Translate

Thursday, September 16, 2010

Xung quanh phim “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long”: hai bài của Đoan Trang

Theo Bauxite VietNam

Bài 1: Kiến trúc nguy nga, trang phục lộng lẫy kiểu… Tàu

  • Đoan Trang

Sau khi Pháp luật TP.HCM đăng bài phản ánh về việc phim “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long” mang đậm yếu tố Trung Hoa, độc giả Trần Hùng Phương đã có phản hồi (trích): “… rất cảm ơn các nhà sử học đã nghiên cứu rất nhiều về lịch sử Việt Nam. Nhưng các ông có thể nào ngồi lại cùng nhau cho chúng tôi biết rằng lịch sử Việt Nam là như thế nào không? Các ông ngồi đó mà bàn cãi với nhau việc này, việc nọ thì các nhà làm phim sao mà dám làm nhiều về phim cổ trang?... ”.

Nhiều khán giả của phim cũng băn khoăn, vậy nếu phim mang đậm chất Việt, thì chất Việt phải như thế nào? Đi xa hơn nữa, trường hợp của “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long” đặt ra vấn đề: Cần làm phim lịch sử ở Việt Nam ra sao để không cho ra những sản phẩm vừa tốn kém vừa bị phản ứng kịch liệt như thế này.

“Đường tới thành Thăng Long” quá nguy nga

Ấn tượng nổi bật từ những hình ảnh của phim “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long” (mà những đoạn hấp dẫn nhất hoặc đặc trưng nhất đã được đưa vào trailer quảng cáo) là sự hoành tráng của bối cảnh và sự ấm áp, rực rỡ của trang phục Việt giai đoạn Đinh - Tiền Lê – Lý (từ năm 980 khi Lê Hoàn lên ngôi đến năm 1010 Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long).

Nói về bối cảnh, cung điện trong phim có tòa tới 2-3 tầng, lợp ngói sắc xanh xám. Thế mà, theo mô tả trong những tư liệu sớm nhất của người phương Tây về Thăng Long (thế kỷ 17), hầu hết nhà ở kinh thành thời đó là nhà tranh nứa lá, mái rạ. Giáo sĩ Baldinotti viết năm 1686: “Vì nhà bằng tre nứa nên Thăng Long hay bị hỏa hoạn, có lần thiêu rụi tới năm, sáu nghìn nóc nhà, song nhờ Kẻ Chợ vốn có nhiều hồ ao nên dập tắt lửa dễ dàng và chỉ bốn, năm hôm sau, nhà cửa lại dựng lên san sát như cũ”. Cho tới thế kỷ 19, nhà cửa trên các phố ở Hà Nội vẫn chủ yếu bằng tre nứa lá (xem ảnh) và chỉ có một tầng, không ngói.

Không có sử liệu về kiến trúc thời Lê Hoàn - Lý Công Uẩn, song các nhà làm phim hoàn toàn có thể suy luận rằng vào thế kỷ 10-11, kỹ thuật xây dựng của nước ta rất khó tạo ra được những tòa nhà gạch 2-3 tầng lợp ngói. Ngay cả đình, chùa bằng gỗ cũng chỉ có một tầng trên mặt đất và một gác chuông trên “tầng” hai. Về mái ngói, mãi tới cuối đời Lê, đầu đời Nguyễn, nước ta mới có ngói lợp tráng men (và kỹ thuật tráng men này đã là một bước tiến rất lớn của nghề gốm). Theo ông Phạm Hoàng Quân, chuyên gia cổ sử Trung Quốc và Việt Nam, do tráng men óng ánh nên nó được gọi là ngói lưu ly. Một số công trình ở kinh thành Huế thời Nguyễn đã được lợp thứ ngói rất xa xỉ này. Có hai loại ngói chính là thanh lưu ly (màu xanh) và hoàng lưu ly (màu vàng).

Vậy phải “phục dựng” khung cảnh thế kỷ 10-11 ra sao? Họa sĩ Tú Ân, một người từng bỏ nhiều năm tìm hiểu kiến trúc, trang phục cổ Việt Nam để minh họa truyện tranh, suy đoán rằng nhà cửa của dân ngày ấy là nhà tranh vách đất, mái rạ, còn “đình, chùa và cung điện có thể xây bằng gỗ, rừng Việt Nam ngày ấy chắc còn nhiều gỗ quý”, hoặc gạch (kỹ thuật làm gạch của người Trung Quốc đã được lưu truyền sang Việt Nam từ thời Bắc thuộc). Điều chắc chắn là ở vào thời Đinh - Tiền Lê - Lý, cung điện, nhà cửa của Việt Nam chưa thể lợp ngói xanh, cao tới 2-3 tầng như vậy.

Chưa kể, địa thế Hoa Lư thời ấy nhỏ hẹp với đồi núi, sông ngòi, Thăng Long cũng vẫn còn là đất trũng, nhiều ao tù, không thể xây dựng trên đó những cung điện nguy nga, hoành tráng như bộ phim đã mô tả. Ngay cả ở châu Âu, nơi vốn được xem là tiến nhanh hơn châu Á về cấp độ văn minh, các công trình lớn cũng phải trải qua vài trăm năm mới hình thành.

… và quá lộng lẫy

Về phục trang, điều gây ấn tượng là sự ấm áp, dày dặn và màu sắc rực rỡ của trang phục trong phim “Lý Công Uẩn”. Các chuyên gia lịch sử thời trang Việt, nếu được hỏi ý kiến, đều sẽ cho biết rằng ngành may mặc của Việt Nam đã phải trải qua “một chặng đường tiến hóa” dài đến mức nào, từ chất liệu tới kỹ thuật. Buổi đầu phát triển, chất liệu của chúng ta đã chỉ là vải thô, dệt rất thưa (do kỹ thuật dệt còn kém), với những màu nhuộm đơn giản: đen, nâu, chàm, tím…, sử dụng những nguyên liệu tạo màu dễ kiếm như vỏ cây, rễ cây, hoa lá…

Đập vào mắt khán giả là những chiếc mũ đội đầu có “mái che” rất giống mũ của… Tần Thủy Hoàng. Các nhà làm phim lập luận rằng vua nước ta rập khuôn trang phục của hoàng đế Trung Hoa. Tuy nhiên, theo ông Phạm Hoàng Quân, rất khó có khả năng Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ “bệ nguyên” mũ của vua Trung Quốc: “Triều đình Trung Hoa không khi nào chịu cho vua một nước “đàn em” mặc vương phục và đội mũ y hệt vua của họ, vì với họ, mũ mão của hoàng đế là để thể hiện uy quyền của “thiên tử”. Vua nước ta có muốn sử dụng theo cũng phải chế lại”.

Bà Đoàn Thị Tình, họa sĩ thiết kế chính của phim, cho biết bà đã tham khảo nhiều sử liệu, trong đó có Lịch triều Hiến chương Loại chí (Phan Huy Chú) để thiết kế phục trang. Nhưng nếu theo đúng sách này, thì ở mục “Quy chế về mũ áo của đế vương” (thuộc phần Lễ nghi chí) có chép:

“Lê Đại Hành lên ngôi, mặc áo long cổn, về sau mặc áo phần nhiều dùng vóc đỏ, mũ sức trân châu.

Lý Thái Tông mới chế thứ mũ gọi là ‘bát giác tiêu dao’ bằng vàng (tên mũ, lối mũ ấy nay không khảo cứu được).

Lời xét của Phan Huy Chú:

Từ đời Lý, đời Trần trở về trước, mũ áo của vua thế nào, không thể khảo cứu được. Xem trong sử có hai thứ kể trên, tạm chép ra đây để biết đại khái”. (bản dịch của Viện Sử học)

Điều đó có nghĩa là mũ của vua Lê, vua Lý Thái Tổ thế nào, Phan Huy Chú cũng không biết được, nhưng khả năng “bê nguyên xi” chiếc mũ “Tần Thủy Hoàng” của Trung Quốc là rất thấp.

Cũng sách của Phan Huy Chú chép, phần về phẩm phục của các quan: “Lý Thánh Tông năm Chương Thánh thứ nhất (1059), vua ngự điện Thủy Tinh, các quan đến chầu, bắt phải đội mũ đi hia mới cho vào chầu. Nghi lễ vào chầu đủ cả mũ hia bắt đầu từ đó”. Chính vị sử gia đã có lời xét về phẩm phục các quan trước đó rằng như thế “đủ thấy là sơ sài”.

Một chi tiết nữa là những họa tiết thêu trên áo vua quan, hoàng hậu. Nếu thừa nhận ông tổ nghề thêu là Lê Công Hành, đi sứ sang Trung Quốc vào đời Lê Thái Tông (trị vì từ 1433-1442) thì ta phải thấy rằng vào thời Tiền Lê - Lý Công Uẩn, áo xống của người triều đình chưa thể thêu thùa lộng lẫy như thế.

Các họa sĩ thiết kế và cố vấn mỹ thuật của phim đều chưa bình luận về màu sắc vải vóc cũng như chiếc mũ của vua trong phim “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long”.

GS.TS Đoàn Thị Tình, tư vấn phục trang cho phim:

“Tôi tự hào về những trang phục trong phim”

Tôi không ngạc nhiên khi khán giả phản ứng trang phục trong phim giống Trung Hoa quá. Thứ nhất, trước nay chúng ta chưa có bộ phim cổ trang nào về giai đoạn lịch sử này. Thứ hai, khán giả đã xem quá nhiều phim Trung Quốc và chỉ mới xem qua trailer nên cảm giác thấy giống là khó tránh khỏi.

Tuy nhiên, tôi xin khẳng định, toàn bộ trang phục trong phim là dựa trên chính sử “Đại Việt Sử ký Toàn thư”, “Lịch triều Hiến chương Loại chí”… đến các tác phẩm mỹ thuật, điêu khắc như tượng, phù điêu… còn hiện hữu ở bảo tàng và nhiều di tích đình, chùa… chứ không phải chúng tôi tự vẽ ra. Đặc biệt, khi thiết kế trang phục, chúng tôi phải dựa vào các miêu tả của thư tịch cổ và tượng thời Lý tại đình đền và long bào của vua Lý dựa theo tượng vua Lý ở chùa Kiến Sơ (Hà Nội). Còn giáp trụ của tướng lĩnh dựa vào 8 pho tượng Kim Cương tại các chùa ở Bắc Ninh, Hà Nam Chúng ta chịu đô hộ 1000 năm Bắc thuộc, đặc biệt ở các triều đại này chịu sự xâm lược của nhà Tống nên trang phục giống Trung Quốc cũng là lẽ đương nhiên. Nhưng nó cũng chỉ tương đồng ở kết cấu, còn họa tiết thì đều đã được Việt hóa. Xin nhấn mạnh là giống chứ không phải rập khuôn.

Tôi lấy ví dụ, long bào của vua Tống đính rất nhiều ngọc ngà, châu báu rất lộng lẫy, còn long bào của vua Lý chỉ thêu chìm; giáp phục đời Lý có họa tiết hoa mai, hoa cúc…. mà giáp phục Trung Quốc không có; mũ miện của chúng ta nhỏ, hẹp trong khi mũ miện nhà Tống cánh chuồn dài, cong phía mép; hơn nữa, việc đưa họa tiết hoa sen vào long bào của vua Lý Công Uẩn cũng là minh chứng rất rõ cho văn hóa Việt Nam.

Tôi hoàn toàn tự hào về những trang phục mà tôi đã thiết kế cho bộ phim này.

Yên Thảo ghi


Bài 2: Phim lịch sử Việt Nam: Làm sai là di hại cho khán giả

  • Đoan Trang

Cái khó lớn của việc làm phim lịch sử Việt Nam, mà ai cũng thừa nhận, là sự thiếu thốn về tư liệu. Do đó, người làm phim, đặc biệt họa sĩ thiết kế, bắt buộc phải tìm tòi các nguồn sử liệu, kết hợp với sự phân tích logic, để đưa ra những giải pháp chấp nhận được. Ở đây, không chỉ cần đến kiến thức về lịch sử các triều đại, mà đòi hỏi một sự hiểu biết tổng hợp cả về kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, tâm lý dân tộc.

Một nhà kinh tế ở Hà Nội (giấu tên vì không muốn “can thiệp” vào lĩnh vực phim ảnh ngoài chuyên môn) nhận định: “Thời xưa, người Việt chắc chắn thấp bé vì dinh dưỡng thấp. Người Trung Quốc, nhất là khu vực phía bắc, có xu hướng du mục nên chăn nuôi gia súc và ăn thịt nhiều hơn ta, nên đủ dinh dưỡng hơn. Ta cũng có nuôi gia súc nhưng nguồn nông sản cung cấp không đủ. Ngựa ta cũng bé nhỏ chứ không to lớn như ngựa xích thố thế. Thật ra ở một nền kinh tế quy mô nhỏ, đất nước ít thảo nguyên như Việt Nam, thường người làm thay ngựa, nên ít có truyền thống đi xe ngựa mà là người khiêng hoặc kéo, còn đi xa thì dùng đường thủy”.

Như vậy đủ thấy, làm phim lịch sử đòi hỏi phải nghiên cứu đa ngành để có kiến thức rất tổng hợp, và suy luận logic.

Cần đẹp hay đúng?

