Translate

Sunday, June 6, 2010

Cờ Bay - Tác giả: Lê Kim Hoa - Trên Cổ Thành Quảng Trị - QLVNCH- HNC

Việt Nam bắt buộc gắn “phần mềm theo dõi” trên máy tính toàn địa bàn Hà Nội

Trích DCV Online
Việt Nam bắt buộc gắn “phần mềm theo dõi” trên máy tính toàn địa bàn Hà Nội


Hoa Thạnh Đốn (Washington) - Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 15/2010/QĐ-UBND ký ngày 26 tháng Tư năm 2010 bởi phó Chủ tịch UBND bà Ngô Thị Thanh Hằng, ra lệnh cho các quán internet cafes, khách sạn và những cơ sở làm ăn khác phải cài đặt một nhu liệu nhằm theo dõi việc sử dụng máy tính trên toàn địa bàn Hà Nội.

Theo Quyết định Số 15/2010/QĐ-UBND này, tất cả các cơ sở cung cấp dịch vụ máy tính cho khách hàng sẽ có 10 ngày để thi hành lệnh này.

Quyết định này áp dụng cho tất cả những ai cung cấp dịch vụ internet, bao gồm “mọi tổ chức, cá nhân tham gia việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet tại các đại lý internet trên địa bàn thành phố Hà Nội”, bao gồm khách sạn, nhà hàng, văn phòng, phi trường, trạm xe buýt, cà phê internet…

Người ký quyết định số 15/2010/QĐ-UBND, bà Ngô Thị Thanh Hằng. Nguồn: Onthenet
Bên cạnh phần mềm “Lục Bá” (Green Dam) phải cài vào máy điện toán, những nơi cung cấp dịch vụ internet phải bảo đảm người sử dụng internet tuân thủ Nghị định Số 97 được ký bởi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hôm 28 tháng Tám năm 2008. Nghị định này ngăn cấm dùng Internet “chống lại nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây phương hại đến an ninh quốc gia… tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác đã được pháp luật quy định.”

Theo Quyết định số 15 do bà Ngô thị Thanh Hằng ký, thì nhà nước có quyền đến khám bất kỳ máy điện toán nào nằm trong địa bàn Hà Nội để bảo đảm người cung cấp dịch vụ phải gắn phần mềm theo dõi hoạt động trên những máy tính này, và đồng thời tuân thủ Nghị định 97 của chính phủ.

Chính sách mới ra đời này là nỗ lực mới nhất của nhà nước cộng sản Việt Nam nhằm bóp chết sự tự do ngôn luận trên mạng internet. Mới năm rồi, nhà nước đã ra lệnh cho các công ty cung cấp internet (ISP) phải ngăn một số website, chẳng hạn như Facebook; bắt giữ một loạt bloggers; và tung một loạt tấn công để phá một số websites trong nước như bauxitvietnam.info, cũng như nhắm vào người sử dụng internet ở ngoại quốc, qua chuyện cài đặt virus Trojan horse vào nhu liệu viết chữ Việt của Hội Chuyên gia Việt Nam ở Hoa Kỳ.

Hà Nội học "thói" Bắc Kinh bắt buộc gắn phần mềm lên máy tính của người dân. "Sao lại phải theo Tàu ăn bã mía hoài dzị?" Nguồn: Onthenet
Báo chí nhà nước nói rằng phần mềm nhằm theo dõi sự hoạt động của người sử dụng do Đại học Hà Nội sản xuất, nhưng nhiều người nghi ngờ đây là một phó bản của phầm mềm mang tên “Lục Bá” (Green Dam) do Trung Quốc chế tạo, cũng nhằm mục đích theo dõi và kiểm soát người sử dụng internet.

Được biết, từ đây cho đến năm tới 2011, tất cả 4,000 tiệm internet café ở Hà Nội sẽ bị gắn phần mềm theo dõi này.

Hiện cũng chưa rõ phần mềm này được cấu trúc và hoạt động như thế nào. Giáo sư Alex Halderman ở Đại học Michigan, người nghiên cứu và phân tích phầm mềm Green Dam của Trung Quốc năm rồi nói rằng phần mềm này của Việt Nam có thể ngăn chận không cho vào một số websites nào đó, nhưng cũng có thể nhằm theo dõi những hoạt động của người sử dụng trên mạng. Ông nói: “Chúng tôi hiện không biết. Vì chưa đủ tin tức cần thiết để phân tích.”

Nhưng theo các nhà phân tích khác, đây rõ ràng là một bước nữa của nhà nước cộng sản Việt Nam nhằm bịt miệng sự tự do bày tỏ chính kiến một cách ôn hòa trên mạng, và một bước lùi của một Việt Nam độc tài trong thời đại thông tin ngày nay.


© DCVOnline

Friday, June 4, 2010

Công nợ Việt Nam tới mức báo động

VietCatholic News (04 Jun 2010 09:08)


Trong sáu tháùng qua, các biến động về tài chánh từ Hy lạp đã lan khắp các quốc gia công nghệ phát triển toàn cầu.

Hy lạp là một quốc gia dân chủ và đa đảng. Nhờ đó, khi người dân không còn tín nhiệm chánh phủ đương quyền ‘bê bối’, không hữu hiệu, họ có quyền chế tài bằng sử dụng lá phiếu để chọn đảng khác để ủy nhiệm điều khiển nhà nước. Nắm ngay cơ hội, trong cuộc bầu cử lập pháp ngày 04.10.2009, công dân Hy lạp đã dồn phiếu cho Đảng Xã hội của ông George Papandreou thắng cuộc bầu cử Quốc hội. Bắt tay vào việc nước, tân chánh phủ tìm thấy các số liệu cho tài chính công chứng minh mức thâm hụt ngân sách là 12% tổng sản lượng nội địa(1) (TSLNĐ) thường được gọi là GDP (Gross Domestic Product, tiếng Anh hay Produit Intérieur Brut (PIB), tiếng Pháp, chứ không là 6% như giới cầm quyền xuất nhiệm tuyên bố, và 9,40% năm 2010. Ngoài ra, công nợ cao tới 113,40% (410 tỷ mỹ kim), năm 2009, và 120,80% TSLNĐ, năm 2010. Lập tức, Ủy ban Âu châu đòi hỏi một điều tra "toàn diện" để giải thích sự khác biệt này. Nhưng, sau đó, dù người dân phải chịu nhiều hy sinh để được sự trợ giúp tín dụng 110 tỷ euro của 16 quốc gia khu vực euro và Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Hy lạp thoát khỏi phá sản, không đủ tiền thanh toán nợ đáo hạn.

Hướng về Quê hương Việt-Nam, đồng bào không được hưởũng sự dân chủ với độc đảng cộng sản, nơi Quốc hội, bao gồm các đại biểu nắm quyền Hành pháp và Tư pháp lẫn quân nhân, đang họp bàn thảo ngân sách và dự án Đường sắt cao tốc Bắc Nam. Một dự án làm tăng công nợ, nhưng hiệu quả kinh tế không chắc. Chúng ta xem mức thâm hụt ngân sách và bách phân công nợ đã đến mức nào so với tài sản của quốc dân vì công nợ được vay giao cho các đảng viên cộng sản quản lý, nhưng việc hoàn trái đè nặng trên từng người dân và con cháu họ.

I. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN BIẾT TRƯỚC.

1. (1) Tổng sản lượng nội địa

Tổng sản lượng nội địalà giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trên toàn lãnh thổ một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, thường là ba tháng và một năm. TSLNĐ là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia hay vùng lãnh thổ nào đó.

Tổng sản lượng nội địa từng người dân TSLNĐ trung bình của mỗi công dân một quốc gia vào một thời gian nhất định được tính bằng TSLNĐ của quốc gia đó chia cho dân số đúng vào cùng một thời điểm. Trị giá này cho thấy mức thu nhập trung bình mà không cho thấy những cách biệt về thu nhập và của cải của những người dân trong một nước.

Thí dụ: Năm 2008, TSLNĐ nước Việt là 89.829 triệu mỹ kim với dân số 86,2 triệu người thì TSLNĐ trung bình từng người dân là: 89.829 / 86,2 = 1.043 mỹ kim.

Bởi thế, năm 2008, với TSLNĐ 89.829 triệu mỹ kim, Việt-Nam đứng hạng 60 trên thế giới và với TSLNĐ đầu người 1.043 mỹ kim, Việt-Nam được xếp hạng 139 trên 180 quốc gia, theo thống kê Quỹ Tiền tệ Quốc tế.

TSLNĐ Hy lạp là 357.547 triệu mỹ kim, năm 2008, xếp hạng 28 trên thế giới và và TSLNĐ đầu người 31.570 mỹ kim, hạng 39 thế giới, chiếm khoảng 3% của tổng sản lượng nội địa khu vực đồng euro, gồm 16 quốc gia.

2. Nước Hy lạp đi tới khủng hoảng vì:

a. Trách nhiệm người dân. Nước Hy lạp nghèo, nhưng 11 triệu người dân Hy lạp thì không nghèo vì lợi tức trung bình (TSLNĐ) đầu người là 21.300 euro năm 2008, tức khoảng ớ so với lợi tức trung bình của một người Đức… Người giàu say mê chơi trò trốn thuế. Ngân hàng Thế giới ước lượng 35% của nền kinh tế Hy lạp vận hành một cách không hợp pháp, bán không hóa đơn để người mua không trả thuế Trị giá gia tăng. Do đó, Nhà nước sạt nghiệp…

Trong thời gian qua, Bộ Tài chính Hy lạp đã công bố danh sách 57 bác sĩ hành nghề tại Athens bị nghi ngờ vi phạm luật thuế vụ. Các chuyên gia ước tính chính phủ Hy lạp đã thất thu mỗi năm lối 30 tỷ euro vì trốn thuế. Đó là nguyên nhân của sự thâm hụt ngân sách và công nợ chồng chất. Theo số liệu Minh bạch Quốc tế (Transparency international) trong năm 2009, người Hy Lạp đã trả 790 triệu euros trong các vụ hối lộ và lại quả.

