Translate

Wednesday, August 11, 2010

Cựu thù’ trên mẫu hạm USS George Washington

Trích NguoiViet Online

USS GEORGE WASHINGTON - Hôm 8 tháng 8, 2010, một ‘phái đoàn liên ngành’ trong đó có các sĩ quan hải, lục, không quân của quân đội Việt Nam đã có chuyến thăm hàng không mẫu hạm USS George Washington khi mẫu hạm di chuyển ngang khu vực ngoài khơi miền Trung Việt Nam, giữa Ðà Nẵng và quần đảo Hoàng Sa, cách đất liền khoảng 200 hải lý.

Cuộc viếng thăm của ‘phái đoàn liên ngành’ Việt Nam là một phần trong một loạt hoạt động quân sự kéo dài 5 ngày, kỷ niệm 15 năm bình thường hóa quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam, vốn dĩ là ‘cựu thù’ cách đây 35 năm.

Dưới đây là một vài hình ảnh của chuyến thăm được trích từ trang mạng của Hạm Đội 7, Hải Quân Hoa Kỳ:



Các sĩ quan, giới chức và các nhà báo Việt Nam thăm phòng chỉ huy của mẫu hạm USS George Washington. (Hình: Mass Communication Specialist 3rd Class Danielle A. Brandt/ U.S. Navy)




Đại Úy Bùi Trung Tân của Hải Quân Việt Nam đứng trên boong tàu quan sát các chiến đấu cơ của Hoa Kỳ cất cánh và hạ cánh. (Hình: Mass Communication Specialist 3rd Class Danielle A. Brandt/ U.S. Navy)



Các sĩ quan cao cấp của Việt Nam quan sát bên trong mẫu hạm USS George Washington. Từ trái qua: Đại tá hải quân Ngô Sĩ Quyết, Đại tá không quân Nguyễn Văn Thọ, Đại tá không quân Phạm Ngọc Dũng và một sĩ quan lục quân. (Hình: Mass Communication Specialist 3rd Class Danielle A. Brandt/ U.S. Navy)



Viên chức và nhà báo Việt Nam chụp hình lưu niệm trên phi đạo của hàng không mẫu hạm USS George Washington. (Hình: Mass Communication Specialist 2nd Class John J. Mike/ U.S. Navy)

Tuesday, August 10, 2010

Lo lắng Trung Quốc, các nước Á Đông tăng cường quận sự

Trích Đàn Chim Việt

VN mua 6 tầu ngầm của Nga trong kế hoạch hiện đại hóa quân sự. Ảnh minh họa, nguồn On the net

WASHINGTON POST (9/8/2010): Các quốc gia Nam Á đang tăng cường sức mạnh quân sự, thông qua việc mua sắm tầu ngầm và máy bay chiến đấu với nhịp độ kỷ lục, đồng thời có sự sáp lại chiến lược với Mỹ như một lá chắn chống lại sự trỗi dậy và những yêu sách trên toàn biển Nam Trung Hoa của Trung quốc.

Việc mua sắm vũ khí trong khu vực đã tăng gần gấp đôi từ năm 2005 tới năm 2009 so với 5 năm trước đó, theo những dữ liệu do viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm ấn hành năm nay.

“Tồn tại một nỗi lo sợ tại một số nước Nam Á” giám đốc nghiên cứu của học viện, ông Siemon Wezeman nói, “Trung quốc là vấn đề ở khu vực này”.

Chuyện mua sắm sẽ còn được tiếp tục, với những báo cáo rằng Việt nam đã thỏa thuận chuyển 2,4 tỷ đô la để mua của Nga 6 tầu ngầm loại Kilo và khoảng 12 máy bay chiến đấu SU-30MKK để trang bị cho hải quân. Thêm vào sự kiện này là việc Úc cũng cam kết mua hoặc sản xuất thêm 9 tàu ngầm và tăng cường cho không quân với 100 máy bay F-35s do Mỹ sản xuất. Malaisie cũng đã bỏ ra 1 tỷ đô la để mua 2 tàu ngầm diesel của Pháp, và Indonesie cũng mới vừa tuyên bố sẽ mua những tàu ngầm mới.

Những lo ngại của các nước Nam Á do sự nổi lên của trung quốc đã bộc lộ tại diễn đàn an ninh khu vực, bao gồm các quốc gia thuộc Hiệp hội các quốc gia châu Á, Hoa Kỳ, Trung quốc và các quốc gia mạnh khác của châu Á. Trong hội nghị, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hyllary Rodham Clinton lần đầu tiên đã tuyên bố hoàn toàn bác bỏ những yêu sách chủ quyền của Trung quốc đối với toàn bộ 1.3 triệu dặm vuông mặt biển. Mười một quốc gia khác, đứng đầu là Việt nam, với sự ủng hộ của Mỹ, đã dồn bộ trưởng ngọai giao Trung quốc vào thế hoàn toàn bị động, các nhà ngoại giao có mặt đã khẳng định như vậy.

Hoa Kỳ và các nước Đông Nam Á đã đẩy Trung quốc vào thế chịu trận, vì, các viên chức Mỹ và Nam Á nói, Trung quốc đã trở nên ngày càng hiếu chiến.

Trung quốc đã cải tạo nhiều tầu chiến thành các tàu hành chính hàng hải và đem đến sử dụng trên vùng biển. Ngày 23 tháng sáu, một tàu đánh cá của Indonesie bị đuổi khỏi vùng biển mà họ tuyên bố có chủ quyền, bởi một tàu quản lý nghề cá của Trung quốc- một chiế tàu chiến cũ có trang bị súng máy hạng nặng. Trong năm ngoái, hạm tàu của Trung quốc đã bắt ít nhất 22 tàu đánh cá việt nam, theo truyền thông Việt nam. Trung quốc cũng đơn phương ra lệnh cấm đánh bắt hải sản trên vùng biển đang còn tranh chấp.

Thứ năm vừa rồi, Việt Nam tố cáo Trung quốc vi phạm chủ quyền của việt nam khi tiến hành khảo sát địa chấn trên quần đảo Hoàng sa. Người phát ngôn của bộ ngoại giao Việt Nam, Nguyễn Phương Nga đã tuyên bố, tàu Trung quốc đã tiến hành những hoạt động khảo sát địa chấn từ cuối tháng 5, gần khu vực quần đảo Hoàng sa, thuộc chủ quyền của Việt nam, đồng thời trên những lô dầu và khí đốt trên thềm lục địa.

“Việt Nam yêu cầu Trung quốc chấm dứt ngay và không lặp lại những vi phạm về chủ quyền của Việt Nam”, bà nói.

Trong nhiều năm, các chuyên gia từng dự báo rằng “quyền lực mềm” cùng với sự tăng trưởng kinh tế của Trung quốc sẽ cho phép Trung quốc thống trị khu vực. Nhưng, do chính sách ngoại giao của Trung quốc ngày càng trở nên thô bạo, khu vực này quá lo ngại điều sẽ xảy ra, đáng lẽ sẽ sử dụng sự trỗi dậy của Trung quốc như đối trọng chiến lược với ưu thế của Hoa Kỳ , thì, năm nay.. .báo cáo của Viện Chính trị đối ngoại Úc kết luận , “đa số các nước châu Á hình như lại lặng lẽ đến gần Mỹ để cân bằng quyền lực chống lại tiềm năng tương lai của Trung quốc”.

Trong năm 2009, khi được hỏi chọ nuớc nào là nguồn ổn định và hòa bình lớn nhất cho khu vực, trong vòng 10 năm tới, các “tinh hoa chiến lược” trong vùng, đa số đều chọn Hoa Kỳ, theo điều tra của Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế Washinton. Kết quả điều tra đưa ra rằng: Quốc gia đặt ra những đe dọa lớn nhất cho khu vực là Trung quốc chứ không phải Bắc Triều tiên, như người ta tưởng.

Các chuyên gia đếu nhất trí rằng, chương trình mua sắm vũ khí của Việt Nam là quan trọng nhất, bởi vì nó đặc biệt nhằm ngăn chặn Trung quốc. Thực chất, việc tăng cường sức mạnh phòng thủ bờ biển tương đối mạnh để Trung quốc buộc phải cân nhắc mỗi khi đưa ra những yêu sách.

“Việt Nam đầu tư nhiều tiền và tập trung trên biển với tàu ngầm và tàu chiến thậm chí cả tên lửa”, Carl Thayer, giáo sư của Viện Hàn lâm Lực lượng Quốc phòng Úc tuyên bố.

Việt Nam cũng bắt tay với một số đối tác. Họ có mối quan hệ tốt với Ấn độ, một trong những đối thủ chính của Trung quốc trong khu vực. Lực lượng của Ấn độ cũng được trang bị bằng tàu ngầm loại Kilo của Nga, được xem như nơi huấn luyện cho thủy thủ việt nam. Nhưng Việt Nam càng ngày càng đến gần với Mỹ.

Lãnh đạo quân sự và chính phủ hai nước thường xuyên gặp gỡ. Người ta nói tới mối quan hệ chiến lược. Những cuộc họp cao cấp chính thức hóa quan hệ quân sự đang được chờ đợi trong năm nay. Thương mại giữa hai nước cũng tăng trưởng tốt đẹp, tăng từ 2,9 tỷ đô la năm 2002 lên 15,4 tỷ đô la trong năm 2009.

Sau khi tham gia diễn tập quân sự với Nam Hàn cuối tháng bảy, tàu không hạm USS George Washington đã có mặt trên biển Việt Nam vào cuối tuần qua và đón chào các sĩ quan cao cấp quân đội Việt Nam đến thăm. Trung quốc đã phản đối Mỹ tập trận chung với Nam Hàn. Trong khi đó, Việt nam đã chào đón hải quân Mỹ.

Mỹ cũng đồng thời đang chuẩn bị sẵn sàng để củng cố nền công nghiệp năng lượng hạt nhân của Việt Nam. Theo chứng thực trước Quốc hội tháng Năm của Vann H. Diepen, phó bộ trưởng An inh quốc tế và không phổ biến hạt nhân, hai nước đã ký bản Ghi nhớ về triển vọng hợp tác hạt nhân dân dụng vào tháng Ba. Hai nước cũng thu xếp cho phép Việt Nam tự làm giàu Uranium đế sản xuất năng lượng. Trong tháng 11, Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn việc xây dụng hai nhà máy điện hạt nhân đầu tiên. Và dự kiến sẽ xây dựng từ 8 đến 10 nhà máy nữa.

