Translate

Tuesday, October 20, 2009

Không bịt mắt bịt tai mãi được

Trích NguoiViet Online

Ngô Nhân Dụng



Câu chuyện “Anh hùng Lê Văn Tám” là chuyện giả đã được Sử gia Phan Huy Lê nói tới từ năm 2005, trong khi dự một buổi họp của Hãng Phim Truyền Hình Việt Nam; và năm đó nhật báo Người Việt đã đăng tin. Năm nay, Giáo Sư Phan Huy Lê chính thức viết kể đầy đủ câu chuyện giả mạo đó để trả nghĩa với người đồng nghiệp quá cố đã căn dặn nhờ ông cải chính. Kể từ năm 2005 đến nay, cả Bộ Thông Tin lẫn Ban Văn Hóa Tư Tưởng của đảng Cộng sản Việt Nam không nói hay làm một việc gì để xóa bỏ tên Lê Văn Tám trong các sách giáo khoa cũng như trên bảng tên các con đường, các công viên.

Họ “tảng lờ” đi, như không biết, không nghe, không thấy. Nhưng phải nói là họ vừa tự bịt tai, vừa tự bịt mắt! Vì không biết làm gì khác! Thường khi người ta nói dối rồi bị lộ thì có hai cách xử trí: Hoặc là công nhận mình đã nói dối, xin cải chính và xin tha lỗi. Hoặc là chối bay không nhận mình đã nói dối. Và như thế thường phải che khỏa, lấp liếm việc nói dối của mình bằng những lời dối trá mới.

Hiện nay đảng Cộng Sản Việt Nam không công nhận mà cũng không phủ nhận sự thật về vụ Lê Văn Tám. Họ ngậm miệng, bịt mắt và bịt tai. Ðảng tự làm như vậy, để bắt tất cả mọi người làm theo: Không nói, không nghe, không đọc. Báo chí, đài phát thanh, phát ngôn nhân chính phủ, cứ tự bịt mắt, bịt tai, viết, nói những điều hoàn toàn trái sự thật. Tin rằng cứ nói dối mãi thế nào cũng có người tin!

Ðó là chính sách của đảng Cộng Sản được thi hành từ thời 1945. Chính sách là cứ nói dối, nói những điều dối trá trắng trợn khó tin, bất kể sự thật. Ai tố cáo mình dối trá, ai nói ngược lại cũng cứ lờ đi, không thấy, không nghe. Cấm đoán không cho dân chúng được nghe, được thấy, được nói những lời nói khác. Ðợi sau khi đã giết hết những người tố cáo mình dối trá rồi, lúc đó chỉ còn một mình mình có quyền nói thôi, cuối cùng thiên hạ sẽ chỉ biết tin mình, không có cách nào khác.

Năm 1946, Hồ Chí Minh đã ký kết chấp nhận cho quân Pháp đổ bộ lên Bắc Việt thay thế quân Tầu. Mục đích của ông ta là khiến cho các đảng phái quốc gia không còn dựa vào thế lực của Quốc Dân Ðảng Trung Hoa nữa, nhưng ông ta giải thích cách khác. Ông nói một câu nổi tiếng, “Thà ăn cứt thằng Pháp 5 năm còn hơn ăn cứt thằng Tầu suốt đời.” Ai cũng phục là cao kiến, vì lịch sử Việt Nam vẫn còn ghi chép đầy chứng cớ.

Nhưng trong việc thỏa hiệp với quân Pháp, Hồ Chí Minh chỉ cốt có thời giờ để bắt đầu tiêu diệt những người không đồng ý với chủ nghĩa Cộng Sản. Các vụ ám sát, những cuộc tấn công vào trụ sở, căn cứ quân sự của các đảng quốc gia đã gây cảnh huynh đệ tương tàn trong khi kẻ thù đứng trước mặt sắp tấn công! Ðến khi đã thủ tiêu hết đối lập, chiếm độc quyền điều khiển chính quyền kháng chiến rồi, mà muốn “ăn cứt thằng Pháp” nó cũng không cho, thì Hồ Chí Minh bỏ qua câu nói nổi tiếng cũ, quay sang ăn của Tầu. Vì đó không phải Tầu Quốc Gia mà là Tầu Cộng Sản, những đồng chí anh em vô sản quốc tế của ông Hồ.

Theo Giáo Sư Qiang Zhai, trong cuốn “China and the Việt Nam War, 1950-1975” thì giữa năm 1946, khi Cộng Sản Trung Quốc bị quân Quốc Dân Ðảng đánh ở Quảng Ðông, một cánh quân đã chạy sang Việt Nam và được Cộng Sản Việt Nam tiếp tế, đổi lại họ huấn luyện quân sự cho bộ đội Việt Nam. Cộng Sản Tầu có dịp bắt đầu một chương trình “diễn biến hòa bình” ở trên nước Việt Nam sau khi chiếm được lục địa. Ngay từ năm 1950 các cố vấn Ðậu Kim Ba, Ðặng Dật Phàm đã bắt cải tổ quân đội, bãi bỏ những sĩ quan có gốc là học sinh, sinh viên, trí thức, để thay bằng các chiến sĩ gốc bần cố nông hoặc thợ thuyền lên nắm quyền điều khiển quân đội. Ðó là một cách chia rẽ để tiêu diệt sinh lực một dân tộc, tạo nên một lớp người mới chỉ biết học tập theo Mao Chủ Tịch. Lúc các cố vấn Tầu sang chỉ huy từ việc quân sự đến cải cách ruộng đất như thế, thì không còn ai đứng ra tố cáo Hồ Chí Minh đem cả nước đi “ăn” của Tầu nữa!

Vì lúc đó những người đã biết và từng tố cáo Hồ Chí Minh chỉ là cán bộ phục vụ cộng sản đệ tam quốc tế đều đã bị thủ tiêu hoặc phải chạy ra nước ngoài sống cả rồi. Ngay năm 1946, 47, lúc mới bắt đầu cuộc kháng chiến, những người bị giết là những Khái Hưng, Nhượng Tống, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ, cùng bao nhiêu chiến sĩ Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt, Phục Quốc khác. Chạy ra ngoài bảo toàn được mạng sống có những Nguyễn Tường Tam, Nghiêm Kế Tổ, Hoàng Ðạo, vân vân. Cuối cùng, chỉ còn các cán bộ cộng sản của ông Hồ chiếm độc quyền ngôn luận, nói gì dân cũng phải tin vì không thấy ai nói ngược lại! Cho nên họ có thể vẽ ra những huyền thoại về Hồ Chí Minh cũng như huyền thoại Lê Văn Tám vậy!

Nhưng liệu đảng Cộng Sản bây giờ có thể cứ theo đúng chính sách bịt tai, bịt mắt, của ông Hồ được hay không? Khó lắm. Vì vào những năm 1945, 50 đầu thời kháng chiến thì phương tiện truyền thông ở nước ta không có bao nhiêu. Nắm được cái loa cầm tay ở đầu làng là làm chủ “thông tin, văn hóa, tư tưởng” được rồi. Còn bây giờ trên trái đất đã có Internet, ở Việt Nam nhiều nơi cũng có. Cho nên nói dối bây giờ rất khó. Không ai có thể nói dối tất cả mọi người mãi mãi được.

Có lẽ ông Trần Huy Liệu cũng biết trước như vậy, cho nên ông đã ủy thác cho sử gia Phan Huy Lê làm công việc cải chính huyền thoại Lê Văn Tám. Bởi vì ngay trong thời gian Trần Huy Liệu dựng ra chuyện đó, đã có người nghi ngờ là một thiếu niên sau khi tẩm xăng tự đốt thì không thể chạy xa để tới gần kho xăng được. Lý luận này đăng trên tờ báo Thời Mới ở Hà Nội, một tờ báo ngoài tầm kiểm soát của cộng sản. Ngoài ra, một vụ đốt cháy kho xăng lớn thế nào cũng có nhiều người tham dự, chủ mưu; sẽ có ngày họ xuất hiện nói lên sự thật; khi đó thần tượng Lê Văn Tám cũng sẽ bị lật mặt giả dối. Ðối với Trần Huy Liệu, tốt nhất là tự mình tìm cách cải chính chuyện gian dối đó, để khi chuyện lộ ra thì mình đỡ mang tiếng.

Nhưng là người đi theo cộng sản đã lâu năm, ông Trần Huy Liệu biết tự bảo vệ tính mạng mình. Xóa bỏ một huyền thoại do đảng dựng lên là điều nguy hiểm. Vì không những nó làm cả hệ thống thần linh của đảng bị mất một huyền thoại mà còn làm cho người ta nghi ngờ cả hệ thống đó còn nhiều điều gian trá khác. Người ta sẽ hỏi, “Sau Lê Văn Tám là ai?” “Lê Văn Tám đã vậy, còn Võ Thị Sáu, còn Minh Khai, còn Hồ Chí Minh thì sao? Cái gì thật, cái gì giả?” Một sự không tin, vạn sự không tin, người dân sẽ nghi ngờ cả đảng cộng sản! Cho nên ông Trần Huy Liệu không dám tự mình viết, dù chỉ viết một câu thôi, thí dụ: “Tôi, Trần Huy Liệu, xác nhận câu chuyện Lê Văn Tám tẩm xăng tụ đốt là hoàn toàn do tôi bịa đặt vì nhu cầu tuyên truyền để kháng chiến chống Pháp.” Viết một câu như thế mà ai bắt được thì chắc chắc sẽ bị thủ tiêu, bị đắm đò hay xe đụng lúc nào không biết!

Cho nên ông Trần Huy Liệu muốn cải chính nhưng cũng chỉ dám dặn dò bằng lời nói, không dám viết một chữ. Lúc đó là vào thập niên 1960, ông Phan Huy Lê cũng không dám xin ông Liệu viết mấy chữ làm bằng cớ. Vì có đứa nào nó tố cáo, bị bắt với bằng cớ đó thì cả hai thầy trò sẽ khó sống.