Trong năm 2008, Tổ chức này đã xếp Hy lạp vào hạng 57 với 4,7 điểm và năm 2009, hạng 71 (3,8 điểm) trên 180 quốc gia. Để so sánh, năm 2008, Việt-Nam được xếp hạng 121 với 2,7 điểm và, năm 2009, vào hạng 120 (2,7 điểm).

b. Hy lạp là quốc gia có tinh thần ‘xã hội chủ nghĩa’, cũng như các nước Liên minh Âu châu khác, vẫn dành những phúc lợi xã hội cho dân chúng. [Vì tinh thần xã hội chủ nghĩa thật sự, họ đã mở rộng cửa đón người Việt tị nạn và chia sẻ ‘bánh mì’ cùng áo mặc trong nhiều thập niên. Cám ơn.]. Các khoản chi xã hội của Hy lạp là 24,20% TSLNĐ, so với 26,90% TSLNĐ 27 quốc gia thành viên Liên hiệp Aâu châu. Trong khi đó, Việt-Nam là một quốc gia theo thể chế chính trị: Cộâng hòa xã hội chủ nghĩa.

3. Công nợ hay Nợ quốc gia.

Chúng ta biết rằng thế giới 'tân tiến’ đang gánh chịu hậu quả hai cuộc khủng hoảng tài chánh mà nguyên nhân chánh đều do việc không thể thanh toán được các khoản tín dụng đáo hạn? Trách nhiệm tình trạng vỡ nợ từ hai phía: chủ nợ và con nợ.

- Các chủ nợ (cơ quan tín dụng, ngân hàng) ham cho vay với lãi suất cao và dễ dàng. Các con nợ (nhà nước hay tư nhân) vay tiền dễ dàng, nên chi tiêu hoang phí vì có cảm tưởng tiêu tiền của người khác, chứ không do mồ hôi nước mắt làm ra. Đôi bên, chủ nợ và con nợ, đều hả hê. Chánh phủ các nước vui thích vì bách phân tăng trưởng kinh tế cao, nhất là khi với hai con số.

- Năm 2007, cuộc khủng hoảng ‘Nợ Thứ cấp’ (Subprime Mortgage Credits) phát xuất từ Hoa kỳ. Các cơ quan tín dụng và ngân hàng đã cho tư nhân vay dễ dàng để xây cất, mua nhà cửa. Khi nợ nần của tư nhân chồng chất và không hòan trả được, thì các chủ nợ mất mát nặng vốn đến nỗi phá sản. Hiện nay, năm 2010, sự gần kề phá sản của các quốc gia khu vực euro do nhà nước đi vay, phung phí và không thanh toán nổi bắt đầu từ Hy lạp.

- Việt-Nam, nước ta, có thể rơi vào tình trạng khánh tận, không trả nợ vay ngoại quốc vì, hiện nay, Công Nợ đã tăng đến mức an toàn.

II. THÂM HỤT NGÂN SÁCH QUỐC GIA.

Ngân sách quốc gia là một thành phần trong hệ thống tài chính, được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Luật Ngân sách nhà nước đã được Quốc hội Việt-Nam thông qua ngày 16.12.2002 định nghĩa: « Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. »

Thâm hụt ngân sách trong kinh tế vĩ mô là tình trạng các khoản chi của ngân sách quốc gia cao hơn các khoản thu, phần chênh lệch được gọi là thâm hụt ngân sách. Trường hợp ngược lại, khi các khoản thu cao hơn các khoản chi được gọi là thặng dư ngân sách. Thu của Chính phủ không bao gồm khoản tín dụng (nợ vay). Chính phủ đi vay chính là một cách để giảm bớt mức thâm hụt ngân sách. Trong lịch sử, phát hành thêm tiền đã từng là một cách tài trợ cho thâm hụt ngân sách, nhưng do hậu quả nghiêm trọng của nó là dẫn đến lạm phát ở mức cao nên ngày nay cách này hầu như không được Chính phủ của bất cứ quốc gia nào sử dụng nữa. Do Chính phủ bù đắp cho thâm hụt ngân sách bằng cách đi vay, nên lũy kế các khoản thâm hụt ngân sách nhà nước đến một thời điểm nào đó chính là nợ quốc gia.

1. - Quyết toán ngân sách Nhà nước năm 2008.

Ngày 28.05.2010, các đại biểu Quốc hội thảo luận về quyết toán ngân sách Nhà nước năm 2008. Trong phiên họp, đại biểu Nguyễn văn Pha đã lưu ý các đồng viện: « không thể phát biểu thật ngọn ngành về hàng trăm hàng nghìn con số vì ‘không được học hành bài bản về kinh tế’ ». (Trích bài ‘Chi ngân sách: “Chính phủ không tùy tiện”’, VnEconomy ngày 28.05.2010). Nhưng Quốc hội cũng đã đạt được kết quả của phiên họp: quyết toán ngân sách Nhà nước năm 2008, với tổng thu cân đối 548.529 tỷ đồng; tổng chi 590.714 tỷ đồng; bội chi 67.677 tỷ đồng, bằng 4,58% TSLNĐ.

Nhiều đại biểu đã lo ngại về việc lễ hội được tổ chức tràn lan ở Việt-Nam, trung bình mỗi ngày có 20 lễ hội. Việc quản lý tổ chức còn chưa tốt, nên có nhiều lễ hội tổ chức xô bồ không thực hiện được việc giáo dục lòng yêu nước trong nhân dân. Họ cũng bày tỏ lo lắng về khoảng cách giàu nghèo đang tăng dần trong nước, sự phân hóa giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các nhóm dân cư. Mức chênh lệch giữa nhóm giàu nhất và nghèo nhất năm 2002 là 8,1 lần đã tăng lên 8,9 lần vào năm 2008.

2. - Dự toán thực hiện ngân sách nhà nước năm 2009.

Trong phiên họp ngày 10.11.2008, các đại biểu Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về dự toán Ngân sách nhà nước năm 2009 với 436 phiếu tán thành, đạt tỷ lệ 88,44% tổng số đại biểu với các con số như sau:

Đề mục Ngân sách Số tiền
Tổng thu ngân sách nhà nước trong kỳ 389.900 tỷ đồng
Thu kết chuyển từ năm trước sang 14.100
Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước (a) 404.000
Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước (b) 491.300
Bội chi ngân sách nhà nước (a) – (b) 87.300 tỷ đồng
Tỷ lệ bội chi so với TSLNĐ4.82%


Để san bằng bội chi ngân sách 87,300 tỷ đồng đó, nhà nước phải đi vay và được chia như sau: Vay trong nước: 71,300 và ngoài nước: 16.000 tỷ đồng.

Ngày 14.04.2010, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thảo luận về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2009.

Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh thông báo dự toán chi ngân sách năm 2009 Quốc hội quyết định là 491.300 tỷ đồng. Tuy nhiên, để hạn chế tác động không thuận của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, Chính phủ đã sử dụng gói kích cầu khoảng 145.000 tỷ đồng (tương đương 8 tỷ mỹ kim). Do đó, mức bội chi đã tăng lên 115.900 tỷ đồng (tức 6,9% TSLNĐ, đảm bảo trong phạm vi Quốc hội cho phép) khiến cân đối ngân sách trung ương năm 2009 vẫn còn thiếu và phải xử lý tiếp trong quá trình điều hành ngân sách nhà nước năm 2010 và các năm kế tiếp.

Mức bội chi 6,9% TSLNĐ mới đảm bảo trả nợ, nguồn nợ chuyển sang năm sau mới giảm dần, nếu không sẽ tiếp tục trong tình trạng ‘treo nợ’.

3. - Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2010.

Ngày 11.11.2009, 74,4% đại biểu Quốc hội đồng ý với phương án bội chi ngân sách nhà nước năm 2010 là 6% TSLNĐ khi thông qua Nghị quyết về dự toán ngân sách, nhưng Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đề nghị Quốc hội chấp thuận mức bội chi không quá 6,2% TSLNĐ. Do đó, Quốc hội đã phải thông qua toàn bộ Nghị quyết với tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước là 461.500 tỷ đồng, bằng 23,9% TSLNĐ; tính cả 1.000 tỷ đồng thu chuyển nguồn năm 2009 sang năm 2010 thì tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước là 462.500 tỷ đồng. Tổng số chi cân đối ngân sách nhà nước là 582.200 tỷ đồng. Do đó, mức bội chi ngân sách nhà nước sẽ là 119.700 tỷ đồng, bằng 6,2% TSLNĐ, dự trù được tài trợ bởi các khoản vay trong nước (98.700 tỷ đồng) và nước ngoài (21.000 tỷ đồng).

Nghị quyết cũng nêu rõ yêu cầu khắc phục tình trạng chi ngoài dự toán, chi vượt dự toán không đúng thẩm quyền và sai quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Tiếp tục cải cách tiền lương, tăng mức lương tối thiểu từ 650.000 đồng lên 730.000 đồng từ ngày 01.05.2010.

Quốc hội đồng ý, trong năm 2010 phát hành trái phiếu chính phủ 56.000 tỷ đồng để đầu tư các dự án, công trình thuộc lĩnh vực và danh mục đã được quyết định đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu chính phủ theo Nghị quyết của Quốc hội. Yêu cầu Chính phủ xây dựng phương án phân bổ vốn trái phiếu chính phủ năm 2010, báo cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định trước khi thực hiện.

Hà-Minh Thảo

Thursday, June 3, 2010

Lật tẩy hàm giáo sư và phó giáo sư

Trích Viet Herald
Trên Flickr có một account mang tên khoahocdom.vietnam@yahoo.com đăng danh sách các GS và PGS dỏm của Việt Nam. Theo account kể trên, khi nhà nước VN phong GS và PGS cho một ai đó, account kể trên sẽ kiểm tra số bài báo trên ISI (cơ sở dữ liệu về các công bố khoa học trên toàn thế giới) để tìm xem người được phong GS và PGS có số bài báo đăng trên ISI đúng tiêu chí hay không. Theo định lượng, PGS phải có số lượng bài công bố trên ISI là 3 công trình khoa học, GS phải có 5 công trình khoa học được công bố trên ISI. Nếu dưới mức này thì account kể trên sẽ gửi thư thông báo cho đương sự và tổ chức liên quan, thông báo về quyết định phong danh hiệu GS và PGS dỏm.

