Translate
Thursday, May 14, 2009
anh cóc [thơ con cóc]
cứ thấy "bác hồ nằm giữa chúng ta"
anh cóc thương em theo tình xỏ lá
lại thằng già này lạng quạng vào ra
hơn ba mươi năm sau đàn két vẫn rướn cổ lên ca
không phải CD hay DVD mà cuộn băng cassette:
nhão nhẹt!
d ư ơ n g n ỗ
12 tháng 5, 2009
620 lao động Trung Quốc làm việc tại Việt Nam
- Thống kê từ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Quảng Nam, hiện trên các công trình xây dựng tại Quảng Nam có hơn 620 lao động là người Trung Quốc đang làm việc…
Số lao động người Trung Quốc đang có mặt tại một số công trình xây dựng thuỷ điện thuộc địa bàn vùng núi Quảng TIN LIÊN QUAN
Tuy nhiên, hồ sơ của các đơn vị sử dụng lao động này xác nhận là các chuyên gia về xây dựng thuỷ điện.

Nhiều lao động nước ngoài làm việc trên địa bàn vẫn chưa xác định được là lao động phổ thông hay chuyên gia. Ảnh: H.A
Chỉ tính riêng tại 3 công trình xây dựng gồm: thủy điện Za Hung, thuỷ điện Sông Kôn 2 (huyện Đông Giang) và công trình nhiệt điện Nông Sơn (huyện Nông Sơn) hiện có khoảng 620 người Trung Quốc đang sinh sống và làm việc tại đây.
Đây là số lao động do các đơn vị trúng thầu xây dựng các công trình này tuyển dụng lao động Trung Quốc.
Ông Nguyễn Anh Ánh, Chánh Thanh tra Sở LĐTB&XH Quảng Nam cho biết, Thanh tra Sở đã phát hiện và có nhiều văn bản nhắc nhở các đơn vị sử dụng lao động này kê khai, báo cáo số lao động này theo qui định của pháp luật. Tuy nhiên, các đơn vị sử dụng lao động này vẫn không báo cáo cụ thể.
Để xác định rõ các lao động người Trung Quốc này có phải là chuyên gia hay là lao động phổ thông, tỉnh Quảng Nam yêu cầu ngành lao động thương binh và xã hội tiến hành thanh tra làm rõ.
"Quan điểm của UBND tỉnh Quảng
Hiện Sở LĐTB&XH tỉnh đã thành lập đoàn tổng kiểm tra toàn bộ số lao động người nước ngoài đang làm việc tại Quảng Nam, mà trọng điểm là số lao động người Trung Quốc làm việc trên các công trình xây dựng thuỷ điện tại địa bàn vùng núi Quảng Nam trong những ngày tới.
- Hoàng Anh
Monday, May 11, 2009
Cảm xúc nhân ngày quốc hận 30 tháng 4
Trích Người Việt Boston
H.N.A. (Một Sinh Viên Du Học Từ Việt Nam)
Ngày 30 tháng Tư, trong lúc người ở miền Bắc gọi là “ngày đại thắng”, thì nhiều người ở miền Nam nhớ lại những mất mát chia lìa, người có thân nhân bị tập trung tù “cải tạo”, kẻ có người thân chết trên đường vượt biên… Ba tôi cũng vậy, cứ mỗi độ tháng Tư về, lúc nào tôi cũng thấy ba tôi ngồi đăm chiêu…
Ba tôi bảo ba đang nhìn về quá khứ và tiếc nuối một thời đã qua. Ba thường nhắc lại khoảng thời gian mà không biết bao người đau khổ trắng tay vì những đợt “cải tạo tư sản”, biết bao gia đình ở miền Nam bị quy là “ngụy quân ngụy quyền” để bị tịch thu hết tài sản và phải rời thành phố đi vùng “kinh tế mới”. Thật đáng sợ khi trong khoảng thời gian đó, người dân cả nước phải chịu sự lãnh đạo và nắm quyền bởi những người thậm chí không được học hành, không biết một chữ cắn đôi. Đến tận bây giờ, tôi mới hiểu được nỗi lòng của ba tôi cũng như những người bạn bè của ba, khi phải sống trong chế độ cộng sản, khi phải trải qua một thời gian dài bị tù đày trong nhà tù cộng sản. Hầu hết những người lính Việt Nam Cộng Hòa như ba tôi sau khi ra khỏi nhà tù Cộng Sản đều trở nên gầy gò, ốm yếu. Chưa kể đến biết bao nhiêu người lính đã hy sinh khi phải hứng chịu những đòn roi tra tấn tàn bạo, nhưng lại được che đậy bằng cụm từ “học tập cải tạo.”
Qua những câu chuyện của ba tôi, dần dần tôi có những cái nhìn khác hơn về thời cuộc, hay nói đúng hơn là tôi nhận ra rằng những gì mà tôi được học ở trường VC trong suốt 12 năm qua chỉ là sự giả tạo, là lịch sử do Đảng Cộng Sản Việt Nam viết lên. Qua những câu chuyện của ba, tôi bắt đầu muốn tìm hiểu về bộ mặt thật của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Tôi cố tìm thông tin trên những websites ở hải ngoại và phát hiện ra nhiều Sự Thật khiến tôi ngỡ ngàng. Hóa ra, tôi và những người dân trong nước đã sống trong sự dối trá suốt mấy chục năm qua. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã rất tài tình khi che giấu, bưng bít những tin tức không có lợi cho họ. Tất cả mọi người đều bị che mắt và bịt tai, mê muội nghe theo lời đường mật của những kẻ đang nắm chính quyền. Lớp trẻ chúng tôi đều bị nhồi sọ qua những bài giảng trong lớp học, rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội mới mang lại cho người dân sự ấm no và hạnh phúc. Và nghiễm nhiên, chủ nghĩa xã hội được coi là một môn học bắt buộc trên ghế nhà trường. Trên thế giới, thực tế còn bao nhiêu nước theo chủ nghĩa xã hội? Và người dân ở những nước đó có thực sự sống trong một đất nước Độc Lập, Tự Do, và Hạnh Phúc hay không?
