Translate

Wednesday, July 7, 2010

Chủ tịch tỉnh cởi truồng

Trích Người Việt Online

LTS: Tin từ các báo trong nước cho hay, 'Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương Ðảng CSVN' trong kỳ họp lần thứ 32 đề nghị cách hết các chức vụ trong đảng, bãi nhiệm đại biểu Hội Ðồng Nhân Dân và cách chức Chủ Tịch UBND tỉnh Hà Giang đối với ông Nguyễn Trường Tô. Thông báo của Ủy Ban Kiểm Tra lý giải: “ông Tô có lối sống buông thả, quan hệ không lành mạnh, ảnh hưởng nghiêm trọng tư cách cán bộ lãnh đạo.”

Ông Nguyễn Trường Tô, chủ tịch tỉnh Hà Giang, người từng bị báo chí tại Việt Nam vào năm 2009 phanh phui mua dâm hai trẻ vị thành niên trong vụ án hiệu trưởng Sầm Ðức Xương cầm đầu đường dân mua dâm và bán dâm gây xôn xao dư luận tại Việt Nam.

Quyết định kỷ luật ông Nguyễn Trường Tô được Ðảng CSVN gọi văn vẻ là “có lối sống buông thả, quan hệ không lành mạnh,” tuy nhiên Blogger và cũng là nhà báo Trương Duy Nhất, đã gọi đúng tên của sự việc là “Chủ tịch tỉnh cởi truồng!” Dưới đây là bài viết trên Blog Trương Duy Nhất:

***

Nguyễn Trường Tô, chủ tịch tỉnh Hà Giang. (blog Phạm Viết Ðào)
Ðó là những bức ảnh khỏa thân. Ừ mà khỏa thân e chưa trúng, phải nói là cởi truồng lõa lồ. Hình ảnh một ông chủ tịch tỉnh nằm trần truồng trên giường trong nhiều tư thế rất tục tĩu sau khi hành sự xong. Ðó là hình ảnh ông Nguyễn Trường Tô, chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang.

Những bức ảnh trần truồng của ông Chủ Tịch tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô trông phản cảm và tục tĩu đến độ tôi không thể và không dám đưa lên trang blog này.

Vụ án mua bán dâm trẻ vị thành niên là học sinh của ông hiệu trưởng Sầm Ðức Xương đang gây ầm ĩ dư luận. Cơ quan điều tra, và cả cơ quan Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương Ðảng cũng đang tiến hành thẩm tra xác minh xem ông Chủ Tịch tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô có đúng là người mua dâm như lời khai của các bị can trong vụ án?

Trong khi đang là nghi can trong vụ án mua dâm trẻ vị thành niên, ông Tô lại bị phát hiện có dấu hiệu liên quan đến một vụ mua dâm khác.

Ngày 22 tháng 11, 2006, khi công an thị xã Hà Giang bắt quả tang Nguyễn Thị Dung (Nguyễn Thị Trang) đang bán dâm cho một vị khách tên là Phạm Văn Bằng tại khách sạn Thủy Tiên (tổ 10, phường Minh Khai, thị xã Hà Giang), có lập biên bản thu giữ của Dung một máy điện thoại di động Nokia N73 số thuê bao 0986.623.994. Vụ mua bán dâm này được xử lý hành chính theo qui định.

Tuy nhiên, qua kiểm tra chiếc điện thoại di động, công an thị xã Hà Giang phát hiện có nhiều cuộc gọi, tin nhắn và lưu một số hình ảnh của một người đàn ông nằm trần truồng trên giường. Sau khi in phóng 4 kiểu thành 13 ảnh để đối chiếu mới tá hỏa nhận ra người đàn ông trần truồng nằm trên giường kia chính là ông Nguyễn Trường Tô, chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang.

Tại biên bản làm việc với công an, Dung khai nhận vào tháng 11, 2005 có ngủ qua đêm với ông Tô Chủ Tịch tại một khách sạn ở Hà Nội. Sau khi quan hệ xong, ông Tô cứ... để nguyên thế nằm ngủ mà không hề mặc áo quần. Thấy tư thế lõa lồ của ông Tô kỳ kỳ, “hâm mộ và tò mò,” Dung đã lấy máy điện thoại di động Nokia N7260 (máy điện thoại khi đó Dung sử dụng) chụp theo nhiều tư thế khác nhau. Một thời gian sau, khi đổi máy di động, Dung đã cop chuyển toàn bộ số ảnh trên sang máy di động Nokia N73 bằng cổng hồng ngoại (Bluetooth).

Kết quả giám định từ Viện Khoa Học Hình Sự (Tổng Cục Cảnh Sát Phòng Chống Tội Phạm, Bộ Công An) trên cơ sở trưng cầu giám định 13 tấm ảnh nói trên và 2 tấm ảnh của ông Tô làm mẫu, kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép thể hiện trên 13 ảnh gửi giám định, 13 ảnh cần giám định so với 2 tấm ảnh mẫu của ông Tô có những đặc điểm giống nhau.

Ðặc biệt, trong máy di động của Nguyễn Thị Dung còn có những tin nhắn được gửi đến từ máy di động số 091.327.1133 của Chủ Tịch Tô với ký hiệu “TYCT”- Dung lý giải đó là “tình yêu chủ tịch.”

Theo báo cáo giải trình của ông Nguyễn Bình Vận, giám đốc Công An Hà Giang về vụ việc này: “Khi thấy (ảnh) tôi cũng bàng hoàng không tin vào mắt mình, người đàn ông đó là anh Nguyễn Trường Tô, chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang.” Và sau đó ông Vận đã báo cáo sự việc này cho bí thư tỉnh ủy. Ông Hoàng Minh Nhất, bí thư Tỉnh Ủy Hà Giang xác nhận trong một báo cáo của mình: “Nghe được tin công an thị xã Hà Giang bắt quả tang một vụ mua bán dâm tại khách sạn, có ảnh đồng chí Nguyễn Trường Tô, chủ tịch UBND tỉnh ở trong điện thoại của cô gái bán dâm.

Nghe được vậy, tôi yêu cầu giám đốc công an tỉnh báo cáo vụ việc. Sau khi giám đốc công an tỉnh báo cáo xong, tôi có giao nhiệm vụ cho giám đốc công an tỉnh gặp đồng chí Nguyễn Trường Tô chủ tịch UBND tỉnh thông báo, nói rõ vụ việc trên, Ðồng thời, tôi cũng giao cho đồng chí Nguyễn Huy Nạp, trưởng ban Tổ Chức Tỉnh Ủy (nay đã nghỉ chế độ) gặp đồng chí Nguyễn Trường Tô nói rõ và yêu cầu rút kinh nghiệm. Trong một cuộc hội ý về công việc giữa tôi và đồng chí Nguyễn Trường Tô, tôi có nêu ra vấn đề trên và nhắc nhở đồng chí Nguyễn Trường Tô cần rút kinh nghiệm trong sinh hoạt. Do đồng chí Nguyễn Trường Tô mới bầu giữ chức vụ Chủ Tịch UBND tỉnh được ít tháng, nên tôi dùng hình thức nhắc nhở, không tiến hành kiểm tra kiểm điểm.”

Tuesday, July 6, 2010

Tàu ngầm hải quân Hoa Kỳ biểu dương sức mạnh quân sự

Trích ĐCV Online
Greg TorodeNguyên Hân lược dịch


Tàu ngầm hải quân Hoa Kỳ biểu dương sức mạnh quân sự


Trong một cuộc triển khai được ghi nhận là hiếm thấy hôm thứ Hai tuần rồi, ba tàu ngầm lớn nhất của Hoa Kỳ cập bến ở ba hải cảng trong vùng Á châu Thái Bình Dương như một cuộc biểu dương sức mạnh của Đệ thất Hạm đội, hải quân Hoa Kỳ kể từ khi cuộc chiến tranh lạnh chấm dứt.

Sự hiện diện của USS Michigan ở thành phố cảng Pusan, Nam Hàn, chiếc USS Ohio vào vịnh Subic, Phi Luật Tân, và chiếc USS Florida vào đảo Diego Garcia, một tiền đồn mang tính chiến lược ở biển Ấn độ dương không những cho thấy khuynh hướng gia tăng hoạt động tàu ngầm trong vùng Đông Á châu, nhưng còn mang theo một sự răn đe khác.

Cả ba chiếc tàu ngầm loại Ohio này vừa được cải tiến để từ chuyên mang hỏa tiển đạn đạo nguyên tử thời chiến tranh lạnh, nay còn được trang bị thêm những vũ khí khác – máy dò được nâng cấp, lực lượng đặc biệt và quan trọng hơn, là số lượng lớn đầu đạn tầm xa Tomahawk, là loại hỏa tiển có thể được điều khiển để có tầm bay thấp, được chế tạo nhằm tấn công các mục tiêu trên đất liền.

Tổng cộng hỏa lực của cả ba chiếc này, là 462 hỏa tiển Tomahawks, trên 60 phần trăm tổng số tiềm năng hỏa tiển Tomahawks của toàn bộ Đệ thất Hạm đội hải quân Hoa Kỳ nằm ở Nhật Bản -- vốn là cốt lõi của sức mạnh quân sự Hoa Kỳ ở vùng Đông Á châu này.

Một Hải đoàn Tấn công Hàng không mẫu hạm của hải quân Hoa Kỳ. Nguồn: Freerepublic.com
Cho dù sự hiện hiện của ba chiếc tàu ngầm trong vùng Đông Á châu xảy ra thầm lặng, không khua chiên đánh trống, nhưng điều này bắt đầu dao động toàn vùng. Viên chức Hoa Kỳ trước sau như một cho rằng đây là kế hoạch triển khai dài hạn và không nhắm vào một nước hay một biến cố mang tính khủng hoảng nào -- chẳng hạn như sự căng thẳng cao độ sau việc Bắc Hàn đánh chìm một chiến hạm của Nam Hàn – nhưng rõ ràng, cái thông điệp Hoa Kỳ gởi ra chắc chắn Bắc Kinh không thể làm ngơ được.

Một tùy viên quân sự Á châu thâm niên, người có mối quan hệ gần gũi với giới quân sự cả Hoa Kỳ và Trung Quốc nhận xét rằng “nói gì thì nói, hơn 460 hỏa tiển Tomahawks là một lượng hỏa lực hùng hậu”.

“Đây là một dấu hiệu khác cho thấy Hoa Kỳ quyết tâm không những duy trì tính ưu thế quân sự của mình trong vùng Á châu, nhưng cũng muốn cho thấy họ đang làm vậy, đó là một thông điệp gởi đến Bắc Kinh và cho tất cả mọi người, không cần biết anh là đồng minh của Hoa Kỳ hay là một nước đang còn lững lơ đứng giữa.”

Những nhà ngoại giao Á châu khác nói rằng sự biểu dương sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ có thể phản ảnh mối quan tâm chung, ngày càng gia tăng trong những tháng gần đây từ các nước láng giềng của Trung Quốc, là những nước âm thầm thúc đẩy, kêu gọi Hoa Kỳ phải làm nhiều hơn nữa để đối đầu với quyết tâm xây dựng lực lượng hải quân của Trung Quốc trong vùng Đông Á. Những cuộc tập trận của Trung Quốc càng lúc càng được gia tăng cả số lượng lẫn phạm vi hoạt động trong những tháng gần đây, với chiến hạm Trung Quốc hiện diện đằng sau những quần đảo nằm ngoài khơi Nhật Bản và sâu trong vùng biển Nam Hải đang còn tranh chấp giữa các nước trong vùng.