Sau khi tìm hiểu và thống kê công trình khoa học của một số vị cán bộ cao cấp của chính quyền VN, account này đã công bố một danh sách được phong tặng danh hiệu GS và PGS dỏm made in Vietnam gồm những người sau: Nguyễn Thị Doan (Phó CT nhà nước VN), Nguyễn Thiện Nhân (Phó thủ tướng, kiêm BT Bộ GD&ĐT VN), Trần Văn Nhung (nguyên thứ trưởng Bộ GD&ĐT), Đào Trọng Thi (chủ nhiệm UB Quốc Hội) và một số người khác.

Theo blogger Đông A, dù chưa kiểm tra xem có đúng là những người kể trên có công bố khoa học trên các tạp chí trong danh sách của ISI ít hơn 5 (đối với GS) và ít hơn 3 (đối với PGS) hay không, nhưng ông có cảm tưởng là tiêu chí của phong chữ “dỏm” khá rõ ràng, minh bạch, và ai cũng có thể kiểm tra được.

Ông viết tiếp: “Nhưng đối với những người được đào tạo tại Liên Xô cũ thì cũng có thể oan uổng, vì một số tạp chí của Liên Xô cũ không có tên trong danh sách của ISI. Do vậy tôi nghĩ cũng nên thận trọng, nhất là do những khó khăn có nguồn gốc từ trong lịch sử phức tạp của thế giới. Nhưng dù vậy, tôi vẫn nghĩ các báo trước khi đăng bài viết về ai đó, nên tham khảo danh sách GS và PGS dỏm để ít nhất là có cái nhìn tham chiếu và cân nhắc về bài báo đó.”

“Chuyện phong chức danh dỏm này có lẽ cũng thuộc loại tương tự như danh hiệu trang phục phản cảm trong các hoạt động giải trí, nhưng chưa rõ phản ứng của dư luận xã hội và những người liên quan như thế nào. Rất tiếc là chuyện phong chức danh dỏm này có thể đoán trước là không được truyền thông loan truyền rộng rãi như danh hiệu trang phục phản cảm, nên cũng khó biết các phản hồi có thể có như thế nào. Nhưng xét cho cùng, trong một xã hội có nhiều đặc điểm riêng biệt như xã hội Việt Nam chuyện phong dỏm này có khi cũng cần thiết và hữu ích.”

Sau đây là nội dung kiểm chứng của account khoahocdom.vietnam@yahoo.com trước khi phong tặng danh hiệu GS và PGS dỏm. Quý độc giả có thể vào trang flickr.com/photos/47624590@N04/ để tìm hiểu.

GS dỏm Nguyễn Thị Doan, phó chủ tịch nước

- Kiểm tra công trình ISI của bà này thì kết quả là 0 (zero).

- Chúng tôi đã dùng tất cả các keys: Doan NT, Nguyen TD, Nguyen DT. Kết quả thu được đều như nhau: 0. Do đó chúng tôi xin công nhận bà này là GS dỏm (chính xác hơn: Dưới mức dỏm).

Thật không hiểu bằng cách nào mà bà này ôm được cái hàm GS? Các bác có biết “cách nào,” xin chỉ giùm nhé!


GS dỏm Nguyễn Thiện Nhân, phó thủ tướng, bộ trưởng Bộ GD&ĐT

Kiểm tra trên Web of Science, cũng không thể tìm thấy công trình khoa học nào của ông Nhân về lĩnh vực kinh tế, điều khiển học. Như vậy cái hàm GS của ông ấy là cái gì, do đâu mà ra?

Ông này lúc nào cũng hứa, tuyên bố.... và bây giờ thì nền giáo dục vẫn đang tụt hậu. Lúc nào cũng tuyên bố “đại học quốc tế,” nhưng trình độ dỏm thế này thì có hiểu thế nào là một đại học quốc tế. Thật ra không nhất thiết Bộ Trưởng Giáo Dục phải có hàm giáo sư, chỉ cần cử nhân cũng được, nhưng phải là bằng thật, còn mấy loại dỏm thì chỉ có hại dân, hại nước.

Theo tiểu sử thì ông Nhân được “phong hàm” GS năm 2002 khi đang làm PCT Sài Gòn. Xin chào thua! Cái kiểu phong hàm này không khác gì các danh “gia đình văn hóa,” “bé khỏe, bé ngoan,” hay “gia đình bị lũ lụt tàn phá.”

Đất nước muốn phát triển thì cần phải có những người thật, trung thực.... Mấy vị dỏm, giả thì chỉ có phá hoại.

GS dỏm Trần Văn Nhung, nguyên thứ trưởng Bộ GD&ĐT, tổng thư ký Hội Đồng Giáo Sư

Kiểm tra trên Web of Science, vị này chỉ có một công trình chuẩn ISI:

1. Title: ATTRACTORS OF SYSTEMS CLOSE TO AUTONOMOUS ONES HAVING A STABLE LIMIT-CYCLE
Author(s): MINH NV, NHUNG TV

Source: ACTA MATHEMATICA HUNGARICA Volume: 58 Issue: 1-2 Pages: 17-23 Published: 1991

Times Cited: 0

Công trình này công bố năm 91, đồng tác giả và thuộc loại SCIE, nghĩa là tạp chí này thuộc loại trung bình. Sản phẩm khoa học của một giáo sư kém xa kết quả nghiên cứu của một anh tiến sĩ loại trung bình thì ông này thuộc loại giáo sư gì?

Tóm lại: Không có hy vọng gì cho khoa học Việt Nam khi những kẻ bất tài, danh dỏm vẫn còn tại vị.

GS dỏm Đào Trọng Thi, chủ nhiệm UB Quốc Hội

Title: MULTIDIMENSIONAL PARAMETRIZED VARIATIONAL-PROBLEMS ON RIEMANNIAN-MANIFOLDS

Author(s): THI DT

Source: LECTURE NOTES IN MATHEMATICS Volume: 1214 Pages: 40-62 Published: 1986

Times Cited: 0

Đó là công trình ISI duy nhất mà anh “giáo sư” này có được. Theo thông tin “nội bộ” thì anh này là nhà khoa học hàng đầu, được ghi tên vào tự điển. Thật không hiểu được.

Với cái trình độ tồi như thế mà là giáo sư thì.... chào thua.

Wednesday, June 2, 2010

Đất nước ngậm ngùi

Trích DCV Omline

Đất nước ngậm ngùi

Trần Khải

Có một thời nào như thế này không? Đất bị lấn nhiều nơi rồi đành phải cắm mốc biên giới mới, đảo bị chiếm mà không tranh cãi nỗi chỉ vì đã lặng lẽ ký bản văn công nhận khoảng cách 12 hải lý; ngư dân bị bắt đòi tiền chuộc mà chính phủ Hà Nội không dám đưa ra Liên Hiệp Quốc khiếu kiện; đưa công an giải phóng mặt bằng ra để chỉa súng bắn chết cậu bé 12 tuổi; bịt miệng những người quan tâm về dân chủ thô bạo bằng mọi cách, và tham nhũng thì hết nước nói...

Vậy đó, quê nhà như thế đó. Với trí nhớ về lịch sử quê nhà, tôi không hình dung nổi có một thời nào như thế này.

Chuyện mất đảo Hoàng Sa và một phần Trường Sa về tay nước lạ thì nhà nước Hà Nội không chối được, vì nhiều người biết rồi, lại có chứng cớ lá thư của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng viết dịu dàng như kiểu “tiểu muội Việt Nam” gửi “đại ca Trung Quốc” nhờ giữ giùm các đảo trong khi Đảng CSVN gánh vác sứ mệnh “ba dòng thác cách mạng” đi xẻ dọc Trường Sơn để tiến chiếm Miền Nam VN.

Nhưng Hà Nội vẫn còn cãi là đất không mất tí nào về tay Trung Quốc. Tuy nhiên, một bài viết mới đây của Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, người có 94 tuổi đời và 71 tuổi Đảng CSVN, với nhan đề “16 chữ vàng là thật hay giả” đăng trên mạng www.boxitvn.net đã kể rằng VN mất nhiều đất về tay đại ca TQ, trích:


Tướng nghỉ hưu Nguyễn Trọng Vĩnh
Nguồn: doithoaionline.org

“...16 chữ do Trung Quốc chủ động nêu ra có nội dung thật không, trong tư tưởng có thật như thế không?

Nếu thật thì Trung Quốc hãy trả cao điểm 1.500m nằm trong huyện Vị Xuyên cho tỉnh Hà Giang. Nếu thật thì hãy trả 1/2 thác Bản Giốc lại cho tỉnh Cao Bằng. Hãy trả biên giới Việt Nam về sát Hữu Nghị Quan (mà xưa gọi là Ải Nam quan, Nguyễn Trãi đã tiễn cha là Phi Khanh đến tận đấy). Nếu hữu nghị thật thì hãy trả lại cho Việt Nam quần đảo Hoàng Sa và một bãi đá ngầm chiếm năm 1988 sau khi đánh đắm tàu tiếp tế và giết hơn 70 binh sĩ Việt Nam. Nếu hữu nghị thật thì hãy xóa bỏ cái “lưỡi bò” vẽ một cách vô lý và phi pháp bao trùm hầu hết biển đảo của Việt Nam và từ bỏ âm mưu chiếm Trường Sa của Việt Nam, hãy thôi bắt, bắn ngư dân Việt Nam và tước đoạt tài sản và ngư cụ của họ; hãy rút chiến hạm gọi là tàu “Ngư chính” khỏi vùng biển Đông xua đuổi ngư dân Việt Nam. Nếu là thật thì hãy hủy mọi hợp đồng thuê rừng dài hạn của Việt Nam. Hãy rút khỏi vị trí chiến lược Tây Nguyên của Việt Nam, không tham gia khai thác bauxit nữa. Hãy dừng việc xây dựng đập ở thượng nguồn sông Mê Kông gây cạn mực nước, đẩy nhân dân Nam Bộ Việt Nam ở đoạn cuối cùng của dòng sông vào cảnh mất đường sinh sống. Và nếu thật lòng hữu nghị thì hãy ra lệnh cho hàng ngàn tờ báo chính thống Trung Quốc lục địa thôi không được dùng giọng lưỡi hằn học điêu toa chửi bới người Việt Nam là tiểu nhân lang sói, động một tí là dọa dùng vũ lực ăn thua với Việt Nam. Nếu không làm như trên thì “16 chữ vàng” mà nhà cầm quyền Trung Quốc vẽ ra chỉ là trò giả hiệu.

