Translate
Tuesday, August 4, 2009
Còn Cờ Đỏ Sao Vàng Thì Không Bao Giờ Có Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc SV Lê Trung Thành, Cập Nhựt 2009/07/19
Đài Loan 13/03/2009
- Viết cho “bác” ở dưới địa ngục để báo cho “bác” biết dù tôi đã bị Đảng của “bác” nhồi sọ suốt 2 chục năm nhưng đầu óc vẫn còn tỉnh táo.
- Viết cho dì của tôi đang vất vã kiếm kế sinh nhai nuôi đàn con nhỏ.
- Viết cho dượng của tôi đang ngày đêm canh giữ trên hòn đảo Trường Sa “còn sót lại”.
- Viết cho anh chị tôi đang hăng hái dấn thân “vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh”.
- Viết cho bạn tôi tốt nghiệp đại học loại khá, thất nghiệp, đóng tiền nhà thì hết tiền ăn, muốn ăn thì hết đóng tiền nhà.
- Cũng viết cho bạn tôi, con một gia đình quan chức giàu có nhưng đang sống mất phương hướng trong xã hội lộn ngược này.
- Và viết cho thằng em tội nghiệp của tôi đang ngồi trên ghế nhà trường, miệng đọc ê a, mặt mày ngơ ngác.
...
Ngày mùng 02/09/1945, Hồ Chí Minh tuyên bố “độc lập” để rồi hàng năm vào cái ngày tối tăm đó đất nước mình dẫu đói nghèo vẫn phải oằn mình tổ chức “quốc khánh” rình rang tốn không biết bao nhiêu là tiền của, phô diễn cờ hoa rợp trời, quan chức đua nhau đọc diễn văn với các bữa tiệc xa xỉ vô tội vạ, cùng lúc đó thì hàng triệu người khác đang còng lưng trên những cánh đồng cằn cỗi với cái bụng đói meo, tất cả chỉ với một mục đích ca ngợi sự vẽ vang của Đảng đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi thực dân Pháp dành “độc lập” cho dân tộc.
Nhưng than ôi, tất cả đã bị lừa và ngày hôm nay vẫn tiếp tục bị lừa. Dân tộc ta đâu thiếu người tài, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học, Lý Đông A, Huỳnh Phú sổ ... nhưng chỉ có Hồ Chí Minh là người gặp thời, thời của quỷ, chính xác là thời “quỷ đỏ” lộng hành, với tham vọng nhuộm đỏ cả địa cầu. Chúng ta hãy tưởng tượng xem nếu như ngày hôm nay khắp hoàn vũ này nước nào cũng bị áp bức bởi Chủ Nghĩa Cộng Sản thì sẽ ra sao ? Xin thưa tất cả hơn 6 tỷ người sẽ sống trong “ thế giới đại đồng”, lúc đó kinh đô ánh sáng Paris sẽ tăm tối như Bắc Hàn, và người dân Newyork cũng sẽ chèo thuyền đánh cá trên phố giống như Hà Nội của chúng ta. Tất cả sẽ bình đẳng, ai sinh ra cũng đói khổ như nhau, ai cũng mất nhân quyền như nhau, cũng được Đảng nhồi sọ như nhau, sẽ không còn ai ganh tỵ ai, tất cả sẽ không còn đấu tranh, cứ như thế sinh ra làm nô lệ, không chết vì già thì cũng chết vì kiệt sức. Đó là viễn cảnh một trái đất màu hồng của máu và nước mắt.Chính vì hiểu được hiểm hoạ đó nên nước Mỹ với vai trò là một siêu cường có trách nhiệm phải đi tiên phong lãnh đạo các nước khác trong việc chặn đứng sự bành trướng của khối Cộng Sản trên thế giới, thế nên việc “ngụy Hồ” kêu gọi “chống Mỹ cứu nước” trên thực chất phải được hiểu đúng đắn là chống Mỹ cứu Chủ Nghĩa Cộng Sản. Chỉ có người dân quê thật thà chất phác là mù quáng tin theo những khẩu hiệu ngụy tạo đó, và có lẽ nếu tôi sinh ra dưới xã hội miền Bắc vào thời đó tôi cũng sẽ yêu nước mù quáng, sẽ cầm súng đi đánh Mỹ, sẽ nuôi giấu cán bộ, sẽ liều chết trong các cuộc xung phong, và nếu không bỏ mạng thì sẽ may mắn được sống cuộc sống ‘hoà bình” với tay cụt, chân cụt, đang ngồi chờ khách bơm xe ở dọc đường, hay về nhà đi cày với mảnh ruộng bé hơn hồi còn chiến tranh, vì hoà bình rồi thì người ta biến nó thành sân gôn hay các khu rì sọt để “sánh vai với các cường quốc năm châu”, rồi đời sống quá khổ, quá oan ức tôi cũng sẽ đi khiếu kiện như bao người khác, tôi sẽ kêu “thủ tướng ơi cứu dân”, “quốc hội ơi cứu dân”, đến một lúc kêu hoài chúng nó không nghe thì có khi với bản tính ngông cuồng cộng với việc hết đường sống, tôi lại đánh bom cảm tử cũng nên ... Chính vì thế nên tôi muốn nói rằng nếu không có lá cờ đỏ của ông Hồ mang về thì sẽ không có quá nhiều bi kịch trên đất nước như ngày hôm nay. Tất nhiên lịch sử không bao giờ nói nếu.
Và ngày 30/04/1975, là ngày mà triệu người vui, triệu người buồn, nhưng triệu người vui kia thì cũng mếu máo không lâu sau đó. Từ đây nửa nước Việt Nam tự do đã chìm vào biết bao nhiêu khổ đau mà kể cho hết. Vết thương lịch sử này ngoài trách nhiệm của người Việt, cũng không thể không nhắc đến việc Mỹ đã phản bội đồng minh, vì cục diện chính trị lúc đó và vì chiến lược lâu dài, Mỹ đã để cho màu đỏ của máu loang lổ trên khắp miền Nam sau khi ký kết hiệp định Paris 1973, hiển nhiên Mỹ không thể thả nổi cho khối Cộng Sản bành trướng sang đến Mỹ nhưng ở một chừng mực nào đó vì lợi ích của nước Mỹ được cân nhắc kỹ càng thì Mỹ sẳn sàng thoả hiệp với Cộng Sản cho dù thoả hiệp đó sẽ giết chết hàng triệu người hay cả một dân tộc khác. Gần đây nhất trong bộ phim “Việt Nam Việt Nam“ của đạo diễn John Ford được công bố sau 37 năm bị giấu kín, thượng nghị sĩ Ronald Reagan đã thừa nhận ".. chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho loại hoà bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thệ hệ sinh tại Viêt Nam về sau". Mỹ đã thua Cộng Sản trên chiến trường Việt Nam, nhưng trên chiến trường thế giới thì Mỹ đang thắng sau khi một loạt khối Cộng Sản Đông Âu và Nga Xô xụp đổ, đến trong tương lai gần thì Trung Cộng, Bắc Hàn và Việt Cộng cũng sẽ chịu chung số phận với ông tổ của chúng mà thôi.
Biết chắc chắn là Cộng Sản phải đến hồi suy vong nhưng cái hậu quả của nó để lại sau 33 năm hà hiếp dân tộc mới ghê gớm thay, biết bao nhiêu năm nữa mới phục hồi được môi trường sống đang bị phá hoại, bao nhiêu năm nữa mới cải thiện được nòi giống đang ngày một bệnh hoạn, và bao nhiêu năm nữa mới làm sáng lại đạo đức nhân phẩm của người Việt khi ngày một băng hoại. Tôi cảm thấy tiếc nuối vô cùng, tiếc cho cơ hội được sống tự do hạnh phúc của người Việt đã vỡ tan tành, tiếc cho những ai chưa từng và đã từng được “ghé bến sài gòn, là nơi du khách dập dồn từ 5 châu tới viếng thăm thủ đô, dòng sông chen chúc tàu đò, ngựa xe buôn bán hẹn hò, người dân no ấm sống đời tự do”, tự do thì đã mất,tiếc nuối cũng đã muộn, mong sao con cháu thế hệ sau sẽ khắc cốt ghi tâm bài học của một nước nhược tiểu phải gánh chịu.
Sau mùng 02/09/1945, ông Hồ đã đưa đất nước vào con đường khánh kiệt với những cuộc chết chóc triền miên chỉ vì ích kỷ thủ đắc riêng cho cái bản ngã đầy ắp tính man rợ của Quốc Tế Cộng Sản. Ở thời chiến thì người dân chết theo kiểu của thời chiến, nay thời bình thì chết theo kiểu thời bình, ví như giết “cường hào ác bá” trong cuộc cải cách ruộng đất, thảm sát hàng ngàn người dân vô tội ở Huế trong trận Mậu Thân, hay trên đại lộ kinh hoàng Việt Cộng đã hả hê mở một bửa tiệc thịt người khi nả đại pháo 130 ly và hoả tiễn 122 ly vào người dân Quảng Trị đang rồng rắn kéo nhau dài hàng chục kilômét vào Huế để lánh nạn Cộng Sản, còn giờ đây thì người dân mất đất mất ruộng đói mà chết, ra đường sập hố ga hay xe đụng mà chết, ăn uống ngộ độc mà chết, đi làm giấy tờ bị hành lên hành xuống tức mà chết ... & ... rất nhiều kiểu chết và cứ ở đâu có Cộng Sản thì ở đó có phi lý, có bất công, có mùi tanh của máu, có xú uế của xác người nên người ta còn gọi cờ đỏ sao vàng với một cái tên dễ nhớ khác : Cờ Máu.Ngày hôm nay vui mừng lắm khi ngày càng có nhiều người trẻ yêu nước chống Cộng quyết liệt, nhiều người không chống Cộng nhưng cũng yêu nước quyết liệt, nhưng tất cả nên là những người chịu khó tìm hiểu lịch sử trước đã.