Biết bao nhiêu trò lừa gạt của Cộng Sản đã bày ra nhưng được che đậy bởi những từ ngữ hoa mỹ: “Tất cả vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.”
• Đất nước có mạnh được không khi người dân bị cho là quấy rối chỉ vì đứng lên đòi lại đảo Trường Sa - lãnh thổ của mình mà thuở xưa, cha ông ta đã đánh đổi bằng xương máu.
• Một đất nước có công bằng không khi những kẻ lãnh đạo chính quyền tham nhũng, cướp đất của dân, khiến hàng ngàn người dân mất đất, mất nhà.
• Có dân chủ không khi chỉ cần một câu nói đả kích Đảng Cộng Sản Việt Nam là sẽ bị quy vào tội “phản động, chống phá nhà nước”.
• Một đất nước có được gọi là Độc Lập, Tự Do không, khi mà người dân không có quyền nói lên tiếng nói của mình. Đất nước tự do mà toàn bộ hệ thống chính quyền đều nằm dưới sự quản lý của Cộng Sản. Xã hội được gọi là hạnh phúc mà hàng triệu người dân phải sống trong cảnh lầm than! Liệu như vậy có thật sự là một đất nước độc lập, tự do, hạnh phúc?
• Ngày nay, trước sự bùng nổ của công nghệ thông tin, người dân trong nước, đặc biệt là những người sống ở miền Nam, đều có cơ hội tìm hiểu và nhận ra bộ mặt thật của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Tuy nhiên, trước nguy cơ bị quy là phản động, trước sự an toàn cho gia đình và người thân, họ không dám nói lên tiếng nói của mình.
Tôi thật sự rất xấu hổ khi Việt Nam hiện nay được liệt kê vào danh sách những nước không có Nhân Quyền, không có Tự Do Tôn Giáo, không có được quyền làm người.
Tôi cảm thấy mình rất may mắn vì có cơ hội được đi du học ở Mỹ, được tận mắt nhìn thấy lá cờ của nước Việt Nam Cộng Hòa phất phới bay trong gió - lá cờ vàng ba sọc đỏ đầy ý nghĩa mà trước đây, tôi được nghe ba tôi giải thích màu vàng là màu quốc thổ, cũng là tượng trưng cho người Việt Nam da vàng, ba sọc đỏ là tượng trưng cho ba miền Bắc, Trung, Nam.
Tôi cảm thấy mình may mắn rất nhiều vì có cơ hội được biết thế nào là Dân Chủ, là Nhân Quyền, được tiếp cận với ánh sáng Công Lý, được thoải mái phát biểu ý kiến, nói lên suy nghĩ của mình mà không bị cho là “phản động”. Không như trước đây khi còn ở Việt Nam, tôi phải rỉ tai bạn tôi, khi muốn đánh giá về bức ảnh Cha Lý bị bịt miệng tại phiên tòa xét xử. Chúng tôi phải âm thầm truyền nhau đọc những bài báo hải ngoại nói lên sự thật về Đảng Cộng Sản Việt Nam. Biết nói sao cho hết những nỗi khổ mà người dân trong nước hiện nay phải gánh chịu!
Lại một tháng Tư qua, tôi cảm thấy đau lòng cho số phận của người dân Việt Nam hiện ở trong nước. Tôi mong rằng một ngày không xa, họ sẽ thực sự được sống trong một đất nước tự do, dân chủ, một đất nước, nơi mà người dân có được quyền sống, quyền làm người. Chúng ta, những người may mắn được sống, học tập, và làm việc ở một đất nước tự do và dân chủ cần có những hành động cụ thể để giúp cho những người không may đang sống trong nước, để họ cũng được biết thế nào là Tự Do và Dân Chủ.
Không chỉ bằng lời nói, chúng ta hãy cùng nhau hành động, cùng nhau chung tay tham gia vào những sinh hoạt Cộng Đồng để đóng góp khả năng và công sức của mình để xây dựng một Cộng Đồng Việt Nam vững mạnh ở hải ngoại. Chúng ta phải bằng mọi cách làm cho lớp trẻ ở trong và ngoài nước hiện nay có cái nhìn đúng đắn và biết rõ bộ mặt thật của Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay.
Tháng 4, 2009
Sunday, May 10, 2009
Cảm tác
Ba mươi mấy năm quê nhà đầy bóng giặc
Thương làm sao đất nước lắm đọa đày
Thù trả chưa xong sầu uất nghẹn
Mối hận này thề phải trả cho xong
Đêm thao thức cảm thương người chiến sĩ
Ngày tan hàng bao kiếp sống thê lương
Người nổi trôi nơi đất khách quê người
Kẻ lang bạc trong mảnh đời gian khổ
Thương thương lắm người chiến binh bất khuất
Súng trên tay đành phải để mất thành
Hồn đất nước như thét gào trong bão lửa
Hận đời đời và hận cả thiên thu
PHP
05/09/09
Saturday, May 9, 2009
Gởi tặng Mạ
Trong những đêm mất ngủ
Lo cho cả đàn con
Bên ni và bên nớ
Thới gian nào quay lại
Những chuỗi ngày gian nan
Những tháng năm vất vả
Dáng Mạ gầy, con thương
Nay Mạ tuổi đã già
Vẫn còn nhiều lo toan
Biết bao điều phiền não
Ôi thương Mạ làm sao!
Hôm nay ngày của Mẹ
Con viết vội bài thơ
Với tấm lòng thương kính
Gởi tặng Mạ, Mạ ơi!
PHP
05/09/09
Có phải là đã có sự thay đổi?
