Translate

Friday, August 6, 2010

Việt Nam cần đẩy mạnh nghiên cứu về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa

Trích RFI
và Trường Sa
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn
Đức Tâm

Vận động công luận quốc tế là yếu tố quan trọng trong cuộc đấu tranh giành lại chủ quyền chính đáng của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Khi so sánh tình hình Việt Nam và Trung Quốc, có một điều dễ dàng nhận thấy là chính quyền Bắc Kinh bật đèn xanh cho việc tuyên truyền công luận, giới học giả Trung Quốc được tham dự các hội thảo, đăng tải những bài viết bênh vực, biện minh cho lập trường của Trung Quốc.

Trong khi đó, tình hình tại Việt Nam thì gần như ngược lại hoàn toàn. Báo chí chính thống trong nước có đăng một số bài, chủ yếu là tổng hợp, trích dẫn các bài viết của giới nghiên cứu, thám hiểm nước ngoài trước đây, không có những bài viết nghiêm túc, mang tính học thuật. Thi thoảng có thông tin bằng tiếng Việt là lại tìm thấy thêm bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam. Còn trên diễn đàn thông tin quốc tế, trong các tập san chuyên ngành thì Việt Nam hầu như vắng bóng.

Mỗi khi xẩy ra những vụ Trung Quốc bắt giữ ngư dân Việt Nam đòi tiền chuộc, đâm chìm hoặc đe dọa, xua đuổi tàu đánh cá của Việt Nam thì công luận trong và ngoài nước lại được nghe tuyên bố quen thuộc của đại diện bộ Ngoại giao « Việt Nam có chủ quyền không thể chối cãi được đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa». Tất cả tạo cảm giác là chính quyền coi đây là một vấn đề chính trị thuần túy, rất nhậy cảm, không phải công việc của giới nghiên cứu.

Đây là những chủ đề mà RFI trao đổi cùng giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, tại Sydney, Úc. Với tư cách là một nhà khoa học, ông cho biết những suy nghĩ cá nhân và đưa ra một vài gợi ý.

*

RFI : Xin chào giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, trong vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc, một trong những yếu tố quan trọng là phải vận động công luận trong và ngoài nước. Trong thòi gian qua, phía Trung Quốc đã có những hoạt động theo hướng này. Đối với công luận trong nước, họ cho đăng những bài viết bênh vực lập trường của chính phủ, cho lập các diễn đàn hỏi đáp với sự tham gia của các học giả. Trên các web site của Trung Quốc hoặc quốc tế, giới nghiên cứu Trung Quốc đăng các bài phân tích, nhận định, đương nhiên là khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ờ đây mình chưa nói đến là các bài viết này đúng sai, ngụy tạo ra sao. Trong khi đó, ở Việt Nam, mọi việc có vẻ ngược lại. Thưa, giáo sư có ý kiến gì về tình trạng này ạ ?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn : Trước tiên, cảm ơn anh đã hỏi ý kiến về những vấn đề mà cá nhân tôi quan tâm. Tôi không phải là chuyên gia về khoa học xã hội, hay về những vấn đề thời sự như Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng đã là người Việt, thì bất cứ ai, chẳng riêng gì tôi, cũng quan tâm đến chủ quyền chính đáng của đất nước mình.

Trong thời gian gần đây, nói gần đây tức là vào khoảng hai chục năm nay, tôi cũng có theo dõi vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng không phải với tư cách là chuyên gia mà chỉ là một người quan tâm đến đất nước. Thành ra, tôi cũng biết những tin tức ở bên Trung Quốc. Họ có hẳn một chiến dịch để vận động quần chúng, trong cũng như ngoài nước, để chứng minh luận điểm của họ là Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Tôi nghĩ đây là một tranh chấp mà Việt Nam ở vào thế không được thuận lợi lắm. Lý do như sau. Khi mình đưa vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa ra quốc tế, thì mình cần phải có rất nhiều dữ liệu, bằng chứng khoa học. Nhưng trong thực tế, tôi phát hiện ra một điều là chúng ta rất thiếu các công trình nghiên cứu, các bài viết mang tính học thuật, bằng tiếng Anh trên các tập san quốc tế.

Phía Trung Quốc có khá nhiều, không phải là nhiều lắm nhưng khá nhiều bài viết, dĩ nhiên là nghiêng hẳn về luận điểm của họ. Tôi thấy đây là điều rất bất hạnh cho mình. Phần lớn chuyên gia quốc tế, không phải người Trung Quốc, mà là người Mỹ, châu Âu, thấy Việt Nam có những chứng từ cho thấy mình có chủ quyền trên hai quần đảo đó. Thế nhưng, mình lại không công bố những chứng từ đó trên các diễn đàn khoa học quốc tế. Thành ra, rất ít người biết.

Tôi nhớ là có một chuyên gia người Mỹ hay người châu Âu gì đó, nói là rất muốn trình bầy bằng chứng để cho thấy là Việt Nam có tư cách chủ quyền trên hai quần đảo đó, thế nhưng khi tìm tài liệu trên các diễn đàn khoa học quốc tế, ông ấy chỉ tìm thấy tài liệu của Trung Quốc mà không thấy tài liệu của Việt Nam. Điều này đã làm tôi rất ngạc nhiên.

Cách đây vài năm, tôi có làm một thống kê các bài báo khoa học của Việt Nam trên các tập san quốc tế. Tôi đã phát hiện ra một điều thú vị : Trong số 3456 bài trong 10 năm, từ 1996 đến 2005, chỉ có 69 bài, xấp xỉ 2%, liên quan đến khoa học xã hội. Tôi xem qua tất cả 69 bài này thì không có bài nào liên quan đến vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa.

Thành ra, mặc dù chúng ta có nhiều chứng từ, nhưng dường như chúng ta nói để chúng ta nghe, chứ chúng ta chưa có trình bày các chứng từ đó một cách có hệ thống trên các diễn đàn quốc tế. Đây là một thiệt thòi của phía Việt Nam.

RFI: Thưa giáo sư, nếu nhìn vào các bài viết được công bố trên báo chí trong nước, thì đa phần lại chỉ dựa vào các nghiên cứu trước đây hoặc là những bài viết của các học giả ngoại quốc. Phải chăng đây cũng là một trong những yếu kém của giới nghiên cứu Việt Nam hiện nay trong vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa ?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn : Tôi cũng thấy như vậy. Phần lớn những cái gọi là nghiên cứu, chứ thực ra những cái bài mà các nhà trí thức Việt Nam công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, như mấy tờ báo hàng ngày, mấy tạp chí hàng tuần hay hàng tháng, nói một cách nghiêm chỉnh, đó không phải là những công trình nghiên cứu. Nó chỉ là những tập hợp những công trình nghiên cứu của người đi trước và chỉ diễn giải lại.

Thậm chí, tôi thấy diễn giải cũng không có gì mới. Những công trình nghiên cứu mà chúng ta cần có là những công trình nghiên cứu mới, cho ra ý tưởng mới, hay là cách diễn giải mới. Chúng ta không có những bài như vậy. Thay vào đó, chúng ta có những ý kiến cảm tính. Nói người Việt Nam cảm tính thì cũng không công bằng. Bởi vì nếu xem qua những bài của giới gọi là học giả Trung Quốc thì họ cũng rất cảm tính. Có những luận điệu của họ mà khi đọc, mình không biết họ thuộc giới học thuật hay là họ thuộc loại chỉ nói lấy được.

Khi xuất hiện trên diễn đàn quốc tế, thì không thể dùng cảm tính được, phải dùng bằng chứng. Những yêu cầu như vậy đòi hỏi phải có nghiên cứu nghiêm chỉnh, phải có học thuật, phải có chuyên môn, chứ không thể là cứ lâu lâu, chúng ta lại trưng bầy ra một bằng chứng từ thế kỷ 19 hay 18 rồi nói đây là bằng chứng cho thấy chúng ta có chủ quyền trên hai hòn đảo này. Đó cũng là một cách diễn giải, nhưng đã là khoa học, thì chúng ta phải trình bầy một cách diễn giải khác. Tức là đặt ra một cách diễn giải, rồi bác bỏ cách diễn giải đó, để chứng mình rằng cách diễn giải về chủ quyền của mình là đúng. Đó mới là cách làm việc khoa học. Nhưng rất tiếc là trên các phương tiện báo chí Việt Nam thì chưa có những công trình như thế.

RFI: Tại Việt Nam hiện nay, thì cũng có những viện, những tổ chức tiến hành nghiên cứu về hồ sơ này. Thế nhưng, có một thực tế, là các sản phẩm của họ lại rất ít khi được đăng tải trên các phương tiện truyền thông hoặc trên các chuyên san, diễn đàn quốc tế.

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn : Đúng vậy. Tôi có theo dõi một hội nghị ở Singapore cách đây vài năm. Trong số khoảng năm chục bài tham luận từ các nước Đông Nam Á và Trung Quốc, chỉ có một bài duy nhất là từ Việt Nam. Bài đó là của một quan chức ở Việt Nam. Đọc bài này, ngoài vấn đề tiếng Anh sai tùm lum, thì luận điểm không có gì có thể gọi là khoa học cả. Tôi nghĩ, với những bài như vậy xuất hiện trên diễn đàn quốc tế thì nó làm giảm uy tín hơn là làm tăng uy tín.

Ở Việt Nam, tất nhiên cũng có những người làm nghiên cứu nghiêm chỉnh. Nhưng khổ nỗi là nhiều khi họ không có phương tiện để công bố những nghiên cứu của họ trên các diễn đàn quốc tế. Diễn đàn ở đây mà tôi muốn nói là những tập san học thuật, tập san khoa học quốc tế. Thứ nhất, có thể họ kém tiếng Anh. Thứ hai, có thể họ không có được sự khuyến khích của những giới chức có thẩm quyền trong nước.

Chẳng hạn gần đây có một học giả ở thành phố Hồ Chí Minh, chuyên nghiên cứu về Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng lại không được phép đi dự một hội thảo liên quan đến Biển Đông ở Philadelphia, Mỹ. Lý do mà người ta viện dẫn : Anh ấy không phải là đảng viên và nếu muốn đi thì phải có những quan chức của bộ Ngoại giao đi kèm.