Bùi Quang Vơm dịch

© Đàn Chim Việt

Monday, August 9, 2010

Mỹ-Việt từ đối đầu đến hợp tác quân sự

Trích VOA News

Hàng không mẫu hạm USS Geoge Washington đến Việt Nam để kỷ niệm 15 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa 2 nước
Hình: U.S. Navy

Hàng không mẫu hạm USS Geoge Washington đến Việt Nam để kỷ niệm 15 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa 2 nước

Tin liên hệ

Hàng không mẫu hạm USS George Washington của Hoa Kỳ đang hiện diện ngoài khơi duyên hải Việt Nam trong chuyến thăm nhân dịp hai quốc gia cựu thù kỷ niệm 15 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao song phương.

Theo giới phân tích, thời điểm của sự kiện này cho thấy mối quan tâm đang gia tăng của Mỹ trong việc duy trì an ninh và ổn định tại khu vực Châu-Á Thái Bình Dương trong bối cảnh có căng thẳng giữa Trung Quốc với Việt Nam cũng như các nước Đông Nam Á tranh chấp chủ quyền lãnh hải ở biển Đông, và căng thẳng giữa Nam-Bắc Triều Tiên sau vụ Bắc Triều Tiên bị cáo buộc đánh chìm tàu chiến của miền Nam.

Bản tin AP trích lời các giới chức hải quân Hoa Kỳ cho biết trong mấy ngày qua, các tàu hải quân của Trung Quốc liên tục theo dõi chiến hạm USS George Washington từ xa khi chiếc hàng không mẫu hạm của Mỹ tiến vào Biển Đông dọc theo bờ biển phía Tây của Việt Nam.

Hôm Chủ nhật, hạm trưởng Ross Myers của chiến hạm George Washington nhấn mạnh tầm quan trọng chiến lược của vùng lãnh hải tại Biển Đông và sự tự do lưu thông trong khu vực này là thiết yếu đối với cả hai nước Việt-Mỹ.

Khi được hỏi bình luận liên quan đến sự lấn lướt của Trung Quốc tại khu vực, hạm trưởng Myers nói ông biết rằng chính phủ và nhân dân Trung Quốc đang ra sức bảo vệ quyền lợi của họ, nhưng quan trọng hơn là Việt Nam và các nước đối tác phải chứng tỏ rằng họ cũng có quyền bình đẳng về thịnh vượng kinh tế và hòa bình trong khu vực.

Quan hệ hợp tác quân sự Việt-Mỹ gia tăng kể từ khi tàu chiến đầu tiên của Hoa Kỳ ghé thăm Sài Gòn hồi năm 2003, cùng với các cuộc đàm phán cấp cao giữa giới chức quốc phòng đôi bên và các buổi huấn luyện.

Tin AP cho hay tàu khu trục USS John McCain của Mỹ sẽ cập cảng Việt Nam vào cuối tuần này.

Theo dự kiến, hải quân hai nước sẽ tổ chức các sự kiện trao đổi văn hóa, các buổi tập huấn về các hoạt động như tìm kiếm và cứu hộ.

Nguồn: AP, Scotsman.com

Sunday, August 8, 2010

Phạm Duy: 'Giấc mơ hồi hương' sụp đổ.

Trích DCV Online

Cô Gái Đồ Long


DCVOnline: Trân trọng giới thiệu bạn đọc một bài viết về nhạc sĩ Phạm Duy của tác giả Cô Gái Đồ Long, với những chi tiết thú vị. Xin bạn đọc lưu ý, ngày trình diễn của chương trình này là hai ngày 17 và 18 tháng Bảy năm 2010.

Trong phạm vi nào đó, âm nhạc và chính trị là hai phạm trù đối kháng với nhiều cá nhân coi âm nhạc đơn giản chỉ vị nghệ thuật và không – với những người dùng các sáng tác để ca tụng chế độ mình phục vụ hay bày tỏ chính kiến, quan điểm, tâm trạng về thời cuộc. Và như thế, Phạm Duy là một trường hợp mà hầu như ai cũng tỏ tường lý lịch và không nhất thiết phải mổ xẻ thêm nữa. Ở đây chỉ đề cập tới vài chuyện trong những năm qua khi ông quay về…

Phàm làm người, nhất là một nhân vật văn nghệ đặc biệt như Phạm Duy thì chuyện bỏ đi rồi lại quay về rất có nhiều cái dở nếu bàn về lập trường và quan điểm sống. Ở vào thời điểm tháng 5/2005, khi ông chính thức định cư Việt Nam sau 30 năm tha hương, hầu hết các báo đều hết lời ca tụng, tâng bốc Phạm Duy lên tận mây xanh. Người ta nhắc ông như người bạn thân thiết với nhạc sĩ Quốc ca Văn Cao và cùng Văn Cao sáng tác nhiều ca khúc trong thời kháng chiến chống Pháp, người ta khẳng định chắc nịch lần nữa rằng ông chính là một trong những cây đại thụ hiếm hoi còn lại của nền tân nhạc Việt Nam. Người ta cũng chỉ nói me mé rằng Phạm Duy đã sáng tác gần 1.000 ca khúc nói lên niềm vui, nỗi buồn, vinh quang, tủi nhục của người Việt trong suốt các thời kỳ sôi động nhất của lịch sử và lờ đi những chuyện phản phé, cũng như tư tưởng chống Cộng công khai của ông trước đây. Báo chí Việt Nam đã làm đúng vai trò và trách nhiệm của mình, trong xu thế cởi mở xem sự kiện Phạm Duy là động thái lên dây cót cho nhiều Việt kiều vứt bỏ e ngại rào cản mà quay về, ông trở thành nhịp cầu nối quê hương với người Việt xa xứ. Nếu nói theo cách khác, Phạm Duy đã trở thành con bài cho công cuộc vận động kiều bào và là điển hình hoàn hảo của chính sách hòa hợp dân tộc.

Họp báo về chương trình ca nhạc "Mơ giấc mộng dài" của Phạm Duy ở Sài Gòn. Nguồn: vanhoalacviet.org
Trong suốt 5 năm qua, nếu theo dõi sẽ thấy có 70 bài hát, 7 album cùng nhiều sách của Phạm Duy đã được cấp phép, in ấn đẹp mắt xuất bản đến với công chúng, không bỏ bèn gì đối với gia tài của ông. Nhưng, thật là chẳng nên mơ mộng thêm điều gì nếu nhìn qua vài nhân vật cũng có nhân thân khá đặc biệt khác như Hoàng Thi Thơ, Trần Thiện Thanh, Vũ Thành An – 10 bài Không tên hiện vẫn chưa được phép lưu hành, cho dù nhạc sĩ này nghe đâu đã bỏ đời đi tu. Công lao đó không thể không nói tới Phương Nam Phim, nơi độc quyền khai thác các sản phẩm trí tuệ của Phạm Duy. Với những live show hoành tráng và nhiều mỹ cảm thực hiện tại Sài Gòn - Hà Nội như Ngày trở về, Con đường tình ra đi…trong đó có chương trình và album còn được để cử giải thưởng Cống Hiến. Ngày nào còn ngồi rung đùi nheo mắt ngắm nắng ở Mỹ có lẽ Phạm Duy cũng chẳng thể mơ được đến như thế! Phạm Duy còn có nhiều trường ca và tổ khúc viết trong 30 năm nay, ông thường ước ao giá được phổ biến nữa thì còn gì bằng. Mới tháng trước, Phạm Duy tự thực hiện tổ khúc Bên kia sông Đuống để tặng nhà thơ Hoàng Cầm khi bạn già này từ giã thế gian. Ông nhờ Mỹ Linh hát và Duy Cường hòa âm phối khí, xong mang tặng cho gia đình Hoàng Cầm …để lên bàn thờ. Kiểu này gọi là đĩa lậu đây! Khi kể xong chuyện, Phạm Duy còn bảo rằng nếu trước khi ông ra đi như Hoàng Cầm mà nghe được những tổ khúc của mình được công bố rộng rãi trên sân khấu thì đời mới thật mãn nguyện lắm lắm. Làm người ai chẳng tham lam!

Hôm rồi gặp, nghe Phạm Duy tâm sự: “Tôi ngày nào cũng đi bộ 3 tiếng đấy. Khỏe ra lại ăn được nhiều, cô giúp việc nhà nấu ngon lắm. Hiện Duy Minh đang sống với tôi, bố con chuyện trò rất hiểu ý nhau nên tinh thần cũng thoải mái. Buồn thì đi gặp vài người bạn khề khà thôi cũng hết buổi. Lâu rồi tôi không đi qua Mỹ nữa, năm ngoái chỉ sang để chữa bệnh đau ruột, mãn tính chữa mãi không khỏi nên thôi giờ không đi nữa. Tôi đã về Việt Nam 5 năm rồi, đây là nơi cuối cùng tôi chọn để ở và chết, không ưng đi đâu cả…”. Ở tuổi 91 như vậy coi cũng đã bằng an! Nhưng đó là chuyện cá nhân ông, còn người làm kinh doanh lại không có lệ an phận như vậy, nhất là khi đã bỏ nhiều công sức và tiền bạc để Phạm Duy được đường hoàng trở về. Trong chừng thời gian đó là live show, các ấn phẩm sách báo rồi băng đĩa…cứ mỗi lần ra mắt, muốn bán vé bán đĩa bán sách thì phải PR, tiếp thị, phải lên báo đánh trống khua chiêng la làng để người ta còn biết đường mà mua hàng. Nếu theo dõi báo chí trong nước, sẽ không khó nhận ra ngoại trừ vài tờ báo lớn như Thanh Niên, Tuổi Trẻ có những mối quan hệ thân thiết với PNF thì các tờ báo mang tính định hướng chính trị - xã hội cao như SGGP, Nhân Dân, Công An sau khi ồn ào với sự kiện “Trở về” của Phạm Duy đã không còn đăng tải tin, bài về ông nữa. Mọi sự không tự nhiên mà như thế!