Mới đây, Hà Nội đã đăng ký thềm lục địa với Liên Hiệp Quốc. Điều này là điều đáng làm và đã làm cho Trung Cộng tức giận. Lịch sử Việt Nam 4000 năm với truyền thống chống giặc ngoại xâm phương Bắc của cha ông phải chăng đã làm thức tỉnh nhà cầm quyền Việt Nam? Dù sao đi nữa, nhà cầm quyền CSVN cũng cần phải có những quyết định sáng suốt hơn trong việc bảo vệ chủ quyền, đáp ứng được nguyện vọng của dân chúng, khỏi hổ thẹn với tiền nhân.
Thursday, May 7, 2009
Người xưa ở phương nao
Bước sang Nữ Hồng Đức
Đứng lớ ngớ cổng trường
Lòng lo âu hồi hộp
Kìa áo trắng đến gần
Dúi vội tờ thơ nhỏ
Mặt đỏ bừng xấu hổ
Em kẹp vào túi mang
Kể từ đó yêu nhau
Hẹn hò nhau cuối phố
Những buổi đi ăn kem
Những chiều cùng dạo phố
Thắm thoắt mấy mươi năm
Tình xưa bay theo gió
Người xưa ở phương nao
Vương mang bao kỷ niệm
PHP
05/07/09
Một bước mới để tập trung quyền lực của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Gần đây, Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, một nhà tu khả kính, một nhà tranh đấu không mệt mỏi cho vấn đề nhân quyền tại Việt Nam, một tù nhân lương tâm và hiện tại đang bị nhà cầm quyền Cộng Sản quản thúc đã có thông điệp Phật Đản gởi nhà cầm quyền Cộng Sản từ bỏ chế độ đảng trị. Đọc bài viết của Đại Lão Hòa Thượng, ta lại càng kính mến và trân trọng một vị chân tu có lòng với quê hương dân tộc mặc dầu đã từng bị tù đày nhiều năm .
Wednesday, May 6, 2009
Niềm tin của đảng viên đối với đảng Cộng Sản Việt Nam
Tuesday, May 5, 2009
Vấn đề nhân quyền tại Việt Nam
Tổ chức Human right watch vừa có đề nghị lên chính phủ Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào danh sách những nước đặc biệt cần quan tâm. Bên cạnh đó, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã có bản báo cáo hàng năm công bố về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam để đệ nạp lên Liên Hiệp Quốc. Một số nhà trí thức Việt Nam lên tiếng và đưa ra ý kiến về bản báo cáo này .
Monday, May 4, 2009
Saturday, May 2, 2009
Em có hẹn
Em có hẹn hôm nay xuống phố
Ra đường anh đảo mắt nhìn xem
Nhìn ai cũng ngỡ là em
Hóa ra không phải anh thêm buồn lòng
PHP
05/02/09
Quan hệ Việt Mỹ: Định mệnh và lựa chọn
| (TuanVietNam)- Tháng tư năm 1975, USS Kirk 1087 là một trong những chiến hạm Mỹ cuối cùng nhổ neo rời khỏi vùng biển Việt Nam. USS Kirk 1087 không chỉ mang theo mình một phần dòng người di tản ra khỏi Sài Gòn sắp sụp đổ mà còn chở theo mình đoạn kết của một chương đen tối trong lịch sử quan hệ hai nước Việt - Mỹ. | |||||||||||||
Định mệnh của quá khứ
Tuy nhiên do một số khúc mắc từ cả hai phía, đặc biệt là việc thỏa thuận về vấn đề Mỹ bồi thường chiến tranh cho Việt Nam theo Điều 21 của Hiệp định Paris, cũng do tác động của bối cảnh cuộc Chiến tranh lạnh và trò chơi lớn giữa Mỹ - Xô - Trung đang diễn ra, hai nước đã bỏ phí cơ hội sớm bình thường hóa bang giao.
Hợp tác: Lựa chọn của tương lai Có thể nói, sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện của quan hệ Việt Mỹ trong một thập kỷ qua là một thành công đáng kể của cả hai nước. Giờ đây khi cuộc Chiến tranh lạnh cũng như những ám ảnh của quá khứ đã lùi xa, việc phát triển quan hệ hợp tác Việt Mỹ trong lĩnh vực nào, tới mức độ nào và thông qua những phương thức nào phụ thuộc hoàn toàn vào "lựa chọn" chủ quan của hai nước hơn là "định mệnh" như trước kia. Đương nhiện, lựa chọn hợp tác giữa hai nước phải phù hợp với lợi ích quốc gia của mỗi bên. Xét trên góc độ này, cả Mỹ và Việt Nam đều có đầy đủ mọi lý do để lựa chọn thúc đẩy hợp tác giữa hai nước mạnh mẽ và toàn diện hơn nữa. Trước tiên phải kể đến lợi ích chính trị của cả hai nước khi phát triển hơn nữa quan hệ song phương. Nếu như đối với Việt Nam quan hệ với Mỹ có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao vị thế của mình cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế thì đối với Mỹ, việc phát triển quan hệ chính trị với Việt Nam cũng có ý nghĩa ngày càng quan trọng. Với một vị thế không ngừng lớn mạnh trên trường quốc tế, Việt Nam xứng đáng có một vị trí cao hơn trong chiến lược của Mỹ, đặc