Tín hiệu thứ hai là có một hội thảo ở thành phố Hồ Chí Minh vào năm ngoái, được tổ chức trong điều kiện rất hạn hẹp. Số người tham gia bị giới hạn bởi một lý do nào đó.

Năm ngoái, vào tháng 11, học viện Ngoại giao ở Hà Nội có tổ chức một hội nghị liên quan đến Biển Đông. Thế nhưng, các nhà khoa học thực sự, tức là những người thực sự nghiên cứu, có tài liệu về Biển Đông thì lại không được mời tham dự.

Do vậy, tôi thấy gần đây có những tín hiệu cho thấy giới nghiên cứu nghiêm chỉnh ở Việt Nam về Biển Đông hình như không được sự khuyến khích của chính phủ để mà phát biểu trên các diễn đàn quốc tế.

RFI: Thưa giáo sư, phải chăng chính quyền không tin tưởng vào khả năng của giới nghiên cứu hay là chính quyền cho rằng đây là một hồ sơ nhậy cảm, mang tính chính trị nhiều hơn ?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn : Tôi không rành, không hiểu suy nghĩ của họ ra làm sao. Mình không có bằng chứng để nói rằng họ không tin tưởng giới học thuật ở Việt Nam. Nhưng có lẽ do nhậy cảm về chính trị. Các giới chức có trách nhiệm ở Việt Nam, hình như nhìn vấn đề này theo nhãn quan chính trị hơn là nhãn quan học thuật.

Đó là một thiệt thòi cho chúng ta. Tại sao ở Trung Quốc, người ta không nhìn theo kiểu đó ? Họ mở diễn ra rất lớn để cho mọi người vào tham gia theo kiểu « lấy thịt đè người », tức là lấy số đông và nói lấy được. Thậm chí họ mở những diễn đàn trên đó có nhiều lời khiêu khích Việt Nam như bày mưu tính kế đánh Việt Nam, sẽ chiếm trong vòng một vài tuần, đại khái như vậy. Thế nhưng, Việt Nam lại không khuyến khích giới học giả bàn một cách nghiêm chỉnh mà ngược lại, còn có xu hướng không cho họ lên tiếng trên các diễn đàn quốc tế. Tôi cho đó là một thiệt thòi.

RFI: Giả sử giới nghiên cứu, học thuật Việt Nam được khuyến khích viết, đăng tải các bài viết của họ trên diễn đàn quốc tế, thì có lẽ còn một số vấn đề khác cũng đáng quan tâm, đó là việc nghiên cứu có hệ thống, có chuyên môn và việc công bố các bài viết bằng ngoại ngữ ?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn : Có một thực tế cần phải ghi nhận ở đây là trong giới nghiên cứu về khoa học xã hội ở Việt Nam, số người trực tiếp nghiên cứu các vấn đề liên quan đến Biển Đông rất là ít. Ngay cả những người nghiên cứu về Biển Đông, thì họ cũng không xuất phát từ ngành nghiên cứu khoa học xã hội. Đó chỉ là những « nghề tay trái ». Họ xuất phát từ những ngành nghề chẳng dính dáng gì đến khoa học xã hội, họ có thể là bác sĩ, kỹ sư, ký giả, phóng viên. Nói theo ngôn ngữ thông thường họ là những nhà nghiên cứu tài tử, không chuyên, nhưng họ lại rất giỏi về lĩnh vực này.

Ngược lại, những người có trách nhiệm hoặc ít ra trên danh nghĩa, họ nghiên cứu Biển Đông thì lại không có những công trình nghiên cứu có giá trị so với những người tạm gọi là nghiên cứu tài tử. Những người làm nghiên cứu về Biển Đông ở trong nước rơi vào tình trạng chúng ta nói cho chúng ta nghe, chứ chúng ta chưa nói cho thế giới nghe. Đây là điểm cần phải thay đổi trong nay mai, nếu chúng ta muốn quốc tế hóa vấn đề Biển Đông.

Gần đây, cũng có một vài tín hiệu tương đối tốt. Ở nước ngoài, có một nhóm bạn trẻ lập Quỹ nghiên cứu Biển Đông. Họ không có nhiều người, thuộc nhóm nghiên cứu mà ta gọi là tài tử - tuy nói tài tử nhưng đó là những người có học rất cao, có bằng tiến sĩ về vật lý, máy tính, khoa học, v.v. Họ có vài nỗ lực đáng khen và khích lệ. Họ lên tiếng trên các báo chí bằng tiếng Anh, thậm chí còn viết trên các báo ở Philippines, để gióng một tiếng nói chung của Đông Nam Á liên quan đến vấn đề Biển Đông. Những bạn trẻ như vậy làm được những chuyện rất có ích.

Tôi chợt nghĩ hay là trong tương lai, chúng ta cần có người đứng ra tổ chức, huy động các anh em ở nước ngoài quan tâm đến Biển Đông để lên tiếng về vấn đề này. Nhiều khi đồng nghiệp ở trong nước không được khuyến khích lên tiếng, nếu trông chờ vào họ quá thì có lẽ không công bằng cho họ.

RFI: Giáo sư vừa đề cập đến một ý mà tôi có ý định hỏi là vai trò của giới trí thức hải ngoại ?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn : Tôi nghĩ trong lĩnh vực này, giới trí thức ở hải ngoại có vai trò quan trọng. Có thể lấy ví dụ trong vụ Hội Địa lý ở Mỹ vừa rồi in bản đồ sai, thì chính những người Việt Nam ở hải ngoại là những người lên tiếng đầu tiên và ở một góc độ nào đó, họ đã thành công, làm áp lực để Hội Địa lý Mỹ phải sửa lại bản đồ cho đúng.

Tôi nghĩ, giới trí thức ở hải ngoại có những lợi thế. Thứ nhất, họ tiếp cận thông tin nhiều hơn, kịp thời hơn so với trong nước. Họ quen với phong cách làm việc của giới khoa học ở phương Tây. Và họ quen thuộc ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh. Ở ngoài này, họ có thể giúp dịch các bài viết. Đây là ba lợi thế mà giới trí thức ở ngoài có thể đóng một vai trò tương đối quan trọng để nâng cao tiếng nói của Việt Nam về vấn đề Biển Đông trên trường quốc tế.

Đài phát thanh quốc tế Pháp xin cảm ơn giáo sư Nguyễn Văn Tuấn.

Thursday, August 5, 2010

Bộ Ngoại Giao VN tiếp nhận hồ sơ về chủ quyền Hoàng Sa

Trích NguoiViệt Online
HÀ NỘI - Sáng ngày 2 tháng 8, Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã tổ chức lễ tiếp nhận bộ hồ sơ có liên quan đến chủ quyền quần đảo Hoàng Sa do tỉnh Thừa Thiên Huế trao lại.

Tập tài liệu này mang tên “Ty khí tượng tại đảo Hoàng Sa năm 1955.”

Bộ hồ sơ gồm 12 trang tài liệu, với 6 trang tiếng Pháp và 4 trang tiếng Việt do Ty Kiến Thiết của Việt Nam Cộng Hòa lưu lại. Hồ sơ này ghi toàn bộ các hoạt động trong giai đoạn từ năm 1897 tới năm 1960, trong đó ghi chép như nhật ký các hoạt động của Ty Khí Tượng Hoàng Sa có đầy đủ chữ ký, con dấu, các bút tích cần thiết của một hồ sơ được tin cậy.

Tài liệu này được xem là hồ sơ gốc có thể chứng minh chủ quyền biển đảo của Việt Nam và sẽ được dùng trong các vụ tranh chấp.

Bộ hồ sơ được nhân viên ‘Chi cục Văn Thư Lưu Trữ’ tỉnh Thừa Thiên Huế phát hiện và lưu giữ từ nhiều năm nay.



Ðảo Phú Lâm (Trung Quốc đổi tên thành đảo Vĩnh Hưng, tên trên bản đồ quốc tế là Woody Island) trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam do Trung Quốc chiếm giữ kể từ năm 1974. Trung Quốc xây dựng phi trường, 2 bến cảng, nhiều cơ sở quân sự và dân sự trên đảo này. (Hình: MyOpera.com)

Tỉnh Thừa Thiên Huế đã từng phát hiện nhiều tài liệu, văn bản quý giá có liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và đã chuyển giao cho Bộ Ngoại Giao Việt Nam. Trong đó có hai tờ Châu bản do nhà nghiên cứu Phan Thuận An tìm thấy. Một văn bản chữ Hán khác được viết trên giấy dó do làng Mỹ Lợi, xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc cất giữ từ hơn 250 năm nay.

Rất nhiều chứng từ, bản đồ cổ của Việt Nam và quốc tế ghi nhận Hoàng Sa thuộc về Việt Nam. Tuy nhiên quần đảo này hiện vẫn do Trung Quốc kiểm soát sau khi tấn công và chiếm giữ từ quân đội Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1974.

Nhà nước Việt Nam trong nhiều năm trước đây chưa bao giờ công khai thành lập một ủy ban nghiên cứu hay tìm kiếm bằng chứng về chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mặc dù Trung Quốc bỏ rất nhiều tiền của, công sức vào công tác này.

Sự nhu nhược của chính phủ Việt Nam đã bị trí thức trong và ngoài nước lên án. Mới đây một cuộc hội thảo về Biển Ðông đã được tổ chức tại trường Ðại Học Temple do các giáo sư, học giả, nhà nghiên cứu khoa học, lịch sử hải ngoại tổ chức với những bản tham luận hết sức công phu và sâu sắc.

Chứng cứ lịch sử về chủ quyền quốc gia liệu có ích gì khi nhà nước vẫn tiếp tục bưng bít thông tin do lo ngại nước lớn tước mất những quyền lợi cầm quyền hiện nay? (LT

Wednesday, August 4, 2010

“Việt Nam và quả đấm thép bọc nhung”(!?) - Toàn dân Việt Nam hãy cảnh giác!

Trích Bauxite VietNam

Hoàng Dzung

image

“… Việt Nam có đủ khả năng để đối phó" với vũ lực lớn gấp bội phần từ bên ngoài, nếu đó không phải là nói đùa để lấy tiếng, hoặc để làm tê liệt cảnh giác của mọi người?