Nhưng tại sao đến bây giờ ông Phan Huy Lê mới chính thức công bố câu chuyện Lê Văn Tám? Thực ra thì giới sử học ở Việt Nam đã “thăm dò” vấn đề này qua những bài viết tên tạp chí Xưa và Nay trong năm 2003, và báo Thế Giới từ năm 2004 rồi. Năm 2005, ông Phan Huy Lê đã nói đầy đủ hơn, một cách bán chính thức, trong một cuộc họp về phim truyền hình, nhưng chưa chính thức viết ra. Ðến năm nay thì ông đã viết thẳng thành bài, vì không khí trong cả nước Việt Nam đang thay đổi.

Bây giờ người dân Việt Nam không còn tin đảng Cộng Sản nữa, mà cũng không còn sợ nữa. Cả guồng máy tuyên truyền đang trở thành bất lực, nói cái gì người dân cũng nghi là dối trá. Các mạng lưới thông tin mới đóng góp với hệ thống tin đồn, rỉ tai cũ của người dân. Sang thế kỷ 21 này, việc nói dối còn khó hơn thời 1960. Ai muốn trình bày một sự thật nào, thì đây là lúc có thể nói ra. Trước chính sách bịt mắt, bịt tai của đảng Cộng Sản, bất cứ ai giúp cung cấp thông tin, mở mang kiến thức của đồng bào, thì bây giờ là lúc nên làm!

Một dấu hiệu cho thấy dân Việt Nam không còn sợ nữa, là quyết định tự giải tán của các nhà lãnh đạo Viện Nghiên Cứu Phát Triển (IDS). Trước “quyết định số 97” của Nguyễn Tấn Dũng bịt mồm bịt miệng giới nghiên cứu khoa học, phản đối mãi không được việc gì, các nhà nghiên cứu chỉ có cách bày tỏ sự phản kháng là tự đóng cửa.

Ngày 14 Tháng Mười vừa qua, Nguyễn Tấn Dũng lại dọa rằng sẽ “xử lý những phát biểu thiếu tinh thần xây dựng của một số cá nhân thuộc Viện Nghiên Cứu Phát Triển.” Thái độ này cho thấy cả guồng máy thống trị của đảng Cộng Sản vẫn theo chính sách cũ từ thời Hồ Chí Minh: Bịt miệng thiên hạ. Không bịt miệng được thì dọa sẽ “xử lý!” Dọa rồi mà vẫn không công hiệu thì dọa nữa! Có thể nói trong việc đối phó với phong trào đứng lên đòi quyền được tự do phát biểu của giới trí thức Việt Nam, đảng Cộng Sản đang lâm vào ngõ bí.

Trong khi đó, giới trí thức Việt Nam đã phản ứng với thái độ dũng cảm hơn: Không sợ. Ông Nguyễn Quang A, nguyên viện trưởng IDS còn gửi thư lên Bộ Tư Pháp và Quốc Hội đòi “xử lý” cái Quyết Ðịnh 97, phi pháp và xâm phạm quyền làm người đó. Ông sẵn sàng đi theo nhưng ông Phạm Văn Trội, Vũ Hùng, Nguyễn Xuân Nghĩa, và hàng chục nhưng nhà trí thức khác đã vào tù vì lên tiếng đòi các quyền dân chủ tự do cho tất cả mọi người dân Việt Nam.

Người Việt Nam khắp nơi hoan nghênh những người có thái độ can đảm của các nhà trí thức đòi tự do dân chủ. Họ tin tưởng vào khả năng xét đoán của dân Việt Nam, cho nên họ can đảm nói lên khát vọng tự do của toàn dân, và trình bày những sự thật mà đảng cộng sản vẫn che dấu. Người Việt Nam có quyền được nghe, được thấy, được tiếp nhận các thông tin đúng. Không ai có quyền bịt mắt bịt tai một dân tộc.

Monday, October 19, 2009

Giáo dục Việt Nam theo nhận định của các Đại học Mỹ

2009-10-19

Gần đây, các chuyên gia của Đại Học Harvard đưa ra một số nhận định về thực chất của giáo dục Đại học tại Việt Nam hiện nay cũng như một số khuyến nghị cho Bộ Giáo dục Việt Nam.

AFP PHOTO

Học sinh, sinh viên Việt Nam tìm hiểu về hệ thống giáo dục Hoa Kỳ.

Tính xác thực

Trong Tờ trình gửi Uỷ ban Đặc nhiệm Hỗn hợp về Giáo dục Đại học Việt Nam, hai chuyên gia của Trường Chính Quyền Học Kennedy tại Đại Học Harvard là Thomas Vallely (Giám Đốc Chương Trình Việt Nam) và Ben Wilkinson cho rằng đang có sự khủng hoảng suy sụp trong nền giáo dục đại học Việt Nam.

Để tìm hiểu thêm và vấn đề này, Thanh Quang hỏi chuyện Giáo sư T Văn Tài tng ging dy ti Đi hc Harvard. Trước tiên Giáo sư Tải nhận định:

GS Tạ Văn Tài: Tôi đng ý vi đa s ý kiến và bt đng v mt s ý kiến khác trong t trình. Tôi đã quen biết ông Vallely t lâu, t hi ông còn là phó cho mt bà Giám đc tin nhim ca chương trình Vit Nam và nh tôi gp di s Vit Nam Bùi Xuân Nht ti Liên Hiêp Quc i chưa có b cm vn nên chưa có toà Đi s Hoa Thnh Đn) đ nhc nht Nam chưa c hai ng viên du hc đến Harvard, nơi đã cp hai hc bng, cho nên trong quá trình ông Vallely làm vic dài dài, nhiu năm cho chương trình Vit Nam đ c sinh viên du hc qua Harvard, chương trình Fulbright v.v… New York (h sao Vi

Tôi đã thy ông rt thương mến sinh viên Vit Nam và lo cho tin đ tương lai ca dân tc Vit Nam, mt khác ông có cá tính là cu thu quân lc chiến M, cho nên ông là người thng tính, sn sàng nói mnh m ý kiến ca ông chng e dè ai.

Vy thì nhng ý kiến ca ông phê bình đi hc Vit Nam suy sp trm trng, tôi có th hiu được đó là s thành tâm lo lng khn thiết ca ông cho tương lai Vit Nam, mun như mt bác sĩ gii và tn tâm, cho thuc đng giã tt, cha cho các căn bnh trm trng ca nn đi hc Vit Nam. Có my ý kiến lit kê như sau v đi hc Vit Nam, mà tôi đng ý mt phn:

a) Thành tích xut bn các công trình nghiên cu rt nghèo nàn, thí d vào năm 2007, Đi hc Quc gia Vit Nam ch có 52 công trình xut bn, Vin Khoa Hc Công Ngh có 44 công trình, thua xa các đi hc Quc Gia Seoul ca Đi hàn (5060 công trình), Singapore (3598 công trình), Đi Hc Bc Kinh (3219), Đi Hc Fudan (2343 công trình), Đi Hc Mahidol và Chulalongkorn ca Thái Lan (950 và 822) v.v…

Thành tích v bng sáng chế ca Vit Nam là s không, so vi Đi Hàn có 102.633 bng sáng chế, Trung Quc có 26.292 bng sáng chế, Singapore 955, Thái Lan 158, Mã Lai 147, Phi Lut Tân 76...

T Trình báo đng là nếu không cp thi ci c th chế cho giáo dc đi hc, Vit Nam s tht bi hoàn toàn trong mc tiêu phát trin tim năng to ln ca mình.

GS Tạ Văn Tài

b) Không hun luyn sinh viên đúng nhu cu kinh tế, do đó 50% sinh viên tt nghip đi hc không tìm được vic làm đúng ngh chuyên môn, s chun b sinh viên đi vào ngh nghip chuyên môn đã b ti t vì 25% giáo trình bt buc tp trung vào gíáo điu chính tr (political indoctrination).

Tìm trong sinh viên không đ nhân công chuyên môn hay các nhà qun tr gii cho nn kinh tết Nam. T Trình báo đng là nếu không cp thi ci c th chế cho giáo dc đi hc, Vit Nam s tht bi hoàn toàn trong mc tiêu phát trin tim năng to ln ca mình. Vi

c) Vit Nam có ước vng xây dng đi hc có phm cht quc tế nhưng hin nay không có mt đi hc Vit Nam nào được xếp vào hàng đi hc có phm cht ca Á Châu. T trình này nói rng trái vi sinh viên Trung Quc và n Đ, sinh viên Vit Nam không cnh tranh ni được thâu nhn vào nhng chương trình cao hc thượng thng ti Hoa Kỳ và Âu châu. đ

Tôi thy có l ông Vallely, trong khi điu khin chương trình Vit Nam Harvard và nht là li được B Ngai Giao M cho thu li vic tuyn la sinh viên cho chương trình Fulbright., đã có dp thy trong nhng sinh viên xin vào chương trình cao hc M, người gii thì thường là đã đi du hc sang Liên Sô hay Đông Âu trưóc đây ri bây gi sang M ly thêm bng M, còn người xut thân t đi hc Vit Nam thường kém (có ln ông nh tôi làm người dch hay h trp cho mt sinh viên t Vit Nam đã được gi gm qua hc ti trường Công Quyn Hc Kennedy, vì thế nên Harvard min cưỡng nhn, nhưng kém quá cn có người dy kèm—nhưng tôi thy vic dy kèm hay dch giùm này mt nhân v cho tôi, là nhân viên nghiên cưú ban ging hun bên trường Lut Harvărd, nên tôi t chi.) trong l

rmit-student-giving-presentation-305.jpg
Một nữ sinh viên đang trình bày trước lớp tại trường đại học RMIT ở Sài Gòn.
Nhưng tôi phải nói là tôi không có khuynh hướng nói qúa khẳng định về phẩm chất kém cỏi của Đại học Việt Nam, theo kiểu ông Vallely và Wilkinson nói mạnh, vơ đũa cả nắm—

Thanh Quang: Như vy ý kiến ca Giáo sư ra sao?

