Translate

Wednesday, April 14, 2010

Bám biển Hoàng Sa

Câu chuyện về "Bám biển Hoàng Sa" của những người trong nước đọc thật cảm động. Bỏ qua những định kiến về ngôn ngữ mà Cộng Sản quen dùng, ta cảm nhận được tấm lòng của những người con dân đất nước vẫn có tấm lòng yêu nước nồng nàn. Đây là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, rất tiếc là Cộng Sản Việt Nam đã sử dụng vào ý đồ đen tối của một đảng chỉ biết phản bội lại đất nước và nhân dân. Bài được trích đăng từ trang web Vietnamnet ở trong nước.

Hoàng Sa, nơi cuộc sống không có chỗ cho sự yếu hèn

Cập nhật lúc 07:39, Thứ Tư, 14/04/2010 (GMT+7)
,

- Trong những ngày lênh đênh trên các tàu cá, tận mắt nhìn những ngư dân can trường bám biển, đối mặt với bao hiểm nguy suốt mấy chục năm nay nơi vùng biển Hoàng Sa. Đối với tôi, họ là những “chiến binh” dũng cảm cưỡi sóng đạp gió, không hề run sợ và khuất phục dưới bất kỳ thế lực hung bạo nào…

>>
Kỳ 1: 10 ngày nghẹt thở trên vùng biển Hoàng Sa
>> Kỳ 2: Nín thở đi qua vùng biển "tử thần"
>> Kỳ 3: Hiểm nguy giữa biển Hoàng Sa
>> Kỳ 4: Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông
>> Kỳ 5:Đêm dưới lòng biển Hoàng Sa

“Chiến binh” của biển

Hạnh phúc của tôi trong những ngày sống ở biển Hoàng Sa là được nhìn thấy lá cờ Tổ quốc tung bay trong gió trên nóc ca bin của những chiếc tàu đánh cá đang ngày đêm bám vùng biển Hoàng Sa để mưu sinh.

Mỗi lần nhìn lá cờ Tổ quốc phần phật bay, tim tôi như nghẹn lại cùng với lòng tự hào. Tổ quốc vẫn hiển hiện trên bầu trời biển đảo giữa trùng khơi.

Những "chiến binh" trẻ giữa biển Hoàng Sa.

Trước biển bao la, những ngư dân mặt sạm đen vì nắng gió biển khơi luôn rạng rỡ nụ cười lạc quan. Nhiều ngư dân trẻ tôi từng gặp, giữa trùng khơi họ đều khẳng định với tôi rằng: Họ chỉ có hai bàn tay trắng nhưng đất trời Hoàng Sa mãi mãi trong trái tim và luôn gợi nhắc quá khứ hào hùng của cha ông suốt mấy trăm năm cưỡi sóng đạp gió chinh phục vùng biển đảo này.

Trung Quốc ỷ thế tàu to, trang bị súng ống, còn bà con ngư dân tàu nhỏ lại tay trắng, giữa biển mênh mông nên họ ăn hiếp. Thực lòng mà nói, nếu được cho phép, bà con ngư dân tụi tui sẵn sàng đối mặt để bảo vệ chủ quyền…” - thuyền viên Trương Văn Công khẳng định.

Những "chiến binh" trẻ đang ngày đêm bám biển Hoàng Sa, đối mặt với bao hiểm nguy nhưng gương mặt luôn rạng rỡ nụ cười.

Không riêng gì ông Công, mà tất cả những thuyền viên tôi gặp giữa biển Hoàng Sa đều bảo rằng họ không hề biết run sợ cho dù có bị bắt, bị đánh đập.

Nhiều lần bị bắt, đánh đập, rồi cướp toàn bộ máy móc, kể cả cá đánh được, tức lắm, nhưng chỉ có hai bàn tay trắng không biết làm chi hơn, đành phải chấp nhận. Cái mà anh em tụi tui lo sợ nhất là bị cướp tàu, hoặc bị tàu lớn bất ngờ đâm chìm tàu giữa biển như trường hợp tàu Qng-96516-TS của anh Dương Thanh Phú ở Lý Sơn hôm 9/3. Còn những hiểm nguy khác không nghĩa lý gì…” - thuyền trưởng Nguyễn Thanh Tuấn tâm sự.

Mỗi một chiếc tàu cưỡi sóng đạp gió ra Hoàng Sa mang theo những đứa con đất Việt dũng cảm, can trường. Tôi vẫn còn nhớ như in lời tâm tình của thuyền viên Nguyễn Thanh Tích trên tàu Qng-95821: “Cuộc sống ở Hoàng Sa là nơi không dành cho những người run sợ, yếu hèn. Nếu sợ chết thì chỉ ra một lần rồi mãi mãi không quay trở lại...

Tôi hỏi Tích: Trong số những thuyền viên mà Tích quen biết, có ai không trở lại Hoàng Sa?". Tích lắc đầu: “Nói là vậy, nhưng tất cả những người ra Hoàng Sa mưu sinh, chẳng ai bỏ biển bao giờ cho dù họ có bị Trung Quốc bắt giữ, đánh đập. Thậm chí nhiều chủ tàu bị giữ tàu, trắng tay trở về nhưng một thời gian sau họ cũng tìm cách quay trở lại biển Hoàng Sa…”

Những đêm trắng cùng thức với ngư dân giữa Hoàng Sa, tôi được nghe những câu chuyện kinh hoàng nơi biển cả, từ chuyện giông tố nổi lên bất ngờ, đến chuyện tàu Trung Quốc rượt đuổi bắt giữ.

Hơn 40 thuyền viên tôi gặp giữa biển Hoàng Sa, người ít nhất cũng 2 lần thoát chết và 1 lần bị Trung Quốc bắt giữ. Nhiều chủ tàu trắng tay lên bờ, họ lại tiếp tục vay mượn để đóng tàu mới ra khơi.

"Chiến binh" can trường giữa biển Hoàng Sa.

Ngay như thuyền trưởng kiêm chủ tàu Dương Lúa, Lê Văn Lộc ở An Hải, huyện đảo Lý Sơn, bị Trung Quốc bắt giữ thu tàu hồi cuối tháng 9/2009. Không còn phương tiện, cả hai chủ tàu đều lên tàu bạn tiếp tục bám biển Hoàng Sa mưu sinh.

“Nếu được nhà nước hỗ trợ, tụi tui sẽ vay vốn đóng mới tàu tiếp tục ra bám biển Hoàng Sa...” - Lão ngư Dương Lúa khẳng định

Ngồi trò chuyện cùng ngư dân, tôi gọi họ là những “chiến binh” của biển. Thuyền trưởng Nguyễn Thanh Tuấn, Tiêu Viết Hồng đều bảo: Tụi tui là những “chiến binh” của biển nhưng là những “chiến binh” tay trắng. Mấy chục năm nay dẫu đối mặt với bao hiểm nguy, chúng tôi không bao giờ biết run sợ. Cho dù những kẻ cậy tàu to, súng lớn, nhưng khó lòng mà khuất phục được ý chí kiên cường của những người con đất Việt.

Hào khí Hoàng Sa

Lấy mốc từ ngày Phạm Quang Ảnh, người con của đất đảo Lý Sơn dưới thời triều Nguyễn đã “vâng mệnh vua ban” đóng thuyền buồm ra Hoàng Sa để đo đạc, đóng cột mốc trên đảo đã hơn 400 năm.

Kể từ ngày đó, những con dân đất Việt cứ thế hết đời này đến đời khác tiếp nối bước chân ra chinh phục vùng biển đảo Hoàng Sa bất chấp những hiểm nguy rập rình.

Tượng đài Hoàng Sa, niềm kiêu hãnh của con dân đất đảo Lý Sơn đã tạo nên hào khí Hoàng Sa cho con cháu mai sau.

Ông Võ Hiển Đạt, một người con được sinh ra trên đất đảo Lý Sơn, không nối gót cha anh xuống tàu ra Hoàng Sa mà ở nhà chăm chỉ học hành để làm phận sự truyền cái chữ cho con dân xứ đảo và chú tâm nghiên cứu lịch sử của vùng đất.

Ông khẳng định rằng, từ thuở Phạm Quang Ảnh “vâng mệnh vua ban” thống lĩnh đội Hoàng Sa giong thuyền buồm ra đo đạc, cắm cột mốc chủ quyền nơi đảo Hoàng Sa, những bước chân nối tiếp rầm rập xuống thuyền vượt biển tạo nên hào khí Hoàng Sa nơi vùng đất đảo này.

Ông Đạt nói rằng: "Cái hào khí Hoàng Sa được hun đúc từ nhiều thế hệ cha ông truyền trong dòng máu của mỗi con dân xứ biển lòng quả cảm, ý chí kiên cường không hề biết sợ run trước thế lực hung bạo nào…

Trước khi ra biển Hoàng Sa, tôi đã có những ngày sống ở đảo Lý Sơn, tận mắt chứng kiến cảnh ngư dân nơi huyện đảo sắm lễ vật lũ lượt đến Âm Linh Tự làm lễ cầu nguyện trước mỗi chuyến ra Hoàng Sa.

Bất kể sớm, trưa, chiều tối, trong khói hương nghi ngút cùng tiếng chuông ngân lên nơi Âm Linh Tự như nhắc nhở cháu con nơi vùng đất đảo này ghi nhớ công khai phá của tiền nhân.

Trong cái không khí trầm hùng của nghi lễ những ngày đầu năm nơi làng biển của huyện đảo này, tôi như nghe vang vọng những bước chân rầm rập xuống thuyền và tiếng mái chèo khua nước của đội hùng binh mấy trăm năm trước.

