Translate

Wednesday, November 17, 2010

Vận động đổi tên biển Nam Trung Hoa thành Đông Nam Á

Cuộc vận động đổi tên biển Nam Trung Hoa hay Nam Hải thành biển Đông Nam Á do Nguyễn Thái Học Foundation phát động, thu được gần mười nghìn chữ ký người Việt trong và ngoài nước.

RFA graphic

Bản đồ khu vực tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc trong Biển Đông.


Với chủ đề “Biển Đông: Hợp Tác Vì An Ninh Và Phát Triển Trong Khu Vực”, Việt Nam tổ chức buổi hội thảo quốc tế lần thứ nhì về biển Đông trong hai ngày 11 và 12 tháng này.

Đối với người Việt Nam trong nước cũng như trên khắp thế giới, biển Đông, mà trên bản đồ ghi là biển Nam Trung Hoa hay biển Nam Hải, là nơi tàu thuyền Việt Nam được quyền đi lại, ngư dân Việt được quyền đánh bắt cá trong hải phận của mình, nhất là khu vực gần hai vùng tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa.

Thế nhưng từ mấy năm trở lại đây, Trung Quốc thường xuyên gây khó khăn, cấm đoán, tịch thu tàu bè cũng như bắt giữ ngư phủ Việt Nam vì cho là xâm phạm hải phận của họ. Đó là chưa kể những khoản thời gian trong năm mà Trung Quốc ra lệnh cấm đánh bắt cá tại một số khu vực trên biển Đông.

Đó cũng là lý do khiến Nguyễn Thái Học Foundation, một tổ chức của người Việt ở Hoa Kỳ, khởi sự những cuộc vận động của họ liên quan đến chủ quyền của Việt Nam trên biển Nam Hải, còn gọi là biển Nam Trung Hoa.

Ông Lý Kinh Dương, chủ tịch hội đồng quản trị, cũng là một trong những người sáng lập tổ chức, cho biết:

"Nguyễn Thái Học Foundation được thành lập năm 2005, có mục đích duy trì và phát huy tinh thần Nguyễn Thái Học, một nhà cách mạng của Việt Nam. Mục đích thứ hai là góp phần đào tạo những thế hệ mang tinh thần và trách nhiệm đối với quốc gia dân tộc. Chúng tôi hoạt động về mặt văn hóa, giáo dục và xã hội và cả những vấn đề liên quan đến Việt Nam."

Vận động của Nguyễn Thái Học Foundation

Tháng Hai năm nay, Nguyễn Thái Học Foundation phát khởi cuộc vận động yêu cầu NGS tức National Geographic Society của Hoa Kỳ điều chỉnh một chi tiết trên bản đồ:
"Bởi vì bản đồ của họ về Đông Nam Á và biển Đông thì trên vùng Hoàng Sa họ ghi chú quần đảo này là của Trung Hoa mà Việt Nam đang tranh chấp. Đó là lý do mà Nguyễn Thái Học Foundation đưa ra cuộc vận động hồi tháng Hai vừa rồi."

Mục tiêu của Nguyễn Thái Học Foundation khi đó là mười nghìn chữ ký, và chỉ trong khoảng mười ba ngày thì đã có mười nghìn người ủng hộ:

danhca-2-250.jpg
Tàu đánh cá của ngư dân VN. RFA photo
"Khi số người ký tên được khoảng ba nghìn thì bên NGS đã biết và đưa ra hai thông cáo. Thông cáo thứ nhất họ nói đó là sai sót của họ cho nên sẽ nghiên cứu vấn đề bởi đó là thủ tục, phải đưa qua Ủy Ban Bản Đồ của NGS. Đến mấy hôm sau, khi con số chữ ký đã lên đến tám chín nghìn gì đó thì họ ra thông cáo thứ hai, đồng ý bỏ cái ghi chú là đảo này do Trung Quốc chiếm đóng và Việt Nam thì đang tranh chấp. Giờ chúng ta thấy trên bản đồ là họ chỉ ghi chữ Paracel Islands thôi, không ghi chú thích như trước kia nữa."

Tháng Năm 2010, Nguyễn Thái Học Foundation bắt đầu cuộc vận động thứ hai, yêu cầu quốc tế gồm mười một nước Đông Nam Á, Ủy Ban Bản Đồ Đại Dương của Liên Hiệp Quốc và mười Hội Địa Lý trên thế giới trong đó có Hội Địa Lý của Hoa Kỳ mà vừa rồi Nguyễn Thái Học Foundation đã làm cuộc vận động lần thứ nhất, để thay đổi tên gọi từ biển Nam Trung Hoa thành biển Đông Nam Á.

Cô Nguyễn Hoài Nhã Trân, trưởng ban báo chí của Nguyễn Thái Học Foundation, nói đây là cuộc vận động online:

"Đến nay thì đã suýt soát được chín ngàn tám trăm chữ ký. Điều đáng quí là không phải chỉ người Việt trong và ngoài nước mà còn có những người bạn ngoại quốc ở các nước khác. Chúng tôi thấy từ Âu Châu như Pháp, Anh, rồi những nước xa xôi như New Zealand và Australia. Có những người từ bên Nhật, ngay cả Na Uy, Thụy Điển và những người ngoại quốc ở Mỹ hay Canada, hoặc là cả người Spanish chứ không phải chỉ người Việt Nam mà thôi.

Nguyễn Thái Học Foundation được thành lập năm 2005, hoạt động về mặt văn hóa, giáo dục và xã hội và cả những vấn đề liên quan đến Việt Nam.

Ông Lý Kinh Dương, CT HĐQT

Trong phần góp ý thì có những ngừơi nói phải làm như thế nào như thế nào để lấy nhiều chữ ký hơn, nhưng mà Nguyễn Thái Học Foundation chí đơn phương đưa lên Internet chứ không có phương thức nào khác hơn. Thành ra những số chữ ký đó là thật lòng người ta ủng hộ, người ta ký thì mới được như thế.

Ý kiến của mọi ngừơi đối với cuộc vận động đổi tên biển Nam Trung Hoa thành biển Đông Nam Á ra sao? Từ California, Anthony Nguyễn, đã ký vào thỉnh nguyện thư của Nguyễn Thái Học Foundation từ những ngày đầu, nói rằng với anh đây là việc làm có ý nghĩa:

"Tôi thấy vùng biển đó là vùng biển của Đông Nam Á chứ không phải vùng biển của nước Trung Hoa, cho nên đổi là đúng chứ không có gì sai hết, nó hợp lý nên tôi rất là ủng hộ.
Dĩ nhiên nếu đổi như vậy thì về biên giới về lãnh thổ và lãnh hải nó cũng rõ ràng hơn, vấn đề chủ quyền vấn để biển của Việt Nam được rõ ràng hơn, nứơc Trung Hoa không thể nói vùng biển đó là của Trung Hoa được. Tôi nghĩ nếu đọc bản tin của Nguyễn Thái Học Foundation trên Internet thì hầu như ai nấy cũng ủng hộ hết. Hy vọng ở Việt Nam nếu họ có thể đọc hay nghe được những tin tức về vấn đề này và ủng hộ thì đó là điều đáng mừng."

Ủy viên ngoại vụ của Liên Hội Người Việt Canada, ông Lê Duy Cấn:

"Tôi thấy tên South China Sea không còn thích hợp nữa. Hồi xưa ngừơi ta đặt tên đó thì ngừơi ta chỉ để ý Tàu là nứơc lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á, mà thực ra bây giờ biển gọi là South China Sea thì được tất cả các nước chung quanh đó dùng, thành ra đặt tên biển Đông Nam Á tức là South East Asia Sea thì nó thích hợp hơn.

Khi tôi ký vào thỉnh nguyện thơ đó thì tôi cũng hy vọng tất cả người Việt chúng ta đồng ý, và tất cả những nước chung quanh như Malasia, Indonesia, Philippines cũng ủng hộ mình trong chuyện đó. Điểm thứ hai là nếu thế giới đồng ý với sự đổi tên đó thì Trung Quốc không thể nói đó là vùng ảnh hưởng của họ được."

Đồng quan điểm với ông Lê Duy Cấn, cô Hà Quyên, giáo viên trường Việt ngữ Tây Sơn ở Ottawa:

"Theo Hà Quyên hiểu, xưa nay có tên biển Nam Hải là họ so với phía Nam của Trung Quốc. Cái tên Nam Trung Quốc là dựa vào địa thế Trung Quốc là nước lớn, thành thử người ta cứ nhìn vào cái gì dễ nhận biết nhất người ta đặt tên đó thôi. Điều đó làm cho chính Trung Quốc lợi dụng, coi như đó là sở hữu. Trung Quốc đã lợi dụng cái tên đó và thế lớn của đất nước họ để uy hiếp những nước nhỏ bé hơn ở phía dưới. Những vấn đề ngư dân của mình hay là họ không cho ngư dân của mình đánh cá như lúc trước là quá đáng, không thể chấp nhận được."

Bạn trẻ trong nước nghĩ gì?

Thục, một bản trẻ ở Việt Nam, biết đến và ký vào thư vận động của Nguyễn Thái Học Foundation qua Internet, nêu trường hợp Ấn Độ Dương và biển Nhật Bản để chứng minh rằng:

bando1b-250.jpg
Bản đồ do NGS phát hành với phần khoanh vòng màu đen là Hoàng Sa được chú thích là của Trung Quốc. Photo courtesy of nationalgeographic.com
"Từ trước đến nay người ta vẫn thường gọi Ấn Độ Dương và biển Nhật Bản, nhưng cũng đâu có nghĩa đó là biển của Ấn Độ hay của Nhật Bản. Nhưng người Trung Hoa với âm mưu bành trướng, muốn lấn đất lấn biển của người khác, lại lộng giả thành chân, coi biển đó thuộc chủ quyền của mình. Nếu tên biển được đổi, thì nó phá vỡ cái âm mưu lộng giả thành chân đó của Trung Quốc.

Cái thứ hai, làm được việc này là bảo đảm quyền lợi của cách quốc gia Đông Nam Á trên biển Đông Nam Á, bảo vệ quyền khai thác thủy sản của các nước trong vùng và quyền tự do hàng hải của tất cả tàu bè trên thế giới."

Được hỏi những ngừơi trẻ trong nước, thí dụ bạn bè của cô, có biết và có ủng hộ cuộc vận động này không, Thục đáp:

"Em đã gởi thông tin này cho nhiều người và có hai ba người bạn của em ủng hộ và đã tham gia ký tên. Nhưng mà một số người khác thì tỏ ra như không biết gì, em thật sự thất vọng với thái độ đó. Em không biết những bạn khác thì sao, tại vì bạn bè của em nó như vậy, nhưng chắc bạn của người khác thì sẽ khác. Cho nên nếu chị hỏi những bạn sinh viên khác thì có cái nhìn đa chiều hơn."

Và bạn sinh viên khác đó là một người ở miền Trung, cô Minh:

"Tôi biết đến Nguyễn Thái Học Foundation vì tôi thường xuyên lên mạng. Tình cờ một lần trên Facebook của người bạn tôi thấy được và đọc được. Tôi thấy họat động này khá là thiết thực nên tôi vào xem. Mục tiêu của họ là năm trăm ngàn chữ ký thì hiện giờ chỉ mới có được chín ngàn tám trăm bảy mươi ba chữ ký, có nghĩa là chưa đầy 2% so với mục tiêu.