GS Tạ Văn Tài: Tôi nghĩ rng khi nói v phm cht nn đi hc Vit Nam cũng như M, ta phi phân bit các đại hc đng cp cao và các đi hc đng cp thp, thí d M, có nhiu đng cp, t hng siêu (như Harvard, Yale...) đến hng đng cp quc gia (national universities and colleges), đến lai đi hc thuc hng có v thế đa phương (regional universities, colleges) đến các lai đi hc cng đng (Community colleges).

T trình ca ông Vallely và Wilkinson quên mt s khác bit ti Vit Nam gia mt bên, là các đi hc m rng, chuyên tu, ti chc… vi s thu nhn sinh viên bưà bãi không có trình đ, vi s hun luyn lng lo thiếu tiêu chun, thiếu phương tin (theo mt t trình hi năm 1992 ca UNESCO, 66% đi hc, phn ln là các đi hc có sĩ s dưới 800, ch có phòng c ti t, vi thư vin và máy móc trang b rt gii hn.)

Chúng h thp phm cht nn đi hc Vit Nam xung mt mc trung bình thp, và mt bên, là các đi hc quc gia có thi tuyn sinh viên và hc trình và ban ging hun quy cũ hơn.

Ngoài nhà nước, các trường đi hc cũng phi thy không th thâu nhn bừa bãi và cho ra trường các sinh viên trong các ngành ngh ít vic làm, nghĩa là phi c gng cho s cung đi sát s cu trong th trường nhân lc.

GS Tạ Văn Tài

Tôi có din giảng khoá hun luyn ngn hn v lut thương mi và đu tư quc tế ti Đi Hc Kinh tế thành ph H chí Minh, thì thy trình đ sinh viên cũng khá, và nht là rt hiếu hc mun giao lưu vi các ngun kiến thc mi (tôi dùng sách giáo khoa dùng trong Đi Hc Lut Harvard, dch ra tiếng Vit, nhưng sinh viên ưa sách tiếng Anh và t chp hình in li cun đó).

Tôi cũng không thy T Trình “chn bnh đúng nguyên nhân” ca cái nn 50% sinh viên tt nghip không kiếm được vic, vì lý do không hn là hc nhiu gi chính tr, đó ch là mt phn, lý do chính là tuy nhà nước không còn ép sinh viên đi vào các ngành này kia như thi kỳ kinh tế hoch đnh cng rn, nhưng mà nhà nước, t khi chuyn sang kinh tế th trường, chưa đưa ra các con s thng kê v nhu cu các ngành ngh có trin vng trong th trường tương lai, đ các cá nhân sinh viên t quyết đnh chn ngành ngh cho sát nhu cu nn kinh tế.

Ngoài nhà nước, các trường đi hc cũng phi thy không th thâu nhn bừa bãi và cho ra trường các sinh viên trong các ngành ngh ít vic làm, nghĩa là phi c gng cho s cung đi sát s cu trong th trường nhân lc.

Nguyên nhân khủng hoảng

Thanh Quang: Gíao sư nhn xét như thế nào v các nguyên nhân to ra khng hong đi hc Vit Nam, mà T Trình đã đ cp ti?

GS Tạ Văn Tài: Đây là vn đ tôi cũng có mt s ý kiến khác vi T Trình. Tôi đng ý vi Tường li qun tr đi hc ca nhà nước đã to ra phm cht suy trm ca nn đi hc: tp trung quyn v trung ương mà không cho t tr và t qun đi hc, do đó tiêu dit hay gim đi các sáng kiến và s tn tâm say mê công vic. Trình là đ

Tuyn chn và thăng thưởng nhân viên, cung cp hay phát các ngun tài tr ngân sách (cho nghiên cu chng hn), không theo kh năng và thành qa công vic nhiu, mà theo thâm niên, lai lch chính tr hay liên h cá nhân, kèm theo s ác cm ca các cp qun tr cao trong đi hc, thường được hun luyn t Liên Sô và Đông Âu, đi vi các nhân viên tr tui giáo dc t các nước Âu Mỹ.

Giáo trình không được t do như bên Trung Quc, tuy rng đã dn dn ci m hơn, khiến cho thiếu năng đng trí thc; và cũng vì thiếu năng đng trí thc cho nên các hc ga tr không thưu d dàng được vi các ngun kiến thc bên ngoài. giao l

Nhưng có đim tôi không đng ý vi T Trình là cho rng nn đi hc Vit Nam yếu kém vì nó tha kế nn đi hc thi thc dân Pháp, và đến khi dc lp thì b chiến tranh và cai tr dc tài mà không có ch đo đ xây dng nn đi hc có phm cht cao.

Pháp đã du nhp nn đi hc có phm cht cao vào Vit Nam, vi quan nim đng hóa giai cp thng tr bn x vào nn văn minh Pháp, theo s mng văn minh hóa ca Pháp (mission civilisatrice), khiến đi hc Đông Dương, nht là y khoa, dược khoa, lut khoa, và khoa hc trơi hun luyn các tng lp ưu tú (elite) ca Vit, Mên và Lào. thành n

Nhng sinh viên tt nghip Đi hc Đông Dương sang Pháp thi Tiến sĩ, thc sĩ lut (như Vũ Văn Mu), tiến sĩ, thc sĩ kinh tế (như Vũ Quc Thúc, Nguyn Cao Hách), Tiến sĩ Toán ( Đng Đình Áng), đã là nhng người xây dng nn đi hc Vit Nam sau khi Pháp rút lui năm 1954 ti min Nam Vit Nam.

Nơi đây đã tiếp tc mt nn đi hc tt đp, thí d riêng v ngành lut, đã to ra mt hc trình vi các sách giáo khoa tt, các người tt nghip có kh năng, mà sau này các người sng trong chế đ Vit Nam Cng Sn cũng phi công nhn là có phm cht cao: thí d Lut sư Lê Công Đnh phi viết bài công nhn giá tr Đi hc Lut Khoa Saigon trước 1975; Giáo sư Hoàng Ngc Giao ca Phân Khoa Lut Đì hc Quc Gia Hà Nôi du hc ti Boston, mun nh chúng tôi tìm các sách giáo khoa tt ca các giáo sư quc tế công pháp ca Đi Hc Lut Saìgon trước 1975.

T 1954 đến 1975, t các đi hc Min Nam Vit Nam, đã nhiu sinh viên du hc sang Pháp, Đúc, Anh,Úc , Nht và Hoa Kỳ v.v.. và thành công, nhiu khi ngay trong năm đu, các đi hc các nước y, ri đu bng đi hc Âu M d dàng, và hàng lot, trong đ các ngành, k c lc, nhiu người đu đến bng tiến sĩ , chng t nn di hc Min Nam Vit Nam có phm cht và đào to người gii. nguyên t

Nhng sinh viên hc trong đi hc Pháp thành lp thi thuc đa mà sau này góp phn xây đng nn đi hc Min Bc Viêt Nam trước năm 1954, như tiến sĩ lut Đ Xuân Sng, Nguyn Mnh Tường , bác sĩ y khoa khoa trưởng trường Y Hoàng Đình Cu (mà sau 1975, báo chí M đã biết ti), bác sĩ Tôn Tht Tùng, giáo sư Toán hc Hoàng Ty là bng chng sng v nn đi hc tt do Pháp xây dng ti Vit Nam, còn đ li nh hưởng ngay ti Min Bc Vit Nam.

Tương lại đại học VN?

Thanh Quang: Giáo sư nhn thy T Trình va nói có ghi nhn lc quan hay bi quan gì vế trin vng tương lai ca nn đi hc Vit Nam không ?

GS Tạ Văn Tài: Tôi thy T Trình có nếu hy vng v tương lai đi hc Vit Nam nhưng rt dè dt và tôi cùng thy T Trình chưa chú trng nhiu lm v đãi ng và mc sng ca các gii chc ging hun đi hc, điu mà tôi mun b túc cho T Trình.

T Trình có nói đến Ngh quyết 14 mun ci t toàn din gíao dc đi hc vào năm 2020, cho phép t tr nhiu hơn và s tuyn chn da trên thành qu, và nhà nước đã đt ưu tiên v giáo dc đi hc trong 3 năm qua. Đó là nhng đim hy vng.

Nhưng T Trình cho rng tc đ ci t còn rt chm, và nht là nhà nước vn mun ôm gin hành theo não trng kế hoch tòan din t trung ương, nht là mun giũ quyn phân phi các ngân khon tài tr ca các cơ quan quc tế, khiến cho khó lp đi tác vi các đi hc M vn t tr đến mc rt cao. quy

Tôi cũng thy T Trình nói mt cách không lc quan cho lm v các yếu t quc tế giúp đ nn đi hc Vit nam. Thí d: nói rng vic c sinh viên du hc , gia tăng rt mau nhng năm gn đây, nht là sang M, cũng không th là gai pháp cho nn đi hc Vit Nam, vì du sinh ch là mt s cc nh, gm nhũng gia đình có tin cho con cái du hc hay nhng ai may mn xin đựơc hc bng.