“Nhật Bản, Nam Hàn, Nam Dương, Việt Nam, Mã Lai Á, Singapore và Úc Đại Lợi -- tất cả những nước này đều tích cực bày tỏ mối quan tâm của họ âm thầm, đằng sau lưng,” một nhà ngoại giao Á châu khác nói. “Không có chuyện gì nóng sốt hơn ở lúc này ngoài vấn đề tham vọng khống chế mặt biển của hải quân Trung Quốc.”

Trong lúc ở Hoa Thạnh Đốn, mối quan tâm hiện nay là sự triển khai hỏa tiển ở vùng Đông Á. Những con số do Ngũ Giác Đài (Pentagon) ước tính gợi ý Trung Quốc đang gia tăng số lượng hỏa tiển đạn đạo tầm ngắn cũng như hỏa tiển chính xác tầm xa, và gia tăng khả năng của các loại hỏa tiển này.

USS Florida SSGN 728. Nguồn: Freerepuble.com
Bản báo cáo mới đây nhất về sự hiện đại hóa quân sự Trung Quốc ước tính số lượng hỏa tiển trong kho dự trữ vào tháng Chín năm 2008 là khoảng 1.050 cho đến 1.150 hỏa tiển đạn đạo tầm ngắn đã và đang được gia tăng thêm 100 hỏa tiển hằng năm, phần lớn tập trung ở biên giới nhắm vào Đài Loan. Con số ước tính của Nam Hàn cho hay Bắc Hàn đã dàn khoảng 650 hỏa tiển đạn đạo tầm ngắn. Bản báo cáo gần đây từ viện nghiên cứu Dự án 2049 có trụ sở ở Hoa Thạnh Đốn ghi nhận hỏa tiển quy ước và hỏa tiển tầm dài phóng từ mặt đất được triển khai quy mô hơn giờ đây là “trọng tâm của chiến lược quân sự và chính trị của Trung Quốc”. Cùng lúc với khả năng không gian được cải thiện, chẳng hạn như máy dò điện tử, chừng hơn 15 năm nữa Trung Quốc có lẽ “sẽ nâng sự tự tin về khả năng thống trị không gian trong vùng ngoại biên của mình”, theo bản báo cáo này. Bản báo cáo cũng ghi nhận là Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) có thể thách đố hệ thống phòng thủ của Đài Loan, Nhật Bản và Ấn Độ, cũng như lực lượng quân sự của Hoa Kỳ trong vùng tây Thái Bình Dương.

“Điều này sẽ tạo điều kiện cho Bắc Kinh trở nên cứng rắn hơn trong mối quan hệ của mình đối với các nước láng giềng,” theo bản báo cáo được soạn bởi nhà phân tích Mark Stokes và Ian Easton.

“Sự chuyển hướng mang tính chiến lược trong sự cân bằng không gian (ở vùng Đông Á này) cũng có thể làm sáng tỏ mối liên kết của những đồng minh của Hoa Kỳ và làm cho những nước đồng minh hay và nước bạn nghĩ đến khả năng sắm vũ khí có sức hủy diệt cao, như một sự bảo đảm chống lại sự mất cân bằng không mấy thuận lợi,” theo bản báo cáo cho hay.

Chính sách được hoạch định từ thời tổng thống George W. Bush, một đảng viên đảng Cộng hoà, đang được tiếp tục bởi người kế nhiệm ông, Tổng thống thuộc đảng Dân chủ ông Barack Obama, đó là kế hoạch Ngũ Giác Đài chuyển 60 phần trăm của tổng số 53 chiếc tàu ngầm loại tấn công nhanh qua vùng Thái Bình Dương -- một kế hoạch triển khai có thể nói giờ như đã hoàn tất. Nhưng, sự hiện diện của các chiếc tàu ngầm lớn hơn với khả năng phóng hỏa tiển tầm dài - như ba chiếc USS Florida, USS Michigan và USS Ohio - cho thấy, tư thế lực lượng tiền phương của Hoa Kỳ sẽ to lớn, mạnh mẽ hơn một cách đáng kể.

Sơ đồ bên trong USS Florida, tàu ngầm loại Ohio. Nguồn: freerepublic.com
Trong thời gian nằm ở vùng biển phía tây của Hoa Kỳ, chiếc tàu ngầm USS Ohio chẳng hạn, đã hoạt động ngoài khơi đảo Guam trong gần suốt cả năm qua, khai thác lợi thế vị trí của quần đảo này để triển khai hoạt động trong vùng tây Thái Bình Dương.

Chiếc USS Ohio sẽ trở về lại trong thời gian gần đây, nhưng hai chiếc USS Florida và USS Michigan có lẽ sẽ ở lại và hoạt động trong vùng này trong nhiều tháng tới, dùng đảo Guam và có thể cả đảo Diego Garcia nữa cho những sửa chữa cần thiết và thay đổi thủy thủ đoàn.

Sự hiện diện của chiếc USS Florida, có căn cứ nằm ở phía đông Hoa Kỳ, tuồng như xác nhận Hoa Kỳ vẫn thường đưa tàu ngầm chạy dưới băng bắc cực để vào vùng Đông Á. Một số hải cảng nằm ở phía đông Hoa Kỳ, nếu đi ngang qua tuyến này, lại gần vùng Đông Á hơn một số căn cứ của hải quân Hoa Kỳ nằm ở phía tây, chẳng hạn như San Diego.

Mới có thêm một chiếc tàu ngầm được biến cải để mang được đầu đạn hỏa tiển tầm dài và đây là lần đầu tiên hết thảy cả bốn chiếc này hiện đang được triển khai hoạt động cùng lúc. Thông báo việc triển khai này hôm đầu tháng, chỉ huy trưởng Hải đội Tàu ngầm 19, đại tá John Tammen nhấn mạnh đến “những khả năng chuyển đổi” của tàu ngầm được trang bị với hỏa tiển tầm xa. “Những chiếc tàu ngầm này sẽ tạo điều kiện cho người chỉ huy trên chiến trận cái khả năng tác chiến được gia tăng đáng kể, và cho họ nhiều sự chọn lựa để giải quyết và ngăn chận sự xung đột,” ông Tammen nói.


© DCVOnline

Monday, July 5, 2010

Ứng xử của Việt Nam khi Mỹ quan tâm đến vấn đề Biển Đông

Trích RFI
Việt Nam khi Mỹ quan tâm đến vấn đề Biển Đông
Ảnh: c7f.navy.mil
Đức Tâm

Theo Chiến lược An ninh Quốc gia Mỹ được công bố hồi tháng năm vừa qua, liên quan đến châu Á-Thái Bình Dương, Hoa Kỳ chủ trương thúc đẩy các lợi ích chung thông qua các quan hệ liên minh, củng cố vai trò của các tổ chức đa phương, đặc biệt là Hiệp hội Đông Nam Á, ASEAN, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương, Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.

Trong tinh thần này, ngoại trưởng Mỹ bà Hillary Clinton sẽ sang Việt Nam tham dự Diễn đàn Khu vực châu Á, ARF, được tổ chức từ 19 đến 23/07/2010. ARF là diễn đàn an ninh quan trọng nhất trong khu vực.

Sự kiện chính quyền Mỹ quan tâm trở lại đến vấn đề an ninh khu vực châu Á vào lúc vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa Trung Quốc và nhiều quốc gia Đông Nam Á đang có xu hướng căng thẳng lên. Cụ thể giữa Việt Nam và Trung Quốc trong hồ sơ Hoàng Sa, giữa Trung Quốc với Bruneil, Đài Loan, Malaysia, Philippines và Việt Nam trong hồ sơ Trường Sa. Bên cạnh đó, Bắc Kinh còn đưa ra yêu sách “đường lưỡi bò” với tham vọng kiểm soát tới 80% diện tích Biển Đông.

Về phần mình, Hoa Kỳ công khai tuyên bố không đứng về bên nào trong tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông nhưng nhấn mạnh rằng quyền tự do thông thương hàng hải phải được tôn trọng.

Trong bối cảnh, đó, nên hiểu thái độ của Mỹ như thế nào và ứng xử của Việt Nam ra sao trước sự lấn lướt của Trung Quốc tại Biển Đông ? Sau đây là phân tích của giáo sư Vũ Hồng Lâm – Alexandre Vuving, thuộc Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương – Hawaii.

*


Giáo sư Alexandre Vuving (Vũ Hồng Lâm)
Ảnh: Tác giả cung cấp
I- Diễn đàn Khu vực châu Á ARF và thông điệp của Mỹ

Sự hiện diện của ngoại trưởng Mỹ tại ARF đưa ra hai thông điệp. Thứ nhất là Mỹ coi trọng khu vực Đông Nam Á. Thứ hai, Mỹ coi ARF là một diễn đàn đa phương quan trọng về an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Cả hai điều này đều được thể hiện trong bản Chiến lược An ninh Quốc gia mới công bố của Mỹ.

II- Về lập trường của Mỹ trong tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông

Đứng ngoài các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các bên thứ ba là lập trường nguyên tắc của Mỹ. Tuy nhiên, gần đây, trước sự gia tăng áp lực của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông, lập trường của chính phủ Mỹ đã có sự cụ thể hóa.

Cụ thể là Mỹ phân biệt hai loại tranh chấp ở Biển Đông : Tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp về vùng nước trên biển.

Nếu là tranh chấp lãnh thổ, liên quan đến đất đai, đảo, Mỹ đứng trung lập. Nhưng liên quan đến vùng nước, như quan chức bộ Ngoại giao Mỹ đã tuyên bố trong hai cuộc điều trần trước Thượng viện và Quốc hội hồi tháng 7 năm 2009 và tháng 2 năm 2010, Mỹ bác bỏ mọi yêu sách về các vùng nước trên biển mà không phát sinh từ đất liền hay hải đảo. Nói cách khác, Mỹ bác bỏ thẳng thừng yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc.

Mỹ cũng tuyên bố không chấp nhận dùng vũ lực hay áp lực trong tranh chấp chủ quyền, tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông. Do đó, Mỹ đã phản đối Trung Quốc gây áp lực hay dọa nạt các công ty Mỹ làm ăn với Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Mặc dù Mỹ tuyên bố đứng ngoài các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông, nhưng Mỹ cũng tuyên bố quan ngại về tình hình căng thẳng trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc và Hoa Kỳ cũng tuyên bố quan ngại về yêu sách quá đáng trên Biển Đông của Trung Quốc cũng như về những hoạt động gây nguy hiểm của Trung Quốc trên Biển Đông. Để đối phó với tình trạng đó, bộ Quốc phòng Mỹ đã có một chiến lược bao gồm các hướng chính là :

1- Khẳng định sự hiện diện quân sự của Mỹ trong vùng Biển Đông, khẳng định vị thế của Mỹ là lực lượng quân sự mạnh nhất trong vùng.
2- Tăng cường thực thi quyền đi lại tự do của hải quân Mỹ trong vùng.
3- Tăng cường quan hệ hợp tác quân sự với các nước đối tác trong khu vực ở mọi cấp độ. Các nước đối tác bao gồm hai đồng minh Philippines và Thái Lan, các đối tác khác như Indonesia, Singapore, Việt Nam và Malaysia.
4- Tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh đa phương ví dụ như ARF.

Thái độ trên đây của Mỹ có tác dộng là tái lập phần nào thế quân bình quyền lực ở Biển Đông. Việc Mỹ khẳng định bằng sự hiện diện quân sự của mình và bằng các tuyên bố khá mạnh mẽ không để cho nước nào bá chủ trên vùng biển quốc tế ở Biển Đông có thể đã tạo một sự yên tâm nhất định ở các nước nhỏ Đông Nam Á. Tuy nhiên, nguy cơ xung đột liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn còn đó.