Tuy nhiên sắp tới đây họ sẽ đệ trình mười ngàn chữ ký đầu tiên đến mười một nước Đông Nam Á, Ủy Ban Bản Đồ Đại Dương của Liên Hiệp Quốc và Hội Địa Lý của mười quốc gia. Theo tôi việc này sẽ tác động một phần nào đó đến việc có thể đổi tên biển Nam Trung Hoa trở thành biển Đông Nam Á. Mặc dù vậy con đường để mà đạt được mục tiêu có lẽ vẫn còn rất là xa."

Vậy thì chiến dịch vận động đổi tên biển của Nguyễn Thái Học Foundation phải chăng quá đơn phương và quá khó, Minh trả lời một cách gián tiếp:

Người Trung Hoa với âm mưu bành trướng, muốn lấn đất lấn biển của người khác. Nếu tên biển được đổi, thì nó phá vỡ cái âm mưu của Trung Quốc.

Thục, một bạn trẻ trong nước

"Vừa ngày 24 tháng Mười mới đây, tại cuộc họp giữa ASEAN với Hoa Kỳ, tổng thống Philippines là ông Aquino cũng có nói một câu là việc đổi tên biển Nam Trung Hoa trở thành biển Đông Nam Á sẽ góp phần để nói rằng đây không phải biển của Trung Quốc mà là tài sản chung của Trung Quốc và các nước ASEAN."

Minh nói qua lời tuyên bố của nguyên thủ Philippines thì cô hiểu ông Aquino đang đề cập tới DOC, bản thỏa thuận về qui tắc hành xử trên biển Đông, mà Trung Quốc và ASEAN đã ký kết với nhau.

Từ điểm này, người bạn trẻ trong nước khẳng định, rằng cuộc vận động của Nguyễn Thái Học dù còn xa còn khó, vẫn có sức tác động khiến chính phủ và thế giới quan tâm hơn đến vấn đề chủ quyền thực sự trên biển Nam Trung Hoa hiện nay.

Tuesday, November 16, 2010

Trung Quốc đưa tàu tuần tra đến vùng biển tranh chấp Hoa Đông

Theo RFI

Tàu tuần duyên Nhật Bản đi song song với một tàu ngư chính Trung Quốc gần quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư. Ảnh ngày 28/09/2010
Tàu tuần duyên Nhật Bản đi song song với một tàu ngư chính Trung Quốc gần quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư. Ảnh ngày 28/09/2010
Reuters
Thụy My

Tân Hoa Xã hôm nay (16/11) đưa tin, Bắc Kinh đã gởi một tàu ngư chính có trang bị trực thăng đi tuần tra tại vùng biển tranh chấp Đông Hải. Sự kiện này diễn ra trong bối cảnh tình hình Trung – Nhật có vẻ như đã lắng dịu.

Cũng theo Tân Hoa Xã, đây là tàu ngư chính đầu tiên được trang bị trực thăng. Chiếc tàu này đã rời Quảng Châu để đi Đông Hải, chuyến công tác có thể kéo dài 20 ngày. Trước đó Bắc Kinh đã nhiều lần cho tàu đến vùng này, và nhấn mạnh là Trung Quốc có quyền gởi tàu ngư chính đi tuần tra trong khu vực.

Chiếc Ngư Chính 310 có trọng tải 2.580 tấn, chưa phải là tàu lớn nhất của Trung Quốc nhưng là chiếc tàu « nhanh nhất và kỹ thuật hiện đại nhất », theo như lời một viên chức nước này. Còn một quan chức khác thuộc Bộ Ngư nghiệp gọi đây là « một cột mốc quan trọng trong công tác tuần tra nhằm áp dụng luật biển Trung Quốc, vì tàu Ngư Chính 310 có thể giám sát cả hải phận lẫn không phận ». Tân Hoa Xã dẫn lời quan chức này cho biết Bắc Kinh có kế hoạch đóng thêm nhiều tàu mới tương tự.

Xin nhắc lại, hồi tháng 9 Nhật Bản đã bắt giữ thuyền trưởng một tàu cá Trung Quốc sau khi chiếc tàu này đâm vào tàu tuần duyên Nhật ở gần quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư. Người này sau đó đã được thả ra, nhưng vụ đụng độ trên đây đã gây căng thẳng trong quan hệ Nhật – Trung.

Cho đến khi Thủ tướng Nhật Naoto Kan gặp Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào bên lề Diễn đàn Kinh tế châu Á- Thái Bình Dương vào cuối tuần qua, hai bên mới có vẻ như hòa dịu lại. Trước những quan ngại ngày càng tăng về thái độ của Trung Quốc trong khu vực, ông Hồ Cẩm Đào đã hứa hẹn, Bắc Kinh sẽ là một láng giềng tốt.

Hãng thông tấn AFP cho biết thêm, chính quyền Nhật Bản sáng nay đã quyết định tạm trả tự do cho viên chức cơ quan tuần duyên Nhật đã tung lên YouTube đoạn video về vụ tàu cá Trung Quốc đâm vào tàu Nhật trên đây, tuy cảnh sát vẫn tiếp tục cuộc điều tra.

Viên chức 43 tuổi này đã bị tạm giam và thẩm vấn từ nhiều ngày qua. Đoạn video trên vốn chỉ được chiếu cho các lãnh đạo cao cấp và dân biểu xem, cho thấy chiếc tàu cá Trung Quốc có vẻ cố tình đâm vào tàu tuần duyên Nhật. Sau khi bị rò rỉ trên YouTube, cơ quan tuần duyên Nhật Bản đã nhận được hàng trăm lá thư bày tỏ ý kiến.

Monday, November 15, 2010

Tình Báo Bắc Kinh?

TRẦN KHẢI . Việt Báo Chủ Nhật, 11/14/2010, 12:00:00 AM

Tình Báo Bắc Kinh?