T trình cũng nói các khan tài tr ca các cơ quan quc tế không được phân phi theo tiêu chun kh năng, còn các đi hc quc tế đi vô Vit Nam hun luyn thì phn ln ch nhm trc li thu hc phí t sinh viên theo các ngành thc dng, nhưng hc phí cao này ch mt s tri, đi chúng không kham ni. n

Vit Nam mun lp mt hay vài đi hc thuc loi “đng cp quc tế” và t 2005 đã tranh th h tr ca M, vi vic Th tướng Phan Văn Khi, trong cuc viếng thăm Harvard năm 2005, yêu cu Harvard gíúp. s

Năm 2006 , Th Tướng Khi ký quyết đnh v đi hc đng cp quc tế năm 2007, Chch Nưóc Nguyn Minh Triết thăm Hoa Kỳ và tiếp tc thúc đy Hoa Kỳ giúp. Năm 2008, Thướng Nguyn Tn Dũng thăm Hoa Kỳ và ký bn ghi nh v vic lp vài trường đi hc Hoa Kỳ ti Vit Nam. T T

Tháng 6/2009, Vit Nam tuyên b vay Ngân Hàng Thế Gii và Ngân Hàng Phát Trin Á Châu 400 triu M Kim đ xây 4 trường đi hc đng cp quc tế (Vit -Đc, Khoa Hc Công Nghi, Đà Nng, Cn Thơ). Hà N

T Trình ca Harvard nói v tham vng lp đi hc đng cp quc tế ca Vit Nam như sau:

Tuy biết Vit Nam rt mong thu hút s tham gia hp tác ca các đi hc hàng đu ti Hoa Kỳ, các đi hc danh tiếng ti Hoa Kỳ s không vào Vit Nam theo kiu các nhà đu tư, tc là s thp tiêu chun ca mình đ thu li tài chánh, nếu chính quyn Vit Nam “không quyết tâm theo đui các tiêu chun mt đi hc tt”, tc là “t do trong giáo trình” (được t do đưa vô gíao trình và vic nghiên cu các đ tài mà không phi tham kho trước vi b giáo dc—v đim này. không h

Nếu Quyết đnh 97 mi ban hành gn đây, mà T Trình Harvard không nói ti—nó đưa ra mt danh sách hn chế các d tài có th bàn lun khoa hc và do đó có th c hi cho vic nghiên cu khoa hc và vic thành lp được các đi hc đng cp cao) và “t qun, t tr”, theo đó chính quyn ch dóng vai hn chế, và đi hc s tìm các ngun tài tr ging hun và nghiên cu ngoài ngân sách nhà nước.

T Trình kết lun là U Ban H Hp Đc Nhim v Giáo Dc Đi Hc s có mt vai trò đc bit trong vic v mt lược đ toàn din cho vic ci t giáo dc đi hc và xúc tiến vic ci cách.

Thanh Quang: Thưa GS, dường như T Trình này quên đ cp ti vic đãi ng qua lương bng và ngân khan nghiên cu cho các giáo sư đi hc VN?

GS Tạ Văn Tài: Chúng tôi b túc cho T Trình Harvard: đó là s đãi ng bng lương bng và các ngân khan nghiên cu sao cho cuc sng vt cht đàng hoàng hơn đ các giáo sư có th tn ty vào vic nghiên cu. Hin nay, tình trng li tc đi khái như sau:

(1) Theo các t trình tin tc, 30% sinh viên Vit Nam du hc (có th nói là thành phn trí tun lc) không mun v nước, và mun li ngoi quc kiếm tin nhiu hơn lương bng thp kém trong đi hc Vit Nam; vic xây dng đi hc Vit Nam b thit mt lc lượng nhân s đó (trong khi đó thì, như mt s nhà nghiên cu đã ch ra, s lượng trí thc Vit Kiu tui tr và trung niên v nước khá quan trng, đem theo không nhũng trí tu, mà còn c vn đu tư, các s quen biết và liên h hi ngoi, và kinh nghim v th trường quc tế--còn trí thc hi ngoi tui hưu thì có th nâng cao trình d cho gii chuyên môn trong nước—Xin xem Đ Án ca B Ngoi Giao Vit Nam v vic“thu hút trí thc ,chuyên gia người Vit nước ngoài trong vic xây dng đt nưóc”); ch

(2) Lương bng giáo chc đi hc Vit Nam được coi là thp nht thế gii, theo chính thông tin ca nhà nưóc trong trang nhà v giáo dc : trong khi lương giáo sư đi hc trung bình ti các nước Á Châu là 1,000 M kim, thì Vit nam, giáo chc đi hc, ngoài cm tưởng các ý tưởng ci t giúp nước b coi thường, h ch có lương căn bn trung bình là 150 M Kim, dy thâm niên 15 năm thì 170 M Kim, thâm niên 30 năm, đến tui sp v hưu ,thì 279 M Kim; mi gi dy s tính thêm tin gi ph tri, do đó lương ngoi mi vô ngh có th là 200 M Kim; còn nu có thêm tin do d án nghiên cu thì có th có li tc ti 500 M Kim mt tháng (tin tc này do s trao đi trong website ca các giáo sư M và Vit có kinh nghim ti Vit Nam) ;

(3) Nhưng kiếm được d án nghiên cu trong ngân sách nhà nước Vit Nam thì là c mt snh tranh trong bu không khí phân bit đi x da trên vây cánh và chính tr; còn các ngun tài tr nghiên cu cu các cơ quan quc tế như các qu tng lp (Foundations) thì ít giáo sưt Nam biết ti; v li nhà nước, theo chính sách, có l hc ca Nga , là không d dãi cho các t chc phi chính ph (non-governmental organizations—đang bàn rt k v lut chi phi các t chc này), có l ngi s trưởng thành ca các t chc trong khu vc tư (Ford Foundation đã đóng ca Vit Nam, sau nhiu năm làm nhiu vic ích li); c Vi

(4) Rút cc thì trí thc đi hc Vit Nam hoc là phi dy thêm rt nhiu gi, có khi đã dy 20 gi mt tun mà còn phi dy thêm gi nưã (v li đi hc cũng có khi bt h dy thêm gi đp đng kiếm thêm tin ca chính đi hc), b bê vic nghiên cu, không còn kh năng xây dng đi hc đng cp cao vi các công trình nghiên cu khám phá kiến thc mi; hoc là b ngh giáo chc đi hc đ ra ngoài làm vic cho các công ty ngoi quc, kiếm gp đôi lương bng (thí d, làm cho hãng ngoi quc có th kiếm mi tháng 1,000 M Kim vi bng c nhân đu ti hi ngoi, hay 2,000 M Kim vi bng chuyên môn cao cp (tiến sĩ..). thi hành các h

Nhà nước s thua cuc, mt nhân tài, trong cuc cnh tranh th trường nhân công trí thc cp đi hc, nếu không có s đãi ng xng đáng đi vi h.

GS Tạ Văn Tài

Thanh Quang: Như vy kết lun ca GS là gì?

GS Tạ Văn Tài: Nhà nước phi thy rng nhà nước s thua cuc, mt nhân tài, trong cuc cnh tranh th trường nhân công trí thc cp đi hc, nếu không có s đãi ng xng đáng đi vi h.

Rt không nên trit tiêu các quyn li ca các giáo sư hc ga, dù đến tui hưu, nhưng còn kh các phương tin giao dch ca h vi các đng nghip và cơ quan, như ch làm vic, đin thoi (đng có ct đin thoi ca h ngay khi hi hưu như đã ct đin thoi ca Giáo sư Vin Trưởng Đa hc An Giang Võ Tòng Xuân, người đã có công lao xây dng Đi hc Cn Thơ và An Giang, và có kh năng vn dng các ngun tài tr quc tế cho đi hc Vit Nam). năng đóng góp, thí d

Vic đãi ng xng đáng trí thc trong nước cũng cn đ tránh tình trng mà B Ngoi Giao Vit Nam đã t trong “Đ Án Thu Hút Trí Thc Chuyên Gia Ngườì Vit nứơc ngoài”: “Trí thc trong nước chưa được trng dng, được tr lương xng đáng, nên vic ưu đãi Vit kiu gây so bì, bt hp tác. Ngoài ra còn có tâm lý lo ngi trí thc Vit kiu v s làm bc l s yếu năng lc chuyên môn hoc chiếm mt v trí ca người trong nước. Đây cũng là mt tr ngi khi đưa ra bt c kiến ngh nào ưu đãi trí thc Vit kiu”.

Thanh Quang: Xin cm ơn Giáo sư T Văn Tài.

Sunday, October 18, 2009

Lê Thị Thấm Vân

Lê Thị Thấm Vân – Trưa thu

Posted using ShareThis

Lê Duẩn, một Tần Thủy Hoàng hoang dâm vô độ

Trích Văn Tuyển
Chưa rõ tác giả
1. Lê Duẩn, một Tần Thủy Hoàng hoang dâm vô độ

Ở miền Nam những năm 47, 48 đã lan truyền câu chuyện "Trung ương cục cướp vợ của học sinh". Đó là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, một ông Bí thư, một ông Phó bí thư, có vợ con đàng hoàng ở miền Bắc rồi, vào trong đó thấy mấy cô học sinh kháu khỉnh ở trong thành ra học ở một trường vùng kháng chiến, liền sinh lòng ham muốn. Mặc dù hai cô này đã sắp là vợ của hai cán bộ, nhưng hai vị vẫn cố tình dùng áp lực trên cướp cho bằng được. Những chuyện đó vẫn không xấu xa bằng chuyện Lê Duẩn sau toàn thắng 75, hiện nguyên hình là một Tần Thủy Hoàng hoang dâm vô độ, trắng trợn đến mức chẳng còn nghĩ gì đến đạo đức, chưa nói đến là người đứng đầu của một Đảng. Tự cho mình là người "khai quốc công thần", Lê Duẩn đã tạo cho mình một cuộc sống như vua chúa đời xưa, với hàng chục "cung tần mỹ nữ" thường xuyên vây quanh, giả danh là mát xa, đấm bóp. Nghe kể rằng một lần trong lúc đê mê sung sướng, Lê Duẩn đã ra lệnh cấp cho Hồng một lúc hai căn hộ liền, một ở Kim Liên, một ở Bách Khoa, mặc dù cô này chưa chồng con gì, trong lúc hàng vạn cán bộ khác chưa được phân một mét vuông nhà ở nào. Nhưng điển hình nhất là vụ quan hệ với nữ Bác sĩ Hồ Thị Nghĩa, con gái Hồ Viết Thắng. Thực ra Hồ Thị Nghĩa chỉ là của thừa của Lê Quang Hòa, nguyên Chính ủy Quân khu 4, nhưng Lê Duẩn có xá gì là của thừa hay không phải là của thừa, miễn là có cái gì mà giải trí sau khi đã được Lê Đức Thọ "duyệt". Xin nói thêm đây là một âm mưu thâm độc của Lê Đức Thọ.

