Ngô Nhân Dụng Câu chuyện “Anh hùng Lê Văn Tám” là chuyện giả đã được Sử gia Phan Huy Lê nói tới từ năm 2005, trong khi dự một buổi họp của Hãng Phim Truyền Hình Việt Họ “tảng lờ” đi, như không biết, không nghe, không thấy. Nhưng phải nói là họ vừa tự bịt tai, vừa tự bịt mắt! Vì không biết làm gì khác! Thường khi người ta nói dối rồi bị lộ thì có hai cách xử trí: Hoặc là công nhận mình đã nói dối, xin cải chính và xin tha lỗi. Hoặc là chối bay không nhận mình đã nói dối. Và như thế thường phải che khỏa, lấp liếm việc nói dối của mình bằng những lời dối trá mới. Hiện nay đảng Cộng Sản Việt Ðó là chính sách của đảng Cộng Sản được thi hành từ thời 1945. Chính sách là cứ nói dối, nói những điều dối trá trắng trợn khó tin, bất kể sự thật. Ai tố cáo mình dối trá, ai nói ngược lại cũng cứ lờ đi, không thấy, không nghe. Cấm đoán không cho dân chúng được nghe, được thấy, được nói những lời nói khác. Ðợi sau khi đã giết hết những người tố cáo mình dối trá rồi, lúc đó chỉ còn một mình mình có quyền nói thôi, cuối cùng thiên hạ sẽ chỉ biết tin mình, không có cách nào khác. Năm 1946, Hồ Chí Minh đã ký kết chấp nhận cho quân Pháp đổ bộ lên Bắc Việt thay thế quân Tầu. Mục đích của ông ta là khiến cho các đảng phái quốc gia không còn dựa vào thế lực của Quốc Dân Ðảng Trung Hoa nữa, nhưng ông ta giải thích cách khác. Ông nói một câu nổi tiếng, “Thà ăn cứt thằng Pháp 5 năm còn hơn ăn cứt thằng Tầu suốt đời.” Ai cũng phục là cao kiến, vì lịch sử Việt Nhưng trong việc thỏa hiệp với quân Pháp, Hồ Chí Minh chỉ cốt có thời giờ để bắt đầu tiêu diệt những người không đồng ý với chủ nghĩa Cộng Sản. Các vụ ám sát, những cuộc tấn công vào trụ sở, căn cứ quân sự của các đảng quốc gia đã gây cảnh huynh đệ tương tàn trong khi kẻ thù đứng trước mặt sắp tấn công! Ðến khi đã thủ tiêu hết đối lập, chiếm độc quyền điều khiển chính quyền kháng chiến rồi, mà muốn “ăn cứt thằng Pháp” nó cũng không cho, thì Hồ Chí Minh bỏ qua câu nói nổi tiếng cũ, quay sang ăn của Tầu. Vì đó không phải Tầu Quốc Gia mà là Tầu Cộng Sản, những đồng chí anh em vô sản quốc tế của ông Hồ. Theo Giáo Sư Qiang Zhai, trong cuốn “China and the Việt Nam War, 1950-1975” thì giữa năm 1946, khi Cộng Sản Trung Quốc bị quân Quốc Dân Ðảng đánh ở Quảng Ðông, một cánh quân đã chạy sang Việt Nam và được Cộng Sản Việt Nam tiếp tế, đổi lại họ huấn luyện quân sự cho bộ đội Việt Nam. Cộng Sản Tầu có dịp bắt đầu một chương trình “diễn biến hòa bình” ở trên nước Việt Vì lúc đó những người đã biết và từng tố cáo Hồ Chí Minh chỉ là cán bộ phục vụ cộng sản đệ tam quốc tế đều đã bị thủ tiêu hoặc phải chạy ra nước ngoài sống cả rồi. Ngay năm 1946, 47, lúc mới bắt đầu cuộc kháng chiến, những người bị giết là những Khái Hưng, Nhượng Tống, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ, cùng bao nhiêu chiến sĩ Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt, Phục Quốc khác. Chạy ra ngoài bảo toàn được mạng sống có những Nguyễn Tường Tam, Nghiêm Kế Tổ, Hoàng Ðạo, vân vân. Cuối cùng, chỉ còn các cán bộ cộng sản của ông Hồ chiếm độc quyền ngôn luận, nói gì dân cũng phải tin vì không thấy ai nói ngược lại! Cho nên họ có thể vẽ ra những huyền thoại về Hồ Chí Minh cũng như huyền thoại Lê Văn Tám vậy! Nhưng liệu đảng Cộng Sản bây giờ có thể cứ theo đúng chính sách bịt tai, bịt mắt, của ông Hồ được hay không? Khó lắm. Vì vào những năm 1945, 50 đầu thời kháng chiến thì phương tiện truyền thông ở nước ta không có bao nhiêu. Nắm được cái loa cầm tay ở đầu làng là làm chủ “thông tin, văn hóa, tư tưởng” được rồi. Còn bây giờ trên trái đất đã có Internet, ở Việt Có lẽ ông Trần Huy Liệu cũng biết trước như vậy, cho nên ông đã ủy thác cho sử gia Phan Huy Lê làm công việc cải chính huyền thoại Lê Văn Tám. Bởi vì ngay trong thời gian Trần Huy Liệu dựng ra chuyện đó, đã có người nghi ngờ là một thiếu niên sau khi tẩm xăng tự đốt thì không thể chạy xa để tới gần kho xăng được. Lý luận này đăng trên tờ báo Thời Mới ở Hà Nội, một tờ báo ngoài tầm kiểm soát của cộng sản. Ngoài ra, một vụ đốt cháy kho xăng lớn thế nào cũng có nhiều người tham dự, chủ mưu; sẽ có ngày họ xuất hiện nói lên sự thật; khi đó thần tượng Lê Văn Tám cũng sẽ bị lật mặt giả dối. Ðối với Trần Huy Liệu, tốt nhất là tự mình tìm cách cải chính chuyện gian dối đó, để khi chuyện lộ ra thì mình đỡ mang tiếng. Nhưng là người đi theo cộng sản đã lâu năm, ông Trần Huy Liệu biết tự bảo vệ tính mạng mình. Xóa bỏ một huyền thoại do đảng dựng lên là điều nguy hiểm. Vì không những nó làm cả hệ thống thần linh của đảng bị mất một huyền thoại mà còn làm cho người ta nghi ngờ cả hệ thống đó còn nhiều điều gian trá khác. Người ta sẽ hỏi, “Sau Lê Văn Tám là ai?” “Lê Văn Tám đã vậy, còn Võ Thị Sáu, còn Minh Khai, còn Hồ Chí Minh thì sao? Cái gì thật, cái gì giả?” Một sự không tin, vạn sự không tin, người dân sẽ nghi ngờ cả đảng cộng sản! Cho nên ông Trần Huy Liệu không dám tự mình viết, dù chỉ viết một câu thôi, thí dụ: “Tôi, Trần Huy Liệu, xác nhận câu chuyện Lê Văn Tám tẩm xăng tụ đốt là hoàn toàn do tôi bịa đặt vì nhu cầu tuyên truyền để kháng chiến chống Pháp.” Viết một câu như thế mà ai bắt được thì chắc chắc sẽ bị thủ tiêu, bị đắm đò hay xe đụng lúc nào không biết! Cho nên ông Trần Huy Liệu muốn cải chính nhưng cũng chỉ dám dặn dò bằng lời nói, không dám viết một chữ. Lúc đó là vào thập niên 1960, ông Phan Huy Lê cũng không dám xin ông Liệu viết mấy chữ làm bằng cớ. Vì có đứa nào nó tố cáo, bị bắt với bằng cớ đó thì cả hai thầy trò sẽ khó sống. Nhưng tại sao đến bây giờ ông Phan Huy Lê mới chính thức công bố câu chuyện Lê Văn Tám? Thực ra thì giới sử học ở Việt Nam đã “thăm dò” vấn đề này qua những bài viết tên tạp chí Xưa và Nay trong năm 2003, và báo Thế Giới từ năm 2004 rồi. Năm 2005, ông Phan Huy Lê đã nói đầy đủ hơn, một cách bán chính thức, trong một cuộc họp về phim truyền hình, nhưng chưa chính thức viết ra. Ðến năm nay thì ông đã viết thẳng thành bài, vì không khí trong cả nước Việt Bây giờ người dân Việt Một dấu hiệu cho thấy dân Việt Ngày 14 Tháng Mười vừa qua, Nguyễn Tấn Dũng lại dọa rằng sẽ “xử lý những phát biểu thiếu tinh thần xây dựng của một số cá nhân thuộc Viện Nghiên Cứu Phát Triển.” Thái độ này cho thấy cả guồng máy thống trị của đảng Cộng Sản vẫn theo chính sách cũ từ thời Hồ Chí Minh: Bịt miệng thiên hạ. Không bịt miệng được thì dọa sẽ “xử lý!” Dọa rồi mà vẫn không công hiệu thì dọa nữa! Có thể nói trong việc đối phó với phong trào đứng lên đòi quyền được tự do phát biểu của giới trí thức Việt Trong khi đó, giới trí thức Việt Người Việt |
| |
Translate
Tuesday, October 20, 2009
Không bịt mắt bịt tai mãi được
Monday, October 19, 2009
Giáo dục Việt Nam theo nhận định của các Đại học Mỹ
Thanh Quang, phóng viên RFA
2009-10-19
Gần đây, các chuyên gia của Đại Học Harvard đưa ra một số nhận định về thực chất của giáo dục Đại học tại Việt Nam hiện nay cũng như một số khuyến nghị cho Bộ Giáo dục Việt Nam.