Trần Khải
Một câu hỏi nên nêu ra rằng, trong tất cả các biến động chính trị và kinh tế gần đây tại Việt Nam, bàn tay tình báo Bắc Kinh đã nhúng vào các trường hợp nào, và đã can thiệp ở mức độ nào?
Có thể thấy ảnh hưởng kinh tế Trung Quốc trên khắp các nẻo đường Việt Nam. Hàng TQ vào không chỉ là hàng nhaí, hàng giả, hàng dỏm... mà còn tràn ngập cả hàng thật, và cả hàng vào để rồi độI lốt hàng Việt.
Báo Dân Trí, trong một bản tin ngày 17-9-2010 viết:
“...Tận dụng lợi thế về giá cả, thời gian, nhiều cơ sở sản xuất trong nước đã trực tiếp đặt hàng từ nước bạn rồi mang về gắn mác mang thương hiệu của mình.
Đại diện một doanh nghiệp giải thích, vẫn loại mặt hàng ấy, mẫu mã ấy nếu phải đầu tư công nghệ để sản xuất trong nước thì cũng phải nhập nguyên liệu chủ yếu từ Trung Quốc. Như vậy, giá thành thường cao hơn mà lại nặng gánh hơn...”(hết trích)
Nếu hàng đã như thế, câu hỏi nên đẩy thêm rằng Trung Quốc có đưa người vào VN để rồi đội lốt VN hay không? Nếu Nga và Trung Quốc liên tục đưa gián điệp vào Mỹ để nằm sâu, luồn cao, có thể nào TQ bỏ sót vùng đất láng giềng phía nam hay không?
Ngay tới thứ tầm thường như tăm tre, theo báo Tuổi Trẻ ngày 20-7-2010, tăm tre TQ vào VN ào ạt, giá rẻ chỉ bằng 70% tăm nội.
Thậm chí, lĩnh vực xuất khẩu hàng may dệt đầy tự hào của VN, nhưng theo đaì VOA hôm 11-11-2010, “Việt Nam đang nổi lên thành một nhà cung cấp hàng dệt may quan trọng cho thị trường thế giới, tuy nhiên theo giới doanh nghiệp quốc tế thì dệt may Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu thô của Trung Quốc, nên không thể trở thành một đối thủ cạnh tranh của Trung Quốc được...” (hết trích)
Nếu bàn tay TQ đã cắm sâu vào nhiều khía cạnh đời sống dân Việt như thế, tại sao tình báo TQ có thể bỏ lơ việc cài cắm để sẽ ảnh hưởng sâu hơn, và sẽ tới một cơ hội có thể sẽ sáp nhập?
Chúng ta có thể tin như thế. Có thể tin rằng tình báo TQ đã cài cắm, đã luồn vào các cơ hội tại VN để lung lạc, để ảnh hưởng tới các chính sách chính trị và kinh tế tại VN. Tình hình này đặc biệt còn đẩy mạnh hơn kể từ Thế Vận Bắc Kinh 2008, khi TQ nhìn thấy tuổi trẻ VN biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn để gây ý thức về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa, đúng vào thời điểm rước Đuốc Thế Vận tại VN.
Và từ đó, một cách lặng lẽ, những bước đi thầm lặng nhưng vững chắc của TQ tiến vào VN... Lúc đầu không ai thấy hết, vì các quan chức ém tin, vì cán bộ đã há miệng mắc quai, và có thể tin rằng thủ tục bôi trơn đã được thực hiện hậu hĩ. Thế cho nên, phải tới năm 2009 mới bể ra các vụ t1ơi 10 tỉnh Việt Nam đã cho các công ty TQ thuê rừng đặc dụng, rừng đầu nguồn hơn 300,000 hecta... rồi mới bể ra chuyện mời các công ty TQ vào Tây Nguyên để khai thác bô-xit...
Nghĩa là, bước chân TQ ở các chợ lộ liễu dễ thấy, ghe tàu TQ vào vơ vét ở Biển Đông cũng chỉ lộ khi gặp và bắt nạt ngư dân Việt... nhưng làm rừng đầu nguồn và làm mỏ bôxit thì lặng lẽ không ai hay... cho tới ngày Tướng Võ Nguyên Giáp và các nhà trí thức Bắc Hà liên kết lên tiếng. Bản thân Tướng Giáp đã viết ba bức thư để đặt vấn đề an ninh quốc phòng về các dự án Tây Nguyên xuyên tâm đó, nhưng các lãnh đạo CSVN không chịu trả lời. Và các vị trí thức liên tục bị hù dọa, giở trò ly gián, và áp lực đủ thứ.
Nhưng trang Bauxite Việt Nam (boxitvn.wordpress.com) chỉ sinh động đặc biệt về các lý luận sắc bén về pháp lý sau khi Luật Sư Cù Huy Hà Vũ xuất hiện trên này.
Thế là các vấn đề được Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ nêu ra dưới ánh sáng Hiến Pháp, Luật Pháp. Các vấn đề đã được Tiến Sĩ Luật dòng họ Cù Huy đẩy tới những trọng điểm cốt tủy, với lý luận của bậc thầy về luật: kiện Thủ Tướng, yêu cầu xóa bỏ điều 4 Hiến Pháp, đa đảng hay là chết, đề nghị khởi tố Trung tướng công an Vũ Hải Triều, tố công an lục soát nhà Giáo sư Nguyễn Huệ Chi là trái phép, đòi giữ nguyên cách thi hành án tử hình bằng hình thức bắn đối với loại tội nhân phản bội Tổ quốc, kiến nghị xây đài tưởng niệm liệt sĩ hy sinh tại Hoàng Sa-Trường Sa (ghi chú: Hoàng Sa bị mất khi Hải Quân VNCH bị Hải Quân TQ tấn công năm 1974), kiến nghị cấm chiếu bộ phim phản quốc “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long”... và nhiều nữa.
Tất cả sự xuất hiện của trang Bô Xit Việt Nam là vì an nguy của đất nước, vì nỗi lo mất nước. Và Luật Sư Cù Huy Hà Vũ đã xuất hiện đúng lúc để nâng vấn đề với các lý luận phù hợp pháp lý.
Như thế, công an không làm gì được Tướng Giáp, nhưng đã từng xét nhà của GS Nguyễn Huệ Chi, GS Phạm Toàn, đập bể tường nhà của LS Cù Huy Hà Vũ... Và bây giờ là bắt LS Cù Huy Hà Vũ trong khi xét giấy tờ ở một khách sạn Sài Gòn, lục soát máy vi tính xách tay do LS mang theo, khám xét nhà riêng của LS Cù Huy Hà Vũ ở Hà Nội...
Như thế, có phải là triệt hạ những người đang lớn tiếng nhất về các âm mưu của tình báo TQ?
Hãy nhìn cho kỹ: trang Bauxite Việt Nam và LS Cù Huy Hà Vũ đặt nhẹ các vấn đề nội bộ VN, đặt nhẹ kể cả các vụ tham nhũng lớn như Huỳnh Ngọc Sỹ, kể cả các sai trái lớn như Vinashin đốt tiền... mà các vị trí thức này tập trung ưu tiên vào các điểm hiểm hóc nhất của ảnh hưởng TQ áp đặt vào VN: từ Biển Đông, tới việc 10 tỉnh cho thuê 300.000 hecta rừng đầu nguồn, tới việc khai thác mỏ bôxit và cơ nguy lũ bùn đỏ Tây Nguyên.
Tận cùng, đó là nỗi lo mất nước về tay Trung Quốc.
Bởi vì Vinashin làm mất 4.5 tỉ đôla, nhưng vẫn còn có Việt Kiều gửi về 7.2 tỉ đô la mỗi năm. Hãy nhớ, khi mất tiền, dân tộc Việt vẫn có thể làm ra tiền được.
Nhưng khi đã mất rừng, đã mất biển, đã mất nước thì muôn năm khó gỡ lạị nổi. Đó là lý do mà tại sao giới trí thức quốc nội kêu gọi toàn dân cùng ký tên vào kiến nghị chống bô xít – vì đây là để gỡ mũi kiếm xuyên tâm gài ở Tây Nguyên. Và đó cũng là lý do vì sao Luật Sư Cù Huy Hà Vũ phảỉ bị tình báo Trung Quốc triệt hạ ưu tiên.
Tình hình bi thảm tới mức trong buổi hội thảo khoa học của Hội Khoa Học Kinh Tế VN và Trung Tâm Thông Tin và Dự Báo Kỹ Thuật Xã Hội Quốc Gia, với tham dự của các nhà lý luận cộng sản kỳ cựu góp ý văn kiện Đại Hội Đảng, trong đó có một số ý kiến đặc biệt nêu vấn đề cơ nguy mất nước.
Trong biên bản hội thảo, lời ông Nguyễn Trung nói, “...Vấn đề phụ thuộc vào Trung Quốc rất nguy hiểm. Toàn bộ xuất siêu của ta đập vào nhập siêu của Trung Quốc mà không đủ. Nếu Trung Quốc chỉ dùng Nhân dân tệ để buôn bán khu vực thì ta nguy.”(hết trích)
Và rồi lời bà Dương Thu Hương, “...Hầu như không có nhận định nào trong văn kiện là đúng sự thật thực tiễn. An ninh quốc phòng, tôi đang rất lo sợ. Bauxit Tây Nguyên, cho thuê rừng, lao động nước ngoài … không được giải quyết dứt điểm. Trong các báo cáo đề cập rất mờ nhạt.
Niềm tin của dân vào Đảng giảm sút thì trách nhiệm của Đảng đến đâu? Liên Xô đổ vì dân không còn tin Đảng...”(hết trích)
Và trong phần Kết luận Biên bản, ghi:
“Các nhà Kinh tế học thảo luận về Dự thảo Văn kiện, nhưng thực tình không nhằm vào sửa Văn kiện. Ta chỉ chuyển cho Ban Văn Kiện, họ có sửa hay không là việc của họ. Trách nhiệm của nhà nghiên cứu là nói trung thực, thẳng thắn, với tinh thần xây dựng, mong muốn Đảng mạnh lên, đất nước mạnh lên.
Dù không được chấp nhận, nhưng ít ra cũng lưu vào văn bản, lưu lại hậu thế rằng năm 2010 có một số nhà kinh tế đã nói như vậy, để hậu thế biết rằng, hóa ra đất nước cũng còn những trí thức không đến nỗi dốt nát.”
Công an bắt LS Cù Huy Hà Vũ ngày 4 tháng 11-2010. Cần nhắc rằng trước đó 3 tháng, vào thượng tuần tháng 8-2010, trong khi tham dự một cuộc hội thảo Biển Đông tại Sài Gòn, “học giả” Trung Quốc Vương Hàn Lĩnh trả lời phỏng vấn của ký giả Tuần Việt Nam (bài đăng ngày 11-11-2010, và cùng ngaỳ đã bị Tuần Việt Nam gỡ xuống) đã nói rằng TQ có chủ quyền ở Biển Đông và sau đó liền hù dọa VN:
“...Trung Quốc đã thực thi chủ quyền và quyền tài phán từ cách đây hơn hai ngàn năm...
...Tôi muốn nhắc lại nếu không chọn cách giải quyết như tôi vừa nêu, các anh sẽ phải hứng chịu các xung đột bằng vũ lực, hoặc thậm chí chiến tranh...
...Nên nhớ rằng cho đến năm 1885, Việt Nam vẫn là thuộc quốc của Trung Quốc.”(hết trích)
Câu hỏi nơi đây muốn nêu ra rằng, trong khi Trung Quốc đã hiển lộ âm mưu lấn biển, lấn đất, lấn rừng... như thế, tại sao công an VN lại truy bắt những người yêu nước (như anh Ba Sài Gòn, như anh Điếu Cày), lạị dùng tin tặc tấn công các trang blog yêu nước (như Bauxite VN, như anh Ba Sàm), và lại bày trò vây bắt Cù Huy Hà Vũ, người đang giữ vai trò Cố Vấn Pháp Lý của các nhà trí thức đang kiến nghị xóa bỏ dự án khai thác bôxit vì lý do cơ nguy mất nước?
Có phải tình báo Trung Quốc đã gài vào được công an VN, hay đã mua chuộc được công an VN?
Lịch sử hình như đang tái diễn. Cột đồng Mã Viện đã dựng lên ở Tây Nguyên và hiện đang nguỵ trang nơi các mỏ bô-xit, và các vị trí thức và luật gia báo động về cột đồng TQ này đang bị truy bắt, bố ráp. Xin mời độc giả vào trang http://boxitvn.wordpress.com/ để ký tên vào kiến nghị xóa bỏ việc khai thác bô-xít.
Mỗi một chữ ký cuả chúng ta, cho dù không mang được sức nặng như những viên gạch giữ nước năm xưa của tiền nhân, nhưng ít nhất, cũng “để hậu thế biết rằng, hóa ra đất nước cũng còn những trí thức không đến nỗi dốt nát,” xin mượn lời từ Biên bản Hội thảo đã dẫn trên.

TRẦN KHẢI

Sunday, November 14, 2010

Từ Hội Thảo Quốc Tế Biển Đông ở Sài Gòn 12/11/2010 đến Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Hoàng Sa ở San Jose 22/01/2011!

Theo Trach Nhiem Online

Ls. Nguyễn Thành

Điều-phối-viên "Ủy Ban Công Lý - Hòa Bình cho Hoàng Sa - Trường Sa của VN"

Hội Thảo Quốc Tế Biển Đông ở Sàigòn 12/11/2010?

Ngày 11 & 12/11/2010, Hà Nội lại tổ chức Hội Thảo Quốc Tế Biển Đông với chủ đề "Hợp Tác vì An Ninh - Phát Triển Khu Vực." Hội Thảo Quốc Tế Biển Đông [lần 2] này do Học Viện Ngoại Giao và Hội Luật Gia VN tổ chức, với một chương trình làm việc chặt kín 2 ngày 11 và 12/11/2010 ở Hotel New York, Sài Gòn. Thành phần tham dự, ngoài các nhân sự chủ chốt của Học Viện Ngoại Giao và Hội Luật Gia VN, còn có sự tham dự của một số nhân vật tên tuổi đến từ các nước, tương tự như Hội Thảo Quốc Tế Biển Đông [lần 1] một năm trước đây ở Hà Nội cuối năm 2009.

Sau Hội Thảo Quốc Tế Biển Đông [lần 1], Hà Nội cho công bố Sách Trắng Quốc Phòng, trong đó đề cập đến ngoại giao "đa phương" trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông. Sau Hội Thảo Quốc Tế Biển Đông [lần 1] này, ngày 10/12/2009, Vụ Trưởng Ban Biên Giới Bộ Ngoại Giao Hà Nội Nguyễn Duy Chiến nói với báo chí: “VN đã nộp báo cáo cho Uỷ Ban Thềm Lục Địa LHQ để bảo vệ quyền của VN đối với thềm lục địa ngoài 200 hải lý?” Sự thật trái ngược hoàn toàn với lời nói của Nguyễn Duy Chiến: “Hà Nội không những không xin mở rộng thềm lục địa VN ngoài 200 hải lý mà còn đề nghị với Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa LHQ giới hạn thềm lục địa VN là 200 hải lý!" Học giả Vũ Hữu San, cựu Hạm-trưởng HQ.4 tham dự trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19/1/1974 và hiện là chuyên gia về Biển Đông, đã nhận xét về 2 hồ sơ Hà Nội nộp LHQ ngày 6 và 7/5/2009 như sau:

“Hà Nội đã lùi bước khi vẽ hải-đồ nộp LHQ. Dân chúng VN đừng bao giờ nghe chúng nói, hãy nhìn những gì chúng làm. Nếu xem hải-đồ do Hà Nội vẽ để nộp LHQ, ta sẽ thấy: 3/4 biển Hoàng Sa nằm trong hải phận Trung Quốc; VN chỉ còn 1 đảo độc nhất là Tri Tôn trong số trên 100 đảo của nhóm Hoàng Sa; 4/5 biển Trường Sa không còn trong hải phận VN; VN chỉ còn đảo Trường Sa nổi và 2 đảo chìm, trong số hơn 100 đảo nổi, chìm của nhóm Trường Sa.

Hà Nội đã công khai vẽ hải-đồ và chính thức nộp cho LHQ. Từ nay, VN cãi gì ngược lại về hải phận cũng không được. Hà Nội tuyên bố "sẽ tìm mọi cách để giải quyết vấn đề Biển Đông" và trong thời gian sắp tới hai bên “cùng bàn bạc, đàm phán, phân định biên giới biển." Khi đó, Trung Cộng sẽ dùng hải-đồ VN đã nộp LHQ để đàm phán thì số phận Hoàng Sa Trường Sa coi như xong!”