Chính mục đích của Lê Đức Thọ là giăng bẫy đưa các cụ vào tròng để dễ dàng bịt mồm, bịt miệng các cụ lại, tha hồ mà mình lộng hành. Đến nỗi Lê Duẩn phải than vãn "Nhân sự Trung ương khóa 4, khóa 5 tôi chỉ biết 1/3 còn 2/3 ở đâu ra tôi chẳng biết gì". Có nghĩa là tất cả quyền hành trong Đảng về tay Lê Đức Thọ cả. Để đổi lại Lê Đức Thọ tạo cho các cụ đê mê trong chốn hành lạc, chẳng còn biết trời đất gì nữa. Mà có biết cũng chẳng dám nói, vì đã bị Lê Đức Thọ "yểm bằng gái" hết cả rồi.

Khi Hồ Thị Nghĩa có thai với Lê Duẩn, Ban Bí thư gặp riêng với Nghĩa khuyên nạo thai. Hồ Thị Nghĩa kiên quyết không nghe, nói: "Đây là con của Tổng Bí thư, rõ ràng thế, làm sao tôi phải nạo?" Do đó, trong đám tang Lê Duẩn, người ta thấy một thiếu phụ trẻ và đứa con trai chít khăn. Đó chính là Hồ Thị Nghĩa và đứa con trai, kết quả mối quan hệ bất chính của Tổng Bí thư Lê Duẩn với cô bác sĩ chăm sóc sức khỏe cho mình.

Đó là chuyện đời xưa, còn hiện nay, ba trong số năm đồng chí Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị cũng có biết bao nhiêu chuyện xấu xa. Lê Đức Anh thì bỏ vợ cũ, một nữ cán bộ cách mạng trung kiên lấy vợ mới. Chuyện này trước đây coi như một tội tày đình phải kiểm điểm, phải khai trừ khỏi Đảng. Còn vị đương kim Thường trực Bộ Chính trị hiện nay thì còn xấu xa hơn nhiều. Năm 1974, Thượng tá chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn 2 Lê Khả Phiêu quan hệ bất chính với một nữ nhân viên dưới quyền, việc vỡ lở ra, may mà Cục trưởng Cục Cán bộ lúc bấy giờ là Nguyễn Trọng Hợp, cùng quê Thanh Hóa, ém nhẹm đi cho Phiêu, và điều động Phiêu vào Quân khu 9 để phi tang. Có ai ngờ sự chuyển dịch ấy dẫn đến cuộc gặp gỡ giữa hai thầy trò họ Lê, Lê Đức Anh và Lê Khả Phiêu, tạo nên một "cặp bài trùng" cực kỳ nguy hiểm, thao túng toàn bộ nền chính trị nước nhà trong suốt bao đại hội: Đại hội 7, 8 vừa qua và Đại hội 9 sắp tới. Khi Lê Đức Anh sang làm Tổng Tư lệnh Cămpuchia, kéo Lê Khả Phiêu sang giúp về công tác chính trị, và thế là bắt đầu một "liên minh ma quỷ".

Saturday, October 17, 2009

Tưởng Năng Tiến – Mưa ơi sao khổ thế

Tưởng Năng Tiến – Mưa ơi sao khổ thế

Posted using ShareThis

Hoa Kỳ bày tỏ quan ngại về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam

 Khánh An, phóng viên đài RFA
2009-10-16

Hôm thứ Tư 14/10, Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội đã ra một thông cáo báo chí bày tỏ mối quan ngại sâu sắc về vấn đề nhân quyền của Việt Nam đối với các bản án dành cho 9 nhà đấu tranh dân chủ Việt Nam vào hồi tuần rồi, cùng với các vụ việc xảy ra gần đây với các tăng sinh chùa Bát Nhã.

Photo: RFA

Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak trong một dịp trả lời phỏng vấn RFA” (hình minh hoạ)

Đây là một hành động mà Bộ Ngọai giao Việt Nam cho là “can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam”. Riêng đối với những người Mỹ gốc Việt, họ nghĩ gì về vấn đề này?

Khánh An tìm hiểu thêm qua bài tường trình sau.
Toà đại sứ Mỹ lên tiếng

Bản Thông cáo Báo chí của Đại Sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam đã đề cập đến các bản án của những nhà đấu tranh dân chủ vừa bị kết án tuần vừa rồi, cùng với vụ bắt giam nhà văn Trần Khải Thanh Thủy cũng như việc giải tán tu viện Bát Nhã của chính phủ Việt Nam.

Phía Đại Sứ quán Hoa Kỳ cho rằng các nhà dân chủ chỉ đơn giản bày tỏ quan điểm của mình một cách ôn hòa và điều này hoàn toàn không gây nguy hại đến an ninh quốc gia. Ngòai ra, với việc giải tán tu viện Bát Nhã, Lâm Đồng, Việt Nam đã đi ngược lại với các cam kết quốc tế về quyền con người.

  Phía Đại Sứ quán Hoa Kỳ cho rằng các nhà dân chủ chỉ đơn giản bày tỏ quan điểm của mình một cách ôn hòa và điều này hoàn toàn không gây nguy hại đến an ninh quốc gia. Ngòai ra, với việc giải tán tu viện Bát Nhã, Lâm Đồng, Việt Nam đã đi ngược lại với các cam kết quốc tế về quyền con người.

Việc ra Thông cáo báo chí của Đại Sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam đã gây rất nhiều chú ý đối với cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Nói về vụ việc xảy ra ở tu viện Bát Nhã, bà Đỗ Quyên, một phật tử sống ở miền nam California, cho rằng:

Không phải là Chính phủ Hoa Kỳ không, mà hiện nay là cả thế giới họ đang nghe tiếng nói của rất nhiều phật tử quốc tế.

Cho nên tôi hy vọng là tiếng nói của những người phật tử đó sẽ tới tai chính quyền của các quốc gia tân tiến bên đây. Nếu đồng lọat họ có tiếng nói với Chính phủ Việt Nam thì lúc đó nó sẽ có ảnh hưởng rất tốt.

Chính phủ Mỹ là một trong những chính phủ rất mạnh nên tất nhiên tiếng nói của họ cũng có trọng lượng lắm. Hơn nữa, số thiền sinh học theo pháp môn Làng Mai tại Mỹ rất đông và cũng có rất nhiều người có ảnh hưởng trong xã hội.

  Tôi cũng hy vọng tiếng nói của Chính phủ Hoa Kỳ sẽ giúp cho các tăng ni Bát Nhã được thỏa nguyện. Mà nguyện vọng của họ rất giản dị, chỉ là được tu tập với nhau một cách hợp pháp.
  Bà Đỗ Quyên, CA

Cho nên, tôi cũng hy vọng tiếng nói của Chính phủ Hoa Kỳ sẽ giúp cho các tăng ni Bát Nhã được thỏa nguyện. Mà nguyện vọng của họ rất giản dị, chỉ là được tu tập với nhau một cách hợp pháp.

Bản Thông cáo trên của Đại sứ quán Hoa Kỳ cũng yêu cầu Chính phủ Việt Nam tôn trọng các Công ước Quốc tế về quyền con người và lập tức trả tự do cho những người bất đồng chính kiến đã đấu tranh ôn hòa để bày tỏ quan điểm.

Tuy nhiên, theo ý kiến của một số người Mỹ gốc Việt, việc ra Thông cáo tuy có gióng lên một “tiếng nói có trọng lượng” nhưng như thế vẫn chưa đủ.

Giáo sư Đòan Viết Họat, hiện cư ngụ tại tiểu bang Virginia, để đạt được hiệu quả mong muốn trong vấn đề dân chủ, nhân quyền của Việt Nam, thì cần phải gắn vấn đề nhân quyền vào trong mọi quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Ông nói:

Tôi nghĩ rằng tuyên bố thế vẫn chưa đủ vì thực sự Việt Nam đã làm như vậy và cũng sẽ tiếp tục làm như vậy nếu mà không có những hành động cụ thể hơn ngòai những tuyên bố.

Tất nhiên, tuyên bố thì mình rất ủng hộ. Nhưng thực sự tôi nghĩ Hoa Kỳ đứng trên một vị thế có thể làm hơn thế chứ không phải chỉ có tuyên bố.

  Bản Thông cáo trên của Đại sứ quán Hoa Kỳ cũng yêu cầu Chính phủ Việt Nam tôn trọng các Công ước Quốc tế về quyền con người và lập tức trả tự do cho những người bất đồng chính kiến đã đấu tranh ôn hòa để bày tỏ quan điểm.

Nhân quyền trong bang giao Mỹ-Việt

Điều mà chúng tôi vẫn luôn luôn đòi hỏi và yêu cầu đó là phải gắn liền tình hình cải thiện nhân quyền vào trong mọi quan hệ với Việt Nam, kể cả những quan hệ giúp đỡ về tài chính chẳng hạn. Hiện nay thì vấn đề cải thiện nhân quyền vẫn chưa được đặt như là một điều kiện trong quan hệ với Việt Nam. Thành ra, tôi nghĩ rằng cái đó vẫn chưa đủ.

Trong khi đó, Giáo sư Nguyễn Thanh Trang, Trưởng ban Phối hợp Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, cho rằng trước đây Hoa Kỳ đồng ý đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt (CPC) về vấn đề tôn giáo là do sách lược ngọai giao cộng với những biểu hiện bề ngòai cho thấy sự cải thiện của Việt Nam.

Trên thực tế, Việt Nam chưa hoàn toàn có tự do tôn giáo. Tuy nhiên, theo ông, việc ra Thông cáo báo chí cũng là một hành động tích cực của Bộ ngọai giao Hoa Kỳ. Giáo sư cho biết:

Việc mình có mừng với cái Thông cáo báo chí của Bộ Ngọai giao không thì mình mừng vì đây là lần đầu tiên mà Bộ ngọai giao Hoa Kỳ qua Sứ quán tại Việt Nam đã lên tiếng khẳng định nhà cầm quyền Việt Nam vi phạm nhân quyền một cách trầm trọng.