Hãy nhìn xem cả thế giới đều rùng mình khi nghe nhắc đến Chủ Nghĩa Cộng Sản, và Quốc Tế Cộng Sản bị toà án thế giới lên án với tội ác chống lại hoà bình thế giới, tội ác chiến tranh, và tội ác chống lại con người. Những năm gần đây người Tàu Tự Do đã ra mắt tác phẩm Cửu Bình (9 bài bình luận về Đảng Cộng sản Tàu), tác phẩm đã phơi bày những tội ác những cuộc giết người man rợ mà Trung Cộng đã gây ra và vạch trần bản chất lưu manh tà giáo, phản con người, phản vũ trụ của Chủ Nghĩa Cộng Sản, người đọc sẽ không khỏi kinh hoàng và thương cảm cho dân tộc Trung Hoa luôn vổ ngực xưng hùng xưng bá giờ đây thê thảm đến như vậy, thật là khủng khiếp khi nhận được con số thống kê của thời báo Đại Kỷ Nguyên từ ngày 03/12/2004 cho tới nay 13/03/2009 chỉ vỏn vẹn 4 năm 3 tháng mà đã đã có 51.193.607 người ký tên ủng hộ việc dẹp bỏ Đảng Cộng Sản, tính ra trung bình một ngày gần 10 ngàn người thức tỉnh, điều đó như như báo trước cái chết của Chủ Nghĩa Cộng Sản trên đất nước Tàu chỉ còn là vấn đề thời gian. Còn ở Nga từ sau năm 1991 đã thay lá cờ búa liềm bằng lá cờ ba sọc trắng xanh đỏ có từ thời Nga Hoàng, những tượng đài Lênin đã bị tháo bỏ, viện Lênin nay đã đổi tên là Medical Biological Technologies, và nước Nga đã có kế hoạch sẽ mai táng cái xác ướp Lênin vào năm 2010, trong khi ở Việt nam thì trẻ con cứ thắc mắc rằng “ ông Lênin ở nước Nga, sao ông lại đứng vườn hoa nước mình ...”, tất cả các lĩnh vực nghệ thuật, hội hoạ, văn thơ, phim ảnh, âm nhạc ... “trăm hoa đua nở” thoả sức vạch trần tội ác Cộng Sản cho người dân được biết, người ta cũng đã đưa tội ác của chủ nghĩa cộng sản vào chương trình giáo dục học đường và rất nhiều lần trong những tiết học các em bé đã phản đối kịch liệt vì cho rằng làm sao mà con người có thể đối xử với nhau còn tệ hơn cầm thú như thế được ?! Thầy giáo chỉ biết nhăn mặt mỉm cười, đã qua rồi các em yêu mến ! qua rồi “thời đại của những lời nói dối tuyệt vời”.
Tôi nêu lên những điều này vì muốn nói rằng xã hội Việt Nam rồi cũng sẽ phải trãi qua những giai đoạn y như thế, lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ chắc chắn sẽ lại tung bay ngạo nghễ trên quê hương Việt Nam, quốc ca sẽ không còn “xây xác quân thù”, lăng Hồ Chí Minh sẽ bị phá bỏ, tiền Việt Nam sẽ phải có hình hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo ... tất cả 64 tỉnh thành mỗi tỉnh sẽ có một viện bảo tàng tội ác Cộng Sản, cả Dân Tộc sẽ bừng tỉnh, cả Dân tộc sẽ xót xa đau đớn chen lẫn hạnh phúc trước quá nhiều sự thật sẽ được phơi bày, tất cả sẽ phải tiếp tục đấu tranh lâu dài và gam go trước là để lập lại trật tự xã hội, sau là để hoàn thiện dần dần nền dân chủ mà những nước láng giềng như Thái Lan, Singapore, Đài Loan, Nam Hàn, Nhật Bản đã bỏ quá xa rồi. Càng nhìn lại lịch sử rồi đối chứng với hiện tại thì tôi lại càng căm phẫn tột cùng, khi gần 40 ngàn người Việt Nam đã hi sinh dưới lá cờ đỏ sao vàng trong cuộc chiến biên giới với Trung Cộng vào những năm 1979, để rồi hôm nay vì quy phục quan thầy Bắc Kinh mà những hy sinh mất mát đau thương đó trở thành đề tài cấm kỵ trên tất cả các phương tiện truyền thông trong nước, học sinh thì không được học, sử gia thì không được đào sâu phân tích, nhà văn nhà thơ thì không được tự do xuất bản, ngay đến cả những người đồng đội anh dũng năm xưa, giờ đây cũng chỉ dám “đặt vòng hoa trong tâm tưởng”. Trong khi đó lại có đến 40 nghĩa trang “Đời đời nhớ ơn các liệt sỹ TC” trên đất nước Việt Nam. Tác phẩm Ma Chiến Hữu của nhà văn Tàu Mạc Ngôn viết về cuộc chiến biên giới 1979, được phát hành trong nước với lời giới thiệu của nhà xuất bản như ca tụng về chủ nghĩa anh hùng của những người lính TC đã xâm lược giết hại người dân Việt Nam. Và gần đây với “Vụ án Bôxít ” Trung Cộng đã âm thầm hủy diệt môi trường sống của người Việt đồng thời ngang nhiên đưa hàng ngàn công nhân chiếm đóng Tây Nguyên và những công nhân đó sẳn sàng cấm súng bất kỳ lúc nào, và tôi dám chắc rằng một ngày rất gần đây thôi chúng ta sẽ được nghe phát ngôn bộ ngoại giao Việt Cộng Lê Dũng hùng hồn lên tiếng “ Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử về chủ quyền của mình đối với "Tây Nguyên”, rồi cũng giống như Hoàng Sa Trường Sa, Vịnh Bắc Bộ, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc mà thôi, việc của báo chí thì cứ lu loa khẳng định chủ quyền, còn việc mất đất mất biển là chuyện quốc gia đại sự nên chỉ một mình Đảng biết Đảng giải quyết.
Nói như thế để thấy rõ bản chất vong nô của Việt Cộng và bản tính bá quyền lưu manh của Trung Cộng, dù chúng nó thân thiết với nhau hay chúng nó quay sang đánh nhau thì chỉ có nước mình nhiễm độc, nước mình mất, dân mình khổ, dân mình chết thôi, chứ nhà nó vẫn to, xe nó vẫn sang, trương mục ngân hàng vẫn kếch xù từ sức lao động của nhân dân, và dù bè lũ chính trị bộ có chạy theo Tàu hay theo Mỹ đi nữa nhưng chắc chắn rằng không có tên nào theo Dân Tộc mình, đối với chúng là nước Tàu hay nước Việt Nam có khác gì nhau, Tố Hữu đã báo trước rồi mà : “bên kia biên giới là nhà, bên đây biên giới cũng là quê hương”.
Tôi biết nói những điều này với những người đã bị Đảng nhồi sọ quá lâu sẽ bị họ đấu tố là việt gian phản động, họ sẽ dùng những lý lẽ như nhờ ơn “bác” ơn Đảng mà mới có ngày hôm nay độc lập tự do hạnh phúc, nhưng việc tôi sinh ra và lớn lên dưới lá cờ đỏ sao vàng không có nghĩa là nhờ lá cờ đó mà tôi được sống được học tập ... mà đúng ra vì “nó” mà tôi phải mất đi rất nhiều thứ vốn dĩ là quyền cơ bản của một con người. Nói dễ hiểu cũng giống như việc người ta nuôi nhốt những con chim từ lúc nó lọt lòng, khi lớn lên nó sẽ quanh quẩn với cái lồng, sống với “tư tưởng ăn ỉa có người dọn” trong khuôn khổ của cái lồng, được quyền tự do hót nhưng thường thì khi từ nhỏ người ta sẽ dạy cho nó hót những câu “đúng đắn và lặp đi lặp lại ” đại loại như “líu lo líu lo, Vì Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa - vì lý tưởng của bác Hồ vĩ đại - sẵn sàng” hay “ huýt, huýt, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng văn minh” ... những chú chim hót hay này sẽ được người ta cho hưởng những đặc quyền đặc lợi, thức ăn ngon, chổ ở đẹp ... Còn tất nhiên biện pháp tốt nhất dành cho những con chim suốt ngày gào thét “két két, tự do, dân chủ, nhân quyền ” điếc tai thì sẽ bị đưa vào những “chuồng cải tạo ” với những tội danh rất lạ tai như “Phản động” “thế lực thù địch” “chống phá nhà nước XHCN” “âm mưu diễn biến hoà bình” ... và cải tạo đến chừng nào chịu hót đúng bài thì thôi, còn không thể cải tạo thì tìm mọi cách loại bỏ khỏi đời sống của loài chim. Cũng vì hoàn cảnh sống trong lồng tù túng cứt cơm lẫn lộn như thế, nên khi nghe thấy những chú chim khác hót ca kể về đời sống văn minh của loài chim tự do, nhiều chú chim trong lồng rất hoang mang không biết có thật mình đã bị đánh lừa suốt quãng đời qua không ? dù sao may mắn thay cho nòi giống của loài chim vẫn còn nhiều những con chim đại bàng khao khát tự do, phá cũi xé lồng oai hùng tung cánh tìm về với bầu trời xanh lơ. Này bạn tôi ơi ! đất nước mình có độc lập không khi đất nước bị lèo lái bởi những thái thú của Tàu Cộng, tự do là gì khi đến lòng yêu nước cũng bị tước đoạt, và hạnh phúc ở đâu khi hàng chục triệu người trên đất nước mình vật lộn kiếm ngày 2 bữa ăn không nỗi.
Khi nhìn thấy các mẹ các chị cầm cờ đỏ ảnh “bác” đi khiếu kiện, thấy sinh viên học sinh yêu nước mang cờ đỏ đi biểu tình chống Tàu Cộng, thấy các anh lính gìn giữ tổ quốc nơi biên ải xa xôi hay trên các vùng hải đảo mang theo lá cờ đỏ sao vàng, tôi đã thốt lên, các anh ơi ! các chị ơi ! các mẹ ơi ! Còn cờ đỏ sao vàng thì không bao giờ có độc lập tự do hạnh phúc.
Lê Trung Thành.
Sinh viên du học ngành kiến trúc
Thẩm phán "tòa án nhân dân" của Việt Nam Cộng Sản
Sunday, August 2, 2009
Phản tỉnh
VN Quê Hương Ngạo Nghễ, 1.09
Năm nay là lần đầu tiên tôi đến "Little Saigon" vào dịp gần Tết. Vợ chồng anh C. đến khách sạn đón. Sau bữa cơm chiều, anh chị cho tôi đến Phước Lộc Thọ; một người bạn học cũ sẽ đón tôi ở đó. Bên ngoài Phước Lộc Thọ tấp nập người đi dạo chợ Tết. Ghé qua gian hàng sách, thấy cuốn sách tựa "Suy Tư và Ước Vọng" với tên tác giả Nguyễn Thanh Giang, tò mò tôi cầm lên xem thử. Anh C. thấy vậy nhất định mua cho tôi và bảo để mang về khách sạn đọc cho đỡ buồn.
Ông Nguyễn Thanh Giang, tôi thấy nhắc đến đã nhiều trên các sách báo và các diễn đàn nhưng thật tình tôi chưa bao giờ đọc bài ông viết. Tối hôm đó chỉ mới xem sơ tôi đã giật mình. Ở trang 17, ông viết: “Nhưng suốt mấy thập kỷ gần đây đất nước lại bị phân chia, nửa này xây dựng chủ nghĩa xã hội, nửa kia lệ thuộc chủ nghĩa tư bản”. Ở trang 179, ông lại viết: “VN trong nửa cuối thế kỷ XX là nước sa lầy vào chiến tranh triền miên lâu dài và đau khổ nhất hoàn cầu. Bốn cuộc chiến, hết đánh Pháp, hết đánh Nhật, đánh Mỹ lại đánh Khmer CS và đánh Trung Quốc, đằng đẳng suốt 40 năm”.