AFP PHOTO
Học sinh, sinh viên Việt Nam tìm hiểu về hệ thống giáo dục Hoa Kỳ.
Tính xác thực
Trong Tờ trình gửi Uỷ ban Đặc nhiệm Hỗn hợp về Giáo dục Đại học Việt Nam, hai chuyên gia của Trường Chính Quyền Học Kennedy tại Đại Học Harvard là Thomas Vallely (Giám Đốc Chương Trình Việt Nam) và Ben Wilkinson cho rằng đang có sự khủng hoảng suy sụp trong nền giáo dục đại học Việt Nam.Để tìm hiểu thêm và vấn đề này, Thanh Quang hỏi chuyện Giáo sư Tạ Văn Tài từng giảng dạy tại Đại học Harvard. Trước tiên Giáo sư Tải nhận định:
GS Tạ Văn Tài: Tôi đồng ý với đa số ý kiến và bất đồng về một số ý kiến khác trong tờ trình. Tôi đã quen biết ông Vallely từ lâu, từ hồi ông còn là phó cho một bà Giám đốc tiền nhiệm của chương trình Việt Nam và nhờ tôi gặp dại sứ Việt Nam Bùi Xuân Nhật tại Liên Hiêp Quốc ởồi chưa có bỏ cấm vận nên chưa có toà Đại sứ ở Hoa Thịnh Đốn) để nhắc nhởệt Nam chưa cử hai ứng viên du học đến Harvard, nơi đã cấp hai học bổng, cho nên trong quá trình ông Vallely làm việc dài dài, nhiều năm cho chương trình Việt Nam để cử sinh viên du học qua Harvard, chương trình Fulbright v.v… New York (h sao Vi
Tôi đã thấy ông rất thương mến sinh viên Việt Nam và lo cho tiền đồ tương lai của dân tộc Việt Nam, mặt khác ông có cá tính là cựu thuỷ quân lục chiến Mỹ, cho nên ông là người thẳng tính, sẵn sàng nói mạnh mẽ ý kiến của ông chẳng e dè ai.
Vậy thì những ý kiến của ông phê bình đại học Việt Nam suy sụp trầm trọng, tôi có thể hiểu được đó là sự thành tâm lo lắng khẩn thiết của ông cho tương lai Việt Nam, muốn như một bác sĩ giỏi và tận tâm, cho thuốc đắng giã tật, chữa cho các căn bệnh trầm trọng của nền đại học Việt Nam. Có mấy ý kiến liệt kê như sau về đại học Việt Nam, mà tôi đồng ý một phần:
a) Thành tích xuất bản các công trình nghiên cứu rất nghèo nàn, thí dụ vào năm 2007, Đại học Quốc gia Việt Nam chỉ có 52 công trình xuất bản, Viện Khoa Học Công Nghệ có 44 công trình, thua xa các đại học Quốc Gia Seoul của Đại hàn (5060 công trình), Singapore (3598 công trình), Đại Học Bắc Kinh (3219), Đại Học Fudan (2343 công trình), Đại Học Mahidol và Chulalongkorn của Thái Lan (950 và 822) v.v…
Thành tích về bằng sáng chế của Việt Nam là số không, so với Đại Hàn có 102.633 bằng sáng chế, Trung Quốc có 26.292 bằng sáng chế, Singapore 955, Thái Lan 158, Mã Lai 147, Phi Luật Tân 76...
Tờ Trình báo động là nếu không cấp thời cải cổ thể chế cho giáo dục đại học, Việt Nam sẽ thất bại hoàn toàn trong mục tiêu phát triển tiềm năng to lớn của mình.
GS Tạ Văn Tài
b) Không huấn luyện sinh viên đúng nhu cầu kinh tế, do đó 50% sinh viên tốt nghiệp đại học không tìm được việc làm đúng nghề chuyên môn, sự chuẩn bị sinh viên đi vào nghề nghiệp chuyên môn đã bị tồi tệ vì 25% giáo trình bắt buộc tập trung vào gíáo điều chính trị (political indoctrination).
Tìm trong sinh viên không đủ nhân công chuyên môn hay các nhà quản trị giỏi cho nền kinh tếệt Nam. Tờ Trình báo động là nếu không cấp thời cải cổ thể chế cho giáo dục đại học, Việt Nam sẽ thất bại hoàn toàn trong mục tiêu phát triển tiềm năng to lớn của mình. Vi
c) Việt Nam có ước vọng xây dựng đại học có phẩm chất quốc tế nhưng hiện nay không có một đại học Việt Nam nào được xếp vào hàng đại học có phẩm chất của Á Châu. Tờ trình này nói rằng trái với sinh viên Trung Quốc và Ấn Độ, sinh viên Việt Nam không cạnh tranh nổi đểược thâu nhận vào những chương trình cao học thượng thặng tại Hoa Kỳ và Âu châu. đ
Tôi thấy có lẽ ông Vallely, trong khi điều khiẻn chương trình Việt Nam ở Harvard và nhất là lại được Bộ Ngọai Giao Mỹ cho thầu lại việc tuyển lựa sinh viên cho chương trình Fulbright., đã có dịp thấy trong những sinh viên xin vào chương trình cao học ở Mỹ, người giỏi thì thường là đã đi du học sang Liên Sô hay Đông Âu trưóc đây rồi bây giờ sang Mỹ lấy thêm bằng Mỹ, còn người xuất thân từ đại học Việt Nam thường kém (có lần ông nhờ tôi làm người dịch hay hỗ trợớp cho một sinh viên từ Việt Nam đã được gửi gắm qua học tại trường Công Quyền Học Kennedy, vì thế nên Harvard miễn cưỡng nhận, nhưng kém quá cần có người dạy kèm—nhưng tôi thấy việc dạy kèm hay dịch giùm này mất nhân vị cho tôi, là nhân viên nghiên cưú ban giảng huấn bên trường Luật Harvărd, nên tôi từ chối.) trong l
Thanh Quang: Như vậy ý kiến của Giáo sư ra sao?
GS Tạ Văn Tài: Tôi nghĩ rằng khi nói về phẩm chất nền đại học ở Việt Nam cũng như ở Mỹ, ta phải phân biệt các đại học đẳng cấp cao và các đại học đẳng cấp thấp, thí dụ ở Mỹ, có nhiều đẳng cấp, từ hạng siêu (như Harvard, Yale...) đến hạng đẳng cấp quốc gia (national universities and colleges), đến lọai đại học thuộc hạng có vị thế ở địa phương (regional universities, colleges) đến các lọai đại học cộng đồng (Community colleges).
Tờ trình của ông Vallely và Wilkinson quên mất sự khác biệt tại Việt Nam giữa một bên, là các đại học mở rộng, chuyên tu, tại chức… với sự thu nhận sinh viên bưà bãi không có trình độ, với sự huấn luyện lỏng lẻo thiếu tiêu chuẩn, thiếu phương tiện (theo một tờ trình hồi năm 1992 của UNESCO, 66% đại học, phần lớn là các đại học có sĩ số dưới 800, chỉ có phòng ốc tồi tệ, với thư viện và máy móc trang bị rất giới hạn.)
Chúng hạ thấp phẩm chất nền đại học Việt Nam xuống một mức trung bình thấp, và một bên, là các đại học quốc gia có thi tuyển sinh viên và học trình và ban giảng huấn quy cũ hơn.
Ngoài nhà nước, các trường đại học cũng phải thấy không thể thâu nhận bừa bãi và cho ra trường các sinh viên trong các ngành nghề ít việc làm, nghĩa là phải cố gắng cho số cung đi sát số cầu trong thị trường nhân lực.
GS Tạ Văn Tài
Tôi có diễn giảng khoá huấn luyện ngắn hạn về luật thương mại và đầu tư quốc tế tại Đại Học Kinh tế thành phố Hồ chí Minh, thì thấy trình độ sinh viên cũng khá, và nhất là rất hiếu học muốn giao lưu với các nguồn kiến thức mới (tôi dùng sách giáo khoa dùng trong Đại Học Luật Harvard, dịch ra tiếng Việt, nhưng sinh viên ưa sách tiếng Anh và tự chụp hình in lại cuốn đó).
Tôi cũng không thấy Tờ Trình “chẩn bệnh đúng nguyên nhân” của cái nạn 50% sinh viên tốt nghiệp không kiếm được việc, vì lý do không hẳn là học nhiều giờ chính trị, đó chỉ là một phần, lý do chính là tuy nhà nước không còn ép sinh viên đi vào các ngành này kia như thời kỳ kinh tế hoạch định cứng rắn, nhưng mà nhà nước, từ khi chuyển sang kinh tế thị trường, chưa đưa ra các con số thống kê về nhu cầu các ngành nghề có triển vọng trong thị trường tương lai, để các cá nhân sinh viên tự quyết định chọn ngành nghề cho sát nhu cầu nền kinh tế.
Ngoài nhà nước, các trường đại học cũng phải thấy không thể thâu nhận bừa bãi và cho ra trường các sinh viên trong các ngành nghề ít việc làm, nghĩa là phải cố gắng cho số cung đi sát số cầu trong thị trường nhân lực.
Nguyên nhân khủng hoảng
Thanh Quang: Gíao sư nhận xét như thế nào về các nguyên nhân tạo ra khủng hoảng đại học ở Việt Nam, mà Tờ Trình đã đề cập tới?