 Chúng tôi ước mong rằng Bộ ngọai giao bước thêm một bước nữa là thừa nhận, xác nhận là qua vụ Bát Nhã, qua vụ đàn áp Công Giáo tại Huế, Đồng Hới, Hà Nội thì cần phải đưa Việt Nam trở lại CPC.

  Điều mà chúng tôi vẫn luôn luôn đòi hỏi và yêu cầu đó là phải gắn liền tình hình cải thiện nhân quyền vào trong mọi quan hệ với Việt Nam, kể cả những quan hệ giúp đỡ về tài chính chẳng hạn. Hiện nay thì vấn đề cải thiện nhân quyền vẫn chưa được đặt như là một điều kiện trong quan hệ với Việt Nam. Thành ra, tôi nghĩ rằng cái đó vẫn chưa đủ.
  Giáo sư Đòan Viết Họat

Giáo sư Trang cũng cho biết thêm, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam đã gửi một bức thư cho Tổng thống Barack Obama vào tháng 8 để vận động Thượng viện Hoa Kỳ thông qua Dự luật Nhân quyền, đồng thời đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC. 

Trong khi đó, về phía Việt Nam, Bộ Ngọai giao Việt Nam cho rằng hành động của Đại sứ quán Hoa Kỳ là can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Liệu dư luận có đồng tình với phát biểu trên của người phát ngôn Bộ Ngọai giao Việt Nam? Trong bài tường trình tiếp theo, Khánh An sẽ gửi đến quý vị những ý kiến xung quanh về vấn đề này.

Friday, October 16, 2009

Ăn bẩn, ăn tạp ngay cả đài tưởng niệm Điện Biên Phủ

DCVOnlineTin ngắn (AFP, SSGP)


Hối lộ ngay cả khi xây đài tưởng niệm chiến tranh


HÀ NỘI - Công tố viên của Viện KSND tiến hành kết tội hối lộ tám người trong việc xây dựng đài tưởng niệm chiến thắng thực dân Pháp của Việt Nam năm 1954, theo tường trình hôm qua ngày thứ Tư 14 tháng Chín.

Đài tưởng niệm được khánh thành năm 2004 để đánh dấu lần thứ 50 ngày Pháp bị đánh bại ở Điện Biên Phủ, một biến cố quan trọng trong việc trổi dậy của Việt Nam như một nước độc lập.

Nhưng tượng đài đã bị hư và biến dạng nhanh chóng, đã đưa đến một cuộc điều tra và người ta phát hiện tượng đài đã được đúc bằng đồng phế liệu, hỗn tạp thay vì đồng nguyên chất như đã được đồng ý trong hợp đồng, báo Sài Gòn Giải Phóng cho hay trên mạng điện tử của báo.

Khi được liên lạc với phóng viên của hãng thông tấn AFP, viên chức của phòng công tố từ chối cho ý kiến.

Ngay cả đài tưởng niệm Điện Biên Phủ cũng bị rút ruột. Ôi hương linh những người đã hy sinh cho tổ quốc ở chiến trường Điện Biên năm xưa! Nguồn: AFP
Đài tưởng niệm này được dựng gần nơi chiến trường lịch sử -- đã được xây với ngân qũy 40 tỉ đồng (2 triệu 3 đô-la). Nhưng nhà thầu chính đã thuê một công ty con đúc tượng với số tiền ít hơn và bỏ túi, chia chác nhau phần còn lại.

Cuộc điều tra được tiến hành hơn hai năm trước đây, và công an thoạt đầu đánh gía số tiền biển thủ hơn 13.500 đô-la. Nhưng theo bài tường thuật của báo SSGP, thì Công ty Mỹ thuật Trung ương được UBND tỉnh Lai Châu chỉ định thầu, giao thực hiện trọn gói gói thầu số 3 (phần tượng đài) với giá trị 40 tỷ đồng (2 triệu 3 đô-la). Tuy nhiên, Công ty Mỹ thuật Trung ương này lại giao cho Công ty TNHH Đoàn Kết (Ý Yên, Nam Định), do ông Nguyễn Trọng Hạnh làm Phó Giám đốc thực hiện đúc tượng đồng với giá trị hợp đồng là 18,5 tỷ đồng (1 triệu đô-la)... Sự khác biệt và thất thoát lên tới 1 triệu 3 đô-la, hơn một nữa gía trị tổng công trình!

Trong những người bị kết án, là Lương Phượng Các (nguyên Phó Giám đốc Sở VH-TT tỉnh Điện Biên, kiêm Giám đốc Ban quản lý dự án di tích Điện Biên Phủ - BQLDA), Võ Thị Hồng (nguyên Giám đốc Công ty Mỹ thuật Trung ương), Nguyễn Trọng Hạnh (Phó Giám đốc Công ty TNHH Đoàn Kết), PGS-TS Lê Huyên (nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội), PGS-TS Nguyễn Đức Sứng (nguyên Chủ nhiệm khoa Tạo dáng, Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội).

Theo hệ thống pháp luật Việt Nam, một phiên tòa sẽ quyết định có nên tiến hành với những cáo trạng này hay không.

Việt Nam hiện là một trong những nước tham nhũng tồi tệ nhất thế giới.


© DCVOnline

Wednesday, October 14, 2009

Hoa-Việt trong Thế Cân Bằng Quyền Lực Châu Á Thái Bình Dương

Trích NguoiViet Boston

Huỳnh Công Luận

image001Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vừa kỹ niệm 60 năm Quốc Khánh ngày 1 tháng 10 năm 2009, tại Quảng trường Thiên An Môn với những thành tựu mà quốc gia này đã đạt được.

(AFP Photo)

Ròng rã 60 năm đó, đảng CS Trung Hoa luôn quyện chặt Việt Nam vào các bước thăng trầm của anh hàng xóm khổng lồ trong ý đồ bành trướng, không chỉ Việt Nam mà hầu hết các nước có cùng biên giới với họ. Chúng ta sẽ ôn lại quá trình “bình thiên hạ” của Hán Tộc gần đây để hiểu rõ chủ nghĩa chủng tộc núp phía sau thuyết “Tu-Tề-Trị-Bình” của Khổng Tử. Chúng ta cũng sẽ ôn lại cách đối phó của Tổ Tiên chúng ta để khỏi bị đồng hóa. Và sau cùng, tìm ra thế “Cân Bằng Quyền Lực” để sinh tồn.

Quá Trình “Bình Thiên Hạ” của Hán Tộc.

Trung Hoa tuy có nền văn minh rất sớm nhưng họ đã đoán sai: “trái đất hình vuông” mặc dù họ đã định được bốn phương tám hướng và lập ra Bát Quái Đồ làm căn bản cho khoa Thiên Văn, Địa Lý. Họ đã tự đặt nước họ vào vị trí trung tâm của quả cầu hình vuông ấy. Chỉ cái tên Trung Hoa (Chúng Quả) thôi, người Hán đã biểu lộ tánh cực kỳ kiêu ngạo như nhà nghiên cứu Trung Quốc Dương Danh Dy đã đề cập trong bài tham luận “Trung Quốc ‘bao giờ cũng đúng’?” của ông: “Các hoàng đế Trung Hoa luôn coi mình là trung tâm của thế giới. Trung Quốc là ‘nước ở giữa’, ở đó có ‘con trời’ (Thiên tử) cai trị muôn dân. Các nước xung quanh theo thứ tự được phân chia thành đông Di, tây Địch, bắc Nhung, nam Man.
Mấy tỉnh miền nam Trung Quốc ngày nay và Việt Nam được “vinh dự” thuộc hàng ngũ “nam Man” – là phiên thuộc, là chư hầu của Thiên tử. Xin lưu ý là 3 trong 4 chữ Hán: Di, Địch, Nhung, Man nói trên, có tới 3 chữ có bộ thú chỉ thú vật ở bên cạnh.”
[1]
Ngay cả Phát Xít Đức cũng chỉ tự coi chủng tộc mình là vô địch chứ chưa dám coi các dân tộc khác là loài cầm thú như người Hoa.
Từ tính kiêu ngạo tột cùng ấy, vua chúa Trung Hoa có một chính sách bành trướng và đồng hóa tàn bạo nhứt trong lịch sử nhơn loại. Chúng ta hãy nghe lời kể của ông Dương Danh Dy:

image004“Không biết tên gọi của bao nhiêu nước đã biến mất trên bản đồ Trung Quốc để lãnh thổ nước này từ chỗ chỉ có mấy vùng đất không lớn lắm ở một phần lưu vực thuộc sông Hoàng Hà nay đã mênh mông rộng tới 9,6 triệu km2?
Không biết bao nhiêu dân tộc đã bị đồng hoá, kể cả dân tộc đã từng vào thống trị Trung nguyên xây dựng nên triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc mà nay chỉ còn chưa tới một trăm người nói và viết thành thạo tiếng mẹ đẻ?
Tất cả quá trình bành trướng lãnh thổ, đồng hóa dân tộc bằng thủ đoạn tàn bạo hay kế độc mưu sâu đều được che đậy, mỹ hoá bằng những câu chữ tuyệt đẹp: “mở mang bờ cõi”, “hoà hợp dân tộc”…

Chính các vị “Thiên Tử” ấy đã bày ra không biết bao hình phạt kinh hoàng để bắt kẻ bị trị phải khuất phục; nào là “tru di tam tộc” (một người phạm tội thì bị giết cả ba họ), bỏ tử tội vô vạc dầu sôi, hoặc cho voi dày ngựa xé; vua chết phải chôn hàng trăm người sống theo để hầu hạ… Trong thời Mao Trạch Đông, việc chôn sống tập thể là chuyện bình thường. Mới 2 thập niên trước đây, trước sự bàng hoàng của thế giới văn minh, họ đã dùng xe tăng và quân đội sát hại hàng vạn sinh viên đòi “Dân Chủ”, tại nơi mà họ vừa kỹ niệm 60 năm để vừa răn đe các mầm loạn bên trong vừa hù dọa lân quốc và thế giới bên ngoài.