Nó chỉ là lá bùa dán vào miệng để bịt miệng Việt Nam, “để ăn cướp mà Việt Nam không được la làng”, “xẻo thịt, cắt da Việt Nam cũng không kêu được”. Đáng tiếc là những nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn “Hữu nghị một chiều”...”
(hết trích)

Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, đang ở Hà Nội, đã viết như thế. May mắn, công an chưa bịt miệng Tướng Vĩnh, chưa cắt mạng Internet và cắt dây điện thoaị của ông.

Nhưng với ông Nguyễn Xuân Tụ, tức nhà văn Hà Sĩ Phu, thì khác: cả Internet và điện thoạị đều bị cắt đứt.

Trong thư khiếu nại về chuyện bị cắt Internet và phone, đề ngày 26/5/2010, đề gửi lên Giám đốc Công an tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Đức Hiệp, ông Hà Sĩ Phu viết:

“...Ngày 18/5/2010, tôi đến Sở Thông tin – Truyền thông tỉnh Lâm Đồng để khiếu nại thì được Chánh Thanh tra Sở Bạch Ngọc Dũng và Phó Chánh Thanh tra Sở Nguyễn Thúy Hằng tiếp và trả lời là Sở thông tin và Truyền thông tỉnh Lâm Đồng yêu cầu Viễn thông Lâm Đồng ngừng cung cấp dịch vụ đối với hai số thuê bao của gia đình tôi là làm theo yêu cầu của Công an tỉnh Lâm Đồng vì cơ quan này kết luận hai số thuê bao dịch vụ viễn thông trên được sử dụng để “chuyển tải những thông tin có nội dung chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Kèm theo Biên bản làm việc số 64/BB-TTr ngày 18/5/2010 do Chánh Thanh tra Bạch Ngọc Dũng ký)...”
(hết trích)

Tất nhiên là ông Hà Sĩ Phu bị oan. Bởi vì thực sự ông không hề chuyển tải thông tin có nội dung chống lại Nhà nước CHXHCNVN. Cũng không thấy công an tới bắt ông Hà Sĩ Phu, cũng chưa thấy công tố viên Đà Lạt suy tính chụp mũ ông Hà Sĩ Phu... Nhưng cắt phone, cắt Internet vẫn cắt, bất kể gì khác.

Trong tuần qua, một chuyện kinh hoàng xảy ra là vụ “giải phóng mặt bằng” khu kinh tế Nghi Sơn, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Công an mang súng tới giảỉ tỏa nhà dân, đã nổ súng, bắn chết một cậu bé 12 tuổi và bắn bị thương hai người khác. Nhiều hình ảnh bi thương được đưa lên Internet, cho thấy máu loang trên mặt đất, trên mặt và ngực các nạn nhân... Súng của chính phủ không để ngăn chận quân thù Phương Bắc, lại đi bắn đồng bào tay không tấc sắt.

Máu này ngấm xuống đất, rồi sẽ nở hoa gì? Hình ảnh thật ngậm ngùi.

Nhà thơ cung đình Nguyễn Khoa Điềm, người từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Văn hoá-thông tin CSVN, từng có những dòng thơ có vẻ như tương thích nơi đây, trích:

“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời...”
(hết trích)
Đúng vậy, máu của em bé 12 tuổi đã ngấm xuống đất, đã hóa thân cho dáng hình xứ sở, nhưng sao để đất nước này lệ thuộc Phương Bắc và trở thành của riêng cho cán bộ gộc?

Blogger Người Buôn Gió trong bài “Lan man chuyện giải phóng mặt bằng” đã ghi nhận về vụ giảỉ phóng mặt bằng ở Nghi Sơn, trích:

“...Phải nhìn thực sự rằng có nhiều kẻ đã lợi dụng công cuộc hiện đại hóa, thu hồi đất, GPMB để toan tính trục lợi. Đó là điều hiển nhiên, con số này không phải ít mà còn đông đảo là khác. Nhiều khu đất dùng làm nhà máy không sử dụng hết diện tích, khi lập dự án, những kẻ đầu tư cố tình vẽ cho thật rộng ra, rồi xây rào khoanh lại, một cái nhà xưởng vài chục công nhân sản xuất giấy ăn cùng lắm dùng đến vài ngàn mét vuông là quá đủ. Nhưng vẫn cứ khoanh cả một diện tích bao la chủ yếu với mục đích chiếm giữ đất, sau này chia bớt, nhượng lại ăn chênh lệch cao gấp mấy lần vốn ban đầu bỏ ra. Việc đền bù 24 triệu 1 sào ruộng, san lấp rồi bán trao tay cho đầu tư Đài Loan 300 triệu 1 sào ở Mao Điền, Hải Dương khiến người dân phẫn nộ, những bà mẹ liệt sĩ phải cắn răng bê di ảnh của con mình đi khiếu kiện, phản đối trước hàng hàng, lớp lớp đủ các loại cảnh sát trang bị hầm hố như đánh trận. Chúng ta thường thấy những hình ảnh quân đội, cảnh sát dàn quân như vậy chỉ có trong chiến tranh, trên phim ảnh. Thế mà ngày nay trên đất nước của mình đã sạch bóng quân xâm lược, cớ sao súng ống, dùi cui, hơi cay, quân đặc nhiệm vẫn hàng ngày dàn trận trên khắp các vùng đất quê hương, chiến tranh đang xảy ra ư, chiến tranh với kẻ thù nào? Kẻ thù là những người đàn bà bê di ảnh con trai trong bộ quân phục, loang lổ vết ố của thời gian sao? Là những ông cụ, bà cụ già từng nuôi giấu cán bộ, là những người treo trong nhà hằng hà sa số những tấm bằng khen, ghi công trạng vì hy sinh cho đất nước có chủ quyền đó sao?”
(hết trích)

Độc giả muốn xem hình ảnh vụ công an bắn chết trẻ em để giảỉ tỏa đất, có thể vào xem ở điạ chỉ: http://nguoibuongio.multiply.com/journal/item/466

Chuyện cướp đất bi thương là thế, còn chuyện khoa học tại VN lại trở thành cơ hội cho các quan mổ xẻ, chia chác.

Tác giả Nguyễn Ngọc Linh viết trên trang Boxit Việt Nam đã kể lại, qua bài nhan đề “Vài suy ngẫm nhân đọc bài : “Chỉ có Khoa học và Công nghệ mới đưa Việt Nam bứt phá”...” trong đó có kể một hồi ức của Vũ Cao Đàm, trích:

“...Tôi xin dẫn một đoạn trong bài “Tính trung thực của người nghiên cứu” đăng trên Tia sáng ngày 04/09/2008 của tác giả Vũ Cao Đàm:
“Đây là câu chuyện ở giữa thủ đô Hà Nội. Một vài nhà khoa học lân la đến được mấy vị lãnh đạo rất cao trong Đảng và trong Chính phủ, thuyết phục thế nào đó, lập được một Viện trực thuộc Chính phủ. Viện có công an đứng gác và được sử dụng mật phí 1 và được cung cấp ngoại tệ (một chế độ đặc đãi chưa có tiền lệ ở đâu) để nghiên cứu những vấn đề trọng đại của quốc gia. Sau một vài năm, chúng tôi hỏi nhau về những thành tựu mà Viện đã cống hiến cho quốc gia, thì được một vị Vụ trưởng ở Ủy ban KH&KT Nhà nước cho biết: “Đơn vị nghiên cứu vật lý màng mỏng của Viện này đã sản xuất được… bộ thiết bị làm bánh đa nem; đơn vị về điện tử gì đó thì có thêm chức năng buôn xe máy… second hand từ nước ngoài, chất đầy một nhà kho cũng được công an gác cẩn mật; một đơn vị gì đó nữa thì mở cơ sở sản xuất nước tương… xì dầu… Còn những khoản ngoại tệ được giao sử dụng thì không quyết toán được; một kho máy tính mua bằng ngoại tệ mạnh thì bỗng nhiên bốc cháy”. Sau ít năm, Thủ tướng quyết định nhập Viện này vào một bộ, không được “trực thuộc Chính phủ” nữa. Cho đến ngày nay đã trên hai mươi năm, không ai nghe nói Viện đã có thành tựu nào đóng góp cho quốc gia, cũng không có bài báo nào công bố gây tiếng vang quốc tế. Còn các nhân vật chủ chốt – tác giả của sự phù phép đó – thì được đưa lên những chức vụ rất cao và ngồi đó bàn thảo chính sách khoa học và phán xét lập trường, tư tưởng, đạo đức của những người làm khoa học chân chính”...”
(hết trích)

Thế đấy, các cán bộ lãnh đạo khoa học biết làm tiền ấy, họ đã lên “những chức vụ rất cao và ngồi đó bàn thảo chính sách” cả rồi, tác giả Vũ Cao Đàm đã kể như thế về một sự thực “trọng đại của quốc gia.”

Thế đấy, rồi chúng ta sẽ thấy Giám Đốc Công An tỉnh Lâm Đồng rồi cũng sẽ tương tự lên “những chức vụ rất cao và ngồi đó bàn thảo chính sách” -- vì đã có công ra lệnh cắt Internet và phone của Hà Sĩ Phu.