Ông Nguyễn Thanh Giang ơi, cái cuộc chiến đánh Mỹ ông nói đến ở đây có phải là cùng cái cuộc chiến Quốc Cộng huynh đệ tương tàn? Cái nửa xây dựng chủ nghĩa xã hội của ông xây dựng bằng gì thế ông? Cái nửa xây dựng thì cái nửa nào đã đem chiến tranh, hận thù đến với quê hương. Cái nửa nào với dã tâm xâm chiếm miền Nam , dù xương có chất thành đồng, dù máu có chảy thành sông.
Ngày ấy tôi còn quá nhỏ để hiểu nhiều về cái nửa mà ông gọi là lệ thuộc chủ nghĩa tư bản. Tôi xin kể sơ ông nghe những gì tôi vẫn nhớ.
Tôi nhớ một mái ấm gia đình. Bố tôi dù bận bịu vẫn mỗi tối kèm dậy con, không chỉ việc học mà về cả những điều nhân nghĩa. Mẹ tôi tần tảo bán buôn giúp chồng nuôi đàn con dại. Tôi nhớ mái trưòng trung học, nơi bạn bè chúng tôi tập tành mơ tưởng đến dân tộc, đến quê hương. Tôi nhớ những đêm nhìn bóng hỏa châu rơi, những đêm nghe tiếng pháo kích vọng về. Tôi nhớ Tết Mậu Thân với vết đạn thù loang lổ trên tường trường Bàn Cờ, ngôi trường tiểu học của tôi. Và tôi mãi không quên hình ảnh mẹ tôi lặng người trước tin anh tôi chết trận.
Đó, đó là những gì tôi nhớ về cái nửa mà ông cho là lệ thuộc chủ nghĩa tư bản. Cái nửa của những người chỉ muốn sống với những giấc mơ hiền hòa và đơn sơ đó ông.
Qua bài viết của ông, tôi lại được biết thêm về lời lẽ của một người mà ông bênh vực: ông Trần Độ. Ông Trần Độ cho rằng: “đảng bây giờ đã khác hẳn đảng ngày xưa!... đã khác rất xa đảng của những năm 40, 50, 60. Vì vậy, nó hầu như không còn là đảng của tôi nữa”
Thưa cái đảng mà các ông luyến tiếc, tôn thờ của thời điểm 40, 50, 60 có phải cái đảng của thời điểm với những cuộc thủ tiêu những người yêu nước nhưng không cùng chính kiến, của cải cách ruộng đất với những cuộc đấu tố dã man, không chút tình người.
Đã nghe nhiều đến hai chữ phản tỉnh. Đã thấy ông và những người bạn ông gọi những người phê bình ông nào là những thằng nhãi con, nào là những người chống Cộng cực đoan.
Thưa ông Nguyễn Thanh Giang và những người cùng hàng ngũ phản tỉnh như ông.
Chúng tôi tuổi đảng thì không, mà tuổi đời thì thật sự là những thằng nhãi con so với các ông. Xin trọng các ông vì cái tuổi đời, xin khinh các ông về cái tuổi đảng. Mỗi ngày tuổi đảng của các ông là một vết dao hằn trên lưng Mẹ Việt Nam , là một nhát cuốc đẩy quê hương đến vực thẳm hôm nay. Xin ngưỡng phục các ông trước can đảm phản kháng lại cái thành phần lãnh đạo đảng CS hôm nay, những người đồng chí cũ của các ông. Nhưng xin phép được phỉ nhổ lên những tiếp tục ngụy biện cho một chủ nghĩa phi nhân. Phản có lẽ có, nhưng tỉnh thì phải dứt khoát rằng chưa.
Lại bàn về chữ cực đoan, không biết cái cực đoan nào sánh được với những tội ác của cái đảng của các ông đối với dân tộc. Không bàn tay thì cũng bộ óc của các ông góp phần vào những mồ chôn tập thể dân lành của Tết Mậu Thân, những đầy đọa trên thân xác trăm ngàn người tù cải tạọ Tỉnh là khi can đảm nhìn nhận những sai lầm man rợ của cái đảng mà các ông đã tôn thờ. Tỉnh là khi can đảm xóa bỏ đảng để trở về với cái bản chất hiền hòa, trọng nhân, trọng nghĩa của nòi giống Việt.
Xóa bỏ đảng là một điều hiển nhiên sẽ có trong tiến trình dân chủ hóa Việt Nam .
Quê hương đang mong chờ đón nhận những bàn tay đóng góp từ những tâm hồn phản tỉnh chân chính, những con tim còn biết rung động trước những khổ đau của dân tộc. Vẫn chưa muộn màng lắm đâu ông Nguyễn Thanh Giang!
Huỳnh Văn Phú
Cách nói chuyện thường nhật của những "đỉnh cao trí tuệ"
Trước hết, xin hỏi quý vị “nam nhi chi chí”, đã từng xông pha trận mạc, “đánh lớn thua lớn, đánh nhỏ cũng thua lớn” trên tình trường, đã có vị nào từng được người đẹp tặng cho một tấm ảnh với lời đề tặng như sau:
- “Tặng anh tấm ảnh này để nhớ nhau khi chiều buông xuống”
Câu viết tặng này chắc rằng nàng lấy ra từ một câu hát cải lương nào đó trong các tuồng như “Thù Cha Trong Bụng Mẹ”, hay “Ni Cô Xõa Tóc Bên Bờ Suối” hoặc “Máu Đổ Trước Cổng Chùa” v…v... Khi viết tặng như thế, nàng có ý nhắc bạn ta rằng chỉ khi nào chiều buông xuống tối om rồi thì mới nhớ, còn chiều chưa xuống thì đừng có nhớ chi vội. Quý vị có đồng ý như rứa không? Nhưng mà tại sao phải đợi trời tối rồi mới nhớ nhỉ?
Chắc là có chuyện gì bí ẩn và hấp dẫn đây.
Nhắc đến vấn đề viết và nói chuyện chữ nghĩa một cách vô cùng “trí tuệ” như thế, tôi lại nhớ đến một người lính trong đơn vị của tôi trước kia cũng có lối nói chuyện rất buồn cười. Chữ nghĩa anh lính này nói ra như đã nằm sẵn ở đâu trong óc anh rồi, rất lưu loát và tự nhiên mà ai nghe cũng phải bò lăn ra cười.
Một người lính khác, bạn anh, mượn anh một hộp thịt heo (loại của Quân Tiếp Vụ), không trả cho anh. Anh nổi giận chửi thề:
- Đ.M, thằng Tùng là đồ “lãng mạn”, mượn tao hộp thịt cả tháng rồi mà không chịu trả cho tao. Tao đòi nó, nó còn “thái bình” tao nữa.
Anh là “đệ tử” của một người bạn tôi. Một hôm anh nói với bạn tôi:
- Thưa Thiếu Tá, tôi thấy dạo này Thiếu Tá ốm quá. Vậy Thiếu Tá đưa tôi thêm một tháng hai ngàn nữa để tôi đi chợ mua đồ “tu bổ” cho Thiếu Tá.
Những cách nói như trên chỉ làm cho ta thấy buồn cười chứ không gây cái cảm giác khó chịu như lối nói chuyện của những người CS sau ngày chúng cưỡng chiếm miền Nam năm 1975. Tôi vẫn tin như đinh đóng vào vách rằng bất cứ vị nào đã từng ăn khoai, sắn, bắp với nước muối trong các nhà tù CS cũng đều thấy bực mình, chói tai khi có người hỏi mình câu hỏi:
- Anh đi “học tập” hết mấy năm?
Hoặc khi phải nghe vợ của một người tù cải tạo nói về hoàn cảnh gia đình mình theo cách nói dưới đây:
- Sau ngày “giải phóng”, nhà tôi thì đi “học tập”, còn mấy mẹ con tôi thì đi vùng kinh tế, “tranh thủ” làm ngày, làm đêm mà vẫn không đủ cơm ăn ngày hai bữa.
Dĩ nhiên, ta chỉ cảm thấy khó chịu thôi chứ không thể trách cứ họ được. Người dân sống dưới chế độ CS lâu ngày, cứ phải nghe đi nghe lại hàng ngày những từ ngữ ấy, riết rồi nó nó nhiễm vào óc hồi nào không hay.
Có một điều, tôi nhận thấy CS chiếm được một nửa đất nước từ năm 1954, đến năm 1975 họ cưỡng chiếm thêm nửa còn lại, thời gian cách nhau chỉ có 21 năm, ấy thế mà khi người dân hai miền giao tiếp nhau, đã có một số trường hợp người miền Nam không hiểu người miền Bắc muốn nói gì. Phải nhận rằng, người dân miền Bắc thuộc mọi tầng lớp xã hội, sống dưới chính thể CS, họ đều có cách nói rập khuôn như nhau. Già, trẻ, lớn, bé, có học hay không có học đều nói cùng một giọng điệu, nghe rất phiền cái lỗ tai.
Bây giờ, thử nhớ lại trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, người CS đã ăn nói ra sao?
Trước hết, nói về lời ăn tiếng nói. Bạn đã có dịp nào tiếp chuyện với với một người đã từng sống ở ngoài Bắc - nghĩa là sinh ra và lớn lên dưới chế độ CS sau năm 1954 - chưa?
Này nhé, bạn đang đi ngoài phố, miệng phì phèo điếu thuốc lá. Một tên bộ đội, tay cầm điếu thuốc chưa đốt, nếu anh ta muốn mồi lửa, anh ta sẽ tiến đến bạn và nói:
- Cho tôi xin “quan hệ” tí lửa.
Ngày đầu tiên, khi tôi "khăn gói quả mướp" vào tù, buổi tối hôm ấy tất cả chúng tôi được xe “Molotova” chở xuống trại Long Giao, Long Khánh. Trên đường đi, lúc qua khỏi Biên Hòa đến khoảng rừng cao su, đoàn xe dừng lại. Tên bộ đội cho chúng tôi đi “xả bầu tâm sự”. Mọi người xuống xe làm cái nhiệm vụ cần thiết ấy chưa được 3 phút thì có tiếng của tên bộ đội nói lớn:
- Các anh đái “khẩn trương” lên.
Nghe mấy chữ “đái khẩn trương” lên, tôi ngớ người ra, chẳng hiểu tên bộ đội muốn nói gì. Sau này, tôi mới hiểu ra rằng “đái khẩn trương lên” tức là “đái lẹ lẹ lên”. (Các bạn thử nghĩ thay vì nói đái lẹ lẹ lên, lại nói đái khẩn trương lên, mẹ nội thằng nào mà không há hốc mồm ra?)
Mời các bạn nghe tiếp mẫu đối thoại giữa hai mụ công an nói chuyện với nhau:
- Nếu đi từ “trực quan sinh động” đến “tư duy trừu tượng” thì tôi nói với đồng chí là “thị trường thịt” hôm nay “căng” lắm nhưng giữa tôi và đồng chí có “mối quan hệ hữu cơ” với nhau nên tôi sẽ để lại cho đồng chí một nửa số thịt tôi hiện có với giá “hữu nghị” thôi.