Bài Việt Nam và quả đấm thép bọc nhung” trên trang mạng BBC tiếng Việt ngày 29 tháng 7, năm 2010 có cho biết trong buổi trả lời phỏng vấn của báo “Bưu điện Hoa Nam buổi sáng” (South China Morning Post) "không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó"; sau đó báo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng này có đăng bài với tựa đề 'Ánh thép và chiếc găng tay nhung của Việt Nam' (A flash of steel and the velvet glove from Vietnam). tại Hồng Kông, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam có nói Việt Nam sẽ

Đọc xong bài trên BBC và 2 lời tựa nói trên tôi bỗng nghĩ:

Có phải chăng BBC & South China Morning Post đã không hiểu truyền thống của Việt Nam, hay đã xuyên tạc Việt Nam và lời nói của Nguyễn Chí Vịnh? Hay South China Morning Post nhân danh ai đó để có ý định gì? Hay chính ông Nguyễn Chí Vịnh đã phát biểu thay ai đó để đạt một ý đồ nhất định nào đó?.

Tạm chưa bàn thực chất về Nguyễn Chí Vịnh và động cơ phát biểu (với lối nói úp mở và lòng vòng theo kiểu ‘danh bất chính ngôn bất thuận’) của ông ấy, nhưng đã là người Việt nam thực thụ và ai là người am hiểu Việt Nam thì đều biết rằng phương châm ứng xử cơ bản trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của Việt Nam chưa bao giờ là “Quả đấm thép” cả, mà là “Lấy nhu thắng cương – Lấy nhược thắng cường – Lấy đại nghĩa thắng hung tàn – Lấy chí nhân thay cường bạo”.

Nếu BBC & South China Morning Post có hiểu sai thì cũng đã đành, nhưng với cương vị là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, nếu không phải là người mất gốc và kém am hiểu thì chí ít ông Nguyễn Chí Vịnh cũng phải hiểu đúng phương châm và truyền thống đó của Việt Nam; nói rộng hơn là đảng cầm quyền thì ắt đảng này càng phải biết điều đó, nếu không hiểu điều đó là mất gốc, mà “mất gốc” là “mất nước”.

Qua việc quán triệt phương châm ứng xử này trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của mình và đã đúc kết cách ứng xử đó thành lời, Việt Nam đã chứng minh cụ thể trước đó hàng ngàn năm và lâu hơn nữa lý thuyết về Sức mạnh mềm” và khái niệm về “Sức mạnh thông minh” (sự kết hợp giữa sức mạnh cứng và sức mạnh mềm) của Giáo sư người Mỹ Joseph Nye.

Ông cha ta quả thật thông minh với phương châm đó, bởi đó là phương cách sinh tồn của một dân tộc nhỏ bé như dân tộc ta bên cạnh người láng giềng không lồ, tham lam và nham hiểm luôn nuôi dã tâm bành trướng thế lực và xâm chiếm các lân bang.

Bản năng sinh tồn là bản năng gốc của mọi sinh vật, bởi vì bản năng ấy có vai trò quyết định và chi phối mọi bản năng còn lại của mọi sinh vật trên thế gian này; thậm chí bản năng này cũng đóng vai trò chính trong việc chi phối tư duy, ý thức và lương tri của con người. Khi một nội dung cụ thể của bản năng sinh tồn – với tư cách là bản năng gốc – trở thành ý thức và chân lý của con người và của toàn xã hội thì nó sẽ trở thành niềm tin, sự kiên định, sự ngoan cường, đức hy sinh, sự khôn ngoan, sự linh hoạt, mà kết quả cuối cùng và trên hết là sự đoàn kết của toàn xã hội, một sức mạnh tổng hợp vô cùng mạnh mẽ hơn hẳn mọi loại “quả đấm thép” mà nhân loại được biết đến nay. Đành rằng chỉ có sức mạnh vật chất mới thắng được sức mạnh vật chất và chính nghĩa chỉ phát huy đầy đủ tác dụng khi được sức mạnh vật chất hỗ trợ đúng mức, nhưng sức mạnh vật chất đơn thuầnsức mạnh mềmsức mạnh thông minh của Việt Nam. Diễn đạt theo bối cảnh hiện đại thì đó là sức mạnh của sự đoàn kết trên cơ sở của lòng yêu nước, của chính nghĩa kết hợp với sức mạnh của tình đoàn kết và sự giúp đỡ chí tình và thiết thực của quốc tế. Sức mạnh ấy không xuất phát, cũng như không dựa hoàn toàn và đơn thuần vào “quả đấm thép’’ tự thân của kẻ yếu. đối với người ở thế yếu chưa bao giờ là yếu tố quyết định trong mọi cuộc đối đầu với kẻ mạnh. Hầu như tất cả các dân tộc đã bị diệt vong trước sức mạnh của vật chất là vì họ đã không có, hoặc chưa kịp huy động được sức mạnh tổng hợp nói trên của toàn dân tộc. Lịch sử nhân loại đã chứng minh điều đó. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh điều đó. Sức mạnh tổng hợp này một khi đã chứng minh được cho mọi người trên thế giới thấy rằng đó là chính nghĩa, là lương tri, thậm chí đó cũng là lợi ích của chính họ thì sẽ được những lực lượng xã hội có lương tri trên thế giới đồng tình và ủng hộ. Đó là cơ chế định hình và tạo nên diện mạo của

Trần Hưng Đạo và Nguyễn Huệ ắt hẳn đã không có được những “quả đấm thép’’ thực sự, nếu chỉ dựa vào sức mạnh vật chất đơn thuần!

Trong tình hình cụ thể của Việt Nam hiện nay:

Nếu khoe khoang về “quả đấm thép” thì đó là một sự khoác lác.

Nếu quá tin vào “quả đấm thép” thì đó là một sự hoang tưởng.

Nếu gieo rắc về “quả đấm thép” thì đó là một sự ru ngủ.

Kinh nghiệm đời sống và kinh nghiệm lịch sử cho thấy, khi muốn gây hấn với một ai đó, trước hết người ta ra sức bôi nhọ đối phương bằng mọi cách, trên mọi phương diện và mọi khía cạnh – kể cả khía cạnh dị biệt về văn hóa và tư tưởng, phong tục và tập quán, đức tin và tôn giáo – cốt sao cho đối phương trở thành một đối tượng đáng khinh, đáng ghét, đáng sợ và đáng căm thù. Tiếp theo là bằng mọi thủ đoạn – kể cả thủ đoạn bỉ ổi nhất – để tô vẽ đối phương thành mối đe dọa cho những lợi ích thiết thân nhất của cộng đồng. Sự phản tuyên truyền này sẽ có hiệu quả tức thì khi đã biến được đối phương thành hình ảnh của mối đe dọa trực tiếp và nguy hiểm nhất cho điều kiện sinh tồn để kích hoạt bản năng tự vệ và những tình cảm ích kỷ thấp kém nhất của cộng đồng. Đến đây thì chỉ cần một cái cớ hợp lý nào đó nữa thôi là hai cộng đồng người có thể lao vào cuộc xâu xé nhau, loại bỏ nhau một cách say sưa chí tử. Đó là sự mù quáng mang tính bản năng của loài người và cũng là lúc con người bị biến thành phương tiện sống để phục vụ cho những thế lực đen tối và những ý đồ đen tối của chính con người.

Đối phương của ta đang làm chuyện đó hàng ngày, hàng giờ trên phạm vi toàn quốc của họ và đang chờ sự chín muồi của sự kiện, cũng như đang chờ một cái cớ khả dĩ nào đó để có thể mở rộng ranh giới quốc gia của họ, nếu có thể thì sẽ xóa sổ chúng ta trên bản đồ thế giới.

Nền tảng sức mạnh vật chất của đối phương chúng ta là sức mạnh của một nền kinh tế khổng lồ dựa trên một nền công nghệ và kỹ thuật đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, cùng với sự áp đảo tuyệt đối về số lượng con người – những con người đang có một nhu cầu nóng bỏng về không gian sinh tồn bất tận, đang cần và đang chỉ có một lối thoát duy nhất trên đường biển phía Nam của họ, đang mang một quan điểm và khát vọng khẳng định và vươn tới vị trí trung tâm của cả nhân loại – mà họ đã tự kỷ ám thị từ thưở xa xưa và tự cho là đã bị đánh mất – kết hợp với một nền văn hóa lâu đời với tất cả những sắc thái xưa và nay, tức với tất cả mặt sáng và mặt tối cực đoan của nền văn hóa ấy;

Điều ấy cho thấy chính họ mới có “quả đấm thép” chứ không phải chúng ta; mặc dù trong lịch sử chính “sức mạnh mềm” “sức mạnh thông minh” của chúng ta đã từng chiến thắng.

Chính nhu cầu mang tính bản năng sinh tồn này cùng với sức mạnh áp đảo về con người đang mang trong mình một nền văn hóa và truyền thống lịch sử của hàng nghìn năm trước đây, kết hợp với một nền văn minh chưa phát triển đầy đủ và chưa đồng bộ ấy sẽ lấn át cả lý trí và bất chấp cả đạo lý mà nhân loại đã đạt được và tuân thủ từ trước đến nay;

Chính họ sẽ viết lại lịch sử và phân chia lại thế giới cả về quyền lực, sự thịnh vượng lẫn bản sắc và sự phân bố về dân số của thế giới trong tương lai;

Theo tương quan và xu thế phát triển tất yếu dễ dàng nhận thấy ấy, chính họ sẽ mang lại sự phát triển lẫn sự diệt vong, niềm hạnh phúc lẫn nỗi bất hạnh cho chính họ và cho một bộ phận không nhỏ của nhân loại trong tương lai; đó là một tương lai cam go và không xa lắm. Một tương lai xa hơn là họ sẽ tự chuốc lấy bất hạnh khi thế giới bị họ dồn ép đến ranh giới của sự tồn vong và sẽ đoàn kết thành một khối để chống lại họ. Số phận của họ sẽ là số phận mà nhân loại đã từng dành cho những tên bạo chúa và những thế lực hủy diệt khác trong lịch sử.

Giờ đây giải pháp hữu hiệu nhất, việc làm gian truân nhất, sứ mạng cao cả nhất của những người tỉnh táo của cả hai phía là đề cao lý trí, thức tỉnh luơng tri, giữ vững đạo lý, hóa giải hận thù, tăng cường hiểu biết lẫn nhau để ngăn chặn cuộc xâu xé của khối người mù quáng đang bị kích động ấy.