GS Tạ Văn Tài: Đây là vấn đề tôi cũng có một số ý kiến khác với Tờ Trình. Tôi đồng ý với Tờường lối quản trị đại học của nhà nước đã tạo ra phẩm chất suy trầm của nền đại học: tập trung quyền về trung ương mà không cho tự trị và tự quản đại học, do đó tiêu diệt hay giảm đi các sáng kiến và sự tận tâm say mê công việc. Trình là đ
Tuyển chọn và thăng thưởng nhân viên, cung cấp hay phát các nguồn tài trợ ngân sách (cho nghiên cứu chẳng hạn), không theo khả năng và thành qủa công việc nhiều, mà theo thâm niên, lai lịch chính trị hay liên hệ cá nhân, kèm theo sự ác cảm của các cấp quản trị cao trong đại học, thường được huấn luyện từ Liên Sô và Đông Âu, đối với các nhân viên trẻ tuổi giáo dục từ các nước Âu Mỹ.
Giáo trình không được tự do như bên Trung Quốc, tuy rằng đã dần dần cởi mở hơn, khiến cho thiếu năng động trí thức; và cũng vì thiếu năng động trí thức cho nên các học gỉa trẻ không thểưu dễ dàng được với các nguồn kiến thức bên ngoài. giao l
Nhưng có điểm tôi không đồng ý với Tờ Trình là cho rằng nền đại học Việt Nam yếu kém vì nó thừa kế nền đại học thời thực dân Pháp, và đến khi dộc lập thì bị chiến tranh và cai trị dộc tài mà không có chỉ đạo để xây dựng nền đại học có phẩm chất cao.
Pháp đã du nhập nền đại học có phẩm chất cao vào Việt Nam, với quan niệm đồng hóa giai cấp thống trị bản xứ vào nền văn minh Pháp, theo sứ mạng văn minh hóa của Pháp (mission civilisatrice), khiến đại học Đông Dương, nhất là y khoa, dược khoa, luật khoa, và khoa học trởơi huấn luyện các tầng lớp ưu tú (elite) của Việt, Mên và Lào. thành n
Những sinh viên tốt nghiệp Đại học Đông Dương sang Pháp thi Tiến sĩ, thạc sĩ luật (như Vũ Văn Mẫu), tiến sĩ, thạc sĩ kinh tế (như Vũ Quốc Thúc, Nguyễn Cao Hách), Tiến sĩ Toán ( Đặng Đình Áng), đã là những người xây dựng nền đại học Việt Nam sau khi Pháp rút lui năm 1954 tại miền Nam Việt Nam.
Nơi đây đã tiếp tục một nền đại học tốt đẹp, thí dụ riêng về ngành luật, đã tạo ra một học trình với các sách giáo khoa tốt, các người tốt nghiệp có khả năng, mà sau này các người sống trong chế độ Việt Nam Cộng Sản cũng phải công nhận là có phẩm chất cao: thí dụ Luật sư Lê Công Định phải viết bài công nhận giá trị Đại học Luật Khoa Saigon trước 1975; Giáo sư Hoàng Ngọc Giao của Phân Khoa Luật Đạì học Quốc Gia Hà Nôi du học tại Boston, muốn nhờ chúng tôi tìm các sách giáo khoa tốt của các giáo sư quốc tế công pháp của Đại Học Luật Saìgon trước 1975.
Từ 1954 đến 1975, từ các đại học Miền Nam Việt Nam, đã nhiều sinh viên du học sang Pháp, Đúc, Anh,Úc , Nhật và Hoa Kỳ v.v.. và thành công, nhiều khi ngay trong năm đầu, ở các đại học ở các nước ấy, rồi đậu bằng đại học Âu Mỹ dễ dàng, và hàng loạt, trong đủ các ngành, kể cảử lực, nhiều người đậu đến bằng tiến sĩ , chứng tỏ nền dại học Miền Nam Việt Nam có phẩm chất và đào tạo người giỏi. nguyên t
Những sinh viên học trong đại học Pháp thành lập thời thuộc địa mà sau này góp phần xây đựng nền đại học ở Miền Bắc Viêt Nam trước năm 1954, như tiến sĩ luật Đỗ Xuân Sảng, Nguyễn Mạnh Tường , bác sĩ y khoa khoa trưởng trường Y Hoàng Đình Cầu (mà sau 1975, báo chí Mỹ đã biết tới), bác sĩ Tôn Thất Tùng, giáo sư Toán học Hoàng Tụy là bằng chứng sống về nền đại học tốt do Pháp xây dựng tại Việt Nam, còn để lại ảnh hưởng ngay tại Miền Bắc Việt Nam.
Tương lại đại học VN?
Thanh Quang: Giáo sư nhận thấy Tờ Trình vừa nói có ghi nhận lạc quan hay bi quan gì vế triển vọng tương lai của nền đại học Việt Nam không ?
GS Tạ Văn Tài: Tôi thấy Tờ Trình có nếu hy vọng về tương lai đại học Việt Nam nhưng rất dè dặt và tôi cùng thấy Tờ Trình chưa chú trọng nhiều lắm về đãi ngộ và mực sống của các giới chức giảng huấn đại học, điều mà tôi muốn bổ túc cho Tờ Trình.
Tờ Trình có nói đến Nghị quyết 14 muốn cải tổ toàn diện gíao dục đại học vào năm 2020, cho phép tự trị nhiều hơn và sự tuyển chọn dụa trên thành quả, và nhà nước đã đặt ưu tiên về giáo dục đại học trong 3 năm qua. Đó là những điểm hy vọng.
Nhưng Tờ Trình cho rằng tốc độ cải tổ còn rất chậm, và nhất là nhà nước vẫn muốn ôm giữền hành theo não trạng kế hoạch tòan diện từ trung ương, nhất là muốn giũ quyền phân phối các ngân khoản tài trợ của các cơ quan quốc tế, khiến cho khó lập đối tác với các đại học Mỹ vốn tự trị đến mức rất cao. quy
Tôi cũng thấy Tờ Trình nói một cách không lạc quan cho lắm về các yếu tố quốc tế giúp đỡ nền đại học Việt nam. Thí dụ: nói rằng việc cử sinh viên du học , gia tăng rất mau những năm gần đây, nhất là sang Mỹ, cũng không thể là gỉai pháp cho nền đại học Việt Nam, vì du sinh chỉ là một số cực nhỏ, gồm nhũng gia đình có tiền cho con cái du học hay những ai may mắn xin đựơc học bổng.
Tờ trình cũng nói các khỏan tài trợ của các cơ quan quốc tế không được phân phối theo tiêu chuẩn khả năng, còn các đại học quốc tế đi vô Việt Nam huấn luyện thì phần lớn chỉ nhắm trục lợi thu học phí từ sinh viên theo các ngành thực dụng, nhưng học phí cao này chỉ một số trảổi, đại chúng không kham nổi. n
Việt Nam muốn lập một hay vài đại học thuộc loại “đẳng cấp quốc tế” và từ 2005 đã tranh thủự hỗ trợ của Mỹ, với việc Thủ tướng Phan Văn Khải, trong cuộc viếng thăm Harvard năm 2005, yêu cầu Harvard gíúp. s
Năm 2006 , Thủ Tướng Khải ký quyết định về đại học đẳng cấp quốc tế và năm 2007, Chủịch Nưóc Nguyễn Minh Triết thăm Hoa Kỳ và tiếp tục thúc đẩy Hoa Kỳ giúp. Năm 2008, Thủướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Hoa Kỳ và ký bản ghi nhớ về việc lập vài trường đại học Hoa Kỳ tại Việt Nam. T T
Tháng 6/2009, Việt Nam tuyên bố vay Ngân Hàng Thế Giới và Ngân Hàng Phát Triển Á Châu 400 triệu Mỹ Kim để xây 4 trường đại học đẳng cấp quốc tế (Việt -Đức, Khoa Học Công Nghệội, Đà Nẵng, Cần Thơ). Hà N
Tờ Trình của Harvard nói về tham vọng lập đại học đẳng cấp quốc tế của Việt Nam như sau:
Tuy biết Việt Nam rất mong thu hút sự tham gia hợp tác của các đại học hàng đầu tại Hoa Kỳ, các đại học danh tiếng tại Hoa Kỳ sẽ không vào Việt Nam theo kiểu các nhà đầu tư, tức là sẽạ thấp tiêu chuẩn của mình để thu lợi tài chánh, nếu chính quyền Việt Nam “không quyết tâm theo đuổi các tiêu chuẩn một đại học tốt”, tức là “tự do trong giáo trình” (được tự do đưa vô gíao trình và việc nghiên cứu các đề tài mà không phải tham khảo trước với bộ giáo dục—về điểm này. không h
Nếu Quyết định 97 mới ban hành gần đây, mà Tờ Trình Harvard không nói tới—nó đưa ra một danh sách hạn chế các dề tài có thể bàn luận khoa học và do đó có thể cớ hại cho việc nghiên cứu khoa học và việc thành lập được các đại học đẳng cấp cao) và “tự quản, tự trị”, theo đó chính quyền chỉ dóng vai hạn chế, và đại học sẽ tìm các nguồn tài trợ giảng huấn và nghiên cứu ngoài ngân sách nhà nước.
Tờ Trình kết luận là Uỷ Ban Hỗ Hợp Đặc Nhiệm về Giáo Dục Đại Học sẽ có một vai trò đặc biệt trong việc vẽ một lược đồ toàn diện cho việc cải tổ giáo dục đại học và xúc tiến việc cải cách.
Thanh Quang: Thưa GS, dường như Tờ Trình này quên đề cập tới việc đãi ngộ qua lương bổng và ngân khỏan nghiên cứu cho các giáo sư đại học ở VN?