image006 image008

Hình phạt của Thiên Tử Đặng Tiểu Bình trong kế sách “bình thiên hạ” tại THIÊN AN Môn (hình Wall Street Journal)

Từ 2,5 thiên niên kỷ trước, Khổng Tử (551 trước Công Nguyên), đã dùng thuyết chính danh: Tu, Tề, Trị, Bình để gồm thâu thiên hạ về một mối, trong đó Hán tộc là chúa tể. Trung Quốc ngày nay gồm 56 dân tộc và theo điều tra dân số năm 2000, số dân sắc tộc là khoảng 104 triệu, bằng 9% tổng số dân cả nước.
Như vậy, nhờ “bình thiên hạ” mà từ một nhóm nhỏ ở trung nguyên, người Hán đã chiếm tới 91% tổng số mà họ có bây giờ. Vậy mà Hồ Cẩm Đào còn gấp rút thiết lập các Học Viện Khổng Tử ở qui mô toàn cầu trong đó có Việt Nam để tiếp tục “bình thiên hạ” trên các phần còn lại của thế giới trong thế kỷ tới. Vì sao vậy?
Vì: “Mặc dù đất rộng như vậy, người ta vẫn đang kêu rên là một trong mấy nước bị mất nhiều lãnh thổ nhất thế giới, phía nào cũng mất đất thậm chí còn ‘mất cả phần đất thuộc nguyên một nước bây giờ’ ”.
Chỉ trong ba thập niên, họ đã gây ra ba cuộc chiến biên giới với Ấn Độ (1962), Liên Xô (1969), Việt Nam (1979) và hai cuộc hải chiến với riêng Việt Nam (1973 và 1989) để gồm thâu đất đai, biển cả và hải đảo trong kế sách “bình thiên hạ” của Khổng Khâu.
Mặc dù đã có tới hơn 2 triệu km2 lãnh hải, họ vẫn đang rêu rao “còn mất khoảng 1,2 triệu km2 biển nữa (trong đó có khoảng 800.000km2 tại Biển Đông).”
Trong các cuộc xâm lăng, “lần nào họ cũng chủ động đánh trước nhưng lại kêu la rằng ‘mình là người bị hại’”; và con cháu của Khổng Phu Tử “lúc nào cũng tự coi mình là người duy nhất đúng trong mọi chuyện bang giao.”

Ông Dương Danh Dy kể tiếp:

image010Con cháu Khổng Tử đang “bình thiên hạ” tại VN (1979)

“Người Việt Nam không thể nào quên được cuộc Chiến tranh Biên giới năm 1979, khi họ tung 60 vạn quân chủ lực, mở cuộc tấn công trên suốt sáu tỉnh biên giới, giết hại dã man người Việt, phá hoại nặng nề cơ sở vật chất của nhân dân Việt Nam mà lại rêu rao là “đánh trả tự vệ”, là để “dạy cho Việt Nam bài học”.
Chỉ có những kẻ không còn lương tri hay những người đầu óc có vấn đề mới có thể nghe lọt tai những luận điệu đó.
Lại còn chuyện này nữa: ai nâng đỡ, ai khuyến khích, ai cung cấp tiền của và phưong tiện để Khmer Đỏ gây ra nạn diệt chủng tại Campuchia?
Thế mà thoắt một cái họ đã biến mình thành “cứu tinh”, thành người “bạn tốt” của đất nước đau thương ấy.”

Thử hỏi, trên thế gian này còn có dân tộc nào dám ngạo mạn, tàn ác và điêu ngoa hơn thế?

Tổ Tiên chúng ta đã đối phó chính sách “bình thiên hạ” của Hán Tộc ra sao?

Mặc dù bị đô hộ tổng cộng cả ngàn năm trong lịch sử 4,000 năm, Việt Nam vẫn không bị đồng hóa mà còn giữ được độc lập. Đó là nhờ Tổ Tiên chúng ta đã quyết liệt chống lại Hán tộc bằng ba phương tiện: độc lập về văn hóa, dùng ngôn ngữ riêng biệt và nêu cao chí quật cường.

1. Độc lập về văn hóa:

Tuy bị Bắc thuộc lâu dài và qua nhiều thời kỳ khác nhau, Tổ Tiên ta đã giữ được rất nhiều nét văn hóa riêng của mình bằng cách pha trộn văn minh Ấn Độ, Chàm, và sau này ảnh hưởng lớn của văn hóa phương tây. Đặc biệt, văn hóa miền Bắc rất đa dạng; nó được kết tụ qua hàng ngàn năm lịch sử qua các phong tục như: nhuộm răng, ăn trầu, lễ hội Chùa Hương, giỗ tổ Hùng Vương, hội Lim, hội xuống đồng của người Tày. Ở các dân tộc miền núi còn có ngày hội tình yêu, đến mỗi dịp Xuân về những đôi trai gái tập trung lại chơi ném Còn, hát Đối…
Xã thôn tự trị cũng là một nét đặc thù khác mà Tổ Tiên ta đã dựa vào đó để giữ được bản sắc dân tộc. Làng thường được bao bọc bởi lũy tre xanh; với cổng tam quan, đình, chùa và các loại cây đa, dương, trôm và liễu làm tăng thêm vẽ đẹp của mỗi miền. Đình làng là nơi thờ cúng các vị có công với làng nước, khi chết được vua ban sắc chỉ phong Thần; đình cũng là nơi dân làng hội họp hoặc tổ chức các lễ hội của địa phương. Những người đứng đầu làng được mọi người tôn kính, thường là người già cả, hào phú và có học vị cao. Mỗi làng có những lệ riêng, phong tục tập quán mỗi nơi cũng khác và được lưu truyền qua nhiều thế hệ mà chính phủ trung ương ít khi can dự vào. Dân gian mới có câu “luật vua thua lệ làng” là vậy.
Dân Việt có quan niệm “ứng xử hài hòa” với thiên nhiên do nông thôn là nền tảng văn hóa của mình. Từ quan niệm đó, kinh thành Huế được xây dựng theo quan niệm hài hòa với cảnh trí xung quanh.
“Kiến trúc cung đình Huế đã tiếp thu và kế thừa kiến trúc truyền thống Lý, Trần, Lê là tất yếu để chống sự đồng hoá và cũng chống sự lạc hậu nên đồng thời tiếp thu tinh hoa của mỹ thuật Trung Hoa nhưng đã được VN hóa một cách có ý thức dân tộc của các nghệ nhân từ các miền Nam Bắc quy tụ về xây dựng Kinh đô, kể cả những người thợ gốc Minh Hương Trung Quốc và Chămpa. Đặc biệt đã được hiện đại hóa kỹ thuật của những công trình sư người Pháp phục vụ dưới thời Gia Long, theo phương châm cơ bản tiếp thu có chọn lọc những kiến trúc thích nghi với tâm hồn người Việt và Việt hóa dần để phù hợp với tâm lý bản địa đem lại những đặc trưng bản sắc kiến trúc Huế.” [2]

Về tôn giáo cũng thế, Phật Giáo ở Việt Nam nặng về gốc nguyên thủy của Đạo Phật với 4 đặc điểm căn bản sau đây:
a. Tự nương tựa chính mình; làm theo lời Phật dạy thay vì thờ lạy ngài để được chứng quả.
b. Trí huệ là vĩnh cửu, danh lợi là vô thường.
c. Tự thắng mình là toàn thắng.
d. Việc tu tập thiền định còn gọi là quán hơi thở, niệm hơi thở hoặc kiểm soát hơi thở chính là phương tiện tự giải thoát và ngộ Đạo của Phật. Ai cũng có thể làm được như vậy để thành Phật như ngài. Đạo Phật là một khoa học rốt ráo giúp con người thoát ra khỏi vòng luân hồi sinh tử.
[3]
Phật Giáo ở Trung Hoa trái lại hoàn toàn biến chất, pha trộn với văn hóa thờ cúng. Hán Tộc đã biến tính khoa học của Phật Giáo thành công cụ mê tín dị đoan, mê hoặc lòng người để hỗ trợ cho đường lối cai trị nghiệt ngã của các Thiên Tử phương Bắc. Nơi mà chùa chiền được xem trọng; người giàu có xây chùa, trọng tăng để được phước; phật tử hành hương lễ bái để được Phật độ. Cách tu ấy hoàn toàn khác với chủ trương của Đức Phật; thực tế chỉ là phương tiện ru ngủ, chống bạo loạn của người Hán mà thôi.
Xét toàn cảnh, từ thôn xã đến triều đình và đạo pháp, dân tộc Việt luôn làm khác với người Hoa để tránh họa diệt chủng vậy.