Còn bây giờ, nơi cảng cá Lý Sơn hay cảng biển Sa Kỳ, hàng trăm tàu thuyền chen chúc vào ra. Ngư dân trên những chiếc tàu đầy tôm cá từ Hoàng Sa trở về, hay những chiếc tàu rẽ sóng ngược ra Hoàng Sa với bao kỳ vọng cho cuộc sống no cơm ấm áo.

Nhiều lão ngư tôi gặp giữa biển Hoàng Sa bảo rằng: Có ra Hoàng Sa mới thấy cái hào khí của con dân đất Việt bao đời bám biển. Bất chấp mọi hiểm nguy, những đứa con biển vẫn can trường không hề biết sợ...

Bất chấp mọi hiểm nguy, những con tàu ngày đêm rẽ sóng ngược ra Hoàng Sa.

Tôi vẫn còn nhớ như in lời của lão kình ngư Nguyễn Thanh Tuấn trong cái đêm trắng nơi đảo Bom Bay: “Không có sức mạnh nào có thể khuất phục được những đứa con đất Việt đang ngày đêm bám biển Hoàng Sa. Bây giờ và mãi mãi về sau, chúng tôi và cháu con đã, và đang tiếp tục tiếp nối bước chân của tiền nhân ra vùng biển đảo Hoàng Sa để khẳng định chủ quyền…

Giữa những ngày biển lặng, đi qua vùng biển Lý Sơn, hay dọc các vùng ven biển Quảng Nam, Quảng Ngãi, thanh niên trai tráng của các làng chài lần lượt kéo nhau xuống tàu ra Hoàng Sa.

Họ ra đi trong tâm thế của người con nước Việt ra vùng biển đảo chủ quyền của Tổ quốc để mưu sinh. Tôi đã gặp hàng đoàn trai tráng xuống tàu ra Hoàng Sa bám biển với những chuyến đánh bắt dài ngày và những chuyến tàu rời Hoàng Sa trở về khi tàu đã đầy tôm cá.

Hoàng Sa trong tâm trí của những chàng trai ra đi với lời hò hẹn của bao thiếu nữ trên bờ mong ngày trở về như những sợi dây vô hình nối chặt đất liền với biển đảo Hoàng Sa như là máu thịt.

Vũ Trung

Tuesday, April 13, 2010

Mỹ nói nhân quyền ảnh hưởng thương mại

Trích BBC News

Thứ trưởng Robert Hormats

Thứ trưởng Robert Hormats đã nói chuyện với sinh viên đại học Ngoại thương

Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Robert Hormats cảnh báo thực trạng nhân quyền có thể ảnh hưởng quan hệ kinh tế Việt-Mỹ.

Ông Hormats đã có cuộc gặp gỡ báo chí sau buổi tiếp xúc với sinh viên trường đại học Ngoại thương tại Hà Nội hôm thứ Hai 12/04.

Ông là quan chức phụ trách các lĩnh vực kinh tế, năng lượng và nông nghiệp thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Thứ trưởng Hormats được thông tấn nước ngoài trích lời nói với các nhà báo: "Chúng tôi có quan ngại về các vấn đề nhân quyền ở Việt Nam".

"Một số nhân vật tại Hạ viện Hoa Kỳ, và không chỉ tại đó, lo ngại về các vấn đề nhân quyền, lao động (ở Việt Nam); và nếu như các vấn đề này không được giải quyết thì tôi nghĩ chúng sẽ gây ảnh hưởng tới quan hệ thương mại giữa hai nước."

"Một số nhân vật ở Mỹ cho rằng đây là chủ đề quan trọng và do vậy nó có thể ảnh hưởng tới quan hệ kinh tế với Việt Nam về lâu về dài, thế nhưng tôi không dám nói trước là như thế nào."

Tuy nhiên, ông thứ trưởng nhấn mạnh rằng ông không muốn gây căng thẳng quanh chủ đề nhân quyền.

Ông nói: "Phê bình không có nghĩa là chúng tôi muốn cãi cọ, và phê bình nhằm mục đích xây dựng hơn là gây căng thẳng."

Hoa Kỳ năm ngoái đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất vào Việt Nam, và cũng là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các doanh nghiệp trong nước.

Báo Việt Nam khi viết về chuyến thăm của ông Robert Hormats chỉ nói "Mỹ muốn thúc đẩy quan hệ với Việt Nam" để hai bên có thể trở thành "đối tác thiết thực".

Báo trong nước cũng nói ông Hormats "bày tỏ tin tưởng rằng Việt Nam sẽ ngày càng nâng cao vị thế tại khu vực và trên trường quốc tế".

Sunday, April 11, 2010

Vận động đổi tên Biển Nam Trung Hoa

Trích NguoiViet Boston


Pham Cao Dương

Ông Phạm Cao Dương lấy bằng tiến sĩ sử học ở Đại học Paris, và dạy ở nhiều đại học tại Sài Gòn trước 1975. Sau khi sang Mỹ, ông dạy về lịch sử, ngôn ngữ Việt Nam ở một số trường tại Nam California trước khi về hưu.

Tranh chấp Biển Đông đang được chú ý

Bài này được viết sau khi vụ Hội Địa Lý Quốc Gia (National Geographic Society) của người Mỹ ghi chú không đúng về quần đảo Hoàng Sa đã tạm thời được giải quyết với sự đồng ý sửa lại của tổ chức này.
Đây là một thành công quan trọng mà người Việt Nam nói chung đã đạt nhờ sự lên tiếng và tranh đấu của các giáo sư, học giả, các cơ quan hay tổ chức nghiên cứu chuyên môn và của những người Việt yêu nước bình thường cả trong lẫn ngoài nước. Có điều đây mới chỉ là bước mở đầu vì National Geogaphic Society không phải là cơ quan hay nhà xuất bản duy nhất sản xuất và phát hành bản đồ ở Hoa Kỳ và trên thế giới. Còn rất nhiều cơ quan và nhà xuất bản khác cũng làm những công việc tương tự. Việc làm sáng tỏ và tranh đấu để có sự điều chỉnh cho đúng sự thực do đó cần phải được tiếp nối.
Trong bài này người viết xin được đưa ra hai gợi ý cần phải làm vào lúc này. Thứ nhất là người Việt ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước lớn như Pháp, Anh, Úc, Nhật, Đức, Canada và các nước Bắc Âu… cần phải duyệt lại tất cả những tài liệu đã được phổ biến liên hệ tới không riêng Quần Đảo Hoàng Sa mà luôn cả Quần Đảo Trường Sa và nếu cần, phải vận động để điều chỉnh. Thứ hai là phải xét lại danh xưng South China Sea (Biển Nam Trung Hoa) hay Mer de Chine (Biển Trung Hoa) và đổi thành Southeat Asia Sea hay Mer de l’Asie du Sud-Est (Biển Đông Nam Á). Cả hai gợi ý này đều có những lý do riêng và đều có thể thực hiện được nếu mọi người Việt Nam nhất là nhà cầm quyền ở trong nước đều muốn làm vì chúng ta đang ở vào những vị thế và thời điểm vô cùng thuận lợi, có thể làm được.

Duyệt xét lại bản đồ

Lý do của việc làm này là bản đồ có thể được phổ biến dưới nhiều hình thức khác nhau: trên mạng, in rời từng bản để treo tường hay in trong sách hay thành tập gọi là atlas dưới nhiều khổ lớn nhỏ, dầy mỏng khác nhau, có tỷ lệ khác nhau, từ đó chi tiết được trình bày hay ghi chú khác nhau, đồng thời cũng có thể là những cầu đồ (globes). Gợi ý để mọi người cùng làm ở đây là người Việt ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước lớn như Mỷ, Pháp, Anh, Úc, Nhật, Đức và các nước Bắc Âu… cần phải duyệt lại tất cả những tài liệu đã được phổ biến này và nếu cần, có thể vận động để điều chỉnh. Hoa Kỳ là một trường hợp điển hình. Chúng ta thử bắt đầu một chút bằng quốc gia có nhiều liên hệ với Việt Nam này. Điều nên nhớ là công việc duyệt xét này, với một kiến thức không cần thật cao về các ngôn ngữ liên hệ, ai cũng có thể làm được, nhất là các thanh thiếu niên thuộc thế hệ trẻ ở các học đường, chưa nói tới các người làm ở các thư viện.