Giấp phép cho trình diễn phúc khảo để được quyết định cho trình diễn chương trình ca nhạc "Mơ giấc mộng dài" của Phạm Duy ở Sài Gòn. Nguồn: vanhoalacviet.org
Còn nhớ sau liveshow “Ngày trở về” tôi có bài review trên một trong những tờ báo đó và kết quả là ban biên tập đã được cấp trên gọi xuống nhắc nhở. Lần khác, khi bão Chanchu tàn phá miền Trung phòng trà Văn Nghệ có kết hợp với báo Công An tổ chức show “Phạm Duy – Về miền Trung” để quyên góp tiền cho nạn nhân lũ lụt. Thế nhưng giờ chót đã phải tháo băng rôn và gỡ tên báo ra vì có lệnh xuống là không được nhắc nhở gì tới Phạm Duy nữa, muốn tổ chức hát hò gì cứ âm thầm mà làm. Nói như giọng hằn học của ông NSND Trọng Bằng: “Bàn đến Phạm Duy những người chân chính ở Việt Nam đã biết cả rồi, biết Phạm Duy như thế nào trong quá khứ, Phạm Duy có cái gì tốt, cái gì chưa tốt, bản chất của Phạm Duy và giá trị thật âm nhạc của anh người nghe đều hiểu cả. Sự trở về của Phạm Duy là sự ưu ái của Đảng và Nhà nước, sự rộng lượng của nhân dân ta, nên đừng đặt mình ở vị trí cao, cứ nên im lặng mà làm việc thôi. Có những tác phẩm anh sáng tác đầu kháng chiển rất tốt, bây giờ Cục biểu diễn người ta khuyến khích cho phép anh trở về biểu diễn, thì cứ thế mà cống hiến thôi. Dư luận chúng ta hơi dễ dãi và nhẹ dạ. Nhưng vấn đề là Phạm Duy phải tỉnh táo. Vì ông hoàn toàn hiểu ông là ai, quá khứ đối với dân tộc của Phạm Duy là một tội lỗi. Ông không thể so sánh ông với bất cứ một nhạc sỹ nào đã tham gia cách mạng, vì thế ông không thể nào so sánh với nhạc sỹ Văn Cao. Không thể ví được. Văn Cao là một con người có trình độ, là một nhà nghiên cứu dân tộc, ông Văn Cao là một người toàn diện, và ông Văn Cao còn biết tôn trọng những người nhạc sỹ đàn em đi vào con đường âm nhạc bác học, một người rất khiêm nhường biết mình, biết ta. Giả sử có một nhạc sỹ X, Y, Z nào đó hỏi: Khi chúng tôi đi đánh Mỹ giải phóng dân tộc thì ông làm gì? Chắc chắn rằng nếu là người hiểu biết đều hiểu rõ khi đó ông là tác giả của các bài hát chống lại cách mạng, chống lại nhân dân, chống lại công cuộc giải phóng dân tộc…”.

Nhưng không ít ý kiến phản biện lại: Đánh kẻ chạy đi ai đánh kẻ chạy lại. Đã bảo hòa hợp mà sao lại nửa mùa như thế... Và người ta phỏng đoán rồi suy ra rằng: “À, Thì ra họ gia ơn cho về là may mắn lắm rồi!”. Có người còn hài hước qui cho bản chất không thay đổi của mấy anh Việt Cộng với ưu điểm – nhớ dai & khuyết điểm – thù dai. Trong cuộc trao đổi với những nhà văn Mỹ tổ chức tại Việt Nam tháng 6 vừa qua, nhà thơ Nguyễn Duy còn hào hứng nói:“ Vấn đề gì chính trị chưa giải quyết được thì văn hóa giải quyết”. Nhưng hình như đó chỉ là những định kiến và là chuyện nhạy cảm mà hai bên đều mơ mộng sẽ vượt qua được.

Ngay cả khi Đàm Vĩnh Hưng được hát ở hải ngoại, thì ca sĩ Ý Lan vẫn bị liệt vào thành phần nhạy cảm ở trong nước và chỉ được hát ở phòng trà, mà không được trình diễn trên hệ thống truyền hình? Nguồn: vanhoalacviet.org
Về mặt trận báo chí là thế. Nhưng suy cho cùng, Phạm Duy cũng chẳng vì vài bài báo tâng bốc mà nổi tiếng hơn hay cát-xê tăng cao hơn như kiểu thường tình showbiz. Cái quan trọng - mà riêng cá nhân tôi vẫn dõi theo ông, là những ca khúc Phạm Duy viết sau khi trở về đã không còn hay nữa. Đã cố nghe vài bài nhưng thú thật là bây giờ rặn óc mãi vẫn không nhớ nổi cái tựa. Với Phạm Duy bây giờ chỉ có thể gói gọn lại một câu: Cái mới không hay và cái hay thì lại không mới. Và người ta vẫn cứ say mê những ca khúc đã thuộc về dĩ vãng, bíu lấy cái vầng sáng cũ kỹ kia. Lớp khán giả này hiện đa phần đã lớn tuổi và không hứa hẹn gì nhiều cho tương lai của nhạc Phạm Duy.

Những ngày đầu tuần không yên ả, khi sáng ra hàng chục cuộc gọi tới hỏi về cái lệnh miệng của Ban tư tưởng Văn hóa yêu cầu không cho quảng bá liveshow Mơ giấc mộng dài của Phạm Duy – diễn ra vào hai ngày 17&18 tại nhà hát Hòa Bình cuối tuần này. Mặc dù có tổ chức họp báo nghiêm túc, nhưng coi như Phương Nam Phim đành ngậm đắng nuốt cay khi biết nhiều bài viết đã lên khuôn nhưng bị lột ra. Chưa hết, sáng nay không hiểu từ đâu có nguồn tin đồn: Mơ giấc mộng dài bị hủy show vì không xin giấy phép được, khiến nhà tổ chức xiểng niểng.

Kinh doanh tên tuổi Phạm Duy quả là chơi với lửa, đó cũng thể là những chuyện mà có lẽ PNF đã lường được khi quyết định đổ tiền vào ông. Lấy ý tưởng từ ca khúc nổi tiếng Tôi đang mơ giấc mộng dài, xuyên suốt chương trình sẽ là lời tự sự về dĩ vãng, về những cảm xúc đắm say mà những người sống trong tình yêu không bao giờ muốn để mất đi trong đời. Tất cả nối kết lại thành những giai đoạn của đời người: Tuổi ấu thơ – Tuổi yêu đương – Tuổi day dứt – Tuổi đá vàng. Thực tế hiện nay chỉ mới có 70 ca khúc của Phạm Duy được cấp phép lưu hành, trừ những bài hát trong hai chương trình đã diễn ra, thì muốn chọn lọc trong số còn lại để làm một show mang chủ đề lớn là điều rất nan giải.

Trong đám đông ca sĩ hiện nay, Phạm Duy đánh giá cao những người hát nhạc ông: Mỹ Linh, Đức Tuấn, Năm Dòng Kẻ, Nguyên Thảo, Khánh Linh và lần này, trong Mơ giấc mộng dài sẽ có thêm vài gương mặt bổ sung vào danh sách là Tấn Minh và Hà Anh Tuấn. Ngoài ra là hai tên tuổi gắn bó nhiều năm với các nhạc phẩm Phạm Duy: Ý Lan và Duy Quang. Giá vé đang bán ở Hòa Bình: từ 300.000 đến 1.500.000 VNĐ.

P/s:

Người ta thường xài hai chữ Nhạy cảm khi muốn từ chối bàn thẳng về một vấn đề có thể gây tác động đến dư luận. Không chỉ Phạm Duy thuộc chủ đề nhạy cảm chính trị, mà gần đây vài nghệ sĩ hải ngoại cũng nằm trong danh sách đó. Ngày 6-6 vừa qua, chương trình Thắp sáng niềm tin – do Ngân hàng ACB thực hiện nhân kỷ niệm thành lập ACB; nhằm quyên góp tiền ủng hộ quỹ từ thiện Chung một tấm lòng. Đêm diễn đặc biệt có mời Ý Lan về hát và mua sóng phát trực tiếp trên HTV7. Tuy nhiên, vào giờ chót Đài truyền hình TP.HCM đã yêu cầu gạch tên Ý Lan ra khỏi chương trình – cùng với lý do trên: nhạy cảm. Do đó, người hâm mộ chỉ có thể xem Ý Lan tại các phòng trà hay những show diễn không ghi hình phát sóng cho đại chúng.

Ông Nguyễn Cao Kỳ chia vui trong tiệc mừng nhà Lý Huỳnh. Nguồn: vanhoalacviet.org
Kế bên là nhạc sĩ Hồ Bông, người ngồi là NSND Huy Thành và Đoàn Dũng. Chụp ngày 26-6-2010 trong dịp Sách kỷ lục VN công nhận Tây Sơn hào kiệt là Bộ phim Điện ảnh - thể loại dã sử võ thuật, đầu tư quy mô và hoành tráng nhất Việt Nam. Đây cũng là một nhân vật nhạy cảm và không còn được nhắc tới nữa, mặc dù ông vẫn thường xuyên về thăm quê hương. Thật ra, một đất nước giàu mạnh và một chế độ đã vững vàng…người người trên dưới một lòng thì không cần đặt ra lằn ranh giữa nhạy cảm chính trị và văn nghệ thuần túy! Thường thì ta chỉ e ngại những kẻ khỏe - giàu - đẹp hơn mình…Haizaaa!!!


DCVOnline



Nguồn:

(
1) PHẠM DUY : "Giấc mơ hồi hương" sụp đổ. Cô Gái Đồ Long. Bài này hiện được đăng trên nhiều trang mạng và blogs khác nhau. DCVOnline lấy nguồn cho bài này từ mạng vanhoalacviet.org; và theo trang này, nguồn tin được lấy từ Diễn Đàn Việt, tuy nhiên DCVOnline đã không truy cập được gốc của bài này trên Diễn Đàn Việt.