Những đặc điểm của kinh tế - văn hóa Việt Nam, phía các chuyên gia làm phim của Trung Quốc khó mà biết được. Trong một bài trả lời phỏng vấn với tạp chí Hồn Việt, tháng 5 vừa qua, họa sĩ Phan Cẩm Thượng – cố vấn văn hóa của phim “Lý Công Uẩn” – nói rằng: “Các nhà làm phim Trung Quốc quan niệm đã làm phim thì trang phục, bối cảnh, ánh sáng… đều phải đẹp, câu chuyện có tình duyên và diễn xuất diễn viên tốt. (…) Rồi rất nhiều bộ y phục khác cũng vậy, người Trung Quốc muốn dùng màu sắc rực rỡ, nhiều hoa văn, các chất liệu tơ lụa, trong khi bên ta phần nhiều chỉ dùng màu sắc trầm, ít trang trí, và các loại vải bông, gai. Đây là tập tục văn hóa nên hai bên không có cách gì hiểu nhau…”.

Một số nhà quay phim và họa sĩ Việt Nam có tính duy mỹ cũng cho rằng phim lịch sử, cổ trang “cốt đẹp chứ không cốt đúng”, bởi “nếu thiết kế bối cảnh y như thật thì nhếch nhác lắm vì Việt Nam ngày xưa rất nghèo”. Về điểm này, chuyên gia cổ sử Phạm Hoàng Quân nhận định: “Tôi nghĩ làm phim lịch sử thì nên nghiên cứu cẩn thận và căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội của thời đại đó để thể hiện cho phù hợp, ít nhất không gây sốc, gây choáng cho người xem vì độ hoành tráng và… xa lạ của cảnh quan”. Còn họa sĩ Tú Ân thẳng thắn: “Tôi không biết làm phim cổ trang thì cần đẹp với sang tới mức nào, tôi chỉ biết phim kể về Việt Nam, câu chuyện Việt Nam, con người Việt Nam, thì phải ra chất Việt Nam”.

“Chất Việt Nam” là gì? Từ lâu, các chuyên gia nghiên cứu văn hóa như Phan Ngọc, Hữu Ngọc, Trần Ngọc Thêm… đã nói về cái đẹp dung dị, đơn sơ, xinh xắn của những công trình kiến trúc ở Việt Nam, so với sự đồ sộ, quy mô, hoành tráng của Trung Quốc như muốn tỏa “tinh thần bá quyền” ra muôn phương. Làm phim cổ trang như “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long”, phim càng thể hiện hoành tráng thì khán giả càng thấy xa lạ. Ông Phạm Hoàng Quân gợi ý: “Nếu không có sử liệu chính xác về kiến trúc cung điện thời ấy, đạo diễn và họa sĩ có thể cho thiết kế nhà cửa thấp, một tầng, lợp ngói thường thôi thay vì lợp ngói lưu ly. Trang phục thì nhuộm màu đơn giản, hết sức tránh rực rỡ nhiều màu sắc”.

Trong quá khứ, chúng ta cũng từng có những bộ phim cổ trang thể hiện được khá “sát thực tế” cái chất nhỏ bé, đơn sơ của văn hóa Việt Nam, ví dụ Học trò thủy thần (1990) của đạo diễn Khánh Dư, một bộ phim đen trắng kể về bậc “vạn thế sư biểu” Chu Văn An và người học trò vốn là con trai vua Thủy tề.

Cẩu thả, vô trách nhiệm, hay bị ép?

Cũng họa sĩ Phan Cẩm Thượng phản ánh: “Ngay từ đầu, tôi phản đối những trang phục đó nhưng tôi chỉ là cố vấn. Người mình thời đó cởi trần đóng khố và chèo thuyền quỳ với 20 tay chèo nhưng bây giờ bắt diễn viên cởi trần đóng khố thì không ai chịu làm thế, kể cả người dân tộc. Trang phục Việt Nam đơn sơ hơn trang phục Trung Quốc nên nếu mặc thế thì diễn viên chết rét…”. Ông còn bảo: “Các phim của họ thường là phim lịch sử cổ trang chứ không phải phim lịch sử hiện thực. Họ nói thẳng, những phim lịch sử Trung Quốc phải nâng lên rất nhiều so với những gì đã diễn ra trong lịch sử”.

Những gì mà các nhà làm phim Trung Quốc “ép” đối tác Việt Nam là có thể hiểu được, nếu chúng ta tìm trở lại chính sách văn hóa của đất nước này. Tháng 3-1987, Bộ Phát thanh - Truyền hình Trung Quốc triệu tập một hội nghị các đơn vị sản xuất truyền hình trên cả nước. Tại đây, Bộ đưa ra chính sách: tích cực, chủ động dồn lực sản xuất những bộ phim có mục đích truyền bá lịch sử, văn hóa, tư tưởng và thẩm mỹ của Trung Hoa tới mỗi người dân Trung Quốc và thế giới. Những phim này được Nhà nước hỗ trợ nhiều mặt, chẳng hạn ưu tiên chiếu ở các đài địa phương lớn vào giờ vàng, được hỗ trợ xuất khẩu (cho không hoặc bán giá rẻ) sang các quốc gia trong khu vực. Đồng thời với đó, giới làm phim tiến hành “Trung Hoa hóa” các sản phẩm văn hóa của nước ngoài. Bộ phim “Hà Nội – Hà Nội” chỉ được chiếu ở đài tỉnh Quảng Tây vào đêm khuya, với một generiqué toàn chữ Trung Quốc, khiến khán giả xem khó mà để ý rằng đó là sản phẩm hợp tác với Việt Nam.

Ngay cả việc các nhà làm phim Trung Quốc quan niệm đã làm phim cổ trang “trang phục, bối cảnh, ánh sáng… đều phải đẹp”, “nâng lên rất nhiều” so với lịch sử, cũng phản ánh một phần mục đích tuyên truyền văn hóa của họ. Ngoài ra, như chính ông Phan Cẩm Thượng nói, “với phim tư nhân thì họ xác định phim cần có thị trường và kỷ niệm chỉ là một dịp đưa phim ra thị trường. Các nhà làm phim quan niệm, phim mà không kinh doanh là không được. Phim này làm trên góc độ thị trường chứ không phải chỉ là phim kỷ niệm”.

Với các quan niệm, chính sách và mục đích như vậy, khi sản phẩm làm ra không mang chất Việt Nam thì không phải lỗi của các nhà làm phim Trung Quốc. Câu hỏi đặt ra là vì sao phía Việt Nam chấp nhận “bị ép” như vậy, đối với một bộ phim lớn, được đầu tư tới 108 tỷ đồng và để phát sóng trên đài quốc gia nhân dịp đại lễ?




“Chuyện đạo diễn, đồng biên kịch, thợ may, diễn viên quần chúng đều là người Trung Quốc cho thấy một vấn đề không đơn giản. Hiện tượng này chính là một dạng nhập siêu, hàng ngoại bóp chết hàng nội bằng giá cả, lao động và công nghệ; và cuối cùng là nhập siêu văn hóa. Đây là điều phải cảnh báo. Đơn vị phát sóng cần kiểm soát, nếu sản phẩm không đạt yêu cầu về chất lượng thì không thể cho phát, vì khán giả không được xem cũng chẳng chết ai, nhưng nếu xem thì hình dung của chúng ta, nhất là giới trẻ, về quá khứ có thể lệch lạc hết cả, không chữa được”. (Một chuyên gia kinh tế ở Hà Nội)

Đoan Trang ghi



Hoành tráng nhưng không phải hoành tráng kiểu Trung Quốc

“Tôi cũng đã từng được mời tham gia tư vấn phục trang cho bộ phim này, nhưng tôi từ chối vì hai lý do. Thứ nhất, phim lịch sử của Việt Nam thì không thể quay ở Tàu được, mình phải có phim trường đã rồi hãy làm phim lịch sử. Thứ hai, kịch bản có quá nhiều chi tiết sai và thời gian để thực hiện bộ phim là quá ngắn.

Trung Quốc đô hộ Việt Nam 1000 năm nhưng không đồng hóa được Việt Nam. Phải hiểu cốt lõi của vấn đề là ở chỗ này. Người Trung Quốc muốn tiêu diệt trang phục thì người Việt Nam lại quyết liệt bảo tồn nó, và chính vì vậy mà chúng ta không thể ăn mặc giống Trung Quốc được”.

(Họa sỹ Trịnh Quang Vũ, tác giả cuốn “Lịch sử trang phục các triều đại phong kiến”)

Yên Thảo ghi

Wednesday, September 15, 2010

Nguyễn Xuân Diện: CÁI ẤY CỦA BỘ XÂY DỰNG CONG HAY THẲNG?

Nguyễn Xuân Diện: CÁI ẤY CỦA BỘ XÂY DỰNG CONG HAY THẲNG?: "Vẫn có trục Hồ Tây-Ba Vì nhưng là trục... cong? Tác giả: Khánh Linh Hà Nội đã từng khẳng định hoàn to..."

Nguyễn Xuân Diện: BÚT KÝ CỦA GS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG - Phần 6

Nguyễn Xuân Diện: BÚT KÝ CỦA GS NGUYỄN ĐĂNG HƯNG - Phần 6: "Lời dẫn của GS Nguyễn Đăng Hưng: Tháng 2 năm 1994 tôi về Sài Gòn tham dự Hội nghị chuyên đề Giáo dục” do Bộ GD&ĐT và Ban Việt kiều Trung ..."

Trần Gia Phụng: KỶ NIỆM THĂNG LONG VÀ NHU CẦU CHÍNH TRỊ

Theo NguoiViet Boston

Vào tháng 7 năm canh tuất (1010), vua Lý Thái Tổ (trị vì 1010-1028) đời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Đại La, và ngài đổi tên Đại La thành Thăng Long. Tính cho đến nay, danh xưng Thăng Long được chẳn một ngàn năm. Nhà nước cộng sản Việt Nam (CSVN) dự tính tổ chức Lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long vào ngày thứ Sáu 1-10-2010 (24-8 canh dần).

Ngày dương lịch và âm lịch nầy không phải là ngày dời đô, cũng không phải là một ngày trọng đại trong lịch sử Việt Nam. Ngày 1-10 là ngày quốc khánh của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (CHNDTQ). Như thế nói trắng ra, vì nhu cầu chính trị, CSVN mượn Lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long để tập họp dân chúng, mừng quốc khánh cộng sản Trung Quốc (CSTQ).

Đây không phải là lần đầu vì nhu cầu chính trị, CSVN sử dụng thủ thuật nầy. Khi mới cướp chính quyền năm 1945, Hồ Chí Minh đã một lần sáng kiến ra cách thức nầy để lấy lòng viên cao ủy Pháp tại Đông Dương là đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu.

Nguyên theo tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945, tại Việt Nam giải giới quân đột Nhật ở nam vĩ tuyến 16 là quân đội Anh và ở bắc vĩ tuyến 16 là quân dội Trung Hoa Quốc Dân Đảng (THQDĐ). Sau khi theo quân Anh, tái chiếm miền Nam Việt Nam, Pháp thương lượng với THQDĐ đưa quân ra Bắc. Sợ bị tiêu diệt, Hồ Chí Minh vội vàng ký với Pháp thỏa ước Sơ bộ ngày 6-3-1946, theo đó Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre), có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương (LBĐD) và trong Liên Hiệp Pháp (điều 1); Việt Nam sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa để giải giáp quân đội Nhật (điều 2).

Thỏa ước Sơ bộ hoàn toàn trái ngược với lời thề chống Pháp của Hồ Chí Minh khi trình diện chính phủ vào ngày 2-9-1945. (Đoàn Thêm, 1945-1964: Việc từng ngày, Hai mươi năm qua, California: Nxb. Xuân Thu tái bản không đề năm, tr. 13.) Thỏa ước Sơ bộ bị dân chúng và các đảng phái chính trị theo chủ trương dân tộc phản đối.

Sau khi thương thuyết với THQDĐ, cao uỷ Pháp tại Đông Dương, đô đốc D’Argenlieu, mở cuộc kinh lý khu vực phía bắc vĩ tuyến 16 từ ngày 14-5-1946. D’Argenlieu đến Vạn Tượng (Vientiane, Laos) ngày 17-5-1946, đến Hà Nội chiều ngày 18-5-1946. Trên danh nghĩa, D’Argenlieu là cao uỷ, đại diện chính phủ Pháp tại LBĐD. Việt Nam là một quốc gia trong LBĐD. Vậy D’Argenlieu là nhà lãnh đạo hay quốc trưởng của Việt Nam và là cấp chỉ huy của Hồ Chí Minh. Theo nghi thức ngoại giao, để đón tiếp quốc trưởng, nhà cầm quyền Việt Minh phải treo quốc kỳ (cờ đỏ sao vàng) trong ba ngày để đón D’Argenlieu, nhưng VM nói là để mừng sinh nhật Hồ Chí Minh là ngày 19-5, tránh làm cho dân chúng phản đối chuyện đón quan chức Pháp.