Ở Hoa Kỳ, ngoài National Geographic, còn có những nhà xuất bản khác không kém quen thuộc đối với học giới nói chung, các nhà địa lý học hay các thầy dạy sử địa nói riêng, như Hammond, Rand McNally, DK, Oxford University Press, Merriam-Webster, Random House, Snithsonian, Harper Collins… Các tài liệu này vì được ấn hành bằng tiếng Anh nên cùng lúc được xuất bản và phổ biến ở các nước nói tiếng Anh như Canada, Úc, Anh… Các bản đồ của các nhà xuất bản này phần lớn dùng các tên Paracel hay Spratly, những tên quốc tế, rồi đã hoặc là để trống (Oxford Atlas of the World, 2005; Oxford New Concise World Atlas, 2009; Random House Compact World Atlas, 2006; Smithsonian Handy World Atlas, 2004) hoặc đề sovereignty disputed hay disputed – chủ quyển tranh chấp hay tranh chấp (Hammond World Atlas,2009; Hammond Concise World Atlas, (?); DK World Atlas, Digital Mapping for the 21th Century, 2007, DK Concise Atlas of the World, 2007) hoặc đề là claimed by (đòi chủ quyền bởi) rồi kể tên các quốc gia (Rand Mcnally, Answer Atlas , the Geography Resource for Students, 2006). Riêng cuốn Merriam-Webster, Geographic Dictionary, 2007, vì là từ điển nên ngoài tên quốc tế lại ghi thêm các tên Xi-shaQndao (Trung Hoa), Quần Đảo Hoàng Sa (Việt Nam) và Hi-ra-ta gun-tô (Nhật Bản) trước khi ghi các chi tiết khác.
National Geographic có lẽ là một trường hợp cá biệt. Các bản đồ in của hội này cũng đã ghi chú y như họ đã ghi chú trên mạng (National Geographic Family Reference Atlas of the World, 2010; National Geographic Visual of the World Atlas,2009; National Geographic Collegiate Atlas of the World (?). Cần để ý là trong thời gian chiến tranh Việt Nam, ngay từ những ngày đầu, National Geographic Society đã chú ý rất nhiều đến cuộc chiến đấu chống Cộng của người Việt. Họ đã viết và đã phổ biến rất nhiều bài về đề tài này một cách có cảm tình với phía ngưòi Việt Quốc Gia. Vậy tại sao với tư cách là một hội khoa học họ lại thay đổi thái độ một cách vội vã, thiếu vô tư và thiếu thận trọng so với những nhà xuất bản khác nặng về kinh doanh thương mại hơn như vậy?

Việt Nam (miền Bắc) cũng dùng các danh xưng Tây Sa và Nam Sa

Trở về với Việt Nam, việc dùng các danh xưng Tây Sa và Nam Sa, gốc của người Tàu, thay vì Hoàng Sa và Trường Sa trong tiếng Việt, không phải là không có.
Bài viết nhan đề “Xisha and Nansha Islands belong to China” (Tây Sa và Nam Sa thuộc Trung Quốc) đăng trên tờ Beijing Review, cơ quan ngôn luậnchính thức của chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh bằng Anh ngữ, số 21, ra ngày 25 tháng 5 năm 1979 cho người ta thấy điều đó. Bài này không ghi tên tác giả mà chỉ ghi là một bài bình luận của ký giả Tân Hoa Xã, có lẽ để tránh không bị coi là chính thức, nhưng ai cũng biết Tân Hoa Xã là cơ quan thông tấn chính thức của nhà nước Trung Hoa Cộng Sản. Trong bài bình luận này, ngoài những lập luận và chứng cớ bằng ngôn từ, tác giả đã viện dẫn tới các bản đồ chính thức của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (miền Bắc) ấn hành trước năm 1975. Các bản đồ này đã gọi các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng tên Trung Hoa đọc theo tiếng Việt là Tây Sa và Nam Sa của chúng kèm theo những ghi chú chứng tỏ các quần đảo này là thuộc Trung Hoa. Tác giả bài báo đã nêu lên một số trường hợp làm thí dụ:

Thí dụ thứ nhất: Bản đồ thế giới vẽ và ấn hành bởi Cục Bản Đồ (?) của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Nhân Dân Việt Nam năm 1960 đã ghi rõ bằng tiếng Việt “Quần Đảo Tây Sa (Trung Hoa)” và “Quần Đảo Nam Sa (Trung Hoa)”. Nguyên bản tiếng Anh để chữ China (Trung Hoa) trong ngoặc đơn rồi tất cả trong ngoặc kép “ the Xisha Islands (China)”, “the Nansha Islands (China)” thành người viết bài này (PCD) không rõ chữ China này là ghi đúng như trên bản đồ của Việt Nam hay do tác giả bài viết trên tờ Beijing Review thêm vô.

Thí dụ thứ hai: Những bản đồ Việt Nam xuất bản bởi Cục Địa Đồ vào tháng 5 năm 1964 và những bản đồ thế giới ấn hành tháng 5 năm 1972 cùng những bản đồ chính trị thế giới do Cục Đo Đạc và Bản Đồ Quốc Gia ấn hành tháng 3 năm 1974 ghi các quần đảo này bằng tên Trung hoa viết bằng tiếng Việt Nam. Không bao giờ các quần đảo này được ghi bằng tên tiếng Việt là “Quần Đảo Hoàng Sa” và “Quần Đảo Trường Sa” như sau này, theo tác giả bài báo.

Thí dụ thứ ba: Một bài học về Trung Quốc dành cho lớp 9 trong một cuốn sách giáo khoa về địa lý do Nhà Xuất Bản Giáo Dục ấn hành năm 1974 có câu “ Vòng cung hợp bởi các quần đảo Nam Sa và Tây Sa, đảo Hải Nam, Đài Loan, Quần Đảo Bành Hồ… tạo thành một bức “trường thành” che chở cho Trung Hoa Lục Địa.” Có nhiều diễn tả tương tự đã được thấy trong các sách giáo khoa của Việt Nam.

Thí dụ thứ tư: Kinh độ phía đông của Việt Nam. Ngày 15 tháng 5 năm 1975, non một tháng sau ngày quân đội Việt Nam (Cộng Sản) tiến chiếm sáu đảo của Quần Đảo Trường Sa, tờ Quân Đội Nhân Dân cho đăng một bản đồ Việt Nam bao gồm cả Quần Đảo Trường Sa và khẳng định là địa điểm cực đông của lãnh thổ Việt Nam nằm ở 109 độ 29 phút Đông. Điều này (theo bài báo) chứng tỏ Việt Nam đã chiếm đóng lãnh thổ của Trung Quốc.
Mặt khác, một tài liệu nhan đề Địa Lý Thiên Nhiên Việt Nam và Các Vùng Thiên Nhiên của Lãnh Thổ Việt Nam (?) do Nhà Xuất Bản Giáo Dục Việt Nam và Nhà Xuất Bản Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam ấn hành năm 1970 lại xác định điểm cực đông của lãnh thổ Việt Nam nằm ở 109 độ 21 phút Đông thay vì 109 độ 29 Đông, chênh nhau 8 phút. Tác giả bài báo cho rằng dù có tăng thêm 8 phút cho lãnh thổ Việt Nam, Nam Sa vẫn không thuộc Việt Nam vì Nam Sa nằm ở 109 độ 30 phút đông của lãnh thổ Việt Nam (cũng theo bài báo).

Qua những thí dụ kể trên, người ta thấy lập luận của phía Trung Hoa có những điều bất ổn.
Ba thí dụ đầu căn cứ vào những tài liệu được ấn hành từ trước năm 1975, khi Việt Nam còn bị chia đôi và có xuất xứ từ miền Bắc Việt Nam trong khi các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo Hiệp Định Geneva mà Trung Quốc có tham dự và đóng vai trò tích cực, là do miền Nam quản trị. Lập luận của Trung Quốc trong trường hợp này không có giá trị vì nó cũng giống như lập luận của họ đối với văn thư Phạm Văn Đồng gửi cho Châu Ân Lai. Nói cách khác, những gì miền Bắc làm đối với Hoàng Sa và Trường Sa là không có giá trị pháp lý căn cứ vào Hiệp Định Geneva.
Một câu hỏi được nêu lên là tại sao các nhà làm sách và làm bản đồ ở miền Bắc thời trước năm 1975 lại dùng những danh xưng của người Tàu thay vì các danh xưng của người Việt để gọi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa? Câu trả lời có thể là vì thời gian đó là thời gian Việt Nam và Trung Hoa là hai nước Cộng Sản “anh em”, em không giữ được thì đưa cho anh thay vì để người ngoài chiếm mất, đồng thời đó cũng là thời gian chiến tranh, Cộng Sản Việt Nam cần sự giúp đỡ của Cộng Sản Trung Quốc và vai trò của Trung Quốc nói chung và của các cố vấn Trung Quốc nói riêng rất mạnh, không ai có thể chống lại. Do đó, việc dùng ngôn từ của Trung Quốc hay việc chép nguyên văn từ các tài liệu do các cố vấn Trung Quốc đưa cho ở đây cũng chỉ là một điều bình thường giống hệt như trong các cuộc chỉnh huấn trong quân đội hay Cải cách Ruộng đất và việc dùng danh xưng Quân Đội Nhân Dân thay thế cho danh xưng Vệ Quốc Đoàn mang nặng tinh thần quốc gia chủ nghĩa. Khó ai có thể ngờ Trung Quốc trước sau như một khiến cho những gì các nhà làm bàn đồ hay sách giáo khoa về địa lý ở miền Bắc đã làm ở thời đó sau này đã gây ra bất lợi cho cả đất nước Việt Nam.
Ngoài ra người ta cũng phải để ý là tháng 5 năm 1975 miền Bắc mới chiếm được miền Nam và tự coi là có trách nhiệm trên toàn thể lãnh thổ của miền Nam trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa. Thời gian quá ngắn nên những tài liệu tờ Quân Đội Nhân Dân dùng cho bài viết của họ vẫn là tài liệu cũ của miền Bắc. Họ chưa có đủ thì giờ để cập nhật hóa những gì phải làm.
Tác giả nói hội nghị Asean là cơ hội để Việt Nam lên tiếng

Tên South China Sea cần phải được thay

Thứ nhất: Tên South China Sea (Biển Nam Trung Hoa) trong tiếng Anh và tên Mer de Chine (Biển Trung Hoa) trong tiếng Pháp không thích hợp với thực tại địa lý nói chung của biển này. Chúng đã được đặt ra và được chấp nhận từ nhiều thế kỷ trước, khi người Âu Châu mới tới vùng này. Lúc đó họ đã biết hay đã quen với Trung Quốc nhiều hơn là với các xứ Đông Nam Á đương thời, trong khi trên thực tế biển này ba mặt phía nam, phía tây, phía đông được vây quanh bởi các nước Đông Nam Á, chỉ một phần phía bắc là tiếp giáp với Trung Quốc. Khi một danh xưng do người ngoài đặt cho và không hợp lý với thực tại dịa phương, người ta cần phải đổi đi cho hợp lý hơn thay vì để nguyên một cách thụ động và cứ thế mà dùng từ đó gây ra những hiểu lầm lẽ ra có thể tránh được. Nên để ý là Indonesia xưa kia bị gọi là Nam Dương quần đảo. Sau khi độc lập nước này đã được đổi tên là Indonesia.
Đổi tên từ South China Sea hay Mer de Chine thành Biển Đông Nam Á không có nghĩa là ta từ bỏ danh xưng Biển Đông hay Đông Hải của Việt Nam vì Biển Đông hay Đông Hải là những tên riêng của người Việt để dùng trong nội bộ mình.