Bạn thử nghĩ xem mụ công an ấy nói gì và bạn có hiểu hết không?
Bây giờ, thử tưởng tượng bạn đi vào một nhà thổ và cô gái ăn sương có nhiệm vụ “tiếp” bạn là một người sinh ra và lớn lên dưới chế độ CS, tôi bảo đảm bạn sẽ nghe cô ta nói với bạn những lời lẽ sau:
- Này anh, trước khi ta “tiến hành”, tôi có mấy “quy định và yêu cầu cụ thể” sau:
Thứ nhất: Phải giữ “cự ly”
Thứ hai: Thời gian không “khống chế”
Thứ ba: Không được “nóng vội”
Thứ tư: Không cần “đảm bảo mỹ quan”
Thứ tư: Thứ năm: Trả tiền “nghiêm chỉnh”
Trong thời gian đầu, anh em tù cải tạo được tên bộ đội dẫn đi coi chiếu phim - ngồi ngoài trời xem - tên bộ đội nói với tù phe ta:
- Trong suốt “quá trình” xem phim, tôi yêu cầu tất cả các anh phải giữ “cự ly gián cách”.
Và để mở đầu bất cứ buổi nói chuyện nào trước anh em tù, mọi tên cán bộ hay bộ đội đều nói rập khuôn câu nói dưới đây:
- Hôm nay, tôi “báo cáo các anh nắm” một số vấn đề như sau...
Một người tù phe ta đã dùng nhóm chữ “báo cáo các anh nắm” để “chơi xỏ” tên cán bộ một màn rất ngoạn mục. Chẳng là, khi chúng tôi đi lao động ở hiện trường, bao giờ cũng có vài tên cán bộ vác súng theo canh giữ. Bất cứ khi nào chúng tôi muốn đi tiêu, tiểu đều phải báo cáo cho tên cán bộ ấy biết. Thế là chàng tù nhà ta bèn nói với tên cán bộ:
- Tôi xin đi cầu, “báo cáo cán bộ nắm”
Khi muốn khen một đội banh đá hay, người CS nói:
- Đội bóng ấy rất là “trình độ”
Nếu muốn diễn ta sự xuất sắc hơn thì họ lại dùng chữ khác. Hãy nghe họ nói:
- Cô ca sĩ này hát rất “cực kỳ”, còn cô kia thì “trình độ” thôi.
Xin các bạn nghe tiếp anh chàng phụ trách ngành xuất bản báo chí ở thành Hồ đã lên TV nói về công tác của anh ta:
- Vấn đề thông tin báo chí là vấn đề “sát sườn” trong đời sống chúng ta. Vì thế, tôi sẽ cố gắng “bắt kịp nhịp thở của thời đại”
Và đây là ngôn ngữ họ dùng trong các buổi họp:
- Chúng ta phải tích cực “tranh thủ” giải quyết “rốt ráo” các vấn đề tồn đọng. Tôi rất “trăn trở” vì cho đến nay chúng ta chưa đạt đến “đỉnh cao” của kế hoạch đã “đề xuất”
Khi muốn hỏi một số đông người tham dự buổi họp có đồng ý về một vấn đề gì đó hay không, họ hỏi:
- Các đồng chí có “nhất trí” không?
Và câu trả lời là:
- “Nhất trí, nhất trí cao”
Trong một buổi “học tập” chính trị, bạn sẽ được nghe tên cán bộ “chỉ đạo” như sau:
- Các anh cần phải “động não”, phải “tư duy”, phải “đào sâu suy nghĩ” và nên “xoáy mạnh” vào ý 1 (Một) khi “liên hệ” bản thân.
Đây là mẩu chuyện giữa hai tên cán bộ CS:
- “Quan hệ” giữa đồng chí và cô Thúy Lan đến đâu rồi?
- Có “chuyển biến” tốt và rất có “chất lượng”
Xin nghe tiếp một trường hợp đối thoại khác:
- Trông đồng chí hôm nay “bài bản” quá !
- Gì mà “quá thể” thế. “Báo cáo riêng” với đồng chí, tôi thấy dạo này tôi “xuống cấp” quá nên mặc cái áo sơ mi sọc mới vừa mua để cho “lên cấp” một tí đấy mà.
Một tên cán bộ thấy nét mặt của tên khác có vẻ buồn rầu, hỏi:
- Có “sự cố (trục trặc)” gì thế?
- Khổ quá đồng chí ạ, cơn bão đêm qua thổi bay mái tôn nhà bếp của tôi rồi.
Và đây là cách họ hỏi thăm vấn đề sức khỏe:
- Ông bà cụ của đồng chí vẫn khỏe chứ ạ?
- Báo cáo đồng chí, sức khỏe của ông bà cụ tôi cũng được “đảm bảo”.
Khi đề nghị một người nào đó đứng lên bắt nhịp để mở đầu một bài hát, họ nói:
- Đề nghị đồng chí X. lên “cầm càng”
Muốn phê bình ý kiến người nào, cách nói của người CS như sau:
- Lý luận của đồng chí không có “sức thuyết phục”. Để “đảm bảo” kế hoạch đã “đề xuất”, cũng như giải quyết được vấn đề “nổi cộm” ấy, chúng ta cần phải có “sức bật”.
Còn đề cập đến vấn đề gì mang nghĩa “tiết kiệm” hay có vẻ vừa phải, người CS sẽ dùng từ ngữ “kinh tế” trong các cách nói sau:
- Cái xe đạp này bán với giá rất “kinh tế”.
Hoặc:
- Dạo này giá sinh hoạt đắt đỏ quá nên gia đình tôi ăn uống rất “kinh tế”.
Về một món hàng bán rẻ, họ dùng chữ “bèo” trong cách nói sau đây:
- Cái áo này giá 120 đồng là “bèo” lắm rồi, đồng chí còn kỳ kèo cái gì nữa.
Trong trường hợp cùng một món hàng mà các cửa hàng bán với giá khác biệt nhau, khách hàng có nêu thắc mắc sẽ được nghe người bán hàng trả lời:
- Ở đây tôi bán giá “vô tư” mà.
Trong phòng vệ sinh của một cơ quan nọ, một người đang đứng chờ bên ngoàị Anh ta có vẻ sốt ruột, nói vọng vào người đang ở phía trong:
- “Khẩn trương” lên cho người ta vào.
- Hãy đợi đấy. Tôi chưa “xử lý” xong.
Có những chữ mà người CS dùng, chúng ta nghe “mệt” vô cùng. Đại khái như thay vì nói khiêu vũ hay nhảy đầm thì họ nói là “múa đôi”. Và, giả sử bạn đang ôm hôn người yêu của bạn, người CS sẽ bảo rằng bạn đang “bú mồm” đấỵ
Nếu bạn đi một vòng các đường phố, bạn sẽ thấy những tấm bảng hiệu ghi những chữ mà chả ai hiểu được họ muốn nói cái gì. Đây là một tấm bảng hiệu ở một cửa hàng nọ:
- “Cửa Hàng Thịt Hưu Trí”
Ở một cửa hàng khác:
- “Quày Hàng Thực Phẩm Tươi Sống Thanh Niên”
Và:
- “Cửa Hàng Sữa Trẻ Em”
Tôi còn nhớ ở trại tù Vĩnh Quang, Vĩnh Phú, nhà ăn của đám Công An có ghi hàng chữ:
- “Nhà Ăn Thanh Niên Làm Theo Lời Bác”
*****
Nãy giờ là chuyện vòng vòng bên ngoàị Sau đây là chuyện xảy ra trong chính gia đình tôi. Sau nhiều năm ăn khoai, sắn, bắp với nước muối trong tù, lúc được trả tự do về xum họp gia đình, tôi đem tí vốn Anh ngữ nhỏ nhoi của mình ra dạy hai đứa con tôi. Có lần tôi chê thằng con tôi sao học “xệ” quá, nó nói với tôi:
- Ba cũng hiểu cho con là cái “lỗ hổng kiến thức” của con quá lớn.
Lần khác, nó ngồi bên cạnh tôi nhỏ nhẹ hỏi:
- Ba, hồi xưa ba đi hành quân ở chiến trường, ba có thường “tiếp cận” với VC không?
Ngày nọ, em gái nó nhờ nó giải cho bài toán. Nó đọc xong đề bài rồi nói:
- Bài toán này cũng thuộc loại “tầm cỡ” đấy.
Tôi hiểu và thông cảm cho con tôi sau 10 năm chịu dưới sự giáo dục của CS, nó dùng những chữ “lỗ hổng kiến thức”, “tiếp cận”, “tầm cỡ” trong các câu nói trên là không có gì đáng trách. Tuy nhiên tôi cũng khắt khe nói với nó rằng lần sau mà còn dùng bất cứ thứ chữ nào đại loại như thế thì đừng có gọi tôi là ba của nó nữa.
Còn nói về sự ngu đần mà vẫn tỏ ra mình là thông thái của các tên cán ngố CS thì dù cho có kể theo lối kể chuyện “Một Ngàn Một Đêm Lẻ” cũng chẳng thấm vào đâu. Cho đến bây giờ, tôi vẫn nghĩ rằng trên trái đất này, qua bất cứ thời đại nào, không ai có thể nói phét một cách “cực kỳ” và trâng tráo như người CS. Chuyện các cán ngố CS nói phét thì các bạn đã từng nghe qua. Ở đây tôi chỉ xin ghi lại vài chuyện vui nho nhỏ.
Ở trong tù, thư từ của thân nhân “phe ta” gửi đến đều bị kiểm duyệt và sau đó tên cán bộ sẽ đọc tên từng người lên nhận thư. Một người tù có bà vợ tên là “Hélène”, chẳng biết bà ta là người Pháp hay có quốc tịch Pháp. Tên cán bộ khi gọi người lên nhận thư, đã nói như sau:
- Anh nào có người nhà tên “Hé Lè Ne” lên lấy thư.
Thời gian hai tháng đầu tiên lúc mới vào tù, VC không cấm tù đọc sách. Một chàng cải tạo phe ta đang ngồi đọc cuốn sách viết bằng Anh ngữ. Một tên bộ đội đến gần chàng cải tạo, nhìn một lúc rồi hỏi:
- Anh học tiếng gì thế?
- Tôi học tiếng Anh.
Tên bộ đội nói:
- Ừ, học tiếng Anh thì được. Còn tiếng Mỹ thì cấm đấy nhé.
Rồi tên bộ đội tỏ ra mình cũng thuộc loại “đỉnh cao trí tuệ ngu đần”, nói tiếp:
- Cái tiếng Anh này thì dễ thôi, chứ còn tiếng Tây khó lắm đấỵ Một chữ của nó có tới hai, ba chục nghĩa lận.