Saturday, August 7, 2010

Một vài hình ảnh cuộc biểu tình chống văn công Việt cộng tại Sydney ngày 6/08/2010

Trích Tâm thức Việt Nam
Nguồn: Internet
August 6, 2010

Chỉ cách một con đường chưa đầy 6 thước nhưng đã gạch rõ ra hai chiến tuyến Quốc - Cộng, Chính - Tà. Bên kia đường là rạp hát, có lác đác vài người đi vào trong rạp, những người với trí nhớ kém cỏi, những người chỉ biết ngày hôm nay, đã quên hẳn đi ngày hôm qua và chẳng cần biết gì đến ngày mai; họ chỉ biết hưởng vui cho chính họ mà thôi; họ là những người có trái tim nhỏ bé và ích kỷ; họ có đôi tai nhưng chẳng còn nghe được điều hay lẽ phải; họ có mắt nhưng không phân biệt đâu là gian tà, đâu là chánh nghĩa.

Trái lại bên này đường, hơn 2000 đồng hương tụ họp về Sydney để phản đối sự hiện diện của tên ca sĩ Việt cộng Đàm Vĩnh Hưng đang thi hành nhiệm vụ tuyên truyền cho CSVN. Đáng lẽ hôm nay, một buổi chiều thứ Sáu, chúng ta có thể ở nhà quây quần với gia đình để vui vẻ sau một tuần làm việc mệt nhọc, thế nhưng bà con không ngại đêm đông lạnh lẻo cũng chỉ vì tương lai của con cháu, tương lai của dân tộc và cho chính nghĩa. Chúng ta đến đây để ngăn chặn lại sự xâm nhập của csvn tới đất tự do.



August 6, 2010

Chân Phương – Nhà văn Việt Nam nghĩ về Hội Nhà văn Việt Nam: “Tự sự của lồng chim” và “thực tế của xà lim”

Chân Phương – Nhà văn Việt Nam nghĩ về Hội Nhà văn Việt Nam: “Tự sự của lồng chim” và “thực tế của xà lim”

Cái lý thú bất ngờ quanh vụ Đàm Vĩnh Hưng

BS Trần Xuân Ninh
tamthucviet.com
August 1, 2010
Nghe
Tải xuống để lưu giữ



Hình thật quang cảnh hội trường



Hình từ web BBC


Những nhạc hội tổ chức tại nhiều nơi ở Mỹ với Đàm Vĩnh Hưng và một số văn công VC khác trình diễn không ngờ đã tạo sôi nổi khác thường. Không ngờ sôi nổi vì nhiều lý do. Hải ngoại nói chung luôn luôn biểu tình chống đánh các phái đoàn văn công hoặc là đại diện đảng và nhà nước VC ra hải ngoại thì ai cũng biết rồi. Ở Atlanta, nhạc hội ĐVH bị phản đối và thất bại nặng vì chỉ chừng 200 mạng tham dự, đa số là du sinh chở xe buýt tới, trong một hội trường vài ngàn người, thì cũng chỉ là tin lớn đối với điạ phương. Tại San Jose, không ngờ Lý Tống giả gái tặng hoa để xịt hơi cay vào Đàm Vĩnh Hưng đã là đề tài thảo luận rộng rãi trong mọi cộng đồng hải ngoại. Cái tin Phan Thị Thanh Hằng cán bộ gái của toà tổng lãnh sự được hai cận vệ lôi chạy ra ngoài, khi thấy Đàm vĩnh Hưng la lên “Cay quá! Cay quá” và hội trường náo loạn cũng đã tạo bàn tán cười cợt trong nhiều giới hải ngoại. Cười cợt cái quyết tâm sống chết của cán bộ đảng với đàn em như thế nào.

Những bài viết ca tụng Đàm Vĩnh Hưng của các bồi bút trên mạng điện tử cũng là điều bình thường, không ai để ý, vì “phủ bênh phủ, huyện bênh huyện” là lẽ thường tình ở đời. Văn công VC viết báo ca tụng văn công CS ca hát chẳng mấy ai thèm để ý nếu không có cái lối nguỵ luận tương tự kiểu Đỗ Dzũng để chuyển những thông điệp “theo lề phải” nhằm vô hiệu hoá sự biểu hiện ở hải ngoại cái tâm thức chống độc tài CS biến thái, hay là bài của Sonny Lê trên San Jose Mercury News. Sonny Lê đã nêu ra một số câu hỏi có vẻ như là quan tâm đến quốc gia dân tộc để tạo ra cho những người cùng trang lứa những suy nghĩ đắn đo phải trái mà không có câu trả lời, vì không hiểu bao nhiêu về Việt nam, và vì không nói tiếng Việt để hiểu được chính bố mẹ mình. Bài này đã được trang điện tử Đàn Chim Việt nhanh chóng lược dịch phổ biến. Cái hình Sonny Lê trẻ là một chú ý, khi mà ở hảỉ ngoại từ bấy lâu nay đã có những quan tâm tới vai trò người trẻ trong đấu tranh. Sự được chọn lựa đăng trên một tờ báo Mỹ cũng là một điều làm cho bài viết được chú ý, ít ra là đối với một số người có đầu óc vọng ngoại.

Nhưng mà cũng không ngờ là đã có những người cũng trẻ, lên tiếng ngay góp ý, trả lời nhiều ngụy luận sai trái của Sonny Lê. Vì thế cái sự kiện báo ngoại quốc loan đi có vẻ như không còn là yếu tố gia tăng giá trị thuyết phục của một bài viết như trong quá khứ. Nói cho ngay thì kể từ sau 30 tháng 4/1975 nhiều người dân miền Nam sống dưới chế độ VNCH đã không còn tin tưởng ở những cơ quan truyền thông ngoại quốc như VOA, BBC, khi thấy những cơ quan này đã đóng góp vào sự sụp đổ nhanh chóng của VNCH bằng những tin tức sai lạc cố tình. Thí dụ như loan tin quân VC chiếm một thành phố trong khi chúng còn ở tận rất xa, hay là chỉ trích biạ đặt về tinh thần chiến đấu tồi tệ của binh sĩ VNCH tạo hoang mang cho dân chúng và các đơn vị quân đội ở những nơi khác.

Chuyện Đàm Vĩnh Hưng không ngờ đã lại một lần nữa lộ ra cái gọi là khách quan trung thực của các cơ quan truyền thông quốc tế. Trên website của đài BBC tiếng Việt, người ta thấy một cách rất quân bình những hình ảnh về cuộc biểu tình đông đảo chống Đàm Vĩnh Hưng và hình những người ngồi xem trong hội trường và các “fan” (người ái mộ) trương biểu ngữ “yêu Đàm Vĩnh Hưng” cũng như xin chữ ký các văn công khác. Khổ nỗi hình hội trường và khán giả ngồi xem đông đảo của BBC không đúng với hình thật hội trường cũng được các nhiếp ảnh gia khác nhau phóng lên các trang web. Bởi vì các hình thật cho thấy hội trường gồm những hàng ghế sắp theo bậc thang, hàng sau cao hơn hàng trước, và người xem lèo tèo chừng vài chục mạng từng nhóm ngồi tụm vào nhau. Hình trên trang web đài BBC thì các ghế là trên một mặt phẳng bằng, và đàng sau là một cái nền sẫm với mờ mờ nguời thật đông đảo. Đài VC hay là một báo điện VC trong nước như Cộng an Nhân Dân, Tuổi Trẻ hay VNexpress, TuầnVN vân vân mà đi những hình ảnh nguỵ tạo này thì không nói làm gì. Nhưng những hình này ở trên website BBC thì thật là chẳng còn điều gì đáng nói nữa.

Cái hay và lý thú bất ngờ của chuyện ĐVH là thế.

Bác sĩ Trần Xuân Ninh
(ngày 31 tháng 7/2010)

Friday, August 6, 2010

Việt Nam cần đẩy mạnh nghiên cứu về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa

Trích RFI
và Trường Sa
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn
Đức Tâm

Vận động công luận quốc tế là yếu tố quan trọng trong cuộc đấu tranh giành lại chủ quyền chính đáng của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Khi so sánh tình hình Việt Nam và Trung Quốc, có một điều dễ dàng nhận thấy là chính quyền Bắc Kinh bật đèn xanh cho việc tuyên truyền công luận, giới học giả Trung Quốc được tham dự các hội thảo, đăng tải những bài viết bênh vực, biện minh cho lập trường của Trung Quốc.

Trong khi đó, tình hình tại Việt Nam thì gần như ngược lại hoàn toàn. Báo chí chính thống trong nước có đăng một số bài, chủ yếu là tổng hợp, trích dẫn các bài viết của giới nghiên cứu, thám hiểm nước ngoài trước đây, không có những bài viết nghiêm túc, mang tính học thuật. Thi thoảng có thông tin bằng tiếng Việt là lại tìm thấy thêm bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam. Còn trên diễn đàn thông tin quốc tế, trong các tập san chuyên ngành thì Việt Nam hầu như vắng bóng.

Mỗi khi xẩy ra những vụ Trung Quốc bắt giữ ngư dân Việt Nam đòi tiền chuộc, đâm chìm hoặc đe dọa, xua đuổi tàu đánh cá của Việt Nam thì công luận trong và ngoài nước lại được nghe tuyên bố quen thuộc của đại diện bộ Ngoại giao « Việt Nam có chủ quyền không thể chối cãi được đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa». Tất cả tạo cảm giác là chính quyền coi đây là một vấn đề chính trị thuần túy, rất nhậy cảm, không phải công việc của giới nghiên cứu.

Đây là những chủ đề mà RFI trao đổi cùng giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, tại Sydney, Úc. Với tư cách là một nhà khoa học, ông cho biết những suy nghĩ cá nhân và đưa ra một vài gợi ý.

*

RFI : Xin chào giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, trong vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc, một trong những yếu tố quan trọng là phải vận động công luận trong và ngoài nước. Trong thòi gian qua, phía Trung Quốc đã có những hoạt động theo hướng này. Đối với công luận trong nước, họ cho đăng những bài viết bênh vực lập trường của chính phủ, cho lập các diễn đàn hỏi đáp với sự tham gia của các học giả. Trên các web site của Trung Quốc hoặc quốc tế, giới nghiên cứu Trung Quốc đăng các bài phân tích, nhận định, đương nhiên là khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ờ đây mình chưa nói đến là các bài viết này đúng sai, ngụy tạo ra sao. Trong khi đó, ở Việt Nam, mọi việc có vẻ ngược lại. Thưa, giáo sư có ý kiến gì về tình trạng này ạ ?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn : Trước tiên, cảm ơn anh đã hỏi ý kiến về những vấn đề mà cá nhân tôi quan tâm. Tôi không phải là chuyên gia về khoa học xã hội, hay về những vấn đề thời sự như Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng đã là người Việt, thì bất cứ ai, chẳng riêng gì tôi, cũng quan tâm đến chủ quyền chính đáng của đất nước mình.