Thứ hai: Biển này nằm ở giữa các quốc gia Đông Nam Á, trong tương lai, với đà phát triển trên nhiều mặt của Hiệp Hội ASEAN, sẽ là một cái hồ, một thứ Địa Trung Hải của toàn vùng. Nó sẽ giúp cho mọi sự tiếp xúc, trao đổi và hợp tác, nói chung, từ kinh tế, tài chánh, thương mại đến văn hóa, giáo dục… được dễ dàng vì giao thông bằng đường thủy luôn luôn dễ dàng với những số lượng lớn hơn gấp bội so với đường bộ hay đường hàng không nếu người ta biết tổ chức và khai thác.

Thứ ba: Đổi tên từ South China Sea hay Mer de Chine thành Biển Đông Nam Á không có nghĩa là ta từ bỏ danh xưng Biển Đông hay Đông Hải của Việt Nam vì Biển Đông hay Đông Hải là những tên riêng của người Việt để dùng trong nội bộ mình. Các nước khác chắc chắn cũng có những tên riêng của để gọi biển này của họ. Vì là của riêng người ta vẫn có thể tiếp tục dùng những danh xưng này như những danh xưng truyền thống với những ý nghĩa vừa đúng với vị trí của biển này đối với người dân địa phương, vừa tình cảm của chúng. Southeast Asia Sea hay Mer de l’Asie du Sud-Est sẽ chỉ là những danh xưng quốc tế thích hợp hơn để dùng trên các văn kiện hay trong các buổi họp quốc tế, trên các địa đồ thế giới và cho các nước không nằm trong vùng.

Thứ tư: Dùng danh xưng Biển Đông Nam Á hay Southeast Asia Sea hay Mer de l’Asie dư Sud-Est sẽ giúp cho các học giả, các nhà ngoại giao, các chính khách Việt Nam, mỗi khi phải tiếp xúc với thế giới bên ngoài, tránh được sự khó chịu khi phải dùng những tên vừa không do mình đặt ra vừa không đúng với thực tại địa lý mà còn hàm chứa ảnh hưởng và sức mạnh quá lớn của Trung Quốc. Không những thế chúng còn mang các quốc gia Đông Nam Á lại gần với nhau hơn, đồng thời có thể tạo ra cho người dân của các quốc gia này một ý thức mới, ý thức thuộc về một khối người có nhiều điểm tương đồng, có những quyền lợi chung cần được khai thác với nhau trong hòa bình và cùng nhau bảo vệ nhất là trong phạm vi môi trường thiên nhiên vào lúc Trung Quốc đang nỗ lực kỹ nghệ hóa các tỉnh đông nam của họ.

Kết luận

Các quốc gia Đông Nam Á đã có một tổ chức chung; đã đến lúc các quốc gia này phải có một cái gì cụ thể chung. Một vùng biển chung mang danh Biển Đông Nam Á ít ra qua danh xưng của nó là biểu tượng cho cái gì chung đó vậy.
Năm nay Việt Nam sẽ là chủ tịch luân phiên của Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á và tháng Tư này Hội Nghị Thượng Đỉnh của hiệp hội này được tổ chức ở Hà Nội. Đây là dịp hiếm có để nước chủ nhà đưa ra sang kiến này. Cần phải được nhắc lại là tên Biển Đông Nam Á nếu được chấp nhận chỉ là tên gọi một vùng biển nằm giữa khu vực Đông Nam Á cho hợp lý mà thôi. Nó không có nghĩa là một sự quốc tế hóa biển này và nhất là không có liên hệ gì tới các chủ quyền lãnh thổ hay lãnh hải gì hết vì chủ quyền về lãnh thổ hay lãnh hải là do quốc tế công pháp, những luật về mặt biển, về thềm lục địa qui định dựa trên các yếu tố địa lý, lịch sử…
Vì chủ đề của bài này là Trường Sa và Hoàng Sa nên người viết thấy cần phải nêu lên một gợi ý khác để các nhà cầm quyền ở trong nước hiện tại chứng tỏ sự ghi nhận công ơn của các chiến sĩ, bất kể là từ miền Nam hay miền Bắc trước kia, đã hy sinh bảo vệ lãnh thổ nước nhà. Gợi ý đó là: Hãy dùng tên của Hải Quân Trung Tá Việt Nam Cộng Hoà Ngụy Văn Thà để đặt cho một trong hai chiếm hạm tối tân nhất mà Việt Nam mới đặt mua của nước Nga để bảo vệ vùng biển của nuớc nhà. Sự đặt tên này cũng gống như sự dựng tượng đài kỷ niệm chắc chắn sẽ được mọi người hoan nghênh kể cả các chiến sĩ hải quân của nước Việt Nam hiện tại vì Trung Tá Thà khi chiến đấu chống hải quân Trung Cộng ở Trận Chiến Hoàng Sa chỉ hướng tới một mục tiêu duy nhất là bảo vệ lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam trước sự xâm lăng của ngoại bang. Ông và thủy thủ đoàn của ông đã thuần túy chiến đấu vì lòng ái quốc của mình.

Friday, April 9, 2010

Tranh chấp chủ quyền

Vấn đề chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam vẫn là vấn đề vô cùng nhức nhối đối với nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam mà cũng là điều làm cho người Việt trong nước cũng như hải ngoại quan tâm. Nhân cuộc họp Asean lần thứ 16 tổ chức tại Hà Nội, Việt Nam, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam sẽ làm gì để giải quyết vấn đề này? Chúng ta hãy chờ xem Việt Nam sẽ nêu vấn đề này ra nhân cuộc họp Asean như thế nào? Vấn đề đặt ra là nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam có đủ khôn ngoan để giải quyết vấn nạn hóc búa này ra làm sao?

Wednesday, April 7, 2010

Lòng tham không đáy của Trung Cộng

Hiện tại, trong vùng Nam Á bao gồm các nước Asean, Trung Cộng, Philippine, Nhật Bàn, Ấn Độ, Nam Dương thì Trung Cộng là nước có tranh chấp về biên giới, lãnh hải với tất cả các quốc gia Nam Á còn lại. Ở biển Đông, chúng tranh chấp với Nhật Bản, Philippine, Việt Nam, nhất klà sau khi nuốt trọn quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, lấn một phần quần đảo Trường Sa. Phía Tây, chúng có tranh chấp về biên giới với Ấn Độ và đã xảy ra cuộc chiến tranh về biên giới giữa hai nước. Mới đây, chúng đòi chủ quyền trên đảo Bạch Long Vĩ, một hòn đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam và đã từ lâu do nhà cầm quyền Việt Nam kiểm soát. Đây là một hình thức tham lam của một túi tham không đáy. Từ xưa đến nay, bản chất của người Trung Hoa là tham lam, luôn luôn muốn tranh chiếm đất đai của Việt Nam. Lịch sử Đại Việt đã minh chứng hùng hồn: mỗi lần chúng đụng đến dân tộc Việt Nam là đều bị thất bại thảm hại và phải ôm đầu máu chạy bán sống bán chết để trở về Tàu. Trung Cộng nên đọc lại lịch sử và nên từ bỏ lòng tham không đáy của mình kẻo không khéo cũng sẽ giống như tiền nhân của chúng, chỉ chuốt lấy thất bại thảm hại mà thôi!

Tuesday, April 6, 2010

Nhà cầm quyền ăn cướp.

Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt nam thường hay rêu rao là "chính quyền của nhân dân, của người lao động", nhưng thực tế lại hoàn toàn khác hẳn. Đối với người dân vùng nông thôn, họ đã "cưỡng chiếm đất đai" nhưng thực chất chính là đã "ăn cướp" đất đai của người dân, khiến những người dân bị ăn cướp bởi nhà cầm quyền trở thành "dân oan khiếu kiện". Người dân ở thành phố và các thị xã thì lại khác. Chúng đã tiếp tay với những nhà đầu tư ngoại quốc như Hàn quốc, Đài Loan...bóc lột người công nhân thậm tệ. Cũng vì thế mà thời gian gần đây, những vụ đình công của công nhân ở các nhà máy do ngoại quốc đầu tư đã thường xuyên và liên tiếp nổ ra. Thật cay đắng và chua xót cho người dân của cái nước Việt Nam khoác mỹ danh "Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam", thực chất đây chỉ là cái đảng ăn cướp , bóc lột thậm tệ người dân mà thôi!