Thế đấy, rồi chúng ta sẽ thấy đơn vị công an giảỉ phóng mặt bằng Nghi Sơn rồi cũng sẽ tương tự lên “những chức vụ rất cao và ngồi đó bàn thảo chính sách” -- vì đã có công nổ súng bắn chết cậu bé 12 tuổi dám đổ máu, đưa xác thân mình hóa thân ra dáng hình xứ sở... như kiểu nhà thơ Bộ Trưởng Văn Hóa Thông Tin dẫn trên đã viết.

Thế đấy, rồi ai sẽ thực sự làm chủ đất nước này – nơi có máu em bé 12 tuổi bị giết để hóa thân ra dáng hình xứ sở -- trong khi cái đảng “tiểu muội CS Việt Nam” liên tục nhượng bộ đất và biển cho “đạị ca CS Trung Quốc” như lời báo nguy của Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh?

Tuesday, June 1, 2010

NGƯỜI CỘNG SẢN NGỦ MÊ TRƯỚC HIỂM HỌA MẤT NƯỚC

Trích Tạp chí Thế Giới Mới
Phạm Trần

Quân đội và Báo chí được lệnh nói “Tầu lạ" và “Nước ngòai” để Ám chỉ Trung Quốc!

Chưa bao giờ những người Cộng sản Việt Nam (CSVN) lại thờ ơ trước hiểm họa mất nước vào tay Trung Quốc như trước ngày Đại hội đảng XI sẽ diễn vào tháng 1/2011.

Bằng chứng đã thấy trên đất liền qua “Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa” (Ngày 30 tháng 12 năm 1999), và trên biển qua “Hiệp định giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Bắc Bộ.” (Ngày 25/12/2000)

Từ đó đến nay, không ai được nhìn thấy “Hiệp ước biên giới đất liền” và cũng chưa ai được phép điều tra về những tin tố cáo đảng và nhà nước CSVN đã cắt đất và nhượng biển cho Trung Quốc để đổi lấy sự bảo vệ không bị lật đồ và những khỏan tiến viện trợ kinh tế lãi nhẹ hay không phải hòan trả lên đến hàng trăm tỷ Dollars.

Thực tế hơn, Nông Đức Mạnh, Tồng Bí thư đảng vào năm 2008 đã tự ý bằng lòng, không có phép của Quốc hội, để cho Trung Quốc vào Tây Nguyên khai thác Bauxite. Các Công ty của Tầu đã trúng thầu tượng trưng cho hợp pháp để xây dựng các Nhà máy điện, nhà máy xi măng, xây đâp nước, lập cơ xưởng sản xuất hàng hoá rồi cấm người Việt Nam lai vãng tới như một vùng cấm địa, đặc quyền lãnh thổ!

Ngòai Biển đông thì từ năm 2000, Việt Nam đã mất chủ quyền lãnh hải. Đường biển từ đảo Hải Nam xuống phía nam quần đào Trường Sa hòan tòan thuộc quyền kiểm soát và thao túng của Hải Quân Trung Quốc, mặc dù Việt Nam còn quân đóng trên một số đảo ở Trường Sa.

Trong khi đó, Trung Quốc cũng có quân trên ít nhất 8 đảo chiếm được của Việt Nam từ sau trân hải chiến với Hải quân CSVN năm 1988. Họ tiếp tục đánh dấu các đảo ngầm dưới nước nằm sâu trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam và không ngừng kiến thiết sân bay, lập bến tầu, xây trại lính, thiết lập các trạm nghiên cứu tài nguyên, hải sản và tổ chức du lịch ở Quần đảo Hòang Sa sau khi chiếm của Việt Nam Cộng hòa tháng 1/1974.

Bắc Kinh còn bịa đặt ra vùng đặc quyền kinh tế hình “luỡi bò” chiếm từ 80 đến 85 phần trăm diện tích Biển đông, bao gồm cả hai quần đào Hoàng Sa và Trương Sa của Việt Nam.

Từ năm 2008, Trung Quốc gia tăng truy bắt đòi chuộc tiền và hung hãn tấn công làm chết nhiều Ngư dân Việt Nam trong vùng Hòang Sa và Trường Sa nhưng Việt Nam cũng chỉ biết phản đối bằng nước bọt.

Độc ác hơn là vào mùa cá mỗi năm từ trung tuần tháng 6 đến tháng 8, Trung Quôc lại đơn phưpơng ra lệnh cấm đánh cá để gọi là thực hiện các cuộc nghiên cứu đáy biền, mực nước và tài nguyên không phải của họ nhưng lại gia tăng lực lượng Hài quân để bảo vệ các tầu đánh cá của Trung Quốc được tự do đánh bắt trong vùng biền của Việt Nam.

BÁO TẦU CHỬI VÀO MẶT LÃNH ĐẠO VIỆT NAM

Về mặt truyên truyền, một số báo Trung Hoa đã công khai yêu cầu Chính quyền Bắc kinh phải sẵn sàng lực lượng để “dạy cho Việt Nam một bài học nữa” bằng cuộc tấn công quân sự để đuổi quân Việt Nam ra khỏi các đảo còn lại ở Trường Sa.
Hãy đọc một số đọan dịch từ các báo Tầu của Tác giả Vũ Cao Đàm đăng trên mạng báo Bauxite Viet Nam ở trong nước của nhóm Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, trong số ra ngày ngày 08/05/2010 : “Việt Nam là láng giềng của Trung Quốc, nhưng đã không mong muốn cùng Trung Quốc phát triển phồn thịnh. Trong mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam, tôi thấy đây là mối quan hệ giữa “người nông dân và con rắn độc”. Việt Nam luôn sắm vai “thất tín bội nghĩa”, trong những thời điểm quan trọng lại “chơi” lại sự khoan dung và lương thiện của Trung Quốc. Trong tình hình quốc tế hiện nay, vì sự phát triển hài hòa của Trung Quốc, việc dùng lực chống lại Việt Nam không thể chậm trễ hơn nữa. Vì sao phải đánh Việt Nam bằng vũ lực? Tôi xin chỉ ra 2 khía cạnh lớn sau đây:

I. Việt nam là một quốc gia lòng lang dạ sói

“…..Sự vô ơn của Việt Nam còn biểu hiện ở việc lúc đó Việt Nam một tay nhận viện trợ vô tư của Trung Quốc, một tay lại ngấm ngầm chìa ra cho Liên Xô cũ. Dưới sự thao túng của Liên Xô cũ và các nước đế quốc, Việt Nam đã làm đủ trò để quấy nhiễu ở biên giới Trung-Việt, dẫn đến đổ máu cho người dân Trung Quốc. Tại Việt Nam, Việt Nam sát hại và trục xuất số lượng lớn Hoa kiều. Lúc đó Việt Nam còn xuất quân tấn công Campuchia, ủng hộ Heng Somrin. Không thể nhẫn nại hơn trong tình thế bất khả kháng đó, tháng 2/1979, Trung Quốc phát động cuộc chiến tranh phản kích tự vệ. Trong hoàn cảnh đất nước Trung Quốc hết sức khó khăn vẫn vô tư giúp đỡ Việt Nam, nhưng cuối cùng, bọn Việt Nam đã bắt tay với Liên Xô cũ, một đối thủ của Trung Quốc, cầm súng bắn lại ân nhân Trung Quốc. Chúng ta hãy nghĩ xem, bọn Việt Nam lòng lang dạ sói đến mức nào nữa?

II. Việt Nam là đất nước “tiểu nhân bỉ ổi không biết xấu hổ”.

Trung Quốc-Việt Nam là hai nước láng giềng uống chung nguồn nước, nhiều chính trị gia Việt Nam đã đến học tập tại Trung Quốc, tương đối hiểu biết về chính sách và quan điểm nhân văn của Trung Quốc. Trong thời kỳ mới Trung Quốc theo đuổi quan hệ láng giềng hòa bình, hợp tác hài hòa, Trung Quốc vẫn giữ thái độ khoan dung quảng đại để quan hệ với Việt Nam.

Trước đây không lâu, ngày 30/5/2008, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh đột nhiên đến thăm Trung Quốc. Trong cuộc đến thăm lần này, vị Tổng bí thư này nói rất nhiều điều làm cảm động lòng người, mồm bô bô: “láng giềng tốt, bạn bè tốt, chiến hữu tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, tỏ ra rất chi là thân thiết... sau này mới biết, thì ra kinh tế Việt Nam bị Mỹ cấm vận, lạm phát tăng cao, kinh tế của Việt nam xuất hiện nguy cơ khủng hoảng nên Việt Nam mới chạy đến xin cầu viện Trung Quốc... Đến khi vừa về nước vị Tổng bí thư này liền trở mặt, liên kết với đối thủ cạnh tranh của Trung Quốc là Công ty dầu khí Mobil để khai thác dầu khí trên quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa) mà Việt Nam xâm chiếm và cướp đoạt. Việt Nam thật là vô liêm sỉ, không biết hổ thẹn.Trong quá trình tranh cướp các đảo của Trung Quốc, còn ra vẻ “quang minh chính đại” liên kết với công ty dầu khí nước ngoài tiến hành thăm dò khai thác. Mục đích của Việt Nam là quốc tế hóa các đảo chiếm được với tâm địa độc ác, không biết xấu hổ. Đây là hành vi điền hình của “cường đạo biến thành quân tử”, chủ yếu là nhằm thỏa mãn tham vọng của Phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ, đây là 2 nước vô liêm sỉ. Vì vậy đúng là không thể giải được hận khi Trung Quốc không dùng vũ lực để thu hồi phần lãnh hải đã mất.