biệt là ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, nơi cạnh tranh ảnh hưởng giữa các cường quốc được dự báo sẽ ngày càng gay gắt hơn trong tương lai. Chính vì vậy quan hệ tốt hơn với Việt Nam sẽ có lợi cho Mỹ trong việc duy trì ảnh hưởng của mình ở khu vực. Về kinh tế, một điều rõ ràng là quan hệ kinh tế với Mỹ, với tư cách là đối tác thương mại lớn nhất và nhà đầu tư hàng đầu, có vai trò quan trọng đối với Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam với một nền kinh tế năng động, thị trường lớn nhiều tiềm năng cùng nhiều cơ hội chưa được khai phá, cũng cần được Mỹ coi là một đối tác quan trọng về kinh tế. Ngoài ra, việc Mỹ phát triển hơn nữa quan hệ kinh tế với Việt Nam cũng sẽ thúc đẩy quá trình phát triển nền kinh tế thị trường ở đây. Điều này phù hợp với chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường và mở rộng các giá trị tự do, dân chủ của Mỹ trên toàn cầu. Về quân sự, hợp tác giữa hai quốc gia trên lĩnh vực này vẫn còn tương đối mới mẻ và dè dặt. Nhưng cũng chính vì thế tiềm năng phát triển hợp tác giữa hai bên trên lĩnh vực này trong tương lai là rất to lớn. Thúc đẩy hợp tác quân sự sẽ mang lại cho cả hai nước những lợi ích trước mắt cũng như lâu dài, đặc biệt là trong việc đối phó với những bất trắc tiềm tàng về an ninh ở khu vực mà hai bên cùng quan tâm. Việc phát triển hợp tác quân sự cũng mang lại thêm một rường cột trong quan hệ hai nước, làm cho quan hệ hai nước trở nên toàn diện và vững chắc hơn. Qua phân tích trên, chúng ta có thể thấy quan hệ Việt Mỹ đang đứng trước những cơ hội mới để phát triển mạnh mẽ và toàn diện hơn nữa, bao gồm cả ba lĩnh vực: chính trị, kinh tế và quân sự. Mục tiêu mà hai bên đặt ra và cần vươn tới trong tương lai gần là xây dựng quan hệ đối tác mang tính xây dựng hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên nền tảng rộng lớn, ổn định và hiệu quả giữa hai nước. Quan hệ hai nước Việt - Mỹ đã từng trải qua những trang đen tối vì sự đưa đẩy bởi "định mệnh" khách quan của lịch sử. Giờ đây, khi "lựa chọn" chủ quan thay thế "định mệnh" khách quan quyết định quan hệ song phương, hi vọng quan hệ Việt-Mỹ sẽ có cơ hội phát triển mạnh mẽ và toàn diện hơn nữa và bước vào một chương mới tươi sáng hơn. Điều này không hề khó khăn, bởi "lựa chọn" nằm ngay trong tay hai nước chúng ta.
|
Wednesday, April 29, 2009
Việt Nam tái khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa
Ít ra là phải như vậy chứ! Theo tin của VOA News Online thì phát ngôn viên Lê Dũng đã tái khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đây là chi tiết của bản tin
| 29/04/2009 |
![]() |
| Ông Lê Dũng, người phát ngôn Bộ ngoại giao Việt Nam |
Hôm 28 tháng 4, người phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, bà Khương Du, nói rằng hành động bổ nhiệm người đứng đầu huyện Hoàng Sa của Việt Nam là 'bất hợp pháp và không có hiệu lực'.
Người phát ngôn này nói thêm rằng Trung Quốc có chủ quyền bất khả tranh biện đối với quần đảo Tây Sa và vùng biển xung quanh.
Khi hải quân Trung Quốc vươn ra đại dương
Đọc bài báo "Khi hải Quân Trung Quốc vươn ra đại dương" cũng đáng làm chúng ta suy ngẫm
| Khi hải quân Trung Quốc vươn ra đại dương | ||||||
| 29/04/2009 09:40 (GMT + 7) | ||||||
| (TuanVietNam)- Hải quân Trung Quốc vừa kỷ niệm 60 năm ngày thành lập vào ngày 23-4. Tại Thanh Đảo - thành phố cảng nổi tiếng về bia và căn cứ hải quân - lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, các công dân nước này đã có dịp chiêm ngưỡng một trong 10 chiếc tàu ngầm nguyên tử của Đại lục. | ||||||
| Cho dù không phải là loại tân kỳ nhất, nhưng 10 chiếc tàu ngầm này có chứa đầu đạn hạt nhân và đủ để vươn tới bờ biển Hoa Kỳ, bên kia bờ Thái Bình Dương. Cũng như những năm gần đây, Bắc Kinh chú tâm phát triển năng động về quân sự: Trong năm 2009, khoản chi cho quân sự là 70,36 tỷ USD, tăng 14,9% so với năm ngoái. Đáng chú ý là hiện tại, binh chủng hải quân - được coi là “cánh tay và thanh gươm” nối dài của đất nước – đang là tâm điểm trong sự phát triển quân sự Trung Quốc.
