, năm mới... nhưng mọi chuyện trong nhà nước CSVN vẫn là ít người đọc, nói theo nhà văn Tưởng Năng Tiến; vẫn là “siêu thực, lên gân, đe dọa...” nói theo nhà báo Bùi Tín; và là “màn kịch dở ẹc,” nói theo giáo sư Nguyễn Hưng Quốc.
Và rồi công nhân vẫn phải đình công ngaỳ cận T
Trần Gia Phụng: Lịch Sử Phán Xét
(Trình bày trong Lễ Tưởng niệm do Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH Ontario tổ chức tại Toronto ngày 29-1-2011)
Trần Văn Hương sinh năm 1902 tại làng Long Hồ, quận Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long. Tuy gia đình khó khăn, nhưng nhờ học giỏi, nên sau khi đỗ bằng thành chung (diplôme d’études primaries supérieures indochinoises) tại trường Trung học Mỹ Tho, ông ra Hà Nội theo học trường Cao đẳng Sư phạm. Sauk hi tốt nghiệp, ông trở về dạy tại Trung học Mỹ Tho, rồi làm đốc học Tây Ninh năm 1945. Khi Việt Minh (VM) cướp chính quyền, VM cử ông Hương làm chủ tịch Ủy ban hành chánh Kháng chiến tỉnh Tây Ninh, nhưng chỉ trong thời gian ngắn, ông từ chức, không hợp tác với VM và cũng không hợp tác với Pháp. Sau đó, Trần Văn Hương đến Sài Gòn sinh sống, bán thuốc cho “Pharmacie Kim Quan”, gần chợ Bến Thành. (Tài liệu của Hứa Hoành)
Sự nghiệp chính trị của Trần Văn Hương có thể tóm lược như sau:
- Hai lần làm đô trưởng Sài Gòn. Lần thứ nhất ngày 27-10-1954 dưới thời thủ tướng Ngô Đình Diệm. Lần thứ hai ngày 9-9-1964 dưới thời thủ tướng Nguyễn Khánh.
- Hai lần làm thủ tướng VNCH. Lần thứ nhất, từ ngày 4-11-1964 đến 27-1-1965, dưới thời quốc trưởng Phan Khắc Sửu. Lần thứ hai làm thủ tướng từ ngày 25-5-1968 đến 1-9-1969 dưới thời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, trong nền Đệ nhị Cộng hòa.
- Phó tổng thống VNCH. Ngày 29-8-1971, Trần Văn Hương ứng cử phó tổng thống trong liên danh của Nguyễn Văn Thiệu. Liên danh nầy độc diễn, được tuyên bố đắc cử ngày 3-10-1971 và nhận chức ngày 31-10-1971.
- Tổng thống VNCH. Ngày 21-4-1975, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, phó tổng thống Trần Văn Hương lên thay theo hiến định.
Khi nhận chức, tổng thống Trần Văn Hương 73 tuổi. Ông biết tình hình đang hết sức khó khăn, hầu như không giải quyết được, nên tổng thống Thiệu phải từ chức. Ngoài ra, tổng thống Hương cũng biết rằng ông chỉ là con cờ đệm; vai trò của ông chỉ có tính cách tạm thời theo hiến định, để chuyển giao cho một nhân vật khác mà lúc đó người ta lầm tưởng là có thể đứng ra thương thuyết với phía CSVN. Đó là đại tướng Dương Văn Minh. Vì vậy, tổng thống Hương trao quyền cho quốc hội quyết định việc chọn lựa người thay thế và tối 27-4-1975, quốc hội quyết định chọn đại tướng Dương Văn Minh lên làm quyền tổng thống VNCH. Cuối cùng, như ai cũng biết, lúc 10 G. 24 phút sáng 30-4-1975, quyền tổng thống Dương Văn Minh đọc nhật lệnh cho QĐVNCH buông súng, ngưng chiến đấu. Thế là hết.
Đúng như Trần Văn Hương nói trước, sau khi cưỡng chiếm miền Nam, CSVN bắt giam vô thời hạn, đày ải hàng triệu quân nhân, công chức lên miền rừng thiêng nước độc. Riêng về phần Trần Văn Hương, CSVN sợ dư luận thế giới, nên đề yên cho ông về sống tại căn nhà cũ của ông trong một con hẻm trên đường Phan Thanh Giản, Sài Gòn cho đến khi từ trần ngày 27-1-1982, nhằm ngày Mồng 3 Tết Nhâm Tuất, thọ 82 tuổi.