Trong thời gian gần đây, nói gần đây tức là vào khoảng hai chục năm nay, tôi cũng có theo dõi vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng không phải với tư cách là chuyên gia mà chỉ là một người quan tâm đến đất nước. Thành ra, tôi cũng biết những tin tức ở bên Trung Quốc. Họ có hẳn một chiến dịch để vận động quần chúng, trong cũng như ngoài nước, để chứng minh luận điểm của họ là Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Tôi nghĩ đây là một tranh chấp mà Việt Nam ở vào thế không được thuận lợi lắm. Lý do như sau. Khi mình đưa vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa ra quốc tế, thì mình cần phải có rất nhiều dữ liệu, bằng chứng khoa học. Nhưng trong thực tế, tôi phát hiện ra một điều là chúng ta rất thiếu các công trình nghiên cứu, các bài viết mang tính học thuật, bằng tiếng Anh trên các tập san quốc tế.

Phía Trung Quốc có khá nhiều, không phải là nhiều lắm nhưng khá nhiều bài viết, dĩ nhiên là nghiêng hẳn về luận điểm của họ. Tôi thấy đây là điều rất bất hạnh cho mình. Phần lớn chuyên gia quốc tế, không phải người Trung Quốc, mà là người Mỹ, châu Âu, thấy Việt Nam có những chứng từ cho thấy mình có chủ quyền trên hai quần đảo đó. Thế nhưng, mình lại không công bố những chứng từ đó trên các diễn đàn khoa học quốc tế. Thành ra, rất ít người biết.

Tôi nhớ là có một chuyên gia người Mỹ hay người châu Âu gì đó, nói là rất muốn trình bầy bằng chứng để cho thấy là Việt Nam có tư cách chủ quyền trên hai quần đảo đó, thế nhưng khi tìm tài liệu trên các diễn đàn khoa học quốc tế, ông ấy chỉ tìm thấy tài liệu của Trung Quốc mà không thấy tài liệu của Việt Nam. Điều này đã làm tôi rất ngạc nhiên.

Cách đây vài năm, tôi có làm một thống kê các bài báo khoa học của Việt Nam trên các tập san quốc tế. Tôi đã phát hiện ra một điều thú vị : Trong số 3456 bài trong 10 năm, từ 1996 đến 2005, chỉ có 69 bài, xấp xỉ 2%, liên quan đến khoa học xã hội. Tôi xem qua tất cả 69 bài này thì không có bài nào liên quan đến vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa.

Thành ra, mặc dù chúng ta có nhiều chứng từ, nhưng dường như chúng ta nói để chúng ta nghe, chứ chúng ta chưa có trình bày các chứng từ đó một cách có hệ thống trên các diễn đàn quốc tế. Đây là một thiệt thòi của phía Việt Nam.

RFI: Thưa giáo sư, nếu nhìn vào các bài viết được công bố trên báo chí trong nước, thì đa phần lại chỉ dựa vào các nghiên cứu trước đây hoặc là những bài viết của các học giả ngoại quốc. Phải chăng đây cũng là một trong những yếu kém của giới nghiên cứu Việt Nam hiện nay trong vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa ?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn : Tôi cũng thấy như vậy. Phần lớn những cái gọi là nghiên cứu, chứ thực ra những cái bài mà các nhà trí thức Việt Nam công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, như mấy tờ báo hàng ngày, mấy tạp chí hàng tuần hay hàng tháng, nói một cách nghiêm chỉnh, đó không phải là những công trình nghiên cứu. Nó chỉ là những tập hợp những công trình nghiên cứu của người đi trước và chỉ diễn giải lại.

Thậm chí, tôi thấy diễn giải cũng không có gì mới. Những công trình nghiên cứu mà chúng ta cần có là những công trình nghiên cứu mới, cho ra ý tưởng mới, hay là cách diễn giải mới. Chúng ta không có những bài như vậy. Thay vào đó, chúng ta có những ý kiến cảm tính. Nói người Việt Nam cảm tính thì cũng không công bằng. Bởi vì nếu xem qua những bài của giới gọi là học giả Trung Quốc thì họ cũng rất cảm tính. Có những luận điệu của họ mà khi đọc, mình không biết họ thuộc giới học thuật hay là họ thuộc loại chỉ nói lấy được.

Khi xuất hiện trên diễn đàn quốc tế, thì không thể dùng cảm tính được, phải dùng bằng chứng. Những yêu cầu như vậy đòi hỏi phải có nghiên cứu nghiêm chỉnh, phải có học thuật, phải có chuyên môn, chứ không thể là cứ lâu lâu, chúng ta lại trưng bầy ra một bằng chứng từ thế kỷ 19 hay 18 rồi nói đây là bằng chứng cho thấy chúng ta có chủ quyền trên hai hòn đảo này. Đó cũng là một cách diễn giải, nhưng đã là khoa học, thì chúng ta phải trình bầy một cách diễn giải khác. Tức là đặt ra một cách diễn giải, rồi bác bỏ cách diễn giải đó, để chứng mình rằng cách diễn giải về chủ quyền của mình là đúng. Đó mới là cách làm việc khoa học. Nhưng rất tiếc là trên các phương tiện báo chí Việt Nam thì chưa có những công trình như thế.

RFI: Tại Việt Nam hiện nay, thì cũng có những viện, những tổ chức tiến hành nghiên cứu về hồ sơ này. Thế nhưng, có một thực tế, là các sản phẩm của họ lại rất ít khi được đăng tải trên các phương tiện truyền thông hoặc trên các chuyên san, diễn đàn quốc tế.

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn : Đúng vậy. Tôi có theo dõi một hội nghị ở Singapore cách đây vài năm. Trong số khoảng năm chục bài tham luận từ các nước Đông Nam Á và Trung Quốc, chỉ có một bài duy nhất là từ Việt Nam. Bài đó là của một quan chức ở Việt Nam. Đọc bài này, ngoài vấn đề tiếng Anh sai tùm lum, thì luận điểm không có gì có thể gọi là khoa học cả. Tôi nghĩ, với những bài như vậy xuất hiện trên diễn đàn quốc tế thì nó làm giảm uy tín hơn là làm tăng uy tín.

Ở Việt Nam, tất nhiên cũng có những người làm nghiên cứu nghiêm chỉnh. Nhưng khổ nỗi là nhiều khi họ không có phương tiện để công bố những nghiên cứu của họ trên các diễn đàn quốc tế. Diễn đàn ở đây mà tôi muốn nói là những tập san học thuật, tập san khoa học quốc tế. Thứ nhất, có thể họ kém tiếng Anh. Thứ hai, có thể họ không có được sự khuyến khích của những giới chức có thẩm quyền trong nước.

Chẳng hạn gần đây có một học giả ở thành phố Hồ Chí Minh, chuyên nghiên cứu về Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng lại không được phép đi dự một hội thảo liên quan đến Biển Đông ở Philadelphia, Mỹ. Lý do mà người ta viện dẫn : Anh ấy không phải là đảng viên và nếu muốn đi thì phải có những quan chức của bộ Ngoại giao đi kèm.

Tín hiệu thứ hai là có một hội thảo ở thành phố Hồ Chí Minh vào năm ngoái, được tổ chức trong điều kiện rất hạn hẹp. Số người tham gia bị giới hạn bởi một lý do nào đó.

Năm ngoái, vào tháng 11, học viện Ngoại giao ở Hà Nội có tổ chức một hội nghị liên quan đến Biển Đông. Thế nhưng, các nhà khoa học thực sự, tức là những người thực sự nghiên cứu, có tài liệu về Biển Đông thì lại không được mời tham dự.

Do vậy, tôi thấy gần đây có những tín hiệu cho thấy giới nghiên cứu nghiêm chỉnh ở Việt Nam về Biển Đông hình như không được sự khuyến khích của chính phủ để mà phát biểu trên các diễn đàn quốc tế.

RFI: Thưa giáo sư, phải chăng chính quyền không tin tưởng vào khả năng của giới nghiên cứu hay là chính quyền cho rằng đây là một hồ sơ nhậy cảm, mang tính chính trị nhiều hơn ?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn : Tôi không rành, không hiểu suy nghĩ của họ ra làm sao. Mình không có bằng chứng để nói rằng họ không tin tưởng giới học thuật ở Việt Nam. Nhưng có lẽ do nhậy cảm về chính trị. Các giới chức có trách nhiệm ở Việt Nam, hình như nhìn vấn đề này theo nhãn quan chính trị hơn là nhãn quan học thuật.

Đó là một thiệt thòi cho chúng ta. Tại sao ở Trung Quốc, người ta không nhìn theo kiểu đó ? Họ mở diễn ra rất lớn để cho mọi người vào tham gia theo kiểu « lấy thịt đè người », tức là lấy số đông và nói lấy được. Thậm chí họ mở những diễn đàn trên đó có nhiều lời khiêu khích Việt Nam như bày mưu tính kế đánh Việt Nam, sẽ chiếm trong vòng một vài tuần, đại khái như vậy. Thế nhưng, Việt Nam lại không khuyến khích giới học giả bàn một cách nghiêm chỉnh mà ngược lại, còn có xu hướng không cho họ lên tiếng trên các diễn đàn quốc tế. Tôi cho đó là một thiệt thòi.

RFI: Giả sử giới nghiên cứu, học thuật Việt Nam được khuyến khích viết, đăng tải các bài viết của họ trên diễn đàn quốc tế, thì có lẽ còn một số vấn đề khác cũng đáng quan tâm, đó là việc nghiên cứu có hệ thống, có chuyên môn và việc công bố các bài viết bằng ngoại ngữ ?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn : Có một thực tế cần phải ghi nhận ở đây là trong giới nghiên cứu về khoa học xã hội ở Việt Nam, số người trực tiếp nghiên cứu các vấn đề liên quan đến Biển Đông rất là ít. Ngay cả những người nghiên cứu về Biển Đông, thì họ cũng không xuất phát từ ngành nghiên cứu khoa học xã hội. Đó chỉ là những « nghề tay trái ». Họ xuất phát từ những ngành nghề chẳng dính dáng gì đến khoa học xã hội, họ có thể là bác sĩ, kỹ sư, ký giả, phóng viên. Nói theo ngôn ngữ thông thường họ là những nhà nghiên cứu tài tử, không chuyên, nhưng họ lại rất giỏi về lĩnh vực này.