Lý do khá dễ hiểu. Trong những giai đoạn rối ren nhất của lịch sử cận đại Trung Quốc (thập niên 50-60 thế kỷ trước), quốc gia này đã từng đụng độ trên đất liền với hầu như tất cả các nước láng giềng và do đó, sức mạnh quân sự trên bộ của Đại lục đã được gia tăng đến mức, với nhiều triệu binh lính, quân đội Trung Quốc đã gần như sụp đổ vì trọng lượng của chính nó. Chỉ thiếu chút nữa mà những loạn lạc thời “Văn cách” (Đại cách mạng văn hóa) đã có thể biến những đụng độ biên giới giữa Trung Quốc và Liên Xô trở thành một chiến tranh nguyên tử. Với Ấn Độ, tại khu vực Tây Tạng, Đại lục xác định cho mình trạng thái đối đầu quân sự trong thời gian dài. Khởi đầu từ những năm 80 thế kỷ trước, thời kỳ cải tổ, bình thường hóa, củng cố về xã hội và chính trị đã làm thay đổi cả học thuyết về quân sự của Trung Quốc. Cùng với sự gia tăng của nền kinh tế hùng hậu, Trung Quốc càng hướng ra thế giới ở mức độ cao hơn, đồng thời cũng phụ thuộc nhiều hơn vào thế giới. Càng phát triển kinh tế, càng khao khát mở rộng quân sự Không có một cường quốc toàn cầu nào lại phụ thuộc nhiều vào thế giới như Trung Quốc! Những thị trường nguyên liệu và năng lượng ở vùng Cận Đông, châu Phi và Mỹ Latin đều cách xa nước này nhiều ngàn cây số. Còn các thị trường tiêu thụ hàng hóa của Trung Quốc, thì lại giăng mắc khắp thế giới. Trong vùng, Trung Quốc cũng cần sự hiện diện của hải quân vì một nguyên nhân nhãn tiền: Trong khi đụng độ trên bộ đã giảm, nước này lại lao vào tranh giành chủ quyền những quần đảo trên biển Nam Trung Quốc (tức Biển Đông) - nơi tiềm ẩn các mỏ dầu - với 5 quốc gia khác trong khu vực (trong số đó, đáng kể là Việt Nam, Philippines và Malaysia). Ấy là còn chưa nói đến việc Đại lục cần phô diễn sức mạnh quân sự đối với Đài Loan, mảnh đất mà Bắc Kinh vẫn coi là một tỉnh của mình. Trung Quốc chưa có những cứ điểm tại nước ngoài theo nghĩa truyền thống của từ này, do đó, dễ hiểu là Trung Nam Hải cần phát triển hải quân như một sự đảm bảo quan trọng cho những yếu tố phụ thuộc nước ngoài trong nền an ninh quốc gia. Hải quân Trung Quốc – mạnh và yếu Các cường quốc “kinh điển” về hải quân như Anh, Hoa Kỳ, Pháp… đều biết rằng, quá trình phát triển hải quân phải kéo dài nhiều thập kỷ, thậm chí, nhiều thế kỷ. Trung Quốc vẫn mới chỉ chập chững những bước đầu: Cho dù là cường quốc kinh tế đứng thứ 2-3 trên thế giới, nhưng hải quân nước này cũng chưa lọt được vào Top 10. Có điều, định chế nhà nước, sự lãnh đạo tập trung trên nguyên tắc “bàn tay thép” của Đại lục khiến Trung Quốc có điều kiện tốt để phát triển quân đội. Bắc Kinh không phải đối mặt với những rào cản trong hoạt động của các nền dân chủ phương Tây, như công luận, các định chế dân chủ, sự can thiệp của các chính đảng và các tổ chức dân sự, những tranh luận thực sự trong Quốc hội về vấn đề ngân sách, hoặc sự trong sạch của các cuộc đấu thầu. Tuy nhiên, những khoản chi cho quân sự, ở dạng công khai hay “âm thầm”, cũng chưa đạt 1/6 mức chi của Hoa Kỳ.
Dầu vậy, sẽ là sai lầm lớn nếu coi thường sức mạnh của hải quân Trung Quốc, vì chính sách phát triển của Bắc Kinh cũng phản ánh một trong những giá trị lớn nhất của nền văn minh Hoa Hạ (đồng thời, cũng là triết lý lạc hậu của xứ sở này): khả năng du nhập những phát minh, sáng chế của thế giới. Hơn nửa triệu học sinh Trung Quốc du học trên khắp thế giới, vài trăm ngàn nhà khoa học sống tại nước ngoài, thu thập tất cả những môn khoa học có thể học hỏi được. Trung Quốc nghiên cứu, sao chép và tiếp tục phát triển những công cụ tối tân nhất của khoa học quân sự Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Nga… Năm 2006, Tel Aviv sững sờ khi nhận ra: Ngay trước bờ biển Lebanon, một trong số những tàu chiến tối tân bậc nhất của Israel đã bị các chiến binh Hezbollah tấn công bởi 2 tên lửa hành trình loại C-801 (được nhập từ Trung Quốc qua đường Iran, và là bản sao của loại tên lửa hành trình Exocet của Pháp, từng khiến hải quân Anh bị bất ngờ trong cuộc chiến Falkland/Malvinas), và một hỏa tiễn liên lục địa loại C-701 (điều khiển bằng quang điện tử). Trong cuộc đụng độ này, chiếc tàu chiến của Israel hầu như bị hủy diệt! Các chuyên gia cho rằng trong sự phát triển của kỹ thuật quân sự Trung Quốc, với việc kết hợp một cách khác thường những phương tiện quân sự của phương Tây và bổ sung thêm những yếu tố mới, Bắc Kinh sẽ tạo nên những khả năng vô cùng đáng sợ. Với tất cả những điều này, hiện tại, hải quân Trung Quốc đa phần mới chỉ kiểm soát được dải gần bờ biển (cách bờ vài trăm cây số). Hoa Kỳ, cường quốc hải quân mạnh nhất toàn cầu, cùng một lúc có thể huy động đến bất cứ điểm nào trên thế giới một lực lượng hải quân khổng lồ (gồm các tàu thủy, tàu hệ thống có hệ thống chống tên lửa, tàu hậu cần…, tập trung quanh 6 hàng không mẫu hạm). Tham vọng Một câu hỏi được đặt ra: Đến bao giờ Trung Quốc mới gia nhập CLB các quốc gia tự thiết kế và xây dựng được hàng không mẫu hạm (hiện tại, gồm Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Ý và Tây Ban Nha), được coi là sự tổng hợp của những công nghệ đỉnh cao?