Bây giờ nói tới chuyện cải cách tiếng Việt. Sự cải cách này, theo giải thích của người CS thì họ nói là để “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Ta hãy xem sự trong sáng ấy “trong sáng” tới mức nào? Ở đây, vì lý do kỹ thuật ấn loát, tôi không thể đưa ra một số chữ mẫu mà người CS đã từng chỉ thị cho các trường Tiểu Học từ Bắc vào Nam (lúc mới chiếm được miền Nam ) phải cải cách chữ viết như thế nào. Chỉ xin các bạn hiểu đại khái là tất cả các mẫu tự như L. K, H, G... khi viết thì dứt khoát không có cái vòng bụng ôm lấy thân chữ. Nhìn vào rất ư kỳ cục, chẳng giống chữ Ấn Độ mà cũng chẳng có nét nào Á Rập. Còn cách đọc thì tất cả các mẫu tự ấy không phát âm theo cách chúng ta được học hồi còn bé. Ví dụ như các mẫu tự B, C, M, L, K được phát âm như sau: B đọc là Bờ, C đọc là Cờ, M đọc là Mờ, CH đọc là Chờ, KH đọc là Khờ v…v... và v…v...
Có điều đáng ghi nhận là khi dạy con nít ở trường học thì dạy đọc như trên. Tuy nhiên các xướng ngôn viên đài truyền hình vẫn đọc y hệt như chúng ta học hồi trước. Ví dụ UBND họ vẫn đọc là U, BÊ, ANH NỜ, DÊ chứ không đọc theo lối cải cách là U, BỜ, NỜ, DỜ.
Lại xin nói tiếp về sự thay đổi mẫu tự Y bằng I. Ví dụ chữ Mỹ phải viết là Mĩ. Thật ra, ở Saigon trước năm 1975 cũng đã có vài vị đề nghị nên thay mẫu tự Y bằng I trong một số trường hợp rồi. Kể ra chữ Mỹ mà viết thành Mĩ hay chữ Yêu mà viết thành Iêu thì cũng được thôi, chẳng có gì trầm trọng lắm. Nhưng dù sao chữ Mỹ hay chữ Yêu viết với mẫu tự Y (thay vì I), cách viết ấy đã ăn sâu, đã thấm nhuần vào tập quán và thói quen của dân Việt rồi.
Xét về hình tượng thì chữ Mỹ hay chữ Yêu viết với mẫu tự Y, trông nó đẹp hơn và dễ thương hơn. Nó làm cho ta không bị hụt hẫng, không bị cụt hứng như thể ta đã từng nghe tiếng còi xe lửa chạy bằng than và củi trước kia rồi bây giờ phải nghe cũng tiếng còi xe lửa chạy bằng đầu máy “Diesel”. Cũng là thứ tiếng còi tàu lửa những tiếng còi phát ra từ đầu máy chạy bằng hơi nước xưa kia, nó kéo dài, nó ngân vang, nó tha thiết, nó gợi cho ta những kỷ niệm chồng chất cùng với những ước mơ được đi về một vùng trời xa lạ nào đó. Còn tiếng còi chạy bằng đầu máy “Diesel”, nó vùa đục, vừa điếc, lại gọn lõn, nghe nó ta có cảm tưởng như thể ta vừa đánh mất đi một cái gì đáng nhớ nhất. Đấy, tôi nghĩ tâm trạng của tôi khi đọc chữ Mỹ mà viết thành Mĩ cũng y hệt như tâm trạng khi nghe hai loại còi tàu đã kể ở trên.
Chưa hết, đây mới là điều phiền toáị Giả sử có cô nào đó tên là THÚY, nếu ta thay mẫu tự Y bằng I thì tên cô ta sẽ là THÚI. Do đó, cho dù cô ấy có đẹp và thơm đến đâu đi nữa, chắc là khi đọc tên cô, tôi cũng nghe cái mùi thum thủm. Có phải tội nghiệp cho cô ta không?
Cuối cùng, để khỏi mất thì giờ các bạn nảy giờ theo dõi chuyện ăn nói... rất chói tai của VC, xin các bạn vui lòng đọc hàng chữ sau: “Tôi muốn leo lên trời, Yả”. Dĩ nhiên, chữ “Yả” ở đây là chữ “Ỉa” đấy. Vâng, nếu bạn leo được lên trời mà “Yả” thì bạn quả là người hạnh phúc nhất trần gian này và bạn cũng thuộc vào hàng “đỉnh cao trí tuệ” rồi.
Huỳnh Văn Phú
Saturday, August 1, 2009
Vì sao
Vì Sao ?
Anh có ở lại đây một trăm năm,
Ăn gà tây, uống coca, cũng không thành Mỹ trắng.
Anh có ở lại đây một ngàn năm,
Cắt cỏ dang nắng, cũng không thành Mỹ đen.
Tiếng Anh tiếng U nay chắc anh nói cũng đã quen,
Nhưng đến bao giờ mới phai mùi nước mắm.
Anh có muốn ở lại suốt đời ?
Để mỗi lần đi cày về anh tắm,
Chỉ tắm dưới vòi sen ?
Những người đồng hương anh vừa quen hôm qua,
Ngày mai có thể trở thành kẻ lạ.
Những người thường làm mặt lạ,
Lại có thể bá cỏ hôn anh,
Nếu anh lên nhanh, nếu anh trúng số.
Ôi cái xứ sở xô bồ,
Lắm người qua hơn hai mươi năm
Vẫn còn bị hố.
Hàng xóm, láng giềng, nhà nhà lố nhố,
Nhưng chẳng ai thèm biết tên ai.
Xe của ai nấy đi,
Nhà của ai nấy đóng kín mít.
Tết tây tết ta, lễ tạ ơn tạ nghĩa,
Chẳng hề qua lại hỏi thăm nhau.
Thỉnh thoảng gặp nhau trên đường đi,
Cũng đặt bày làm người lịch sự,
Mấp máy nói hai nói ba, chào nhau,
Như chào cái cột cờ di động.
Đường phố, phi trường, núi rừng , ruộng đồng quá rộng,
Mà lòng con người đa phần tôi gặp,
Lại nhỏ bé đến li ti,
Nhỏ bé đến dị kỳ,
Nhỏ bé còn hơn những gì nhỏ nhất !
Thế mà từ quê nhà còn lắm người ao ước ra đi ,
Thế mà từ quê người vẫn chưa có mấy ai thích trở về ...vĩnh viễn !
Vì sao ? Vì sao ?
Xuyên Sơn
Thơ đáp lại của Kế Đô:
Tớ chẳng muốn ở đây một trăm năm
Vì muốn trở thành người Mỹ trắng.
Tớ cũng chẳng muốn ở đây một ngàn năm
Để lao động như những người Mỹ đen.
Tiếng Anh, tiếng Việt tớ nói cũng khá quen
Nhưng đó là ngôn từ dùng trong giao dịch.
Nếu có phải ở đây đến khi nào viên tịch
Thì cũng phải đi làm với một mục đích
Để nâng cao nếp sống của con người.
Người đồng hương, hay người lạ ở trên đời
Đâu cũng vậy, có kẻ hèn người tốt.
Họ thương anh chẳng vì anh lắm bạc
Hay vì anh được cất nhắc làm to.
Chớ có lầm là nước Mỹ xô bồ
Khi thấy mỗi người mỗi nếp sống tự do
Đèn ai nấy rạng họ không nhòm soi mói
Trừ phi anh mở cửa đón họ vô
Anh trách mọi người sống rất thờ ơ
Gặp nhau chỉ lầm bầm vài câu nhạt nhẽo
Như những người học đòi làm lịch sự
Và ở nơi này cái gì cũng bự
Nhưng những người đa phần anh gặp
Lại có một tấm lòng đê tiện li ti
Vậy thì ai là kẻ đã lì xì
Hàng tỉ bạc cho quê nhà ăn Tết ?
Cuối cùng như để thay lời kết
Anh lớn tiếng đặt câu hỏi vì sao ?
Vì sao ?
Từ quê nhà còn lắm người ao ước ra đi ?
Xin thưa:
Vì quê nhà kiếp sống chẳng ra gì
Đảng Cộng Sản đang đè đầu dân đói khổ
Nuôi một lũ cán ngu, loài sâu bọ
Đục khoét làm giầu, cướp đất công khai
Cột đèn kia cũng muốn tếch ra ngoài !
Vì sao ?
Từ quê người vẫn chưa có mấy ai thích trở về vĩnh viễn
Xin thưa:
Vì tầm nhìn của anh còn thô thiển
Lập luận một chiều, óc nô lệ còn cao
Anh chưa hiểu gì về chúng tôi, người tị nạn
Chỉ trở về vĩnh viễn khi không còn Cộng Sản
Chớ ngu si gì về làm bạn với đười ươi !!!
Kế Đô
Friday, July 31, 2009
Nhà cầm quyền CSVN đã nhượng bộ.
Wednesday, July 29, 2009
Các tường trình trước Uỷ ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ về vấn đề biển Đông
Dan Blumenthal, Thành viên Thường trực - Học viện American Enterprise
tqvn2004, X-Cafe chuyển ngữ
Điều Trần Trước Tiểu Ban Á Châu thuộc Ban Đối Ngoại Thượng Viện Hoa Kỳ
về
Tranh Chấp Lãnh Hải và Các Vấn Đề Về Chủ Quyền ở châu Á
15 tháng Bảy, 2009
Dan Blumenthal, Thành viên Thường trực - Học viện American Enterprise
Thưa Thượng nghị sĩ Webb, các thành viên trong hội đồng! Tôi rất vinh dự được xuất hiện trước quý vị ngày hôm nay. Rất cảm ơn quý vị đã tổ chức buổi điều trần quan trọng này và đã quan tâm tới áp lực ngày càng gia tăng của Trung Quốc lên khu vực xung quanh lãnh hải của họ.
Đã hơn một thập niên kể từ khi Ngài, thượng nghị sĩ Web, bắt đầu viết về chủ đề này, và tốc độ hiện đại hóa của hải quân Trung Quốc đã vượt quá ngay cả những ước đoán ngông cuồng nhất. Trong thập niên vừa qua, Trung Quốc đã triển khai 38 tàu ngầm chạy dầu và nguyên tử, đạt tốc độ 2,9 tàu mỗi năm. Bên cạnh việc mua 4 khu trục loại Sovremenny của Nga, Trung Quốc đã triển khai 9 loại tàu khu trục lớn và nhỏ tự đóng mới, được trang bị tên lửa đầy lợi hại chống tàu tuần tra.
Hơn thế, bên cạnh số lượng trên một ngàn tên lửa đạn đạo vốn có, Quân đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc (PLA) đã và đang phát triển tên lửa đạn đạo chống tàu từ đất liền, được trang bị hệ thống chuyển hướng [1], với mục đích đánh vào các tàu chiến di động của chúng ta, bao gồm cả nhóm tàu sân bay chiến đấu [2] – quân chủ lực của chúng ta để dành ưu thế cuộc chiến. Chúng ta chưa từng thấy sự phát triển hải quân nào tương tự kể từ thời kỳ đầu Chiến tranh Lạnh. Và hải quân của chúng ta cũng chưa từng gặp phải mối đe dọa tên lửa đạn đạo có khả năng tấn công mục tiêu di động trên biển. Và Ngài đã hoàn toàn chính xác khi viết Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đang có những nỗ lực phối hợp và toan tính nhằm mở rộng không gian chiến lược trong khu vực của Trung Quốc.
