Tường An, thông tín viên RFA
2012-04-30
Sau 30 tháng 4, chiến tranh VN không chỉ để lại nhiều mất mát, đổ
vỡ mà đôi khi cũng có những mối tình đã đứng lên từ những đổ vỡ ấy.

Binh sĩ miền Nam VNCH trong thành phố Quảng Trị và tại vùng phụ cận năm 1972.
Tường An kể lại một trường hợp ngẫu nhiên, từ một bài hát đã biến hai
người đã từng kẻ thù của nhau, trở thành hai người bạn thân thiết. Một
bài báo của Đức cũng đã viết về tình bạn này dưới tựa đề « Von feinden
zu Freunden. Eine deutsch-vietnamesische Spurensuch" tạm dịch "Từ thù
thành bạn. Đi tìm một chứng tích Đức-Việt". Đó là câu chuyện của hai anh
Lê Nam Sơn và anh Phạm văn Mài.
Ở hai đầu chiến tuyến
Mỗi năm, đến ngày 30 tháng 4, cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn được kể
lại bằng những xúc động vẫn còn nóng bỏng của những người ở bên hai bờ
chiến tuyến. 37 năm trôi qua, đất nước có thể đã thống nhất nhưng lòng
người vẫn còn biên giới, vết thương 30 tháng 4 với nhiều người tưởng
chừng như không thể hàn gắn được.
Thế nhưng, thế giới không có quy luật cho lòng người. Vẫn có một chỗ
đứng cho tình yêu thương, vẫn có nơi mà những mất mát có thể hàn gắn
được.
Đó là một buổi chiều của năm 1994, trong một hội trường nhỏ bé của thành phố Hannover, Đức quốc khi một người đàn ông với giọng Bắc Hà Nội ôm đàn cất tiếng hát bản « Những ngày xưa thân ái » , khởi đầu cho một tình bạn của hai người đã từng là kẻ thù, đã từng cầm súng bắn vào nhau trên cùng một trận địa ở Cổ Thành Quảng Trị.
Đó là một buổi chiều của năm 1994, trong một hội trường nhỏ bé của thành phố Hannover, Đức quốc khi một người đàn ông với giọng Bắc Hà Nội ôm đàn cất tiếng hát bản « Những ngày xưa thân ái » , khởi đầu cho một tình bạn của hai người đã từng là kẻ thù, đã từng cầm súng bắn vào nhau trên cùng một trận địa ở Cổ Thành Quảng Trị.
Anh Lê Nam Sơn, gia nhập quân lực VNCH tháng 4 năm 1968, anh đã phục
vụ trong tiểu đoàn pháo binh, lữ đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến của quân
lực VNCH với chức vụ cuối cùng là thiếu úy. Hồi tưởng lại những ngày
cuối cùng của cuộc chiến, anh Sơn cho biết :
"Đơn vị tôi là đơn vị cuối cùng rút ra khỏi Quảng Trị, tới Thuận
An thì bị kẹt lại, nhưng tôi lại được lên tàu đi đến Đà Nẵng, ở Đà Nẵng
tôi được lệnh tái trang bị lại, vừa mới được lệnh đó thì lại có lệnh
phải bỏ Đà Nẵng. Với đoàn tàu của Thủy quân Lục chiến tôi mới đi vào
Nam, vào đến Cam ranh thì có lệnh tái trang bị, nhưng cuối cùng rồi lại
có lệnh bỏ Cam ranh về tới Vũng tàu, sau đó thì đơn vị tôi rã hàng khi
ông Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng."
Anh Phạm văn Mài, gia nhập bộ đội năm 1972, thuộc đơn vị trinh sát,
trung đoàn 66, sư đoàn 304 với chức vụ cuối cùng là trung sĩ. Anh Mài
cho biết về những ngày cuối tháng tư của năm 1975 :
"Ngày 30/4/1975 đơn vị chúng tôi đã tiến vào dinh Độc Lập, đi sau
những xe tăng của lữ đoàn 203. Anh Phạm Xuân Thệ, trung đoàn phó của
trung đoàn 66 của chúng tôi đã vào và tiếp nhận sự đầu hàng của ông
Dương văn Minh. Tôi không có mặt ở dinh Độc lập, chúng tôi đến gần dinh
Độc lập. Dinh Độc Lập xong rồi, chúng tôi đi thẳng ra đài phát thanh,
lúc bấy giờ ông Thệ dẫn ông Dương Văn Minh ra để đọc lời đầu hàng."
Âm nhạc có sức mạnh vô biên của nó. Nếu những bản nhạc Anh là ai,
Việt Nam tôi đâu…của Việt Khang đã đem người Việt trong và ngoài nước
đến gần nhau thì bản nhạc « Những ngày xưa thân ái » cũng đã xóa đi được
ranh giới giữa hai kẻ thù đã từng cầm súng bắn vào nhau. Có một định
mệnh nào đó giữa bản nhạc này và những người yêu thích nó.