Ngược lại, những người có trách nhiệm hoặc ít ra trên danh nghĩa, họ nghiên cứu Biển Đông thì lại không có những công trình nghiên cứu có giá trị so với những người tạm gọi là nghiên cứu tài tử. Những người làm nghiên cứu về Biển Đông ở trong nước rơi vào tình trạng chúng ta nói cho chúng ta nghe, chứ chúng ta chưa nói cho thế giới nghe. Đây là điểm cần phải thay đổi trong nay mai, nếu chúng ta muốn quốc tế hóa vấn đề Biển Đông.

Gần đây, cũng có một vài tín hiệu tương đối tốt. Ở nước ngoài, có một nhóm bạn trẻ lập Quỹ nghiên cứu Biển Đông. Họ không có nhiều người, thuộc nhóm nghiên cứu mà ta gọi là tài tử - tuy nói tài tử nhưng đó là những người có học rất cao, có bằng tiến sĩ về vật lý, máy tính, khoa học, v.v. Họ có vài nỗ lực đáng khen và khích lệ. Họ lên tiếng trên các báo chí bằng tiếng Anh, thậm chí còn viết trên các báo ở Philippines, để gióng một tiếng nói chung của Đông Nam Á liên quan đến vấn đề Biển Đông. Những bạn trẻ như vậy làm được những chuyện rất có ích.

Tôi chợt nghĩ hay là trong tương lai, chúng ta cần có người đứng ra tổ chức, huy động các anh em ở nước ngoài quan tâm đến Biển Đông để lên tiếng về vấn đề này. Nhiều khi đồng nghiệp ở trong nước không được khuyến khích lên tiếng, nếu trông chờ vào họ quá thì có lẽ không công bằng cho họ.

RFI: Giáo sư vừa đề cập đến một ý mà tôi có ý định hỏi là vai trò của giới trí thức hải ngoại ?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn : Tôi nghĩ trong lĩnh vực này, giới trí thức ở hải ngoại có vai trò quan trọng. Có thể lấy ví dụ trong vụ Hội Địa lý ở Mỹ vừa rồi in bản đồ sai, thì chính những người Việt Nam ở hải ngoại là những người lên tiếng đầu tiên và ở một góc độ nào đó, họ đã thành công, làm áp lực để Hội Địa lý Mỹ phải sửa lại bản đồ cho đúng.

Tôi nghĩ, giới trí thức ở hải ngoại có những lợi thế. Thứ nhất, họ tiếp cận thông tin nhiều hơn, kịp thời hơn so với trong nước. Họ quen với phong cách làm việc của giới khoa học ở phương Tây. Và họ quen thuộc ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh. Ở ngoài này, họ có thể giúp dịch các bài viết. Đây là ba lợi thế mà giới trí thức ở ngoài có thể đóng một vai trò tương đối quan trọng để nâng cao tiếng nói của Việt Nam về vấn đề Biển Đông trên trường quốc tế.

Đài phát thanh quốc tế Pháp xin cảm ơn giáo sư Nguyễn Văn Tuấn.

Thursday, August 5, 2010

Bộ Ngoại Giao VN tiếp nhận hồ sơ về chủ quyền Hoàng Sa

Trích NguoiViệt Online
HÀ NỘI - Sáng ngày 2 tháng 8, Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã tổ chức lễ tiếp nhận bộ hồ sơ có liên quan đến chủ quyền quần đảo Hoàng Sa do tỉnh Thừa Thiên Huế trao lại.

Tập tài liệu này mang tên “Ty khí tượng tại đảo Hoàng Sa năm 1955.”

Bộ hồ sơ gồm 12 trang tài liệu, với 6 trang tiếng Pháp và 4 trang tiếng Việt do Ty Kiến Thiết của Việt Nam Cộng Hòa lưu lại. Hồ sơ này ghi toàn bộ các hoạt động trong giai đoạn từ năm 1897 tới năm 1960, trong đó ghi chép như nhật ký các hoạt động của Ty Khí Tượng Hoàng Sa có đầy đủ chữ ký, con dấu, các bút tích cần thiết của một hồ sơ được tin cậy.

Tài liệu này được xem là hồ sơ gốc có thể chứng minh chủ quyền biển đảo của Việt Nam và sẽ được dùng trong các vụ tranh chấp.

Bộ hồ sơ được nhân viên ‘Chi cục Văn Thư Lưu Trữ’ tỉnh Thừa Thiên Huế phát hiện và lưu giữ từ nhiều năm nay.



Ðảo Phú Lâm (Trung Quốc đổi tên thành đảo Vĩnh Hưng, tên trên bản đồ quốc tế là Woody Island) trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam do Trung Quốc chiếm giữ kể từ năm 1974. Trung Quốc xây dựng phi trường, 2 bến cảng, nhiều cơ sở quân sự và dân sự trên đảo này. (Hình: MyOpera.com)

Tỉnh Thừa Thiên Huế đã từng phát hiện nhiều tài liệu, văn bản quý giá có liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và đã chuyển giao cho Bộ Ngoại Giao Việt Nam. Trong đó có hai tờ Châu bản do nhà nghiên cứu Phan Thuận An tìm thấy. Một văn bản chữ Hán khác được viết trên giấy dó do làng Mỹ Lợi, xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc cất giữ từ hơn 250 năm nay.

Rất nhiều chứng từ, bản đồ cổ của Việt Nam và quốc tế ghi nhận Hoàng Sa thuộc về Việt Nam. Tuy nhiên quần đảo này hiện vẫn do Trung Quốc kiểm soát sau khi tấn công và chiếm giữ từ quân đội Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1974.

Nhà nước Việt Nam trong nhiều năm trước đây chưa bao giờ công khai thành lập một ủy ban nghiên cứu hay tìm kiếm bằng chứng về chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mặc dù Trung Quốc bỏ rất nhiều tiền của, công sức vào công tác này.

Sự nhu nhược của chính phủ Việt Nam đã bị trí thức trong và ngoài nước lên án. Mới đây một cuộc hội thảo về Biển Ðông đã được tổ chức tại trường Ðại Học Temple do các giáo sư, học giả, nhà nghiên cứu khoa học, lịch sử hải ngoại tổ chức với những bản tham luận hết sức công phu và sâu sắc.

Chứng cứ lịch sử về chủ quyền quốc gia liệu có ích gì khi nhà nước vẫn tiếp tục bưng bít thông tin do lo ngại nước lớn tước mất những quyền lợi cầm quyền hiện nay? (LT

Wednesday, August 4, 2010

“Việt Nam và quả đấm thép bọc nhung”(!?) - Toàn dân Việt Nam hãy cảnh giác!

Trích Bauxite VietNam

Hoàng Dzung

image

“… Việt Nam có đủ khả năng để đối phó" với vũ lực lớn gấp bội phần từ bên ngoài, nếu đó không phải là nói đùa để lấy tiếng, hoặc để làm tê liệt cảnh giác của mọi người?

Bài Việt Nam và quả đấm thép bọc nhung” trên trang mạng BBC tiếng Việt ngày 29 tháng 7, năm 2010 có cho biết trong buổi trả lời phỏng vấn của báo “Bưu điện Hoa Nam buổi sáng” (South China Morning Post) "không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó"; sau đó báo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng này có đăng bài với tựa đề 'Ánh thép và chiếc găng tay nhung của Việt Nam' (A flash of steel and the velvet glove from Vietnam). tại Hồng Kông, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam có nói Việt Nam sẽ

Đọc xong bài trên BBC và 2 lời tựa nói trên tôi bỗng nghĩ:

Có phải chăng BBC & South China Morning Post đã không hiểu truyền thống của Việt Nam, hay đã xuyên tạc Việt Nam và lời nói của Nguyễn Chí Vịnh? Hay South China Morning Post nhân danh ai đó để có ý định gì? Hay chính ông Nguyễn Chí Vịnh đã phát biểu thay ai đó để đạt một ý đồ nhất định nào đó?.

Tạm chưa bàn thực chất về Nguyễn Chí Vịnh và động cơ phát biểu (với lối nói úp mở và lòng vòng theo kiểu ‘danh bất chính ngôn bất thuận’) của ông ấy, nhưng đã là người Việt nam thực thụ và ai là người am hiểu Việt Nam thì đều biết rằng phương châm ứng xử cơ bản trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của Việt Nam chưa bao giờ là “Quả đấm thép” cả, mà là “Lấy nhu thắng cương – Lấy nhược thắng cường – Lấy đại nghĩa thắng hung tàn – Lấy chí nhân thay cường bạo”.

Nếu BBC & South China Morning Post có hiểu sai thì cũng đã đành, nhưng với cương vị là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, nếu không phải là người mất gốc và kém am hiểu thì chí ít ông Nguyễn Chí Vịnh cũng phải hiểu đúng phương châm và truyền thống đó của Việt Nam; nói rộng hơn là đảng cầm quyền thì ắt đảng này càng phải biết điều đó, nếu không hiểu điều đó là mất gốc, mà “mất gốc” là “mất nước”.

Qua việc quán triệt phương châm ứng xử này trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của mình và đã đúc kết cách ứng xử đó thành lời, Việt Nam đã chứng minh cụ thể trước đó hàng ngàn năm và lâu hơn nữa lý thuyết về Sức mạnh mềm” và khái niệm về “Sức mạnh thông minh” (sự kết hợp giữa sức mạnh cứng và sức mạnh mềm) của Giáo sư người Mỹ Joseph Nye.

Ông cha ta quả thật thông minh với phương châm đó, bởi đó là phương cách sinh tồn của một dân tộc nhỏ bé như dân tộc ta bên cạnh người láng giềng không lồ, tham lam và nham hiểm luôn nuôi dã tâm bành trướng thế lực và xâm chiếm các lân bang.