GS Tạ Văn Tài: Chúng tôi bổ túc cho Tờ Trình Harvard: đó là sự đãi ngộ bằng lương bổng và các ngân khỏan nghiên cứu sao cho cuộc sống vật chất đàng hoàng hơn để các giáo sư có thể tận tụy vào việc nghiên cứu. Hiện nay, tình trạng lợi tức đại khái như sau:
(1) Theo các tờ trình tin tức, 30% sinh viên Việt Nam du học (có thể nói là thành phần trí tuệọn lọc) không muốn về nước, và muốn ở lại ngoại quốc kiếm tiền nhiều hơn lương bổng thấp kém trong đại học Việt Nam; việc xây dựng đại học Việt Nam bị thiệt mất lực lượng nhân sự đó (trong khi đó thì, như một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra, số lượng trí thức Việt Kiều tuổi trẻ và trung niên về nước khá quan trọng, đem theo không nhũng trí tuệ, mà còn cả vốn đầu tư, các sự quen biết và liên hệ ở hải ngoại, và kinh nghiệm về thị trường quốc tế--còn trí thức hải ngoại ở tuổi hưu thì có thể nâng cao trình dộ cho giới chuyên môn trong nước—Xin xem Đề Án của Bộ Ngoại Giao Việt Nam về việc“thu hút trí thức ,chuyên gia người Việt ở nước ngoài trong việc xây dựng đất nưóc”); ch
(2) Lương bổng giáo chức đại học Việt Nam được coi là thấp nhất thế giới, theo chính thông tin của nhà nưóc trong trang nhà về giáo dục : trong khi lương giáo sư đại học trung bình tại các nước Á Châu là 1,000 Mỹ kim, thì ở Việt nam, giáo chức đại học, ngoài cảm tưởng các ý tưởng cải tổ giúp nước bị coi thường, họ chỉ có lương căn bản trung bình là 150 Mỹ Kim, dạy thâm niên 15 năm thì 170 Mỹ Kim, thâm niên 30 năm, đến tuổi sắp về hưu ,thì 279 Mỹ Kim; mỗi giờ dạy sẽ tính thêm tiền giờ phụ trội, do đó lương ngừoi mới vô nghề có thể là 200 Mỹ Kim; còn nều có thêm tiền do dự án nghiên cứu thì có thể có lợi tức tới 500 Mỹ Kim một tháng (tin tức này do sự trao đổi trong website của các giáo sư Mỹ và Việt có kinh nghiệm tại Việt Nam) ;
(3) Nhưng kiếm được dự án nghiên cứu trong ngân sách nhà nước Việt Nam thì là cả một sựạnh tranh trong bầu không khí phân biệt đối xử dựa trên vây cánh và chính trị; còn các nguồn tài trợ nghiên cứu cuả các cơ quan quốc tế như các quỹ tặng lập (Foundations) thì ít giáo sưệt Nam biết tới; vả lại nhà nước, theo chính sách, có lẽ học của Nga , là không dễ dãi cho các tổ chức phi chính phủ (non-governmental organizations—đang bàn rất kỹ về luật chi phối các tổ chức này), có lẽ ngại sự trưởng thành của các tổ chức trong khu vực tư (Ford Foundation đã đóng cửa ở Việt Nam, sau nhiều năm làm nhiều việc ích lợi); c Vi
(4) Rút cục thì trí thức đại học Việt Nam hoặc là phải dạy thêm rất nhiều giờ, có khi đã dạy 20 giờ một tuần mà còn phải dạy thêm giờ nưã (vả lại đại học cũng có khi bắt họ dạy thêm giờ đểợp đồng kiếm thêm tiền của chính đại học), bỏ bê việc nghiên cứu, không còn khả năng xây dựng đại học đẳng cấp cao với các công trình nghiên cứu khám phá kiến thức mới; hoặc là bỏ nghề giáo chức đại học để ra ngoài làm việc cho các công ty ngoại quốc, kiếm gấp đôi lương bổng (thí dụ, làm cho hãng ngoại quốc có thể kiếm mỗi tháng 1,000 Mỹ Kim với bằng cử nhân đậu tại hải ngoại, hay 2,000 Mỹ Kim với bằng chuyên môn cao cấp (tiến sĩ..). thi hành các h
Nhà nước sẽ thua cuộc, mất nhân tài, trong cuộc cạnh tranh thị trường nhân công trí thức cấp đại học, nếu không có sự đãi ngộ xứng đáng đối với họ.
GS Tạ Văn Tài
Thanh Quang: Như vậy kết luận của GS là gì?
GS Tạ Văn Tài: Nhà nước phải thấy rằng nhà nước sẽ thua cuộc, mất nhân tài, trong cuộc cạnh tranh thị trường nhân công trí thức cấp đại học, nếu không có sự đãi ngộ xứng đáng đối với họ.
Rất không nên triệt tiêu các quyền lợi của các giáo sư học gỉa, dù đến tuổi hưu, nhưng còn khảụ các phương tiện giao dịch của họ với các đồng nghiệp và cơ quan, như chỗ làm việc, điện thoại (đừng có cắt điện thoại của họ ngay khi hồi hưu như đã cắt điện thoại của Giáo sư Viện Trưởng Đaị học An Giang Võ Tòng Xuân, người đã có công lao xây dựng Đại học Cần Thơ và An Giang, và có khả năng vận dụng các nguồn tài trợ quốc tế cho đại học Việt Nam). năng đóng góp, thí d
Việc đãi ngộ xứng đáng trí thức trong nước cũng cần đẻ tránh tình trạng mà Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã tả trong “Đề Án Thu Hút Trí Thức Chuyên Gia Ngườì Việt ở nứơc ngoài”: “Trí thức trong nước chưa được trọng dụng, được trả lương xứng đáng, nên việc ưu đãi Việt kiều gây so bì, bất hợp tác. Ngoài ra còn có tâm lý lo ngại trí thức Việt kiều về sẽ làm bộc lộ sự yếu năng lực chuyên môn hoặc chiếm mất vị trí của người trong nước. Đây cũng là một trở ngại khi đưa ra bất cứ kiến nghị nào ưu đãi trí thức Việt kiều”.
Thanh Quang: Xin cảm ơn Giáo sư Tạ Văn Tài.
Sunday, October 18, 2009
Lê Duẩn, một Tần Thủy Hoàng hoang dâm vô độ
Chưa rõ tác giả
1. Lê Duẩn, một Tần Thủy Hoàng hoang dâm vô độ
Ở miền Nam những năm 47, 48 đã lan truyền câu chuyện "Trung ương cục cướp vợ của học sinh". Đó là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, một ông Bí thư, một ông Phó bí thư, có vợ con đàng hoàng ở miền Bắc rồi, vào trong đó thấy mấy cô học sinh kháu khỉnh ở trong thành ra học ở một trường vùng kháng chiến, liền sinh lòng ham muốn. Mặc dù hai cô này đã sắp là vợ của hai cán bộ, nhưng hai vị vẫn cố tình dùng áp lực trên cướp cho bằng được. Những chuyện đó vẫn không xấu xa bằng chuyện Lê Duẩn sau toàn thắng 75, hiện nguyên hình là một Tần Thủy Hoàng hoang dâm vô độ, trắng trợn đến mức chẳng còn nghĩ gì đến đạo đức, chưa nói đến là người đứng đầu của một Đảng. Tự cho mình là người "khai quốc công thần", Lê Duẩn đã tạo cho mình một cuộc sống như vua chúa đời xưa, với hàng chục "cung tần mỹ nữ" thường xuyên vây quanh, giả danh là mát xa, đấm bóp. Nghe kể rằng một lần trong lúc đê mê sung sướng, Lê Duẩn đã ra lệnh cấp cho Hồng một lúc hai căn hộ liền, một ở Kim Liên, một ở Bách Khoa, mặc dù cô này chưa chồng con gì, trong lúc hàng vạn cán bộ khác chưa được phân một mét vuông nhà ở nào. Nhưng điển hình nhất là vụ quan hệ với nữ Bác sĩ Hồ Thị Nghĩa, con gái Hồ Viết Thắng. Thực ra Hồ Thị Nghĩa chỉ là của thừa của Lê Quang Hòa, nguyên Chính ủy Quân khu 4, nhưng Lê Duẩn có xá gì là của thừa hay không phải là của thừa, miễn là có cái gì mà giải trí sau khi đã được Lê Đức Thọ "duyệt". Xin nói thêm đây là một âm mưu thâm độc của Lê Đức Thọ.
Chính mục đích của Lê Đức Thọ là giăng bẫy đưa các cụ vào tròng để dễ dàng bịt mồm, bịt miệng các cụ lại, tha hồ mà mình lộng hành. Đến nỗi Lê Duẩn phải than vãn "Nhân sự Trung ương khóa 4, khóa 5 tôi chỉ biết 1/3 còn 2/3 ở đâu ra tôi chẳng biết gì". Có nghĩa là tất cả quyền hành trong Đảng về tay Lê Đức Thọ cả. Để đổi lại Lê Đức Thọ tạo cho các cụ đê mê trong chốn hành lạc, chẳng còn biết trời đất gì nữa. Mà có biết cũng chẳng dám nói, vì đã bị Lê Đức Thọ "yểm bằng gái" hết cả rồi.