Monday, April 5, 2010

VN bắt đầu siết giấy phép tàu cá nước ngoài

Trích BBC Vietnamese

Ngư dân Việt Nam

Chính phủ Việt Nam vừa ra nghị định mới nhằm siết chặt quản lý hoạt động của tàu cá nước ngoài trong các vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, bao gồm cả các vùng đang tranh chấp.

Nghị định số 32/2010/NĐ-CP ra ngày 30/03/2010 về Quản lý hoạt động thủy sản của tàu cá nước ngoài trong vùng biển Việt Nam ghi rõ: "Tàu cá nước ngoài chỉ được hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam khi có Giấy phép hoạt động thủy sản do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp".

Vùng biển Việt Nam, theo văn bản này, là "các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của nước CHXHCN Việt Nam", được quy định theo Luật Biên giới Quốc gia 2003 và theo Điều ước Quốc tế giữa Việt Nam và các quốc gia khác.

Điều đó có nghĩa, tàu thuyền nước ngoài hoạt động trong các vùng biển như tại Hoàng Sa, Trường Sa mà Việt Nam coi là của mình, mà không có giấy phép của Việt Nam sẽ là phạm luật.

Chưa rõ điều này có dẫn tới đối đầu giữa các tàu đánh cá của nước ngoài, nhất là Trung Quốc, vẫn hoạt động tự do trong các vùng biển mà Trung Quốc cũng nọ́i là của mình, và giới chức trách Việt Nam hay không.

Nghị định mới cũng đòi hỏi tàu cá nước ngoài hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam "phải tuân thủ quy định của Nghị định này và các quy định khác có liên quan của Việt Nam".

Văn bản mới ra tương đương các văn bản hiện hành của một số nước trong khu vực, vốn đã được áp dụng để bắt giữ và phạt tiền tàu cá của Việt Nam mỗi khi ngư dân Việt Nam vào đánh bắt.

Trung Quốc còn có lệnh cấm đánh bắt hàng năm tại các vùng biển mà Trung Quốc nhận chủ quyền. Năm ngoái lực lượng ngư chính nước này bắt giữ hàng chục thuyền cá của Việt Nam.

Vùng biển Việt Nam là các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của nước CHXHCN Việt Nam, được quy định theo Luật Biên giới Quốc gia 2003 và theo Điều ước Quốc tế giữa Việt Nam và các quốc gia khác.

Nghị định 32/2010/NĐ-CP

Trong khi đó, tàu thuyền Trung Quốc vẫn thường xuyên vào các vùng biển Việt Nam.

Lực lượng biên phòng cho hay tàu cá Trung Quốc với số lượng lớn liên tục xâm nhập lãnh hải Việt Nam, từ cuối tháng 1 tới tháng 2 cơ quan chức năng phát hiện tới 130 tàu cá Trung Quốc trong vùng biển của Việt Nam.

Có lúc, tàu Trung Quốc vào sâu chỉ cách bờ biển Đà Nẵng, Thừa Thiên-Huế khoảng 45 hải lý.

Siết giấy phép

Giấy phép hoạt động thủy sản của Việt Nam được cấp cho tàu cá theo từng trường hợp một sau khi chủ tàu làm đơn xin.

Thời hạn của Giấy phép "không quá 12 tháng đối với hoạt động khai thác thủy sản và không quá 24 tháng đối với các hoạt động thủy sản khác".

Nghị định 32/2010/NĐ-CP viết Giấy phép được gia hạn không quá 3 lần, thời gian gia hạn mỗi lần không quá 12 tháng.

Giấy phép đầu tư do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan có thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi, dựa trên bảy điều kiện như tàu cá nước ngoài có tham gia các dự án hợp tác với Việt Nam, có giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật, có danh sách thuyền viên đầy đủ và có ít nhất một người thông thạo tiếng Việt hoặc tiếng Anh.

Tuy nhiên, dù đã có khung luật định, việc thực hiện còn nhiều khó khăn do lực lượng tuần ngư của Việt Nam còn mỏng và yếu.

Nước láng giềng Trung Quốc, ngược lại, gần đây đã củng cố hoạt động tuần tra ngư chính của họ.

Hôm 01/04, Bộ Nông nghiệp Trung Quốc đã điều hai tàu khá hiện đại đi tuần tra tại khu vực quần đảo Trường Sa.


Sunday, April 4, 2010

Làm sao ta quên đươc


Mỗi năm vào tháng tư
Lại nhớ ngày đen tối
Ngày đất nước chìm sâu
Vào chín tầng địa ngục

Ngày súc vật làm người
Ngày cay đắng trầm luân
Ngày uất hận thiên thu
Lệ trào tuôn bất tận

Ta như kẻ lạc loài
Ngay giữa chính quê hương
Bao triệu người đau xót
Đành bỏ nước ra đi

Bao nhiêu người đến được?
Bến bờ của tự do
Bao nhiêu người bỏ xác?
Giữa giông tố trùng khơi

Làm sao ta quên được
Những tháng ngày đau thương
Ba lăm năm trôi qua
Ba lăm năm quốc hận

Mỗi năm mỗi ghi khắc
Để nhớ mãi không quên
Để thế hệ tiếp nối
Sẽ quang phục quê hương

Phi Vũ
04/04/10

Kẻ thù của giới kiểm duyệt internet

Vừa rồi, Google đã có quyết định không làm ăn ở Trung Cộng nữa mà chuyển bản doanh sang Hong Kong để phản đối Trung Cộng trong vấn đề kiểm sóat internet. Việc làm này của Google đã được cả thế giới ủng hộ, và là một cái tát vào mặt những kẻ đang cầm quyền tại Trung Nam Hải. Thế nhưng, tại thung lũng Silicon Valley, một chuyên viên về software đã viết nên một software để giúp những người ở Việt Nam, Trung Quốc, Iran...vượt bức tường lửa để có thể dễ dàng lướt sóng trên internet. Điều này đã gây thích thú không ít cho những người sử dụng internet tại các quốc gia thiếu tự do này, đồng thời cũng đã làm cho nhà cầm quyền các quốc gia đó cảm thấy vô cùng bực tức. Và có người đã gọi ông là "Kẻ thù của giới kiểm duyệt internet". Đọc bài viết thấy cảm khái làm sao!

Wednesday, March 31, 2010

Tin tặc Việt Nam (Cộng Sản)

Mới đây, công ty Google, một đại công ty chuyên về search engine có trụ sở tại California, Hoa Kỳ sau khi rút lui khỏi Trung Cộng lại lên tiếng khuyến cáo về nạn tin tặc Việt Cộng (mặc dù chưa được tinh vi bằng Trung Cộng). Bên cạnh đó, hãng nhu liệu MCAfee cũng cùng đưa ra những khuyến cáo tương tự. McAfee sau một thời gian điều tra đã quyết đoán như trên. Cũng không có gì là ngạc nhiên cả! Trung Cộng và Việt Cộng là những nước trên thế giới còn sót lại sau khi chủ nghĩa Cộng Sản ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã cáo chung. Bây giờ chúng tìm mọi cách bóp nghẹt tự do dân chủ bởi lẽ nếu người dân được tự do vế mọi mặt và nhất là tự do về chính trị thì chắc chắn là chúng sẽ bị diệt vong như ở Nga và các nước Đông Âu. Và internet là phương tiện thông tin hiện đại nhất để nối kết và phổ biến thông tin nhanh chóng nhất hiện nay.
Bên cạnh đó, vấn đề ngư dân Việt Nam ra biển đánh cá luôn luôn bị Trung Cộng bắt giữ và đòi tiền chuộc mặc dù họ đang đánh cá trong hải phận Việt Nam. Đây là điều vô cùng đau lòng và nhức nhối cho những người ngư dân lam lũ vất vả để mưu sinh. Làm gì để bảo vệ ngư dân? Đây là câu hỏi quan thiết cần được nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam phải trả lời trước nhân dân Việt Nam nếu họ còn có dòng máu Việt chảy trong dòng huyết quản.

Tuesday, March 30, 2010

Lại chuyện khủng bố

Vào ngày 28 tháng 3năm 2010, tại thủ đô Mátxcơva của Cộng Hòa Liên bang Nga, bọn khủng bố đã cho hai người quyết tử đánh bom tại trạm xe điện ngầm làm nhiều người chết và bị thương. Đây thật sự là một cuộc tấn công khủng bố, tuy tầm mức có nhẹ hơn những vụ khủng bố trước đây. Vậy thì tổ chức nào đứng đàng sau vụ khủng bố này? Thật tế mà nói ở nước Nga tổ chức những người Hồi Giáo ly khai Chechnya từ lâu đã có những trận đụng độ cùng với chính quyền của nước Nga. Họ muốn ly khai và thành lập quốc gia riêng. Cuộc chiến trước đây đã xảy ra giữa người Nga và người Chechnya. Và họ đã dùng chiến thuật khủng bố để tấn công người Nga. Đây quả là chiến thuật tàn bạo và mất nhân tính.
Nói đến khủng bố, tôi lại liên tưởng đến Việt Cộng trước năm 1975. Lúc đó, chúng cũng dùng chiến thuật khủng bố, tấn công vô tội vạ vào chính quyền và nhân dân miền Nam. Pháo kích, đặt mìn, tung lựu đạn...là những thủ thuật tàn bạo và mất nhân tính của bè lũ khủng bố Việt Cộng. Sau ngày miền Nam hoàn toàn bị sụp đổ, một chiến dịch khủng bố khủng khiếp đã được chúng sử dụng để nhắm vào quân, dân, cán chính Việt Nam Cộng Hòa. Thật là một bè lũ man rợ và lưu manh.