III- Việt Nam đón tiếp tàu chiến, đối thoại với Mỹ, nhưng giới lãnh đạo liên tục sang Trung Quốc

Ở một mặt nào đó, các động thái này thể hiện chính sách của Việt Nam muốn giữ thế quân bình trong quan hệ với Trung Quốc và Mỹ. Do đòi hỏi khách quan, Việt Nam phải dựa vào Mỹ để chống đỡ trước áp lực của Trung Quốc, đặc biệt là ở Biển Đông. Mặt khác, Mỹ cũng muốn tăng cường quan hệ hợp tác an ninh quốc phòng với Việt Nam. Do đó mà có các động thái giữa Việt Nam với Mỹ.

Nhưng thế của Việt Nam vẫn còn rất chơi vơi, sức thì yếu, cho nên có một tư tưởng khá mạnh trong cả giới lãnh đạo lẫn giới chuyên viên của Việt Nam là muốn yên thân thì phải vuốt ve Trung Quốc. Cũng có một tư tưởng nữa muốn dựa vào Trung Quốc để giữ chế độ XHCN. Do đó mà có các động thái giữa Việt Nam và Trung Quốc.

IV-Về khả năng Việt Nam để Mỹ sử dụng quân cảng

Thực ra thì cả Mỹ và Việt Nam đều chưa có một hình dung cụ thể về chuyện Việt Nam để cho Mỹ sử dụng quân cảng ở miền trung, cụ thể là Cam Ranh. Lợi hại của việc này cho phía Việt Nam có thể như sau : Thứ nhất là sự hiện diện quân sự của Mỹ sẽ đem lại thế mạnh cho Việt Nam trong so sánh lực lượng với Trung Quốc ở Biển Đông. Nó sẽ có tác dụng răn đe nhất định đối với nguy cơ Việt Nam bị bất biển, mất đảo. Thứ hai là các dịch vụ cho Mỹ sẽ đem lại lợi ích kinh tế cho Việt Nam.

Phía Việt Nam cũng có người muốn những lợi ích này, cho nên người ta muốn cho Mỹ tiếp cận mạnh hơn. Thế nhưng cũng có nhiều người nghĩ đến những lợi ích khác. Thứ nhất là họ lo ngại sự chống đối của Trung Quốc. Thứ hai là có người cũng lo ngại ảnh hưởng của Mỹ. Họ coi lợi ích của họ đối lập với lợi ích của Mỹ nên họ chống.

Về phía Mỹ thì cả về chiến lược và chiến thuật, họ đều có nhu cầu tiếp cận các quân cảng của Việt Nam. Nhưng một căn cứu quân sự thường xuyên của Mỹ ở Việt Nam chắc chắn sẽ không xẩy ra trong tương lai gần. Bởi vì việc này sẽ làm thay đổi đáng kể cán cân lực lượng trong vùng.

Về phía Mỹ thì chưa có nhu cầu cấp bách. Việt Nam cũng vậy. Về lâu dài, tôi cho rằng chuyện đó có thể xẩy ra khi mà cán cân lực lượng trong vùng quá lệnh về phía Trung Quốc. Và vì Mỹ có lợi ích chiến lược về tự do lưu thông trên Biển Đông, Việt Nam có lợi ích chiến lược về giữ đảo, giữ biển, cho nên lúc đó có thể Việt Nam sẽ mở cửa quân cảng mạnh hơn cho Mỹ. Tất nhiên, thời điểm lúc nào xẩy ra cũng còn phụ thuộc vào đánh giá riêng của Việt Nam và Mỹ về cán cân lực lượng trong vùng.

Do cán cân lực lượng trong vùng đang thay đổi một cách dần dần, từ từ, cho nên chuyện Việt Nam mở cửa cho tàu chiến Mỹ tiếp cận các cảng biển của mình cũng diễn ra dần dần, từ từ.

Do lợi ích chiến lược có điểm đồng, cho nên cả Mỹ và Việt Nam đều có nhu cầu cho tàu chiến Mỹ tiếp cận cảng biển ở Việt Nam. Nhưng tiếp cận như thế nào thì có rất nhiều kiểu. Hiện nay, vẫn có các cuộc viếng thăm giao lưu hàng năm của tàu hải quân Mỹ. Từ một năm nay thì có thêm một số tàu hải quân Mỹ được đưa vào sửa chữa ở Việt Nam.

Trong tương lai, có thể sẽ mở ra hướng hai bên ký một hiệp định để máy bay và tàu chiến Mỹ được hưởng dịch vụ tiếp liệu trên đất liền của Việt Nam cũng như tàu chiến Việt Nam có thể được tàu chiến Mỹ tiếp liệu trên Biển Đông.

V-Lãnh đạo Việt Nam trước sự chia rẽ của công luận về thân/chống Mỹ - Trung

Bản thân lãnh đạo Việt Nam cũng không thống nhất trong quan điểm đối với Mỹ và Trung Quốc. Tư tưởng của họ cũng phần nào phản ánh các luồng tư tưởng trong công chúng. Có người nghi ngờ Mỹ, có người tương đối tin Mỹ. Có người nghi ngờ Trung Quốc, có người tương đối tin Trung Quốc. Có người ưa Mỹ hơn, có người lại ưa Trung Quốc hơn, có người chẳng ưa ai hết.

Theo truyền thống và cũng như theo bản năng, lãnh đạo Việt Nam muốn thuyết phục công luận không nên tham gia vào việc lớn, việc chiến lược rất phức tạp, tế nhị, theo ngôn ngữ của họ là “nhậy cảm”, nhiều chuyện không nên và không thể bàn công khai, cho nên tốt nhất là hãy vững tin vào lãnh đạo, để cho lãnh đạo dễ bề chèo lái.

Tuy nhiên, công chúng vẫn cứ tham gia vào việc lớn và sức mạnh của công chúng hiện nay đã lớn đến mức lãnh đạo không thể cản trở quá đáng được nữa. Do đó, lãnh đạo cũng chịu sức ép ngày càng tăng của công luận. Để đối phó, lãnh đạo dùng cả hai phương thức : đàn áp và thuyết phục. Theo tôi, gần đây, việc đàn áp có phần dịu đi và việc thuyết phục có phần tăng lên. Tuy nhiên, hướng thuyết phục thì vẫn chưa rõ ràng lắm.

Nói chung, có vẻ như lãnh đạo Việt Nam muốn thuyết phục rằng Việt Nam cần giữ cần bằng trong quan hệ với các nước lớn. Cần cố gắng làm sao để giữ hòa hiếu với Trung Quốc và Mỹ, nhất là với Trung Quốc, đồng thời làm sao để giữ độc lập, tự chủ, không để cho nước lớn, nhất là Mỹ can thiệp vào công việc nội bộ.

Lại cũng có xu hướng muốn thuyết phục rằng Việt Nam và Trung Quốc là hai nước XHCN, cùng chung lý tưởng, cùng chống kẻ thù chung, cho nên những bất đồng như trong chuyện tranh chấp biển đảo chỉ là những tiểu tiết không nên để ảnh hưởng xấu đến đại cục, không nên để Mỹ và các “thế lực thù địch” lợi dụng chuyện tranh chấp với Trung Quốc, chuyện bảo vệ biển đảo, để kích động gây “diễn biến hòa bình”, lật đổ Đảng, thay đổi chế độ.

Tuy nhiên, công luận có chịu thuyết phục hay không thì chỉ phụ thuộc một phần vào lý lẽ, một phần lớn là phụ thuộc vao lợi ích. Theo tôi, muốn thực sự thuyết phục công chúng thì phải tiếp cận được nhu cầu của công chúng. Hiện nay, đang có một ngọn lửa đang lên trong công chúng là tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc. Nó day dứt về chỗ đứng của Việt Nam trên thế giới. Nó lo lắng về biển đảo và ngư dân đang bị đe dọa, đất đai và tài nguyên đang bị bán rẻ, môi trường và sức khỏe đang bị xói mòn. Nó rất tự hào về đất nước nhưng cũng rất bức xúc về hiện trạng. Nếu căn cứ vào kinh nghiệm lịch sử, thì lực lượng chính trị nào sử dụng được ngọn lửa này thì lực lượng đó sẽ thành công.

Có người ở Việt Nam không muốn sử dụng ngọn lửa này, vì họ cho là nguy hiểm. Nhưng kinh nghiệm chính trị cũng khiến họ không muốn ai khác sử dụng được ngọn lửa này vì như thế còn nguy hiểm hơn cho họ. Do vậy, họ tìm cách vô hiệu hóa ngọn lửa này.

Nhưng cũng có người trong giới lãnh đạo Việt Nam muốn dùng ngọn lửa này. Chỉ có điều họ đang loay hoay chưa biết dùng thế nào. Vì thế, nhìn chung, sự thuyết phục công luận của lãnh đạo Việt Nam chưa được rõ ràng lắm.

Sunday, July 4, 2010

Người không cha mẹ, tên thật, ngày sanh: Tìm cha mẹ lạc trên đường di tản

Trích NguoiViet Online

Hà Giang/Người Việt

“Trước khi qua đời, ông bà nuôi cho tôi biết là đã nhặt được tôi lúc 2, 3 tuổi tại sân bay Ðà Nẵng vào những ngày chạy loạn trước ngày 31 Tháng Ba 1975 khi thành phố Ðà Nẵng thất thủ.

Trước đây ông bà nuôi tôi nói với mọi người rằng tôi là cháu ruột, cha mẹ đã chết hết. Tôi cũng tin như vậy. Nhưng từ ngày biết được thân phận mình, tôi rất mặc cảm và đau khổ trong lòng.

Nay đã gần 40 tuổi, đã có gia đình vợ con, nhưng lòng tôi vẫn luôn hướng về nơi xa xăm nào đó cha mẹ hoặc người thân yêu cùng máu mủ với tôi cũng có lẽ đang đau khổ như tôi trong mấy chục năm ròng cố tìm kiếm nhau nhưng thấy đều vô vọng.”

Ðó là những dòng chữ trong bức thư viết tay, mà anh Nguyễn Ðức Chính, hiện đang sống ở Ðắc Lắc, Ban Mê Thuột, Việt Nam, gửi cho nhật báo Người Việt, kèm theo tấm hình của anh, để nhờ tòa báo giúp anh thực hiện ước mơ “được một lần gọi được hai tiếng Cha Mẹ”, hay tìm tông tích của mình.

Thư viết tiếp:

Hiện tại tôi đã có gia đình, có vợ con, công ăn việc làm, không trông mong tìm kiếm vật chất mà chỉ khao khát tình thương ruột thịt mà tôi đã mất. Thưa nhà báo, tôi kính xin nhà báo giúp đỡ đăng cho tôi nhiều kỳ, nhiều ngày, cho trường hợp của tôi được thông tin rộng rãi, để gia đình cha mẹ đẻ tôi biết được tôi đang còn sống và đang tìm kiếm họ qua gần 40 năm xa cách.

Ở một đoạn, không dằn được cảm xúc, anh viết:

“Hỡi cha mẹ thân yêu! Người ở đâu? Chân trời góc bể nào, có nghe được tiếng lòng của con không? Con đang thèm khát được gọi hai tiếng cha mẹ. Cầu xin ơn trên cho con tìm lại được một gia đình hạnh phúc thực sự mà cha mẹ con vô tình hay cố ý bỏ rơi con...”