Những người tỉnh táo là những thành phần bao giờ cũng có mặt ở những cộng đồng, nhất là ở một dân tộc. Họ là những chỉ dấu cho thấy rằng lương tri của con người không bao giờ vắng mặt trong thế giới loài người, nhưng điều tệ hại, trớ trêu và nan giải nhất là chỉ khi những chuẩn mực đạo đức sơ đẳng nhất của con người bị chà đạp và những lợi ích sơ đẳng thiết thân nhất của con nguời nói chung và của chính họ nói riêng bị xâm hại một cách trực tiếp và trắng trợn nhất thì lương tri của số đông trong họ mới được đánh thức. Các cuộc phản chiến trong hàng ngũ quân đội Pháp và quân đội Hoa Kỳ khi hai nước này tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, các cuộc tuần hành ban đầu còn lẻ tẻ, về sau đã trở nên hết sức đông đảo và bền bỉ qua suốt chiều dài của cuộc chiến để phản đối chiến tranh của các tầng lớp nhân dân hai nước này là những minh chứng. Thậm chí ở Pháp hồi ấy đã có người dùng chính thân mình nằm ngang đường sắt để chặn cả đoàn tàu chở quân và vũ khí tiếp tế cho chiến tranh, nhằm gây chú ý cho công luận; hay ở Mỹ đã có người bỏ lại cả vợ trẻ và con thơ để tự thiêu, làm cây đuốc sống nhằm thức tỉnh lương tri đang ngái ngủ của số đông và của khối người mù quáng đang say máu lao vào cuộc xâu xé nhau trong cuộc chiến tranh với Việt Nam.

Ứng chiến là giải pháp cuối cùng, là hạ sách và bất đắc dĩ, nhưng vô cùng cần thiết khi không còn cách nào khác.

Đứng trước một thách thức vô cùng to lớn và nguy hiểm cực kỳ nghiêm trọng đối với vận mạng quốc gia và dân tộc như vậy mà lòng yêu nước của toàn dân không được hun đúc, không được tích tụ và nâng cao, sự đoàn kết của dân tộc không được vun vén và củng cố, tinh thần cảnh giác của cộng đồng không được đánh thức và mài sắc… thì làm sao phát huy được sức mạnh tổng hợp của đất nước để có một “quả đấm thép” đúng nghĩa của nó? Làm sao có thể nói được rằng “… Việt Nam có đủ khả năng để đối phó" với vũ lực lớn gấp bội phần từ bên ngoài, nếu đó không phải là nói đùa để lấy tiếng, hoặc để làm tê liệt cảnh giác của mọi người?

Bày tỏ lòng yêu nước thì bị cấm đoán, vạch mặt chỉ trán kẻ thù thì bị bắt bớ. Ngoài biển khơi thì bắt tay với kẻ thù để tuần tra chung trên vùng biển hải đảo thuộc chủ quyền của Tổ quốc mà đáng lẽ ra mình phải có trách nhiệm khẳng định sự bất khả xâm phạm của vùng biển và hải đảo đó trước bất cứ lực lượng nào của nước ngoài. Khi nhắc đến kẻ gây hấn và xâm lấn thì không dám chỉ đích danh mà chỉ nói chiếu lệ và úp mở bằng một danh xưng mơ hồ là “kẻ lạ”, hay ‘‘tàu lạ’’. Trên đất liền thì làm ngơ và dung túng những hành vi lén lút cắt bãi biển, giao rừng dài hạn để nước ngoài có cớ lén lút đưa người của họ đến ở và tìm cách định cư lâu dài, mà đó lại là nước đang không hề giấu diếm ý đồ xâm lấn nước ta; cho nước ngoài khai thác tài nguyên quý hiếm ở những địa bàn xung yếu và nhạy cảm đối với nền an ninh của đất nước. Trong kinh tế thì hầu hết những công trình trọng yếu có tầm quyết định đến sức mạnh của quốc gia đều rơi vào tay của các tập đoàn kinh tế và nhà thầu thuộc quốc gia đang từng ngày, từng giờ không giấu diếm dã tâm thôn tính về mọi mặt đất nước này, bất chấp nguy cơ chính trị tiềm ẩn, bất chấp năng lực tài chính, trình độ công nghệ, khả năng thi công của bên trúng thầu chỉ vì họ bỏ thầu với giá rẻ bất ngờ hơn mọi đối thủ, đã thế còn áp dụng hình thức khoán thầu trọn gói từ A đến Z, tức từ khâu thiết kế – cung ứng vật tư thiết bị – cho đến khâu thi công và xây lắp (thường gọi là hình thức quản lý EPC – hậu quả đến nay thường không đảm bảo tiến độ, kéo dài thời hạn bàn giao, nhất là không kiểm định được chất lượng công trình…). Bị người bạn “4 tốt” với “16 chữ vàng” lấn lướt cơ hồ bị nuốt chửng mà vẫn đỏng đảnh trước những khuyên nhủ gợi ý thiện chí của bạn bè chỉ vì sợ mất lòng “ông bạn quí” ấy; thậm chí còn lớn tiếng quyết không để các thế lực thù địch chia rẽ tình đoàn kết Việt – Trung…

Với những sự kiện chưa thể kể hết được nói trên, thử hỏi những người đang nắm vận mệnh của đất nước hiện nay đang toan tính điều gì?

Nếu để tình trạng này vẫn ngang nhiên tiếp diễn thì kết quả cuối cùng sẽ ra sao? Mất nước là cầm chắc!

Tôi tin chắc rằng đã đến lúc những đảng viên chân chính và đang quan tâm đến vận mạng quốc gia sẽ không thể điềm nhiên ngồi nhìn sự lũng đoạn, sự lộng hành và vô trách nhiệm của cấp lãnh đạo và giới cầm quyền hiện nay.

Tôi tin chắc rằng đã đến lúc mỗi người Việt Nam chân chính và yêu nước phải biết cách thu hồi quyền tối thượng quyết định vận mạng quốc gia của chính họ mà họ đã trao nhầm cho những người không xứng đáng, những người mà như một bài đã được BVN đăng tải trong ngày hôm nay (3/8/2010 - Bài học thuộc lòng): “…bọn nó tham nhũng gì mà tham nhũng cấp tập, nó ăn vừa nhiều, vừa nhanh, vừa trắng trợn, thô lỗ… đến mức anh có cảm giác như là nó thu dọn để sắp bỏ chạy khỏi đất nước này”.

Mỗi người mỗi cách, hãy có hành động thiết thực nếu không muốn Tổ quốc thân yêu của chúng ta đến hồi mạt vận!

HD

Tuesday, August 3, 2010

Trung Quốc tập trận qui mô trên biển Ðông, Việt Nam tuyên bố đủ sức đối phó

Trích Người Việt Online

Bốn ngày sau khi Mỹ tuyên bố ‘quyền lợi quốc gia’

BẮC KINH 30-7 (TH) - Trung Quốc loan báo đã tổ chức một cuộc tập trận qui mô trên biển Ðông, biểu diễn sức mạnh quân sự chỉ ít ngày sau lời tuyên bố của ngoại trưởng Hoa Kỳ không đứng ngoài sự tranh chấp.



Một chiến hạm Trung Quốc thuộc Hạm đội Nam Hải bắn hỏa tiễn trong cuộc tập trận
trên biển Ðông hôm 26 tháng 7 năm 2010. (Hình: Xinhua.net)

Hành động này đi kèm với lời tuyên bố của Cảnh Nhạn Sinh, đại tá, phát ngôn viên của Quân đội Trung Quốc, lập lại lời tuyên bố của Ngoại Trưởng Dương Khiết Trì là không chấp nhận quốc tế hóa vấn đề.

Dẫn bản tin của tờ Nhật báo Quân Ðội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc, gọi tắt PLA, Tân Hoa Xã ngày 29 tháng 7 năm 2010 ghi lại những diễn tiến của cuộc tập trận của Hạm đội Nam Hải của nước này với nhiều hình ảnh tàu chiến bắn hỏa tiễn và bình luận rằng Trung Quốc sẵn sàng cho bất cứ trận đụng độ nào trong vùng biển Ðông.

Cuộc tập trận diễn ra từ ngày 26 tháng 7 năm 2010 chỉ 4 ngày sau khi bà Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton nói trong Hội Nghị Diễn Ðàn An Ninh khu vực ASEAN tại Hà Nội là Hoa Kỳ không đứng ngoài cuộc tranh chấp biển Ðông cũng như sẵn sàng giúp giải quyết vấn đề dựa trên các hiệp ước quốc tế.

Cuộc tập trận của Trung Quốc được hiểu như sự trả lời cụ thể và bằng hành động cho phía Hoa Kỳ biết lập trường của Hoa Lục.

Tổng hợp từ các nguồn tin trên, Reuters và AFP viết lại rằng ông Trần Bình Ðức, tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc (đến quan sát cuộc tập trận của Hạm đội Nam Hải) nói rằng PLA theo dõi chặt chẽ các diễn biến cuộc tập trận của Mỹ, Hàn Quốc (ở Hoàng Hải) và quân đội nước này sẵn sàng cho các cuộc đụng độ quân sự lớn nếu đối phương tỏ ra muốn đe dọa hay tấn công Trung Quốc.

Ngoại Trưởng Hillary Clinton khẳng định Hoa Kỳ, ở hội nghị nói trên, đặc biệt quan tâm tới vấn đề biển Ðông vì Washington có lợi ích quốc gia về lưu thông hàng hải, tự do tiếp cận các vùng biển Châu Á và tôn trọng luật pháp quốc tế tại biển Ðông.

Khác phản ứng quyết liệt lúc ban đầu của Ngoại Trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì, hôm 30 tháng 7 năm 2010, Phát Ngôn Viên Bộ Quốc Phòng Trung Quốc Cảnh Nhạn Sinh tuyên bố Trung Quốc sẽ không can thiệp vào việc lưu thông của các tàu thuyền và máy bay nước ngoài trong vùng biển này miễn sao những phương tiện đó tuân thủ luật pháp quốc tế. Nhưng cũng ngầm cho hiểu họ coi cái vùng được khoanh “lưỡi bò” là “của riêng” Trung Quốc, không chấp nhận có sự tranh cãi hay tranh chấp chủ quyền.