2. Dùng ngôn ngữ riêng biệt:

Khi chưa bị Pháp đô hộ, Tổ Tiên ta đã dùng chữ Nôm là loại chữ Hán phát âm kiểu phương Nam để chống lại chính sách đồng hóa về ngôn ngữ của Trung Hoa. Đến khi người Pháp sang cai trị Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã may mắn tiếp thu các mẫu tự La Tinh (a, b, c, d…) qua các nhà truyền đạo giòng Tên, trước tiên là những người Bồ Đào Nha (portuguais), sau là Alexandre Rhodes (1591-1660), một Cha Đạo người Pháp, “đã viết và in ra bài giảng “Phép giảng 8 ngày”: nguyên bản La Tinh, đối chiếu với bản dịch ra Việt ngữ viết bằng chính mẫu tự La Tinh ghép lại theo âm điệu của người bản xứ. Theo nhà sưu khảo Ngô Văn Tạo thì:
“Đó là cơ sở giúp người Việt chúng ta tiếp nhận văn minh Tây phương. Văn học gia Petrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898) đã tình nguyện từ bỏ trường tu đạo, mà ở đó ông đã học Pháp Văn, Hán Văn, chữ Nôm và Quốc ngữ, để giảng dạy chữ Quốc ngữ (trong trường Thông Ngôn, 1862 – trường thông ngôn đầu tiên của chính quyền Pháp ở Nam Việt Nam), và viết những bài văn Quốc ngữ trên tờ báo Gia Định Báo (1865), tờ báo đầu tiên với ba thứ tiếng Quốc Ngữ, Pháp Văn và Hán Việt. Trương Vĩnh Ký cũng là người đầu tiên truyền bá Kim Vân Kiều, bản mà ông đã phiên âm từ chữ Nôm ra Quốc ngữ! Công lao lớn lao trong thời sơ khai đó, phải nói tới Huỳnh Tịnh Của (1834-1907), người đã tra cứu thiết lập Đại Nam Quốc Âm Tự Vị (khiêm tốn không phải là Tự Điển, nhưng đến ngày nay vẫn còn có giá trị như Tự điển tiếng Việt Nam Quốc ngữ). Thế hệ ngay sau là Phan Châu Trinh, của phong trào Duy Tân, sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục (1904) trường truyền bá Quốc Ngữ, là Nguyễn Văn Vĩnh, chủ nhiệm báo Đại Nam Đăng Cổ tùng báo (1906), tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở ngoài bắc, tận tụy tâm trí truyền bá Quốc ngữ. Có lẽ hai người đánh dấu nhất trong sự phổ thông Quốc ngữ trên toàn quốc đầu thế kỷ thứ hai mươi, sau Trương Vĩnh Ký ở trong Nam thế kỷ thứ mười chín, là Phạm Quỳnh (1892-1945), 17 năm làm chủ nhiệm tờ báo Nam Phong (circa 1917-1937), xứng danh là tờ báo mở kỷ nguyên Quốc ngữ của văn học Việt Nam; người thứ hai là Phan Khôi (1887-1959), nhà báo nhà biện luận, tác giả bài thơ mới lãng mạn đầu tiên của văn học Việt Nam: Tinh Già (1932), những bài báo với lời văn tân tiến sắc bén ngay từ những năm 1930 cho tận cuối đời (thời kỳ vụ án Nhân Văn 1956 ở Hà Nội).[4]
Việt Nam đã hoàn toàn thoát khỏi nguy cơ bị đồng hóa về ngôn ngữ của người Hán và trở thành quốc gia duy nhứt có ngôn ngữ bằng mẫu tự La Tinh trong vùng.
Vậy mà gần đây người ta lại hối hả thành lập trường dạy tiếng Hoa ngang bậc Đại Học với cái tên làm cho mọi người phải giật mình hồi tưởng quá trình “bình thiên hạ” của Bắc phương, đó là “Học Viện Khổng Tử” (HVKT). Chúng ta hãy cùng nghe bà Jocelyn Chey, một nhà cựu ngoại giao Úc hiện đang là giảng sư của Đại Học Sydney cảnh báo:

image012 Jocelyn Chey

“Các ĐH nên cảnh giác đối với những sai lệch có thể xảy ra nếu các HVKT này trở nên năng động hơn trong các chương trình nghiên cứu và giảng dạy của mình. Các HVKT, với lời hứa hẹn sẽ rèn luyện và đào tạo tư cách và vốn luyến (xin sữa: liếng) sinh ngữ của các nhà ngoại giao và chính trị gia tương lai, đã biểu lộ khả năng thiết lập kế hoạch đường dài của Trung Quốc; một khả năng giống như những gì tổ sư đã dạy. Khổng Tử đã từng nói, “Nếu anh suy nghĩ bằng khoảng cách thời gian của 1 năm, hãy gieo một hạt giống; nếu bằng khoảng cách thời gian của 10 năm, hãy trồng các cây giống; nếu bằng khoảng cách thời gian của 100 năm, hãy dạy cho người ta.” [5]
Bà Jocelyn hoàn toàn đúng; 100 năm trước họ chưa có HVKT, vậy mà chỉ trước đây 1 năm thôi, con cháu Khổng Tử đã chiếm đa số trong nội các trình Vua của chính trị gia người Thái gốc Hoa Thaksin ở Thái Lan; khiến Vua Bhumibol Adulyadej phải bàng hoàng ra lịnh cho quân đội đảo chánh để tránh họa “bình thiên hạ” của những người “khách trú” không mời mà đến một cách hòa bình.
Các thế hệ con dân VN, ai được bước đến bực thềm của Học Viện Khổng Tử hãy luôn nhớ lời cảnh báo của Bà Jocelyn và hành động kịp thời của Vua Thái Lan.

3. Nêu cao chí quật cường:

Tuy là một quốc gia không lớn, người không đông, Việt Nam có nhiều phen vì thế yếu phải thần phục Bắc Triều; nhưng khi có thời cơ, cả dân tộc luôn biểu lộ ý chí quật cường, thoát vòng nô lệ.
Chúng ta hãy lắng nghe lời dạy con của ông Bảng Nhãn Nguyễn Phi Khanh tại Ải Nam Quan: “Con phải trở về mà lo trả thù cho cha rửa thẹn cho nước, chớ đi theo khóc lóc mà làm gì.” Tiến Sĩ Nguyễn Trãi đã nghe lời cha quay trở lại và ngày đêm lo việc phục thù, ra giúp Bình Định Vương Lê Lợi dẹp tan giặc Minh, viết ra bài Bình Ngô Đại Cáo để đời.
Trong thời buổi: “Tuấn kiệt như sao sáng sớm, nhân tài như lá mùa thu. Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần. Nơi duy ác hiếm người bàn bạc.” (Bình Ngô Đại Cáo), Lê Lai đã vì nước liều thân cứu chúa, đổi mạng mình để đại nghiệp được thành.
Trên đây mới chỉ là hai trường hợp điển hình trong hàng triệu tấm gương quật cường của dân tộc Việt.
Lời dạy con của Nguyễn Phi Khanh và tấm gương hy sinh vì đại nghĩa của Lê Lai luôn ngời sáng trong lịch sử Việt Nam. Hai tấm gương ấy há chẳng đủ cho mọi tầng lớp con dân VN ngày nay suy gẫm sao?

Hãy tạo thế “Cân Bằng Quyền Lực” để Sinh Tồn

Trong quá trình giữ nước, chúng ta phải quan tâm hai điều:
1. Dùng ngoại giao và quân sự để cân bằng ngoại lực; nghĩa là phải liên lập với quốc gia hùng mạnh bằng hoặc hơn với quốc gia mà mình phải đương đầu, đồng thời phải canh tân quân đội bằng phương tiện khác hơn quân đội sẽ đánh mình.
2. Dùng nội trị khôn ngoan để dưỡng dân, tu chỉnh và kết tụ nội lực để vừa tránh bị lạc hậu, vừa có đủ sức đối kháng và chịu đựng khi xảy ra chiến tranh.
Chúng ta sẽ thảo luận chi tiết các vấn đề này trong một đề tài kế tiếp: “Thế Cân Bằng Quyền Lực cho Châu Á Thái Bình Dương.”

Tài Liệu tham khảo:
[1] Dương Danh Dy; “Trung Quốc ‘bao giờ cũng đúng’?” BBC, ngày thứ ba, 29 tháng 9, 2009.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/09/090929_china_foreignpolicy.shtml
[2] vn.net, Nghệ thuật kiến trúc – Cung Đình Huế
http://www.vn.net/article.php/20071010080718559
[3] Nguyễn Đạt Nhân; Phục Hưng Đạo Phật.
[4] Ngô Văn Tạo; Chữ Nôm và Quốc Ngữ
http://ngovantao.blogspot.com/2009/08/chu-nom-va-quoc-ngu.html
[5] Jocelyn Chey; Con Rồng Hòa Nhã và Học Viện Khổng Tử
Dàn Chim Việt; http://danchimviet.com/articles/1283/1/Con-Rng-Hoa-Nha-va-Hc-Vin-Khng-T/Page1.html

Tuesday, October 13, 2009

Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy vẫn bị giam giữ

Trích VOA News


Tran Khai Thanh Thuy
Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy

Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, một nhân vật bất đồng chính kiến ở Việt Nam hiện vẫn bị giam giữ sau khi bị bắt vì tội “cố ý gây thương tích”.

Hãng thông tấn Pháp – AFP trích lời người thân của bà Trần Khải Thanh Thủy cho hay bà bị bắt sau khi tìm cách tham dự phiên tòa xét xử một số nhân vật bất đồng chính kiến khác ở Hải Phòng.

Trong khi bản tin đăng hôm 9/10 trên báo điện tử Dân Trí của Việt Nam cho hay bà Trần Khải Thanh Thủy bị bắt vì hành vi tấn công gây thương tích một người sau khi hai bên đôi co với nhau.

Báo Lao Động cuối tuần cũng trích lời ông Vũ Công Long, trưởng công an quận Đống Đa cho hay bà Trần Khải Thanh Thủy bị bắt vì tội cố ý gây thương tích. Tội danh này có thể dẫn đến một bản án tù giam.

Theo bản tin của hai báo này thì chồng bà Thủy đã dùng mũ bảo hiểm đập vào mặt một người đàn ông sau khi cãi cọ với nhau về việc đỗ xe hôm thứ Năm và sau đó bà Thủy đã dùng gạch ném vào mặt người đàn ông này.

Tuy nhiên, bản tin hãng thông tấn Pháp trích lời một số giới chức ngoại giao cho hay hôm thứ Năm tuần trước xe của bà Thủy đã bị chặn khi đang trên đường tới Hải Phòng để tham dự phiên tòa xử 6 nhà bất đồng chính kiến vì tội treo biểu ngữ cổ vũ cho dân chủ, và về tội tiến hành các hoạt động mà phe công tố cho là “chống phá nhà nước”.

Một nhà ngoại giao cho hay bà Thủy đã bị công an “ngược đãi” hôm thứ Năm và sau đó được thả, tuy nhiên bà đã bị bắt trở lại vào đêm hôm đó.