Điều gì đã khiến quân đội Trung Quốc phát triển như vậy? Nó không phải bắt nguồn từ những mối đe dọa hướng vào Trung Quốc: Khách quan mà nói, Trung Quốc không phải đối mặt với đe dọa quân sự. Kể từ khi Liên bang Sô Viết sụp đổ, Trung Quốc không còn phải lo lắng chuyện bảo vệ biên giới đất liền của mình trước nguy cơ xâm lược. Kể từ sau Chiến tranh Lạnh, khu vực này đã, nhìn chung, là hòa bình.
Thay vào đó, tôi cho rằng sự phát triển của quân đội Trung Quốc được thúc đẩy bởi các yếu tố nội địa, mong muốn nâng cao thể diện quốc gia, và sự bất an của ĐCSTQ. Trung Quốc đang thể hiện những hành vi mà người ta trông đợi ở một cường quốc đang nổi lên. Điều đáng ngạc nhiên chính là ở chỗ, chúng ta đã trông đợi Trung Quốc hành động khác đi. Công chúng Hoa Kỳ đã được thông báo nhiều lần bởi hết chính quyền này tới chính quyền khác, cũng như nhiều chuyên gia rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ khác với sự trỗi dậy của tất cả các cường quốc khác trong lịch sử. Nhưng dự đoán này đơn giản là đã không xảy ra.
Khi Trung Quốc phát triển mạnh mẽ hơn và dành cho quân đội của nó nguồn lực nhiều chưa từng thấy, Bắc Kinh muốn giải quyết các tranh chấp lãnh thổ theo hướng có lợi cho mình, mở rộng phạm vi lãnh hải của mình, và phát triển các con đường thay thế để tự do ra vào khu vực đại dương mở. Quả thực thế, một trong những mối quan tâm hơn cả bên trong các chiến lược Trung Quốc chính là sự quan trọng của quyền lực trên biển – theo lý thuyết của Alfred Thayer Mahan [3]; điều này đã được các đồng nghiệp của ông Dutton tại Naval War College viết đến rất nhiều.
Các chuyên gia nghiên cứu Hải Quân Trung Quốc bắt đầu nắm bắt được các khái niệm như quyền kiểm soát trên biển, và mối liên hệ giữa quyền kiểm soát đó với các lợi ích thương mại và quốc tế, và đang tìm cách áp dụng cho Trung Quốc. Chúng ta không nên vui mừng trước thực tế là Trung Quốc đang làm những điều mà tất cả các cường quốc đang trỗi dậy làm. Lý do là vì: Kể từ khi kết thúc Thế Chiến lần thứ hai, Châu Á đã được hưởng một nền an ninh tương đối, được bảo vệ phần lớn bởi sức mạnh quân sự và hàng loạt các cam kết an ninh của chúng ta. Trong sự bao bọc an ninh đó mà phần lớn các quốc gia Châu Á được hưởng hòa bình, thịnh vượng và dân chủ hóa ngày càng tăng. Châu Á ngày hôm nay, nhìn trên mọi phương diện – kinh tế, chính trị, địa chính trị và quân sự - đã nhanh chóng trở thành trung tâm thu hút sự chú ý của chính trị quốc tế. Và rồi sự trỗi dậy của Trung Quốc bắt đầu làm thay đổi cảm giác an toàn và ổn định đang đem lại hòa bình, thịnh vượng và dân chủ hóa kia. Một Châu Á mà trong đó Hoa Kỳ không còn được coi là sức mạnh quân sự mang tính thống trị rõ ràng sẽ không thể tránh khỏi kém ổn định hơn. Một khu vực không an toàn sẽ lo lắng nhiều hơn tới cạnh tranh về an ninh, mà ít quan tâm hơn tới thương mại, cải cách địa phương và hợp tác khu vực.
Trong khung cảnh đó, tôi muốn được nói về tranh cãi lãnh hải tại Biển Nam và Đông Trung Hoa (South and East China Seas). Tôi xin bắt đầu với Nhật Bản và tranh cãi khu vực các đảo Senkaku/Diaoyu, bởi vì Nhật Bản từ lâu, và vẫn đang, là đồng minh chiến lược của chúng ta trong khu vực.
Tranh chấp tại khu vực đảo Senkaku/Diaoyu
Trong tất cả các tranh chấp lãnh thổ trong khu vực, tranh cãi giữa Trung Quốc và Nhật Bản trong khu vực biển Đông Trung Hoa là đáng lo ngại nhất, và có lẽ cũng nguy hiểm nhất. Tranh chấp này dựa trên nền tảng cạnh tranh giữa các cường quốc, thù hận mang tính lịch sử, ước vọng khai thác các nguồn năng lượng tiềm tàng dưới đáy đại dương, và mối quan tâm tới khuynh hướng cuối cùng của Đài Loan. Những vấn đề trên kết hợp lại trở nên đặc biệt không ổn định.
Cả hai quốc gia này cùng tuyên bố chủ quyền đối với các đảo Senkaku/Diaoyu, và cả hai đã đưa các đảo này vào để đòi hỏi đặc khu kinh tế (EEZ) / thềm lục địa của họ. Từ quan điểm của Trung Quốc, các đảo này rất quan trọng vì lý do an ninh năng lượng, cũng như ước vọng mở rộng quyền lực trên biển của họ.
Xin được bắt đầu với an ninh năng lượng. Cả hai quốc gia đều tuyên bố chủ quyền đối với mỏ gas Chunxiao – nơi mà Trung Quốc cho rằng nằm cách đường trung tuyến của Nhật Bản tại Biển Đông Trung Hoa 5km. Hiện tại, công ty năng lượng Trung Quốc CNOOC là nhà khai thác mỏ này, và các chuyên gia năng lượng ước tính mỏ Chunxiao có thể chứa tới 7 ngàn tỷ mét khối khí đốt tự nhiên và từ 70 tới 160 tỷ thùng dầu.
Khi mà cả Nhật Bản lẫn Trung Quốc đều đang nỗ lực đa dạng hóa nguồn cung cấp năng lượng của mình, mỏ khí đốt và dầu hoả ở biển Đông Trung Hoa là đặc biệt quan trọng với cả đôi bên.
Một mối quan ngại khác của Trung Quốc là khoảng cách trên biển giữa các cảng và các nhà cung cấp dầu khí chính của nó ở Vịnh Ba Tư. Bắc Kinh ngày càng tỏ ra không thoải mái khi phải dựa vào lòng tốt của Hoa Kỳ để đi lại trong vùng biển này. Lòng tự hào dân tộc và sự nghi ngại dành cho Hoa Kỳ khiến Trung Quốc tìm kiếm các nguồn năng lượng và các tuyến đường thay thế, đặc biệt quan tâm tới các vị trí trong khu vực gần với lục địa, nơi Trung Quốc có thể áp đặt sức mạnh quân sự của mình. Mỏ Chunxiao vì thế trở thành một địa điểm quan trọng trong chiến lược an ninh năng lượng của Trung Quốc.
Một mối lo ngại nữa của các chiến lược gia Trung Quốc là chuỗi đảo Senkaku/Diaoyu nằm trong cái mà người Trung Quốc gọi là – chuỗi đảo thứ nhất [4], một đường phân ranh giới khá tùy tiện chạy từ đảo Kyushu phía Nam Nhật Bản qua biển Đông và Bắc Trung Hoa. Khu vực này bao gồm Đài Loan, đảo Ryukus của Nhật, và gần như toàn bộ Biển Bắc Trung Hoa. Trung Quốc ngày càng hoạt động như thể họ muốn thống trị chuỗi đảo này. Đối với các chiến lược gia Trung Quốc, có những mục đích phòng thủ và tấn công đằng sau các tuyên bố chủ quyền này.
Trung Quốc làm như thể họ bị dồn vào chân tường bởi liên minh Hoa Kỳ - Nhật Bản, những người đang hoạt động quá gần đường bờ biển Trung Quốc. Trước đây, liên minh này được tạo ra để bao vây các hạm đội Liên Xô ở Thái Bình Dương – ngày nay, các chiến lược gia Trung Quốc tin rằng, liên minh này một phần phục vụ kế hoạch ngăn cản tích cực nhằm vào Trung Quốc. Điều này phần nào giải thích được việc ngăn cản tàu USNS Impeccable gần đây của Trung Quốc, cũng như ép hạ cánh chiếc máy bay do thám Hoa Kỳ trên đảo Hải Nam năm 2001. Trong khi Hoa Kỳ và Trung Quốc đang tranh cãi về các điều khoản trong Luật Biển và hoạt động nào được coi là được phép trong vùng EEZ của Trung Quốc, tôi nghi ngờ rằng các vấn đề này sẽ được giải quyết trong tương lai gần. Địa chính trị và chiến lược biển của Trung Quốc là đòn bẩy quan trọng đối với vị thế của Trung Quốc hơn là luật pháp. Nói đơn giản, Trung Quốc muốn đẩy Hoa Kỳ lùi càng xa càng tốt khỏi bờ biển của mình và tăng phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc.
Nhiều chiến lược gia Trung Quốc tin rằng Trung Quốc không thể trở thành cường quốc một khi nó bị bó hẹp bên trong ranh giới biển được tạo ra bởi Tokyo và Washington. Đồng minh này, cũng đang bảo vệ cho Đài Loan, ngăn cản Trung Quốc chứng tỏ quyền lực trên biển của mình trên vùng phía Tây Thái Bình Dương. Từ khía cạnh phòng thủ, chiến lược gia Trung Quốc cũng tìm cách ngăn cản Hoa Kỳ tiếp cận tới khu vực này – chuỗi đảo thứ nhất, nếu chiến sự với Đài Loan nổ ra.
Dưới con mắt của Nhật Bản, đảo Senkakus đã là một phần của Nhật Bản qua lịch sử hiện đại – Tokyo chưa bao giờ nhượng lại phần lãnh thổ này, ngay cả sau khi thất trận ở Thế chiến lần thứ hai, khi mà nó phải từ bỏ khá nhiều lãnh thổ dưới Hiệp ước San Francisco. Hiện tại, Nhật Bản đang quản lý các đảo Senkakus – trong khi cả Trung Quốc và Đài Loan cùng tuyên bố chủ quyền nhóm đảo này là của họ.
Nhật Bản đã cho tư nhân thuê một phần nhóm đảo này, với dự định kiểm soát các mua bán quyền lãnh thổ. Cả Đài Loan và Trung Quốc đều phản đối hành động này. Vào cùng thời gian đó, năm 2003, CNOOC đã ký kết hợp đồng để sản xuất khí tự nhiên tại Chunxiao.