Chính sách của Chính phủ Việt Nam đối với Trung Quốc là vô cùng nham hiểm, biểu hiện ở việc, khi Trung Quốc ra sức cải tạo và phát triển kinh tế Vịnh Bắc Bộ và đạt được những thành quả về kinh tế thì Việt Nam một mặt tìm cách lợi dụng và hưởng thụ, một mặt lại liên kết với Hoa Kỳ - quốc gia đầu sỏ trên thế giới để ngăn chặn sự phát triển của Trung Quốc. Khi đăng cai tổ chức Thế vận hội Olympic, Trung Quốc lại đề cập đến vấn đề chủ quyền biển và vấn đề hợp tác Trung – Việt để khai thác dầu khí tại biển Nam Hải (Việt Nam gọi là Biển Đông), thì, bọn Việt Nam đã thực sự là bọn con cháu phá gia chi tử, chúng điên cuồng khai thác trộm tài nguyên dầu khí trên vùng biển của Trung Quốc, Việt Nam còn liên kết với những lực lượng can thiệp “quốc tế”, khiến vùng biển Trung- Việt trở thành một tiêu điểm quốc tế.

Việt Nam đã vi phạm nguyên tắc căn bản: láng giềng hữu nghị, không có chiến tranh, cùng nhau phát triển. Xem ra Việt Nam đã đi theo vết xe đổ của những năm 70, vẫn còn muốn diễn vai kẻ bán đứng ân nhân đã giúp đỡ họ, trở thành một kẻ “tiểu nhân vô liêm sỉ” thực thụ. Hàng loạt các biện pháp hiện nay của Việt Nam giải thích đầy đủ rằng, cuộc chiến tranh Trung - Việt năm 79 vẫn chưa đủ dạy cho Việt Nam một bài học tơi bời thì trong bài học lần này, chúng ta cần làm triệt để, để Việt Nam có được bài học nhớ đời và cũng là vì lợi ích lâu dài của Trung Quốc……”

Bất cứ người Việt Nam nào, ở trong hay ngoài nước, khi đọc được Bài dịch của Giáo sư Vũ Cao Đàm mà lòng dạ không sôi sục, xốn xang muốn vả vào mặt, vào miệng cho rơi hết răng những đứa viết lách hỗn hào như thế? Vậy mà, đáng ngạc nhiên đến rùng mình khi thấy những người mặc áo Lãnh đạo cầm quyền của Việt Nam lại cúi đầu ngậm miệng như hến, không dám cho báo đài của đảng phản ứng.
Sự sợ hãi đến nhu nhược, khiếp hèn này của Nông Đức Mạnh (Tổng Bí thư đảng) , Nguyễn Minh Triết (Chủ tịch Nước), Nguyễn Tấn Dũng (Thủ tướng) nên được giải thích như thế nào cho người dân hiểu?

Thậm chí báo, đài trong nước không dám viết đích danh Tầu của Trung Quốc đã đâm chìm hay tấn công các tầu đánh cà của ngư dân Việt Nam mà chỉ dám viết là “Tầu Lạ”.

Ngay cả khi cả Thế giới đều biết Tầu đã xua quân tấn công và chiếm một số đảo của Việt Nam trong quấn đảo Trường Sa năm 1988, thế mà một viện Thượng tá Hải quân của CSVN, qua tường thuật của Đài Tiếng Nói Việt Nam (TNVN), trong lễ tưởng niệm 64 chiến sỹ đã hy sinh trong cuộc hải chiến này (14-3-1988) ngày tại khu vực Trường Sa vào ngày 9-5-2010 cũng chỉ dám nói “lực lượng quân sự Nước Ngoài” đã tấn công và chiếm đóng một số vị trí của Trường Sa.

Hai Thông tín viên Mạnh Hùng và Việt Cường viết: “Trong diễn văn đọc tại Lễ tưởng niệm, Thượng tá Trịnh Lương Vượng, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn M46, vùng D Hải quân nhấn mạnh: Với mưu đồ thôn tính Trường Sa, độc chiếm biển Đông, từ cuối năm 1987, đầu năm 1988, lực lượng quân sự “nước ngoài” đã ngang nhiên chiếm đóng một số bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia với phương châm “không dùng vũ lực để giải quyết những vấn đề tranh chấp trên biển”. Bất chấp lẽ phải, quân đội “nước ngoài” ngang nhiên tấn công quân sự, bắn chìm, bắn cháy 3 tàu vận tải của ta.”

Khi nói về tình hình hiện nay ở vùng biển Trường Sa, Trịnh Lương Vượng nói tiếp: “Với toan tính và tham vọng thôn tính Trường Sa, độc chiếm biển Đông của “nước ngoài”, Trường Sa hôm nay vẫn chưa thực sự bình yên. Chúng tôi, những người hiện đang tiếp tục sự nghiệp của các đồng chí, xin thề trước anh linh của tổ tiên, trước hương hồn của các đồng chí, đồng thời xin nhắn nhủ tới các thế hệ mai sau, quyết tâm bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc và xây dựng Trường Sa trở thành một huyện đảo giàu mạnh, ngang tầm với vị trí chiến lược trên Biển Đông”..

Tại sao Trịnh Lương Vượng và những người làm báo của Việt Nam lại cố ý loan tin sai sự thật hèn hạ tới mức này và ai đã ra lệnh cho họ làm công việc ‘phản quốc” như thế?

Những người ra lệnh cho Vượng và Đài TNVN đưa tin xuyên tạc lịch sử như vậy có biết chính họ đã mang tội “phản bội và phản quốc” rồi không?

Đối với những người dân cầm súng bảo vệ lãnh thổ mà còn bị đối xử tàn tệ như thế thì mấy cái xác của ngư dân Việt Nam bị chết chìm ở Biển đông có đáng là gì nên Báo chí nhà nước gọi Tầu của Trung quốc là “Tầu lạ” cũng không có gì đáng ngạc nhiên.

Nhưng đối với những con người lãnh đạo đất nước mà chưa bao giờ dám nhìn thằng vào mắt dân để xin lỗi cho những hành động phản bội của mình thì đạo lý dân tộc của họ đồi với các bậcTiền nhân và các chiến sỹ đã đổ máu cho họ được sống vinh thân phì gia hôm nay cũng không đáng giá một đồng xu. -/-

Phạm Trần
(05/010)

Monday, May 31, 2010

LS Lê Thị Công Nhân bị bắt một cách thô bạo

Trích Đàn Chim Việt

Chiều ngày 28/5, nữ Luật sư Lê Thị Công Nhân lại bị Công An dùng bạo lực bắt giữ một cách trái pháp luật, trước sự chứng kiến của đông đảo người dân. Công Nhân cho biết chị đã bị 6 viên An ninh thô bạo bẻ tay và “lôi xềnh xệch trên mặt đất“.

Sau 5 tiếng tra khảo liên tục, họ thả Công Nhân về nhà lúc 10 giờ tối cùng ngày. Hiện tại chị đang rất mệt, hai vai còn đau nhức sau những đòn trấn áp thô bạo của An ninh.

Chúng tôi đã liên lạc với Công Nhân, chị cho biết CA đã hành hung và bắt chị vào lúc 5.15pm tại Highlands Coffee (ngã tư Phan Bội Châu và Lý Thường Kiệt, Hà Nội).

Công Nhân đã kể lại những chi tiết của sự việc như sau:

Vào khoảng 5h chiều, khi đang ngồi uống cafe với 2 người bạn thì bất ngờ Công An ập đến và ngang ngược yêu cầu Công Nhân phải đứng lên đi theo. Trước yêu cầu quá vô lý, Công Nhân kiên quyết từ chối. Ngay lập tức, 6 viên an ninh xúm lại dùng bạo lực bẻ tay, nắm tóc và kéo chị đi.

“Họ bảo mình đi theo họ, mình không chịu đi. Thế là nói một lúc, cả 5, 6 người đồng thanh lao vào túm chặt mình lôi đi. Mình gào khóc ầm ĩ vì uất ức không chịu được, mình dãy dụa khiến bàn ghế lật tung…“

Tráo trợn hơn, một nữ công an la lối “Người đâu, ra lập biên bản con này hành hung người khác!”.

Nhân nghĩ đến vụ chị Trần Khải Thanh Thủy, có lẽ họ định dựng kịch bản tương tự với mình nhưng không thành công.“

Công An thừa biết sức khỏe Công Nhân hiện đang rất yếu, quán cafe nằm trên 10 bậc thang, vậy mà “công an khóa tay, kéo đầu mình chúi xuống mà lôi đi, khiến đầu mình đập mạnh vào các bậc cầu thang. Ơn Chúa, mình không bị chấn thương sọ não .“

“Họ kéo mình ra xe, lôi dốc đầu xuống đất xềnh xệch như một con vật vậy đó!. Lúc tống vào xe còn đè mình nằm xuống để không ai nhìn!“.

Công Nhân cố sức phản kháng một cách bất lực, thậm chí chị “khóc thét đến khan giọng“. Cuối cùng công an đã áp giải chị về đồn Trần Hưng Đạo ở đường Trần Quốc Toản và nhốt ở đấy cho đến 8.45pm.

Tại đây, cả nhóm công an vây quanh hăm dọa, la lối đồng thời họ còn vu khống Công Nhân tội “hành hung người khác”(?!). Suốt mấy tiếng đồng hồ, chị liên tục phải chịu đựng những hành vi chửi bới, xúc phạm nhân phẩm một cách nặng nề.

Sau đó thì CA đem chị về đồn Phương Mai nhốt tới 9.55pm thì thả. Công Nhân mệt mỏi bước ra khỏi đồn CA và đi bộ về nhà cách đó khoảng 0,5km.

Sức khỏe Công Nhân vốn rất yếu do mắc khá nhiều bệnh. Cộng thêm 3 năm tù đày gian khổ, chị càng mỏng manh hơn !

“Bây giờ 2 bả vai đau nhức lắm, nhất là bên trái, về nhà cầm chén cơm cũng mỏi dừ luôn! Mình ráng ăn 1 chén cơm nhưng đau vai và mệt quá nên cũng chẳng muốn ăn nữa.“

Lúc đôi co với Công an tại quán cafe, Công Nhân đã thẳng thắn lên tiếng “chính quyền mờ ám, tôi không có tội tình gì hết, đòi dân chủ mà là tội sao …v…v “. Chị đã cố tình cho xung quanh nghe thấy, người ta có nghe và sau đó thì len lén nhìn, im lặng một cách ái ngại.