Ngày sinh nhật nầy có nhiều câu hỏi cần được đặt ra. 1) Nhiều tài liệu cho thấy Hồ Chí Minh nhiều lần ghi năm sinh khác nhau, không chính xác. 2) Riêng trong đơn xin vào Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie) vào đầu năm 1922, Hồ Chí Minh, lúc đó có tên là Nguyễn Ái Quốc, ghi trong phiếu cá nhân rằng ông sinh ngày 15-2-1895. (Jacques Dalloz, “Les Vietnamiens dans la Franc-Maçonnerie coloniale”, Revue française d’Histoire d’Outre-mer, 3ème Trimestre, Paris: Société Française d’Histoire d’Outre-mer, 1998, tr. 105.) Vậy tại sao bây giờ lại đổi ngày sinh thành 19-5. 3) Trước đó, Hồ Chí Minh không đề cập đến sinh nhật, thì tại sao nhân cuộc viếng thăm của D’Argenlieu lại có chuyện sinh nhật Hồ Chí Minh?

Vì các lẽ đó, dư luận cho rằng Hồ Chí Minh ngụy tạo sinh nhật để treo cờ, nhằm đón tiếp D’Argenlieu. Tuy nhiên, nếu treo cờ để đón đại diện Pháp thì Hồ Chí Minh sợ dân chúng phản đối và kết tội phản bội vì lúc đó tinh thần chống Pháp của dân chúng rất cao, nên Hồ Chí Minh vì nhu cầu chính trị, mượn cớ treo cờ mừng sinh nhật để tránh sự bất bình của dân chúng. Cần chú ý, ngày 19-5 là ngày ra mắt công khai mặt trận Việt Minh năm 1941 ở Pắc Bó, Cao Bằng.

Trường hợp sửa đổi ngày kỷ niệm vì nhu cầu chính trị thứ hai là ngày thành lập đảng CSVN. Vào ngày 6-1-1930, Hồ Chí Minh, lúc đó lấy tên là Lý Thụy, với tư cách là đại biểu của Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS), đứng ra thành lập đảng CSVN tại Hồng Kông. Ngoài những tài liệu Tây phương, tài liệu cụ thể về ngày thành lập đảng là “Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ II của đảng” do Hồ Chí Minh trình bày ngày 11-2-1951. Trong mục thứ hai tiểu đề “Đảng ta ra đời”, Hồ Chí Minh xác định: “Ngày 6-1, Đảng ta ra đời.” (Bài nầy được đăng trong sách do Hồ Chí Minh viết, Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1976, tt. 97-120; và được đăng lại trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Hà Nội: Nxb. ChínhTrị Quốc Gia, 2000, tt. 153-176.)

Như thế, rõ ràng ngày thành lập đảng CSVN là ngày 6-1-1930. Xin kèm theo đây một tài liệu kỷ niệm thành lập đảng CSĐD năm 1948. (Chú ý câu mở đầu: Chính đảng của công nhân Đông Dương thành lập vào ngày 6-1-1930.) (Trích: Chính Đạo, Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại, tập 1, in lần thứ hai, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 247.)

image002

Tuy nhiên, về sau tại Đại hội III đảng Lao Động (tức đảng CSVN) ở Hà Nội từ 5 đến 10-9-1960, Bộ chính trị Trung ương đảng Lao Đông yêu cầu Đại hội thông qua quyết định thay đổi ngày thành lập đảng là 3-2-1930, vì “các đồng chí Liên Xô cho biết ngày đó mới đúng theo tài liệu lưu trữ của Liên Xô.” (Nguyễn Minh Cần, Đảng Cộng Sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế, Nxb. Tuổi Xanh, không đề nơi xuất bản, 2001, tr. 74.)

Năm 1960, do nhu cầu chính trị, đảng Lao Động sửa ngày thành lập đảng theo lệnh của Liên Xô, nhưng cho đến nay, Liên Xô sụp đổ 20 năm rồi, đảng CSVN vẫn chưa chịu sửa lại cho đúng ngày thành lập, mà vẫn bắt học sinh học tập sai ngày, và đảng viên kỷ niệm sai ngày thành lập đảng CSVN.

Chẳng những đổi ngày vì nhu cầu chính trị, mà cũng vì nhu cầu chính trị, CSVN còn sửa luôn lịch để tạo sự bất ngờ trong cuộc tổng tấn công miền Nam Việt Nam vào năm 1968. Nguyên sau khi Bộ chính trị Trung ương đảng Lao Động (CSVN) quyết định sẽ tổng tấn công miền Nam vào dịp Tết Mậu Thân, chính phủ Bắc Việt ra quyết định số 121/CP ngày 8-8-1967, cho Nha Khí tượng thay đổi âm lịch, theo đó tháng chạp năm đinh mùi trong lịch mới ở Bắc Việt không có ngày 30 (âm lịch), trong khi ở Nam Việt có ngày 30 (âm lịch). Điều đó có nghĩa là Tết Bắc Việt Nam đến trước Tết Nam Việt Nam một ngày.

Việc đổi âm lịch nầy có hai điểm đáng ghi nhận: 1) Nha Khí tượng Hà Nội xác nhận việc đổi âm lịch không theo tính toán của những nhà khoa học lịch pháp, mà theo quyết định của nhà cầm quyền Hà Nội, tức việc đổi âm lịch có tính cách chính trị. (”Lời giới thiệu của Nha Khí tượng” Hà Nội, trong sách Lịch thế kỷ XX , Nxb. Phổ Thông, Hà Nội, 1968.) 2) Việc đổi âm lịch không được thông báo trước mà chỉ cho dân chúng Bắc Việt biết khi in lịch cho dân chúng sử dụng vào đầu năm 1968, nghĩa là chỉ còn hơn một tháng là đến Tết âm lịch năm mới (mậu thân). (Điều nầy được xác nhận trong “Lời nói đầu” hoặc “Lời giới thiệu” của các lần xuất bản về sau nầy; ví dụ lần xuất bản thứ nhì (1977), thứ ba (1982), và thứ tư (1991). Như thế, phải chăng Hà Nội muốn giữ bí mật việc đổi âm lịch để chuẩn bị cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân?

Việc đổi âm lịch đúng ngày mồng Một Tết Mậu Thân ở ngoài Bắc trùng hợp vào dịp tổng tấn công ở miền Nam Việt Nam, khiến về sau người ta nghi ngờ đây không phải là sự ngẫu trùng, mà đây là một âm mưu có tính toán để đánh lừa Nam Việt Nam và thế giới về lệnh tấn công của Hồ Chí Minh tại Hà Nội vào ngày mồng Một Tết Mậu Thân, 24 giờ đồng hồ tức trước Tết ở miền Nam Việt Nam.

Chẳng những Hồ Chí Minh mà các học trò của ông cũng học theo Hồ Chí Minh đổi ngày vì nhu cầu chính trị. Hồ Chí Minh chết ngày 2-9-1969. Ngày 2-9 là ngày quốc khánh của Bắc Việt cộng sản. Vì vậy, Bộ chính trị đảng Lao Động liền quyết định công bố cho dân chúng biết ngày chết của Hồ Chí Minh là ngày 3-9-1969. Lần nầy nhiều người biết chuyện Hồ Chí Minh chết, đảng Lao Đông không thể “lấy thúng úp tai voi” mãi, nên sau năm 1975, đảng CSVN đành phải điều chỉnh trở lại ngày chết của Hồ Chí Minh là 2-9, trùng với ngày quốc khánh của chế độ CSVN.

Quả thật các đảng viên CSVN rất thuộc bài vở của Hồ Chí Minh. Nay thủ thuật ra lệnh cho dân chúng treo cờ để mừng sinh nhật chủ tịch, lại được đảng CSVN tái ứng dụng lần nữa, dùng lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long để tập họp dân chúng Việt Nam mừng quốc khánh CHNDTQ.

Đảng CSVN mừng quốc khánh CSTQ là noi gương chính trị của Hồ Chí Minh, vì Hồ Chí Minh là đảng viên đảng CSTQ. Sau đây là lời tự bạch của Hồ Chí Minh trong bài “Cách mạng Trung Quốc và cách mạng Việt”, viết nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập đảng CSTQ (1/7/1921 – 1/7/1961). Hồ Chí Minh kể rằng: “Riêng về phần tôi, trong hai thời kỳ, tôi đã có vinh dự hoạt động trong đảng Cộng sản Trung Quốc. Đến Quảng Châu hồi 1924-1927, tôi vừa theo dõi phong trào cách mạng trong nước ta,vừa tham gia công việc đo đảng Cộng sản Trung Quốc giao phó… Tôi được tham gia việc dịch tài liệu nội bộ và việc “tuyên truyền đối ngoại”, tức là viết bài về phong trào công nông cho một số báo bằng tiếng Anh. Lần thứ hai tôi đến Trung Quốc (cuối năm 1938) vào thời kỳ kháng chiến chống Nhật. Là một người binh nhì trong “Bát lộ quân”, tôi làm chủ nhiệm câu lạc bộ của một đơn vị ở Quế Lâm. Sau đó, được bầu làm bí thư của chi bộ (kiêm phụ trách nghe rađiô) của một đơn vị ở Hành Dương...” Cũng trong bài viết trên, Hồ Chí Minh đã mô tả “mối quan hệ giữa cách mạng Trung Quốc và cách mạng Việt Nam thật là: Trăm ơn, ngàn nghĩa, vạn tình,/ Tinh thần hữu nghị quang vinh muôn đời!” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tt. 366-367.)

Người sáng lập và lãnh đạo đảng CSVN có vinh dự hoạt động trong đảng CSTQ thì đảng CSVN mừng kỷ niệm quốc khánh CSTQ là chuyện không mới. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh và đảng CSVN mang ơn đảng CSTQ (“Trăm ơn, ngàn nghĩa, vạn tình...”) và muốn trả ơn như thế nào, đó là chuyện của CSVN, chứ không phải là ơn nghĩa của Trung Quốc đối với dân tộc Việt Nam. Dân tộc Việt Nam, ngay từ trước một ngàn năm Thăng Long, từ thời Hai Bà Trưng cho đến bây giờ, đã có quá nhiều kinh nghiệm xương máu với tập đoàn lãnh đạo bá quyền Bắc Kinh.

Không thể vì ơn nghĩa giữa hai đảng mà CSVN phản quốc, bán đứng Việt Nam cho CHNDTQ. Vào cuối thế kỷ 20, đảng CSVN đã ký liên tiếp hai bản hiệp ước dâng đất dâng biển cho CHNDTQ trước sự phẫn nộ của dân tộc Việt. Đó là Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, ký tại Hà Nội ngày 30-12-1999, nhượng cho Trung Quốc ải Nam Quan lịch sử, một nửa Thác Bản Giốc, nhiều cao điểm quân sự trọng yếu dọc biên giới phía bắc nước ta; và Hiệp ước phân định lãnh hải, ký tại Bắc Kinh ngày 25-12-2000 làm cho Việt Nam mất vào tay Trung Quốc khoảng 10,000 Km2 hay khoảng 8% mặt biển Vịnh Bắc Việt.

Nay một lần nữa, Thăng Long, cựu đô trong khoảng 8 thế kỷ của dân tộc Việt Nam, bị đảng CSVN đưa ra làm phẩm vật hiến tế, để mừng quốc khánh của CHNDTQ. Các nhà cầm quyền Trung Quốc đã bao lần đem quân xâm lược Việt Nam và giày xéo cố đô Thăng Long. Trung Quốc là một đại họa thường trực cho dân tộc Việt Nam từ thời cổ đại cho đến ngày nay.

Mượn chuyện kỷ niệm ngàn năm Thăng Long để mừng quốc khánh CHNDTQ là một điều hoàn toàn trái ngược với truyền thống lịch sử của cựu đô Thăng Long và lịch sử của dân tộc Việt Nam. Dân tộc Việt Nam vốn HIẾU HÒA, KHÔNG GÂY HẤN VỚI TRUNG QUỐC, NHƯNG SẴN SÀNG CHỐNG TRẢ TẤT CẢ NHỮNG CUỘC XÂM LĂNG CỦA TRUNG QUỐC. Vì thế, người Việt Nam không chấp nhận và phản đối mạnh mẽ hành vi nhục nhã của nhà cầm quyền CSVN, vì nhu cầu chính trị, mượn lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long để mừng quốc khánh CHNDTQ.

TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 5-9-2010)

Tuesday, September 14, 2010

Ls Lê Thị Công Nhân: Tội âm mưu lật đổ chính quyền là sản phẩm của bộ óc cộng sản

Theo Dân Luận
Paulus Lê Sơn thực hiện

Vào ngày 10/9/2010, phóng viên Tin Chúa Cứu Thế Việt Nam (VRNs) đã có cuộc nói chuyện với Luật sư Lê Thị Công Nhân về sự kiện Giáo sư Phạm Minh Hoàng sau 24 ngày bị bắt lại chính thức có có lệnh tạm giam 4 tháng để điều tra về tội “âm mưu lật đổ chính quyền”, theo điều 79 bộ luật hình sự.

Nguyên là một Luật sư và là người đã từng bị an ninh Việt Nam bắt, bị tòa án kết tội và bị nhốt tù 3 năm với những tội danh theo điều 79 “âm mưu lật đổ chính quyền”. Luật sư Lê Thị Công Nhân nói gì về sự kiện an ninh bắt và ra lệnh tạm giam để điều tra Giáo sư Hoàng?
Chúng ta hãy cùng theo dõi cuộc nói chuyện giữa phóng viên Paulus Lê Sơn của VRNs với Luật sư Lê Thị Công Nhân.

—————–

Pv: Xin chào chị, chúng tôi rất vui hôm nay có được cuộc nói chuyện với chị về chủ đề Giáo sư Phạm Minh Hoàng bị an ninh Việt Nam bắt và ra lệnh tạm giam 4 tháng để điều tra ông về tội “âm mưu lật đổ chính quyền”, theo điều luật 79.