Nếu nhà thơ Phạm Hổ, đồng sáng lập Hội Nhà Văn miền Bắc và nhà xuất
bản Kim Đồng đã sáng tác bài thơ « Những ngày xưa thân ái » với những ý
tưởng sắt máu, đầy ngập hận thù, thì em ông, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ, một
nhà giáo của VNCH đã biến bài thơ này thành một thông điệp đầy tính nhân
bản, đầy lòng yêu thương qua hình ảnh của tình bạn, tình yêu quê hương
bên lũy tre làng của thời thơ ấu.
Khởi đầu một tình bạn

Cổ Thành Quảng Trị. Photo courtesy of wikipedia
"Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, thỉnh thoảng trung tâm VN
Hannover tổ chức những buổi văn nghệ với chủ đề « Xa quê hương nhưng
không quên tổ quốc lầm than » trong những đêm văn nghệ chủ đề đó thì có
sự hiện diện của các anh em bên Đông Đức, trong đó có anh Phạm văn Mài,
và anh Mài với cây đàn guitar và anh xin hát nhạc phẩm « Những ngày xưa
thân ái » .
Tôi rất ngạc nhiên vì anh Mài là lính miền Bắc mà ảnh biết nhạc
phẩm này vì thế tôi chú ý đến ảnh. Trong lúc anh Mài hát thì ảnh giới
thiệu tiểu sử của ảnh là ảnh đã tham dự trận đánh Cổ thành Quảng trị
1972, đơn vị Thủy quân lục chiến của tôi cũng tham dự cuộc chiến ở Cổ
thành Quảng trị năm 1972. Anh Mài và tôi đều tham gia một chiến trường ở
hai đầu chiến tuyến khác nhau, lúc đó chúng tôi đã nhìn nhau bằng mắt
lửa hận thù, chúng tôi xử sự với nhau bằng lưỡi lê, súng đạn và bây giờ
thì chúng tôi gặp nhau trên đất nước Đức này.
Sau khi tôi đã tìm hiểu Mài thì chúng tôi thấy rằng chúng tôi có
chung 1 cái quá khứ, anh Mài tuy rằng ở phía bên kia chiến tuyến nhưng
cuối cùng thì chúng tôi cả hai do một tình cờ lịch sử mà gặp nhau ở trên
1 nước tự do này và chúng tôi đều là nạn nhân của một cuộc chiến tranh
huynh đệ tương tàn, do vậy chúng tôi đã kết bạn với nhau kể từ đó."
Chúng tôi có chung 1 cái quá khứ, do một tình cờ lịch sử mà gặp nhau ở trên 1 nước tự do này và chúng tôi đều là nạn nhân của một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, do vậy chúng tôi đã kết bạn với nhau kể từ đó.
Anh Lê Nam Sơn
Dĩ nhiên, không phải con đường đến với nhau nào cũng đơn giản khi mà
sự mất mát đã quá nhiều, hơn 30 năm sau cuộc chiến, lòng người vẫn còn
ngổn ngang bao nỗi, không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận một sự bắt tay
giữa hai bờ chiến tuyến dù rằng ranh giới ý thức hệ ấy nay đã không còn.
Nhưng những ám ảnh về quá khứ không còn là rào cản đối với anh Sơn và
sự phê phán của cộng đồng chung quanh – nếu có- cũng không làm anh sợ :
"Nếu trong nước thì cái đó có thể làm cho tôi sợ, nhưng mà khi tôi
đã sống trên đất nước tự do này thì quá khứ đó không còn ám ảnh tôi
nữa. Tôi xem anh Mài và tôi đều là nạn nhân của một ý thức hệ. Tôi không
có gì là sợ sệt khi kết thân với anh Mài và sự kết thân đó cũng không
ảnh hưởng gì đến cái cộng đồng bảo rằng tôi là lính VNCH lại kết thân
với môt anh bộ đội Bắc việt, tôi có cái quan điểm rõ ràng như vậy : tôi
là người đấu tranh ôn hòa, không dùng bạo lực và cũng không có ý nghĩ
căm thù."