Sunday, March 28, 2010

Hội thảo Biển Đông

Biển Đông hiện nay là vùng biển mà Trung Cộng muốn nuốt chửng. Chúng đã vẽ nên hình lưỡi bò hòng chiếm trọn vùng biển giàu tài nguyên của Tổ Quốc. Mới đây, tại Philadelphia đã có cuộc hội thảo tranh chấp biển Đông do Hoa Kỳ tổ chức với sự tham gia của Hoa Kỳ, Pháp, Canada và Việt Nam. Đây là một cuộc hội thảo mang tính quốc tế, đã vạch trần ra những toan tính tham lam, bá quyền của nhà cầm quyền Ttung Cộng. Đây cũng là cơ hội để nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam cung cấp cho thế giới những chứng cớ lịch sử về chủ quyền của mình tại Biển Đông và nhất là tại hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Wednesday, March 24, 2010

Phỏng vấn Giáo Sư Carlyle Thayer (Sau cuộc vận động ký tên yêu cầu Hội Địa Lý Quốc Gia Hoa Kỳ xóa bỏ tên China tại Hoàng Sa)

Trích NguoiViet Boston

ed7b44a2f16fa68cedb6223b43aac007Cũng trong ngày kết thúc chiến dịch ký Thư Yêu Cầu, Nhã Trân, trưởng ban báo chí của Quỹ Nguyễn Thái Học (NTHF), phỏng vấn một chuyên gia về khu vực Đông Nam Á, Giáo sư Carlyle A. Thayer, Giám đốc Diễn đàn Nghiên cứu quốc phòng Đại học New South Wales – Australia, theo dõi và quan tâm đến các vấn đề liên quan đến Việt Nam.

Nhã Trân: Xin được nghe quan điểm của GS trước sự kiện Hội Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ (NGS) ghi quần đảo Hoàng Sa thuộc Trung Hoa trong một bản đồ mới đây của họ?

GS Thayer: NGS năm nay đã sai phạm khi ghi là quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Trung Hoa. Ít ra NGS nên chú thích rằng chủ quyền khu vực này đang trong tình trạng tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Hoa.

Nhã Trân: GS khẳng định việc ghi Hoàng Sa thuộc Trung Hoa là sai phạm. Có phải đó là vì quần đảo này thuộc chủ quyền của Việt Nam mãi cho đến khi bị Trung Hoa dành lấy sau lần xâm lược năm 1974?

GS Thayer: Đúng vậy. Quần đảo Hoàng Sa chia thành hai nhóm, nhóm đảo Amphrite ở phía bắc và nhóm đảo Crescent ở phía nam. Kể từ khi thời kỳ thuộc địa Pháp kết thúc ở Việt Nam, chính phủ miền Nam, sau này là chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, được chiếm lĩnh nhóm đảo Crescent. Tháng Giêng 1974, một năm sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Hải quân Trung Hoa đã tấn công Hải quân VNCH và chiếm cứ phía nam Hoàng Sa.

Nhã Trân: Nói đến lịch sử của Hoàng Sa, theo chúng tôi được biết thì khi đó phía chính phủ miền Nam Việt Nam đã mạnh mẽ phản đối hành vi xâm lược của Trung Hoa ?

GS Thayer: Khi Trung Hoa cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã phản đối, tuy nhiên không thay đổi được tình thế là mấy. Hoa Kỳ khi ấy đã rút quân khỏi Việt Nam, và không có ý định hỗ trợ một cuộc chiến chống lực lượng quân đội Trung Hoa. Ngược lại với miền Nam, miền Bắc cộng sản khi đó không phản đối hành động của Trung Hoa. Bộ Ngoại Giao miền Bắc sau này viện lẽ rằng kẻ thù chính của họ là chủ nghĩa đế quốc của Mỹ, và họ không muốn Hoa Kỳ thiết lập căn cứ trên Hoàng Sa. Nói một cách khác là chính quyền Hà Nội đã không hề phản đối.
Nhã Trân : Là một chuyên gia về Đông Nam Á và về quốc phòng, GS nhận định ra sao về cơ sở mà Trung Hoa thời gian sau này dựa vào để tuyên bố chủ quyền của họ ở Hoàng Sa?

GS Thayer: Căn bản là Trung Hoa tuyên bố chủ quyền trên toàn thể Biển Đông, trong đó bao gồm Hoàng Sa, viện lý do họ là người khám phá vùng biển này. Chiếu theo luật quốc tế, khi hai xứ sở tranh cãi chủ quyền về lãnh thổ, trong trường hợp này là chủ quyền đối với các quần đảo trong vùng Biển Đông, lợi thế nghiêng về quốc gia chứng minh được sự sở hữu và quản trị.
Nhã Trân: Như GS vừa nói thì Việt Nam có thể ở vào thế bất lợi vì Hoàng Sa đã bị Trung Hoa chiếm đóng từ năm 1974 và chính thức lập đơn vị hành chính thời gian gần đây ?

GS Thayer: Trường hợp Việt Nam có thể được biện luận là chủ quyền [đối với Hoàng Sa] được chính quyền Pháp chuyển giao cho chính quyền Việt Nam lúc chế độ thuộc địa cáo chung vào năm 1954, vùng phía nam của Hoàng Sa được sở hữu và cai quản bởi Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong suốt hai thập niên liên tục.

Nhã Trân: Tranh chấp về chủ quyền Biển Đông, trong đó bao gồm Hoàng Sa, ngày càng căng thẳng. Các nước liên quan, tất nhiên kể cả Việt Nam, đang nỗ lực quốc tế hóa vấn đề, nhưng Trung Hoa một mực phản kháng. Ý kiến GS ra sao về khả năng Trung Hoa không từ bỏ ý định làm bá chủ Biển Đông, và Hoàng Sa nói riêng?

GS Thayer: Lịch sử đã chứng minh rõ rằng Trung Hoa xưa nay vừa cương quyết vừa hung hăng trong việc khẳng định chủ quyền đối với Biển Đông. Trước tháng Giêng 1974 Trung Hoa chỉ kiểm soát được phía bắc quần đảo Hoàng Sa. Kể từ khi đó Trung Hoa đã sử dụng lực lượng quân đội trong hai trường hợp để chiếm hữu các đảo này. Trường hợp đầu xảy ra tháng Giêng 1974 ở phía nam Hoàng sa. Trường hợp thứ nhì vào tháng Ba 1988 khi các chiến hạm của Trung Hoa tấn công lực lượng Hải quân cộng sản Việt Nam gần khu vực đá ngầm Johnston trong quần đảo Trường Sa. Trung Hoa sau đó tiếp tục chiếm thêm nhiều nơi trong vùng. Năm 1992, Trung Hoa lại gia tăng sự chiếm đóng của họ tại Trường Sa bằng cách cưỡng chiếm thêm nhiều vùng hơn. Năm 1995, trong một bành trướng mới, Trung Hoa chiếm vùng đá ngầm Mischief tại biên giới phía đông quần đảo Trường Sa, vùng mà trước kia Phillipines tuyên bố chủ quyền. Kế đó Trung Hoa xây dựng căn cứ quân sự trên Mischief. Cả Việt Nam lẫn Trung Hoa đều quân sự hóa những quần đảo và khu vực mà họ chiếm giữ. Việt Nam hiện đang ở vào vị trí không mấy lạc quan vì đòi chủ quyền mà không có phương cách để yểm trợ đòi hỏi này. Trung Hoa từ chối thảo luận về vấn đề Hoàng Sa, và điều đó làm hỏng mọi ý định đưa vấn đề này ra tòa án quốc tế. Cả hai chính quyền đang bất đồng về vấn đề chủ quyền phải cùng đồng ý để vấn đề được phân xử. Việt Nam hiện không có biện pháp ngoại giao hoặc quân đội để khẳng định, hỗ trợ cho việc đòi chủ quyền của mình. Lấy ví dụ, trong những năm cuối thập niên 1990 khi Khối Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã cùng Trung Hoa đàm phán về luật lệ hành xử cho vùng Biển Đông, Việt Nam muốn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được bao gồm vào khu vực này thì Trung Hoa đã phản đối, và các nước láng giềng của VN đã nhượng bộ. Hoàng Sa [vì vậy] không được đề cập đến; luật hành xử trong khu vực Biển Đông sau đó phai nhạt, tan biến vào Bản Tuyên Ngôn năm 2002 về Luật của các chính quyền vùng Biển Đông.

Nhã Trân: Trở lại chuyện Hội Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ sai phạm trong phán đoán của họ, GS có nghĩ sửa sai là điều cần thực hiện ?

GS Thayer: Hội Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ lẽ ra có thể chính xác hơn nếu ghi rõ là các đảo thuộc phía nam của Hoàng Sa đang bị Trung Hoa chiếm đóng.

Nhã Trân: Phản ứng của người dân Việt trước sự kiện này có chính đáng, họ có quyền yêu cầu NGS đáp ứng yêu cầu đòi sửa lại chú thích về quần đảo Hoàng Sa để duy trì sự thật và công lý ?

GS Thayer: Có thể hiểu được sự phẫn nộ của những người Việt hải ngoại yêu nước trước sự sai lạc trong phán đoán của Hội Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ. Sự sai sót, lầm lẫn này nếu được để yên có thể trở thành một thí dụ cho thấy sự đồng ý [của người Việt] đối với sự xâm lược của Trung Hoa. Người Việt hải ngoại phải tiếp tục áp lực, nêu quan điểm bằng cách không cho phép kỷ niệm cuộc xâm lăng của Trung Hoa hồi tháng Giêng 1974 trôi qua trong câm lặng. Họ cũng có thể nêu vấn đề này lên với các đại diện quốc hội, các định chế quốc tế thẩm quyền, và nhà cầm quyền Hà Nội.