Người viết bài này, sau khi nghiên cứu 2 hồ sơ nộp LHQ của Hà Nội, đã thuyết trình đề tài "Hà Nội mưu toan tính dâng Hoàng Sa và Trường Sa cho Bắc Kinh qua hai hồ sơ ngày 6 và 7/5/2009 nộp LHQ" tại hai buổi "Hội Luận Tìm Phương Cứu Nguy Đất Nước" do GS TS Nguyễn Thanh Liêm [nguyên Thứ Trưởng Giáo Dục VNCH], thân hào, nhân sĩ và hội đoàn tổ chức ở Westminster, California, vào hai ngày 25 và 26/7/2009, đã chứng minh trước đông đảo cử tọa rằng: "Lẽ ra Hà Nội phải xin mở rộng thềm lục địa VN ngoài 200 hải lý vì VN có đầy đủ điều kiện để được hưởng theo Luật Biển LHQ, nhưng Hà Nội lại xin giới hạn thềm lục địa VN ở mức 200 hải lý và "cố ý" gạt Hoàng Sa Trường Sa ra ngoài thềm lục địa VN với "ý đồ" dâng 2 quần đảo này cho Bắc Kinh!"


Ngày 2/4/2010, sau khi người viết bài này tường trình về hai hồ sơ nộp LHQ về thềm lục địa VN trước Tiền Hội Ngộ Cựu Sinh Viên Luật Khoa Sài Gòn, tổ chức ở Houston, Texas, Hoa Kỳ, thì - lần đầu tiên ở hải ngoại - hàng trăm Luật Gia Việt Nam đã ra Tuyên Ngôn tố cáo Hà Nội "đã cắt hàng trăm ngàn hải lý vuông thềm lục địa VN và gạt Hoàng Sa và Trường Sa ra ngoài hải-phận VN với ý đồ dâng cho Bắc Kinh!" Bản Tuyên Ngôn đã được công bố trước trên 500 người hiện diện tại ngày Hội Ngộ Chính Thức 3/4/2010, cũng tại Houston, Texas, Hoa Kỳ và sau đó đã được gửi đến Hội Đồng Bảo An LHQ, Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa, Quốc Hội Âu Châu, Chính Phủ các nước,... để yêu cầu "ghi nhận" và "bảo trợ."



Tóm lại, dù mưu toan "cắt thềm lục địa, dâng biển đảo" cho ngoại bang đã bị vạch trần và dù ai cũng biết Hoàng Sa và Trường Sa là của VN về mọi phương diện [lịch sử, địa lý, hành chính và pháp lý], nhưng Hà Nội vẫn tổ chức hết Hội Thảo Biển Đông này đến Hội Thảo Biển Đông khác [sau khi nộp 2 hồ sơ cho LHQ], không ngoài mục đích vừa xoa dịu và lừa gạt dân chúng, vừa đánh lạc hướng và khiến mọi người không chú ý đến 2 hồ sơ "bán nước, dâng biển" Hà Nội nộp LHQ. Nhưng "thiên bất dung gian" và mặc cho phát-ngôn-nhân Nguyễn Phương Nga và Lê Dũng, người tiền nhiệm của Nga, "tuyên bố" và "khẳng định",... hàng trăm lần "chủ quyền của VN" đối với Hoàng Sa và Trường Sa nhưng thực tế không những TC "phớt lờ" mà còn ngang ngược lấn chiếm hay chiếm đoạt trắng trợn bằng hành động thực tế!



Xin nêu một sự kiện điển hình, diễn ra vào đúng ngày Hà Nội tổ chức Hội Thảo Quốc Tế Biển Đông [lần 2] ở Sàigòn, và 5 ngày sau khi Nguyễn Phương Nga "lên án" Cục Đo Đạc Bản Đồ TC "vi phạm nghiêm trọng chủ quyền VN đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đối với Thềm Lục Địa và Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý của VN,..." và đòi TC không được "post" bản đồ "lưỡi bò" lên trang mạng Worl Map TC mới khai trương, vì bản đồ này "bao trùm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các vùng biển của VN": Ngày 10/11/2010 Thủ Tướng Anh David Cameron đến Bắc Kinh, mang theo đoàn đại biểu thương mại tới 50 người [nhiều nhất của Anh đến TQ từ xưa đến nay] trong đó có đại công ty dầu khí BP và công ty này sẽ ký hợp đồng thăm dò dầu khí với Tổng Công Ty dầu khí CNOOC của TQ.



Điều cần lưu ý là công ty dầu khí BP của Anh trước đây đã ký dự án thăm dò dầu khí với VN tại 2 lô 5.2 và 5.3. Sau khi đã tiến hành việc thăm dò một thời gian, BP phải án binh bất động vì sự đe dọa và phản đối của TC và vào gần cuối năm 2009 thì chính thức chấm dứt hợp đồng khai thác với VN [tức sau khi Hà Nội nộp 2 hồ sơ về thềm lục địa VN cho LHQ vào ngày 6 và 7/5/2009]. Nay thì BP sẽ ký hợp đồng khai thác dầu khí với tập đoàn dầu khí CNOOC của TC. Tổng công ty dầu khí CNOOC của TC

ước lượng trữ lượng dầu khí của khu vực 2 lô 5.2 và 5.3 có thể đến 22 tỉ thùng.
Ngoài ra, công ty dầu khí khổng lồ Chevron của Mỹ cho biết cũng đang chuẩn bị tham gia thăm dò dầu khí tại 3 lô ở Biển Đông với TC. Tuy cả hai công ty BP [Anh] và Chevron [Mỹ] đều không nói rõ các lô mà họ sắp ký kết với TQ để thăm dò nằm ở đâu trên Biển Đông nhưng giới nghiên cứu đều cho rằng "không thể ngoài" vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vì chỉ 2 vùng quần đảo này mới có thể có một trữ lượng dầu khí lớn như CNOOC tuyên bố. Cũng nên biết: công ty dầu khí BP hiện nay do Bob Dudley, người Mỹ, điều hành, sau khi Tổng Giám Đốc người Anh vừa bị mất chức sau vụ bể ống dấu ở vùng Louisiana và Florida.



Công ty dầu khí BP [của Anh nhưng do một ông Mỹ đứng đầu] và Chevron [Mỹ] đang chờ ký kết hợp đồng khai thác dầu khí hàng chục tỉ USD với TC trên Biển Đông vào những ngày đầu của tháng 11/2010, sau tuyên bố ngày 24/7/2010 của Bà Hillary Clinton, sau hàng loạt hội nghị cấp cao về Biển Đông và sau nhiều Hội Thảo Quốc Tế về Biển Đông do Hà Nội tổ chức ở VN hay do các "Việt-kiều" tổ chức ở Phidelaphia, Hoa Kỳ, với lời tuyên bố xuyên tạc trắng trợn lịch sử của TS Vũ Quang Việt trên BBC : “Không thể nói chắc rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam?”

Như thế, rõ ràng là Hà Nội phản đối hay tuyên bố "xuông" hay phản đối cho có phản đối! Rõ ràng là TC trước đây chỉ công bố khơi khơi bản đồ lưỡi bò TC tự vẽ, bất chấp qui định của Luật Biển; bản đồ lưỡi bò TC có nơi chỉ cách đường căn bản [baseline] của VN có 40 hải lý [tức lấn chiếm tới 140 hải lý Vùng Đặc Quyền Kinh Tế 200 hải lý của VN] và nay thì công khai ký hợp đồng khai thác dầu khí ở ngay các vùng [có nhiều khả năng là] Hoàng Sa và Trường Sa của VN.

Vì sao? Xin mời đọc bài 2 [tuần tới, trong loạt bài “Biển Đông Dậy Sóng”]: Sách Lược Bành Trướng Biển Đông của Trung Cộng" và "Sách Lược Bán Nước Dâng Biển của Việt Cộng" tuy 2 mà 1, hay "Hiến đất dâng biển cho TC để đền ơn và để độc quyền toàn trị đất nước là chủ trương của Đảng CSVN!”

Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Hoàng Sa 22/1/2011 ở San Jose



Trong lúc tập đoàn VGCS cầm quyền Hà Nội hết diễn trò "Đại Lễ Ngàn Năm Thăng Long" sặc mùi "thần phục thiên triều" lại Hội Thảo Quốc Tế Biển Đông [lần 2] để tung "hỏa mù" thì những Chiến Sĩ từng can trường chống lại quân bành trướng Bắc Kinh trong trận chiến Hoàng Sa 19/1/1974 bảo vệ chủ quyền đất nước đang cùng với Chiến Hữu và Người Việt TNCS bắt tay vào việc tổ chức Đại Lễ Tưởng Niệm Chiến

Hoàng Sa năm 2011. Được biết Lễ Tưởng Niệm năm nay sẽ được tổ chức tại San Jose, Thứ Bảy 22/01/2011, bởi Hội HQ Bạch Đằng Bắc Cali phối hợp với Hội HQ Cửu Long Nam Cali, Liên Hội Cựu Quân Nhân Bắc Cali và Tổ Chức, Hội Đoàn NVQG vùng Bắc Cali. Ban Tù Ca Xuân Điềm của thủ đô người Việt TNCS ở Hoa Kỳ Little Sàigòn sẽ đến San Jose để đảm trách phần văn nghệ đấu tranh cùng các Ban Hợp Ca và Ca Sĩ chọn lọc của vùng Thung Lũng Hoa Vàng.

Chủ đề của Lễ Tường Niệm năm nay là "Phát Huy Tinh Thần "Quyết Chiến! Chiến Đến Cùng!" của QLVNCH trong trận Hải-chiến chống HQ bành trướng Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa ngày 19/1/1974! Nghĩa là không chỉ "Tưởng-niệm Anh-hồn các Chiến-sĩ đã Hy- sinh để Bảo-vệ Chủ-quyền Việt-Nam tại Biển Đông" mà "phát huy tinh thần" này để quyết tâm "Bảo Vệ Đến Cùng! Hoàng Sa, Trường Sa và Vịnh Bắc Việt" của Mẹ Việt Nam với phương cách khả thi và phù hợp với hiện tình tập-đoàn VGCS cầm quyền Hà Nội thâm độc "đang mưu toan giao Hoàng Sa, Trường Sa và Vịnh Bắc Việt cho Trung Cộng bằng chính Luật Biển LHQ" qua hai hồ sơ Hà Nội đã nộp LHQ ngày 6 và 7/5/2009, giả danh "xin mở rộng thềm lục địa VN" nhưng sự thực là gạt Hoàng Sa, Trường Sa và Vịnh Bắc Việt ra ngoài thềm lục địa hay hải-phận VN để thỏa mãn tham vọng bành trướng của "kẻ thù phương Bắc."



Số phận Hoàng Sa Trường Sa của VN đang thực sự vô cùng mong manh! Hay nói trắng ra là sớm muộn sẽ về tay Bắc Kinh "hợp pháp" qua chính Luật Biển LHQ, nếu Đảng CSVN còn tiếp tục tiếm quyền. Đúng như học giả Vũ Hữu San cảnh báo:

“Hà Nội đã công khai vẽ hải-đồ và chính thức nộp cho LHQ. Từ nay, VN cãi gì ngược lại về hải phận cũng không được. Hà Nội tuyên bố "sẽ tìm mọi cách để giải quyết vấn đề Biển Đông" và trong thời gian sắp tới hai bên “cùng bàn bạc, đàm phán, phân định biên giới biển." Khi đó, TC sẽ dùng hải-đồ mà VN đã nộp LHQ để đàm phán thì số phận Hoàng Sa Trường Sa coi như xong!”


Bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa và Vịnh Bắc Việt là nghĩa vụ thiêng liêng của tất cả mọi người VN, nhất là trong tình hình phải đối phó với bọn VGCS vô cùng gian manh thâm độc đã và đang tìm mọi cách "bán đất, dâng biển, đảo" cho quan thầy Bắc Kinh để được bảo hộ độc quyền toàn trị và toàn hại đất nước.

Tổ Quốc Lâm Nguy! Người viết xin kết thúc bài 1 - "Tản Mạn Biển Đông" - với lời chân thành và tha thiết xin mọi người hãy gạt bỏ "tị hiềm" hay "dị ứng" [nếu có] để hợp tác, hỗ trợ hay tham dự Đại Lễ Tưởng Niệm và Phát Huy Tinh Thần Chiến Sĩ Hoàng Sa, tổ chức ở San Jose, Thứ Bảy ngày 22 tháng 1 năm 2011./.

Saturday, November 13, 2010

Sự khác biệt giữa chủ nghĩa Cộng sản Châu Âu và Châu Á

Theo NguoiViet Boston

Giáo sư Jerry Livingston Voorhis
(Bản dịch của bán nguyệt san Tự do Ngôn luận)

Trong năm 1989, hai sự kiện rất ý nghĩa và rất khác biệt đã diễn ra ở hai đầu của thế giới. Tại Đức, bức tường Berlin sụp đổ. Cộng sản, xét như một hệ thống cầm quyền, bị sụp đổ ở Đức và phần còn lại của Đông Âu.
Tuy nhiên ở Trung Quốc, một điều rất khác xa đã xảy ra. Những niềm hy vọng của thế giới cho một nước Trung Quốc tự do, dân chủ đã tiêu tan khi xe tăng và quân đội từ nông thôn tiến vào Thiên An Môn và tàn sát hàng trăm trong số hàng ngàn sinh viên vốn đã biểu tình đòi dân chủ tại Bắc Kinh trong nhiều tháng.
Dân chủ, một nền kinh tế thị trường và việc tự do phát biểu quan điểm chính trị lẫn văn hóa đã chiến thắng chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Âu và thậm chí ở Nga, đang khi ở Trung Quốc và trong các khu vực Cộng sản kiểm soát ở Châu Á, những ảnh hưởng giải phóng này đã bi đè bẹp bởi các Chính phủ Cộng sản Trung Quốc, Việt Nam, Lào và đặc biệt là Campuchia và Bắc Triều Tiên.

Chúng ta phải đặt câu hỏi: Tại sao kết quả của phong trào hòa bình và dân chủ lại quá khác nhau giữa Châu Âu và Châu Á?

Có nhiều lý do cho những kết quả khác nhau này và một trong những lý do đầu tiên và quan trọng nhất là các loại Cộng sản vốn đặc trưng Châu Á hoàn toàn trái ngược với các loại Cộng sản ở Châu Âu.

Tại Châu Âu, ngay từ nguyên thủy, chủ nghĩa Cộng sản là một hiện tượng có căn bản là đô thị. Công nhân đô thị, nhất những người làm việc trong các ngành công nghiệp quy mô lớn, được coi như giai cấp vô sản, những người tiên phong của cách mạng. Cùng với các đảng Cộng sản và lãnh tụ của họ, nhiều công nhân trong các nghiệp đoàn chặt chẽ và những khu vực công nghiệp cao như Saxony hoặc lưu vực sông Ruhr ở Đức đều đã bầu cho người Cộng sản hoặc ít nhất cho người Xã hội Chủ nghĩa với số lượng lớn. Trên khắp vùng quê, và ở các thị trấn nhỏ hay vùng ngoại ô Châu Âu, các cử tri bầu cho các đảng bảo thủ hay các đảng chính trị trung dung, nhưng không bao giờ bầu cho những người Cộng sản.
Nông dân Nga đã tham gia và ủng hộ Đảng Cách mạng Xã hội chứ không ủng hộ những người Cộng sản hay những người Bolsheviks như được gọi sau đó suốt thời gian của cuộc cách mạng. Cả trước và sau Thế chiến II, những khu vực nông thôn ở Đông Âu, và đặc biệt là những trại chủ giàu có đã cực lực chống đối và phá hoại các nỗ lực tập thể hóa tại Ukraine, Ba Lan, Nam Tư, Rumania, Đông Đức và mọi nơi khác. Đối với Cộng sản Châu Âu, thành phố là cơ sở hỗ trợ và phải chinh phục hoặc đánh thắng các vùng nông thôn.
Sự kiện này đã tác động rất lớn vào những gì đã xảy ra với các chế độ Cộng sản suốt các thập niên 80’s và 90’s tại Châu Âu Cộng sản, kể cả Nga. Một khi các thành phố đã lật đổ chế độ Cộng sản và thay thế nó bằng một chính phủ dân chủ phi Cộng sản và thay thế nền kinh tế hỗn hợp bằng một khu vực tư nhân lớn, chủ nghĩa Cộng sản đã bị tiêu diệt. Xét cho cùng, các vùng nông thôn luôn chống Cộng sản!

Ở Châu Á, người ta thấy một tình hình hoàn toàn trái ngược. Khắp Châu Á cũng như Cuba, chủ nghĩa Cộng sản lan từ nông thôn vào thành phố. Trung tâm sức mạnh chính của Mao Trạch Đông, trong Thế chiến II và cuộc Nội chiến tiếp theo sau đó, nằm ở nông thôn, vùng nông nghiệp tương đối thưa thớt dân cư ở Tây Bắc Trung Quốc, từ đó Cộng sản Trung Quốc lan tràn đến Bắc Kinh, Nam Kinh, Quảng Châu và các trung tâm đô thị khác. Một khi Cộng sản của Mao đã chiếm được các thành phố nơi Quốc Dân Đảng hoặc những người quốc gia tương đối mạnh, thì coi như họ đã chinh phục tất cả Trung Quốc.
Phong trào Khmer Đỏ của Pol Pot là ở nông thôn và gồm nông dân có khuynh hướng gần như cuồng tín. Nó nghiêm trị các cư dân của Nam Vang (Phnom Penh) và các trung tâm đô thị khác, giết chết hàng trăm ngàn nếu không phải hàng triệu người, và buộc những kẻ sống sót đi làm nông dân lao động ở nông thôn.

Sau cùng, phong trào Cộng sản của Hồ Chí Minh đã bắt đầu như là một lực lượng chính trong vùng đồi núi phía Bắc và phía Tây của Hà Nội. Cộng sản đã không kiểm soát được các thành phố như Hà Nội cho đến khi Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ. Cũng thế trong miền Nam Việt Nam, các thành phố Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn đã kiên trì chống lại Cộng sản cho đến ngày tàn cuộc bi thương. Hỗ trợ cho Việt Cộng chủ yếu là ở nông thôn hẻo lánh như các khu vực trong đồng bằng sông Cửu Long.
Như một kết quả của sự kiện này, những chống đối ở đô thị trong các nước Cộng sản Châu Á đã không có hiệu quả như ở Châu Âu. Chính phủ Cộng sản ở Trung Quốc, Việt Nam và Campuchia luôn luôn có thể dựa vào hỗ trợ từ nông thôn. Các vùng nông thôn châu Á đã ủng hộ cho Cộng sản nhiều hơn so với phía tương ứng bên châu Âu.

Một yếu tố thứ hai góp phần vào sự kiên cường của chế độ Cộng sản ở Châu Á là việc tương đối thiếu những ảnh hưởng chống Cộng từ bên ngoài so với tình hình mà Cộng sản Đông Âu phải đối đầu. Trong suốt những thập niên 1950, 1960, 1970 và 1980, Đông Âu đã bị “dội bom” tới tấp bởi những chương trình phát sóng chống Cộng từ Radio Free Europe (đài Châu Âu Tự do), một mạng lưới chống Cộng tư nhân, từ Voice Of America (đài Tiếng nói Hoa Kỳ) và BBC. Tây Berlin, một vùng đất chống Cộng nằm sâu trong lãnh thổ Cộng sản, đã được dùng như một cái loa để phát tán các bài phát biểu chống Cộng của Tổng thống John Kennedy và của Tổng thống Ronald Reagan: “Hỡi Gorbachev! Hãy phá đổ bức tường này đi”. Lời tuyên bố ấy đã có một tác động rất lớn trên những người sống phía sau Bức Màn Sắt.
Rất nhiều người dân từ Đông Âu (Ba Lan, Hungari, Đức, v.v…) đã đến sống tại Hoa Kỳ vào lúc này. Sự hiện diện và ảnh hưởng chính trị của họ đã làm dấy lên nhiều hoạt động đặc biệt tại Hoa Kỳ như “Tháng hay Tuần lễ các Quốc gia bị lệ thuộc” (Captive Nations). Quốc gia bị lệ thuộc muốn ám chỉ các nước ở Châu Âu đã bị rơi vào tay Cộng sản và do đó, nằm dưới ngôi mộ hay sự thống trị của Liên Xô. Những sự kiện như thế đã làm dấy lên các cuộc liên minh và biểu tình chính trị để dồn sự chú ý liên tục của nước Mỹ và Quốc tế vào hoàn cảnh của các nước Đông Âu.

Loại cảm thông, chú ý và nỗ lực như thế đơn giản đã không có được cho các nước Châu Á nằm dưới sự cai trị cộng sản. Người Mỹ gốc Hoa là một nhóm nhỏ hơn nhiều so với những người Mỹ gốc Ba Lan, Đức và Hungari và những cộng đồng thiểu số thiểu số khác có gốc từ Đông Âu. Người tị nạn Việt Nam, Campuchia và Hàn Quốc thậm chí còn nhỏ hơn nữa. Sau hết, người Mỹ gốc Hoa và những người Mỹ chống Cộng phi Trung Hoa đã tập trung sự quan tâm của họ vào Đài Loan và củng cố Chính phủ Quốc Dân Đảng ở đó hơn là giải phóng hay dân chủ hóa Hoa lục.

Cuối cùng, Đông Âu đã là sân khấu diễn ra những cuộc nổi dậy hay là cách mạng chống Cộng sản đầu tiên. Năm 1952, công nhân Đông Đức ở Berlin và các thành phố khác đã nổi dậy chống lại ách cai trị của cộng sản ở Đông Đức, vốn mang tính áp bức hơn ở bất cứ nơi nào khác. Cuộc nổi dậy của họ đã bị dập tắt bởi xe tăng và quân đội Liên Xô. Trong năm 1956 và 1957, Hungari tiến hành một cuộc nổi dậy bất thành nhưng anh hùng nhằm lật đổ một chính phủ tàn bạo kiểu Stalin, và ngoài ra còn nhằm hợp pháp hóa các chính đảng phi Cộng sản, ủng hộ một nền kinh tế hỗn hợp với một khu vực tư nhân và chủ trương giữ Hungari trung lập trong Chiến tranh Lạnh giữa Liên Xô với các cường quốc phương Tây.
Cuộc nổi dậy của người Hungari đã bị dẹp tan, nhưng chỉ sau khi Liên Xô can thiệp mạnh mẽ ồ ạt, làm nhiều người thiệt mạng. Hậu quả của cuộc nổi dậy là có trên 100.000 người Hungari đi tị nạn và họ đã trở thành một lực lượng chính trị mạnh ghê gớm, hoạt động chống lại chủ nghĩa Cộng sản ở Châu Âu. Cuối cùng nhưng không kém quan trọng, trong khi cuộc cách mạng Hungari đang diễn ra, Cộng sản Ba Lan đã thi hành một loạt các cải cách chống lại đường lối chủ nghĩa Cộng sản cứng rắn. Ngoài ra, chính phủ Ba Lan còn chấm dứt việc thành lập các nông trường tập thể ở nông thôn, và cho phép nông dân Ba Lan được giữ đất đai của họ. Chính phủ cũng cho phép dạy giáo lý Công giáo Rôma trong các trường công, và dung túng cho một đại học tư nhân duy nhất trên thế giới trong một quốc gia Cộng sản, Đại học Công giáo Lublin.