Bản năng sinh tồn là bản năng gốc của mọi sinh vật, bởi vì bản năng ấy có vai trò quyết định và chi phối mọi bản năng còn lại của mọi sinh vật trên thế gian này; thậm chí bản năng này cũng đóng vai trò chính trong việc chi phối tư duy, ý thức và lương tri của con người. Khi một nội dung cụ thể của bản năng sinh tồn – với tư cách là bản năng gốc – trở thành ý thức và chân lý của con người và của toàn xã hội thì nó sẽ trở thành niềm tin, sự kiên định, sự ngoan cường, đức hy sinh, sự khôn ngoan, sự linh hoạt, mà kết quả cuối cùng và trên hết là sự đoàn kết của toàn xã hội, một sức mạnh tổng hợp vô cùng mạnh mẽ hơn hẳn mọi loại “quả đấm thép” mà nhân loại được biết đến nay. Đành rằng chỉ có sức mạnh vật chất mới thắng được sức mạnh vật chất và chính nghĩa chỉ phát huy đầy đủ tác dụng khi được sức mạnh vật chất hỗ trợ đúng mức, nhưng sức mạnh vật chất đơn thuầnsức mạnh mềmsức mạnh thông minh của Việt Nam. Diễn đạt theo bối cảnh hiện đại thì đó là sức mạnh của sự đoàn kết trên cơ sở của lòng yêu nước, của chính nghĩa kết hợp với sức mạnh của tình đoàn kết và sự giúp đỡ chí tình và thiết thực của quốc tế. Sức mạnh ấy không xuất phát, cũng như không dựa hoàn toàn và đơn thuần vào “quả đấm thép’’ tự thân của kẻ yếu. đối với người ở thế yếu chưa bao giờ là yếu tố quyết định trong mọi cuộc đối đầu với kẻ mạnh. Hầu như tất cả các dân tộc đã bị diệt vong trước sức mạnh của vật chất là vì họ đã không có, hoặc chưa kịp huy động được sức mạnh tổng hợp nói trên của toàn dân tộc. Lịch sử nhân loại đã chứng minh điều đó. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh điều đó. Sức mạnh tổng hợp này một khi đã chứng minh được cho mọi người trên thế giới thấy rằng đó là chính nghĩa, là lương tri, thậm chí đó cũng là lợi ích của chính họ thì sẽ được những lực lượng xã hội có lương tri trên thế giới đồng tình và ủng hộ. Đó là cơ chế định hình và tạo nên diện mạo của

Trần Hưng Đạo và Nguyễn Huệ ắt hẳn đã không có được những “quả đấm thép’’ thực sự, nếu chỉ dựa vào sức mạnh vật chất đơn thuần!

Trong tình hình cụ thể của Việt Nam hiện nay:

Nếu khoe khoang về “quả đấm thép” thì đó là một sự khoác lác.

Nếu quá tin vào “quả đấm thép” thì đó là một sự hoang tưởng.

Nếu gieo rắc về “quả đấm thép” thì đó là một sự ru ngủ.

Kinh nghiệm đời sống và kinh nghiệm lịch sử cho thấy, khi muốn gây hấn với một ai đó, trước hết người ta ra sức bôi nhọ đối phương bằng mọi cách, trên mọi phương diện và mọi khía cạnh – kể cả khía cạnh dị biệt về văn hóa và tư tưởng, phong tục và tập quán, đức tin và tôn giáo – cốt sao cho đối phương trở thành một đối tượng đáng khinh, đáng ghét, đáng sợ và đáng căm thù. Tiếp theo là bằng mọi thủ đoạn – kể cả thủ đoạn bỉ ổi nhất – để tô vẽ đối phương thành mối đe dọa cho những lợi ích thiết thân nhất của cộng đồng. Sự phản tuyên truyền này sẽ có hiệu quả tức thì khi đã biến được đối phương thành hình ảnh của mối đe dọa trực tiếp và nguy hiểm nhất cho điều kiện sinh tồn để kích hoạt bản năng tự vệ và những tình cảm ích kỷ thấp kém nhất của cộng đồng. Đến đây thì chỉ cần một cái cớ hợp lý nào đó nữa thôi là hai cộng đồng người có thể lao vào cuộc xâu xé nhau, loại bỏ nhau một cách say sưa chí tử. Đó là sự mù quáng mang tính bản năng của loài người và cũng là lúc con người bị biến thành phương tiện sống để phục vụ cho những thế lực đen tối và những ý đồ đen tối của chính con người.

Đối phương của ta đang làm chuyện đó hàng ngày, hàng giờ trên phạm vi toàn quốc của họ và đang chờ sự chín muồi của sự kiện, cũng như đang chờ một cái cớ khả dĩ nào đó để có thể mở rộng ranh giới quốc gia của họ, nếu có thể thì sẽ xóa sổ chúng ta trên bản đồ thế giới.

Nền tảng sức mạnh vật chất của đối phương chúng ta là sức mạnh của một nền kinh tế khổng lồ dựa trên một nền công nghệ và kỹ thuật đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, cùng với sự áp đảo tuyệt đối về số lượng con người – những con người đang có một nhu cầu nóng bỏng về không gian sinh tồn bất tận, đang cần và đang chỉ có một lối thoát duy nhất trên đường biển phía Nam của họ, đang mang một quan điểm và khát vọng khẳng định và vươn tới vị trí trung tâm của cả nhân loại – mà họ đã tự kỷ ám thị từ thưở xa xưa và tự cho là đã bị đánh mất – kết hợp với một nền văn hóa lâu đời với tất cả những sắc thái xưa và nay, tức với tất cả mặt sáng và mặt tối cực đoan của nền văn hóa ấy;

Điều ấy cho thấy chính họ mới có “quả đấm thép” chứ không phải chúng ta; mặc dù trong lịch sử chính “sức mạnh mềm” “sức mạnh thông minh” của chúng ta đã từng chiến thắng.

Chính nhu cầu mang tính bản năng sinh tồn này cùng với sức mạnh áp đảo về con người đang mang trong mình một nền văn hóa và truyền thống lịch sử của hàng nghìn năm trước đây, kết hợp với một nền văn minh chưa phát triển đầy đủ và chưa đồng bộ ấy sẽ lấn át cả lý trí và bất chấp cả đạo lý mà nhân loại đã đạt được và tuân thủ từ trước đến nay;

Chính họ sẽ viết lại lịch sử và phân chia lại thế giới cả về quyền lực, sự thịnh vượng lẫn bản sắc và sự phân bố về dân số của thế giới trong tương lai;

Theo tương quan và xu thế phát triển tất yếu dễ dàng nhận thấy ấy, chính họ sẽ mang lại sự phát triển lẫn sự diệt vong, niềm hạnh phúc lẫn nỗi bất hạnh cho chính họ và cho một bộ phận không nhỏ của nhân loại trong tương lai; đó là một tương lai cam go và không xa lắm. Một tương lai xa hơn là họ sẽ tự chuốc lấy bất hạnh khi thế giới bị họ dồn ép đến ranh giới của sự tồn vong và sẽ đoàn kết thành một khối để chống lại họ. Số phận của họ sẽ là số phận mà nhân loại đã từng dành cho những tên bạo chúa và những thế lực hủy diệt khác trong lịch sử.

Giờ đây giải pháp hữu hiệu nhất, việc làm gian truân nhất, sứ mạng cao cả nhất của những người tỉnh táo của cả hai phía là đề cao lý trí, thức tỉnh luơng tri, giữ vững đạo lý, hóa giải hận thù, tăng cường hiểu biết lẫn nhau để ngăn chặn cuộc xâu xé của khối người mù quáng đang bị kích động ấy.

Những người tỉnh táo là những thành phần bao giờ cũng có mặt ở những cộng đồng, nhất là ở một dân tộc. Họ là những chỉ dấu cho thấy rằng lương tri của con người không bao giờ vắng mặt trong thế giới loài người, nhưng điều tệ hại, trớ trêu và nan giải nhất là chỉ khi những chuẩn mực đạo đức sơ đẳng nhất của con người bị chà đạp và những lợi ích sơ đẳng thiết thân nhất của con nguời nói chung và của chính họ nói riêng bị xâm hại một cách trực tiếp và trắng trợn nhất thì lương tri của số đông trong họ mới được đánh thức. Các cuộc phản chiến trong hàng ngũ quân đội Pháp và quân đội Hoa Kỳ khi hai nước này tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, các cuộc tuần hành ban đầu còn lẻ tẻ, về sau đã trở nên hết sức đông đảo và bền bỉ qua suốt chiều dài của cuộc chiến để phản đối chiến tranh của các tầng lớp nhân dân hai nước này là những minh chứng. Thậm chí ở Pháp hồi ấy đã có người dùng chính thân mình nằm ngang đường sắt để chặn cả đoàn tàu chở quân và vũ khí tiếp tế cho chiến tranh, nhằm gây chú ý cho công luận; hay ở Mỹ đã có người bỏ lại cả vợ trẻ và con thơ để tự thiêu, làm cây đuốc sống nhằm thức tỉnh lương tri đang ngái ngủ của số đông và của khối người mù quáng đang say máu lao vào cuộc xâu xé nhau trong cuộc chiến tranh với Việt Nam.

Ứng chiến là giải pháp cuối cùng, là hạ sách và bất đắc dĩ, nhưng vô cùng cần thiết khi không còn cách nào khác.

Đứng trước một thách thức vô cùng to lớn và nguy hiểm cực kỳ nghiêm trọng đối với vận mạng quốc gia và dân tộc như vậy mà lòng yêu nước của toàn dân không được hun đúc, không được tích tụ và nâng cao, sự đoàn kết của dân tộc không được vun vén và củng cố, tinh thần cảnh giác của cộng đồng không được đánh thức và mài sắc… thì làm sao phát huy được sức mạnh tổng hợp của đất nước để có một “quả đấm thép” đúng nghĩa của nó? Làm sao có thể nói được rằng “… Việt Nam có đủ khả năng để đối phó" với vũ lực lớn gấp bội phần từ bên ngoài, nếu đó không phải là nói đùa để lấy tiếng, hoặc để làm tê liệt cảnh giác của mọi người?