Khi Hồ Thị Nghĩa có thai với Lê Duẩn, Ban Bí thư gặp riêng với Nghĩa khuyên nạo thai. Hồ Thị Nghĩa kiên quyết không nghe, nói: "Đây là con của Tổng Bí thư, rõ ràng thế, làm sao tôi phải nạo?" Do đó, trong đám tang Lê Duẩn, người ta thấy một thiếu phụ trẻ và đứa con trai chít khăn. Đó chính là Hồ Thị Nghĩa và đứa con trai, kết quả mối quan hệ bất chính của Tổng Bí thư Lê Duẩn với cô bác sĩ chăm sóc sức khỏe cho mình.
Đó là chuyện đời xưa, còn hiện nay, ba trong số năm đồng chí Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị cũng có biết bao nhiêu chuyện xấu xa. Lê Đức Anh thì bỏ vợ cũ, một nữ cán bộ cách mạng trung kiên lấy vợ mới. Chuyện này trước đây coi như một tội tày đình phải kiểm điểm, phải khai trừ khỏi Đảng. Còn vị đương kim Thường trực Bộ Chính trị hiện nay thì còn xấu xa hơn nhiều. Năm 1974, Thượng tá chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn 2 Lê Khả Phiêu quan hệ bất chính với một nữ nhân viên dưới quyền, việc vỡ lở ra, may mà Cục trưởng Cục Cán bộ lúc bấy giờ là Nguyễn Trọng Hợp, cùng quê Thanh Hóa, ém nhẹm đi cho Phiêu, và điều động Phiêu vào Quân khu 9 để phi tang. Có ai ngờ sự chuyển dịch ấy dẫn đến cuộc gặp gỡ giữa hai thầy trò họ Lê, Lê Đức Anh và Lê Khả Phiêu, tạo nên một "cặp bài trùng" cực kỳ nguy hiểm, thao túng toàn bộ nền chính trị nước nhà trong suốt bao đại hội: Đại hội 7, 8 vừa qua và Đại hội 9 sắp tới. Khi Lê Đức Anh sang làm Tổng Tư lệnh Cămpuchia, kéo Lê Khả Phiêu sang giúp về công tác chính trị, và thế là bắt đầu một "liên minh ma quỷ".
Saturday, October 17, 2009
Hoa Kỳ bày tỏ quan ngại về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam
2009-10-16
Hôm thứ Tư 14/10, Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội đã ra một thông cáo báo chí bày tỏ mối quan ngại sâu sắc về vấn đề nhân quyền của Việt Nam đối với các bản án dành cho 9 nhà đấu tranh dân chủ Việt Nam vào hồi tuần rồi, cùng với các vụ việc xảy ra gần đây với các tăng sinh chùa Bát Nhã.
Photo: RFA
Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak trong một dịp trả lời phỏng vấn RFA” (hình minh hoạ)
Đây là một hành động mà Bộ Ngọai giao Việt Nam cho là “can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam”. Riêng đối với những người Mỹ gốc Việt, họ nghĩ gì về vấn đề này?
Khánh An tìm hiểu thêm qua bài tường trình sau.
Toà đại sứ Mỹ lên tiếng
Bản Thông cáo Báo chí của Đại Sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam đã đề cập đến các bản án của những nhà đấu tranh dân chủ vừa bị kết án tuần vừa rồi, cùng với vụ bắt giam nhà văn Trần Khải Thanh Thủy cũng như việc giải tán tu viện Bát Nhã của chính phủ Việt Nam.
Phía Đại Sứ quán Hoa Kỳ cho rằng các nhà dân chủ chỉ đơn giản bày tỏ quan điểm của mình một cách ôn hòa và điều này hoàn toàn không gây nguy hại đến an ninh quốc gia. Ngòai ra, với việc giải tán tu viện Bát Nhã, Lâm Đồng, Việt Nam đã đi ngược lại với các cam kết quốc tế về quyền con người.
Phía Đại Sứ quán Hoa Kỳ cho rằng các nhà dân chủ chỉ đơn giản bày tỏ quan điểm của mình một cách ôn hòa và điều này hoàn toàn không gây nguy hại đến an ninh quốc gia. Ngòai ra, với việc giải tán tu viện Bát Nhã, Lâm Đồng, Việt Nam đã đi ngược lại với các cam kết quốc tế về quyền con người.
Việc ra Thông cáo báo chí của Đại Sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam đã gây rất nhiều chú ý đối với cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ.
Nói về vụ việc xảy ra ở tu viện Bát Nhã, bà Đỗ Quyên, một phật tử sống ở miền nam California, cho rằng:
Không phải là Chính phủ Hoa Kỳ không, mà hiện nay là cả thế giới họ đang nghe tiếng nói của rất nhiều phật tử quốc tế.
Cho nên tôi hy vọng là tiếng nói của những người phật tử đó sẽ tới tai chính quyền của các quốc gia tân tiến bên đây. Nếu đồng lọat họ có tiếng nói với Chính phủ Việt Nam thì lúc đó nó sẽ có ảnh hưởng rất tốt.
Chính phủ Mỹ là một trong những chính phủ rất mạnh nên tất nhiên tiếng nói của họ cũng có trọng lượng lắm. Hơn nữa, số thiền sinh học theo pháp môn Làng Mai tại Mỹ rất đông và cũng có rất nhiều người có ảnh hưởng trong xã hội.
Tôi cũng hy vọng tiếng nói của Chính phủ Hoa Kỳ sẽ giúp cho các tăng ni Bát Nhã được thỏa nguyện. Mà nguyện vọng của họ rất giản dị, chỉ là được tu tập với nhau một cách hợp pháp.
Bà Đỗ Quyên, CA
Cho nên, tôi cũng hy vọng tiếng nói của Chính phủ Hoa Kỳ sẽ giúp cho các tăng ni Bát Nhã được thỏa nguyện. Mà nguyện vọng của họ rất giản dị, chỉ là được tu tập với nhau một cách hợp pháp.
Bản Thông cáo trên của Đại sứ quán Hoa Kỳ cũng yêu cầu Chính phủ Việt Nam tôn trọng các Công ước Quốc tế về quyền con người và lập tức trả tự do cho những người bất đồng chính kiến đã đấu tranh ôn hòa để bày tỏ quan điểm.
Tuy nhiên, theo ý kiến của một số người Mỹ gốc Việt, việc ra Thông cáo tuy có gióng lên một “tiếng nói có trọng lượng” nhưng như thế vẫn chưa đủ.
Giáo sư Đòan Viết Họat, hiện cư ngụ tại tiểu bang Virginia, để đạt được hiệu quả mong muốn trong vấn đề dân chủ, nhân quyền của Việt Nam, thì cần phải gắn vấn đề nhân quyền vào trong mọi quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Ông nói:
Tôi nghĩ rằng tuyên bố thế vẫn chưa đủ vì thực sự Việt Nam đã làm như vậy và cũng sẽ tiếp tục làm như vậy nếu mà không có những hành động cụ thể hơn ngòai những tuyên bố.
Tất nhiên, tuyên bố thì mình rất ủng hộ. Nhưng thực sự tôi nghĩ Hoa Kỳ đứng trên một vị thế có thể làm hơn thế chứ không phải chỉ có tuyên bố.
Bản Thông cáo trên của Đại sứ quán Hoa Kỳ cũng yêu cầu Chính phủ Việt Nam tôn trọng các Công ước Quốc tế về quyền con người và lập tức trả tự do cho những người bất đồng chính kiến đã đấu tranh ôn hòa để bày tỏ quan điểm.
Nhân quyền trong bang giao Mỹ-Việt
Điều mà chúng tôi vẫn luôn luôn đòi hỏi và yêu cầu đó là phải gắn liền tình hình cải thiện nhân quyền vào trong mọi quan hệ với Việt Nam, kể cả những quan hệ giúp đỡ về tài chính chẳng hạn. Hiện nay thì vấn đề cải thiện nhân quyền vẫn chưa được đặt như là một điều kiện trong quan hệ với Việt Nam. Thành ra, tôi nghĩ rằng cái đó vẫn chưa đủ.
Trong khi đó, Giáo sư Nguyễn Thanh Trang, Trưởng ban Phối hợp Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, cho rằng trước đây Hoa Kỳ đồng ý đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt (CPC) về vấn đề tôn giáo là do sách lược ngọai giao cộng với những biểu hiện bề ngòai cho thấy sự cải thiện của Việt Nam.
Trên thực tế, Việt Nam chưa hoàn toàn có tự do tôn giáo. Tuy nhiên, theo ông, việc ra Thông cáo báo chí cũng là một hành động tích cực của Bộ ngọai giao Hoa Kỳ. Giáo sư cho biết:
Việc mình có mừng với cái Thông cáo báo chí của Bộ Ngọai giao không thì mình mừng vì đây là lần đầu tiên mà Bộ ngọai giao Hoa Kỳ qua Sứ quán tại Việt Nam đã lên tiếng khẳng định nhà cầm quyền Việt Nam vi phạm nhân quyền một cách trầm trọng.
Chúng tôi ước mong rằng Bộ ngọai giao bước thêm một bước nữa là thừa nhận, xác nhận là qua vụ Bát Nhã, qua vụ đàn áp Công Giáo tại Huế, Đồng Hới, Hà Nội thì cần phải đưa Việt Nam trở lại CPC.
Điều mà chúng tôi vẫn luôn luôn đòi hỏi và yêu cầu đó là phải gắn liền tình hình cải thiện nhân quyền vào trong mọi quan hệ với Việt Nam, kể cả những quan hệ giúp đỡ về tài chính chẳng hạn. Hiện nay thì vấn đề cải thiện nhân quyền vẫn chưa được đặt như là một điều kiện trong quan hệ với Việt Nam. Thành ra, tôi nghĩ rằng cái đó vẫn chưa đủ.