Nhã Trân: Là một người nghiên cứu chính trị và quan tâm đến tình hình Việt Nam xưa nay, GS có điều gì muốn nhắn nhủ người dân và chính quyền Việt Nam ?

GS Thayer: Luật quốc tế đứng về phía những quốc gia có cơ sở trong việc tuyên bố chủ quyền. Sự yên lặng của Việt Nam có thể phương hại đến việc khẳng định chủ quyền của mình. Ngạn ngữ Anh có câu “sự sở hữu là chín phần mười của luật pháp.” Để ngăn ngừa điều này, trong trường hợp của Hoàng Sa, Viêt Nam phải tiếp tục thúc đẩy việc khẳng định chủ quyền của mình, phải phản đối tất cả mọi hành động mà Bắc Kinh sử dụng để xác nhận, khẳng định chủ quyền của họ. Thất bại trong việc duy trì vấn đề này sẽ đưa đến kết quả là Việt Nam đã chối bỏ chủ quyền của đất nước mình.

Nhã Trân: Cám ơn GS đã dành cho Nguyễn Thái Học Foundation cuộc phỏng vấn đặc biệt này.

Monday, March 22, 2010

Hữu Loan & Hoa sim (tự truyện)

Nhà Thơ Hữu Loan

“Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh...”


Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ duyên được cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người, nhờ ông mà năm 1938 ‒ lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi ‒ tôi chơi ngông vác lều chõng ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo tự học cũng có thể đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi chẳng có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài Pháp thời đó rất khó khăn. Số người đỗ trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5, 6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những cậu khóa ấy, trong số có Nguyễn Đình Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh Văn Xuân, Đỗ Thiện và tôi... (theo Lê Thọ Bình, báo Pháp Luật số Xuân Giáp Thân)

Với mảnh bằng tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà Tham Kỳ chú ý, vời về nhà dạy kèm cho hai đứa con nhỏ. Tên thật của bà Tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, bà Tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt đến (theo Lê Thọ Bình, báo đã dẫn).

Bà Tham Kỳ là một người hiền lành tốt bụng, đối xử với tôi rất đàng hoàng tử tế, coi tôi chẳng khác người nhà. Nhớ lại ngày đầu tiên khoác áo gia sư, bà gọi mãi, đứa con gái ‒ lúc đó mới 8 tuổi ‒ mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh ở trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đó nhưng ít nói và mỗi lần mở miệng là cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hàng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng ướt em vừa hái ở vườn; những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà đem ra giếng giặt...

Có lần tôi kể chuyện “bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em dỗi! Suốt một tuần liền, em nằm lì ở buồng trong, không chịu học hành... Một hôm bà Tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện cho em nghe; rồi tôi đọc thơ... Trưa hôm ấy, em ngồi dậy, ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy, còn yếu lắm, không đi được đâu!” Em không chịu, nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà Tham Kỳ đưa em lên núi chơi...

Xe kéo chạy chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc con, tôi đuổi theo muốn đứt hơi! Lên tới đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em. Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời. Không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:

‒ Thầy có thích ăn sim không?

Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên, đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ... Khi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen nhánh, chín mọng.

‒ Thầy ăn đi!

Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng và trầm trồ:

‒ Ngọt quá!

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật chưa bao giờ tôi được ăn những quả sim ngọt đến thế!

Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi cũng đỏ tím, hai bên má thì... tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà Tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi... Lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng, em vẫn đứng đó, nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi... Tôi quay đầu nhìn lại... Em vẫn đứng yên đó...Tôi lại đi và nhìn lại cho tới khi không còn nhìn thấy em nữa...

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi có nhận được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 đã có nhiều chàng trai đến ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ...

Chín năm sau, tôi trở lại nhà... Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp...

Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không “môn đăng hộ đối” một chút nào. Mãi sau mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm “soạn kịch bản”.

Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, “không đòi may áo mới trong ngày hợp hôn”, bảo rằng là: “Yêu nhau, thương nhau cốt cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, làm thơ hay lại... đẹp giai nên em thường gọi đùa là ông chồng độc đáo.

Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

Hai tuần phép của tôi trôi đi thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ đây em không còn là cô bé Ninh nữa mà đã là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, tôi lại quay đầu nhìn lại... Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ cảm thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồng (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lấy tấm áo bị nước cuốn đi nên trượt chân té xuống sông chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em đi vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại cho tôi nỗi đau không gì có thể bù đắp nổi! Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.

Nỗi đau ấy tôi phải giấu kín trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn... Dường như càng kìm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm tư gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong tôi được dịp bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng. Hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi, chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:

Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội

Những em nàng có em chưa biết nói

Khi tóc nàng đang xanh...

...Tôi về không gặp nàng...




Thơ: Hữu Loan; Phổ nhạc: Phạm Duy; Trình bày: Elvis Phương

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại nhà một người bạn ở Thanh Hóa. Anh bạn này đã chép lại và chuyền tay nhau suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Đến đây, chắc bạn đọc đã biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2‒4‒1916, hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn ‒ nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc Xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi mới viết nổi những câu chiều hành quân/ qua những đồi hoa sim /những đồi hoa sim/ những đồi hoa sim dài trong chiều không hết /màu tím hoa sim /tím chiều hoang biền biệt và chiều hoang tím có chiều hoang biết/ chiều hoang tím tím thêm màu da diết.

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội; từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi “hay cãi, thích chống đối, không thể làm những gì trái với suy nghĩ của tôi". “Bọn nó” nhiếc móc, chê tôi ủy mị, hoạnh họe tôi đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Tôi chẳng cần, mặc kệ chúng! Tôi thương, tôi nhớ Hoa Sim của tôi quá rồi! Với lại, tôi cũng đã chán ngấy cái mặt nạ yêu nước của “bọn nó” rồi!

Tôi về quê chúng chẳng buông tha, theo dõi quản thúc, thường xuyên kiếm chuyện gây khó dễ tôi cũng chẳng cần biết! Sau bao nhiêu năm trời ngậm cay nuốt đắng, tôi đã được dịp phơi bày tâm sự trong hai kỳ phỏng vấn của Hương Ly, phóng viên BBC tiếng Việt phát thanh trong hai ngày 5 và 12‒10‒2002. Theo tôi thì tình hình chung của đất nước bây giờ là thằng nào cũng lợi dụng trèo đầu cỡi cổ thằng dân chứ có cái gì đâu... Sau phần đầu nói về nguồn gốc của Màu Tím Hoa Sim và những hệ lụy của bài thơ này, trong phần II tôi đã nói về cuộc sống cơ hàn và những âm mưu ám sát, chế ngự của đảng đối với tôi và gia đình tôi từ năm 1956. Dù gian khổ và chết hụt nhiều lần, tôi nhất định không chịu quỵ lụỵ. Hồi ấy, ra làm ở ngoài Trung Ương thì bắt phải theo cộng sản nên tôi bỏ tôi về. Tôi bỏ về nó không cho về... Nó làm tôi tam tình, tứ tội, làm đủ cách đễ thủ tiêu nhưng mà tôi vẫn tin là tôi có sự che chở của Trời ‒ Phật cho nên nó không thủ tiêu nổi, bao nhiêu lần đầu độc không xong... Đó là cái thời 1955 ‒ 1956 khi phong trào Văn nghệ sĩ chống Ðảng bắt đầu bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, và đồng thời chống những Văn nghệ sĩ bồi bút đang tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca tụng Ðảng để kiếm chút cơm thừa canh cặn của chế độ. Làm thơ phải có cái tâm mà phải là cái tâm linh thật thiêng liêng thì mới có thơ hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải làm về Ðảng, ca tụng Ðảng, ca tụng cộng sản, ca tụng cái buôn bán chiến tranh. Bởi vì cái đánh nhau là cái dễ kiếm chác lắm. Mà kiếm chác ở cái chiến tranh ấy thì khó kiểm tra lắm cho nên những cái bọn ăn bẩn ấy bao giờ cũng chủ trương chiến tranh, buôn bán chiến tranh. Mà tôi thì tôi thấy cái đấy là cái khổ dân nhất nên tôi chống hết sức. Lúc giờ người ta đang một tí là đề cao Hồ Chí Minh, hai tí là đề cao Hồ Chí Minh... trong khi tôi lại đề cao cái Tình Yêu. Tôi khóc người Vợ tử tế với mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó khóc như vậy, nó cho là khóc cái tình cảm riêng... Y như trong Thơ nói đấy: tôi lấy Vợ rồi đi Bộ đội, mới lấy nhau được có hơn tháng, ở nhà Bà ấy đi giặt rồi chết đuối ở sông... Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc. Bài thơ ấy lúc bấy giờ nó cho là phản động, làm thơ là phải làm về cộng sản, làm về bác Hồ chứ không được khóc cái đau riêng của mình... Cái đau khổ riêng của con người tại sao lại không được khóc!?