Bày tỏ lòng yêu nước thì bị cấm đoán, vạch mặt chỉ trán kẻ thù thì bị bắt bớ. Ngoài biển khơi thì bắt tay với kẻ thù để tuần tra chung trên vùng biển hải đảo thuộc chủ quyền của Tổ quốc mà đáng lẽ ra mình phải có trách nhiệm khẳng định sự bất khả xâm phạm của vùng biển và hải đảo đó trước bất cứ lực lượng nào của nước ngoài. Khi nhắc đến kẻ gây hấn và xâm lấn thì không dám chỉ đích danh mà chỉ nói chiếu lệ và úp mở bằng một danh xưng mơ hồ là “kẻ lạ”, hay ‘‘tàu lạ’’. Trên đất liền thì làm ngơ và dung túng những hành vi lén lút cắt bãi biển, giao rừng dài hạn để nước ngoài có cớ lén lút đưa người của họ đến ở và tìm cách định cư lâu dài, mà đó lại là nước đang không hề giấu diếm ý đồ xâm lấn nước ta; cho nước ngoài khai thác tài nguyên quý hiếm ở những địa bàn xung yếu và nhạy cảm đối với nền an ninh của đất nước. Trong kinh tế thì hầu hết những công trình trọng yếu có tầm quyết định đến sức mạnh của quốc gia đều rơi vào tay của các tập đoàn kinh tế và nhà thầu thuộc quốc gia đang từng ngày, từng giờ không giấu diếm dã tâm thôn tính về mọi mặt đất nước này, bất chấp nguy cơ chính trị tiềm ẩn, bất chấp năng lực tài chính, trình độ công nghệ, khả năng thi công của bên trúng thầu chỉ vì họ bỏ thầu với giá rẻ bất ngờ hơn mọi đối thủ, đã thế còn áp dụng hình thức khoán thầu trọn gói từ A đến Z, tức từ khâu thiết kế – cung ứng vật tư thiết bị – cho đến khâu thi công và xây lắp (thường gọi là hình thức quản lý EPC – hậu quả đến nay thường không đảm bảo tiến độ, kéo dài thời hạn bàn giao, nhất là không kiểm định được chất lượng công trình…). Bị người bạn “4 tốt” với “16 chữ vàng” lấn lướt cơ hồ bị nuốt chửng mà vẫn đỏng đảnh trước những khuyên nhủ gợi ý thiện chí của bạn bè chỉ vì sợ mất lòng “ông bạn quí” ấy; thậm chí còn lớn tiếng quyết không để các thế lực thù địch chia rẽ tình đoàn kết Việt – Trung…

Với những sự kiện chưa thể kể hết được nói trên, thử hỏi những người đang nắm vận mệnh của đất nước hiện nay đang toan tính điều gì?

Nếu để tình trạng này vẫn ngang nhiên tiếp diễn thì kết quả cuối cùng sẽ ra sao? Mất nước là cầm chắc!

Tôi tin chắc rằng đã đến lúc những đảng viên chân chính và đang quan tâm đến vận mạng quốc gia sẽ không thể điềm nhiên ngồi nhìn sự lũng đoạn, sự lộng hành và vô trách nhiệm của cấp lãnh đạo và giới cầm quyền hiện nay.

Tôi tin chắc rằng đã đến lúc mỗi người Việt Nam chân chính và yêu nước phải biết cách thu hồi quyền tối thượng quyết định vận mạng quốc gia của chính họ mà họ đã trao nhầm cho những người không xứng đáng, những người mà như một bài đã được BVN đăng tải trong ngày hôm nay (3/8/2010 - Bài học thuộc lòng): “…bọn nó tham nhũng gì mà tham nhũng cấp tập, nó ăn vừa nhiều, vừa nhanh, vừa trắng trợn, thô lỗ… đến mức anh có cảm giác như là nó thu dọn để sắp bỏ chạy khỏi đất nước này”.

Mỗi người mỗi cách, hãy có hành động thiết thực nếu không muốn Tổ quốc thân yêu của chúng ta đến hồi mạt vận!

HD

Tuesday, August 3, 2010

Trung Quốc tập trận qui mô trên biển Ðông, Việt Nam tuyên bố đủ sức đối phó

Trích Người Việt Online

Bốn ngày sau khi Mỹ tuyên bố ‘quyền lợi quốc gia’

BẮC KINH 30-7 (TH) - Trung Quốc loan báo đã tổ chức một cuộc tập trận qui mô trên biển Ðông, biểu diễn sức mạnh quân sự chỉ ít ngày sau lời tuyên bố của ngoại trưởng Hoa Kỳ không đứng ngoài sự tranh chấp.



Một chiến hạm Trung Quốc thuộc Hạm đội Nam Hải bắn hỏa tiễn trong cuộc tập trận
trên biển Ðông hôm 26 tháng 7 năm 2010. (Hình: Xinhua.net)

Hành động này đi kèm với lời tuyên bố của Cảnh Nhạn Sinh, đại tá, phát ngôn viên của Quân đội Trung Quốc, lập lại lời tuyên bố của Ngoại Trưởng Dương Khiết Trì là không chấp nhận quốc tế hóa vấn đề.

Dẫn bản tin của tờ Nhật báo Quân Ðội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc, gọi tắt PLA, Tân Hoa Xã ngày 29 tháng 7 năm 2010 ghi lại những diễn tiến của cuộc tập trận của Hạm đội Nam Hải của nước này với nhiều hình ảnh tàu chiến bắn hỏa tiễn và bình luận rằng Trung Quốc sẵn sàng cho bất cứ trận đụng độ nào trong vùng biển Ðông.

Cuộc tập trận diễn ra từ ngày 26 tháng 7 năm 2010 chỉ 4 ngày sau khi bà Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton nói trong Hội Nghị Diễn Ðàn An Ninh khu vực ASEAN tại Hà Nội là Hoa Kỳ không đứng ngoài cuộc tranh chấp biển Ðông cũng như sẵn sàng giúp giải quyết vấn đề dựa trên các hiệp ước quốc tế.

Cuộc tập trận của Trung Quốc được hiểu như sự trả lời cụ thể và bằng hành động cho phía Hoa Kỳ biết lập trường của Hoa Lục.

Tổng hợp từ các nguồn tin trên, Reuters và AFP viết lại rằng ông Trần Bình Ðức, tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc (đến quan sát cuộc tập trận của Hạm đội Nam Hải) nói rằng PLA theo dõi chặt chẽ các diễn biến cuộc tập trận của Mỹ, Hàn Quốc (ở Hoàng Hải) và quân đội nước này sẵn sàng cho các cuộc đụng độ quân sự lớn nếu đối phương tỏ ra muốn đe dọa hay tấn công Trung Quốc.

Ngoại Trưởng Hillary Clinton khẳng định Hoa Kỳ, ở hội nghị nói trên, đặc biệt quan tâm tới vấn đề biển Ðông vì Washington có lợi ích quốc gia về lưu thông hàng hải, tự do tiếp cận các vùng biển Châu Á và tôn trọng luật pháp quốc tế tại biển Ðông.

Khác phản ứng quyết liệt lúc ban đầu của Ngoại Trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì, hôm 30 tháng 7 năm 2010, Phát Ngôn Viên Bộ Quốc Phòng Trung Quốc Cảnh Nhạn Sinh tuyên bố Trung Quốc sẽ không can thiệp vào việc lưu thông của các tàu thuyền và máy bay nước ngoài trong vùng biển này miễn sao những phương tiện đó tuân thủ luật pháp quốc tế. Nhưng cũng ngầm cho hiểu họ coi cái vùng được khoanh “lưỡi bò” là “của riêng” Trung Quốc, không chấp nhận có sự tranh cãi hay tranh chấp chủ quyền.

Giọng điệu ôn hòa hơn của Trung Quốc, qua lời Cảnh Nhạn Sinh, cho thấy, dù sao Bắc Kinh có vẻ tránh đụng độ thẳng với Hoa Kỳ trong vấn đề này.

Trong bối cảnh các cuộc khẩu chiến của hai phía Hoa Kỳ và Trung Quốc, tờ Văn Hối Báo của Hongkong dẫn thêm các quan điểm của những chuyên gia quân sự Bắc Kinh cho rằng PLA sẽ dùng biện pháp quân sự trong tương lai đối với vấn đề biển Ðông.

Ðiều này có thể nhìn thấy sự đe dọa qua các cuộc tập trận qui mô của Trung Quốc trên biển Ðông mấy năm gần đây, đặc biệt từ năm ngoái đến nay. Hồi tháng 4, Bắc Kinh loan báo đưa một đơn vị phi cơ chiến đấu tối tân tới đồn trú ở đảo Vĩnh Hưng (tức đảo Phú Lâm) trong quần đảo Hoàng Sa chiếm của Việt Nam từ năm 1974, nhằm khống chế toàn diện biển Ðông gồm cả không quân.

Trong khi Trung Quốc phản ứng bằng cả lời nói và hành động quân sự cụ thể, người ta chỉ thấy đại diện Hà Nội có một ít lời nói cứng.

Trả lời tờ báo South China Morning Post của Hongkong hôm 29 tháng 7, Tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng quốc phòng Việt Nam cho biết Hà Nội có đủ khả năng để ứng phó với bất kỳ một cuộc tấn công nào trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Ðây là lần đầu tiên Hà Nội chính thức tuyên bố sẽ dùng biện pháp quân sự nếu bị tấn công hay xâm phạm lãnh hải của mình, đặc biệt tại khu vực tranh chấp.

Việt Nam “không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng võ lực hoặc đe dọa sử dụng võ lực (để giải quyết tranh chấp chủ quyền biển Ðông), đồng thời Việt Nam có đủ khả năng đối phó”. Ông Vịnh nói như vậy trên tờ SCMP.

Dịp này ông Vịnh cũng nói rằng Việt Nam luôn chủ trương dùng biện pháp đàm phán để giải quyết vấn đề và không có ý định tấn công trước đối với bất cứ nước nào.

Những tin tức gần đây nói Việt Nam vận động các quốc gia ASEAN có quyền lợi trực tiếp trên biển Ðông hợp tác như một tập thể chung để áp lực Trung Quốc thi hành Qui tắc Ứng xử trên biển Ðông ký năm 2002 nhưng không đạt kết quả. Lời tuyên bố từ phía Hoa Kỳ có thể làm cho thuận lợi hơn cho một khả năng kết hợp.