Giọng điệu ôn hòa hơn của Trung Quốc, qua lời Cảnh Nhạn Sinh, cho thấy, dù sao Bắc Kinh có vẻ tránh đụng độ thẳng với Hoa Kỳ trong vấn đề này.

Trong bối cảnh các cuộc khẩu chiến của hai phía Hoa Kỳ và Trung Quốc, tờ Văn Hối Báo của Hongkong dẫn thêm các quan điểm của những chuyên gia quân sự Bắc Kinh cho rằng PLA sẽ dùng biện pháp quân sự trong tương lai đối với vấn đề biển Ðông.

Ðiều này có thể nhìn thấy sự đe dọa qua các cuộc tập trận qui mô của Trung Quốc trên biển Ðông mấy năm gần đây, đặc biệt từ năm ngoái đến nay. Hồi tháng 4, Bắc Kinh loan báo đưa một đơn vị phi cơ chiến đấu tối tân tới đồn trú ở đảo Vĩnh Hưng (tức đảo Phú Lâm) trong quần đảo Hoàng Sa chiếm của Việt Nam từ năm 1974, nhằm khống chế toàn diện biển Ðông gồm cả không quân.

Trong khi Trung Quốc phản ứng bằng cả lời nói và hành động quân sự cụ thể, người ta chỉ thấy đại diện Hà Nội có một ít lời nói cứng.

Trả lời tờ báo South China Morning Post của Hongkong hôm 29 tháng 7, Tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng quốc phòng Việt Nam cho biết Hà Nội có đủ khả năng để ứng phó với bất kỳ một cuộc tấn công nào trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Ðây là lần đầu tiên Hà Nội chính thức tuyên bố sẽ dùng biện pháp quân sự nếu bị tấn công hay xâm phạm lãnh hải của mình, đặc biệt tại khu vực tranh chấp.

Việt Nam “không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng võ lực hoặc đe dọa sử dụng võ lực (để giải quyết tranh chấp chủ quyền biển Ðông), đồng thời Việt Nam có đủ khả năng đối phó”. Ông Vịnh nói như vậy trên tờ SCMP.

Dịp này ông Vịnh cũng nói rằng Việt Nam luôn chủ trương dùng biện pháp đàm phán để giải quyết vấn đề và không có ý định tấn công trước đối với bất cứ nước nào.

Những tin tức gần đây nói Việt Nam vận động các quốc gia ASEAN có quyền lợi trực tiếp trên biển Ðông hợp tác như một tập thể chung để áp lực Trung Quốc thi hành Qui tắc Ứng xử trên biển Ðông ký năm 2002 nhưng không đạt kết quả. Lời tuyên bố từ phía Hoa Kỳ có thể làm cho thuận lợi hơn cho một khả năng kết hợp.

Monday, August 2, 2010

Đại nhạc hội “Cám ơn anh, người thương binh VNCH kỳ 4” đong đầy tình nghĩa yêu thương

Trích Đàn Chim Việt

Chiều nay, 1 tháng 8 năm 2010, Đại nhạc hội “Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH” do ‘Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh-Quả Phụ VNCH’ tổ chức tại sân vận động trường Trung học Bolsa Grande, Little Saigon, kế bên Garden Grove Park, nơi vẫn có Hội chợ Tết Sinh viên hàng năm. Theo báo chí địa phương cho biết, 100 ca sĩ, 5 ban nhạc và 8 người điều khiển chương trình (MC) đã tình nguyện góp mặt.

Khoảng 5 ngàn đồng hương tham dự chương trình, bắt đầu từ 12 giờ trưa đến 7 giờ tối.

8 giờ sáng, ban tổ chức đã hăng hái làm việc. 9 giờ, thấy có hai người đang lúi húi treo cờ ở đầu đường lối vào sân vận động, tôi tranh thủ chụp vài “pô.” Một chiếc Camry xám quẹo vào rồi dừng trước cổng bãi đậu xe, lúc này vẫn còn khóa. Chị Ngọc Hương, người tài xế bước xuống xe. Anh cho hỏi mấy giờ thì họ cho vào coi. Thưa chị, tôi không phải người trong Ban tổ chức, nhưng chắc khoảng 11 giờ. Bây giờ còn sớm quá. Vừa lúc đó hai người treo cờ tiến lại, cho biết buổi văn nghệ tổ chức trong kia (chỉ xa xa vào phía trong) nơi có mấy tấm lều bự, chỗ xe đậu đông đông đó.

Chị Hương cho biết chị từ San Diego, cách Little Saigon tiếng rưỡi, sợ kẹt xe nên chị phải chở bà cụ đi sớm. Chị thắc mắc sao Ban tổ chức không để vé bán tại San Diego, làm chị phải lên tuốt trên này mua. Chị bảo hôm nay freeway bận rộn, 5-6 lanes mà quá trời xe. Chị nhờ tôi chụp mấy tấm hình đứng trước băng rôn quảng cáo buổi văn nghệ. Tôi nói còn sớm, chị nên đi coi sinh hoạt khu Little Sàigòn cho biết. Chị bảo thôi, tui không rành trên này, đi một hồi sợ lạc. Rồi chị cáo từ lên xe lái vào trong.

Tại sân vận động, ai ai cũng lăng xăng làm việc. Người lo xếp bàn ghế, người thì đóng cột cờ, trang trí sân khấu. Tiếng gọi nhau ơi ới rộn ràng làm mình cũng vui theo. Bà cụ chị Hương bước xuống xe, hỏi, trước đây con có đi lính không, đóng ở đâu, khai thiệt coi? Thưa “má,” trước 75 con còn nhỏ xíu, vắt mũi chưa sạch, đâu có biết lính tráng gì đâu. Vậy chắc gia đình có người đi lính hả? Dạ, cũng con em “nguỵ quân nguỵ quyền” đó má. Nhà con ở đâu? Má ở Tây Ninh. Dạ con ở tỉnh Long Khánh. Long Khánh? Đường đi Bảo Lộc đó hả? Dạ. Thưa má năm nay tuổi trời được bao nhiêu mà con thấy má còn khỏe quá. Ừa, trời thương, má không bịnh hoạn gì hết. Má 88 rồi con.

“Má con tui” nói chuyện hợp “rơ” dễ sợ. Má ơi, có sự tham dự của má, các thương binh sẽ thêm ấm lòng.

Tôi nói chị Ngọc Hương đem bọc đồ ăn theo, rồi xin ban tổ chức cho vô sớm kiếm chỗ mát mà ngồi. Mấy chú lính canh cửa chưa muốn cho vô vì mọi người còn đang chuẩn bị. Tôi năn nỉ, thôi mấy chú cho… má tui dô đi, vì má tuốt dưới San Diego lên. “Má, bà cô và bà chị” tui thong thả đi vào. Tôi dặn với theo, má vô trỏng ngồi, lát con tìm má sau nhen.

Phóng viên Mỹ Lan của đài VHN đang phỏng vấn MC/Casĩ Giáng Ngọc

Trong tập sách Ban Tổ chức phát ra, có in bài diễn văn khai mạc do bà Hạnh Nhơn, chủ tịch Hội phát biểu rằng: “…Đến nay là lần thứ tư chúng tôi tổ chức Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH.” Mỗi lần tổ chức Đại Nhạc Hội là mỗi lần chúng tôi đón nhận biết bao nhiêu ân tình của quý vị đã nồng nhiệt gởi tiền đóng góp cho anh em Thương Binh và Quả Phụ VNCH, thể hiện tấm lòng rộng mở trước những cảnh đời oan trái đầy tủi nhục với những thương tật mà anh em đang phải gánh chịu cho đến cuối đời. Hành động đó chứng tỏ rằng chúng ta không quên ơn các anh em Thương Binh và Tử Sĩ đã hy sinh cho chúng ta được sống an lành cho đến ngày hôm nay.

Từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh em phải sống trong địa ngục Cộng Sản, cô đơn và tuyệt vọng. Cho đến những năm về sau này, khi có những chương trình cứu trợ TPB&QP/VNCH nở rộ khắp nơi ở hải ngoại, như có luồng gió mát thổi về quê hương, từ thành thị đến làng quê xa xôi hẻo lánh, đến những anh em thân tàn kiệt quệ, thì anh em mới có những bữa ăn no, mua cho vợ con vài tấm áo lành lặn, nhất là có được niềm an ủi tinh thần để các anh lấy lại được niềm tin mà vui sống.

Đó là nhờ nhiệt tình đóng góp của quý ân nhân khắp nơi ở hải ngoại, các Tiểu Bang HK và Canada, cũng có vài vị xa hơn như Pháp, Đức, Na Uy… nên riêng Hội chúng tôi đã gởi về giúp được hàng chục ngàn gia đình Thương Binh và Quả Phụ.

Nhờ sự tin cậy và ưu ái của quý vị khắp nơi, đủ mọi lứa tuổi, cho đến nay đã có thành phần trẻ tuổi cũng hưởng ứng công tác thiện nguyện này, nên Hội chúng tôi mới được tồn tại cho đến ngày hôm nay.

Chúng tôi xin thay mặt anh em Thương Binh và Quả Phụ Tử Sĩ ở quê nhà gởi đến quý vị đồng hương, quý ân nhân đã khích lệ và tiếp tay với chúng tôi, xin nhận nơi đây tấm lòng tri ân chân thành nhất…”

Hội được chính thức thành lập năm 1993. Chủ tịch của hội từ năm 2006 là bà Hạnh Nhơn, người đã tham gia từ 1996. Qua 17 năm hoạt động, Hội đã giúp đỡ cho khoảng 17 ngàn thương phế binh và quả phụ VNCH, những người kém may mắn và bị phân biệt đối xử bởi biến cố 30 tháng 4, 1975 tại VN.

Bà Hạnh Nhơn, năm nay đã bước sang tuổi 83, và những thành viên ‘Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh-Quả Phụ VNCH’ vẫn âm thầm và hăng say làm việc cho Đại nhạc hội kỳ 4 năm nay. Theo Ban tổ chức, ba kỳ đại nhạc hội trước đều đã thành công vượt mức mong đợi.