Có thể giả thiết rằng trong thời gian rất gần, Bắc Kinh đang chuẩn bị công bố kế hoạch xây dựng chiếc tàu sân bay đầu tiên, mà các quan sát viên cho rằng sẽ được dùng, trước hết, để đảm bảo an ninh những tuyến đường vận chuyển năng lượng ở vùng biển Nam Trung Hoa. Điều này cũng có thể suy ra từ tuyên bố của người đứng đầu binh chủng Hải quân Trung Quốc, Đô đốc Ngô Thắng Lợi, trong tuyên bố nhân 60 năm thành lập ngành. Vị tướng này cho biết Trung Quốc đang ráo riết hiện đại hóa và kiện toàn “tính chiến đấu” của hải quân vì hầu hết các mối đe dọa đối với chủ quyền và an ninh quốc gia nước này là đến từ phía biển. Cụ thể, Bắc Kinh đặt mục tiêu có thêm những tên lửa tầm xa chính xác và hiệu quả hơn, những tàu ngầm, thủy lôi tối tân và khó phát hiện hơn. Dù vị Tư lệnh Hải quân không nói ra, nhưng giới bình luận quốc tế đồng tình với nhau ở một điểm: Trung Quốc rất cần một hàng không mẫu hạm, bởi trong một cuộc chiến giả định với Đài Loan, chắc chắn nước này sẽ phải đương đầu với lực lượng hải quân hùng hậu của Hoa Kỳ. Ban lãnh đạo Trung Hoa nhấn mạnh rằng Bắc Kinh sử dụng sự bành trướng quyền lực trên biển như một công cụ để tạo dựng sự ổn định, chứ không phải để gây hấn. Để chứng tỏ điều này, trong khuôn khổ chiến dịch hải quân quốc tế có quay mô lớn đầu tiên vào tháng 12/2008, Trung Quốc đã gửi một đội tàu nhỏ tới vịnh Aden để tham gia chiến đấu với hải tặc ngoài khơi Somalia (đầu tháng 4 năm nay, đội tàu thứ hai cũng đã được cử đi). Thêm vào đó, cuộc biểu dương lực lượng mang tính phô diễn trong dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập hải quân Trung Quốc cũng cho thấy: Bắc Kinh đang chuẩn bị một cách không giấu giếm cho sự bá quyền trên biển, ít nhất và trước tiên là trong khu vực. Đây cũng là điều phù hợp với quan niệm về an ninh của Trung Quốc: Cho dù chưa bao giờ có được vị thế vững vàng và ít bị đe dọa về an ninh như hiện tại, nhưng Bắc Kinh vẫn coi những quốc gia có liên quan - đặc biệt là các nước láng giềng trong vùng Đông Nam Á - là "những yếu tố chính đe dọa an ninh Trung Quốc". Xét từ góc độ ấy, trên cương vị một cường quốc mới trên biển, Trung Quốc sẽ là một yếu tố đáng kể và không thể bỏ qua cho an ninh thế giới và khu vực!
|
Monday, April 27, 2009
Sau ngày 30 tháng 4
Sunday, April 26, 2009
34 năm sau: họ là ai?
Lão Gà Tre
Ba mươi bốn năm (34) so với chiều dài lịch sử của một triều đại thời xưa thì ngắn, nhưng với một đời người thì dài lắm, nhất là đối với những ai quan tâm đến thời cuộc, đến vận mệnh khổ đau của dân tộc Việt Nam thì nó lại càng dài hơn.
Ba mươi bốn năm trôi qua quả thật như một giấc mơ hãi hùng! Máu, nước mắt, khổ lụy, nghiệt ngã vẫn còn đây! Những cuộc vượt thoát vô tiền khoáng hậu của người Việt trốn chạy cộng sản – mà cả thế giới đều biết – vẫn còn ghi đậm trong lịch sử nhân loại. Riêng đối với người Việt tị nạn, làm sao có thể quên được những ngày tháng hãi hùng ấy. Có lẽ nó sẽ nằm sâu, nằm mãi trong tiềm thức của mỗi chúng ta.
Ba mươi bốn năm rồi mà người đi vẫn đi, không còn đi được bằng cách vượt biển, vượt biên thì cũng tìm cơ hội khác để đi: ODP (đoàn tụ), lấy vợ, lấy chồng, du học, chạy chọt làm sao để rời xa cái gọi là “thiên đường xã hội chủ nghĩa”. Chính ngay những người theo cộng sản cả đời, những người được hưởng ơn mưa móc như núi, nhưng nếu có cơ hội ra đi là họ đi ngay để trốn khỏi cái “thiên đường” quái đản ấy.
Chừng đó thôi cũng đủ để chứng minh một cách hùng hồn rằng con người không thể sống dưới chế độ cộng sản. Khổ thay, Việt Nam là một trong bốn nước cộng sản còn lại mà loay hoay mãi vẫn không thể nào thoát khỏi cái thiên đường mù đầy oan nghiệt ấy! Nếu miền Nam Việt Nam không bị bán đứng vào tay cộng sản vào 1975, thì chắc chắn, sau sự sụp đổ của khối cộng sản Ðông Âu và Nga Sô, toàn cõi Việt Nam bây giờ đã là một xứ tự do, giàu mạnh như bao nhiêu quốc gia văn minh khác. Ít ra cũng bằng Nam Hàn với nền văn minh nhân bản như ngày nay.
Khỏi cần phải tố cáo hay chê bai chế độ;
khỏi cần luận tội tập đoàn cộng sản lãnh đạo đất nước đã tàn phá quê hương như thế nào sau 34 năm thống nhất hai miền Nam-Bắc;
khỏi cần so sánh với các nước láng giềng và các quốc gia khác trên thế giới – cũng bằng ấy thời gian đã vươn lên như đi hia bảy dặm – mà cứ nhìn vào xã hội tan nát, luân thường đạo lý tiêu tan, thị trường cung cầu quái dị, con người chạy theo vật chất một cách điên cuồng là biết ngay.
Khỏi cần phải nghe những luận điệu vì cảm tính của một số người về thăm quê hương rồi trở lại “hồ hỡi” ca ngợi:
“Ðất nước ngày nay khá rồi, thôn quê đã có điện nước, người dân có quyền đi lại và có quyền chửi luôn cán bộ cộng sản”.
Thế sao? Chỉ có ba bóng đèn thắp sáng trong vài túp lều thô sơ, nghèo khổ, lạc hậu; chỉ có vài người vụt miệng chửi đổng cán bộ là đã có tự do, là đất nước khá rồi hay sao?
Trong khi đó đa số các quốc gia tự do trên thế giới đã và đang tiến vào một đời sống sung túc và văn minh nhất của con người lại không đem ra so sánh!