Ngày 30-4-1975 là ngày tang chung của dân tộc Việt Nam, ngày QUỐC HẬN cho cả nước. Trong cái tang chung của đất nước, người Việt Nam, nhất là cựu quân nhân Quân đội VNCH, không bao giờ quên những người đã hy sinh thân mạng, chết theo vận nước đen tối, nhất là những vị tướng lãnh, sĩ quan theo gương của danh tướng Trần Bình Trọng, “thà làm quỷ nước Nam, không thà làm vương đất Bắc”. Nổi tiếng nhất, chúng ta được biết là đại tá Hồ Ngọc Cẩn, chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, chuẩn tướng Lê Văn Hưng, thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, thiếu tướng Phạm Văn Phú, chuẩn tướng Trần Văn Hai.
Đại tá Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24-3-1938, học Trường Thiếu sinh quân Gia Định năm 1951, rồi Liên trường Võ khoa Thủ Đức năm 1961. Rời trường Thủ Đức, chuẩn úy Hồ Ngọc Cẩn học tiếp khóa huấn luyện Biệt Động Quân, và về phục vụ tại Tiểu đoàn 42 BĐQ, thăng dần lên trung úy và làm tiểu đoàn phó TĐ nầy. Lên đại úy năm 1966, Hồ Ngọc Cẩn được chuyển đi làm tiểu đoàn trưởng TĐ 1 Trung đoàn 33, SĐ 21 BB. Sau vụ Tết Mậu Thân (1968), ông thăng thiếu tá, rồi lên trung tá năm 1970. Ông được cử giữ trung đoàn trưởng TĐ 15, SĐ 9 BB. Trong chức vụ nầy, ông đã hành quân giải cứu An Lộc năm 1972. Cuối năm 1973, ông giữ chức tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Chương Thiện.
Khi đại tướng Dương Văn Minh ra lệnh buông súng, đại tá Hồ Ngọc Cẩn vẫn tiếp tục chiến đấu đến viên đạn cuối cùng tại tiểu khu Chương Thiện. Ông bị CS bắt và đưa ra xử bắn tại Sân vận động Cần Thơ ngày 14-8-1975.
Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ sinh ngày 22-8-1933 tại Sơn Tây, Bắc Việt. Năm 1951, ông theo học khóa 2 Trường Võ Bị Địa Phương ở Huế (đóng ở Đập Đá), và tốt nghiệp với cấp bậc chuẩn úy. Dần dần, ông thăng lên thiếu tá năm 1965. Sau cuộc tử thủ An Lộc trong Mùa hè đỏ lửa năm 1972, đại tá Lê Nguyên Vỹ được cử làm tư lệnh phó sư đoàn 21 Bộ Binh, dưới quyền chuẩn tướng Lê Văn Hưng.
Sau đó, đại tá Vỹ được cử đi tu nghiệp khóa chỉ huy và tham mưu cao cấp tại tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ. Trở về Việt Nam, đại tá Vỹ được thăng chuẩn tướng và giữ chức tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ Binh.
Ngày 30-4-1975, sau khi nghe nhật lệnh của đại tướng Dương Văn Minh, quyền tổng thống VNCH, kêu gọi quân đội buông súng, chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ ra lệnh cho binh sĩ giải tán. Phần ông, ông dùng súng tự sát tại sân cờ Bộ Tư Lệnh SĐ 5 BB ở Lai Khê, Bình Dương.
Chuẩn tướng Lê Văn Hưng sinh ngày 27-3-1933 tại Hóc Môn (Gia Định). Ông tốt nghiệp khóa 5 (khóa Vì Dân) Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức vào tháng 1-1955. Ông rất nổi tiếng trên chiến trường đồng lầy miền tây nam, thăng thiếu tá năm 1966, lên trung tá năm 1967 và đại tá năm 1968. Năm 1970, ông được bổ nhiệm là tỉnh trưởng Phong Dinh (Cần Thơ), rồi tư lệnh Sư đoàn 5 BB năm 1971.
Năm 1972, Lê Văn Hưng cương quyết tử thủ tại An Lộc và cuối cùng đẩy lui cuộc tấn công của CSVN. Ông được thăng chuẩn tướng, giữ chức tư lệnh phó Quân khu III. Năm sau, ông được bổ nhiệm làm tư lệnh SĐ 21 BB, rồi thăng tư lệnh phó Quân đoàn IV, dưới quyền thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam. Dầu CSVN đã vào đến Sài Gòn, chuẩn tướng Lê Văn Hưng và thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam cố gắng lập mặt trận miền Tây chống CSVN, nhưng thất bại. Lê Văn Hưng dặn dò vợ con, từ biệt thuộc cấp, rồi vào văn phòng tự sát lúc 8G 45 phút tối 30-4-1975.
Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, nguyên quán làng An Cựu, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, sinh tại Đà Nẵng ngày 23-9-1927. Năm 1953, sau khi rời Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, ông gia nhập binh chủng Nhảy Dù tháng 10-1953.
Năm 1965, Nguyễn Khoa Nam thăng thiếu tá và giữ chức tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 ND. Năm 1967, ông lên trung tá và được bổ nhiệm lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 ND. Cuối năm 1967, ông lên đại tá. Năm 1969, Nguyễn Khoa Nam được chuyển làm tư lệnh Sư đoàn 7 BB. Tháng 11 cùng năm, ông được thăng chuẩn tướng. Năm 1972 Nguyễn Khoa Nam thăng thiếu tướng. Tháng 11-1974, ông được cử giữ chức tư lệnh Quân đoàn IV và Vùng IV Chiến thuật.
Khi Sài Gòn bị CSVN tràn ngập, thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam cùng chuẩn tướng Lê Văn Hưng dự tính lập phòng tuyến chống cộng tại miền Tây, nhưng thất bại. Cuối cùng, trong lễ phục trắng của QĐVNCH, thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam tự sát tại bộ chỉ huy lúc 7:30 sáng 1-5-1975.
Thiếu tướng Phạm Văn Phú sinh năm 1925, tại Hà Đông, tốt nghiệp khóa 6 Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt năm 1953 và gia nhập binh chủng Nhảy Dù. Trong trận Điện Biên Phủ, ngày 15-4-1954, trung úy Phạm Văn Phú được thăng đại úy tại mặt trận.
Sau trận Điện Biên Phủ, đại úy Phú bị VM cầm tù và được trao trả sau hiệp định Genève (20-7-1954). Đại úy Phú tiếp tục phục vụ trong QĐVNCH. Năm 1962, Phạm Văn Phú thăng thiếu tá, giữ chức Liên đoàn trưởng Liên đoàn Quan sát 77 Lực lượng Đặc biệt. Năm 1964, ông thăng trung tá, giữ chứ tham mưu trưởng LLĐB. Hai năm sau, ông thăng đại tá và chuyển qua là tư lệnh phó Sư đoàn 2 BB, rồi tư lệnh phó Sư đoàn 1 BB. Năm 1968, đại tá Phú được cử giữ chức tư lệnh Biệt khu 44 gồm các tỉnh biên giới Việt Miên. Năm sau ông được thăng chuẩn tướng. Năm 1970, ông trở về làm tư lệnh LLĐB, rồi làm tư lệnh SĐ 1 BB và thăng thiếu tướng năm 1971. Tháng 11-1974, thiếu tướng Phạm Văn Phú thay tướng Nguyễn Văn Toàn giữ chức tư lệnh Quân đoàn II Vùng II Chiến thuật.
Sau khi Ban Mê Thuột thất thủ vào tháng 3-1975, ông được lệnh rút quân từ cao nguyên vầ đồng bằng. Cuộc lui quân bị thảm bại. Ngày 29-4-1975, thiếu tướng Phú uống thuốc độc quyên sinh và tuẫn tiết vào trưa hôm sau.
Chuẩn tướng Trần Văn Hai sinh năm 1929 tại Cần Thơ, tốt nghiệp khóa 7 Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt năm 1951, cấp bậc thiếu úy. Năm 1960, đại úy Trần Văn Hai được gởi tu nghiệp khóa Tham mưu cao cấp tại Hoa Kỳ. Năm 1963, ông được thăng thiếu tá, giữ chức chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Dục Mỹ. Năm 1965, ông Hai lên trung tá và làm tỉnh trưởng Phú Yên.
Sau biến cố Tết Mậu Thân (1968), Trần Văn Hai lên đại tá và được cử giữ chức tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia thay thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan. Năm 1970, Trần Văn Hai lên chuẩn tướng và được cử giữ tư lệnh Biệt khu 44, rồi năm sau, làm chỉ huy trưởng binh chủng Biệt Động Quân. Năm 1972, Trần Văn Hai phụ trách tư lệnh phó hành quân của Quân đoàn II đặc trách biên phòng. Năm 1973. ông trở thành chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Lam Sơn kiêm chỉ huy trưởng Huấn khu Dục Mỹ Quân đoàn II. Năm 1974, ông thay thế thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, làm tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh.