Ở Châu Á đã hầu như không có những cuộc nổi loạn chống lại ách cai trị Cộng sản trên quy mô của những gì đã xảy ra ở Đông Âu. Cuộc nổi dậy của Tây Tạng vào cuối những năm 1950 là để chống Trung Quốc hơn là chống Cộng sản. Cũng có một số ổ kháng cự cuối cùng chống lại chế độ Cộng sản ở Tây Nam Trung Quốc, dọc theo biên giới Miến Điện và tại Việt Nam sau khi Sài Gòn thất thủ, nhưng đó không phải là những cuộc nổi loạn tươi mới như cuộc nổi dậy của người Hungari năm 1956. Sau hết, người dân sống trong các nước Cộng sản kiểm soát như Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Triều Tiên, bị cô lập nhiều hơn hoặc bị cắt liên lạc với thế giới phi cộng sản. Đã không có một Tây Berlin ở Châu Á Cộng sản.

Một yếu tố khác nhấn mạnh sự khác biệt giữa Châu Á và Châu Âu là nhân tố lãnh đạo. Ngoại trừ ở Nga dưới thời Stalin, Nam Tư dưới thời Tito, Rumania dưới thời Ceauşescu và Albania dưới thời Enhver Hoxha, tất cả các nhà lãnh đạo Cộng sản Đông Âu đều là các viên chức vô danh, các sĩ quan quân đội không hấp dẫn hoặc những cán bộ Cộng sản thiếu lôi cuốn. Họ thường bị dân chúng mà họ cai trị coi như là những bù nhìn của Liên Xô. Mặt khác, hai nhà lãnh đạo được ưa chuộng và lôi cuốn nhất trong nước Cộng sản Ba Lan, ví dụ vậy, là Lech Walesa, lãnh đạo Công đoàn Đoàn kết, một phong trào lao động chống Cộng, và giáo hoàng Gioan-Phaolô II.
Các lãnh đạo Cộng sản quyền lực và lôi cuốn ở Đông Âu là Tito tại Nam Tư, Ceauşescu ở Rumania và Enhver Hoxha tại Albania đều chống Xô viết và thường xuyên chỉ trích hiệp ước Warsaw. Tito đã dung túng một khu vực tư nhân lớn trong nền kinh tế Nam Tư, và ông đã từ chối tham gia hiệp ước Warsaw, thay vào đó, thích đi theo một chính sách trung lập. Ceauşescu thương lượng với cả Trung Quốc lẫn Hoa Kỳ, thách thức lại Liên Xô, và quan trọng nhất, tiếp tục công nhận Do Thái sau cuộc chiến tranh sáu ngày năm 1967 khi tất cả các nước Cộng sản Đông Âu khác đã chấm dứt quan hệ với Do Thái và kịch liệt thân khối Á Rập.
Cuối cùng, Hoxha đã mạnh mẽ lên án cả Liên Xô lẫn Trung Quốc. Albania rút ra khỏi hiệp ước Warsaw vào đầu thập niên 1960. Sau hết, có thể cho rằng ngoại trừ Lenin, nhà lãnh đạo có uy tín và thực sự đầy quyền lực của Liên Xô là Joseph Stalin, thế nhưng ông lại không phải là người Âu. Stalin đến từ nước Cộng hoà Georgia thuộc Châu Á và vì sự kiện ấy, ông đã cai trị nước Nga như một lãnh đạo Cộng sản Châu Á hơn là một lãnh đạo CS Châu Âu. Chẳng nhà lãnh đạo Liên Xô nào sau Stalin có quyền lực lôi cuốn gần như siêu nhiên của ông ta cả.
Nikita Khrushchev, người kế vị Stalin, trông như là một chú hề, và các chính sách đối nội lẫn đối ngoại của ông ta đã thất bại thê thảm. Leonid Brezhnev, người kế vị Khrushchev, là một viên chức không ai biết mặt, đã vụng về đưa Liên Xô vào một cuộc chiến tranh vô vọng ở Afghanistan. Những người kế vị Brezhnev thậm chí còn kém thành công hơn nữa, trong đó có cả Mikhail Gorbachev, kẻ bất đắc dĩ phải chịu trách nhiệm về sự sụp đổ, “cái chết” của Liên Xô.
Cũng như Liên Xô bắt đầu tan rã, chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ tại Nam Tư sau cái chết của Tito, tại Rumania sau cuộc hành quyết Ceauşescu, và tại Albania sau cái chết của Hoxha. Cuối cùng, các nhà lãnh đạo Cộng sản Châu Âu đã bị phỉ báng lẫn bị khước từ sau cái chết của họ và ảnh hưởng của họ tan biến. Điều này đã đúng ngay cả cho Stalin.
Các nhà lãnh đạo Cộng sản Châu Á đã tạo ra một sự tương phản rõ ràng với các tương nhiệm Châu Âu của họ. Điều này cũng áp dụng vào trường hợp Fidel Castro và Che Guevara. Mao-Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Pol Pot, Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật đều đã được tôn thờ như Thần thánh hoặc Hoàng đế bởi những đệ tử Cộng sản của họ. Thậm chí ngày nay, ở Trung Quốc, mặc dù nhiều chính sách của Mao đã thay đổi, bản thân Mao vẫn không bị tấn công.
Tại đây tuyệt đối chẳng có chuyện bài Mao như đã bài Stalin ở Liên Sô. Mao đã và vẫn là một hoàng đế đầy quyền lực như Tần Thuỷ Hoàng hay Càn Long vậy. Ảnh hưởng của ông còn dài dài sau khi ông chết. Kim Nhật Thành vẫn là quốc trưởng chính thức của nhà nước Bắc Triều Tiên, dù ông ta đã chết cách đây hai thập kỷ. Các đại sứ nước ngoài phải xuất trình Ủy nhiệm thư của họ cho nhà lãnh đạo vĩ đại này chứ không phải cho quốc trưởng đương nhiệm là Kim Chính Nhật, “Lãnh tụ kính yêu”.
Sau đó có Hồ Chí Minh, một hoàng đế đỏ khác, người mà quyền lực vẫn mở rộng từ bên kia nấm mộ. Điều khác biệt giữa sự kính sợ và tôn trọng dành cho các nhà lãnh đạo Cộng sản Châu Á với sự ít thần phục dành cho các tương nhiệm Châu Âu có thể giải thích tại sao chủ nghĩa Cộng sản đã thất bại ở Châu Âu nhưng vẫn tiếp tục ở Châu Á.

Cũng cần nói về hai cường quốc Cộng sản là Trung Quốc và Nga, và thảo luận về tác động khác nhau của hai nước này đối các láng giềng Cộng sản của họ.
Nước Nga nằm ở rìa phía Đông của Châu Âu. Theo lịch sử, nó từng bị các nước láng giềng Châu Âu xem thường và khinh miệt. Người Ba Lan đã xâm lấn Nga đầu thập niên 1600 và chiếm đóng Moscow. Đạo quân Pháp của hoàng đế Napoleon cũng đã xâm chiếm Nga suốt đầu thế kỷ 18. Cuối cùng, Đức đã xâm chiếm và tàn phá nước Nga hai lần trong cuộc Thế chiến thứ nhất và thứ hai. Nga có một ảnh hưởng văn hóa rất hạn chế lên Châu Âu.
Bảng chữ cái Cyrillic của Nga không được sử dụng bởi bất cứ quốc gia Châu Âu Cộng sản nào trước đây, ngoại trừ Serbia, Macedonia, Montenegro, Bosnia, Ukraine và Belarus. Ngoài ra còn có một khác biệt tôn giáo lớn giữa Nga và các láng giềng Đông Âu. Các nước vùng Baltic, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungari, Croatia, Slovenia và Đông Đức hoặc theo Tin Lành Luthêrô hoặc theo Công giáo Rôma, và họ sử dụng bảng chữ cái Latinh. Người Nga theo Chính Thống giáo Đông phương, một hình thức của Kitô giáo. Các nước Cộng sản Đông Âu theo Chính Thống giáo Đông Phương có những Giáo hội quốc gia riêng, khác với Giáo hội Chính thống Nga về một số điểm.
Tiếng Nga hoặc các biến thể của nó chỉ được nói ở Nga, Ukraine và Belarus. Tiếng Đức, Lithuania, Estonia, Latvia, Hungari và Rumani hoàn toàn khác tiếng Nga, và thậm chí cả trong trường hợp các ngôn ngữ Slave khác như tiếng Ba Lan, Serbi-Croatia hoặc Czech, vẫn có nhiều khác biệt đáng kể giữa Nga và họ.
Những lễ hội, y phục, ẩm thực, thái độ sống của người Nga rất khác với các nước Cộng sản Đông Âu, ngoại trừ có thể có là Ukraine và Belarus. Ngay cả huyền thoại và văn hóa dân gian Nga cũng khác với các nước Đông Âu còn lại. Cuối cùng, hơn một nửa đất đai của Nga thuộc Châu Á (Siberia). Nga đã trở nên Á và ít Âu hơn sau khi Ukraine và Belarus trở thành độc lập. Dân số của Nga cũng đang giảm. Chỉ có 140 triệu người sống trong những gì bây giờ là nước Nga. Châu Âu đã từng coi Nga như một lãnh thổ biên cương hoang dã, không văn minh, nửa Châu Á, man rợ. Tất cả các điều này có thể không đúng, nhưng nhiều người Châu Âu, đặc biệt là những người sống ở Đông Âu (Ba Lan, Hungari , Lithuania, v.v.) đều tin như vậy.

Mối quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng Cộng sản và phi Cộng sản hoàn toàn khác với Nga. Trung Quốc có thể bị các nước láng giềng bực bội hoặc thậm chí căm ghét, nhưng nó không bao giờ bị coi là man rợ, thiếu văn minh hoặc kém văn hóa. Không giống như Nga, các nước láng giềng vừa tôn trọng vừa nể sợ Trung Quốc.
Nền văn minh Nga hiện có khoảng 1.500 năm tuổi. Nền văn minh Trung Quốc (lâu đời nhất trên trái đất) thì ít nhất đã 5.000 năm tuổi. Trung Quốc là nước lớn thứ ba trên thế giới, và dân số một tỷ năm trăm triệu của nó lớn hơn dân số của bất kỳ nước nào khác. Trung Quốc là một nước rất to lớn, màu mỡ, hoàn toàn chế ngự bản đồ Đông Á. So với Trung Quốc về địa lý, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam và Lào đều là những rẻo đất nhỏ bị anh khổng lồ Trung Quốc làm cho bé lại. Cuối cùng, thiểu số người Hoa ở Indonesia, Malaysia, Nepal, Ấn Độ và các nước Châu Á khác thường là hang ổ của Chủ nghĩa Mao. Ngược lại, thiểu số người Nga sống ở các nước bên ngoài Nga thường đa số chống Cộng. Lào, Việt Nam hoặc Bắc Triều Tiên rất khó lật đổ chế độ Cộng sản của họ bao lâu Trung Quốc vẫn còn là Cộng sản.