Những lá thư của các Thương Binh cũng đong đầy tình nghĩa yêu thương.

Ông Nguyễn V. L. từ Huế viết: “…hoàn cảnh cụt hai chân không làm ăn được, bản thân bò đi lết lại, đời sống vất vả gặp nhiều khó khăn. Vừa qua lại bị mưa gió bão lụt, cơn bão số 9 đã tràn vào quê hương tàn phá, nhà cửa, hoa màu cuốn trôi, đời sống càng nhiều khó khăn hơn. Hôm nay tôi đang ngồi dưới túp lều tranh bé nhỏ, tôi lại nhận được $200 của hội HO/ĐNH3 và quý ân nhân gởi cho tôi. Tôi rất vui mừng và giọt lệ tuôn rơi…”

Ông Trần V.T. từ Vũng Tàu tâm sự: “…Vừa rồi ngày 28-10-09, tôi có nhận được của Hội gởi cho $200. Tôi và gia đình vô cùng biết ơn Hội và quý vị ân nhân. Nhờ số tiền của quý vị giúp đỡ mà tôi đã sắm được phương tiện đi lại và có số vốn đi bán vé số kiếm sống…”

Ca sĩ Tâm Đoan

Thư ông Nguyễn P. Ch. ngụ tại Sài gòn: “…Chiều ngày 15-1-2010 tôi có nhận được số tiền của quý ông bà trong Hội gởi cho vào dịp Tết, tôi vô cùng cảm động với tấm lòng bác ái của quý vị đã dành cho tôi trong lúc khó khăn túng thiếu ở quê nhà. Bản thân tôi nay tuổi đã lớn lại mang thương tật và căn bệnh đau tim chẳng còn đi bán vé số được nữa. Số tiền giúp đỡ của Qúy hội, tôi cố dành dụm để mua thuốc uống hàng ngày, được sống ngày nào hay ngày ấy. Bản thân tôi vợ con không có, cũng nhờ quý vị ân nhân ở hải ngoại cưu mang giúp đỡ, nay tôi chẳng biết nói gì hơn, vài dòng thành thật cám ơn quý ông, bà đã có lòng giúp đỡ cho tôi. Bản thân tôi thì rất là nghèo, lại bị thương tật, chẳng biết lấy gì để trả ơn ông bà và quý Hội. Thôi thì hàng ngày tôi cầu xin ơn trên và Trời Phật ban cho ông bà luôn mạnh khỏe để làm những việc nhân đạo, giúp đỡ những anh em thương phế binh bất hạnh ở quê nhà…”

Trở lại sân vận động lúc một giờ, không còn chỗ đậu xe nên tôi phải đậu cách xa hơn nửa dặm. Trên đường đi vào gặp chị Ngân, ở mãi khu “Six Flags,” cách Little Sàigòn hai tiếng về hướng Bắc. Chị nói bị kẹt xe, các cháu đã coi mấy năm trước, năm nay chúng không muốn đi nên ảnh chở lòng vòng quanh đây. Chị cho biết mới về VN cách đây một tháng. Tôi hỏi, chị có cảm tưởng thế nào? Chị lắc đầu, oải lắm. Người dân thì nghèo đói mà cán bộ rất giầu, đêm nào cũng vô tư ăn chơi. Chị bỗng hỏi, có biết vụ ông Lý Tống xịt hơi cay Đàm Vĩnh Hưng tuần rồi không? Dạ có. Chị thấy sao? Chị trả lời, tôi thấy không đáng, nhưng tôi phục hành động ổng rải truyền đơn.

Vô tới nơi, nghe được đoạn nam ca sĩ nào đó đang hát “uống nước dừa hay nước mắt quê hương.” Khán giả vỗ tay rào rào. Khoảng 5 ngàn thính giả đang chăm chú theo dõi chương trình. Bốn chiếc lều lớn được dựng trước sân khấu mà vẫn không đủ chỗ, khán giả ngồi tràn ra phía sau và một số ở hai bên khán đài.

Nghệ sĩ Việt Dũng trên sân khấu yêu cầu bà con ủng hộ tặng tiền cho thương binh, do các anh chị em nghệ sĩ đem những thùng tiền quyên góp xuống từng hàng ghế sau mỗi lần trình diễn. Anh cho biết “tin không vui,” năm nay số tiền ủng hộ không bằng nửa năm ngoái, trong lúc Ban tổ chức dự trù quyên góp được một triệu đôla. Đi ngang “Lều Trực phone,” các anh chị thiện nguyện viên đang tíu tít nhận điện thoại trực tiếp từ đồng hương khắp nơi gọi đến ủng hộ.

Khách tham dự

Đại Nhạc Hội được truyền hình trực tiếp trên đài SBTN. Nghệ sĩ Nam Lộc cho biết Hội đã giúp đỡ cho 17 ngàn trường hợp, hiện vẫn còn 10 ngàn hồ sơ đang chờ đợi. Tôi hỏi một người trong Ban tổ chức số vé bán ra nhiều không? Anh bảo hy vọng được mười ngàn. Kinh tế yếu kém quá nên không biết sẽ quyên được bao nhiêu tiền. Anh nói năm ngoái khán giả đông hơn nhiều, ngồi kín hai khu bên hông sân khấu. Thỉnh thoảng các MC vẫn cho biết số tiền đóng góp từ đồng hương.

Vào lúc 4 giờ 15, Ban tổ chức cho biết số tiền quyên góp được tại chỗ là gần sáu chục ngàn trong tổng số ba trăm ngàn từ khắp nơi trên thế giới gởi về.

Lúc này tôi mới có dịp chăm chú thưởng thức. Nhạc phẩm “Giờ này anh ở đâu” đang được ca sĩ Ngọc Huyền từ xứ cao bồi Texas trình diễn thật thiết tha. Chị cho biết bác sĩ Nguyễn Quang Thái tặng Ban tổ chức một ngàn đô. Khán giả vui mừng vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt. Chị nói, tiền cầm rồi, bây giờ phải ca vọng cổ… trả ơn. Sáu câu vọng cổ của chị thật ngọt, hy vọng sẽ vang về tận quê hương và ru được lòng các thương binh VNCH đang lê lết khốn khổ nơi quê nhà. Nghệ sĩ Nam Lộc cũng “bày đặt” xuống một câu vọng cổ giọng Bắc kỳ ngang ngang, khiến bà con cười lăn cười bò.

Ngoài cổng, đồng hương vẫn tấp nập tiến vào.

Trên đường về, một cặp vợ chồng trẻ nói chuyện với nhau. Anh chồng, từ giờ tới 7 giờ chiều chắc được một triệu. Chị vợ, còn có hơn hai tiếng à. Không được đâu. Năm trăm ngàn thì em “mua.” Một triệu? Khó lắm. Tiếng nghệ sĩ nào đó vẫn vang vang, xin quý vị gọi cho thân nhân, bạn bè, kêu gọi mọi người gọi vào Ban tổ chức ủng hộ cho đủ số tiền một triệu. Mới được ba trăm ngàn thôi.

Bước chân tôi như nặng thêm, đường về như dài ra.

Cám ơn quý khán thính giả. Cám ơn các anh chị em nghệ sĩ. Cám ơn cô Hạnh Nhơn. Xin tặng toàn thể quý vị mỗi người một bông hồng thắm. Xin tặng các anh chị Thương Binh và Quả Phụ hàng ngàn đoá hồng tình nghĩa từ đồng hương hải ngoại. Hy vọng công việc bé nhỏ của mọi người hôm nay sẽ phần nào làm vơi bớt thương đau của những người đã hy sinh một phần thân thể cho quê Mẹ VN, nơi chúng tôi được sinh ra và lớn lên trong ơn nghĩa đồng bào.

Các anh chị Thương Binh, giờ này các anh chị đang ở đâu? Giấc ngủ các anh chị có ngon không? Bữa cơm có đầy đủ? Mái nhà có còn dột?

Xa quê hương, nhưng lòng chúng tôi vẫn xốn xang và ngổn ngang trăm mối.

(Chi phiếu bảo trợ xin đề: ÐNH Cám Ơn Anh kỳ 4

Gởi về địa chỉ Hội H.O. Cứu Trợ TPB-QP: P.O. Box 25554, Santa Ana, CA 92799

Website: www.camonanhtb.com)

Bài và ảnh: Tạ Dzu

© Tạ Dzu

© Đàn Chim Việt

Ành tải từ báo Người Việt

Cô Hạnh Nhơn. ảnh tải từ báo Người Việt

Dân biểu Loretta Sanchez

Gian hàng bán Quân trang VNCH

Sunday, August 1, 2010

Khai mạc đại nhạc hội "Cám ơn anh người thương binh Việt Nam Cộng Hòa

Hình ành khai mạc đại nhạc hội Cám ơn anh người thương binh Việt Nam Cộng Hòa tại Bolsa Grande High School, Nam California di Phi Vũ thực hiện

















Quan hệ Mỹ-Trung và vấn đề Biển Đông

Trích RFI
Quan hệ Mỹ-Trung và vấn đề Biển Đông
Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tại Hà Nội nhân Diễn đàn khu vực ASEAN từ 19 đến 23/7/2010.
Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tại Hà Nội nhân Diễn đàn khu vực ASEAN từ 19 đến 23/7/2010.
Reuters
Đức Tâm

Các tuyên bố của ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nhân Hội nghị ASEAN vừa qua tại Hà Nội cho thấy là chính quyền Obama đã xem xét lại chính sách đối với khu vực châu Á trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng tỏ ra hung hăng, đưa ra những đòi hỏi phi lý về chủ quyền, muốn kiểm soát hầu hết khu vực Biển Đông, còn các nước Đông Nam Á, thì mong muốn sự quay trở lại của Hoa Kỳ như là một đối trọng với Trung Quốc.

Chính sách cân bằng ảnh hưởng Mỹ-Trung đã được thực hiện sau khi tổng thống Barack Obama nhậm chức và cam kết quay lại khu vực châu Á, nơi vốn bị sao nhãng dưới chính quyền của tổng thống George Bush. Giới quan sát nhận thấy là trong thời gian qua, không chỉ Ngoại trưởng Hillary Clinton, bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates mà còn có rất nhiều các quan chức cao cấp khác của chính quyền Mỹ đã công du khu vực này.