Bọn nó xúc phạm đến danh dự và tình cảm thiêng liêng của người Vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ Ðảng, bỏ Cơ quan về thẳng nhà để đi cày. Bọn ấy không cho bỏ, bắt tôi phải viết đơn xin. Tôi không xin... Tôi có cái tự do của tôi, cái chuyện bỏ Ðảng, tôi muốn bỏ là tôi bỏ không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày, đi bừa, đi thồ, đi đốn củi đưa về, đi xe đá để bán, bọn nó phá tôi đủ cách, bắt giữ xe đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ phía trước, có hai càng phìa sau thùng gỗ để đủn hay kéo đi. Xe cút kít nó cũng không cho, cấm không ai được bán bánh xe cho tôi nữa. Có lần tôi phải gánh bộ, gánh bằng vai tôi cũng cứ nhận. Tôi cứ gánh tôi làm, không bao giờ tôi chịu khuất phục. Thế mà chúng nó cũng theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an mật đi theo dõi, cho người theo hại tôi... Nhưng mà lúc nào cũng như có người cứu tôi! Có một cái lạ là chính Thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên mật vụ nói thật với tôi là được giao lệnh giết tôi nhưng nó là cái thằng rất yêu Quê hương, nhớ Quê nhà. Nó thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Ninh Bình của nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy không nỡ giết tôi.

Ngoài bài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956, khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến nỗi không có đến cái chiếu mà nằm!

Chiếc chiếu

Có ai thấy một người cha

Từng buổi, từng buổi

Trước tủ kính cửa hàng Mậu dịch dòm như nổ mắt

Tì mũi dẹp như quả bóng xuống hơi

Thầm đọc đi đọc lại giá hàng từng thứ đồ chơi

Dù nhiều lần đã hạ giá

Trong óc nổi bòng bong từng mớ

Những cơm đến gạo đến quần đến áo

Ðôi chiếu nằm rách từ giữa rách ra

Tục ngữ nói rằng những chiếc nhà dột từ nóc trên dột xuống

Từng sáng mai nhìn gầm giường

Ðốt cói rụng đầy như chiếu rụng đốt xương

Gió thổi từ dưới thổi lên

Muỗi cũng đốt từ dưới đốt lên

Nhưng con đái dầm lại tiện

Ròng rã mười năm kháng chiến

Cầm vững hai tay

Một cái tình thần

Choảng nhau với súng với bom

Gian khổ còn ư ?

Bố con ta lại vung cái tinh thần như tráng sỹ vung gươm

Chong chóng không quay

Con vứt đi phụng phịu

Sáng kiến làm đồ chơi

Bố thì không thiếu

Bố lại lấy lá dứa vận cho con cái kèn

Bố thổi nó kêu lên tò he. Tò he

Con đắc trí giật kèn đi thổi khắp Ô Kim Mã

Tò he. Tò he

Như một thiên sứ Hài đồng

Xuống lệnh điềm tin

Tò he. Tò he

Nhớ truyện Ðông Chu

Sao đỏ, sao đen

Tò he. Tò he.


Cuộc đời đẩy đưa, định mệnh dắt tôi đến với một người phụ nữ khác, sống cùng tôi đến ngày hôm nay. Bà tên Phạm Thị Nhu, cũng là một người phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Bà vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố điền chủ của Việt Minh.


Nguồn: Nguyễn Đinh Toán và Thanh Nhàn
Nhớ lại, lúc đó, tôi còn là chính trị viên tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, hiểu biết luân thường đạo lý, lại có tâm hồn nghệ sĩ, nên tôi cảm thấy chán nản quá và không còn kính trọng già Hồ cũng như chủ nghĩa cộng sản nữa. Tuy nhiên, tôi đã trót làm đảng viên được mấy năm rồi. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng! Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa tôi ở độ mười lăm cây số, có một gia đình địa chủ rất giầu, nắm trong tay gần năm trăm mẫu tư điền. Ông địa chủ giầu lòng nhân đạo, rất yêu nước thương người. Ông thấy bộ đội sư đoàn 301 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo tới chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là Trưởng Phòng Tuyên Huấn và Chính Trị nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông ta, đồng thời đề nghị lên Sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông. Riêng tôi rất quý mến và luôn luôn nhớ đến ông. Thế rồi một hôm tôi nghe tin gia đình ông ấy bị đấu tố. Hai vợ chồng bị đội đấu tố mang ra cho dân sỉ vả, nhục mạ, rồi chôn xuống đất để hở có cái đầu lên thôi. Xong, họ cho trâu kéo bừa qua lại hai cái đầu cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ xấu số chỉ còn có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội đấu tố đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo. Dã man hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm dân chúng cả việc lấy các con cái của địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương giáng xuống gia đình ông bà địa chủ mà tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái của họ sinh sống ra sao, vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé mỗi buổi chiều cứ lén lút đứng bên ngoài song cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Khi gặp nhau, cô bé ấy nói vì đi nghe tôi giảng Kiều nhiều hôm để trâu ăn lúa, nên bị bắt phạt...

Lúc gần tới nơi, may sao tôi gặp cô ta áo quần rách mướp, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom tìm lượm vài củ khoai mà dân bỏ sót nhét vào túi áo, rồi chùi vội một củ vào quần đưa lên miệng gặm. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi lại gần hỏi thăm và được cô ta kể lại rành rọt hôm cha mẹ cô bị đấu tố chết ra sao. Cô ta khóc mếu nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hàng ngày cô phải đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong cái miếu hoang; cô rất đói khổ lo lắng, không biết ngày mai còn sống hay sẽ chết vì đói khát! Tôi nghe mà lấy làm thương tâm quá, trong lòng vô cùng xúc động. Suy nghĩ rất nhiều, tôi quyết định đem cô ta về quê tôi, rồi bất chấp lệnh cấm, tôi đã lấy cô ta làm vợ. Rất may là sự quyết định của tôi đã không nhầm. Khi xưa, quê tôi nghèo, nhà tôî cũng nghèo, tôi lại còn ở trong bộ đội nên không có tiền. Nhưng hai vợ chồng cố gắng chịu đựng đùm bọc nhau bữa đói bữa no... Cho đến ngày nay, bà ấy đã cho tôi 10 người con ngoan, 6 trai, 4 gái và cháu nội cháu ngoại hơn 30 đứa!


Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày hốt đá đi bán, túi dắt theo vài quyển sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi cởi mở, tôi được tụi nó ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm.


Năm 1988, tôi “tái xuất” giang hồ sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nhà đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do Hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí ‒ xuất bản và đổi mới thực sự.


Dọc đường đất nước trên chuyến đi, tôi đã đọc cho công chúng nghe trong những lần gặp gỡ, bài thơ dài mới nhất tên là “Chuyện tôi về”, một loại bút ký thơ kể về thời gian “Ba mươi năm không phải chuyện / Một sớm một chiều/ Một ngày tù đã dài như thế kỷ / Ấy là tù giữa chợ...” Trong 30 năm đó, kể từ ngày có vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, và 17 năm sau đó nữa, chẳng có ai dám viết... Cũng trong dịp này, tôi được may mắn quen biết người bạn trẻ yêu nước, thường viết lách dưới bút hiệu Tiêu Dao Bảo Cự. Mến phục nhà trí thức đa tài đầy nhiệt huyết nầy, tôi đã chép tặng bài thơ Chuyện Di Tề với những câu như sau:



Đường vào nhà thi sĩ Hữu Loan
Nguồn: Nguyễn Đinh Toán và Thanh Nhàn

“... Tôi là cây

gỗ

vuông

chành

chạnh

suốt đời

đã làm thất bại

mọi âm mưu

đẽo tròn

để muốn tùy tiện

lăn long lóc thế nào

thì long lóc

Chân

tính

đấy

hỡi Rìu, Bào

Phó‒Mộc”


Lần đó, chép xong mấy câu thơ, tôi đã chỉ tay vào trang giấy nói: “Anh thấy đó chữ Rìu, Bào và Phó‒Mộc viết hoa. Anh biết tôi muốn ám chỉ ai rồi.” Anh bạn trẻ gật đầu tỏ vẻ lĩnh hội!


Chuyện này sau đó tôi quên tịt, nhưng hẳn là đã để lại trong tâm tư anh ta khá nhiều ấn tượng, bằng chứng là 17 năm sau, anh bạn trẻ (lúc này 60 tuổi, và tôi cũng đã 90!) lần mò từ Sài Gòn đến tận nhà thăm tôi! Mặc dù đang cảm nặng, tôi cũng thu gom được chút lực tàn để hầu chuyện cùng anh, ăn chung với anh một bữa cơm trưa thanh đạm gọi là đãi khách từ xa tới! Anh bạn trẻ nói chuyện thật vui, hỏi nhiều thứ tôi không còn nhớ nổi, nhất là những chuyện xảy ra trong chuyến xuyên Việt năm 1988! Nhưng những sự việc trước đó thì tôi nhớ như in, nhất là vào cái thời chúng nó trù dập Nhân Văn Giai Phẩm. Anh bạn trẻ xin phép hút thuốc lá, tôi không cho; anh bảo cái gì anh cũng bỏ được, trừ cái tật nghiện thuốc lá! Hừm, có gì mà không bỏ được?! Cái gì có hại là phải bỏ, cộng sản nó ghê gớm đến thế mà tôi còn bỏ được, nói chi thuốc lá?! Nể mặt tôi nên anh giữ im lặng, nhưng tôi thấy rõ ánh bất bình trong mắt anh...


Anh bảo ra về sẽ viết một bài ký sự ghi lại buổi gặp gỡ đó, và anh đã giữ đúng lời hứa. Lớp trẻ ngày nay thật tài ba! (xem phần Phụ Lục nơi cuối bài)


Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, Công ty Vitek VTB đột nhiên ra đề nghị mua bản quyền bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu, trừ thuế còn 90, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu, phòng ốm đau lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.


Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy tập thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi là
m ra không phải để bán!