Chiều ngày 30-4-1975, được lệnh của quyền tổng thống Dương Văn Minh, chuẩn tướng Trần Văn Hai cho binh sĩ trở về đời sống dân sự, ông vào phòng chỉ huy ở Mỹ Tho, uống độc dược quyên sinh lúc 5G.
Trên đây là tóm lược sự nghiệp của tổng thống Trần Văn Hương và sáu sĩ quan cao cấp đã tuẫn tiết ngày 30-4-1975. Thật ra, trong suốt cuộc chiến vừa qua, không biết bao nhiêu người đã hy sinh vì lý tưởng tự do dân chủ. Ngay trong ngày 30-4-1975, rất nhiều người đã tuẫn tiết, từ hàng binh lên tới cấp tướng, mà càng ngày người ta càng phát hiện, như mới đây vụ ở Quy Nhơn, ở Huế…
Những vị nầy đã chọn cái chết, hoặc ở lại chịu đựng với đồng đội mà không ra đi khi CS tràn vào, dầu họ có điều kiện để ra đi. Ví dụ trường hợp tổng thống Trần Văn Hương. Trước khi Sài Gòn sụp đổ, ngày 28-4-1975, đại sứ Pháp cho người mời tổng thống Hương di tản. Tổng thống Hương trả lời: “Nếu trời hại, nước tôi mất, tôi xin thề là sẽ ở lại đây và mất theo nước mình.”
Sau đó, ngày 29-4-1975, đích thân đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin, cùng một viên tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp, đến gặp và mời Trần Văn Hương ra đi. Hai bên nói chuyện bằng tiếng Pháp. Ông Hương trả lời: “Thưa Ngài Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và dứt khoát ở lại với nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng Cộng sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau khổ tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cảm ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.” Sau khi nghe Trần Văn Hương trả lời, trong đó có câu “Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó” (Les États Unis ont aussi leur part de responsabilité…), , đại sứ Martin nhìn trân trân vào ông Hương, rồi ra đi mà chẳng bắt tay nhau. (Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa 10 ngày cuối cùng, California: Nxb. Nam Việt, 2006, tt. 352-355.).
Đó là tư cách và khẩu khí một tổng thống, một nhà lãnh đạo. Về phía các quân nhân, có lẽ nhiều người đã đọc những bài tường thuật về sự tuẫn tiết của các vị anh hùng nầy. Ở đây, xin nhắc lại những lời cuối cùng của đại tá Hồ Ngọc Cẩn.
Sau khi chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đại tá Hồ Ngọc Cẩn bị bắt tại bộ chỉ huy tiểu khu Chương Thiện. Ngày14-8-1975, ông bị CS đưa đi xử tử tại Sân vận động Cần Thơ. Trước khi hành hình, quân CS hỏi ông có nhận tội không, thì đại tá Hồ Ngọc Cẩn trả lời như sau: “Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không hạ nhục các anh như ác anh bôi lọ tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội. Các anh không có ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phán xét các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy. Các anh muốn giết tôi, các anh cứ giết đi. Không cần phải bịt mắt.” Sau đó, đại tá Hồ Ngọc Cẩn hô lớn: “Đả đảo cộng sản! Việt Nam Cộng Hòa muôn năm!” (Theo lời kể của hai nhân chứng: cựu trung tá Bùi Văn Địch (Berlin, Đức) và bà Vũ Thị Quỳnh Chi (Marseille, Pháp).
Tưởng niệm những anh hùng đã tuẫn tiết ngày 30-4-1975, cũng là cơ hội cho chúng ta ôn lại lịch sử những ngày tháng đen tối trên đất nước chúng ta. Chế độ chúng ta sụp đổ không phải vì lãnh đạo hay vì quân đội chúng ta bất lực hay bất tài như nhiều người đổ lỗi. Phải công bình mà thấy rõ rằng, sau khi người Mỹ và Đồng minh rút quân vào năm 1972, quân đội VNCH đơn độc chiến đấu chống CSVN rất hữu hiệu trong các năm 1972, 1973, 1974 nhờ lúc đó hỏa lực còn đầy đủ. Chỉ khi bị cắt viện trợ, thiếu đạn dược, quân đội VNCH mới bắt đầu lúng túng và thất thế.