Khi chúng tôi gọi phôn về Việt Nam để hỏi chuyện, thì được anh Chính cho biết đã nhờ chương trình “Như Chưa Hề Có Cuộc Chia Ly” tại Việt Nam giúp hơn một năm nay rồi, nhưng “chưa có kết quả gì.”

Trả lời câu hỏi tại sao anh lại đặt hy vọng vào nhật báo Người Việt, anh Chính bảo là một người bà con với gia đình ông bà nuôi của anh mới từ California về chơi, và kể là báo Người Việt vừa “có vẻ quan tâm đến những đứa trẻ mồ côi”, vừa có phương tiện quảng bá tin tức rộng rãi đến khắp nơi qua trang báo mạng.

“Chị có nghĩ là báo Người Việt có thể giúp em tìm được cha mẹ không?”

Anh Chính hỏi, như bám lấy niềm hy vọng.

“Em mới gửi thư đi mà chị đã gọi liền, đó làm điềm tốt, chị biết không?”

“Ngoài địa danh Ðà Nẵng, anh có biết gì về thân thế của mình không?”

“Không, chỉ biết ông bà nuôi nhặt em về từ sân bay Ðà Nẵng vào cuối Tháng Ba, năm 75, như em viết trong thư thôi chị.”

Thư viết tay của anh Nguyễn Ðức Chính gửi cho nhật báo Người Việt.

Ðà Nẵng - Cuối Tháng Ba?

Theo lời một bài hát, nhiều bài văn viết về Ðà Nẵng, và lời kể của những ai từng lớn lên ở Ðà Nẵng, thì cuối Tháng Ba là thời gian đẹp nhất của thành phố này. Ðó là lúc những cơn mưa “dầm dề” làm sũng ướt thành phố đã tạm ngớt, nhường chỗ cho những tia nắng ấm áp làm hồng đôi má cô thiếu nữ chân mau bước trên đường...

Nhưng vào những ngày cuối Tháng Ba năm 1975, thì Ðà Nẵng là một nơi thật hỗn độn, thật rối loạn. Ðường phố chật ních từng đoàn người lôi thôi lếch thếch kéo nhau từ các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Huế túa về. Trong hoàn cảnh đó, có lẽ nhiều người bất đắc dĩ đã phải bỏ lại con nhỏ.



Nguyễn Ðức Chính, một đứa trẻ được cặp vợ chồng lớn tuổi nhặt về nuôi ở sân bây Ðà Nẵng, cuối Tháng Ba, 1975, hiện đang sống ở Việt Nam.



“Chị nghĩ em có hy vọng không?”

Câu hỏi của Chính kéo tôi trở về thực tại.

“Anh có biết cha mẹ mình tên là gì không?”

“Không, em được ông bà nhặt về nuôi, tên thật mình còn không biết, thì làm sao biết tên cha mẹ mình được chị?”

“Nhưng em biết chắc em là người Ðà Nẵng hay Quảng Trị hay là gần Huế gì đó thôi, chị nghe giọng nói em chị cũng biết.”

Chính khẳng định.

“Anh biết mình không phải cháu ruột của ông bà lâu chưa?”

“Lâu lắm rồi chị, từ năm tám mươi mấy rồi.”

“Lúc mới biết mình không phải là cháu ruột, chắc anh buồn lắm?”

“Buồn, hụt hẫng, như trời sập. Bỏ ăn mấy ngày đó chị. Không ngủ được luôn.”

“Cứ nhắm mắt lại, em lại tự hỏi không hiểu sao cha mẹ mình sao lại bỏ mình ở sân bay? Không biết là họ tính bỏ em ở đó đi đâu rồi quay lại, hay muốn bỏ em luôn.”

“Buồn nhiều, nhưng em cứ giữ kín trong lòng, không tâm sự với ai.”

Giọng Chính trĩu nặng.

“Mang tiếng mình là con nuôi, hay đứa con bị bỏ rơi cũng làm mình tủi thân hay tự ái trong người, nên thoạt đầu em cố dấu.”

“Khi lớn lên có hiểu biết một chút, thì em thỉnh thoảng có tỉm về Quảng Trị, và những người xung quanh cũng xác định em có lẽ là người Quảng Trị, vì giọng nói em, nhưng rốt cuộc cũng không tìm được manh mối gì.”

“Giờ đây, đăng hình lên báo, anh hết sợ người ta cười rồi sao?”

“Vẫn sợ chứ, lấy vợ mười mấy năm rồi mà em còn chưa dám nói, sợ nói ra không biết vợ mình có buồn không.”

“Nhưng nếu em không tìm, thì nó thôi thúc trong lòng mình, em không chịu nổi.”

“Hôm bữa đứa con trai em, 15 tuổi, nó muốn em kể về ông bà nội. Nó làm em muốn khóc luôn. Em không biết nói gì. Không lẽ em nói là ba bị bỏ rơi từ nhỏ, không cha không mẹ?”

Nguyễn Ðức Chính nói một hơi, rồi im lặng hồi lâu.

“Không hiểu tại sao em cứ nghĩ cha mẹ em còn sống, mà còn ở nước ngoài nữa.”

“Em biết, em không có hy vọng nhiều, nhưng chị và tòa báo cố giúp em, em nhớ ơn suốt đời.”

“Vâng, chúng tôi sẽ cố gắng.”

Chính cám ơn tôi, gửi lời cám ơn tòa báo, chào tôi tôi rồi cúp phôn.

***

Ðà Nẵng - cuối Tháng Ba, 1975 chắc hẳn phải là một khoảng thời gian hỗn loạn

Trong khung cảnh hỗn loạn đó, một cặp vợ chồng lớn tuổi, không hiểu sao đã lui cui ở sân bay, và nhặt được chú bé Nguyễn Ðức Chính, lúc đó 2, 3 tuổi mang về nuôi?

Và chú bé Chính đó, giờ đã trưởng thành, đã thành công nhưng khắc sâu trong tâm anh là một niềm riêng thật ngậm ngùi.

Tôi tự hỏi ngoài Nguyễn Ðức Chính ra, không biết còn bao nhiêu thanh niên thiếu nữ khác cùng hoàn cảnh, giờ đang khắc khoải tìm, và ôm chặt mối hy vọng sẽ tìm được ra tăm hơi của cha mẹ ruột?

Và với những người như Chính, câu chuyện xảy ra cách đây hơn 35 năm, chỉ có thể chấm dứt khi nghe ngóng được một chút tăm hơi của người thân...

4th Of July (Fireworks)

Happy 4th of July

Saturday, July 3, 2010

Ho Chi Minh: the man and the myth- Hồ Chí Minh: con người và huyền thoại

















Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại

Trích Đàn Chim Việt
Tác giả: Lê Xuân Khoa

Trong bài “Người Việt hải ngoại làm được gì trước hiểm hoạ Trung Quốc?” đăng trên một số trang mạng và báo chí Việt ngữ mấy tháng trước[i], tôi đã trình bày tổng quát về mối hoạ thường trực của Trung Quốc đối với Việt Nam qua các triều đại từ thời Tần Thủy Hoàng đến ngày nay, và về vai trò thích hợp của người Việt hải ngoại trong những nỗ lực ngăn chặn tham vọng bá quyền của Bắc Kinh, không chỉ đối với Việt Nam mà toàn thể khu vực Đông Nam Á.

Trong bài này, tôi sẽ đề nghị một số ý kíến cần thiết cho việc thiết lập một kế hoạch hành động của người Việt Nam ở nước ngoài, xác định chúng ta có thể làm được gì và làm như thế nào để đóng góp có hiệu quả vào công cuộc đối phó với mưu đồ xâm chiếm Việt Nam mà Trung Quốc dưới chế độ cộng sản đã thật sự bắt đầu.

Ba tiền đề

Sau đây là ba nhận định then chốt được dùng làm tiền đề cho một kế hoạch hành động toàn diện mà tôi nghĩ là thực tế và thích hợp với cộng đồng người Việt hải ngoại trong nỗ lực ngăn chặn Trung Quốc chiếm hữu Việt Nam và thống lĩnh Biển Đông (đã được nhiều người đề nghị đổi tên là Biển Đông Nam Á).

1. Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc

Trong những điều kiện địa-chính trị khu vực và quan hệ quốc tế hiện thời, hiểm họa Trung Quốc dưới chế độ cộng sản rất khác và nguy hiểm hơn tất cả những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến phương Bắc trong hơn hai ngàn năm lịch sử bang giao giữa hai nước. Khác, vì đây không phải là một cuộc chiến tranh xâm lược cổ điển bằng lực lượng vũ trang, mà là một cuộc chinh phục thầm lặng bằng kinh tế, chính trị và văn hóa, vừa thuyết phục vừa đe dọa, giữa một nước cộng sản đàn anh đối với một nước cộng sản đàn em. Chiến tranh quân sự chỉ có thể xảy ra khi tình thế thay đổi và cuộc chinh phục thầm lặng không còn hiệu lực. Ngoài ra, mục đích thôn tính Việt Nam của Trung Quốc ngày nay không chỉ có mục đích mở mang bờ cõi phía Nam mà còn để khai thác tài nguyên trên biển, chi phối các nước trong khu vực và thực hiện tham vọng bá quyền quốc tế. Nguy hiểm hơn, vì Trung Quốc không chỉ mạnh hơn Việt Nam gấp bội về kinh tế và quân sự mà còn có tư thể sử dụng Việt Nam như một quân cờ để mặc cả với các nước đồng minh của Việt Nam, khiến cho nước ta khó có thể tồn tại như một quốc gia độc lập. Về điểm này, chúng ta không nên quên rằng mới năm ngoái, một Đô Đốc của Trung Quốc đã thăm dò Đô Đốc Timothy Keating, khi đó là Tư lệnh Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương, về khả năng chia đôi khu vực kiểm soát TBD, lấy lằn ranh là quần đảo Hawaii, nhưng bị ông Keating bác bỏ [ii] . Mới đây, trong bài “The Geography of Chinese Power” (Thế địa lý của sức mạnh Trung Quốc) trên tạp chí Foreign Affairs, Robert Kaplan đã nhắc đến viễn tượng Ngũ Giác Đài có thể rút vòng đai chiến lược Thái Bình Dương tới các nước trong khu vực Đại Dương Châu (Oceania) để “đối phó với sức mạnh chiến lược của Trung Quốc . . . mà không cần phải đối đầu trực tiếp bằng quân sự.”[iii] Trong viễn tượng này, Việt Nam và hầu hết các nước ASEAN sẽ không còn nằm trong khu vực được Mỹ bảo vệ.

Với tốc độ vô địch về phát triển kinh tế tài chánh hiện nay, Trung Quốc đang ráo riết chuẩn bị cho tham vọng trở thành siêu cường số một trong thế kỷ 21, thay thế vai trò của Hoa Kỳ, và thiết lập một trật tự mới, một nền văn minh mới có ảnh hưởng toàn cầu. Chuyên gia về Trung Quốc Martin Jacques đã thảo luận về khả năng TQ lãnh đạo thế giới chỉ trong vòng ba, bốn chục năm nữa [iv]. John và Doris Naisbitt thì ca ngợi sáng kiến mới của TQ về một nền dân chủ quân bình theo hàng dọc (vertical democracy) từ trên đi xuống và từ dưới đi lên, thay cho thể chế dân chủ hỗn loạn theo hàng ngang của xã hội Tây phương [v]. Ngay tại Trung Quốc, Đại tá Lưu Minh Phúc, Giám đốc Viện Nghiên cứu Xây dựng Quân đội thuộc Bộ Quốc Phòng TQ, vừa xuất bản cuốn “Trung Quốc Mộng”, nhấn mạnh rằng “Giấc mơ TQ không chỉ là giấc mơ kinh tế, giấc mơ quân sự mà gồm cả giấc mơ văn hoá” và điểm nổi bật là “TQ phải xây dựng một quân đội mạnh nhất thế giới và giành lấy vị trí cường quốc số một toàn cầu từ tay Mỹ.”[vi] Bước đầu tiên trong chiến lược bá quyền của Trung Quốc là thống lĩnh vùng biển phía Nam và kiểm soát toàn thể khu vực ĐNÁ. Mục tiêu này chỉ có hi vọng đạt được nếu Trung Quốc có cơ hội sử dụng Việt Nam làm bàn đạp và căn cứ chiến lược.