Một nhân tố cuối cùng, phải được xem xét khi nói về các đường lối khác nhau đã được thực hiện bởi Cộng Sản Châu Âu so với Cộng sản Châu Á, đó là việc chống chủ nghĩa đế quốc. Tại Cuba, Trung Quốc, Lào, Cộng sản đã có thể lợi dụng sự oán giận của dân bản xứ đối với chủ nghĩa đế quốc Pháp, Anh, Nhật hay Mỹ. Họ có thể đóng vai người yêu nước đấu tranh giải phóng xứ sở khỏi các tay cai trị ngoại quốc bị chán ghét.
Tại Châu Âu, một lần nữa, sự thật là ngược lại. Cộng sản Châu Âu đều đã chống phe quốc gia và chống đế quốc. Nhưng Châu Âu là cái nôi của đế quốc chủ nghĩa. Chống lại chủ nghĩa đế quốc ở Anh, Pháp hoặc Hà Lan bị coi là không yêu nước và phá hoại. Cộng sản ở Châu Âu từng hát “Quốc Tế ca” và chủ trương đấu tranh giai cấp toàn diện với chủ nghĩa tư bản và với các đế quốc Anh, Pháp, Hà Lan v.v…. Điều này đặt Cộng sản Châu Âu vào cuộc xung đột trực tiếp với phong trào dân tộc chủ nghĩa của Anh, Pháp hoặc Đức.

Để kết luận, có thể nói rằng mặc dù có thể mất một khoảng thời gian ở Châu Á lâu hơn ở Châu Âu, chủ nghĩa Cộng sản ở Châu Á vẫn có thể bị lật đổ hoặc thay thế. Ví dụ, các tranh chấp về quần đảo Hoàng Sa (Paracel) và Trường Sa (Spratly) đã đặt Trung quốc và Việt cộng vào một cuộc xung đột trực tiếp với nhau.
Khi việc đô thị hóa phát triển tại Việt Nam lẫn các nước Châu Á khác, và con số nông dân giảm đi, ảnh hưởng của chủ nghĩa Cộng sản ở Châu Á sẽ suy giảm. Ngoài ra, cùng với việc đô thị hóa, sẽ có sự lệ thuộc lớn hơn vào kỹ thuật và một nền kinh tế toàn cầu. Điều này sẽ gia tăng sự tiếp xúc với thế giới phi Cộng sản và rồi xói mòn chủ nghĩa Cộng sản. Với một trình độ giáo dục cao hơn, số lượng trí thức chống Cộng sẽ tăng lên dần.

Cuối cùng, một sự quan tâm rộng rãi và gia tăng đối với tôn giáo khắp Châu Á Cộng sản sẽ tiếp tục làm suy yếu quyền lực của các chế độ Cộng sản. Tất cả mọi nhân tố này cộng với một khu vực tư nhân mạnh mẽ hơn trong nền kinh tế sẽ dần dần tạo ra một Châu Á dân chủ và phi Cộng sản.

Friday, November 12, 2010

Hoa tự do sẽ bừng nở rộ

Mến tặng Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ

Hãy dẹp đi những trò dơ bẩn
Bắt bớ người hòng bịt miệng dân
Khát vọng tự do sẽ mãi là
Hướng đích đến cao trào dân chủ
Bắt một người muôn người đứng dậy
Quét sạch đi bè lũ hung tàn
Đất nước rồi sẽ lại hồi sinh
Hoa tự do sẽ bừng nở rộ

Phi Vũ

11/12/10

Việt Nam: Từ con hổ châu Á đến chú mèo ngủ đông

Theo Tuanvietnam.net
Tác giả: Trần Đông

Trước kia, nhiều người cho rằng Việt Nam sẽ là con hổ của thế giới trong 15 - 20 năm tới, tiếp đến họ lại cho Việt Nam sẽ là con hổ Châu Á và bây giờ Việt Nam được xem lại là con mèo ngủ đông!

LTS: Ngày 07/11/2010 tại Hà Nội diễn ra buổi Hội thảo về Hội nhập WTO với chủ đề: "4 năm gia nhập WTO, Sự hội nhập của DN Việt Nam" với sự tham gia của hai diễn giả là Ông Lương Văn Tự - Nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại, Trưởng đoàn Đàm phán Việt Nam - WTO, Bà Phạm Chi Lan - Chuyên gia Kinh tế cao cấp. Tuần Việt Nam tổng lược nội dung cuộc trao đổi giữa các DN với hai chuyên gia trong hội thảo.

>> Hội nhập không phải là một cuộc "đánh quả"
>> Việt Nam vẫn làm ăn không giống ai

Thua trên sân nhà

Ông Lương Văn Tự: Sau 4 năm chúng ta gia nhập WTO, môi trường kinh doanh đã thay đổi từ đóng, mở ở mức độ thấp sang môi trường mở ở mức độ cao hơn, hội nhập sâu hơn. Môi trường pháp lý tốt hơn, xóa đi được quan niệm cũ "tân quan, tân chính sách", tạo ra được DN giỏi.

Chính hội nhập mà tư duy của các DN có nhiều thay đổi, từ thụ động sang chủ động hơn, lấy hiệu quả kinh tế làm trọng tâm. Nhiều DN chuyển từ đơn ngành sang đa ngành; từ làm ăn gia đình sang đa sở hữu cổ phần, đại chúng; từ chụp giật sang lâu dài và bền vững hơn.

Những điều này thể hiện qua số lượng DN và chất lượng sản phẩm. Từ 100 ngàn DN năm 2006 lên khoảng 500 ngàn DN năm 2009. Nhiều lĩnh vực có sự tham gia của các DN nước ngoài, một phần tạo nên nhiều nhà quản lý trẻ giỏi, năng động.

Bốn năm trước, Việt Nam chính thức là thành viên WTO.
Tuy nhiên, sau 4 năm gia nhập WTO, nhiều DN của chúng ta vẫn thiếu nghiên cứu một cách khoa học về thị trường và phân khúc của nó. Nhiều DN làm ăn theo kiểu phong trào, bầy đàn, chụp giật; văn hóa kinh doanh chưa cao; thiếu doanh nhân, cán bộ quản lý có trình độ cao; công nghiệp phụ trợ chậm phát triển vì thiếu nguồn lực đầu tư... đặc biệt là vai trò của thể chế chậm cải tiến cho phù hợp với luật chơi chung của toàn cầu.

Bà Phạm Chi Lan: Sau khi gia nhập WTO, VN đã tham gia những quy định chung và tự nhận ra mình được gì và mất gì từ sân chơi ấy. Trước kia, nhiều nhà khoa học của các nước cho rằng Việt Nam sẽ là con hổ của thế giới trong 15 - 20 năm tới, tiếp đến họ lại cho Việt Nam sẽ là con hổ Châu Á và bây giờ Việt Nam được xem lại là con mèo ngủ đông!

Khi đã tham gia WTO, nhiều người đã nói rằng hàng hóa đến đâu thì biên giới quốc gia đến đó và rõ ràng Việt Nam đang thua hàng hóa trên sân nhà, trước nguy cơ cạnh tranh thị trường, đặc biệt là từ Trung Quốc.

Ví dụ, trong một số liệu điều tra tại Trà Vinh, 95% hàng hóa tiêu thụ là hàng Trung Quốc. Nếu chúng ta hội nhập sâu hơn nữa thì không biết hàng hóa Việt Nam sẽ đi đâu về đâu? Đây là một thách thức lớn cho đường lối phát triển hiện nay và sắp tới.

Nếu chúng ta không có những chính sách tốt thì trong thập kỷ tới, nền kinh tế, các ngành và DN Việt Nam khó mà cạnh tranh với các đối thủ "nặng ký" hơn. Đặc biệt, vai trò quản lý rủi ro, nhất là đối với các DNNN cần phải được coi trọng, để "nút thắt" thể chế không kìm hãm tăng trưởng.

Sau khi vào WTO, chúng ta đi theo một mô hình tăng trưởng sai lệch, quá chú trọng đến tăng trưởng theo tốc độ và số lượng, để rồi sung sướng khi mình luôn đứng thứ hai ở châu Á về mức độ tăng trưởng, chỉ sau Trung Quốc. Tuy nhiên, thực tế là 1% tăng trưởng của Việt Nam nhỏ hơn rất nhiều với 1% tăng trưởng của các nước.

Chưa theo được luật chơi

Nhiều người kì vọng, WTO cùng với hội nhập nói chung sẽ là động lực để tạo nên những thay đổi về luật chơi và cách chơi, nhất là về thể chế, chính sách trong nước. Sau 4 năm, việc này đã giúp gì trong việc xây dựng cách chơi của VN theo luật chơi thế giới?

Ông Lương Văn Tự: Hiệu quả hội nhập phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó bản thân chính sách Nhà nước và năng lực của DN là hai yếu tố quan trọng. Các nước họ trở thành những con hổ, con rồng là do chính sách kinh tế vĩ mô và năng lực sản xuất kinh doanh của các DN. Thiếu cả hai điều này nên Việt Nam chưa theo được luật chơi của thế giới.

Bà Phạm Chi Lan: Những cải cách trước đây từ khi ta gia nhập WTO là vẫn chưa đủ để nền kinh tế Việt Nam cất cánh. Thể chế đang là nút thắt của sự tăng trưởng, nút thắt của sự hội nhập sân chơi toàn cầu. Chính vì vậy, chúng ta cần có chiến lược cải cách mới, triệt để và thực hiện nghiêm túc hơn.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan.
Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta xây dựng hệ thống thể chế hiện đại, năng lực thể chế cao (luật pháp, chính sách, bộ máy, con người) mới tận dụng được lợi ích, vượt qua khó khăn. Không có năng lực thể chế sẽ không có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Trong thời gian tới, Nhà nước cần thúc đẩy sự sáng tạo và tăng cường quản lý rủi ro, đề cao vai trò của các DN và xã hội. Nhà nước phải biết lợi thế so sánh của nền kinh tế để phát triển các ngành công nghiệp trong từng giai đoạn, trong đó hai điều kiện tiên quyết phải là hệ thống thị trường cạnh tranh và một nhà nước tạo thuận lợi cho phát triển.

Việt Nam sẽ không dễ thay đổi vị trí trong khu vực nếu cứ tình trạnh chính sách tài chính và chính sách kinh tế có sự cách xa nhau như hiện nay. Cần cải thiện quản trị nhà nước để phát triển các khu kinh tế tự do, cải cách các tập đoàn kinh tế lớn, cải thiện cơ chế đối thoại nhằm tạo đồng thuận.