Thưa chị, trong thời gian vừa qua chị có theo dõi các thông tin liên quan đến Giáo sư Phạm Minh Hoàng, là giảng viên trường Đại học Bách Khoa TP HCM bị an ninh bắt và tạm giam, theo như công an nói là tạm giam để điều tra về tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền”, dư luận xã hội được biết chị từng là một người đã phải trải qua những sự việc tương tự như Giáo sư Hoàng hiện nay. Chị có thể cho biết về những sự việc tương tự giữa chị và các nhà đấu tranh dân chủ khác mà cụ thể ở đây là giáo sư Hoàng? Chị có ý kiến, suy nghĩ và chị có cái nhìn như thế nào trong vụ này?

Luật sư Lê Thị Công Nhân (LsLTCN): Với những gì mà cá nhân tôi đã từng trải qua và những gì tôi biết về các trường hợp khác thì tôi thấy rõ một điều là nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam hành xử hết sức là tùy tiện và không có một nền tảng chung hoặc những qui định chung mà họ xử sự trong những vụ án chính trị. Cho nên, chúng ta thấy rằng cách thức mà nhà cầm quyền đàn áp các nhà dân chủ thì rất là đa dạng, mỗi người sẽ bị một kiểu khác nhau. Nếu mà mình không hiểu được cách hành xử của cộng sản tùy tiện thì mình sẽ nghĩ hay là những người này (nhà dân chủ) như thế nào đó.

Quay lại vấn đề của Giáo sư Phạm Minh Hoàng, tôi nghĩ về mặt pháp lý trong việc bắt giữ, tạm giam giáo sư mà không có quyết định khởi tố để tống đạt cho chính đương sự là bị can và cho gia đình thì đó là sự vi phạm pháp luật tố tụng của pháp luật Việt Nam hiện hành. Nhưng mà thật sự trong những vụ án chính trị thì chúng ta cũng không nên nói đến những qui định của pháp luật nhà nước. Bởi vì bộ máy an ninh tức là những người công an làm về các vụ án chính trị thì họ cũng không hành xử theo bất kỳ qui định nào của nhà nước hết.

Chúng ta biết là sau khi giáo sư Phạm Minh Hoàng bị bắt một thời gian (sau 24 ngày bị bắt) thì mới có quyết đinh khởi tố mà có nói là theo cái điều như vậy.

Quay lại câu chuyện của tôi, trước khi tôi bị bắt giam và đi tù luôn đó thì tôi bị bắt bớ (tôi phải phân biệt bắt giam và bắt bớ) rất là nhiều lần trong một thời gian hàng nửa năm. Tức là từ khi Đảng Thăng Tiến công khai hoạt động ngày 08/9/2006, đến khi tôi bị bắt là tháng 3 năm 2007. Trong quá trình họ (công an) bắt bớ và thẩm vấn tôi, họ liên tục vu cho tôi, qui kết cho tôi, dọa tôi về các tội danh mà tôi không thể nào hình dung được. Tôi đã bị dọa các tội như điều 79 là hoạt động nhằm lật đổ chính quyền, tôi bị dọa một tội nữa là “gián điệp”, tôi bị dọa về tội “khủng bố” theo điều 84, còn điều 88 thì dọa đi dọa lại nhiều lần. Tức là, những hoạt động của tôi thì vẫn chỉ như vậy thôi, nhưng mà cái cách nhà cầm quyền nhìn nhận, thưa với quý vị đó cũng chỉ là một vài cá nhân làm cái vụ án trực tiếp hay một ông nào đó lãnh đạo cấp cao trong bộ Chính trị thích thú một điều khoản nào đấy để nghĩ ra chứ cũng chẳng có một hành xử chuyên nghiệp nào hết. Mỗi lúc họ nói một kiểu, ngay trong các cuộc thẩm vấn mà nhiều khi tôi còn cười to vì họ bảo tôi làm gián điệp, tôi chả hiểu là tôi làm gián điệp cho ai. Họ nói những điều khoản rất là kinh khủng, thậm chí có lần còn dọa tôi là có dấu hiệu vi phạm điều 258 BLHS, tức là tội lạm dụng các quyền tự do dân chủ. Tội này mà mỗi lần nhắc đến với các Luật sư tham gia đấu tranh dân chủ thì cảm thấy thật là lố bịch, bởi vì ai cũng trả lời là Việt Nam làm gì có tự do dân chủ mà lợi dụng.

Cho nên tôi muốn nói việc nhà cầm quyền quy kết giáo sư Phạm Minh Hoàng vi phạm vào điều 79 thì cũng không có gì là chắc chắn ngay cả qui định của cái dấu hiệu tội phạm trong tội danh đó trong bộ luật hình sự hiện hành. Bởi vì rất có thể sau này họ sẽ đổi sang một tội danh khác mà nếu có giữ nguyên thì nó cũng không đúng ngay từ đầu, cái điều này thì đã xảy ra rất nhiều lần. Nhưng thường có một vấn đề như chúng ta thấy tỉ lệ mà những người đấu tranh dân chủ được cho là có tội theo cái điều 88 như tôi chẳng hạn là điều chống phá nhà nước và điều 79 là hoạt động nhằm lật đổ chính quyền thì hai cái tội này vẫn là bị quy kết là có nhiều người vi phạm nhiều nhất.

Thực ra là không thể nào có được hai cái tội như vậy được trừ cái bộ óc thiên tài của cộng sản họ nghĩ ra. Khi muốn thay thế một chính quyền này bằng một chính quyền khác tốt hơn, cụ thể chính quyền cũng chỉ là một khái niệm, rồi là những anh A, chị B, v.v… những người cụ thể lên làm thôi. Như vậy, chúng ta thấy điều đó rất là bình thường trong một xã hội dân chủ, thậm chí đó rất đơn giản, gần như là một điều tự nhiên khi con người hình thành mối quan hệ xã hội với nhau. Nhưng mà ở Việt Nam thì không bao giờ được phép như vậy.

Khi có tiếng nói phản kháng, không đồng tình, không chấp nhận được chế độ hiện tại thì người ta (đảng cộng sản) gọi đó là chống lại, tuyên truyền chống phá nhà nước hoặc là hoạt động nhằm thay đổi nhà nước đó. Đối với tên độc tài với bất kỳ cái gì mà khác với chúng thì đều bị coi là tội phạm chứ chưa nói là chống.

Tôi cũng không hiểu nhiều lắm về những hoạt động sâu xa của anh Phạm Minh Hoàng, tôi được biết anh Phạm Minh Hoàng ngoài những bài viết để nói lên cái tâm tư nguyện vọng của mình về việc dân chủ hóa Việt Nam thì ngay cả khi anh ấy tham gia vào một đảng phái, mà nhất là đảng phái đó có một đường lối đấu tranh rõ ràng đi theo phương thức ôn hòa bất bạo động và mục tiêu là để cho Việt Nam có được nền dân chủ. Vâng, tôi nhắc lại là dân chủ cũng chỉ là một khái niệm thôi. Tức là biểu hiện cụ thể của nó là đa nguyên và đa đảng. Như chúng ta thấy là có những tin đồn, thậm chí là của cả phe dân chủ cũng như phe độc tài nói rằng anh ấy tham gia đảng Việt Tân. Tôi nghĩ anh ấy có tham gia đảng Việt Tân thì cũng tốt thôi không có vấn đề gì mà phải thành kiến, đánh lên án.

Nhưng mà chúng ta thấy đảng Cộng Sản mà quá sợ đảng Việt Tân đến mức độ như vậy thì có lẽ là chúng ta nên nhìn nhận vai trò của đảng Việt Tân, họ đã thực sự mạnh mẽ và đã làm được những công việc mà ăn sâu, cắm sâu vào trong đời sống xã hội có những kết quả nhất định và làm cho đảng Cộng Sản phải run sợ.

Trong những vụ án chính trị như thế này mà như tôi vừa nói, cái việc đối nội thì họ cũng không tha thiết gì, chính quyền cộng sản cũng không tha thiết gì, họ làm rất là tùy tiện. Nhưng một mặt thì họ cũng hiểu được cái sự quan tâm của quốc tế đối với các vụ án chính trị, họ cũng có những chuẩn bị để trưng ra, tỏ ra là có cái cách làm việc chuyên nghiệp một chút hoặc là có cái căn cứ nào đó một chút.

Trong những vụ án chính trị như vậy thì họ cũng phải có một cái sự cân nhắc. Việc bắt giữ một người với vị trí, nhân thân như vậy sẽ gây nên một sự chấn động, nhưng mà họ vẫn làm. Không phải là họ có một căn cứ chính đáng nào đâu, tất cả những điều họ nói chỉ là những lý sự cùn, trong sự ngang ngược, nền tảng trịnh thượng kiêu căng của họ thôi. Nhưng họ vẫn làm, có lẽ có một điều…, tôi tin hay có lẽ là tôi ngây thơ hơn quý vị nhưng tôi nghĩ rằng là họ đã có những nỗi sợ, họ chấp nhận cái sự trả giá lên án của quốc tế cũng như là quốc nội về cái hành động bắt người và vu cáo cho người ta như vậy.

Pv: Xin cám ơn những chia sẻ, nhận định của chị!

Thực hiện ngày 10/9/2010

Paulus Lê Sơn


Monday, September 13, 2010

Thái Lan phản đối cuộc họp báo lên án vi phạm nhân quyền ở Việt Nam

DCVOnlineTin tổng hợp


Thái Lan phản đối cuộc họp báo lên án vi phạm nhân quyền ở Việt Nam


Bangkok – Thái Lan từ chối không cho dùng thủ đô Bangkok làm địa điểm công bố chuyện Việt Nam vi phạm nhân quyền và theo tường thuật, Thái Lan đã từ chối chiếu khán nhập cảnh cho người cầm đầu chương trình này, theo nguồn tin cho hay hôm nay Chủ Nhật ngày 12 tháng Chín năm 2010.

Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền (IFHR) và Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam (VCHR) có trụ sở ở Ba Lê (Paris) có kế hoạch tổ chức một cuộc họp báo ở Bangkok hôm thứ Hai ở Câu lạc bộ Báo chí Thái Lan (FCCT) để công bố bản báo cáo mang tựa đề Từ Viễn mơ đến Thực tế: Nhân quyền cho Việt Nam.

Việt Nam, một trong những nước cộng sản còn sót lại, hiện đang giữ vai trò chủ tịch Hiệp hội Các Nước Đông Nam Á châu (ASEAN), mà Thái Lan là một thành viên thành lập.

“Mặc dù chính phủ Hoàng gia Thái Lan xem nguyên tắc tự do ngôn luận và thể hiện quan điểm đa dạng là điều rất quan trọng, chính phủ Thái Lan cũng có một lập trường lâu dài là không cho phép những tổ chức hay cá nhân nào dùng Thái Lan như một nơi đề từ đó tiến hành những hoạt động làm phương hại đến những nước khác,” phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Thái Lan ông Thani Thongpaksi nói trong một thông báo gởi cho báo chí.

“Vì vậy, tôi hy vọng Câu lạc bộ Báo chí sẽ tôn trọng lập trường này và không cho phép cơ sở của mình được dùng cho những hoạt động như thế,” ông nói.

Cuộc họp báo sẽ được chủ tọa bởi Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm người Việt Nam ông Võ Văn Ái và phó chủ tịch bà Penelope Faulkner.

Ông Võ Văn Ái, người chỉ trích nhà nước Việt Nam và cũng là người điều hành Phòng Thông tin Phật giáo ở Ba Lê (Paris), thoạt đầu được cấp chiếu khán nhập cảnh Thái Lan nhưng sau đó bị hủy bởi toà Đại sứ Thái Lan ở Pháp, theo những nguồn tin cho hay.

“Chúng tôi cảm nhận đây là một điều không may rằng chính phủ Thái Lan áp lực lên chúng tôi như thế này. Chúng tôi rất cám ơn nếu chính phủ (Hoàng gia Thái Lan) xét duyệt lại áp lực này,” FCCT nói trong bản thông báo.

Theo bản thông tin báo chí của IFHR và VCHR hôm thứ Sáu ngày 10 tháng Chín, ông Võ Văn Ái trình bày quan điểm của mình: “Là Chủ tịch luân phiên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Việt Nam đã thất bại trong việc duy trì các ngưỡng vọng nhân quyền và bảo đảm những điều quy định trong Hiến chương ASEAN cũng như trong Hiến pháp Việt Nam. Tình trạng nhân quyền tồi tệ của Việt Nam đang phá hoại nghiêm trọng nỗ lực mà ASEAN mong muốn xây dựng một Cộng đồng cho dân, và cai quản bằng pháp quyền”.

Bà Souhayr Belhassen, Chủ tịch Liên Đoàn Quốc tế Nhân quyền thì cho rằng: “Dù đã tham gia ký kết bảy công ước nhân quyền, nhưng Việt Nam ít thực hiện những lời cam kết theo luật pháp quốc tế, lại tiếp tục vi phạm những nhân quyền cơ bản đối với nhân dân nước họ.”

Được biết, Cuộc Họp báo do ông Võ Văn Ái chủ trì - nếu được tiến hành - sẽ xảy ra vào ngày hôm nay thứ Hai, 13 tháng Chín tại Câu Lạc Bộ Báo chí Quốc tế ở Thái Lan.