2. Bảo vệ chủ quyền là trách nhiệm chính thức của Nhà Nước Việt Nam.

Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà Nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế. Điều kiện thứ nhất là một nghi vấn rất lớn vì giới lãnh đạo Việt Nam cho đến nay chỉ cho thấy rằng họ bất tài và đang dựa vào Trung Quốc để bảo vệ độc quyền thống trị của Đảng cùng những đặc quyền đặc lợi của họ. Gần đây, do thái độ ức hiếp quá đáng của Trung Quốc và những yếu tố thuận lợi từ phía quốc tế, lãnh đạo Việt Nam đã có vẻ muốn khẳng định chủ quyền toàn vẹn của đất nước và gia tăng hợp tác với các nước đồng minh để đối thoại với Trung Quốc. Nhưng họ vẫn còn rất lúng túng trong chính sách đi hàng hai, chưa dám có những quyết định rõ rệt. Người ta có thể ngờ rằng những lời lẽ cứng rắn đối với Trung Quốc chỉ là một xảo thuật hỏa mù nhằm xoa dịu sự bất mãn của nhân dân và gia tăng sự tin tưởng của Hoa Kỳ và các nước dân chủ. Về điều kiện thứ hai, lãnh đạo bất tài và bất khả tín như vậy sẽ không thể huy động sự đoàn kết và các nguồn lực của toàn dân cho đến khi họ thật sự thay đổi đường lối. Trong khi đó, do bị bưng bít thông tin, đại đa số nhân dân không thấy được nguy cơ mất nước vào tay Trung Quốc. Hơn nữa, chuyện toàn dân đoàn kết thì vẫn chỉ là một ước mơ do hậu quả của hai mươi năm nội chiến và chính sách sai lầm của Nhà Nước cộng sản đối với nhân dân miền Nam sau ngày thống nhất. Hòa giải và đại đoàn kết dân tộc luôn luôn được nói đến nhưng chưa bao giờ thực hiện sau 35 năm chấm dứt chiến tranh. Riêng điều kiện thứ ba thì Việt Nam đang có nhiều thuận lợi vì ASEAN, Hoa Kỳ và các quốc gia dân chủ trên thế giới đều muốn ngăn chặn tham vọng bá quyền của Trung Quốc. Vấn đề là lãnh đạo Việt Nam có đủ khả năng và dũng cảm hay không, không phải để đối phó với Trung Quốc bằng chiến tranh, mà để cùng với cộng đồng quốc tế giải quyết với Trung Quốc vấn đề Biển Đông Nam Á và các vấn đề an ninh, hợp tác và phát triển trong khu vực.

3. Vai trò của cộng đồng người Việt hải ngoại

Với giả định là lãnh đạo Việt Nam muốn thật lòng tìm cách thoát ra khỏi vòng kiểm soát của Trung Quốc, vai trò thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại là giúp cho chính quyền trong nước đối phó với Trung Quốc bằng những công trình nghiên cứu và tư vấn, và đóng góp vào công cuộc phát triển sức mạnh của nhân dân. Ngoài ra, người Việt hải ngoại có thể vận động đắc lực cho vấn đề quốc tế hóa Biển Đông Nam Á và cho một giải pháp hòa bình bền vững giữa Trung Quốc và các nước ASEAN. Những hoạt động này cần tiến hành đồng bộ và phải được phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, nhân dân trong nước, và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Đến đây, câu hỏi quan trọng được đặt ra là làm thế nào có được sự tin cậy và hợp tác giữa chính quyền và nhân dân trong nước, nhất là giữa chính quyền và khối người Việt ở nước ngoài, khi vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc chưa được giải quyết? Hợp tác với chính quyền trong nước, dù để đối phó với Trung Quốc, có giúp duy trì chế độ độc tài toàn trị hay không? Những câu hỏi này cần phải được trả lời trước khi bàn đến những hoạt động thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Tôi đề nghị chúng ta nên tạm ngưng thảo luận về vấn đề hòa giải giữa Nhà nước và cộng đồng người Việt hải ngoại vì vấn đề này đã được tranh cãi từ nhiều năm qua và vẫn còn bế tắc. Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc. Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng. Sự kiện người Việt hải ngoại đóng góp công trình nghiên cứu lịch sử hay tư vấn pháp lý cho chính quyền trong nước về vấn đề Hoàng Sa, Truờng Sa là một hành động hợp tác vì nguy cơ chung nhưng không phải hay chưa phải là hành động hòa giải. Một thí dụ khác: nếu chính phủ Việt Nam lên tiếng yêu cầu Trung Quốc ngưng tiếp tục xây đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong để bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái của hàng triệu dân Việt Nam sinh sống ở lưu vực dòng sông này thì việc người Việt hải ngoại gửi kiến nghị vận động các chính phủ và tổ chức quốc tế ủng hộ lập trường của chính phủ Việt Nam, không có nghĩa là một hành động củng cố chế độ độc tài cộng sản. Trong khi đó những nỗ lực dân chủ hoá Việt Nam vẫn được tiếp tục dù dưới những hình thức ôn hoà hơn.

Đây không phải là lần đầu tiên “người quốc gia” đặt vấn đề nói chuyện với “người cộng sản”, hay ngược lại, vì quyền lợi tối thượng của đất nước. Cựu Ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc đã cho biết là sau khi Trung Cộng cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa ngày 19.01.1974, ông đã ba lần “đề nghị đến gặp Bộ trưởng Ngoại giao của chính quyền Hà Nội để cùng thảo luận về những vấn đề của đất nước” (ngày 26.02, 16.05 và 20.07.1974) nhưng “cả ba lần đó, Hà Nội đều làm ngơ không đáp ứng tích cực”[vii]. Hai trường hợp khác về đề nghị hợp tác giữa quốc gia và cộng sản là năm 1954 và 1989. Theo lời kể lại của cố Ngoại trưởng VNCH Trần Văn Đỗ, mấy ngày trước khi hiệp định Genève 1954 được ký kết, ông được Trưởng phái đoàn cộng sản Phạm Văn Đồng mời gặp để cùng tìm giải pháp hoà bình giữa người Việt Nam với nhau thay vì chịu sự áp đặt của các cường quốc. Hai ông đã gặp nhau nhưng khi đó đã quá muộn. Cố Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ kể cho tôi câu chuyện này khi tôi ghé Paris trên đường đi Genève, tháng Sáu 1989 để tham dự hội nghị quốc tế về tị nạn Đông Dương, và được Giáo sư Vũ Quốc Thúc đưa đến thăm ông. Cố ngoại trưởng cho hay ông nhờ GS Thúc đưa tôi đến gặp là để nhắc tôi phải tìm gặp Trưởng phái đoàn cộng sản ở Genève để tìm một giải pháp “của người Việt Nam” cho vấn đề tị nạn Việt Nam. Dù rất ngần ngại, cuối cùng tôi cũng yêu cầu Eric Schwartz, Giám đốc Á châu trong Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (NSC) khi đó đang có mặt trong phái đoàn Hoa Kỳ, thu xếp cho tôi gặp Trưởng phái đoàn Việt Nam là Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, nhưng lúc đó ông Thạch không chịu gặp tôi. Một năm sau, khi ông Thạch sang New York tham dự Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thì chính ông lại mời tôi gặp sau khi nhận được thư của Thượng Nghị sĩ Mark O. Hatfield. Vì vấn đề tị nạn Việt Nam đã được hội nghị quốc tế Genève 1989 giải quyết bằng Kế hoạch Hành động Toàn diện (CPA), chủ đích cuộc gặp gỡ giữa nhóm đại diện của Trung Tâm SEARAC, do tôi làm chủ tịch, và ông Nguyễn Cơ Thạch là vấn đề định cư cựu tù nhân cải tạo ở Hoa Kỳ. Vấn đề này được nối kết với vấn đề POW/MIAs mà Việt Nam cần hợp tác tích cực hơn để chính phủ Mỹ có thể đáp ứng thuận lợi vấn đề thiết lập quan hệ bình thường giữa hai nước.[viii]

Trở lại trường hợp người Việt hải ngoại giúp cho chính quyền trong nước đối phó với Trung Quốc, ngoài lý do quyền lợi tối thượng của đất nước, người bên ngoài còn có cơ hội tiếp cận với những người yêu nước và tiến bộ ở trong hay ngoài đảng cộng sản, hóa giải được những ngộ nhận và định kiến còn tồn tại giữa hai bên để tin cậy nhau hơn, hợp tác chặt chẽ với nhau hơn trên nhiều lãnh vực khác nhằm cải thiện đời sống của nhân dân và gia tăng triển vọng dân chủ hóa Việt Nam. Trong viễn tượng ấy, lãnh đạo Đảng và Nhà nước sẽ đứng trước ba lựa chọn: một là chấp thuận sự hợp tác của trí thức ở trong và ngoài nước, và chủ động tiến trình đổi mới chính trị để thực hiện đại đoàn kết và huy động được các nguồn lực của nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới; hai là bác bỏ sự hợp tác của cộng đồng hải ngoại, tiếp tục đàn áp những đòi hỏi ôn hòa về dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội, tiếp tục thực hiện một chiều khẩu hiệu “bốn tốt” và “mười sáu chữ vàng” với Trung Quốc; ba là hạn chế và kiểm soát sự hợp tác của người Việt hải ngoại, tiếp tục thân với Trung Quốc nhưng cũng dựa vào những điều kiện thuận lợi quốc tế để điều đình với Trung Quốc. Trong khi đó, chính sách áp chế nguyện vọng của nhân dân vẫn không thay đổi.

Trong hoàn cảnh hiện thời, lựa chọn thứ nhất rất ít hi vọng trở thành hiện thực. Chính quyền có vẻ đang thi hành lựa chọn thứ ba. Trong trường hợp này, và ngay cả trong trường hợp chính quyền lựa chọn cách thứ hai, những đóng góp độc lập hay có phối hợp của người Việt hải ngoại với trí thức và nhân dân trong nước vẫn cần thiết cho việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam và cho việc tìm kiếm giải pháp hòa bình ở Biển Đông Nam Á. Hiểm họa Trung Quốc, nếu không làm cho chính quyền thức tỉnh và thực hiện chính sách hòa giải với các thành phần dân tộc để cứu nước thì nó cũng sẽ tạo cơ hội cho người Việt Nam ở trong và ngoài nước đoàn kết và hợp tác với nhau trong các nỗ lực ngăn chặn nguy cơ mất nước và giải thể chế độ độc tài toàn trị.