Ðúng! Việt Nam đã có tự do, nhưng đó là thứ tự do của giai cấp cai trị được “tự do” ăn trên ngồi trước, “tự do” trấn lột quần chúng để thụ hưởng những xa hoa, phù phiếm trên nỗi thống khổ của toàn dân, vốn đã quá khổ trong một thế kỷ qua vì chiến tranh bom đạn. Phải, Tự là “tự” họ quyết định sự sống của người khác bằng họng súng và Do là “do” họ tạo nên những thủ đoạn đê hèn để áp đảo người dân, tước đoạt mọi thứ quyền tự do căn bản của con người.
Ðúng! Có tiến bộ, nhưng là thứ tiến bộ lừa đảo, mưu mô xảo quyệt cướp giựt để đàn áp mọi sự chống đối của người dân – khao khát hít thở không khí tự do – đã và đang đứng lên đòi tự do tôn giáo, tự do được sống làm người.
Nói tới chính trị là phải chứng minh bằng dữ kiện, bằng đường lối cai trị của một chế độ đang điều hành guồng máy quốc gia. Chế độ ấy như thế nào thì chúng ta đã thừa biết, khỏi cần nhắc lại làm gì cho tốn giấy tốn mực. Nếu họ thật tâm lo lắng cho quyền lợi của quê hương đất nước, cho người dân được hưởng những quyền tối thiểu của con người thì 34 năm qua đất nước đã khá lên rồi. Nếu họ có thật tâm xây dựng đất nước thì tại sao chúng ta phải bỏ nước ra đi, phải tiếp tục ra đi cho đến ngày nay, và phải chấp nhận sống chết trong đường tơ kẽ tóc để tìm tự do? Vì thế, những luận điệu nông cạn thiếu suy nghĩ ấy chỉ là mớ lý luận có lợi cho cục tuyên vận của CSVN.
Vậy, họ là ai?
Họ là những thành phần ích kỷ, chỉ biết sống cho mình, miễn sao có một đời sống sung túc trên xứ người là đã thỏa mãn. Còn quê nhà, bà con làng xóm có sống như thời kỳ “đồ đá” thì cũng mặc. Miễn sao lâu lâu ta về thăm cái xứ lạc hậu ấy để thí cho một vài đồng đô, vừa được tiếng, vừa được những người thọ ơn ca tụng cho thỏa cái tự ái vị kỷ của mình.
Họ là ai?
Họ là thành phần cán bộ được cộng sản cấy theo đoàn người tỵ nạn, nằm vùng khắp mọi nơi, đóng vai quốc gia trá hình, chờ cơ hội là bò dậy tấn công vào hàng ngũ người Việt Quốc Gia, vốn đã chia rẽ trầm trọng do bản chất vị kỷ, phi chính trị của những người sinh hoạt ngoài công cộng.
Họ có mặt sinh hoạt nội gian, nội gián trong mọi tổ chức, đảng phái chính trị. Mục tiêu chính của họ là phá nát các tổ chức chính trị chống cộng, bày mưu, chước kế đâm bên này, thọc bên kia, gây mâu thuẫn nội bộ, tung những nguồn tin giật gân ra ngoài làm cho quần chúng mất niềm tin… Mục tiêu của họ chỉ có thế thôi. Khi đã thành công vì phá được các tổ chức chính trị đi đến tình trạng gần như bị tê liệt thì họ đi đâu và làm gì? Dĩ nhiên là họ đã lặn thật kỹ, viện cớ chán ngán thế sự, lui về ngồi rung đùi đếm tiền và hưởng nhàn, ôm theo một đống tiền, gọi là công tác phí trọn đời.
Họ là ai?
Thà rằng tỏ rõ thái độ đầu hàng như một ông tướng, ông nhạc sĩ “nhớn” đã quay về với đảng và nhà nước, ăn năn sám hối để được hưởng “lộc” cuối đời. Dù xú danh muôn thuở, người đời nguyền rủa, nhưng ít ra họ đã biểu lộ thái độ chính trị dứt khoát theo cộng để người ta phân biệt lằn ranh biên giới rõ ràng giữa họ và chúng ta. Còn hơn những tên nằm vùng sống với nhiều mặt nạ khác nhau để quậy phá các tổ chức chính trị, hội đoàn, cộng đồng; thậm chí trong giới cầm bút cũng không thiếu những tên tự xưng là người cầm bút, nhưng bất xứng, lại háo danh, hám lợi. Chính họ là một thứ bồi bút không hơn không kém, viết lách theo đơn đặt hàng, núp bóng trong tổ chức Văn Bút, để “cố đấm ăn xôi” một cách quyết liệt với mục đích xé nát tổ chức nhằm xóa bỏ dấu tích còn lại của người Việt quốc gia trên diễn đàn quốc tế. Họ cố đấm dù không ăn được xôi đến độ một cách phi lý, phi văn hóa mà bất cứ ai có chút suy nghĩ cũng phải nghi ngờ chắc chắn đàng sau họ phải có một sức đẩy nào đó. Họ chính là “những kẻ vô lại may mắn” như nhà văn Phạm Ngũ Yên đã đặt tên trong một loạt bài tố cáo đích danh những tên vô lại này trước công luận vào năm 2008.
Họ là ai?
Họ cũng là những người vượt biển vượt biên ra đi tìm tự do, nhưng sống “với vật chất và vì vật chất” nên theo thời gian, thời thế thế thời phải thế. Họ đã quay lưng, cúi đầu phục vụ trực tiếp, hay gián tiếp cho cục tuyên vận CSVN, sẵn sàng đâm vào vết thương lòng của tập thể người Việt tỵ nạn để kiếm lợi.
Họ là ai?
Họ là những nhà “làm chính trị” theo kiểu lập dị, với mớ lý luận thiên tả, ưa bềnh bồng, không định hướng như con thuyền không bến. Họ sống bên này với thế giới tự do văn minh, phủ phê vật chất nhưng luôn luôn mơ mộng ở một “thiên đường” khác: thiên đường của hoang tưởng, thiên đường của không tưởng. Nhưng nếu họ được sống thực trong cái “thiên đường” ấy, chắc chắn là họ phải lên cơn điên và trở thành người điên sớm nhất. Tiếc thay, khi va chạm với thực tế trong cái xã hội tha hóa ấy thì hối hận cũng đã muộn màng!