Nhật Bản phản đối và yêu cầu Trung Quốc trao trả dữ liệu địa chấn. Trong khi Bắc Kinh tiếp tục không khoan nhượng, Nhật Bản cho phép một trong các công ty khai thác dầu của mình tiến hành khoan tại Biển Đông Trung Hoa. Trung Quốc đáp lại bằng cách gửi đội tàu của mình, bao gồm cả một chiếc Soveremmeny tới vị trí khai thác và ra lời cảnh cáo nghiêm khắc yêu cầu Nhật Bản dừng thăm dò năng lượng trong khu vực lãnh thổ của Trung Quốc. Nhật Bản đã dừng việc khoan thăm dò của mình.
Đội tàu Trung Quốc được gửi ra biển Đông Trung Hoa năm 2005 không phải là màn trình diễn đầu tiên của sức mạnh hải quân Trung Quốc. Nhật Bản đã giải mật các tài liệu trình bày về việc các tàu ngầm và tàu nghiên cứu quân sự cũng như dân sự của Trung Quốc đã ra vào đặc khu kinh tế EEZ của Nhật Bản vài chục lần năm 2004 và 2005. Mục đích của những lần xâm nhập này bao gồm xây dựng bản đồ khai thác dầu và khí trong khu vực đang tranh chấp, khoe sức mạnh để gây áp lực lên Nhật Bản trong các vụ tranh cãi đang diễn ra, và thực hiện nghiên cứu về các tuyến đường cho tàu ngầm đi vào và ra Thái Bình Dương.
Chúng ta và người Nhật đều đã rất lo ngại khi một chiếc tàu ngầm diesel loại Song của Trung Quốc nổi lên quá gần chiếc USS Kitty Hawk trong buổi diễn tập của Hoa Kỳ gần Nhật Bản năm 2007. Chiếc tàu ngầm này rõ ràng đã bám theo nhóm tàu sân bay mà không bị phát hiện.
Như vậy, từ phía Nhật Bản, tranh cãi về đảo Senkaku và Biển Đông Trung Hoa không chỉ là lợi ích năng lượng và luật quốc tế. Nó là sự thể hiện của mối đe dọa và sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc. Nhật bản đã có một lịch sử lâu dài lo sợ bị bóp nghẹt và cách ly kinh tế. Sự gia tăng sức mạnh và trình diễn lực lượng của Trung Quốc chỉ làm tăng nỗi sợ hãi này.
Cuối cùng, những tranh chấp về chủ quyền khu EEZ và các đảo Senkaku / Diaoyu Islands cho thấy lo ngại của Nhật Bản về vấn đề Đài Loan. Đối với các chiến lược gia Nhật Bản, sự kiểm soát của Trung Quốc đối với Đài Loan sẽ khiến hải quân Trung Quốc có cơ sở gần hơn chuỗi đảo Okinawa và Ryuku của Nhật, mở rộng hơn nữa khu vực EEZ của Trung Quốc về phía Thái Bình Dương. Mối lo ngại mất an ninh của Nhật Bản, vốn đã cao do sự bất ổn định trên bán đảo Triều Tiên – chỉ càng thêm cao.
Trong khi hai phía đạt được một số thỏa thuận năm 2008 để cùng nhau thăm dò các nguồn năng lượng và tạm gác lại các tranh chấp lãnh thổ trong thời điểm hiện tại. Nhưng nếu xét tới các động lực mà tôi vừa đề cập, cả hai bên vẫn đang trong tư thế sẵn sàng xung đột.
Biển Nam Trung Hoa [5]
Tranh chấp biển Nam Trung Hoa, bao gồm cả những tranh chấp tại Hoàng Sa và Trường Sa, cũng cần được phân tích một cách tương tự trong bối cảnh địa chính trị. Tranh chấp này có ảnh hưởng tới lợi ích an ninh của 3 cường quốc Châu Á: Nhật Bản, Ấn Độ và Trung Quốc, cũng như một số đồng minh và các đối tác kém mạnh mẽ hơn như Việt Nam và Philippines.
Về căn bản, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ biển Nam Trung Hoa. Việt Nam, Philippines, Brunei và Đài Loan tranh chấp với tuyên bố này, đặc biệt về chủ quyền và quyền khai thác tại các đảo nhỏ nằm xung quanh Hoàng Sa và Trường Sa. Giống như ở biển Đông Trung Hoa, tất cả các bên liên quan tới lãnh hải trong biển Nam Trung Hoa đều tin rằng khu vực này chứa các túi khí và dầu có trữ lượng đáng kể. Trung Quốc đã tranh giành với Việt Nam và với Philippines trên các đảo thuộc Trường Sa, và với Việt Nam trên các đảo thuộc Hoàng Sa. Trong khi Trung Quốc ký kết Tuyên bố Ứng xử của các bên trên biển Nam Trung Hoa vào năm 2002, các nhân vật trong khu vực không tin rằng Trung Quốc sẽ tôn trọng lời hứa của mình. Nhiều người cho rằng, việc gia tăng sức mạnh và áp lực của Trung Quốc trong khu vực là lý do chính để Việt Nam mong muốn xây dựng một mối liên kết an ninh chặt chẽ hơn với chúng ta, và là lý do khiến Philippines muốn ký Thỏa Thuận Thăm Viếng của các Lực Lượng Quân Đội với chúng ta năm 1995.
Biển Nam Trung Hoa cũng là con đường dẫn tới eo biển Malacca, nơi đây được coi là điểm thắt vận tải biển quan trọng nhất thế giới. Vào khoảng 50.000 tàu chuyên chở một phần tư lượng thương mại và một nửa lượng dầu mỏ bằng đường biển của thế giới đi qua eo Malacca hàng năm. Vì 90% lượng dầu của Trung Quốc và gần như tất cả lượng dầu của Nhật Bản được chuyên chở bằng đường biển, đương nhiên hai quốc gia này đều mối quan tâm lâu dài về an ninh tại eo biển này và Biển Nam Trung Hoa.
Năm ngoái, lo lắng đã dâng cao ở Đông Nam Á, Tokyo, Delhi, khi báo chí thông báo phát hiện một căn cứ hải quân mới của Trung Quốc xây dựng trên đảo Hải Nam; căn cứ này có thể chứa các tàu ngầm tấn công mang tên lửa đạn đạo, cũng như các lực lượng chiến đấu trên bề mặt khác. Hải quân thuộc Quân đội Giải Phóng Nhân Dân (PLAN) có thể sử dụng căn cứ này để đột nhập kín đáo vào biển Nam Trung Hoa và tiếp cận các tuyến đường biển quốc tế.
Đông Nam Á đang lo ngại về khả năng Trung Quốc áp đặt tiềm lực quân sự lên họ để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ. Tokyo lo ngại về khả năng Trung Quốc thống trị các tuyến đường biển và bao vây cô lập Nhật Bản.
Ấn Độ lo ngại với hai lý do. Thứ nhất, sự phát hiện ra căn cứ ở đảo Hải Nam củng cố lo lắng của người Ấn rằng Trung Quốc đang tìm cách vươn tới Ấn Độ Dương và xây dựng một chuỗi các căn cứ hải quân dọc Ấn Độ Dương, ở Miến Điện, Sri Lanka và Pakistan, để áp đặt sức mạnh lên khu vực mà Ấn Độ định nghĩa như phạm vi ảnh hưởng của riêng mình. Thứ hai, Ấn Độ đang đóng một vai trò kinh tế lớn hơn ở Đông Nam Á, và muốn có quyền ra vào không bị cản trở tới khu vực này. Điều đáng lo ngại là những gì chúng ta thấy đang diễn ra trong khu vực này là một dạng học thuyết Monroe [6] của Trung Quốc.
Phản ứng khu vực
Hiện tại, tất cả các bên liên quan đang cố gắng cân bằng để chống lại sức mạnh đang lên của Trung Quốc. Cả Hà Nội lẫn Manila đều đang tìm kiếm quan hệ chặt chẽ hơn với chúng ta. Tokyo, một cường quốc bị hạn chế về các vấn đề quân sự do một hiến pháp theo chủ nghĩa hòa bình, cũng đang tích cực tìm kiếm và đón nhận một liên minh song phương tăng cường hơn nữa. Sự đột phá trong quan hệ với Ấn Độ cũng nhờ một phần không nhỏ vào cảm nhận chung Ấn Độ - Hoa Kỳ về môi trường an ninh trên biển.
Nói ngắn gọn, chúng ta đang chia sẻ với các đối tác khu vực của chúng ta một mong ước rằng Trung Quốc sẽ không trở thành một bá quyền. Một câu hỏi mà rất nhiều nước trong khu vực bắt đầu đặt ra, đó là liệu chúng ta có sức mạnh và ý chí lâu dài để đáp lại sự trỗi dậy của Trung Quốc hay không? Và điều này đưa tôi đến những nhận xét sau.
Kết luận và Khuyến nghị
Chúng ta chưa có một chính sách rõ ràng về các tuyên bố tranh chấp chủ quyền trong biển Đông và Nam Trung Hoa, cũng như chưa xác định rõ vị trí của mình trong việc ủng hộ chủ quyền của các đảo đang tranh chấp. Những gì chúng ta đã nói chỉ là chúng ta sẽ bảo vệ quyền tự do đi lại và các quyền lợi trong đặc khu kinh tế EEZ, phù hợp với các quy tắc quốc tế.
Việc theo đuổi các nguyên tắc chung về giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp lãnh thổ và quyền tự do đi lại có thể là thận trọng và khôn ngoan nếu xét tới các vấn đề nhạy cảm lịch sử và mong ước có được mối quan hệ hữu hảo với Trung Quốc.
Nhưng cùng một lúc, chúng ta phải cảnh giác trước tham vọng rõ ràng của Trung Quốc là thống trị biển Đông và Nam Trung Hoa, mở rộng lãnh hải và quyền tự do hành động của mình, và hạn chế truy cập của chúng ta tới các vùng biển này.
Chúng ta cũng phải đảm bảo rằng những người bạn và đồng minh của chúng ta có sức mạnh và được trợ giúp đối mặt với những hành vi o ép có thể xảy ra, và rằng chúng ta thực hiện đúng những cam kết ngoại giao của mình.
Chúng ta không muốn thấy một cuộc chạy đua vũ trang tốn kém ở Châu Á, cũng như một Châu Á bị thống trị bởi Trung Quốc và loại trừ chúng ta. Để đạt được những mục tiêu này, chúng ta phải tăng cường liên minh ngoại giao của chúng ta để đảm bảo với họ rằng họ sẽ không bị o ép. Chúng ta cần tỏ ra rạch ròi Trung Quốc về các nguyên tắc cốt lõi của việc ứng xử trên biển. Nhưng sẽ không thể nào tránh khỏi sự thực rằng chúng ta phải vận dụng nguồn lực quân sự của chúng ta một cách hợp lý.