Trong số những Công an đàn áp Lê Thị Công Nhân lần này có tên Hưng là người đã tham gia đánh hội đồng anh Bạch Ngọc Dương ở CA phường Bùi Thị Xuân trước đây. Người công an nữ tên là Vui cũng là người chửi Công Nhân “Tao tát chết con mẹ mày bây giờ” khi Công Nhân hô “C/A giết người” (lúc họ vây vào đánh anh Bạch Ngọc Dương). Còn lại là những nhân sự mới, “tuyệt đối dấu tên” theo lời của Công Nhân.

Cuối buổi trò chuyện Lê Thị Công Nhân cũng cho biết tinh thần chị vẫn vững mạnh và tràn đầy nhiệt huyết. Trong sự đau đớn từ tinh thần đến thể xác sau vụ trấn áp bắt bớ vừa mới xảy ra, và mặc dù đêm đã khuya, chị còn đùa tinh quái:

“À, hôm nay lại mặc cả bộ trắng chứ, quần thô dải rút, sơ mi thô trắng, thế là dính đầy đất vào quần áo. Nếu mà thấy bộ dạng CN lúc đó chắc thảm lắm. Nước mắt nước mũi đầm đìa vì mình bị viêm mũi dị ứng mà. Còn quần áo xộc xệch, hở cả bụng, tóc tai buộc bị xổ tung ra, kính vẹo cả trên mặt, may không bị gãy vỡ là mình thành mù dở đấy, vì cận 6 độ mà. Thôi nhé, mình nghỉ đây!“


Sunday, May 30, 2010

"Quyết không bán rẻ tài nguyên cho nước ngoài"

Trích Tuần Việt nam

Có tài nguyên không thể không khai thác. Nhưng không vội, không vơ vét, vì còn phải dành cho con cháu mai sau, và vì phải có đủ thời gian để học làm chủ công nghệ. Nhất quyết không bán rẻ tài nguyên cho nước ngoài.

Lời nguyền tài nguyên là cách nói chua chát nhằm vào những quốc gia sa đà vào đào bới của cải dưới lòng đất hòng tạo ra bước đột phá về kinh tế. Nó đã trở thành đề tài được giới học giả thảo luận sôi nổi trong nhiều thập kỷ gần đây.

Tại sao Sudan và một số nước Tây Phi giàu dầu mỏ, kim cương mà các chỉ tiêu về mức sống, giáo dục, tuổi thọ… lại thuộc loại thấp nhất thế giới? Tại sao Arập Saudi xuất khẩu dầu mỏ nhiều nhất thế giới lại có đến 17% người dân thất học? Tại sao nội chiến triền miên luôn gieo lên đầu những người dân châu Phi khốn khó, trong khi chính họ mới là chủ nhân đích thực các kho báu ẩn giấu dưới lòng đất? Ỷ lại vào tài nguyên thiên nhiên chẳng những sẽ thất bại mà càng lún sâu vào tụt hậu.

Lời nguyền tài nguyên – bức tranh hiện hữu trên thế giới

Nhìn ra thế giới trong vài thập kỷ gần đây, có mấy nước nhờ đào bới tài nguyên thiên nhiên mà nhanh chóng bứt phá lên phía trước. Ngược lại, có khi chính vì thiếu than đá, dầu mỏ, quặng sắt..., mà một số nước Đông Á lại hoá rồng. J. Sachs, A. Garner và một số học giả khác qua phân tích ngót 100 nền kinh tế trên thế giới trong hai thập kỷ 1970 – 1980 đã chứng minh rằng những nước có tỷ trọng xuất khẩu tài nguyên trong GDP cao thường có xu hướng tăng trưởng chậm, không đầu tư đúng mức cho giáo dục khiến có ít trẻ em được cắp sách đến trường.

Công trường khai thác mỏ than ở Quảng Ninh. Ảnh: VNN
Thực chất, đằng sau nghịch lý nói trên là những hậu quả nặng nề cho đất nước khi tài nguyên thiên nhiên bị lạm dụng bởi những nhóm lợi ích trong một đất nước thiếu tri thức khoa học – công nghệ lại có thể chế yếu kém và thiếu minh bạch. Sự giàu có quá dễ dàng của họ chính là nguồn gốc gây ra tham nhũng, tình trạng tù mù trong hệ thống nhà nước, gia tăng phân hoá giàu nghèo, tàn phá môi trường, sự tụt hậu về giáo dục – khoa học – công nghệ, cả nội chiến và bất ổn chính trị...

Ngày nay trong bối cảnh hội nhập và khủng hoảng năng lượng toàn cầu, bản đồ quyền lực thế giới đã được vẽ lại. Một số nước cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên lại nắm được tri thức khai thác, chế biến chúng, có lực lượng khoa học – công nghệ hùng hậu trong nhiều lãnh vực. Trong khi đó, nhiều nước khác có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú lại yếu kém cả về tri thức lẫn thể chế, không làm chủ được nguồn tài nguyên của mình. Họ dễ bị chinh phục, không phải bởi pháo hạm như ngày xưa, mà bởi các tấm séc ngân hàng. Chính đồng tiền do bán rẻ tài nguyên thiên nhiên đã mang lại bất công và khổ đau cho đa số người dân, mất độc lập tự chủ cho đất nước.

Các nước phát triển cũng không khỏi lao đao nếu không chú ý đến mặt trái do những nguồn tài nguyên mới khám phá mang lại. Căn bệnh Hà Lan (Dutch disease) phản ánh tình trạng khủng hoảng ở Hà Lan và Anh vào những năm 1970, khi những mỏ khí và dầu trữ lượng lớn được phát hiện ở Biển Bắc. Nguồn thu từ dầu khí đã làm lệch cơ cấu kinh tế và tăng giá trị thực đồng nội tệ. Cuối những năm 1970, từ chỗ nhập khẩu dầu mỏ, cỗ xe kinh tế đồ sộ Anh quốc bỗng thừa dầu để xuất khẩu. Đồng bảng tăng giá trị thực, xuất khẩu hàng chế biến đình đốn, công nhân đình công đòi tăng lương, kinh tế rơi vào suy thoái.

Làm chủ bất cứ một công nghệ khai thác, chế biến tài nguyên nào cho đến những nấc thang giá trị gia tăng tột cùng, chính là chỗ khác nhau cơ bản giữa những nước tránh được và không tránh được lời nguyền tài nguyên.

Song cũng có nhiều nước thành công nhờ phát triển theo con đường khác. Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Chile, Malaysia... rất giàu tài nguyên, dẫn đầu thế giới về sản lượng than, đồng, chì, thiếc, vàng, đất hiếm... nhưng những nguồn lợi ấy chỉ góp phần nhỏ trong GDP vì họ tăng trưởng nhờ phát triển nhiều ngành công nghiệp khác. Ở Iran, tuy dầu mỏ đóng góp đến 38% GDP, nhưng họ biết sử dụng nguồn lợi ấy để ra sức phát triển khoa học – công nghệ, trong đó có nhiều công nghệ mũi nhọn, sánh vai với các cường quốc trên thế giới.

Lời nguyền tài nguyên không phải là quy luật tất định, càng không phải định mệnh, đối với những nước giàu tài nguyên. Song với tư cách là một quy luật thống kê, nó đủ độ tin cậy để cảnh báo mọi người chớ đi theo vết xe đổ của một số nước, đừng hoạch định chính sách phát triển quốc gia bằng cách trông chờ vào các kho báu còn ẩn giấu đâu đó dưới lòng đất. Brazil, nước đông dân thứ năm trên thế giới, mới đây đã phát hiện mỏ dầu cực lớn trên thềm lục địa. Thay vì hoan hỉ, Tổng thống Lula da Silva đã lôi đích danh bóng ma lời nguyền tài nguyên ra để cảnh báo dân chúng: “Đừng để xảy ra lời nguyền tài nguyên như ở nhiều quốc gia dầu mỏ khác. Nguồn lợi này sẽ phải được dùng để phát triển giáo dục, khoa học công nghệ và xoá đói giảm nghèo... Chúng ta không nên trở thành một nước xuất khẩu dầu thô đơn thuần, mà phải ra sức xây dựng một ngành công nghiệp hoá dầu hùng mạnh...”

Làm chủ KHCN - tiêu chí đích thực để tránh được lời nguyền tài nguyên

Làm chủ công nghệ hoá dầu, hay bất cứ một công nghệ khai thác, chế biến tài nguyên nào khác cho đến những nấc thang giá trị gia tăng tột cùng, chính là chỗ khác nhau cơ bản giữa những nước tránh được và không tránh được lời nguyền tài nguyên. Những nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến lời nguyền tài nguyên thường chỉ ra sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế (căn bệnh Hà Lan), sự yếu kém về thể chế (dân chủ, minh bạch, phân bố lợi tức), quản lý nhà nước và luật pháp... Nhưng hầu như ít ai nhắc đến yếu tố làm chủ công nghệ.

Để làm rõ hơn vai trò của yếu tố khoa học – công nghệ, chúng tôi đã xem xét mối tương quan giữa nguồn lợi thu được từ dầu mỏ với năng lực khoa học – công nghệ dựa trên số công trình khoa học công bố trên quốc tế từ 30 nước đang phát triển có sản lượng dầu thô cao hơn Việt Nam, 300.000 thùng/ngày. Kết quả nghiên cứu cho thấy có hai nhóm nước “đối lập” nhau, những nước còn lại nằm xen vào giữa hai nhóm này. Ở một cực, điển hình là Kuwait, Arập Saudi, Các tiểu vương quốc Arập thống nhất, Angola, thu lợi từ dầu mỏ rất lớn, chiếm 65 – 80% GDP, nhưng sản sinh ra rất ít công trình khoa học tính trên GDP.