Giáo sư Đòan Viết Họat
Giáo sư Trang cũng cho biết thêm, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam đã gửi một bức thư cho Tổng thống Barack Obama vào tháng 8 để vận động Thượng viện Hoa Kỳ thông qua Dự luật Nhân quyền, đồng thời đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC.
Trong khi đó, về phía Việt Nam, Bộ Ngọai giao Việt Nam cho rằng hành động của Đại sứ quán Hoa Kỳ là can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Liệu dư luận có đồng tình với phát biểu trên của người phát ngôn Bộ Ngọai giao Việt Nam? Trong bài tường trình tiếp theo, Khánh An sẽ gửi đến quý vị những ý kiến xung quanh về vấn đề này.
Friday, October 16, 2009
Ăn bẩn, ăn tạp ngay cả đài tưởng niệm Điện Biên Phủ
Hối lộ ngay cả khi xây đài tưởng niệm chiến tranh
HÀ NỘI - Công tố viên của Viện KSND tiến hành kết tội hối lộ tám người trong việc xây dựng đài tưởng niệm chiến thắng thực dân Pháp của Việt Nam năm 1954, theo tường trình hôm qua ngày thứ Tư 14 tháng Chín.
Đài tưởng niệm được khánh thành năm 2004 để đánh dấu lần thứ 50 ngày Pháp bị đánh bại ở Điện Biên Phủ, một biến cố quan trọng trong việc trổi dậy của Việt Nam như một nước độc lập.
Nhưng tượng đài đã bị hư và biến dạng nhanh chóng, đã đưa đến một cuộc điều tra và người ta phát hiện tượng đài đã được đúc bằng đồng phế liệu, hỗn tạp thay vì đồng nguyên chất như đã được đồng ý trong hợp đồng, báo Sài Gòn Giải Phóng cho hay trên mạng điện tử của báo.
Khi được liên lạc với phóng viên của hãng thông tấn AFP, viên chức của phòng công tố từ chối cho ý kiến.
![]() |
| Ngay cả đài tưởng niệm Điện Biên Phủ cũng bị rút ruột. Ôi hương linh những người đã hy sinh cho tổ quốc ở chiến trường Điện Biên năm xưa! Nguồn: AFP |
Cuộc điều tra được tiến hành hơn hai năm trước đây, và công an thoạt đầu đánh gía số tiền biển thủ hơn 13.500 đô-la. Nhưng theo bài tường thuật của báo SSGP, thì Công ty Mỹ thuật Trung ương được UBND tỉnh Lai Châu chỉ định thầu, giao thực hiện trọn gói gói thầu số 3 (phần tượng đài) với giá trị 40 tỷ đồng (2 triệu 3 đô-la). Tuy nhiên, Công ty Mỹ thuật Trung ương này lại giao cho Công ty TNHH Đoàn Kết (Ý Yên, Nam Định), do ông Nguyễn Trọng Hạnh làm Phó Giám đốc thực hiện đúc tượng đồng với giá trị hợp đồng là 18,5 tỷ đồng (1 triệu đô-la)... Sự khác biệt và thất thoát lên tới 1 triệu 3 đô-la, hơn một nữa gía trị tổng công trình!
Trong những người bị kết án, là Lương Phượng Các (nguyên Phó Giám đốc Sở VH-TT tỉnh Điện Biên, kiêm Giám đốc Ban quản lý dự án di tích Điện Biên Phủ - BQLDA), Võ Thị Hồng (nguyên Giám đốc Công ty Mỹ thuật Trung ương), Nguyễn Trọng Hạnh (Phó Giám đốc Công ty TNHH Đoàn Kết), PGS-TS Lê Huyên (nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội), PGS-TS Nguyễn Đức Sứng (nguyên Chủ nhiệm khoa Tạo dáng, Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội).
Theo hệ thống pháp luật Việt Nam, một phiên tòa sẽ quyết định có nên tiến hành với những cáo trạng này hay không.
Việt Nam hiện là một trong những nước tham nhũng tồi tệ nhất thế giới.
© DCVOnline
Wednesday, October 14, 2009
Hoa-Việt trong Thế Cân Bằng Quyền Lực Châu Á Thái Bình Dương
Huỳnh Công Luận
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vừa kỹ niệm 60 năm Quốc Khánh ngày 1 tháng 10 năm 2009, tại Quảng trường Thiên An Môn với những thành tựu mà quốc gia này đã đạt được.
(AFP Photo)
Ròng rã 60 năm đó, đảng CS Trung Hoa luôn quyện chặt Việt Nam vào các bước thăng trầm của anh hàng xóm khổng lồ trong ý đồ bành trướng, không chỉ Việt Nam mà hầu hết các nước có cùng biên giới với họ. Chúng ta sẽ ôn lại quá trình “bình thiên hạ” của Hán Tộc gần đây để hiểu rõ chủ nghĩa chủng tộc núp phía sau thuyết “Tu-Tề-Trị-Bình” của Khổng Tử. Chúng ta cũng sẽ ôn lại cách đối phó của Tổ Tiên chúng ta để khỏi bị đồng hóa. Và sau cùng, tìm ra thế “Cân Bằng Quyền Lực” để sinh tồn.
Quá Trình “Bình Thiên Hạ” của Hán Tộc.
Trung Hoa tuy có nền văn minh rất sớm nhưng họ đã đoán sai: “trái đất hình vuông” mặc dù họ đã định được bốn phương tám hướng và lập ra Bát Quái Đồ làm căn bản cho khoa Thiên Văn, Địa Lý. Họ đã tự đặt nước họ vào vị trí trung tâm của quả cầu hình vuông ấy. Chỉ cái tên Trung Hoa (Chúng Quả) thôi, người Hán đã biểu lộ tánh cực kỳ kiêu ngạo như nhà nghiên cứu Trung Quốc Dương Danh Dy đã đề cập trong bài tham luận “Trung Quốc ‘bao giờ cũng đúng’?” của ông: “Các hoàng đế Trung Hoa luôn coi mình là trung tâm của thế giới. Trung Quốc là ‘nước ở giữa’, ở đó có ‘con trời’ (Thiên tử) cai trị muôn dân. Các nước xung quanh theo thứ tự được phân chia thành đông Di, tây Địch, bắc Nhung, nam Man.
Mấy tỉnh miền nam Trung Quốc ngày nay và Việt Nam được “vinh dự” thuộc hàng ngũ “nam Man” – là phiên thuộc, là chư hầu của Thiên tử. Xin lưu ý là 3 trong 4 chữ Hán: Di, Địch, Nhung, Man nói trên, có tới 3 chữ có bộ thú chỉ thú vật ở bên cạnh.” [1]
Ngay cả Phát Xít Đức cũng chỉ tự coi chủng tộc mình là vô địch chứ chưa dám coi các dân tộc khác là loài cầm thú như người Hoa.
Từ tính kiêu ngạo tột cùng ấy, vua chúa Trung Hoa có một chính sách bành trướng và đồng hóa tàn bạo nhứt trong lịch sử nhơn loại. Chúng ta hãy nghe lời kể của ông Dương Danh Dy:
“Không biết tên gọi của bao nhiêu nước đã biến mất trên bản đồ Trung Quốc để lãnh thổ nước này từ chỗ chỉ có mấy vùng đất không lớn lắm ở một phần lưu vực thuộc sông Hoàng Hà nay đã mênh mông rộng tới 9,6 triệu km2?
Không biết bao nhiêu dân tộc đã bị đồng hoá, kể cả dân tộc đã từng vào thống trị Trung nguyên xây dựng nên triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc mà nay chỉ còn chưa tới một trăm người nói và viết thành thạo tiếng mẹ đẻ?
Tất cả quá trình bành trướng lãnh thổ, đồng hóa dân tộc bằng thủ đoạn tàn bạo hay kế độc mưu sâu đều được che đậy, mỹ hoá bằng những câu chữ tuyệt đẹp: “mở mang bờ cõi”, “hoà hợp dân tộc”…
Chính các vị “Thiên Tử” ấy đã bày ra không biết bao hình phạt kinh hoàng để bắt kẻ bị trị phải khuất phục; nào là “tru di tam tộc” (một người phạm tội thì bị giết cả ba họ), bỏ tử tội vô vạc dầu sôi, hoặc cho voi dày ngựa xé; vua chết phải chôn hàng trăm người sống theo để hầu hạ… Trong thời Mao Trạch Đông, việc chôn sống tập thể là chuyện bình thường. Mới 2 thập niên trước đây, trước sự bàng hoàng của thế giới văn minh, họ đã dùng xe tăng và quân đội sát hại hàng vạn sinh viên đòi “Dân Chủ”, tại nơi mà họ vừa kỹ niệm 60 năm để vừa răn đe các mầm loạn bên trong vừa hù dọa lân quốc và thế giới bên ngoài.

Hình phạt của Thiên Tử Đặng Tiểu Bình trong kế sách “bình thiên hạ” tại THIÊN AN Môn (hình Wall Street Journal)
Từ 2,5 thiên niên kỷ trước, Khổng Tử (551 trước Công Nguyên), đã dùng thuyết chính danh: Tu, Tề, Trị, Bình để gồm thâu thiên hạ về một mối, trong đó Hán tộc là chúa tể. Trung Quốc ngày nay gồm 56 dân tộc và theo điều tra dân số năm 2000, số dân sắc tộc là khoảng 104 triệu, bằng 9% tổng số dân cả nước.