Có một sự cân đối gần như hoàn hảo giữa sự xây dựng lực lượng hải quân Trung Quốc và sự cắt giảm lực lượng hải quân của chúng ta. Trong khi Trung Quốc triển khai hàng chục tàu ngầm mới thì chúng ta lại để cho các nghiên cứu về khả năng chống tàu ngầm chiến đấu của chúng ta teo tóp. Khi Trung Quốc triển khai hàng chục tàu ngầm mới thì chúng ta giảm lượng tàu ngầm của chúng ta mất 25 tàu.
Trung Quốc không chỉ đã thấy sự mất cân bằng này, họ đang trông đợi chúng ta tiếp tục cắt giảm hải quân. Thiếu tướng Hải Quân Trung Quốc Yang Yi đã hả hê rằng Trung Quốc đã vượt Hoa Kỳ 5 lần về [số tàu ngầm sản xuất ra]… Mười tám [số tàu ngầm Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương] so với 75 hoặc hơn tàu ngầm Trung Quốc rõ ràng là không khả quan mấy [xét trên góc nhìn của Hoa Kỳ]. Thiếu tướng Trung Quốc nói đúng. Tàu ngầm Hoa Kỳ tối tân hơn, nhưng khoảng cách về chất lượng đang thu hẹp. Và khoảng cách về số lượng đang khiến cho việc theo dõi các đội tàu Trung Quốc ngày càng trở nên khó khăn hơn.
Tôi đã được yêu cầu nói vài lời về vai trò của sức mạnh trên biển của Hoa Kỳ để duy trì cân bằng quyền lực. Tôi không dám nói nhiều, bởi vì thứ nhất, tôi đang nói trước một cựu Bộ trưởng Hải Quân, và thứ nhì, tôi nhận thức được rằng mở ra cuộc tranh luận về trình diễn lực lượng (force posture) là một toan tính nguy hiểm.
Viện nghiên cứu của tôi đã triệu tập một nhóm các chuyên gia về quân sự và an ninh để đánh giá toàn bộ và chi tiết nhu cầu lực lượng toàn cầu của Hoa Kỳ trước khi có bản Đánh Giá Quốc Phòng Bốn Năm (Quadrennial Defense Review – QDR) [7] của nội các. Chúng tôi đã kiểm tra các yêu cầu tại Thái Bình Dương, và tôi xin chia sẻ một số kết quả của chúng tôi.
Đầu tiên, tôi xin nhấn mạnh rằng chiến lược phòng thủ của chúng ta ở Thái Bình Dương không nên chỉ chú trọng vào các kế hoạch phản ứng trước tiềm năng chiến tranh. Trong bối cảnh Trung Quốc đã thay đổi cán cân quyền lực trong khu vực, tái cân bằng phải là nhiệm vụ hàng ngày đối với lực lượng của chúng ta. Một cách để hình dung nhu cầu về lực lượng của chúng ta tại Thái Bình Dương là nghĩ về sự hiện diện và tham gia mạnh mẽ hơn của quân đội, và cho phép nhanh chóng đem một lực lượng lớn tới đây khi có xung đột. Tôi sẽ nói nhiều hơn về điểm đầu tiên:
Đội tàu của chúng ta giảm thiểu hơn bao giờ hết kể từ đầu thế kỷ XX. Trong khi chúng ta có năng lực và những người lính thủy giỏi hơn, nếu xét đến diện tích Thái Bình Dương, số lượng tàu là điều quan trọng. Lực lượng tại Thái Bình Dương của chúng ta phải làm rất nhiều nhiệm vụ, bên cạnh chuyện duy trì cân bằng quyền lực – ví dụ họ phải gây dựng khả năng quân sự của các đối tác, giải quyết các thiên tai, và thực hiện các sứ mạng chống cướp biển…
Nhưng hãy cho tôi được phép tập trung vào nhiệm vụ Trung Quốc. Một ước tính rất sơ bộ về nhu cầu hải quân tại Thái Bình Dương phải tính tới sự có mặt ngày càng nhiều các tầu ngầm tấn công nhanh (fast attack submarine - SSN) để duy trì sự hiện diện gần như thường xuyên ở biển Đông và Nam Trung Hoa, cũng như ở biển Nhật Bản. Chúng ta cần nhiều tàu ngầm hơn để bảo vệ các Nhóm Tàu Sân Bay Tấn Công của chúng ta, giám sát các tàu ngầm Trung Quốc đi tuần, và thực hiện hoạt động tình báo, giám sát và do thám (ISR). Những nhu cầu khác bao gồm tiếp dầu (P8) và thăm dò dưới đáy biển. Các hệ thống phòng thủ tên lửa và đội tàu của chúng ta không đáp ứng được trước những phát minh ngày càng nhiều của Trung Quốc trong sản xuất tên lửa đạn đạo và các mục tiêu tầm xa. Thật không may, chúng ta đã tới thời điểm mà, nếu chúng ta muốn các tàu sân bay triển khai ở xa còn ý nghĩa, chúng ta cần phải tìm cách bảo vệ chúng.
Những khả năng cần thiết để bảo vệ tài sản trên biển bao gồm hệ thống vệ tinh phát hiện tên lửa phóng được kết nối với ra-đa theo dõi; một sự hiện diện gần như thường xuyên của tàu chiến triển khai ở xa với khả năng phòng thủ tên lửa đạn đạo; và các khả năng tình báo cho phép thông báo nguy hiểm và các vụ phóng tên lửa chống tàu sân bay theo thời gian thực tới các tàu đang bị đe dọa. Trong khi chúng ta đang cần một hệ thống phòng thủ tên lửa nhiều lớp, vẫn cần phải tập trung năng lượng vào tìm kiếm các phương tiện để hạ gục các đe dọa này, đặc biệt là tên lửa đạn đạo chống tàu (ASBM). Các tuần duyên hạm (Littoral Combat Ship) được triển khai ở xa nhiều hơn có thể đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì khả năng chiến đấu trên mặt biển (ASW) mạnh; cũng như khả năng chiến đấu trên mặt biển ở các khu vực gần bờ. Tất cả những năng lực này sẽ giúp chúng ta dâng lên nếu cần thiết. Nếu quân đội ta cần phải gửi nhiều tàu sân bay hơn tới khu vực này, các biện pháp nâng cao khả năng giám sát của tàu sẽ khiến các tàu này hiệu quả hơn. Có khả năng ASW mạnh hơn sẽ giúp chúng ta tự do hơn để thực thi các hoạt động của mình. Tôi muốn nói rằng chúng ta phải chú trọng tương đương vào khả năng giám sát của các căn cứ cố định trên bờ của chúng ta. Chúng ta cần tạo ra nhiều khu hậu cần hơn tại các quốc gia thân thiện hơn với Hoa Kỳ để cho phép lực lượng không quân xuất hiện với số lượng lớn đột ngột tại khu vực. Và chúng ta phải đảm bảo rằng mình có đủ máy bay tàng hình và ném bom cho các sứ mạng mà chắc chắn là sẽ phức tạp và gay cấn hơn những gì chúng ta đã từng được chứng kiến.
Ngài hoàn toàn đúng, Thượng nghị sĩ Webb, khi Ngài nói rằng chúng ta đang đứng ở một tình thế khó xử: Ngân sách quốc phòng đã được công bố trước khi nội các Obama đưa ra bản báo cáo QDR của mình. Tôi xin thúc giục Quốc Hội hãy đảm bảo rằng quá trình đánh giá báo cáo quốc phòng của nội các không phải là một buổi diễn tập cắt giảm ngân sách.
Cuối cùng, tôi tin tưởng rằng chính sách ngoại giao có thể thành công, và Châu Á sẽ hưởng hòa bình và thịnh vượng nhiều hơn, miễn là mọi người biết rằng chúng ta có thể giữ các hứa hẹn của mình. Điều chúng ta cần là kỹ năng ngoại giao vốn là truyền thống Hoa Kỳ - nói năng nhỏ nhẹ nhưng mang trên tay một cây gậy to tướng.
_______________________
Chú thích:
[1] Hệ thống chuyển hướng, maneuverable re-entry vehicle (MARV), là hệ thống cho phép tên lửa chuyển hướng tấn công khi đang bay.
Xem thêm: http://en.wikipedia.org/wiki/Maneuve...eentry_vehicle
[2] Nhóm tàu sân bay chiến đấu (Carrier Battle Group): một đơn vị chiến đấu gồm tàu sân bay và các tàu chiến hộ tống.
Xem thêm: http://en.wikipedia.org/wiki/Carrier_battle_group
[3] Alfred Thayer Mahan là người đưa ra học thuyết về sự quan trọng của quyền lực biển, dẫn tới việc các quốc gia đua nhau xây dựng hệ thống hải quân trước Thế chiến lần thứ nhất.
Xem thêm: http://en.wikipedia.org/wiki/Alfred_Thayer_Mahan
[4] Chuỗi đảo thứ nhất (first island chain): Năm 1985, Quân đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc đề ra chiến lược phòng thủ trên biển, trong đó đề cập tới khả năng hoạt động và thống trị ngoài khơi trong khu vực “hai chuỗi đảo”: Chuỗi đảo thứ nhất được mô tả như một đường nối qua các đảo Kurile, Nhật Bản, đảo Ryukuy, Đài Loan, Philippines và Indonesia (từ Borneo tới Natuna Besar). Chuỗi đảo thứ hai chạy từ đường Bắc – Nam từ Kuriles qua Nhật Bản, các đảo Bonin, các đảo Mariana, các đảo Caroline và Indonesia. Hai chuỗi đảo này vẽ thành một khu vực biển rộng khoảng 1800 dặm biển tính từ bờ biển Trung Quốc, bao gồm phần lớn Biển Đông Trung Hoa và các tuyến đường giao thông biển tại Đông Á.
Xem thêm: http://www.globalsecurity.org/milita...e-offshore.htm
[5] Biển Nam Trung Hoa chính là biển Đông [Việt Nam]. Trong bài này, người dịch xin dùng tên biển Nam Trung Hoa, để tránh nhầm lẫn giữa biển Đông [Việt Nam] và biển Đông Trung Hoa (giữa Trung Quốc và Nhật Bản).
[6] Học thuyết Monroe: Là một chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đưa ra vào năm 1823, trong đó nói rằng Châu Âu không được tiếp tục các nỗ lực thuộc địa hóa và can thiệp vào các quốc gia tại Châu Mỹ; nếu tiếp tục sẽ bị coi là hành động gây hấn và Hoa Kỳ sẽ đứng ra can thiệp. Ngược lại, Hoa Kỳ cũng sẽ không can thiệp vào các thuộc địa hiện tại của Châu Âu, cũng như công việc nội bộ của các quốc gia trong Châu Âu.
Xem thêm: http://en.wikipedia.org/wiki/Monroe_Doctrine
[7] Báo cáo Quốc phòng Bốn Năm (QDR) là báo cáo 4 năm một lần của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, trong đó phân tích các mục đích chiến lược và các mối đe dọa quân sự tiềm năng tới Hoa Kỳ. Xem thêm: http://en.wikipedia.org/wiki/Quadrennial_Defense_Review
Nguồn: Thượng viện Hoa Kỳ