Họ là ai?
Họ là thành phần làm chính trị theo kiểu salon, thích đọc diễn văn “xa đấm, gần đâm”. Nghĩa là ở xa thì hô hào “Ðấm” đá, nhưng ở gần thì “Ðâm” đầu bỏ chạy. Họ cứ tưởng sẽ hòa hợp được với cộng sản bằng một mớ kiến thức về kỹ thuật mà họ học được từ hải ngoại. Về nước họ sẽ được trọng dụng và đảng cộng sản sẽ nghe theo họ. Ðúng là hoang tưởng!
Họ là ai?
Họ là những thương gia, với quan niệm “chỉ làm thương mại, không làm chính trị”. Giấc mơ của họ là giấc mơ của những “đại gia” thời mới, được nhà nước ca tụng và tâng bốc trên tận mây xanh. Trước khi đặt vấn đề đầu tiên là “tiền đâu”; dĩ nhiên là họ phải chạy theo giai cấp thống trị, làm theo lệnh của bạo quyền để kiếm lợi. Vì vậy, với thành phần chỉ biết mua bán để kiếm lợi thì trách họ làm gì cho bận tâm. Với họ. quê hương dân tộc không bằng một quả chanh, khi vắt hết nước là liệng vỏ ngay. Gần đây, nhiều “đại gia” đổ tiền về làm ăn vì được đảng nâng bi ca tụng hết mình, nhưng chỉ một thời gian sau thì những đại gia này đều bị trấn lột sạch sành sanh… kêu Trời không thấu! Cái giá “không làm chính trị, chỉ biết làm ăn” họ đã phải trả một cách cay đắng.
Lời kết:
May thay, dân tộc Việt trường tồn qua mấy ngàn năm nay cũng nhờ vào hồn thiêng tổ tiên phù trợ, nên thành phần “Họ Là Ai” nói trên chỉ là thiểu số ung nhọt, sâu mọt trong đại gia đình dân tộc Việt mà thời nào cũng có trong lịch sử. Còn đại đa số những người bỏ nước ra đi tìm tự do thật sự từ năm 1975 đến nay, vẫn một lòng, một chí hướng, đó là giải thể chế độ cộng sản để đưa đất nước tiến lên trong tự do dân chủ. Ngày nào còn bóng dáng cộng sản là còn đấu tranh đòi quyền sống cho đồng bào ruột thịt đang chịu đựng trăm đắng ngàn cay ở quê nhà.
Ba mươi bốn năm rồi, mặc dù những hiện tượng chia rẽ trong hàng ngũ của chúng ta đã xảy ra vì địch và vì chính chúng ta tạo nên cũng có, nhưng những chiến sĩ can trường đã và đang âm thầm hay công khai đấu đầu với CSVN ở khắp mọi nơi vẫn kiên trì, bất khuất, vẫn một lòng với đại cuộc đấu tranh chống cộng. Ở quốc nội, các vị chân tu của các tôn giáo, các nhà đấu tranh cho dân chủ vẫn không sờn lòng đứng lên đòi quyền sống, quyền hành đạo, quyền được phát biểu tư tưởng, mặc dù bị bắt bớ giam cầm dã man trong suốt 34 năm qua. Ở hải ngoại, vẫn những chiến sĩ xung trận ngăn chặn mọi sự xâm nhập của CSVN trên mọi chiến tuyến. Xin cầu chúc “chân cứng đá mềm” tới những tấm lòng bất khuất mà thời nào họ cũng đứng lên trong dòng sinh mệnh của dân tộc Việt.
Là những người may mắn thoát khỏi nanh vuốt của tập đoàn cộng sản, chúng ta không thể nào ngồi yên để hưởng thụ, mà đã đến lúc phải góp sức vào công cuộc chung, tiếp tay với những anh hùng đang xả thân vì nước bằng cách vận động, góp tinh thần – dù chỉ là lời nói – cho quí vị lãnh đạo tinh thần, những nhà đấu tranh cho dân chủ ở trong nước đang ngày đêm gian khổ, sống chết trước sự đàn áp dã man của bạo quyền cộng sản.
Có như thế thì chúng ta mới không phụ lòng những anh hùng liệt sĩ đã nằm xuống cho chính chúng ta được sống. Có như thế thì mới không hổ thẹn với chính lương tâm mình mỗi khi nhìn lại chặng đường lưu lạc gian khổ suốt ba mươi bốn năm qua: “Ta đã làm được gì cho quê hương dân tộc”? Có như thế mới làm gương cho thế hệ trẻ trong việc gìn giữ nguồn gốc và tinh thần trách nhiệm đối với sự sinh tồn của dân tộc. Một Brian Doan, một Madison Nguyễn, một John Nguyễn… cũng chỉ là một thiểu số nhỏ bé, bé hơn cả những hòn sỏi khi ném xuống mặt hồ yên lặng, vẫn chưa đủ sức làm gợn sóng lăn tăn. Thế nhưng, mặt khác của vấn đề là sự tỉnh thức của chúng ta, của tập thể người Việt không cộng sản, đó là đoàn kết và cố gắng chăm sóc cho thế hệ nối tiếp gìn giữ truyền thống giáo dục gia đình.
Nhân mùa quốc nạn, xin được thắp nén hương lòng gửi đến hồn thiêng của các anh linh tử sĩ, đồng bào vượt biển, vượt biên đã anh dũng nằm xuống cho đất mẹ sớm nở hoa tự do. Ðồng thời cũng xin được nguyện cầu bình an cho những anh hùng dân tộc đang ngày đêm chiến đấu một mất một còn với CSVN trên mọi mặt trận.