Theo thống kê của Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam cho hay trên trang mạng của mình, “trong tháng 8.2010, có ít nhất 258 tù nhân chính trị đang bị tù mặc dù Hà Nội không ngừng khẳng định rằng ở Việt Nam không có tù nhân chính trị.

Ít nhất có 17 người bị tù vì sử dụng ôn hòa quyền ngôn luận trên mạng Internet. Đã có 749 trường hợp sách nhiễu và đe dọa các nhà báo trong năm 2009. Chỉ riêng trong tháng giêng 2010, đã có 359 trường hợp tương tự xẩy ra.

Án tử hình xẩy ra thường xuyên, nhưng số liệu thống kê bị liệt vào “bí mật quốc gia” kể từ tháng giêng năm 2004. Năm nay, 2010, theo nguồn tin chính thức đã có 11 án tử hình riêng trong tháng giêng.”

Theo bản tin mới nhất của DPA, cuộc họp báo này đã bị hủy bỏ, "Chúng tôi quyết định không tổ chức cuộc họp báo này nữa, vì cả hai diễn giả đã bị từ chối chiếu khán nhập cảnh vào Thái Lan," ông Shwe Ye, phát ngôn viên của Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền cho hay hôm nay Chủ Nhật ngày 12 tháng Chín năm 2010.


© DCVOnline

Sunday, September 12, 2010

Ký giả Đức tán chuyện giao thông Hà Nội

Theo tuanvietnam.net

Bóp còi là nghĩa vụ công dân tại Việt Nam. Còi dùng để cướp đường, cũng có khi chỉ vì tay đang rảnh rỗi, cũng có khi do cả hai. Thậm chí, vì vô cớ, muốn chơi trội giữa trời đất.

Với cư dân Hà Thành, giao thông Hà Nội là một phần cuộc sống, thường nhật như không khí để thở, nước để uống; nhưng trong con mắt của người nước ngoài lạ lẫm tới, lại là những phát hiện khác thường. Biết được những khám phá đó của họ về mình, dù sai đúng cũng là điều thú vị, nhất là bài viết mới đây đăng trên trang mạng Welt online Đức, với tiêu đề "Giao thông Hà Nội - một sự điên rồ hoàn toàn bình thường", thu hút rất nhiều độc giả Đức bình luận.

Bạn cảm thấy mình rất chịu chơi ư? Bạn thấy chưa việc gì có thể thoả mãn tính thích hung hiểm, hay bạn thấy sức khoẻ của mình tốt như kim cương không gì tàn phá được? Vậy mời bạn tham gia giao thông tại Việt Nam, bạn sẽ được mở rộng tầm mắt.

Bóp còi là nghĩa vụ công dân tại Việt Nam. Còi dùng để cướp đường, cũng có khi chỉ vì tay đang rảnh rỗi, cũng có khi do cả hai. Thậm chí, vì vô cớ, muốn chơi trội giữa trời đất. Tiếng còi khắp mọi nơi, đằng sau, đằng trước, trái, phải, đâu đâu cũng ing ỏi còi, 24 trên 24, bảy ngày trong tuần.

Tiếng còi cũng rất vô cùng, muôn màu muôn vẻ, người thì lắp còi ngắn tiếng nhưng chói tai, người thì dùng còi âm dài nhưng trầm đục, một văn hoá âm thanh phát triển nhất thế giới. Gần đây, tôi còn nghe có vụ tài xế xe tải trang bị còi mạnh 300 Dez. (trong khi máy khoan bê tông chỉ gây tiếng ồn 120 Dez.) làm một người phụ nữ đi đường giật mình đánh rơi đứa con đang bế, khiến nó mất mạng. Người Việt hay gọi Lào là nước "vạn tượng", nên tôi cũng xin được mạn phép gọi Việt Nam là đất nước "vạn còi"!

Tôi cho rằng, người Việt, ai cũng nghĩ mình phải có vài ba mạng sống, nếu không thì chẳng ai dại gì tham gia giao thông, bởi lúc nào cũng phải đem mạng mình ra cá cược. Trên luật là đi lề phải nhưng thường thì chỗ nào cũng phóng lên được, kể cả vỉa hè, ụ chắn, miễn là có chỗ. Nháy đèn như ở Đức là gì? Ở đây được coi là trò vô duyên. Dành cho mọi việc, bạn đều phải sử dụng vũ khí tối hậu: còi. Nếu bạn bị tai nạn giao thông thì sao? Câu trả lời chỉ có một: chết là cái chắc. Cấp cứu khẩn cấp ư? Ai điên mà lao đầu xuống đường đầy xe để cấp cứu bạn?

Nếu có người nhân từ gọi điện cho xe cấp cứu ư, bạn cũng khó còn sống để đợi. Bởi xe cũng phải mất vài tiếng mới tới nơi. Tại đây xe cấp cứu không ai nhường đường, không chỉ bởi mọi người vô ý thức, mà đơn giản vì nếu họ có muốn nhường đường thì cũng không có chỗ để tránh.

Thậm chí bọn vô lại còn lợi dụng lúc nạn nhân nằm lăn ra để nhảy vào móc túi. Tốt nhất đừng để vướng vào tai nạn, đồng nghĩa với việc muốn chắc chắn nhất thì đừng ra đường. Công an giao thông Việt Nam đúng ra có nhiệm vụ nặng nề nhất thế giới, nhưng chắc quá bận, hoặc qúa khác so với đồng nghiệp quốc tế, nên hầu như không bao giờ thấy được mặt họ trên đường, ngoại trừ trên vài trục chính.

Xe máy tại Việt Nam là phương tiện giao thông số một, giống như ô tô tại Đức. Vì vậy mọi người dùng nó để chuyên trở mọi thứ khiến ta phải ngạc nhiên bội phục, từ dăm thành viên gia đình tới rau quả, đồ ăn, thậm chí gia súc, bò lợn vừa giết mổ còn nguyên móc hàm. Có hôm tôi tưởng mình năm mơ, khi nhìn một chiếc tủ to bự tự chạy trên đường, tới lúc vượt qua mới thấy đằng trước có người lái.

Có phụ nữ còn cưỡi sau chiếc xe đang phóng bạt mạng vạch vú cho con bú. Việt Nam đang chịu đựng mùa hè nóng nhất từ 50 năm nay. Nhiệt độ thường xuyên quá 40. Vì muốn tránh cho da bị đen nên phụ nữ ra đường thường che kín tay chân mặt mũi, thậm chí đeo cả găng tay. Thêm vào kích râm, khẩu trang bịt mặt và đội mũ bảo hiểm trông họ không khác mấy nhân viên làm việc trong nhà máy điện nguyên tử cần phòng chống phóng xạ. Nhiều người trang bị đen từ đầu tới chân khiến tôi nghĩ tới bọn khủng bố Hồi giáo.

Không khí tại đây ô nhiễm nặng nề, khi xe cộ tăng mỗi năm lên 15%, bụi từ đường thêm vào khói xe cộng bụi xây dựng và mùi rác rưởi tạo một cảm giác qúa ngột ngạt. Hiện nay tỉ lệ ô nhiễm không khí tại Việt Nam cao gấp ba ranh giới gây hại sức khỏe. Bạn muốn đổ xăng thì nên căng mắt ra tìm, nếu chưa biết thì không tìm ra được, nếu biết được rồi thì sẽ thấy ở đâu cũng có. Các trạm xăng xe máy nhỏ thường đựng xăng trong vỏ chai cola và hay để vài chai đục mờ lên ghế con tại lề đường, chớ đừng tưởng đó là cola thật rồi tu.

Nếu bạn muốn đi xe đạp thì nên để ý tới bàn chân của mình khi dừng xe, chân có thể bị xe sau cán nát bất kỳ lúc nào. Người Việt ai cũng có phong cách đi ngổ ngáo, hình thành phong cách chung là không ai nhường ai, chính bởi ai cũng đi và nghĩ như ai, nên thường không sao; bạn chỉ cần làm khác một chút, hay tưởng nhầm đang chạy xe ở nước bạn, nhường nhịn ai đó, thì coi như cầm chắc tai nạn. Cái đó đã nằm trong máu của mọi người.

Tôi đã có lúc mục thị một người mẹ dạy con mình tập đi xe đạp trên luồng đường chính, nhằm giờ cao điểm.

Khi tôi trò chuyện với một đồng hương đang làm việc một năm nay tại Hà Nội, anh mỉm cười nói rằng, lúc đầu anh cũng không quen nhưng chỉ sau vài tháng, anh thấy nếu quay lại Đức sẽ rất nhớ tới tiếng còi và những con đường đầy rác rưởi tại xứ sở này, vì nó hình thành nên một phần máu thịt mình khi sống ở đây mất rồi.

Nếu thực sự đúng vậy, thì đó qủa là lý do hoàn toàn tự nhiên khiến không ai chịu bắt tay vào khắc phục các vấn đề giao thông tại Việt Nam, hoặc giả họ sợ mất đi phong cách riêng của mình chăng?

Saturday, September 11, 2010

Nguyễn Xuân Diện: MÔI TRƯỜNG SỐNG KHÔNG ĐỂ "TRỒNG NGƯỜI"

Nguyễn Xuân Diện: MÔI TRƯỜNG SỐNG KHÔNG ĐỂ "TRỒNG NGƯỜI": "Môi trường sống không để “trồng người”? Nguyễn Hoàng Một môi trường sống thiếu vắng cả không gian và thời gian tuổi thơ là một môi..."

Hòa giải dân tộc không chỉ thả tù binh Cọng Hòa mà phải là đại xá toàn dân.

Theo NguoiViet Boston

Thiên Ðức

Trong thời gian gần đây, trên trang mạng Bauxite Việt Nam có phổ biến bài viết với tựa đề: “Kiến nghị trả tự do cho tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam Cọng Hòa, lấy “Việt Nam” làm quốc hiệu để hoa giải dân tộc“

su thatBài viết kết thúc như sau:
“Nhân danh con trai Nhà thơ Huy Cận, Bộ trưởng thành viên Chính phủ khai sáng nền Cộng hòa và nhân danh cá nhân, kiến nghị Quốc hội khẩn cấp thực hiện Hòa giải dân tộc bằng:
1. Ðại xá tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa theo Khoản 10 Ðiều 84 Hiến pháp (Quốc hội quyết định đại xá).
2. Lấy “Việt Nam” làm quốc hiệu thay cho “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Khoản 1 Ðiều 84 Hiến pháp (Quốc hội làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp). (1)

Qua bản kiến nghị trên, hai cụm đại xá và hòa giải dân tộc đã sử dụng một cách ngộ nhận, gây nhiều tranh cãi.

1)- Ðại xá:

Trở lại thời điểm lịch sử vào năm 1975, khi những người lính Cọng Hòa miễn cưỡng buông súng theo lệnh của vị chỉ huy đầu đàn là tướng Dương Văn Minh, cũng là lúc chế độ mới thiết lập tại miền Nam Việt Nam. Nhằm hòa giải dân tộc, để thông suốt chánh sách đường lối cai trị mới, nhà cầm quyền đã đề ra chính sách học tập cải tạo toàn bộ quân nhân cán chính miền Nam Việt Nam, mang theo lương thực đủ ăn 10 ngày hoặc một tháng tùy theo cấp bậc. Và thực tế cho đến nay hơn 35 năm, vẫn còn có những người tham gia học tập cải tạo chưa được về với gia đình?

Ðiều này nói lên một thực tế là đảng cọng sản Việt Nam đã phản bội lại chính mình, đã lợi dụng chính sách học tập cải tạo để trả thù đê tiện những người từng phục vụ dưới chế độ Cọng Hòa, với một lý do duy nhất là những người này không bao giờ tự nhận là người có tội với tổ quốc và dân tộc.

Thật vậy họ là những người bảo vệ tổ quốc, bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa không để rơi vào tay ngoại bang, họ là những người đã từng cưu mang một triệu người miền Bắc chạy trốn chế độ cọng sản miền Bắc vào năm 1954. Thì làm sao có thể buộc họ có tội với tổ quốc và nhân dân? Họ là những người từng cầm súng bảo vệ quê hương làng mạc nơi họ đang sống để chống lại mọi cuộc xâm lăng bất cứ từ đâu tới. Họ chưa từng cầm súng chiếm đoạt một vùng đất nào ngoài lãnh thổ của họ, nhưng cũng chưa để mất một tấc đất nào của tổ tiên để lại.

Theo lời kể của cựu tù chính trị Nguyễn Ngọc Quang về cựu đại úy địa phương quân Nguyễn Hữu Cầu, quân lực VNCH hiện đang bị học tập cải tạo 34 năm nay như sau:

Sống trong tù với anh Nguyễn Hữu Cầu một thời gian không dài lắm, tôi cảm phục chí khí bất khuất kiên cường của anh Nguyễn Hữu Cầu. Anh đã gần 500 lần viết những lá đơn để kháng cáo tội bị gán cho mình. Nhà tù đã dùng biết bao cực hình để khuất phục ý chí của anh. Nhưng chưa một lần nào viết bản kiểm điểm mà anh ghi vào đó rằng “tôi nhận tội” cả. Mà anh ghi như thế này, “Tôi luôn luôn giữ quan điểm của mình là tôi vô tội. Người có tội chính là đảng CSVN”. Vì vậy anh luôn luôn bị biệt giam, bị cùm.