Kế hoạch cụ thể và toàn diện

Trong bối cảnh lịch sử và viễn tượng tương lai đó, chúng ta cần thiết lập một kế hoạch hành động toàn diện với các đối tượng quốc nội và quốc tế. Tôi xin đề nghị một số công tác và gợi ý cần thiết cho việc thiết lập và thực hiện kế hoạch này:

1. Quan hệ giữa người Việt trong và ngoài nước :

  1. Phổ biến bằng mọi cách những thông tin chính xác tới mọi tầng lớp nhân dân và cấp bậc trong quân đội, nhất là ở các vùng sâu và xa trên toàn quốc về những lời tuyên bố ngang ngược và hành động tàn bạo của TQ về chủ quyền Biển Đông, về những lá thư và bài viết của các nhân vật có uy tín ở trong nước tố cáo mưu đồ thôn tính VN của TQ bằng kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, và về những nhượng bộ của lãnh đạo VN đối với TQ. Cần nêu rõ những bằng chứng cho thấy trong khi những công dân yêu nước biểu tình phản đối TQ bị trừng phạt thì bộ máy thông tin nhà nước lại đưa ra những tin tức và hình ảnh có lợi cho TQ. Cần hỗ trợ những đòi hỏi của nhân dân về thái độ cụ thể của chính quyền đối với TQ.
  2. Thiết lập và mở rộng quan hệ với các trí thức, văn nghệ sĩ ở trong nước, thuộc mọi lớp tuổi, có lòng yêu nước và mong muốn Việt Nam trở thành một quốc gia giàu mạnh, dân chủ, văn minh, có vị thế xứng đáng trong cộng đồng thế giới. Nhiều người xuất ngoại để công tác đã có cơ hội tiếp xúc với những đối tác hay đồng nghiệp của họ trong cộng đồng hải ngoại và đã có nhiều quan hệ tốt. Họ đã và đang có tiếng nói phản biện trước những chính sách và chương trình của chính phủ đi ngược với lợi ích của dân tộc, mặc dù phải chịu nhiều hành động sách nhiễu và phá phách của bộ máy công an.
  3. Tiếp xúc và hợp tác với những cựu đảng viên đã ly khai và bỏ ra nước ngoài để tranh đấu chống độc tài, và những trí thức sinh trưởng trong lòng chế độ nhưng bất mãn với chính sách kìm kẹp của nhà nước nên cũng chọn cuộc sống lưu vong để có điều kiện tự do nghiên cứu, sáng tác và tìm cách cải thiện đời sống của đồng bào trong nước. Tiếng nói của những trí thức này rất có ảnh hưởng đối với nhân dân trong nước.
  4. Tiếp xúc và hợp tác với các trí thức chuyên gia xuất ngoại trước 1975, nhiệt tình yêu nước nhưng có thiện cảm với miền Bắc trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ, nay thất vọng trước những chính sách sai lầm của nhà cầm quyền cộng sản nên đã thẳng thắn chỉ trích chế độ và thúc đẩy công cuộc đổi mới về mọi mặt. Tuy nhiên, do bị ngộ nhận về lòng yêu nước của mình, những trí thức này đã sống biệt lập với cộng đồng hải ngoại và chỉ sinh hoạt trong những diễn đàn do chính họ thành lập. Trong những năm gần đây, qua sự tham dự những hội nghị do các trường Đại học hay cơ quan nghiên cứu ngoại quốc tổ chức, một số trí thức trước và sau 1975 đã có dịp tiếp xúc thân tình, trao đổi quan điểm và công trình nghiên cứu về những vấn đề quan trọng của đất nước.
  5. Tiếp xúc và trao đổi với những sinh viên du học hay tu nghiệp mỗi ngày một đông hơn. Hầu hết những du sinh hay nghiên cứu sinh này đã có những hiểu biết căn bản về đời sống ở nước ngoài và đều mong muốn đất nước đổi mới và hội nhập thành công với cộng đồng thế giới văn minh, dân chủ. Do bận việc học hành và do những qui định của nhà nước về điều kiện du học, họ thường né tránh những cuộc tiếp xúc với người Việt định cư ở nước ngoài vì e ngại bị lôi cuốn vào những sinh hoạt chống cộng của cộng đồng. Nhưng trong những cuộc trao đổi giữa họ với nhau hay với một số giáo sư hay bạn đồng học người Việt sở tại, họ đã chia sẻ những mối quan tâm sâu sắc trước tình trạng tham nhũng trầm trọng, đạo đức suy đồi ở Việt Nam, và không ngần ngại biểu lộ sự tức giận đối với những biện pháp của chính phủ ngăn cấm dân chúng phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền đất nước, ngăn cấm và phá hoại thông tin chính trị trên internet. Sự trao đổi thân tình giữa người Việt hải ngoại và các du sinh sẽ xóa bỏ được nhiều ngộ nhận của họ về cộng đồng tị nạn, chia sẻ một cách nghiêm túc những suy nghĩ và mong ước về tương lai nước Việt. Họ sẽ là những nhân tố thay đổi xã hội Việt Nam, là những nhịp cầu cho sự hợp tác phát triển giữa trong và ngoài nước sau này.

2. Quan hệ với chính quyền Việt Nam:

Người Việt hải ngoại không cần phải yêu cầu chính phủ Việt Nam chấp thuận thiết lập quan hệ hợp tác giữa đôi bên, vì từ nhiều năm nay các lãnh đạo trong nước vẫn tha thiết kêu gọi nhân tài Việt Nam ở nước ngoài đóng góp chất xám vào công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Thực tế thì đã có một số chuyên gia người Việt ở các nước tiền tiến trở về làm tư vấn cho chính phủ, giúp đỡ kỹ thuật hay đào tạo cán bộ chuyên môn. Vì chính sách sai lầm của chính quyền, số người này cho đến nay mới có khoảng vài trăm so với tổng số ước lượng là trên 300 nghìn nhân tài người Việt ở nước ngoài. Bây giờ chỉ cần chính thức hóa mối quan hệ này trong việc việc đối phó với TQ để có thể phát huy nội lực, gia tăng sự tin cậy của các thành viên khác trong khối ASEAN và được quốc tế hỗ trợ cho những cuộc đàm phán đa phương với Trung Quốc. Tuy nhiên, sự hợp tác này được chính phủ Việt Nam chấp thuận đến mức độ nào thì chưa thể biết được.

Trong những cuộc đối thoại với chính quyền, nếu có, cần xác nhận yếu tố ổn định chính trị trong tiến trình hợp tác. Nói cụ thể và thực tế hơn, cần giải quyết tình trạng đối kháng hiện thời bằng thái độ tương nhượng: cộng đồng hải ngoại sẽ trì hoãn những hoạt động quyết liệt chống chính quyền, những đòi hỏi giải thể chế độ, những cuộc vận động Quốc hội Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC; để đổi lại, chính quyền phải cải thiện chính sách đối với những người tranh đấu ôn hòa cho dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo bằng việc phóng thích những người đang bị giam giữ, nới rộng những quyền tự do căn bản, chấm dứt việc phá hoại những trang mạng hay trang blog trên internet.

Đế cho sự đóng góp chất xám từ hải ngoại được thực tế và hiệu quả hơn, cần phải có sự cộng tác của trí thức và chuyên gia tiến bộ ở trong nước. Một cơ quan tư vấn theo mô hình “think tank” của Mỹ cần được thành lập với sự tham gia của trí thức trong và ngoài nước. Thật ra, đây là một dự án đã được thử nghiệm hơn ba năm trước bởi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt sau khi ông và nhóm chuyên gia của ông nghiên cứu “dự án phát triển Việt Nam thế kỷ 21 (VN21)” do TS Phùng Liên Đoàn ở Mỹ soạn thảo với sự góp ý của tôi. Sau những buổi làm việc trực tiếp giữa đôi bên, dự án VN21 đã trở thành một dự án “think tank” mang tên là “Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển Bền Vững”, với tỉ lệ thành phần sáng lập là 50 phần trăm trí thức ở trong nước và 50 phần trăm trí thức ở nước ngoài. Quá trình vận động cho việc thành lập “think tank” này rất khó khăn nhưng nhờ quyết tâm của cố Thủ tướng Kiệt, Nhà nước đã chấp thuận đề nghị của ông, nhưng chỉ cho phép trí thức trong nước đứng chủ trương. Do đó Viện Nghiên Cứu Phát Triển IDS được ra đời vào tháng Mười Một năm 2007. Dù sao, đây cũng là một bước khởi đầu cần thiết. Như chúng ta đều biết, các hoạt động của Viện IDS đã bị chính quyền tìm cách hạn chế và kiểm soát, nhất là sau ngày ông Kiệt qua đời, thậm chí Hội Đồng Quản Trị của IDS đã phải ra tuyên bố tự giải thể để phản đối Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng Bảy 2009 của Thủ tướng Chính Phủ, với lời cáo buộc rất dũng cảm là Quyết định này “phản khoa học, phản tiến bộ và phản dân chủ.”

Dĩ nhiên, tất cả những ý kiến trên đây về quan hệ hợp tác giữa người Việt hải ngoại và chính quyền trong nước chỉ có thể thực hiện trong trường hợp chính quyền quyết định chọn lựa theo cách thứ nhất trong ba lựa chọn đã nói đến ở trên (tiền đề số 3: Vai trò của người Việt hải ngoại). Quan hệ hợp tác này, nếu đạt được, sẽ không có nghĩa là cộng đồng người Việt hải ngoại giúp củng cố chế độ độc tài; trái lại, nó mở đầu cho một tiến trình dân chủ hóa mà không có sự đối đầu. Nói cách khác, đây là một tiến trình “diễn biến hòa bình” do chính Nhà nước chủ động để thực hiện mục tiêu ‘dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” vẫn được nêu cao nhưng không thấy làm. Đây là cơ hội mà người Việt hải ngoại và nhân dân trong nước mở ra cho chính quyền nhưng cũng là một thách thức lịch sử đối với lãnh đạo Đảng Cộng sản trước sự tồn vong của đất nước và dân tộc Việt Nam.

3. Vận động ASEAN, Hoa Kỳ và quốc tế

Như trên đã nói, đây là trách nhiệm và thẩm quyền chính thức của chính phủ Việt Nam trong quan hệ với các quốc gia khác. Những cuộc vận động của nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt ở nước ngoài, nói chung, chỉ có tính cách hỗ trợ cho chính phủ. Tuy nhiên, trong trường hợp đối phó với hiểm họa Trung Quốc, cộng đồng người Việt hải ngoại có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc vận động quốc tế mà nhân dân trong nước không có, trong khi chính phủ Việt Nam lại chưa có chính sách rõ rệt trước hiểm hoạ Trung Quốc. Đặc biệt là những cuộc vận động hành lang của công dân ngoại quốc gốc Việt Nam có thể đem lại nhiều kết quả tích cực do khả năng thuyết phục những nhà làm chính sách ở các nước sở tại, nhất là ở Hoa Kỳ.

Vì Trung Quốc cũng đang là mối đe dọa chung đối với các nước ASEAN và một số quốc gia Á châu khác như Nhật Bản và Ấn Độ, những công dân ngoại quốc gốc Á châu sẽ sẵn sàng hợp lực với người Việt hải ngoại trong các nỗ lực vận động chính quyền ở quốc gia sở tại và ở quê hương gốc của họ. Lợi điểm chính là họ cũng rất quan tâm về tham vọng bá quyền của Trung Quốc, về vị trí chiến lược của Biển Đông Nam Á và nhất là không thể chấp nhận vai trò lãnh đạo thế giới của một nước cộng sản độc tài. Riêng ở Hoa Kỳ, các cộng đồng người Mỹ gốc Á châu thường có quan hệ hợp tác chặt chẽ với chính phủ và các tổ chức tư nhân có thế lực ở quê hương họ. Những người lãnh đạo cộng đồng của họ trên khắp các tiểu bang cũng có nhiều quan hệ và kinh nghiệm làm việc với Quốc hội và chính phủ Hoa Kỳ [ix]. Ngay cả những trí thức người Mỹ gốc Hoa vì đã quen với những suy nghĩ và hành động theo những nguyên tắc bình đẳng và dân chủ cũng có thể đứng chung hàng ngũ với người Mỹ gốc Á trong cuộc vận động cho một giải pháp công bằng và hòa bình trong khu vực. Như vậy, chúng ta không cô đơn mà có nhiều bạn đồng minh rất đắc lực. Tiếng nói chung của công dân và cử tri Mỹ gốc Á qua những bản tuyên bố, những thư kiến nghị, những buổi điều trần ở Quốc hội, những bài báo hay tham luận ở các hội nghị chuyên đề chắc chắn sẽ được những nhà làm chính sách của Mỹ và quốc tế lắng nghe [x].