Thế giới dựa luật, Việt Nam vẫn dựa quan hệ

- Bà Virginia Foote, người gắn bó với quá trình hội nhập kinh tế VN từng chua chát nói: Việt Nam cứ chơi theo luật chơi riêng, thì chỉ có DN Việt Nam tự chơi với nhau thôi. Vậy điều gì cản trở Việt Nam mãi không chơi luật chơi chung của thế giới? Những gì cần điều chỉnh?

Ông Lương Văn Tự: Các DN thế giới sử dụng pháp luật để hợp tác kinh doanh trong khi DN Việt Nam nặng về quan hệ để làm ăn. Điều này có thể dễ trong việc làm ăn, nhưng rõ ràng để chơi được với thế giới là điều không dễ.

Ngoài ra, tính minh bạch và đầu tư cho bộ phận pháp chế để tuân thủ luật lệ thế giới cũng là điều còn rất hạn chế ở những DN Việt. Vì vậy mà các DN Việt Nam tự chơi với nhau cũng là điều dễ hiểu.

Để có thể tiến xa hơn các DN chúng ta nên khắc phục điểm bất lợi này. Đồng thời, chúng ta là nước đang còn nghèo nhưng lại được hưởng những ưu ái của chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong khi các nước nghèo phải làm cả thứ bảy và chủ nhật thì ta chiều thứ sáu đã nghỉ rồi thì làm sao mà giàu được.

Chúng ta phải tham gia vào cuộc chơi toàn cầu và bắt buộc phải nâng tầm mình lên, DN càng khỏe, càng mạnh thì hội nhập càng tốt.

Ngoài ra, bản thân DN cũng phải thay đổi tư duy là đừng trông chờ vào Chính phủ.

Bà Phạm Chi Lan: DN Việt Nam vẫn xem nó là cuộc đánh quả, vẫn tư duy theo kiểu chộp giật, lo cái lợi trước mắt, thiếu tầm nhìn. Bản thân chính sách vẫn còn thay đổi xoành xoạch, thiếu tính tiên lượng. Năng lực cạnh tranh của các DN thấp, tinh liên kết nội bộ các DN trong nước khi ra sân chơi toàn cầu rất ít, vì vậy mà không tạo được sức mạnh cạnh tranh DN với thế giới, vẫn theo kiểu mạnh ai người ấy làm.


Cũng như nói ở trên, một trong những nguyên nhân dẫn đến tính trạng các DN Việt như vậy là do vấn đề chính sách, thể chế, sự hạn chế trong năng lực đại diện cho các DN của các hiệp hội trong việc đối thoại, vận động chính sách, hỗ trợ và liên kết DN, xúc tiến thương mại và đầu tư...

Chính vì vậy, bản thân từng DN phải tự rà soát lại mình, điều chỉnh chiến lược, cách tổ chức kinh doanh, thực hiện những việc cần làm ngay. Coi trọng hơn thị trường trong nước, chuyển mạnh sang chiến lược kinh doanh hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, phát triển các cụm liên kết.

Ưu ái cũng là gây hại

- Sau 4 năm gia nhập WTO thế nhưng nhiều nước vẫn chưa công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường và họ viện dẫn bằng chứng rõ nhất là cách chúng ta phân bổ nguồn lực, với những ưu ái dành cho DNNN. Góc nhìn của ông/ bà như thế nào về điều này?

Ông Lương Văn Tự: Kinh tế thị trường cũng như một thứ game mang màu sắc chính trị. Tiêu chuẩn kinh tế thị trường của Mỹ có một số tiêu chí như đồng tiền chuyển đổi, lao động tự nguyện, lương theo thỏa thuận... những vấn đề nhạy cảm mà Hoa Kỳ quan tâm.

Còn về việc phân bố nguồn lực, tôi nghĩ, nhà nước nên phân bố nguồn lực dựa vào luật đấu thầu, trên các tiêu chí cụ thể.

Bà Phạm Chi Lan: WTO không đưa ra các tiêu chuẩn để nói thế nào là một nước có nền kinh tế thị trường, tuy nhiên cần chú ý các tiêu chí về kinh tế thị trường của các nước hoặc nhóm nước đưa ra và quan trọng nhất là tiêu chí kinh tế thị trường của Mỹ, EU. Nhiều nước nói chúng ta chưa có nền kinh tế thị trường có liên quan đến bảo hộ cho DNNN với việc bán phá giá liên quan đến trợ cấp của Chính phủ.

Thế giới không quan tâm chúng ta có bao nhiêu DNNN, việc này là do chúng ta, tuy nhiên việc đối xử với nó như thế nào trong cuộc chơi toàn cầu lại là chuyện khác.

Nhiều lúc, ở Việt Nam bài toán phân bổ nguồn lực đã không tạo ra được những ưu ái cho số đông DN, thậm chí đã làm méo mó môi trường cạnh tranh. Việc phân bổ nguồn lực không bình đẳng đã làm hại cho cả hai phía.

Đối với bên kinh tế tư nhân bị phân biệt đối xử, thiệt thòi là dễ hiểu rồi, vì đất đai và các nguồn lực ngon lành đều nằm trong tay DNNN. Còn đối với bên DNNN được ưu ái đôi khi lại thành bị hại, như Vinashin là ví dụ sinh động cho vấn đề vay vốn và tiếp cận các nguồn lực một cách dễ dàng và thoải mái.

Đôi khi nhiều nguồn lực quá đối với DNNN lại là tai hại đang rình rập mà họ không hề biết, bởi vì họ đã mất đi khả năng cạnh tranh vốn là sự sống còn của bản thân mỗi DN muốn phát triển.

Đã đến lúc chúng ta phải cắt bỏ điều này đi, hãy để cho nó tự lập mới đủ sức đề kháng trong xu thế hội nhập khốc liệt.

Thursday, November 11, 2010

Thái độ của Trung Quốc áp đặt chủ quyền Biển Đông bị nêu bật tại Việt Nam

Theo RFI

Một tàu tuần tra của Việt Nam gần một đảo của Trường Sa.
Một tàu tuần tra của Việt Nam gần một đảo của Trường Sa.
Reuters
Trọng Nghĩa

Tại cuộc hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ hai mở ra hôm nay ở Thành phố Hồ Chí Minh, tình hình căng thẳng bắt nguồn từ các tranh chấp chủ quyền là nhân tố được hầu hết các chuyên gia chú ý. Phân tích lý do khiến căng thẳng gia tăng thời gian gần đây, giáo sư Carl Thayer nhấn mạnh đến vai trò của Trung Quốc, vừa tăng cường sức mạnh để áp đặt các đòi hỏi chủ quyền, vừa tìm cách phá hoại các nỗ lực của Việt Nam nhằm hình thành một mặt trận thống nhất để đối phó.

Là một chuyên gia tại Học viện Quốc phòng Úc, từng theo dõi hồ sơ Biển Đông từ hàng chục năm qua, trong bài tham luận tại Hội nghị lần này, giáo sư Thayer đã tỏ ý bi quan trước tình trạng có thể nói là « bất di bất dịch » của các đòi hỏi chủ quyền trong vùng Biển Đông. Tình hình tuy nhiên đã xấu đi thêm do việc Trung Quốc vẫn duy trì thái độ « thiếu minh bạch » trong vấn đề Biển Đông, làm dấy lên « những câu hỏi chính đáng về dụng tâm chiến lược của Bắc Kinh ».

Về các hành động quyết đoán gần đây của Bắc Kinh tại vùng Biển Đông, giáo sư Thayer đặc biệt chú ý đến hai nhân tố có liên quan chặt chẽ với nhau :

Trước hết là các vụ liên tục bắt giữ tàu thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam và liên tục áp đặt lệnh cấm đánh cá trên một vùng rộng lớn tại Biển Đông, viện cớ là để bảo đảm nguồn hải sản cho khỏi bị tổn hại. Chỉ mới đây thôi, vào tháng trước, Việt Nam đã phải lên tiếng yêu cầu Bắc Kinh trả tự do cho một chiếc tàu đánh cá của tỉnh Quảng Ngãi, cùng với 9 ngư dân bị họ chận bắt trước đó.

Ngoài ra, để có thể tiến hành thuận lợi các hành động độc đoán kể trên, Trung Quốc đã không ngừng tăng cường đội tàu kiểm tra ngư trường của họ, còn được gọi là tàu ngư chính. Giáo sư Thayer ghi nhận : « Trung Quốc đang tăng cường năng lực củng cố các đòi hỏi chủ quyền của họ trong vùng Biển Đông bằng cách làm ra thêm nhiều chiếc tàu Ngư chính ».

Đối với chuyên gia nghiên cứu Thayer, « đà vươn lên của Trung Quốc và tiến trình hiện đại hóa và chuyển hóa của quân đội Trung Quốc sẽ tiếp tục làm cho giới hoạch định chính sách quốc phòng trong khu vực cảm thấy là bối cảnh chiến lược bất ổn định thêm ».

Bắc Kinh sẳn sàng dùng vũ lực?

Câu hỏi mà giới quan sát đặt ra là mới đây, khi đôn vùng Biển Đông lên hàng « lợi ích cốt lõi », ngang hàng với Đài Loan hay Tây Tạng, phải chăng là Trung Quốc bắn tín hiệu cho thấy là họ sẵn sàng dùng võ lực để bảo vệ các đòi hỏi chủ quyền của họ ?

Trong số các nước có tranh chấp chủ quyền với Bắc Kinh tại vùng Biển Đông, Trung Quốc đặc biệt gay gắt với Việt Nam, quốc gia luôn luôn tìm cách thiết lập một mặt trận chung nhằm đối phó với các đòi hỏi chủ quyền của láng giềng phương Bắc.

Từ đầu năm đến nay, Việt Nam đã cố gắng đẩy mạnh các nỗ lực ngoại giao để tiến tới một bộ quy tắc ứng xử giữa các bên tại vùng Biển Đông mang tính ràng buộc hơn đối với các nước ký kết. Theo giáo sư Thayer, Bắc Kinh đã tìm cách phá hoại các nỗ lực của Việt Nam, trong tư cách chủ tịch ASEAN, nhằm hình thành một mặt trận chung đối phó với Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông.

Tại Diễn đàn An ninh Khu vực ASEAN hạ tuần tháng 7, ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã lên tiếng kêu gọi một cách tiếp cận đa phương để giải quyết các tranh chấp Biển Đông. Lời kêu gọi này đã bị Trung Quốc phản bác dữ dội vì nước này chủ trương giải quyết song phương với từng nước, đồng thời không muốn Hoa Kỳ can thiệp quá sâu vào khu vực.

Tuy nhiên, quan điểm mới của Hoa Kỳ về Châu Á cũng như Biển Đông đã tiếp tục được các lãnh đạo Mỹ khẳng định, từ bộ trưởng quốc phòng Robert Gates cho đến người lãnh đạo cao nhất là Tổng thống Barack Obama.

Trong một chừng mực nào đó, theo ghi nhận của giáo sư Thayer, vấn đề đặt ra hiện nay là khu vực Đông Nam Á sẽ tiếp tục "chịu ảnh hưởng của cuộc cạnh tranh giữa các đại cường quốc". Đối với hồ sơ Biển Đông, câu hỏi quan trọng cần đặt ra là thực lực của Hoa Kỳ ra sao và quyết tâm của họ như thế nào trong việc duy trì thế cân bằng quyền lực trong lĩnh vực hàng hải.