Ðối với người tù bất khuất Trương Văn Sương với thời gian 33 năm 4 tháng trong trại cải tạo vừa ra trai đã tuyên bố:
“Trong những ngày bị lao tù, tôi cũng mong một ngày nào đó có được một giải pháp chính trị để họ thả tôi ra. Thật ra, tôi không nghĩ rằng họ có nhân đạo thả tôi, hoặc tôi cũng không nghĩ rằng tôi là người cải tạo tiên tiến để được đặc xá hay giảm án, tha án gì. Tôi mong rằng có một giải pháp chính trị nào đó để giúp giải quyết cho những người tù chính trị.” (2)

Giả thiết, đảo ngược lại, có một đội quân ngoại nhập nào đó đến cướp đất đai, mồ mả làng xóm của những người cọng sản nói chung, hay của gia đình ls. Cù Huy Hà Vũ nói riêng, rồi bắt cha, ông những người dân trong vùng này đi biệt tích trong 35 năm, ép buộc họ nhận tội mới được thả ra có hợp lý không? Mong ông Cù Huy Hà Vũ trả lời theo lương tâm của một người con yêu của đất nước và theo lương tri của một người đã thành đạt trong ngành luật.

Ðảng csvn và nhà nước đã từng kêu gọi xếp lại quá khứ hướng về tương lai, thế mà giờ này vẫn còn giam giữ tù binh Cộng Hòa với bất cứ lý do gì, cũng là một điều nghịch lý đáng phê phán. Những người tù này phải được trả tự do vô điều kiện, và hành vi thả tù binh này không mang ý nghĩa hòa giải dân tộc như đã chứng minh trên, mà chỉ là một hành vi của lương tâm và đạo lý giữa con người Việt Nam với nhau.

Sự việc gán ghép hành vi trả tự do toàn bộ những người phục vụ chế độ Việt Nam Cọng Hòa sau ba mươi lăm năm giam giữ với ý nghĩa hòa giải dân tộc là một hành vi không trong sáng, cố tình đánh tráo lịch sử.

2)- Hòa giải dân tộc:

Khi đất nước chấm dứt tiếng súng, hai miền Nam Bắc nối liền nhau, đảng csvn đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng, đó là dựa trên lý tưởng “Vô sản toàn thế giới đoàn kết lại” để chia dân tộc Việt Nam ra hai thành phần “Vô sản và không vô sản”.

Ðặc biệt thành phần “không vô sản” phải bị tiêu diệt dưới mọi hình thức. Là người Việt Nam không ai không biết hậu quả của chính sách cải cách ruộng đất, “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ, cải cách công thương nghiệp, tổ chức bán dân, bán bãi xô đẩy người dân vào lòng biển cả…, chính sách mở rộng cửa tù cho những người có tiếng nói khác biệt. Tất cả đó chính là nguồn gốc của hận thù dân tộc.

image002Hình trái: Bia tưởng niệm thuyền nhân, dấu ấn của hận thù hay hòa giải dân tộc?
Ai gây ra cảnh này?

Hận thù Quốc Cộng (nếu có?) xảy ra trong chiến tranh và đang tàn lụi theo thời gian. Hận thù dân tộc do đảng cs gây nên xảy ra trong hòa bình, kéo dài từ khi có đảng cho đến ngày nay.
Những người phục vụ chế độ Việt Nam Cọng Hòa không gây hận thù dân tộc, mà chính đảng cọng sản gây ra và nuôi dưỡng hận thù dân tộc.

Nội hàm này người viết đã từng nhiều lần trình bày rõ ràng qua nhiều loạt bài viết như:
- Ðối thoại với ông Võ Văn Kiệt và đảng csvn: Xếp lại quá khứ? (3)
- Hòa hợp hòa giải dân tộc (4)
- Phong thủy tính sổ ngày tàn chế độ cọng sản Việt nam. (5)

Không ai có thể nhập nhằng và đánh tráo lịch sử giữa hòa giải dân tộc và hòa giải “Quốc Cộng” để trốn tránh trách nhiệm trước lịch sử.

Muốn hòa giải dân tộc chỉ có một con đường duy nhất đó là đảng cọng sản Việt Nam phải biết tôn trọng dân tộc Việt Nam thể hiện qua hai bước:
- Thứ nhất: Ðại xá toàn dân tộc vô điều kiện những người đang bị giam giữ tại quốc nội hoặc lưu đày ngoại quốc, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, thành phần giai cấp, địa vị xã hội.
- Thứ hai: mọi người Việt Nam đều có quyền bình đẳng ngang nhau, có nghĩa là đảng cọng sản Việt nam phải hoạt động trong vòng hiến pháp và luật pháp, ngang bằng với toàn dân tộc Việt.

Không thể có hòa giải dân tộc khi toàn dân tộc bị áp bức tù đày, bất công của luật pháp tồi tệ hơn cả thời kỳ Pháp thuộc, trong khi đảng csvn ngồi xổm trên hiến pháp và luật pháp như chính ông Nông Ðức Mạnh đã tuyên bố:

Theo Vietnamnet ngày 26/6/2010, Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh khẳng định: “Bộ máy Nhà nước ở Việt Nam không hoạt động theo nguyên tắc tam quyền phân lập mà có sự phân định nhiệm vụ, hoạt động thống nhất dưới sự lãnh đạo của Ðảng”. (6)

Mọi người Việt Nam phải được thủ đắc quyền và nghĩa vụ được ghi rõ ràng trong hiến pháp. Ðảng csvn chỉ là một bộ phận của dân tộc chứ không phải là một ngoại lệ để có quyền đứng trên và ngoài hiến pháp. Dân tộc Việt Nam không phải là dân tộc bị trị dưới quyền của đảng csvn. Ðảng Cộng sản Việt Nam chỉ là con dân, chứ không phải là cha mẹ dân tộc Việt Nam.

Bao lâu đảng cọng sản Việt Nam chưa thể hiện được hai bước căn bản này thì hận thù dân tộc sẽ ngày càng chồng chất theo thời gian, và hòa hợp hòa giải dân tộc chỉ là cái bong bóng nước bọt trên đầu môi của mỗi người dân Việt mà thôi.

Luật sư Cù Huy Hà Vũ nói riêng và giới sĩ phu Việt Nam nói chung mong muốn Việt Nam có hòa giải dân tộc nên nhìn thẳng vào thực tế để thực hiện một bước cụ thể trong thời gian sắp tới nhân dịp sửa đổi hiến pháp đó là:
- Ðề nghị chính sách hòa giải hòa hợp dân tộc trở thành quốc sách, phải được ưu tiên thi hành trong hiến pháp, trước tiên đại xá toàn dân, ngăn chận mọi hành vi trả thù phát xuất từ nhiều phía, và mọi công dân Việt Nam đều được quyền bình đẳng và hưởng mọi quyền lợi và nghĩa vụ ghi rõ trong hiến pháp không có ngoại lệ. Ðảng cọng sản Việt Nam cũng chỉ là một bộ phận dân tộc phải nằm trong hiến pháp.

Sự dũng cảm và đấu tranh nói lên sự thật là đáng khen ngợi, thế nhưng đánh tráo sự thật hay chỉ nói lên một nửa sự thật sẽ không bao giờ có kết quả như một sự thật đáng có.

Ghi chú:

1)- Kiến nghị trả tự do cho tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam Cọng Hòa, lấy “Việt Nam” làm quốc hiệu để hòa giải dân tộc
http://boxitvn.blogspot.com/2010/08/kien-nghi-tra-tu-do-cho-tat-ca-tu-nhan_31.html

2)- Còn biết bao người tù chính trị bất khuất trong cảnh đọa đày
http://www.rfa.org/vietnamese/vietnam/chinh-tri/Plight-of-long-term-political-prisoners-in-vn-tquang-07252010125719.html

3)- Ðối thoại với ông Võ Văn Kiệt và đảng csvn: Xếp lại quá khứ?
http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=45&nid=107413

4)- Ðối thoại với ông Võ Văn Kiệt và đảng csvn: Ðể hòa giải hòa hợp dân tộc
http://anhduong.net/binhluan/May07/bai_viet_doi_thoai_voi_ong_vo_van_kiet_2__unicode_.htm

5)- Phong thủy tính sổ ngày tàn chế độ cọng sản Việt nam.
http://thongtinberlin.de/diendan/tinhsongaytanchedocsvn03.htm

6)- Nhà nước CHXHCNVN không phải là nhà nước pháp quyền
http://boxitvn.blogspot.com/2010/06/nha-nuoc-chxhcn-viet-nam-không-phai-la.html

Friday, September 10, 2010

Dân Hà Nội biểu tình chống cướp đất: Công An đàn áp, bắt giữ 6 người

Theo NguoiViet Online

HÀ NỘI (TH) .- Hàng trăm người dân ở thôn Phùng Khoang xã Trung Văn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, biểu tình chống nhà cầm quyền cướp đất đã bị đàn áp và bị bắt 6 người.

Chuyện xảy ra từ ngày 6/9/2010 dù ở ngay thủ đô nhưng đến ngày 9/9/2010 tin mới tới được báo điện tử Nữ Vương Công Lý phổ biến.

Người dân bị bắt nhốt trên xe của Công An, thò đầu qua lỗ thong hơi để thở. (Hình: NVCL)


Theo nguồn tin, đất của dân bị cưỡng chế giao cho nhà thầu xây “khu đô thị mới”, tiền đền bù dân không có đồng nào nhưng nhà thầu đã che chắn, mang xe cơ giới đến để san lấp đất và cả san lấp một phần hồ Phùng Khoang.


“Mọi người kéo nhau đến UBND Huyện đòi thả người vô điều kiện, nhưng họ không thả mà vẫn còn tiếp tục đánh đập, bắt một số người, họ dùng những thủ đoạn, những trò bỉ ổi, đến nhà bắt người ban đêm, đưa đi đâu không ai biết. Họ còn có lệnh bắt giữ thêm một số người đã quá bức xúc đi đòi quyền lợi, đòi công lý (như những người đánh trống kêu oan).

Hiện nay tại thôn Phùng Khoang xôn xao và vô cùng bức xúc trước những hành động khốn nạn của nhà cầm quyền.” Bản tin của một người địa phương phổ biến trên trang báo Nữ Vưong Công Lý viết hôm Thứ Năm.


Bài viết trên NVCL kể: “Theo điều 14 nghị định 64/CP của chính phủ ban hành ngày 18/6/1999 và quyết định số 471/QĐ – UB ngày 10/10/1998 của UBND Tp Hà Nội: Quỹ đất giành cho nhu cầu công ích của xã được quy định như sau:

Căn cứ vào quỹ đất đai, đặc điểm và nhu cầu của địa phương HĐND tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, quyết định tỉ lệ đất được để lại cho mỗi xã không quá 5%. Năm 1999 chia theo nghị định 64 thì mới chỉ chia 53%. Quỹ đất nông nghiệp để lại không giao cho các hộ dân sản xuất nông nghiệp. xã còn giữ lại chiếm 47% trong tổng quỹ đất nông nghiệp của địa phương, dẫn đến tình trạng nhiều hộ dân thiếu đất sản xuất. Trong khi đó, phần lớn diện tích xã giữ lại đều bị bỏ hoang hóa không được sử dụng, gây lãng phí, gây thiệt hại lớn đến kinh tế cũng như quyền lợi của nhân dân.”

Theo nguồn tin, năm 2009 bà con thôn Phùng Khoang đã đến UBND xã hỏi ông Chủ tịch xã (ông Dũng) và Phó Chủ Tịch xã thì được trả lời là khu đất đó chưa bán. Tháng 5/2009 chưa được thông báo, người dân chưa nhận đền bù mà đã thấy các nhà thầu, che chắn, đổ đất, san lấp mặt bằng trên phần đất của mình, đồng thời các nhà thầu đã rao bán trên mạng. Nên người dân đã bức xúc dựng 2 lều làm điểm canh giữ đất. Các nhà thầu đã không thể thi công được.


Nhưng đến ngày 6/9/2010 “thành phố đã huy động lực lượng hàng trăm công an, cảnh sát cơ động, dân phòng dân vệ, các ban ngành trong xã mang đầy đủ vũ khí: súng ống, rùi cui điện, lá chắn, cùng với xe cứu hoả, cứu thương, xe chở tội phạm đến để cưỡng chế (cướp đất của dân) trước khi cướp, họ đọc những gì không biết chỉ biêt có câu: “khu đất này đã được đền bù cho dân một cách hợp pháp” (mặc dù người dân chưa nhận được tiền đền bù).”


Người dân thôn Phùng Khoang “vô cùng bức xúc đã đến đòi, công lý, đòi quyền lợi và giữ 2 lều canh đất, thì bị công an bóp cổ, đánh đập giã man bằng mọi thủ đoạn, rồi bắt người đưa lên xe bịt kín không biết chở đi đâu”.

Máy xúc, máy ủi đất của “nhà đầu tư” san lấp ở bên hồ Phùng Khoang. (Hình: NVCL)


Tất cả có 6 người đã bị bắt mà nguồn tin nêu ra gồm Nguyễn Thị Sớm, Nguyễn Thị Liên, Lê Thị Trọng, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Nhất, và một người chưa rõ tên.