Có thể nói chế độ chúng ta bị bức tử từ cả hai thế lực tư bản và CS. Ai cũng biết trong khi Hoa Kỳ chấm dứt viện trợ, thì CSQT giúp đỡ tối đa cho Bắc Việt để Bắc Việt tấn công chúng ta.
Chúng ta nhìn lại quá khứ không phải để trách cứ quá khứ, hay để đổ tội cho ai, mà nhìn lại quá khứ để từ đó rút ra kinh nghiệm cho tương lai. Sau năm 1975, bản chất độc tài toàn trị, phản dân, bán nước của CSVN đã lộ quá rõ trước mắt toàn dân. Ai ai cũng thấy rõ điều nầy. Ngay cả những cán bộ CS cũng sáng mắt ra vì điều nầy. Đại tá Hồ Ngọc Cẩn đã nói đúng: “Lịch sử sẽ phán xét các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy.”
Ngày nay, tuy chỉ mới hơn 35 năm, LỊCH SỬ ĐÃ PHÁN XÉT. Chân lý đứng về phía lý tưởng Quốc gia Dân tộc. Chân lý đứng về phía Tự do Dân chủ. Bởi vì không bao giờ dân tộc Việt Nam chấp nhận một chế độ phản quốc như chế độ CSVN hiện nay, cam tâm bán đứng đất đai, biển cả mà tiền nhân đã tốn bao nhiêu xương máu tạo dựng và bảo vệ. Trước tình hình hiện nay, xin mọi người hãy rút kinh nghiệm từ quá khứ, để cùng nhau tiếp tục cuộc tranh đấu cho tương lai.
Có người hỏi, thời còn binh hùng tướng mạnh mà chúng ta không thành công, bây giờ làm sao mà tranh đấu? Câu trả lời rất đơn giản: Có người nào muốn CS ngự trị mãi trên đầu trên cổ dân tộc Việt Nam hay không? Nếu không muốn, thì chúng ta phải tiếp tục tranh đấu. Dĩ nhiên cuộc tranh đấu ngày nay không phải bằng võ khí đạn dược, mà bằng văn hóa và chính trị, bằng dân chủ pháp trị. Cuộc tranh đấu bằng văn hóa và chính trị chắc chắn cũng cam go và lâu dài không kém bằng cuộc tranh đấu võ lực trong thời gian trước năm 1975. Có thể còn chậm chạp hơn là đàng khác. Chúng ta phải tiếp tục tranh đấu để làm ngắn bớt đời sống của CSVN, để làm giảm tuổi thọ của CSVN trên quê hương chúng ta. Chuông không gõ không kêu, đường không đi không đến. Đời chúng ta không thành công thì đời con cháu chúng ta sẽ thành công.
Xin tất cả hãy tiếp tay với những người trong nước, đòi hỏi xóa bỏ độc tài, đòi hỏi dân chủ, bởi vì dân chủ là con đường duy nhất để xây dựng tương lai đất nước. Chắc chắn lẽ phải sẽ tất thắng. Chắc chắn dân chủ sẽ tất thắng.
Trên bước đường tranh đấu cho tương lai dân chủ Việt Nam, các Hội Cựu Quân Nhân Hải ngoại giữ một vai trò rất quan trọng, không kém gì quân đội VNCH trước năm 1975. Xin hết lời ca ngợi các Hội CQN Hải ngoại đã giữ lửa trên 35 năm nay. Xin chúc các Hội CQN vững tin nơi chính mình, nơi lý tưởng của mình, đừng mệt mỏi vì đường dài hun hút, đừng chao đảo vì những tuyên truyền xuyên tạc của CSVN. Đồng ý rằng trong cuộc sống mới tại quê hương mới, mọi người đều cần có thời gian giải trí sau những ngày làm lụng mệt nhọc, nhưng bên cạnh những cuộc vui chơi giải trí, xin đừng quên mình là cựu quân nhân, đừng quên mình đã từng mang trên người 6 chữ vàng TỔ QUỐC – DANH DỰ – TRÁCH NHIỆM.
Vâng, 6 chữ vàng TỔ QUỐC – DANH DỰ – TRÁCH NHIỆM là tiếng gọi thiêng liêng cao cả, suốt đời hướng dẫn chúng ta đi tới mục đích cuối cùng, làm tròn nhiệm vụ với đất nước, với sự tin tưởng của quần chúng, với sự hy sinh anh dũng của tiền nhân, nhất là sự hy sinh của những người đã tuẫn tiết ngày 30-4-1975.
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 29-1-2011)