Theo ông Douglas Paal, nguyên là quan chức cao cấp trong nhiều chính quyền Mỹ trước đây, thì nhiều nước trong khu vực cho rằng Hoa Kỳ đang quay lại chơi trò cân bằng ảnh hưởng với Trung Quốc. Các nước này cảm thấy là nếu đứng riêng lẻ, họ không thể đối phó được với Trung Quốc, do vậy, họ cần một quốc gia nào đó thúc đẩy họ hợp tác với nhau.

Trong khi đó, bà Bonnie Glasser, một chuyên gia về Trung Quốc, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược, đã từng có thời gian làm cố vấn cho bộ Ngoại giao và bộ Quốc phòng Mỹ nhận xét là các nước châu Á tỏ ra lạnh lẽo với Trung Quốc, có thái độ nồng ầm hơn với Mỹ. Xét về cơ hội phát triển quan hệ thương mại và đầu tư, hầu hết các quốc gia trong vùng hoan nghênh sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc, nhưng đồng thời, các nước này lại nghĩ rằng Trung Quốc đã lộng hành. Do vậy, cần phải có một sự cân bằng hơn và cường quốc tốt nhất để làm việc này là Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, cũng có những chuyên gia Mỹ lưu ý chính quyền Washington không nên làm ảnh hưởng đến quan hệ với Bắc Kinh.

Ông Kenneth Lieberthal, chuyên gia phân tích hàng đầu thuộc viện Brookings, tại Washington, được AFP trích dẫn, cảnh báo là việc Mỹ quay trở lại đảm nhiệm vai trò to lớn ở khu vực Thái Bình Dương có thể làm cho Trung Quốc khó chịu, gây tổn hại cho quan hệ song phương và tình trạng này sẽ bất lợi cho cả hai nước.

Vẫn theo nhà phân tích này, có thể một số lãnh đạo ở Bắc Kinh nghĩ rằng chính quyền Obama đang tìm cách thúc đẩy lòng tin của một số nước tại Đông Nam Á đến mức gây khó khăn, cản trở sự bành trướng của Trung Quốc tại châu Á.

Tờ Washington Post trích dẫn các quan chức Hoa Kỳ và ASEAN tham dự Diễn đàn an ninh khu vực, ARF ở Hà Nội, cho biết là sau khi Ngoại trưởng Mỹ kêu gọi các bên liên quan tôn trọng quyền tự do thông thương hàng hải và hàng không trên vùng Biển Đông, Ngoại truởng Trung Quốc Dương Khiết Trì đã có phản ứng, bỏ ra ngoài, không tham dự Diễn đàn trong một tiếng đồng hồ. Khi quay lại, ông Dương Khiết Trì đã đáp trả trong vòng 30 phút, tố cáo Mỹ có ý đồ chống Trung Quốc trong hồ sơ Biển Đông, mỉa mai chính quyền Việt Nam và công khai đe dọa Singapore, khi nói thẳng với ngoại trưởng George Yeo, xin trích, « Trung Quốc là một nước lớn và các nước là những nước nhỏ. Đó là một thực tế ».

Giải thích về chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc, các quan chức Mỹ nêu ra hai cách tiếp cận vấn đề được tiến hành song song.

Một mặt, chính quyền Obama thừa nhận Trung Quốc là một cường quốc đang vươn lên, mời Bắc Kinh tham gia Hội nghị 20 nền kinh tế lớn trên thế giới, G20, tổ chức nhiều cuộc gặp, đối thoại song phương giữa các quan chức cấp cao, ủng hộ Trung Quốc có vai trò to lớn hơn tại Quỹ Tiền tệ Quốc tế.

Mặt khác, Hoa Kỳ tìm mọi cách hạn chế những ý đồ bá quyền của Trung Quốc trong khu vực, và để làm việc này, Mỹ đã gia tăng hoạt động ngoại giao, cải thiện bang giao với nhiều quốc gia châu Á -Thái Bình Dương, bãi bỏ lệnh cấm hợp tác với lực lượng đặc biệt của quân đội Indonesia và tăng cường quan hệ liên minh với Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, tỏ thái độ cứng rắn tại Diễn đàn An ninh khu vực ARF vừa qua.

Saturday, July 31, 2010

Bùi Văn Phú – Hơi cay Lý Tống, chuyện dài Việt Nam

Bùi Văn Phú – Hơi cay Lý Tống, chuyện dài Việt Nam

Vn-tq Đã Hải Chiến Nhiều Lần 2005, 2008 Tin Hải Chiến Bưng Bít

Việt Báo Thứ Sáu, 7/30/2010, 12:00:00 AM

VN-TQ Đã Hải Chiến Nhiều Lần 2005, 2008 Tin Hải Chiến Bưng Bít; Tướng Nguyễn Chí Vịnh: VN Đủ Sức Chống Vũ Lực Từ Nước Khác

HÀ NỘI/HỒNG KÔNG (VB) -- Một bí mật vừa được tiết lộ: Hải quân hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã giao chiến trong năm 2005 và năm 2008, nhưng các trận hải chiến này đã bị bưng bít ngay chính với giới truyền thông tại hai nước độc tải toàn trị này. Đó là thông tin từ bản tin nhan đề “Vietnam hedges its China risk” đăng trên tờ Asia Times hôm 30-7-2010.
Trong khi đó, một tướng lãnh VN tuyên bố ở Hồng kông rằng VN có đủ sức để ngăn cản “việc sử dụng bạo lực hay việc đe dọa sử dụng bạo lực” từ nước khác. Đó là lời Tướng Nguyễn Chí Vịnh nói trong bản tin “A flash of steel and the velvet glove from Vietnam” trên tờ South China Morning Post ngày 29-7-2010.
Bài báo trên Asia Times ký tên The Hanoist (Người Hà Nội) cho biết rằng Việt Nam và Ấn Độ có cơ hôäi kết thân chiến lược nhờ một thương lượng kinh doanh: hãng dầu BP cần tiền để dọn dầu loang ở Vịnh Mexico, đã rao bán nhìều tích sản, trong đó có khoản đầu tư trong vùng biển Nam Côn Sơn ngoàì khơi phía nam VN. Theo tin nhà nước, VN đã chấp thuận cho các hãng dầu quốc doanh Ấn Đôä và hãng Petro Vietnam mua đứt cổ phần của BP.
Bài viết nhắc lại rằng, chính hãng BP đã nói hồi tháng 3-2009 rằng BP sẽ ngưng thăm dò vì bị áp lực từ TQ. Bây giờ chuyển sang cho hãng Ấn Độ, nhiều là sẽ ít bị hù dọa bởi TQ, VN đang khẳng định quyền khai thác dầu khí vùng 200 dặm này.
Bài của Người Hà Nội cũng nói, Nhật Bản và VN cũng mới loan báo thiết lập đối thoại an ninh song phương, gồm các viên chức quân sự và ngoại giao. Đó là diễn biến mới, vì trước giờ chỉ bàn duy về giao thương. Nhật Bản hiện đã có những cuộc đối thoaạ như thế với Mỹ, Úc và Ấn Độ.
Bài báo cũng nhắc rằng TQ đã chiếm Hoàng Sa năm 1974, đã giao chiến ở biên giơi với VN năm 1979, và đã có hải chiến để chiếm một phần Trường Sa năm 1988.
Theo các nguồn tin ngoại giao, TQ và VN cũng đã có những trận hải chiến mới đây là năm 2005 và có lẽ lần nữa vào năm 2008, mà không phổ biến các thông tin này.
Bài báo nói, nội bộ Đảng CSVN lần này, vào đầu năm tới, sẽ có tranh chấp giữa 2 phe thân và chống TQ.
Trong khi đó, Tướng Nguyễn Chí Vịnh, hiện là Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng VN, được báo South China Morning Post mô tả là “được nhìn như là Bộ Trưởng Quốc Phòng tương lai” của VN, đã trả lời phóng viên Greg Torode rằng VN có “tất cả năng lực” để ngăn cản bất kỳ việc sử dụng vũ lực nào chống lại VN, và thúc giục hãy minh bạch hơn và tin cậy hơn trong quan hệ quân sự với TQ.
Tướng Vịnh nói, “Chúng tôi... sẽ không bao giờ muốn sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực để kiếm lợi cho mình. Một thông điệp minh bạch khác chúng tôi đã gửi tới tất cả công đồng quốc tế là chúng tôi không bao giờ chấp nhận... bất kỳ giảỉ pháp nào liên hệ tới việc dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực và chúng tôi có tất cả khả năng để ngăn chận điều đó.”
Được hỏi có phải ông ám chỉ TQ mới đây đe dọa VN, ông nói rằng “đó là câu hỏi giành cho TQ, không phaỉ để cho VN.”
Tướng Vịnh trong bản tin cũng nói có thể VN sẽ kết thân hơn với Mỹ và Nga cũng như với TQ.

Friday, July 30, 2010

Giáo sư Carl Thayer: 'Có lẽ Việt Nam đang mừng thầm'

Phỏng vấn Giáosư Carl Thayer về lời tuyên bố của Ngoại trưởng Clinton về biển Ðông



Hà Giang/Người Việt

Khi Ngoại Trưởng Hillary R. Clinton tuyên bố sẽ không đứng ngoài tranh chấp chủ quyền biển đảo trên biển Ðông, lời tuyên bố này gây xôn xao dư luận và được nhiều giới phân tích rất chú ý. Bắc Kinh lập tức lên án lời tuyên bố này (xem tin kèm bên) và tỏ thái độ thách thức. Phóng viên Hà Giang báo Người Việt phỏng vấn Giáo Sư Carl Thayer để tìm hiểu nhận định của ông về việc này. Ông Carl Thayer hiện là giáo sư khoa Nhân Văn và Xã Hội Học tại Ðại Học New South Wales, Úc Châu. Ông là chuyên gia nghiên cứu quân sự, kiêm giám đốc diễn đàn Nghiên Cứu Quốc Phòng, là tác giả của gần 400 bài viết nghiên cứu tình hình các quốc gia Châu Á-Thái Bình Dương.