Giữa tháng 12 năm ngóai, báo VietnamNet đã có bài viết đả kích sự bất hợp lý của dự án xây “đô thị mới” ở Phùng Khoang, diện tích 28 ha (mẫu tây). Nhà cầm quyền thành phố cướp đất của dân bán cho nhà đầu tư lấy tiền. Không những bán đất của dân còn bán luôn cả hồ Phùng Khoang 16 ha (mẫu) để nhà thầu lấp đi phần lớn lấy đất xây nhà trong khi ngày mưa nào thành phố cũng ngập lụt vì thiếu chỗ thoát nước. Hồ này chỉ còn có 6.3 ha.


“Hồ Phùng Khoang những ngày này đang là một đại công trường san lấp quy mô lớn.
Xưa kia, cả một khu hồ mặt nước mênh mông xanh biếc, không khí trong lành nay đang bị những đống gạch, đất, cát đổ ngổn ngang lấn vào giữa lòng hồ, bụi cát công trường bay mù mịt.” VietnamNet viết.

Thursday, September 9, 2010

Văn Học Kiểu Hà Nội

TRẦN KHẢI . Việt Báo Thứ Ba, 9/7/2010, 12:00:00 AM

Văn Học Kiểu Hà Nội

Trần Khải
Khi ngòi bút được cầm lên và những cảm xúc được ghi xuống giấy, người ta gọi đó là văn học, bất kể đó có là những cảm xúc còn thơ dại của một em bé bậc tiểu học hay là những trầm tư thâm sâu của một học giả. Khi ngòi bút được cầm lên và những sự kiện lịch sử được ghi xuống giấy được tin là trung thực để cho đời sau đọc, người ta gọi đó là sử liệu, bất kể đó có là những cái nhìn từ những hướng khác nhau, từ cộng sản miền bắc hay từ quốc gia miền nam.
Khi ngòi bút được cầm lên, và ký hàng chục hay hàng trăm bút hiệu, viết xuống những lời tự ca ngợi mình, người ta gọi đó là nền văn học định hướng xã hội chủ nghĩa, mà người tiên phong là ông Hồ Chí Minh, người nổi tiếng với nhiều bút hiệu không ai có thể nhớ hết, trong đó nổi bật là hai bút hiệu Trần Dân Tiên và T. Lan sử dụng cho hai cuốn sách ông Hồ tự ca ngợi mình.
Nền văn học này chỉ độc đaó tại VN, nơi đang liên tục phát động chiến dịch “học theo gương bác Hồ vĩ đại.” Tất cả những hướng đi văn học khác tại VN, hoặc là trở thành ngoaì luồng, hoặc bị ngăn cấm, hoặc là bị xóa sổ.
Do vậy, định hướng văn học là một nhu cầu chính phủ CSVN đòi hỏi. Không định hướng đúng, văn học sẽ bị “lệch chuẩn,” nói theo lời các quan chức.
Trên báo SGGP ngày 20-8-2010, có bản tin nhan đề “Văn học nghệ thuật và giới trẻ: Cảnh báo lối rẽ thiếu định hướng” có nêu lời giáo sư Ca Lê Thuần, nói về điều gọi là “Hoạt động phát triển văn học nghệ thuật (VHNT) tại TPHCM rất năng động, sôi nổi với nhiều sáng tạo mới mẻ, đa dạng. Tuy nhiên, VHNT đang thiếu một bộ lọc để chọn lựa và tiếp nhận những khuynh hướng tốt. Chính điều này đã ảnh hưởng đến giới trẻ, làm công chúng trẻ tiếp nhận VHNT bằng cảm tính bản năng, thiếu định hướng thẩm mỹ đúng đắn.”
Thiếu một bộ lọc? Có thật là thiếu bộ lọc? Hay có phải nhà nước CSVN cố ý dựng tường lửa để lọc riêng theo nhu cầu?
Bài báo nhà nước yêu cầu phải góp phần định hướng kỹ hơn, ngắn gọn là phải xiết bàn tay định hướng kỹ hơn. Bài báo có đoạn kết:
“...Như thế, để VHNT phát triển đúng hướng, nâng cao xu hướng thẩm mỹ của công chúng trẻ thì cần có sự quan tâm nhiều hơn từ các ban ngành chức năng, các nhà lý luận phê bình và các cơ quan thông tin đại chúng. Qua đó, sẽ chỉ rõ cái nào tốt cần khuyến khích, cái nào chưa tốt hoặc xấu cần hạn chế hoặc xóa bỏ… như thế là góp phần định hướng cho đời sống VHNT TPHCM phát triển đúng và đầy đủ hơn.”
Đó là nói nhu cầu định hướng, nhưng theo động lực nào?
Trên báo SGGP hôm chủ nhật 5-9-2010, bài viết nhan đề “Một động lực của văn học nghệ thuật” ký tên tác giả Tân Văn đã viết, trích:
“...tính phục vụ của VH-NT chính là một giá trị cao nhất của VH-NT. Không phục vụ cho sự tiến bộ, cho đời sống tốt đẹp hơn, VH-NT không có lý do tồn tại...
...Các hoạt động VH-NT ở nước ta hiện nay rất cần có lý luận, phê bình soi rọi, giải mã. Về công việc của lý luận, phê bình chắc hẳn ai cũng biết! Có lẽ chỉ cần nói thêm, trong thế giới kỹ thuật số, nối mạng toàn cầu và xu hướng hội nhập như hiện nay, phê bình VH-NT cần có tư duy mới. Lý luận, phê bình không thể chung chung mơ hồ, duy ý chí hoặc duy tâm chủ quan, mà phải có hàm lượng tri thức cao, rõ ràng, cụ thể. Lý luận, phê bình VH-NT là một bộ phận không thể thiếu được trong hoạt động VH-NT. Do vậy, lý luận, phê bình phải có sức thuyết phục cao...” (hết trích)
Theo bài viết, như thế, văn học nghệ thuật... cần phê bình soi rọi, giảỉ mã... hàm lượng tri thức cao... có sức thuyết phục cao... Có thật như thế không? Nền văn học định hướng xã hội chủ nghĩa đang hiển lộ những đặc tính nào?
Có phải sợ lệch chuẩn, nên phải bẻ quẹo chuẩn? Có phải sợ các động lực văn học trung thực, nên phải biến tất cả động lực thành độc lực? Có phải soi rọi và giảỉ mã phải biến thành soi mói để xóa sổ tất cả những nền văn học không thuộc về Miền Bắc xã hội chủ nghĩa? Và có phải “phê bình phải có sức thuyết phục cao” là phảỉ tẩy não tất cả người đời sau bằng cái nhìn kiểu văn học “tự sướng” của Trần Dân Tiên và T. Lan?
Trên trang web Talawas.org hôm chủ nhật 5-9-2010, tác giả Nguyễn Vy Khanh với bài viết nhan đề “Văn học Miền Nam qua một bộ "văn học sử" của trong nước đã cho thấy mặt thật của nền phê bình văn học quốc nội.
Bài của Nguyễn Vy Khanh có trích đoạn sau:
“Miền Nam đây là Việt Nam Cộng hòa và nền văn học của những năm 1954-1975. Văn hóa và nền văn học của miền Nam sau những cuộc thanh lọc, bắt bớ và cấm đoán, vẫn tiếp tục bị những bất thường và quái gở của một thế giới văn hoá, biên tập cố tình làm cho sai lạc. Ai cũng biết sau ngày cưỡng chiếm miền Nam 30-4-1975, văn học và văn hóa Việt Nam Cộng hòa đã bị cấm đoán, phủ nhận như thế nào qua nhiều đợt tấn công, dàn cảnh. Nay, đã 35 năm sau, chiến thuật đó vẫn còn ở một nước Việt Nam hô hào cái gọi là 'cởi mở', 'kinh tế thị trường'. Mới đây, chúng tôi được đọc bộ Văn học Việt Nam nơi miền đất mới trên 4 ngàn trang gồm 4 tập của soạn giả Nguyễn Q. Thắng (NXB Văn Học, Hà Nội). Miền Đất Mới ở đây được soạn giả bao gồm miền Nam Lục tỉnh và miền Nam Cộng hòa; và trong các tập 3 và 4 chủ yếu vẫn là những cây viết của Đảng Cộng sản Việt Nam gồm nằm vùng, ly khai, tập kết, gởi vô Nam hoặc những cây viết từng có mặt thời Việt Nam Cộng hòa nhưng sau này sinh hoạt với các hội và báo chí của Cộng sản Việt Nam. Đặc biệt Nguyễn Q. Thắng đã xen vào đó những nhà văn của miền Nam 1954-1975, nhưng vì ông có thể nói hãy còn tuân theo một “chính sách” hay “chỉ thị” nào đó, do đó chưa thể là một bộ văn học sử đúng nghĩa – nghĩa là ghi nhận, tổng kết và phê phán các tác giả và tác phẩm như đã xuất hiện và sinh hoạt một thời.
Những phê phán, nhận xét có thể có những chủ đích chính trị:
1. Cố tình nêu sai danh tính các nhà văn Việt Nam Cộng hòa: Ngoại trừ trong một số trích (nguyên) văn, toàn bộ sách của Nguyễn Q. Thắng không nêu đích danh các nhà văn qua các bút hiệu đã dùng, đã quen với người đọc và đã đi vào văn học sử như Mai Thảo, Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu, Võ Phiến, mà lại dùng tên thật (tên khai sanh) của họ để làm tiêu đề cũng như đánh giá. Mai Thảo trở thành Nguyễn Đăng Sinh (tập 3, tr. 1233, trong khi tên thực thật của Mai Thảo là Nguyễn Đăng Quý) với chú thích rằng phần này được làm để thông tin về sinh hoạt báo chí và thơ tự do. Nhã Ca lúc được gọi là Thu Vân, lúc lại là Trần Thị Thu Vân. Võ Phiến thành Đoàn Thế Nhơn, Trùng Dương có lúc là Trùng Dương Nguyễn Thị Thái, v.v…
Nhà văn học sử khi viết về các tác giả văn học đều phải ghi bút hiệu là chính, chỉ ở những phần tiểu sử mới nhắc đến tên thật, hoặc giả tác giả đó dùng tên thật để sinh hoạt văn học nghệ thuật thì mới ghi tên thật: Giáo sư Nguyễn Văn Trung có các bút hiệu Hoàng Thái Linh, Phan Mai, nhưng các bút hiệu này chỉ được sử dụng hạn chế và khi xuất bản tác phẩm, tên thật của ông được ghi thì nhà viết văn học đương nhiên phải dùng tên thật của ông. Nguyên Sa ngược lại là một nhà thơ khi ký Nguyên Sa, và khi viết sách giáo khoa triết học (Descartes nhìn từ phương Đông, Luận lý học, Luận Triết học, v.v…) thì ký Trần Bích Lan (riêng cuốn Một bông hồng cho văn nghệ ký Trần Bích Lan khi nhà Trình Bày xuất bản năm 1967; khi ra hải ngoại NXB Đời của ông tái bản thì ký Nguyên Sa); do đó khi viết về nhà thơ Nguyên Sa, người ta có thể nói đến những sách giáo khoa mà ông là tác giả, dĩ nhiên là không thể ngược lại, viết về ”nhà thơ Trần Bích Lan” vì không hề có nhà thơ Trần Bích Lan dù Nguyên Sa và Trần Bích Lan là một người.
- Lê Vĩnh Hòa được ghi trong tiểu sử là “em ruột văn sĩ Đoàn Thế Nhơn...” (tập 4, tr. 270 – từ đây các chú thích đều trích từ tập 4) - thay vì Võ Phiến!
- Về hai nhà văn Y Uyên và Doãn Dân, ông Nguyễn Q. Thắng chỉ ghi năm mất của Doãn Dân; còn Y Uyên thì “mất năm 1969 đang độ tài hoa nẩy nở”(tr. 827) nhưng không ghi rõ chết vì đạn pháo của ai (Việt Cộng!) trong khi các tay văn nghệ nằm vùng ở miền Nam vô bưng chết thì được ghi lý do chết: Lê Vĩnh Hòa thì “hi sinh trong một trận chống càn tại Long Mĩ, Xẻo Giá...” (tr. 270); Trần Triệu Luật thì “hi sinh trên đường công tác ở Tây Ninh (cùng nơi cùng ngày với) Trần Quang Long”. Trần Triệu Luật được đề cao trong một mục từ riêng (51- TTL, nhà văn chiến sĩ) cũng như Trần Quang Long (42- TQL với thi đề 'nghiêng nón'”!
- Về Luân Hoán thì một chi tiết trong tiểu sử nếu không được nhắc đến vẫn còn hơn là ghi như Nguyễn Q. Thắng: “Những năm 60 ông (LH) bị động viên vào quân trường Thủ Đức một thời gian rồi trở về đời sống dân sự” vì phải thêm rằng sau Thủ Đức, nhà thơ Luân Hoán ra chiến trường và bị đạn pháo “quân thù” làm mất một chân! (...)
...3. Những đánh giá và xếp loại vô nghĩa, lỗi thời:
Đây là trường hợp các nhà văn nữ miền Nam thời ấy Túy Hồng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, kể cả Nhã Ca, đều bị Nguyễn Q. Thắng gán cho nhãn hiệu 'vô sỉ'. Theo ông, các vị này mà ông gộp chung là “những người cùng nhóm là một thứ 'vô sỉ' (cynique) trong văn chương. Nghĩa là họ đem những cái không đáng phô trương ra quảng diễn không chút e dè (Nguyễn Thị Thụy Vũ tr.455, Trùng Dương tr.872, Nguyễn Thị Hoàng tr.629,…)”. Nguyễn Q. Thắng thêm rằng Nguyễn Thị Thụy Vũ làm công việc này “khá nhiệt tình trên từng trang văn”, còn tác phẩm nhà văn Trùng Dương “đều được dựng nên bởi nhân sinh quan và thế giới quan một cách “hiện sinh”, buông xả và gần như vô sỉ” (tr. 872, 873). Nặng nề nhất là với nhà văn Túy Hồng mà Nguyễn Q. Thắng cho rằng cùng với các nhà văn nữ kia “từng gây nên hiện tượng văn học có tính nhục cảm dồn nén thể xác của các cô gái lỡ thì... (một cách) tiêu biểu nhất” (tr. 538). Đây là thứ ngôn ngữ của Vũ Hạnh và Tin Văn (do Nguyễn Ngọc Lương, Trần Bạch Đằng chi phối, điều khiển)!
Nhà văn Nhã Ca có lẽ bị nặng nề nhất trong bộ gọi là văn học sử này. Với mục đề “35-Thu Vân, nhà văn dùng tính dục để giải quyết vấn đề” mấy ai nghĩ là Nguyễn Q. Thắng nói về nhà văn Nhã Ca? Ở trang 639, “Thu Vân” biến thành “Trần Thị Thu Vân”, và khi viết về thơ Nhã Ca, không, về nhà thơ Thu Vân chớ, thì ông Nguyễn Q. Thắng viết như sau: “Bà còn là một thi sĩ với những thi đề có giá trị nghệ thuật của mĩ tính thi ca hiện đại có thể nói thơ bà Thu Vân vượt trên văn bà Thu Vân”. Sau đó ông trích bài thơ nổi tiếng của bà nhưng lại cắt mất một phần tựa đề chỉ vì trùng với bút hiệu thật của bà (Nhã Ca!): “Bài… Ca thứ nhất”!
Nhà văn Nhật Tiến khi viết về các nhà văn nữ này đã nhẹ nhàng nhận xét rằng “...những tác phẩm viết táo bạo của giới cầm bút phụ nữ, gây cho độc giả một ấn tượng mới mẻ về những ý tưởng muốn thoát ly cái vỏ phụ nữ Á-đông thuần túy...” (Bách Khoa, 1967). Gần đây, nhà thơ Du Tử Lê thì khẳng định rằng “Nhã Ca, nhà văn nữ nói “không” với dục tính” trong bài viết cùng tựa đề trên tờ Người Việt (CA) số 6-4-2010...”(hết trích)
Chúng ta suy nghĩ như thế nào về những người cầm bút phê bình văn học như Nguyễn Quốc Thắng, người viết 4.000 trang chỉ để bóp méo động lực, bẻ quẹo định hướng, bôi đen văn học Miền Nam?
Khi một em bé ở bậc tiểu học hay trung học tập làm những câu lục bát đơn sơ trong đời em, đó là những dòng thơ tinh tuyền và trong sáng.
Khi ông Hồ cầm bút và hoàn tất tác phẩm tự ca ngợi mình với chữ ký tên là Trần Dân Tiên, người ta còn gọi đó là “nền văn học tự sướng,” và sẽ sinh nở ra những nhà phê bình kiểu Nguyễn Quốc Thắng, những người không thể nhìn cuộc đời xa hơn đầu gối ông Hồ.
Bài viết của tác giả Nguyễn Vy Khanh trên Talawas.org cũng thu hút nhiều bình luận từ nhiều nhà văn khác. Và hiển nhiên đây là một đề tài lý thú cho mùa Quốc Khánh CSVN năm nay.
Điều quan tâm bây giờ là, bao giờ nền văn học hồn nhiên thơ trẻ và trung thực được phép trả về cho đồng bào tôi.