Đối tượng quốc tế cần được tiếp cận để vận động, ngoài các chính phủ có mối quan tâm chung đối với Trung Quốc, là tổ chức Liên Hiệp Quốc, các cơ quan nghiên cứu quốc tế về luật pháp và nhân quyền, các trường Đại học và các chuyên gia về TQ. Ngoài ra, cũng cần theo dõi và khai thác những phản ứng chống chủ nghĩa “tân thực dân” của TQ tại Châu Phi và những mâu thuẫn quyền lợi giữa Nga và Trung Quốc tại những nước vùng Trung Á như Kyrzystan va Uzbekistan. Sự ủng hộ trực tiếp hay gián tiếp của các cơ quan truyền thông như báo chí, truyền thanh và truyền hình cũng rất quan trọng và phải được triệt để khai thác khi có cơ hội. Cộng đồng nguời Việt hải ngoại cần tập hợp được những nhà nghiên cứu, những tác giả giỏi ngoại ngữ và những đại diện thông thạo về giao tế (PR) ở thủ đô của các quốc gia cần vận động.

Kết luận

Vấn đề vai trò của người Việt hải ngoại như vừa được trình bày, phát xuất từ một giả định là các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước thống nhất ý chí trước nguy cơ Trung Quốc muốn thôn tính Việt Nam làm bàn đạp cho chiến lược bá quyền quốc tế. Với quyết tâm ấy, Nhà nước sẽ vận dụng mọi khả năng hợp tác với các nước ASEAN, Hoa Kỳ và các đồng minh khác để quốc tế hóa vấn đề Biển Đông Nam Á nhằm đạt được giải pháp chung sống hòa bình, hợp tác và phát triển giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực. Khả năng trung lập hoá ASEAN cũng có thể được xem xét như một giải pháp giúp cho Việt Nam và các nước trong khu vực tạo được vị thế riêng biệt, có thể bảo vệ được chủ quyền của mỗi thành viên với các đối tác quốc tế, tránh khỏi vai trò đu dây giữa các cường quốc.[xi] Điểm quan trọng trong giả định này là Nhà nước Việt Nam sẽ thay đổi chính sách đối nội, tạo điều kiện cho một xã hội công dân, chấp nhận đối lập, xóa bỏ những bản án nặng nề đối với những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội. Qua các thành tích của chế độ độc tài cộng sản và kinh nghiệm trực tiếp của nhân dân Việt Nam từ 65 năm qua ở miền Bắc và 35 năm ở miền Nam, kịch bản tự giác và tự chuyển hoá từ độc tài sang dân chủ của nhà cầm quyền Hà Nội có thể được xem như một mơ ước hão huyền. Nhưng trong cuộc đời đã từng xảy ra nhiều chuyện bất ngờ, nhất là khi nguy cơ mất nước đã gần kề và sự bất mãn của dân chúng đối với những biện pháp khắc nghiệt của chính quyền đang gia tăng cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Bởi thế giả định này vẫn cần đặt vào trong những mục tiêu của kế hoạch. Giả định này có thể trở thành hiện thực hay không thì nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng vẫn cần hợp lực để ngăn chặn hiểm họa Trung Quốc, đồng thời đem lại tự do, dân chủ thật sự cho dân tộc.

Chính quyền trong nước cũng như cộng đồng người Việt ở nước ngoài đang phải đôi diện với những thử thách quan trọng đòi hỏi những quyết định dũng cảm, đột phá, để biến những thử thách đó thành cơ hội hợp tác cứu nguy đất nước và cải thiện chế độ chính trị. Hiểm hoạ Trung Quốc là “thời cơ vàng”[xii] để lãnh đạo Đảng và Nhà nước có thể sửa chữa sai lầm, lấy lại được lòng tin của dân chúng và hoà giải với cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Đây cũng là cơ hội cho những đảng viên sáng suốt, trí thức tiến bộ và nhân dân trong nước gia tăng áp lực với những nhà làm chính sách, nhất là trong khi Đảng đang chuẩn bị Đại Hội XI vào đầu năm 2011. Ở hải ngoại, đã đến lúc các nhà lãnh đạo cộng đồng cần hội ý với nhau để xác định một hướng đi mới và một sách lược lâu dài đối với tương lai của đất nước, và trước mắt là thiết lập một kế hoạch thực tế có thể đóng góp hữu hiệu vào những nỗ lực ngăn chặn cuộc chinh phục thầm lặng của Trung Quốc. Vấn đề không phải là ai hay đoàn thể nào có thể khởi động cuộc thảo luận này vì bất cứ một cá nhân hay tập hợp nào đảm nhận trách nhiệm đó cũng đáng được hoan nghênh, nhất là vì đây không phải là vấn đề lãnh đạo mà là điều hợp những cuộc thảo luận cho đến khi đạt được đồng thuận về đường lối và kế hoạch. Sau đó mới cần bầu ra những đại diện chính thức để phụ trách thực hiện kế hoạch. Tốt hơn hết là vai trò điều hợp nên được đảm nhiệm bởi những chuyên gia thuộc lớp tuổi trung niên thành thạo viêc tổ chức và điều hành hội nghị. Cộng đồng người Việt hải ngoại không thể bỏ lỡ vai trò và cơ hội lịch sử này.

© Lê Xuân Khoa

© Đàn Chim Việt

————————————————————–

Chú thích

[i] Xem talawas (Đức) 01 tháng 03, 2010; Ngày Nay (Houston, Texas) 01/03/10; Đàn Chim Việt Online (San Jose, California) 02/03/10; NgườiViệt (Westminster, California) 18-19-20/03/10.

[ii] Admiral Timothy Keating, “Asia-Pacific Military Review”, http://2002-2009-fpc.state.gov/113312.htm. Dẫn bởi Vũ Quang Việt trong “Towards a just and fair solution to the conflicts in the Southeast Asian Sea”, tài liệu thuyết trình tại “Seminar on Conflicting Claims to the South China Sea”, do Đại học Temple, Philadelphia, PA, tổ chức ngày 25/03/2010.

[iii] Robert D. Kaplan, “The Geography of Chinese Power: How Far Can Beijing Reach on Land at at Sea”, Foreign Affairs, May/June 2010, trang 22-41.

[iv] Martin Jacques, When China Rules the World, The Penguin Press, New York, 2009.

[v] John & Doris Norbitt, China’s Megatrends: The 8 Pillars of a New Society, HarperCollins Publishers, New York, 2010, đặc biệt là chương 2.

[vi] Nguyễn Hải Hoành, “Giấc mơ hùng vĩ của người Trung Quốc (phần 1)”, http://community.tuanvietnam.net/2010-03-10-giac-mo-hung-vi-cua-nguoi-trung-quoc-phan-1-?print=1

[vii] Vương Văn Bắc, “Nhớ lại và Suy ngẫm về vụ Hải chiến Hoàng Sa, Đặc San Ái Hữu Ngoại Giao, Xuân Mậu Tý, Paris, France (2008).

[viii] Chi tiết về cuộc gặp gỡ này cũng như những cuộc vận động của SEARAC (Trung Tâm Tác Vụ Đông Nam Á) cho các chương trình định cư HO và ROVR sẽ được trình bày đầy đủ trong cuốn sách về lịch sử tị nạn mà tôi đang viết, tiếp theo tập I của cuốn Viêt Nam 1945-1995:Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử, đã phát hành. Tạm thòi, xin xem bản tóm lược các hoạt động của SEARAC trong “The Voice of Refugees”, một tài liệu tôi viết cho The Boat People Archives của Thư Viện Quốc Hội, nhân dịp họ tổ chức cuộc hội thào về thuyền nhân ở Washington, DC, ngày 2 tháng 5 năm 2009.

[ix] Trong một buổi tiếp xúc gần đây của tôi với Floyd Mori, Chủ tịch tổ chức Japanese American Citizens League (JACL) và Chủ tịch Asian Pacific American Council, ông Mori cho tôi hay ông sẵn sàng gặp gỡ các đại diện cộng đồng Mỹ gốc Việt để thảo luận về nỗ lực chung này.

[x] Một thí dụ cụ thể: TS Vũ Quang Việt, sau khi thuyết trình tại cuộc Hội thảo ở Đại học Temple (xem chú thích số ii trên đây), đã được cơ quan U.S.-China Economic and Security Review Commission (USCC) ở Washington, DC, mời đến tham khảo và có thể sẽ tổ chức một buổi điều trần ở Quốc hội hay một buổi họp với các chuyên gia người Việt hải ngoại về giải pháp cho Biển Đông Nam Á. (USCC là tổ chức do Quốc Hội Mỹ thành lập năm 2000 để nghiên cứu và đề nghị về các vấn đê kinh tế và an ninh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.)

[xi] Xem Vũ Quốc Thúc, Thời Đại của tôi, cuốn I, Người Việt xuất bản, Westminster, 2010., trong Phụ lục: “Việt Nam làm gí sau khi được bầu vào Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc?” trang. 401-408, và “Nhận định về hai cuộc vận động ngoại giao của chính quyền Hà Nội”, trang 409-414.

[xii] Mượn lời của tác giả Nguyễn Trung trong loạt bài “Thời Cơ Vàng của Đảng Ta” trên Vietnam.net năm 2009.

Friday, July 2, 2010

Trách nhiệm công dân và tinh thần Phan Châu Trinh

Trích Bauxit Vietnam


Hà Huy Sơn


Điều 51, HP 1992
:

“Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.


Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội.


Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định.”



Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:

  • Khai dân trí: bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ Quốc ngữ, kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục xa hoa.

  • Chấn dân khí: thức tỉnh tinh thần tự lực tự cường, mọi người giác ngộ được quyền lợi của mình, giải thoát được nọc độc chuyên chế.

  • Hậu dân sinh: phát triển kinh tế, cho dân khai hoang làm vườn, lập hội buôn, sản xuất hàng nội hóa...
Căn cứ Hiến pháp và tư tưởng của chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh, tôi một độc giả gắn bó với Bauxite Việt Nam muốn nhắn gửi các quí vị độc giả đôi lời.

Thời gian qua, những người chân chính quan tâm đến sự tình của đất nước đã mang ơn
Bauxite Việt Nam nhiều. Vì độc giả đã được đọc, được biết nhiều nhờ Bauxite Việt Nam. Nay chúng ta phải nghĩ đến nghĩa vụ của mình là viết cho chính mình và sau đó là viết cho người khác; không lẽ cứ đọc của người khác viết mãi sao.