Tàu ngầm USS Ohio trong tấm hình chụp năm 2008 tại Busan, Nam Hàn. Ba chiếc tàu ngầm, mỗi chiếc mang 154 hỏa tiễn Tomahawk,
cách đây vài tuần xuất hiện cùng một lúc tại ba căn cứ quan trọng ở Á Châu - trong hành động GS Carl Thayer cho là dấu hiệu gởi tới Trung Quốc.
(Hình: Kim Jae-Hawn/AFP/Getty Images)


Một số ý kiến về lời tuyên bố của Hoa Kỳ

Linh Nguyễn/Người Việt

Cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi:


“Tôi thấy chính quyền Obama bắt đầu chú ý đến Á Châu nên đã cho Hải Quân Hoa kỳ thao dượt với Hải Quân của Nam Hàn, và Hoa Kỳ cũng đã tỏ ra cứng rắn sau khi họ cảm thấy bị sa lầy ở Iraq và Afghanistan. Lý do kế là vì Mỹ nhận thấy Viễn Ðông là yết hầu của nền kinh tế thế giới và Mỹ không thể để Trung Cộng kiểm soát biển Ðông. Nhật Bản sẽ lâm vào thế kẹt vì cần nguồn tiếp liệu nhiên liệu và khí đốt từ miền Trung Ðông. Lý do sau cùng là CSVN đang ở trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Nếu theo Hoa Kỳ thì mất Ðảng; còn theo Trung Cộng thì mất nước, mất đất. Ngoài ra, theo chỗ dò hỏi của tôi thì đa số người dân Việt Nam muốn CSVN theo Hoa Kỳ vì Việt Nam có mối thù truyền kiếp với Tàu. Ðại Hội Ðảng kỳ thứ XI sẽ quyết định phe thân Mỹ sẽ thắng.”

Giáo Sư Phạm Cao Dương:
“Sớm muộn gì thì người Mỹ cũng phải can thiệp vào vùng biển Ðông vì đây là con đường giao thông chính từ Tây Âu đến các nước Bắc Á như Ðại hàn, Nhật Bản. Nếu Trung Cộng thao túng sẽ gây trở ngại cho Mỹ. Vấn đề là thời điểm nào người Mỹ muốn chọn để can thiệp mà thôi.”
Hà Giang (NV): Nhiều người ngạc nhiên trước lời tuyên bố vừa rồi của Ngoại Trưởng Hillary Clinton tại 'Diễn Ðàn Khu Vực ASEAN ở Hà Nội. Bà nói là “Hoa Kỳ hậu thuẫn cho tiến trình giải quyết bằng ngoại giao của tất cả các nước tranh chấp lãnh thổ tại Biển Ðông, và chống việc dùng võ lực hay đe dọa võ lực của bất cứ nước nào.” Ông nghĩ gì về sự kiện này?

GS Carl Thayer: Theo tôi thì điều này không có gì mâu thuẫn với chính sách của Hoa Kỳ cả. Hoa Kỳ không đứng về quốc gia nào trong việc tranh chấp lãnh thổ, nhưng lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ bao gồm tự do hàng hải, về sự an toàn và an ninh khi di chuyển trên vùng Biển Ðông, và luật lệ quốc tế, theo quan điểm của Hoa Kỳ được tôn trọng. Vì thế Trung Quốc không thể đưa những gì mà họ cho là lịch sử để xem Biển Ðông là của mình, mà phải tính theo biên giới Quốc Gia, và ranh giới biển. Hoa Kỳ sẽ bảo vệ quyền lợi thương mại của Hoa Kỳ tại Biển Ðông, hiện đang bị Trung Quốc đe dọa. Tóm lại, Hoa Kỳ không nói rằng hòn đảo nào thuộc về Việt Nam, nhưng khẳng định rằng sẽ bảo vệ quyền lợi của quốc gia mình.

NV: Nhưng việc bà ngọai trưởng tuyên bố điều này một cách rất thẳng thừng tại một bàn hội nghị tại Việt Nam, một quốc gia hiện đang tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc tại Biển Ðông, và tuyên bố ngay trước mặt ngoại trưởng Trung Quốc là Yang Jiechi (Dương Khiết Trì), khiến người ta cho rằng đã có một thay đổi rõ ràng trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ liên quan đến Biển Ðông, ông nghĩ sao?

GS Carl Thayer: Tôi nghĩ là sự thay đổi thái độ này đến từ Trung Quốc, và Hoa Kỳ chỉ đang trả đũa việc Trung Quốc nâng quyền lợi Biển Ðông lên thành “quyền lợi thiết yếu” của họ, việc Trung Quốc nói với dân Mỹ du lịch ở Trung Hoa là họ sẽ dùng vũ lực để bảo vệ quyền lợi đó, việc Trung Quốc có những thái độ đe dọa nhắm vào Hoa Kỳ, cũng như việc không hợp tác trong vấn đề Bắc Hàn. Sự thay đổi thái độ của Hoa Kỳ về Biển Ðông không phải bây giờ mới có. Cách đây vài tuần, ba chiếc tầu ngầm lớn của Mỹ là USS Ohio, Michigan và Florida, đã xuất hiện cùng một lúc tại ba căn cứ quân sự quan trọng tại Á Châu là Subic Bay-Philippines, Busan-Nam Hàn, và Diego Garcia-một đảo nhỏ ở Ấn Ðộ Dương. Và cả ba tầu ngầm này đều chuyên chở 154 loại hỏa tiễn “Tomahawk.” Ðây là những hỏa tiễn có thể bắn một cách rất chính xác vào bất cứ mục tiêu nào trong vòng 1,000 dặm, dùng những đầu đạn không nguyên tử (hạt nhân).

NV: Theo giáo sư thì Trung Quốc sẽ phản ứng ra sao trước sự kiện này?

GS Carl Thayer: Biển Ðông thật ra chỉ là một trong những vấn đề. Ðiều hiện đang làm cho Trung Quốc rất bực tức bây giờ là việc Hoa Kỳ tập trận chung với Nam Hàn tại biển Nhật Bản và Hoàng Hải. Trung Quốc không muốn điều này xẩy ra, nhưng họ không thể ngăn cản được, cho nên họ sẽ bị bực bội một thời gian, nhưng dần rồi cũng phải chấp nhận thôi, vì họ không có sức mạnh quân sự để đối đầu với Hoa Kỳ. Tôi cho rằng dần dà Trung Quốc sẽ phải có thái độ hợp tác hơn trong những vấn đề liên quan đến Bắc Hàn.

NV: Dư luận thế giới rất e ngại về sự bành trướng quân sự của Bắc Kinh, nhất là những đầu tư của họ cho hải quân. Giáo sư đánh giá thế nào về sức mạnh Hải Quân của Hoa Kỳ và Trung Quốc trong thời điểm hiện tại?

GS Carl Thayer: Còn cả vài thập niên nữa Trung Quốc mới có thể sánh được với sự vượt trội của Hải Quân Hoa Kỳ. Họ có thể dọa nạt Ðài Loan, và đã công bố là có 2,000 đầu hỏa tiễn hiện đang nhắm vào Ðài Loan. Ðây là điều đe dọa lớn nhất mà Trung Quốc có thể đem ra để làm Hoa Kỳ e ngại, vì Trung Quốc có thể tiêu diệt Ðài Loan, nếu họ muốn. Trong trường hợp đó, Hoa Kỳ chỉ có thể trả đũa Trung Quốc, chứ không thể ngăn cản được việc này xẩy ra. Tuy nhiên, theo tường thuật của tờ Quadrennial Defense Review, thì Ngũ Giác Ðài cho biết Trung Quốc cố gắng đầu tư vào những căn cứ hải quân của họ để tìm cách đe dọa Hải Quân Hoa Kỳ, và chính phủ Hoa Kỳ đã ra lệnh cho hải quân của mình đi trước trong việc phát triển những vũ khí tối tân hơn. Khi tôi nhắc đến sự xuất hiện của ba chiếc tàu ngầm lớn của Hoa Kỳ chở đầy hỏa tiễn Tomahawk, là tôi muốn nói đến sự giật mình của Bắc Kinh. Từ trước đến giờ Trung Quốc cứ tưởng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục lệ thuộc vào vũ khí nguyên tử. Nhưng không, bằng cách chuyển qua hỏa tiễn đạn đạo, Hoa Kỳ đã làm suy yếu chiến lược của Trung Quốc. Có thể nói là Trung Quốc đang dần đà làm giảm sự áp đảo của quân đội Hoa Kỳ, nhưng sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ mạnh đến độ có thể đánh bại Trung Quốc trong bất cứ trận chiến nào trong vòng vài thập niên nữa, và Bắc Kinh biết điều đó.

Giáo sư Carl Thayer. (Hình: HoangDinhNam/Getty Images)

NV: Giáo sư có cho rằng những lời tuyên bố của Ngoại Trưởng Hillary Clinton trong hội nghị Asean vừa qua khiến cho nhà cầm quyền Việt Nam mạnh dạn hơn trong việc đối diện với tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc tại Biển Ðông ?

GS Carl Thayer: (Cười) Tôi thấy rằng, Việt Nam thích nói nhỏ cho Hoa Kỳ nghe quyền lợi của họ là gì, và đang đứng sau lưng Hoa Kỳ, thầm mong là Hoa Kỳ hãy đá Trung Quốc đi. Có lẽ giờ đây Việt Nam đang mừng thầm là Hoa Kỳ tỏ thái độ rõ ràng với Trung Quốc. Từ trước đến giờ, sự tranh chấp ở Biển Ðông chỉ là giữa Việt Nam và Trung Quốc, và Việt Nam thì lại không được sự hậu thuẫn đúng mức của các nước Á Châu, vì Trung Quốc có tầm ảnh hưởng quan trọng lên những quốc gia này. Giờ đây, tại hội nghị diễn đàn khu vực Asean, bộ trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton đã nói rằng tất cả 12 nước đã nêu lên vấn đề an ninh tại Biển Ðông. Ðây là một diễn biến vô cùng quan trọng. Tôi cho ra rằng Trung Quốc khó có thể tiếp tục chính sách đàm phán song phương trong việc giải quyết những tranh chấp lãnh thổ của họ từ trước đến nay. Tiện đây, cũng kể thêm một chuyện vui là Trung Quốc bảo rằng họ cảm thấy bị đánh lén, và họ thấy là Hoa Kỳ đã không công bình khi chỉ trích họ tại hội nghị.