TRẦN KHẢI

Wednesday, September 8, 2010

Đâu phải là vùng duyên hải của Trung Quốc đâu mà la làng

Southeast Asia Sea

Ralph CossaNguyên Hân lược dịch


Đâu phải là vùng duyên hải của Trung Quốc mà la làng


Nhờ ai đó rảnh vui lòng cho người phát ngôn viên của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (QDGPNDTQ) một tấm bản đồ. Mấy tháng vừa qua, kể từ lúc còn là tin đồn, rồi phủ nhận, và rồi xác nhận việc hàng không mẫu hạm George Washington có thể sẽ tham dự cuộc thao diễn nhằm “biểu dương sức mạnh” của hải quân ở vùng duyên hải phía tây của Nam Hàn, người của QDGPND cho đến nay vẫn tuyên bố họ “kiên quyết chống máy bay và tàu chiến nước ngoài tiến hành hoạt động trong vùng biển Hoàng Hải (Yellow Sea) và vùng duyên hải của Trung Quốc mà điều này có thể phương hại đến lợi ích an ninh của Trung Quốc.

Vùng duyên hải Trung Quốc? Trong lúc khu vực hoạt động của chiếc George Washington chưa được lên kế hoạch, thì người ta giả định là chiếc hàng không mẫu hạm này sẽ hoạt động ngay trong hay gần lãnh hải của Nam Hàn, đâu đó gần chỗ chiếc chiến hạm Cheonan của Hải quân Nam Hàn bị đánh chìm bởi thủy lôi của Bắc Hàn. Chỗ này cách bờ biển gần nhất của Trung Hoa 195 cây số ở bán đảo Shandong và cách 280 cây số tính từ đây tới thành phố gần nhất tương đối lớn một chút, là thành phố Dalian. Làm sao điều này có thể phương hại đến nền an ninh của Trung Quốc?

Bất chấp những dự kiện địa lý như thế, người thuyết minh của QDGPND cảnh cáo cái khả năng “đụng nhau” giữa những chiến hạm của Trung Quốc và Hoa Kỳ/Nam Hàn, cùng lúc người khác lên tiếng hăm dọa “Nếu người nào đó gây tổn hại cho tôi, tôi phải gây tổn hại lại người đó.” Kể từ lúc nào mà hoạt động ở hay gần vùng duyên hải của Nam Hàn – vùng biển Hoàng Hải tiếp giáp Bắc và Nam Hàn cũng như bờ duyên hải Trung Hoa – đồng nghĩa với hăm dọa Trung Quốc hay gây tổn hại cho họ?

USS George Washington. Nguồn: US Navy
Có phải QDGPND Trung Quốc giờ đây cho rằng cảng Incheon của Nam Hàn là một phần duyên hải của họ? Liệu tàu của Hoa Kỳ (hay Nam Hàn) phải xin phép Trung Quốc để đi qua vùng hải phận quốc tế rất gần với đất liền của Đại Hàn hơn là Trung Quốc? Điều này, dĩ nhiên là lố bịch. Điều nực cười là thoạt đầu Hoa Kỳ không có kế hoạch điều chiếc hàng không mẫu hạm George Washington vào vùng biển Hoàng Hải. Thực thế, cả Hoa Thạnh Đốn lẫn Hán Thành đều hy vọng một cuộc biểu dương sức mạnh sẽ không cần thiết chút nào, đó là lý do tại sao họ hoãn kế hoạch thao diễn hải quân chung; thay vào đó, họ đưa Bắc Hàn ra Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (HĐBALHQ), một phương cách “đứng đắn” để gởi ra một thông điệp.

Không may, chính thái độ của Bắc Kinh ở HĐBALHQ – nơi mà Bắc Kinh đứng ra làm luật sư biện hộ cho Bình Nhưỡng mặc dù trước đó Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã cam kết là sẽ nghiên cứu kỹ lưỡng kết quả điều tra của quốc tế trong vụ tấn công chiến hạm Cheonan “một cách công bằng và khách quan” và “không bảo vệ ai qua chuyện xem xét này” – đã thúc đẩy chuyện thao diễn quân sự này đến chỗ cần thiết phải làm, để chống lại cái mà Bình Nhưỡng tuyên bố là “chiến thắng ngoại giao vĩ đại” của họ ở Liên Hiệp Quốc.

Ngay cả sau khi Trung Quốc có những động thái như thế ở HDBA Liên Hiệp Quốc, sự chọn lựa của Hải quân Hoa Kỳ là hạn chế sự liên quan của chiếc hàng không mẫu hạm George Washington qua lần thao diễn quân sự hỗn hợp lần đầu tiên ở vùng duyên hải phía đông của Nam Hàn, như là một phần biểu dương sức mạnh quân sự có ý nghĩa, nhắm vào Bình Nhưỡng để Bắc Hàn thấy rằng mức chịu đựng của Nam Hàn và Hoa Kỳ có giới hạn, và những hành động gây hấn, khiêu khích trong tương lai sẽ không được tha thứ.

Và rồi là tối hậu thư của Trung Quốc gởi đến và cảnh cáo Hải quân Hoa Kỳ không được vào vùng “duyên hải – mà thực ra, đó là quốc tế -- của Trung Quốc, đi kèm ngay sau đó là một loạt than phiền từ nhiều bạn bè và đồng minh (đặc biệt là Nam Hàn và Nhật Bản), họ cằn nhằn “cái điều” là Hoa Kỳ tuồng như khúm núm nhượng bộ trước sự đòi hỏi của Trung Quốc. Điều này làm cho cuộc viếng vùng biển Hoàng Hải của hàng không mẫu hạm trở nên thiết yếu, nếu Hải quân Hoa Kỳ, chưa nói đến cái nguyên tắc tôn trọng sự tự do giao thông trên mặt biển đã có lâu đời, muốn duy trì bất kỳ niềm tin và uy tín nào của mình ở Đông Á châu.

Phát ngôn viên của chính phủ Hoa Kỳ đã lập đi lập lại rằng hoạt động hải quân này là không nhằm nhắm vào Trung Quốc; cuộc thao diễn này đã, và đang nhằm gởi cho Bắc Hàn một lời cảnh cáo. Tuy nhiên, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, qua những cảnh cáo và tuyên bố thô bạo và thái quá, cũng làm bất lợi cho Trung Quốc. Vấn đề là, tại sao nên nỗi thế?

Đâu phải là vủng duyên hải của Trung Quốc đâu mà la làng la xóm? Nguồn: Straits Times
Cho những ai có khuynh hướng cho rằng Quân đội Giải phóng Nhân dân đang cố tạo hay thổi phồng một kẻ thù để lấy cớ gia tăng ngân qũy quốc phòng hay nhằm đẩy giới dân sự -- những người có thể “mềm mỏng trong vấn đề quốc phòng – vào cái thế thụ động. Có lẽ thế! Nhưng tôi cũng thấy có những ý đồ khác.

Một kết quả rõ ràng qua việc Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc lên án Hoa Kỳ là một sự gia tăng thấy rõ của cái gọi là cảm tính yêu nước và chống Hoa Kỳ. Chỉ cần đọc Nhật báo Trung Quốc (China Daily) hay Thời báo Toàn cầu (Global Times) người ta sẽ thấy sự lên án hằng ngày về việc người Hoa Kỳ sỉ nhục và vô cảm với những mối quan tâm của người Trung Hoa. Có thể nào chăng rằng sự mê mệt, quyến rũ của người Trung Hoa, đặc biệt là giới trẻ -- qua việc ông tổng thống Barack Obama và tiến trình người dân Hoa Kỳ chọn người lãnh đạo cho họ -- lại đặc biệt được xem như là sự hăm dọa cho Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và cũng là sự hăm dọa cho giới lãnh đạo dân sự mà họ đang chuẩn bị cho cuộc “bầu cử” lãnh đạo của chính họ vào năm 2012 tới?

Chúng ta đã từng chứng kiến một hiện tượng tương tự 12 năm về trước, là trong thời chính phủ Tổng thống Bill Clinton, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã gởi nhiều nhóm đến các trường đại học của Trung Quốc ngay liền sau khi NATO đánh nhầm bom vào Toà Đại sứ Trung Quốc ở Belgrade, họ khẳng định rằng cuộc đánh bom nhầm kia thực sự là một cuộc tấn công cố ý và khêu dậy cái cảm tính chống Hoa Kỳ và điều này đã đưa đến chuyện Toà Đại sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh bị ném đá và các lãnh sự quán bị tấn công. Nghe giống như chuyện đã rồi giờ tái diễn lần nữa.

Gỉa như Quân đội Giải phóng Nhân dân muốn bảo đảm cuộc thao diễn hải quân của Hoa Kỳ và Nam Hàn không nhắm vào hoặc hăm dọa đến Trung Quốc, hiện đang có cách để thảo luận vấn đề này, bao gồm cái cơ chế tham khảo gọi là Thỏa thuận An toàn Hàng hải Quân sự giữa Hoa Kỳ - Trung Quốc. Dĩ nhiên, điều đó ắt hẳn bắt buộc Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc thực sự ngồi xuống và đối thoại với quân đội Hoa Kỳ (3), là điều tuồng như ngày càng cho thấy họ miễn cưỡng không muốn làm. Biết đâu, nếu họ tiếp tục cuộc thảo luận quân sự đối với quân sự (military-to-military) mà hiện đang bị tránh né, thì Hải quân Hoa Kỳ có thể cung cấp cho họ một số bản đồ phác họa vùng duyên hải của mọi người.


© DCVOnline