Như vậy, nhờ “bình thiên hạ” mà từ một nhóm nhỏ ở trung nguyên, người Hán đã chiếm tới 91% tổng số mà họ có bây giờ. Vậy mà Hồ Cẩm Đào còn gấp rút thiết lập các Học Viện Khổng Tử ở qui mô toàn cầu trong đó có Việt Nam để tiếp tục “bình thiên hạ” trên các phần còn lại của thế giới trong thế kỷ tới. Vì sao vậy?
Vì: “Mặc dù đất rộng như vậy, người ta vẫn đang kêu rên là một trong mấy nước bị mất nhiều lãnh thổ nhất thế giới, phía nào cũng mất đất thậm chí còn ‘mất cả phần đất thuộc nguyên một nước bây giờ’ ”.
Chỉ trong ba thập niên, họ đã gây ra ba cuộc chiến biên giới với Ấn Độ (1962), Liên Xô (1969), Việt Nam (1979) và hai cuộc hải chiến với riêng Việt Nam (1973 và 1989) để gồm thâu đất đai, biển cả và hải đảo trong kế sách “bình thiên hạ” của Khổng Khâu.
Mặc dù đã có tới hơn 2 triệu km2 lãnh hải, họ vẫn đang rêu rao “còn mất khoảng 1,2 triệu km2 biển nữa (trong đó có khoảng 800.000km2 tại Biển Đông).”
Trong các cuộc xâm lăng, “lần nào họ cũng chủ động đánh trước nhưng lại kêu la rằng ‘mình là người bị hại’”; và con cháu của Khổng Phu Tử “lúc nào cũng tự coi mình là người duy nhất đúng trong mọi chuyện bang giao.”
Ông Dương Danh Dy kể tiếp:
Con cháu Khổng Tử đang “bình thiên hạ” tại VN (1979)
“Người Việt Nam không thể nào quên được cuộc Chiến tranh Biên giới năm 1979, khi họ tung 60 vạn quân chủ lực, mở cuộc tấn công trên suốt sáu tỉnh biên giới, giết hại dã man người Việt, phá hoại nặng nề cơ sở vật chất của nhân dân Việt Nam mà lại rêu rao là “đánh trả tự vệ”, là để “dạy cho Việt Nam bài học”.
Chỉ có những kẻ không còn lương tri hay những người đầu óc có vấn đề mới có thể nghe lọt tai những luận điệu đó.
Lại còn chuyện này nữa: ai nâng đỡ, ai khuyến khích, ai cung cấp tiền của và phưong tiện để Khmer Đỏ gây ra nạn diệt chủng tại Campuchia?
Thế mà thoắt một cái họ đã biến mình thành “cứu tinh”, thành người “bạn tốt” của đất nước đau thương ấy.”
Thử hỏi, trên thế gian này còn có dân tộc nào dám ngạo mạn, tàn ác và điêu ngoa hơn thế?
Tổ Tiên chúng ta đã đối phó chính sách “bình thiên hạ” của Hán Tộc ra sao?
Mặc dù bị đô hộ tổng cộng cả ngàn năm trong lịch sử 4,000 năm, Việt Nam vẫn không bị đồng hóa mà còn giữ được độc lập. Đó là nhờ Tổ Tiên chúng ta đã quyết liệt chống lại Hán tộc bằng ba phương tiện: độc lập về văn hóa, dùng ngôn ngữ riêng biệt và nêu cao chí quật cường.
1. Độc lập về văn hóa:
Tuy bị Bắc thuộc lâu dài và qua nhiều thời kỳ khác nhau, Tổ Tiên ta đã giữ được rất nhiều nét văn hóa riêng của mình bằng cách pha trộn văn minh Ấn Độ, Chàm, và sau này ảnh hưởng lớn của văn hóa phương tây. Đặc biệt, văn hóa miền Bắc rất đa dạng; nó được kết tụ qua hàng ngàn năm lịch sử qua các phong tục như: nhuộm răng, ăn trầu, lễ hội Chùa Hương, giỗ tổ Hùng Vương, hội Lim, hội xuống đồng của người Tày. Ở các dân tộc miền núi còn có ngày hội tình yêu, đến mỗi dịp Xuân về những đôi trai gái tập trung lại chơi ném Còn, hát Đối…
Xã thôn tự trị cũng là một nét đặc thù khác mà Tổ Tiên ta đã dựa vào đó để giữ được bản sắc dân tộc. Làng thường được bao bọc bởi lũy tre xanh; với cổng tam quan, đình, chùa và các loại cây đa, dương, trôm và liễu làm tăng thêm vẽ đẹp của mỗi miền. Đình làng là nơi thờ cúng các vị có công với làng nước, khi chết được vua ban sắc chỉ phong Thần; đình cũng là nơi dân làng hội họp hoặc tổ chức các lễ hội của địa phương. Những người đứng đầu làng được mọi người tôn kính, thường là người già cả, hào phú và có học vị cao. Mỗi làng có những lệ riêng, phong tục tập quán mỗi nơi cũng khác và được lưu truyền qua nhiều thế hệ mà chính phủ trung ương ít khi can dự vào. Dân gian mới có câu “luật vua thua lệ làng” là vậy.
Dân Việt có quan niệm “ứng xử hài hòa” với thiên nhiên do nông thôn là nền tảng văn hóa của mình. Từ quan niệm đó, kinh thành Huế được xây dựng theo quan niệm hài hòa với cảnh trí xung quanh.
“Kiến trúc cung đình Huế đã tiếp thu và kế thừa kiến trúc truyền thống Lý, Trần, Lê là tất yếu để chống sự đồng hoá và cũng chống sự lạc hậu nên đồng thời tiếp thu tinh hoa của mỹ thuật Trung Hoa nhưng đã được VN hóa một cách có ý thức dân tộc của các nghệ nhân từ các miền Nam Bắc quy tụ về xây dựng Kinh đô, kể cả những người thợ gốc Minh Hương Trung Quốc và Chămpa. Đặc biệt đã được hiện đại hóa kỹ thuật của những công trình sư người Pháp phục vụ dưới thời Gia Long, theo phương châm cơ bản tiếp thu có chọn lọc những kiến trúc thích nghi với tâm hồn người Việt và Việt hóa dần để phù hợp với tâm lý bản địa đem lại những đặc trưng bản sắc kiến trúc Huế.” [2]
Về tôn giáo cũng thế, Phật Giáo ở Việt Nam nặng về gốc nguyên thủy của Đạo Phật với 4 đặc điểm căn bản sau đây:
a. Tự nương tựa chính mình; làm theo lời Phật dạy thay vì thờ lạy ngài để được chứng quả.
b. Trí huệ là vĩnh cửu, danh lợi là vô thường.
c. Tự thắng mình là toàn thắng.
d. Việc tu tập thiền định còn gọi là quán hơi thở, niệm hơi thở hoặc kiểm soát hơi thở chính là phương tiện tự giải thoát và ngộ Đạo của Phật. Ai cũng có thể làm được như vậy để thành Phật như ngài. Đạo Phật là một khoa học rốt ráo giúp con người thoát ra khỏi vòng luân hồi sinh tử.[3]
Phật Giáo ở Trung Hoa trái lại hoàn toàn biến chất, pha trộn với văn hóa thờ cúng. Hán Tộc đã biến tính khoa học của Phật Giáo thành công cụ mê tín dị đoan, mê hoặc lòng người để hỗ trợ cho đường lối cai trị nghiệt ngã của các Thiên Tử phương Bắc. Nơi mà chùa chiền được xem trọng; người giàu có xây chùa, trọng tăng để được phước; phật tử hành hương lễ bái để được Phật độ. Cách tu ấy hoàn toàn khác với chủ trương của Đức Phật; thực tế chỉ là phương tiện ru ngủ, chống bạo loạn của người Hán mà thôi.
Xét toàn cảnh, từ thôn xã đến triều đình và đạo pháp, dân tộc Việt luôn làm khác với người Hoa để tránh họa diệt chủng vậy.