Căn cứ vào Hiến pháp, Luật pháp để thực hiện quyền công dân. Công dân ở mỗi địa phương chưa thể lập ra 01 blog như
Bauxite Việt Nam, thì ít ra miền Trung, miền Nam, Huế, Sài Gòn, Cần Thơ… nên có 01 blog như Bauxite Việt Nam. Như vậy có làm cho chúng ta nhỏ đi, yếu đi không? câu trả lời là Không. Thế giới ngày nay là thế giới phẳng, mọi người kết nối theo mô hình mạng (net); cứ 01 máy điện thoại mới sẽ làm tăng giá trị của cho các máy điện thoại khác.

Blog địa phương sẽ có sức mạnh riêng, bởi nó gần gũi, kịp thời phản ánh những tích cực, những bức xúc tại chỗ mà vẫn kết nối được với cả nước. Tạo cho nhiều người có điều kiện được tham gia, đóng góp nhiều hơn, tích cực hơn… Một
Bauxite Việt Nam không thể truyền tải hết, truyền tải đủ nhu cầu của xã hội ở mọi nơi dễ làm mọi người dù nhận được thông tin phong phú đến bao nhiêu cũng thấy như chưa đủ, và cũng là để “giảm tải” cho các bác BVN. Hơn nữa, sự nghiệp này không phải trách nhiệm của riêng ai.

Mọi người hãy nhận chia sẻ phần việc chung. Với nguyên tắc tự nguyện, làm những việc từ dễ đến khó, thường xuyên và tự nhiên như hít thở hàng ngày. Ai cũng có thể tham gia, không căng thẳng, không mệt mỏi, không giấu diếm. Hạn chế ảnh hưởng đến kế sinh nhai, ảnh hưởng đến gia đình. Nhất cử, nhất động tuân theo pháp luật.


Lấy tinh thần Phan Châu Trinh làm tôn chỉ, có khác là thực hiện đồng thời Khai dân trí, Hưng dân trí, Chấn dân sinh.


Hà Nội, 30-6-2010


HHS

Thursday, July 1, 2010

Cs Lại Dùng Tôn Giáo

VI ANH . Việt Báo Thứ Tư, 6/30/2010,


Cùng gần như đồng thời có hai tin quốc tế như liên quan đến VN, hết sức đáng chú ý. Tin đầu là tin theo thông cáo chung của Vatican và Hà nội sau hai ngày hội đàm, Đức Giáo Hoàng lần đầu tiên trong lịch sử tương quan giữa Vatican và Hà Nội, sẽ cử “đặc phái viên không thường trú của Vatican về Việt Nam ..’’. Tin kế là tin phân tích của nhựt báo La Croix của Pháp ngày 26/06/2010 có một bài khá lạ, thay vì coi tôn giáo là thuốc phiện theo chủ nghĩa CS, nay TC đang nắm «Chính quyền Trung Quốc sử dụng các tôn giáo như công cụ kiểm soát » dân chúng và xã hội.
Một, theo bản tin của Đài RFI Pháp Quốc tế sau hai ngày 23 và 24/06 nhóm công tác hỗn hợp đã họp lần hai tại Vatican (lần đầu tại Hà nội hồi tháng 2 năm 2009) Tòa Thánh Vatican và Bộ Ngoại Giao của CS Hà nội đã chính thức công bố đồng thời một thông cáo chung. Câu áp chót của bản thông cáo chung là phần kết quả đáng lưu ý nhứt. Rằng hai bên “nhất trí” về việc Đức Giáo Hoàng sẽ bước đầu cử “đặc phái viên không thường trú của Vatican về Việt Nam nhằm tăng cường quan hệ giữa Vatican và Việt Nam cũng như quan hệ giữa Vatican và Giáo hội Công giáo Việt Nam’’.
Theo bản tin này, khi Linh Mục Federico Lombardi SJ, giám đốc thông tin báo chí của Tòa Thánh, việc “Đức Giáo Hoàng bổ nhiệm một đại diện không thường trú của Tòa Thánh cho Việt Nam là " một bước có ý nghĩa rất quan trọng" trong việc xây dựng các quan hệ hiện hữu.Tuy nhiên, phát ngôn viên Tòa Thánh đã tỏ vẻ thận trọng, cho rằng việc cử ‘’đại diện không thường trú’’ đặc trách Việt Nam không có nghĩa là quan hệ ngoạii giao toàn diện giữa hai bên đã được thiết lập. Ngoài ra, chức vị đó cũng không phải là chức "sứ thần" hay "khâm sứ thường trực" tại Việt Nam, cho dù nhân vật này sẽ do đích thân Đức Giáo Hoàng chính thức bổ nhiệm.Là chức sắc thường xuyên qua lại giữa Vatican và Việt Nam, nhân vật này, theo phát ngôn viên Tòa Thánh, sẽ đại diện một cách có hiệu quả cho Đức Giáo Hoàng trong các quan hệ với Việt Nam. Tuy nhiên vào lúc này, chưa có ai được đề nghị vào chức vụ đại diện không thường trú của Tòa Thánh.
Không phải là sứ thần, không phải là khâm mạng Toà Thánh, không thường trú tức không thường trực ở bên cạnh nhà cầm quyền CS Hà Nội, nhưng do đức Giáo Hoàng bổ nhiệm thì nói theo kiểu bình dân đại khái đó cũng như “ sĩ quan liên lạc” hay “ công cán ủy viên” của Đức Giáo Hoàng.
Nhưng có một điểm đáng chú ý về phía Công Giáo. Theo tinh thần thông cáo chung, đặc phái viên không thường trú này lo hai công cán cho Đức Giáo Hoàng. Một là của tăng cường quan hệ giữa Vatican và Việt Nam. Hai là quan hệ giữa Vatican và Giáo hội Công giáo Việt Nam’’. Liên từ cũng như đáng chú ý, đặc phái viên có thẩm quyền trong bang giao và trong nội bộ giáo hội. Nói cách khác đạc phái viênb có quyền có ý kiến trong các mâu thuẩn việc giải quyết mâu thuẩn giữa giáo hội vá nhà cầm quyền sở tại.
Và một điểm khác không nói ra nhưng tránh những Vatican không làm khó Hà nội. Vatican chỉ buớc đầu cử đặc phái viên không thường trú, nên Hà nội không cẩn trao trả toá khâm sứ lại mà giáo dân đang đòi. Vì theo thông lệ khi tái lập bang giao. Cơ sơ ngoại giao phải trả lại, như CS Hà nội trả lại Toà Đại sứ Mỹ ở Saigon, Mỹ sùng làm toà tổng lãnh sư.
Ráng chờ Đức Giáo Hoàng cử nhân vật nào thì có thể đoán biết làn sóng ngầm của cuộc thương lương bang giáo có thể nói quá lâu này mà thông cáo chung là bọt biển. Nhưng kinh nghiệm CS của người Việt cho biết cuộc đối thoại với CS là cả một vấn đề, CS có một ngàn lẻ một cách tránh né, phản bội cam kết. Cụ thể khi xin Mỹ gỡ CPC, Hà nội hứùa hẹn, cam kết cải thiện nhân quyền, sau khi Mỹ gở CPC, cấp PNTR, vào được WTO rồi, CS Hà nội mở nhiều chiến địch càn quét những tôn giáo dộc lập và những nhà dân chủ trong nước.
Hai, gần như đồng thời với thông cáo chung của Vatican và Hà nội, vào ngày 26/06/2010, theo RFI, nhựt báo La Croix của Pháp có một loạt bài về các tôn giáo tại Trung Quốc như bài «Phật giáo nở rộ tại Trung Quốc», «Tại Hàng Châu, các xứ đạo Tin Lành không ngớt người lui tới». Và một bài rất mới lạ đáng chú ý nhứt là bài « Chính quyền Trung Quốc sử dụng các tôn giáo như công cụ kiểm soát ».
Lạ là vì đây là một bài phỏng vấn, mà người trả lời giáo sư Lý Thiên Cương, một chuyên gia về lịch sử Công giáo tại đại học Phục Đán, Thượng Hải ở Trung Cộng. Theo nhà sử học tôn giáo ở TC này, TC bây giờ đã không còn theo quan điểm truyền thống của CS, của chính quyền Bắc Kinh khi xưa, không coi tôn giáo như một hoạt động mê tín dị đoan và lừa mị con người nữa. Trái lại Đảng Nhà Nước CS Bắc Kinh sử dụng các tôn giáo như các công cụ để kiểm soát xã hội nhằm bảo vệ một sự ổn định.
Thực ra nhận định của học giả này suy cho cùng kỳ lý cũng không có gì mới lạ. Đối vói CS, cứu cánh biện minh cho phương tiện. Con mèo trắng, con mèo đen, con nào bắt được chuột thì cứ xài, cũng tốt thôi, như Ông Đặng tiểu Bình nói. Từ lâu CS Trung Quốc và VN đã dàn dựng các giáo hội do nhà nước kiểm soát để lấy củi đậu nấu dậu, lấy đạo diệt đạo và dùng tôn giáo để kiếm soát xã hội rồi. Dân chúng biết quá rành nên gọi là “giáo hội quốc doanh”. Đó là chưa nói ngành an ninh nội nội chính đào tạo nhiều mật vụ giả dạng nhà tu vào lũng đoạn hay khống chế các tôn giáo độc lập.
Theo giáo sư Lý Thiên Cương, ở Trung Cộng có năm tôn giáo chính thức, đạo Phật, đạo Lão, đạo Hồi, đạo Tin Lành và đạo Công giáo, vẫn nằm dưới sự kiểm soát chính trị của Đảng Nhà Nước. Và Đảng Nhà Nước CS Bắc Kinh đã nhìn thấy mặt tích cực của các tôn giáo trong việc phục vụ xã hội nên trực tiếp giúp dỡ và yêu cầu các nhà lãnh đạo tôn giáo nên niềm nở và thu hút làm cho các tín đồ tin tưởng họ và đặc biệt là lắng nghe họ.
Trả lời câu hỏi của phóng viên báo La Croix, giáo sư Lý Thiên Cương cho biết các hoạt động của các tín đồ Công giáo hoạt động ngoài vòng pháp luật không không gây nguy hiểm cho chế độ. Mặc dù, số lượng những người này rất đông, nhưng chính quyền Bắc Kinh đã nắm được những người công giáo trên phương diện tôn giáo và vì vậy không coi họ như là những người đối lập. Ông Lý Thiên Cương cho biết, Giáo hội Công giáo có tổ chức rõ ràng và, trong con mắt của chế độ, những người Trung Quốc theo Công giáo rất có kỷ luật, hàng ngũ giáo hội ngầm tỏ ra tuân phục. Điều này hoàn toàn khác với đạo Tin Lành, vốn có tổ chức rất lỏng. Có hiện tượng đã biến thành phong trào những người Trung Quốc tự tập hợp tìm hiểu Kinh thánh với nhau trong các cộng đồng rất nhỏ của họ. Ông lo ngại người nghèo hướng đến Giáo hội, mà phủ nhận chính phủ, điều đó sẽ là nguồn gốc của các xung đột trong tương lai. Ông muốn chính quyền chú ý đến các hoạt động truyền giáo mới này, và mong muốn chính quyền quản lý các vấn đề mà ông gọi là «hoàn toàn mang tính nội bộ của Trung Quốc» để tránh sự ra đời của các phong trào cực đoan, có tính giáo phái, động chạm trực tiếp đến chế độ. Phát biểu của vị giáo sư này đã cho thấy Ông là một cán bộ tôn giáo vận cho Đảng Nhà Nước TC, nhiều hơn là một học giả. Và với người Việt Nam, hiện tượng Tin Lành ỡ TC là một hiện tượng đã biến thành phong trào ở VN gọi là Tin Lành tại gia, đang phát triễn ở Cao Nguyên Trung Phần VN, CS Hà nội rất lo ngại.

VI ANH