Nạn nhân của cuộc chiến

Bộ đội Việt Nam tại cổ thành Quảng Trị mùa hè 1972, ảnh minh họa. Photo vourtesy of wikipedia
"Sau ngày 30/4/75 thì tôi đã có đủ góc độ để tôi nhìn lại cuộc
chiến ấy và tôi nhận ra rằng ngày trước anh Sơn và tôi cũng đã gặp nhau
trên một chiến trường, chúng tôi đã nói chuyện với nhau bằng súng, bằng
đạn, bằng vũ khí. Nhưng mà đến bây giờ chúng tôi coi nhau như là những
người anh em. Chúng tôi coi cuộc gặp gỡ này là sự tìm lại của những
người anh em của cùng một Mẹ VN cả. Ngày trước, chúng tôi nói chuyện với
nhau bằng súng đạn, bây giờ chúng tôi nghĩ rằng chúng ta nên xóa bỏ sự
hận thù ấy đi, mình nhìn nhau như những người anh em tìm lại nhau, vì
vậy chúng tôi kết bạn với nhau, trong lòng rất là thoải mái."
Anh Sơn gửi gấm tâm sự qua một bài anh viết về tình bạn của họ : «
chúng tôi nhắc lại chiến trường xưa như nhắc lại một chứng tích của
những cuồng ngông đầy máu và nước mắt. Là nạn nhân, chúng tôi thấm thía
được cái giá phải trả của chiến tranh và lòng thù hận » Riêng anh Mài
bày tỏ :
"Ngày 30/4/1975, cách nay đã 37 năm rồi, nhưng cho đến bây giờ đến
ngày 30/4 tôi lại nhớ lại khung cảnh lúc đó, chúng tôi rất vui mừng vì
cuộc chiến tranh mấy chục năm trời đã kết thúc, xương máu của anh em
đồng đội chúng tôi không phải đổ ra nữa, chúng tôi lại được trở về với
gia đình, tiếp tục làm những công việc dang dở của mình.
Rõ ràng trong niềm hân hoan ấy, chúng tôi cũng nghĩ chúng tôi là
người chiến thắng. Nhưng cho đến bây giờ, chúng tôi đã có 1 thời gian
dài để chúng tôi thấy rằng sự chiến thắng ấy thật là bẽ bàng.
Hàng triệu người đã đổ xương, đổ máu để góp phần xây dựng chính
quyền, thế nhưng chúng ta đều thấy chính quyền bây giờ không mang lại
những điều tốt đẹp cho đất nước VN. Người dân VN vẫn còn phải gánh chịu
bao nhiêu nỗi bất công trên đất nước của mình, tôi thấy thật là mỉa mai
khi cho rằng chúng tôi là người chiến thắng. Cũng cần phải nói một cách
chính xác là trong ngày 30/4 không có ai thắng, ai bại mà chúng tôi chỉ
là những nạn nhân mà thôi."
Hơn 30 năm chưa từng trở về lại quê hương dù lòng còn trĩu nặng yêu
thương cây dừa bên quán nước làng, anh Lê Nam Sơn vẫn canh cánh bên lòng
một niềm hối tiếc :
"Tôi muốn nói với các bạn trẻ, nhất là các bạn trẻ đang đấu tranh
cho Dân chủ trong nước, vì tôi là một người lính mang trọng trách giữ
gìn bình an cho phần miền Nam tự do còn lại của mình nhưng chúng tôi đã
làm không được. Thậm chí còn giao lại cho thế hệ trẻ một thế hệ tồi và
dở để thế hệ đàn em chúng tôi phải long đong mà đấu tranh cho Dân chủ
của đất nước. Đây là lời tâm ý của tôi."
Cũng cần phải nói một cách chính xác là trong ngày 30/4 không có ai thắng, ai bại mà chúng tôi chỉ là những nạn nhân mà thôi.
Anh Phạm văn Mài
Lần đầu tiên trở về quê hương sau hơn 20 năm xa cách, tại Nội Bài,
anh Phạm văn Mài đã bị từ chối cho nhập cảnh. Quê hương của anh với
những người chủ mới đã không còn là một quê hương mà thuở nào anh đã yêu
thương với một tình yêu cháy bỏng như khi anh nhặt được bài hát nói lên
được tâm trạng anh trên Cổ thành Quảng trị:
"Khi mà vào trong Quảng trị thì tôi có nhặt được bản nhạc « Những
ngày xưa thân ái », khi mà nhặt được thì tôi rất thích và hát nhưng mà
chỉ được hát vụng trộm thôi, tôi có hát cho anh em nghe, và có một số
đồng đội rất là thích và anh em chúng tôi rủ nhau ra một góc khuất nào
đấy, một góc rừng nào đấy rồi chúng tôi hát cho nhau nghe thôi, chứ còn
bài hát này thì bị cấm không được hát trong đơn vị đâu."
Bản nhạc ngày xưa anh Mài phải hát trong sợ hãi, lén lút. Hôm nay đã
được hai anh Sơn- Mài cầm đàn hát khắp Âu châu như rao giảng tiếng nói
của lòng bao dung, sự vị tha trong căn cước nhân bản của mỗi con người.
No comments:
Post a Comment