2. Dùng ngôn ngữ riêng biệt:
Khi chưa bị Pháp đô hộ, Tổ Tiên ta đã dùng chữ Nôm là loại chữ Hán phát âm kiểu phương Nam để chống lại chính sách đồng hóa về ngôn ngữ của Trung Hoa. Đến khi người Pháp sang cai trị Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã may mắn tiếp thu các mẫu tự La Tinh (a, b, c, d…) qua các nhà truyền đạo giòng Tên, trước tiên là những người Bồ Đào Nha (portuguais), sau là Alexandre Rhodes (1591-1660), một Cha Đạo người Pháp, “đã viết và in ra bài giảng “Phép giảng 8 ngày”: nguyên bản La Tinh, đối chiếu với bản dịch ra Việt ngữ viết bằng chính mẫu tự La Tinh ghép lại theo âm điệu của người bản xứ. Theo nhà sưu khảo Ngô Văn Tạo thì:
“Đó là cơ sở giúp người Việt chúng ta tiếp nhận văn minh Tây phương. Văn học gia Petrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898) đã tình nguyện từ bỏ trường tu đạo, mà ở đó ông đã học Pháp Văn, Hán Văn, chữ Nôm và Quốc ngữ, để giảng dạy chữ Quốc ngữ (trong trường Thông Ngôn, 1862 – trường thông ngôn đầu tiên của chính quyền Pháp ở Nam Việt Nam), và viết những bài văn Quốc ngữ trên tờ báo Gia Định Báo (1865), tờ báo đầu tiên với ba thứ tiếng Quốc Ngữ, Pháp Văn và Hán Việt. Trương Vĩnh Ký cũng là người đầu tiên truyền bá Kim Vân Kiều, bản mà ông đã phiên âm từ chữ Nôm ra Quốc ngữ! Công lao lớn lao trong thời sơ khai đó, phải nói tới Huỳnh Tịnh Của (1834-1907), người đã tra cứu thiết lập Đại Nam Quốc Âm Tự Vị (khiêm tốn không phải là Tự Điển, nhưng đến ngày nay vẫn còn có giá trị như Tự điển tiếng Việt Nam Quốc ngữ). Thế hệ ngay sau là Phan Châu Trinh, của phong trào Duy Tân, sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục (1904) trường truyền bá Quốc Ngữ, là Nguyễn Văn Vĩnh, chủ nhiệm báo Đại Nam Đăng Cổ tùng báo (1906), tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở ngoài bắc, tận tụy tâm trí truyền bá Quốc ngữ. Có lẽ hai người đánh dấu nhất trong sự phổ thông Quốc ngữ trên toàn quốc đầu thế kỷ thứ hai mươi, sau Trương Vĩnh Ký ở trong Nam thế kỷ thứ mười chín, là Phạm Quỳnh (1892-1945), 17 năm làm chủ nhiệm tờ báo Nam Phong (circa 1917-1937), xứng danh là tờ báo mở kỷ nguyên Quốc ngữ của văn học Việt Nam; người thứ hai là Phan Khôi (1887-1959), nhà báo nhà biện luận, tác giả bài thơ mới lãng mạn đầu tiên của văn học Việt Nam: Tinh Già (1932), những bài báo với lời văn tân tiến sắc bén ngay từ những năm 1930 cho tận cuối đời (thời kỳ vụ án Nhân Văn 1956 ở Hà Nội).[4]
Việt Nam đã hoàn toàn thoát khỏi nguy cơ bị đồng hóa về ngôn ngữ của người Hán và trở thành quốc gia duy nhứt có ngôn ngữ bằng mẫu tự La Tinh trong vùng.
Vậy mà gần đây người ta lại hối hả thành lập trường dạy tiếng Hoa ngang bậc Đại Học với cái tên làm cho mọi người phải giật mình hồi tưởng quá trình “bình thiên hạ” của Bắc phương, đó là “Học Viện Khổng Tử” (HVKT). Chúng ta hãy cùng nghe bà Jocelyn Chey, một nhà cựu ngoại giao Úc hiện đang là giảng sư của Đại Học Sydney cảnh báo:
Jocelyn Chey
“Các ĐH nên cảnh giác đối với những sai lệch có thể xảy ra nếu các HVKT này trở nên năng động hơn trong các chương trình nghiên cứu và giảng dạy của mình. Các HVKT, với lời hứa hẹn sẽ rèn luyện và đào tạo tư cách và vốn luyến (xin sữa: liếng) sinh ngữ của các nhà ngoại giao và chính trị gia tương lai, đã biểu lộ khả năng thiết lập kế hoạch đường dài của Trung Quốc; một khả năng giống như những gì tổ sư đã dạy. Khổng Tử đã từng nói, “Nếu anh suy nghĩ bằng khoảng cách thời gian của 1 năm, hãy gieo một hạt giống; nếu bằng khoảng cách thời gian của 10 năm, hãy trồng các cây giống; nếu bằng khoảng cách thời gian của 100 năm, hãy dạy cho người ta.” [5]
Bà Jocelyn hoàn toàn đúng; 100 năm trước họ chưa có HVKT, vậy mà chỉ trước đây 1 năm thôi, con cháu Khổng Tử đã chiếm đa số trong nội các trình Vua của chính trị gia người Thái gốc Hoa Thaksin ở Thái Lan; khiến Vua Bhumibol Adulyadej phải bàng hoàng ra lịnh cho quân đội đảo chánh để tránh họa “bình thiên hạ” của những người “khách trú” không mời mà đến một cách hòa bình.
Các thế hệ con dân VN, ai được bước đến bực thềm của Học Viện Khổng Tử hãy luôn nhớ lời cảnh báo của Bà Jocelyn và hành động kịp thời của Vua Thái Lan.
3. Nêu cao chí quật cường:
Tuy là một quốc gia không lớn, người không đông, Việt Nam có nhiều phen vì thế yếu phải thần phục Bắc Triều; nhưng khi có thời cơ, cả dân tộc luôn biểu lộ ý chí quật cường, thoát vòng nô lệ.
Chúng ta hãy lắng nghe lời dạy con của ông Bảng Nhãn Nguyễn Phi Khanh tại Ải Nam Quan: “Con phải trở về mà lo trả thù cho cha rửa thẹn cho nước, chớ đi theo khóc lóc mà làm gì.” Tiến Sĩ Nguyễn Trãi đã nghe lời cha quay trở lại và ngày đêm lo việc phục thù, ra giúp Bình Định Vương Lê Lợi dẹp tan giặc Minh, viết ra bài Bình Ngô Đại Cáo để đời.
Trong thời buổi: “Tuấn kiệt như sao sáng sớm, nhân tài như lá mùa thu. Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần. Nơi duy ác hiếm người bàn bạc.” (Bình Ngô Đại Cáo), Lê Lai đã vì nước liều thân cứu chúa, đổi mạng mình để đại nghiệp được thành.
Trên đây mới chỉ là hai trường hợp điển hình trong hàng triệu tấm gương quật cường của dân tộc Việt.
Lời dạy con của Nguyễn Phi Khanh và tấm gương hy sinh vì đại nghĩa của Lê Lai luôn ngời sáng trong lịch sử Việt Nam. Hai tấm gương ấy há chẳng đủ cho mọi tầng lớp con dân VN ngày nay suy gẫm sao?
Hãy tạo thế “Cân Bằng Quyền Lực” để Sinh Tồn
Trong quá trình giữ nước, chúng ta phải quan tâm hai điều:
1. Dùng ngoại giao và quân sự để cân bằng ngoại lực; nghĩa là phải liên lập với quốc gia hùng mạnh bằng hoặc hơn với quốc gia mà mình phải đương đầu, đồng thời phải canh tân quân đội bằng phương tiện khác hơn quân đội sẽ đánh mình.
2. Dùng nội trị khôn ngoan để dưỡng dân, tu chỉnh và kết tụ nội lực để vừa tránh bị lạc hậu, vừa có đủ sức đối kháng và chịu đựng khi xảy ra chiến tranh.
Chúng ta sẽ thảo luận chi tiết các vấn đề này trong một đề tài kế tiếp: “Thế Cân Bằng Quyền Lực cho Châu Á Thái Bình Dương.”
Tài Liệu tham khảo:
[1] Dương Danh Dy; “Trung Quốc ‘bao giờ cũng đúng’?” BBC, ngày thứ ba, 29 tháng 9, 2009.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/09/090929_china_foreignpolicy.shtml
[2] vn.net, Nghệ thuật kiến trúc – Cung Đình Huế
http://www.vn.net/article.php/20071010080718559
[3] Nguyễn Đạt Nhân; Phục Hưng Đạo Phật.
[4] Ngô Văn Tạo; Chữ Nôm và Quốc Ngữ
http://ngovantao.blogspot.com/2009/08/chu-nom-va-quoc-ngu.html
[5] Jocelyn Chey; Con Rồng Hòa Nhã và Học Viện Khổng Tử
Dàn Chim Việt; http://danchimviet.com/articles/1283/1/Con-Rng-Hoa-Nha-va-Hc-Vin-Khng-T/Page1.html
Tuesday, October 13, 2009
Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy vẫn bị giam giữ
| |
![]() |
| Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy |
Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, một nhân vật bất đồng chính kiến ở Việt Nam hiện vẫn bị giam giữ sau khi bị bắt vì tội “cố ý gây thương tích”.
Hãng thông tấn Pháp – AFP trích lời người thân của bà Trần Khải Thanh Thủy cho hay bà bị bắt sau khi tìm cách tham dự phiên tòa xét xử một số nhân vật bất đồng chính kiến khác ở Hải Phòng.
Trong khi bản tin đăng hôm 9/10 trên báo điện tử Dân Trí của Việt Nam cho hay bà Trần Khải Thanh Thủy bị bắt vì hành vi tấn công gây thương tích một người sau khi hai bên đôi co với nhau.
Báo Lao Động cuối tuần cũng trích lời ông Vũ Công Long, trưởng công an quận Đống Đa cho hay bà Trần Khải Thanh Thủy bị bắt vì tội cố ý gây thương tích. Tội danh này có thể dẫn đến một bản án tù giam.
Theo bản tin của hai báo này thì chồng bà Thủy đã dùng mũ bảo hiểm đập vào mặt một người đàn ông sau khi cãi cọ với nhau về việc đỗ xe hôm thứ Năm và sau đó bà Thủy đã dùng gạch ném vào mặt người đàn ông này.
Tuy nhiên, bản tin hãng thông tấn Pháp trích lời một số giới chức ngoại giao cho hay hôm thứ Năm tuần trước xe của bà Thủy đã bị chặn khi đang trên đường tới Hải Phòng để tham dự phiên tòa xử 6 nhà bất đồng chính kiến vì tội treo biểu ngữ cổ vũ cho dân chủ, và về tội tiến hành các hoạt động mà phe công tố cho là “chống phá nhà nước”.
Một nhà ngoại giao cho hay bà Thủy đã bị công an “ngược đãi” hôm thứ Năm và sau đó được thả, tuy nhiên bà đã bị bắt trở lại vào đêm hôm đó.