Phía bên kia là Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Argentina với nguồn thu từ dầu mỏ chỉ chiếm 2 – 4% GDP nhưng số công trình tính trên GDP cao hơn gấp bội. Các nước này không ỷ lại vào tài nguyên thiên nhiên mà phát triển nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ khác nhờ làm chủ được KHCN. Trong số các nước xen vào giữa hai nhóm trên, đáng chú ý nhất là Iran, thu nhập từ dầu mỏ chiếm đến 38% GDP, nhưng nền khoa học – công nghệ của họ mạnh hơn hẳn các nước Hồi giáo vùng Vịnh thuộc cực thứ nhất.

Việt Nam liệu có tránh được?

Nước ta giàu tài nguyên khoáng sản đến mức nào? Về việc này có lẽ nên nhắc lại một phát biểu dựa trên khoa học địa chất và ý tưởng thống kê của A. P. Aleksandrov, nguyên chủ tịch viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, theo đó trữ lượng khoáng sản của một nước nói chung tỷ lệ thuận với diện tích của nước ấy.

Chả thế mà Nga, Trung Quốc, Mỹ, Canada, Ấn Độ, Australia, Brazil... luôn dẫn đầu thế giới về sản lượng hầu hết các loại khoáng sản. Nước ta đất chật người đông, cho dù thượng đế có ưu ái cũng không thể hoá phép để biến một nước có diện tích thứ 65 trên thế giới (dân số thứ 13) trở thành cường quốc về tài nguyên thiên nhiên. Gần đây, bauxite Tây Nguyên và cát đen chứa titan dọc theo ven biển miền Trung được xem như một lợi thế tài nguyên lớn của đất nước. Song nhiều chuyên gia địa chất lâu năm lại tỏ ra dè dặt về những con số trữ lượng dường như được thổi phồng, thậm chí họ còn nhắc nhở thêm: cái mà thế giới cần, ta không có, còn cái ta có, thế giới lại không cần, hoặc họ có nhiều hơn.

Trên thực tế, hai mặt hàng khoáng sản lớn nhất của Việt Nam là dầu và than đá, dầu mỏ đứng thứ 36 trên thế giới (hơn 300 ngàn thùng/ngày), than đá thứ 17 (41 triệu tấn). Xem ra, chúng ta không nằm ngoài quy luật thống kê vừa nói trên. Năm 2008, xuất khẩu khoáng sản của ta chỉ chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó 80% là dầu thô, 10% than đá, và các khoáng sản khác chỉ chiếm 10%.

Khai thác than thổ phỉ. Ảnh VNN
Có tài nguyên dồi dào mới chỉ là tiền đề, xử lý chúng thế nào mới là chuyện quyết định. Liệu việc đào bới cát đen trong mấy chục năm qua đã sinh lợi cho ai, và nguồn lợi mà Chính phủ thu được có thấm thía gì nếu muốn khôi phục lại vùng ven biển miền Trung đã bị tàn phá hay không?

Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến quặng bauxite do TKV trình và được Chính phủ phê duyệt tháng 11.2007, đã toát lên một tinh thần khẩn trương, chạy đua với thời gian để năm 2015 đạt 6 - 8,5 triệu tấn alumina, và tăng tốc mạnh hơn nữa đến 15 triệu tấn vào năm 2025. Ngay đến Trung Quốc, nước hàng đầu thế giới cả về alumina lẫn aluminium (nhôm), với tập đoàn Chalco hùng mạnh, khai thác khoáng sản khắp nơi trên thế giới, cũng chỉ sản xuất hơn 8 triệu tấn alumina hàng năm. Trớ trêu hơn, toàn bộ sản lượng khổng lồ ấy của ta lại phải xuất sang Trung Quốc, nước vừa cung cấp công nghệ vừa bao tiêu sản phẩm cho hai nhà máy đầu tiên, Tân Rai và Nhân Cơ, và chắc chắn sẽ tiếp tục làm như thế cho các nhà máy sau. Trong khi đề xuất một kế hoạch quá mạo hiểm như vậy, lại không hề nói rõ bao giờ ta mới nội địa hoá và làm chủ được công nghệ chế biến alumina, một công nghệ quá cổ điển, đã có từ cuối thế kỷ 19.

Chúng ta đã có quá nhiều bài học thất bại về làm chủ công nghệ. Sau hàng chục năm xây dựng công nghiệp ôtô, mức độ nội địa hoá chỉ quanh quẩn 4 - 5%. Với 100 đôla xuất được từ hàng may mặc ta phải nhập khẩu thiết bị, nguyên vật liệu đến 80 đôla ngay từ các nước láng giềng. Năm nay Việt Nam mới bắt đầu có sản phẩm lọc dầu nội địa, chậm hơn Thái Lan và Malaysia đến vài chục năm. Song có nhà máy lọc dầu không đồng nghĩa với làm chủ công nghệ hoá dầu. Tình trạng chậm tiến độ do trục trặc kỹ thuật tại nhà máy Dung Quất gần đây cho thấy làm chủ công nghệ, ngay chỉ ở mức độ vận hành suôn sẻ những công nghệ nhập từ nước ngoài, vẫn còn lắm gian nan.

Tại sao người Việt Nam không bước lên được quỹ đạo mà người Hàn Quốc đã ung dung trên đó từ cách đây bốn thập kỷ?

Hàng trăm đề tài được nghiệm thu xuất sắc về chế biến quặng ilmenit để tạo ra bột TiO2, zircon... , vẫn nằm trong ngăn kéo. Trong khi đó, qua chuyến khảo sát gần đây tại Bình Thuận, nơi dự kiến có lượng ilmenit và zircon đến hơn 6 triệu tấn, chúng tôi được xác nhận rằng cách có lời nhất là bán ilmenit sơ chế thô (qua khâu tuyển trọng lực) cho Trung Quốc, rồi mua lại của họ các thành phẩm chế biến tiếp theo.

Cần phải nhận dạng cho đúng tại sao chúng ta thất bại, không làm chủ được công nghệ trong rất nhiều ngành công nghiệp. Việc này sẽ giúp chúng ta đi dúng quỹ đạo công nghiệp hoá - hiện đại hoá, để không sa lầy vào cái "bẫy thu nhập trung bình". Nhưng cho dù có những thất bại vừa qua, chúng ta không được phép hạ cái khẩu hiệu "khoa học - công nghệ là then chốt" xuống trong khi rất cần trưng nó lên để hoạch định một ngành công nghiệp hướng đến thương hiệu quốc gia dựa trên lợi thế tài nguyên thiên nhiên của mình.

***

Có tài nguyên không thể không khai thác. Nhưng không vội, không vơ vét, vì còn phải dành cho con cháu mai sau, và vì phải có đủ thời gian để học làm chủ công nghệ. Nhất quyết không bán rẻ tài nguyên cho nước ngoài. Cát đen không những chỉ chứa TiO2, monaxit, đất hiếm mà trong đó còn có zircon, từ đó làm ra hợp kim zircaloy cho vỏ thanh nhiên liệu trong nhà máy điện hạt nhân, còn có thorium, nguồn nhiên liệu tương lai có thể thay thế cho uranium đang cạn dần. Vậy tại sao phải ra sức đào bới các đụn cát xinh xắn mà thượng đế đã dày công vun đắp để chắn sóng, che gió, để từ nước mưa chắt lọc ra những mạch nước mội ngay sát bờ biển... rồi đem cát đen ấy bán vội cho nước ngoài? Như thế đâu phải là công nghiệp hoá - hiện đại hoá!

Có người phản biện: "Các nước ngày nay giàu có chính là nhờ vơ vét tài nguyên để công nghiệp hoá trong hàng trăm năm qua, có còn gì dành lại cho con cháu họ đâu?" Xin thưa, ít ra họ cũng còn truyền lại khối tri thức khoa học - công nghệ khổng lồ làm của hồi môn cho con cháu.

---

Tiêu đề do Tuần Việt Nam tự đặt

Saturday, May 29, 2010

Ông Hồ thắc mắc...

Trích DCVOnline
Trần Khải

Chuyện “lãng mạn” kiểu ông Hiệu Trưởng Sầm Đức Xương đã êm rồi, xong rồi. Cho dù là ông đã làm hại đời của một số em nữ sinh trung học. Tuần này là nhiều chuyện khác. Với nhiều chuyện cấm khác...

Mới hôm Thứ Ba, đài Á Châu Tự Do (www.rfa.org) loan tin theo báo Úc Châu rằng vụ Ngân Hàng Nhà Nước VN đổi tiền giấy để in tiền nhựa không chỉ là nhận tiền hối lộ từ một cơ quan bán công Úc, mà còn được Úc chiêu đãi bằng “gái mãi dâm” để có hợp đồng.

Bản tin RFA trích như sau:

“...Securency International là một công ty thuộc Ngân hàng Dự trữ Liên bang Úc. Công ty này từng bị cáo buộc đã hối lộ quan chức nước ngoài, nhằm giành các hợp đồng in tiền polymer cho một số quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Trước đây, theo hệ thống truyền thông Úc, Securency đã hối lộ một số quan chức Việt Nam khoản tiền 12 triệu đô la Úc để được chọn làm nhà thầu in tiền polymer cho Việt Nam.

Mới đây, hệ thống truyền thông Úc vừa loan báo, một cựu nhân viên của Securency lên tiếng cáo buộc Cảnh sát Liên bang Úc đã bỏ qua một khiếu nại có liên quan đến vụ tham nhũng và đưa hối lộ của Securency...

Nhân chứng này cũng đã tiết lộ một thông tin rất quan trọng. Đó là một trong những quản lý cao cấp nhất của Securency đã yêu cầu ông ta tìm gái mại dâm người châu Á cho Phó Thống đốc của một Ngân hàng Trung ương nước ngoài...”
(hết trích)

Báo trong nước tất nhiên là chưa loan tin gì, trong khi báo hải ngoại và qúôc tế loan tin rất tự nhiên.
Tuy nhiên, cán bộ hủ hóa là chuyện khác. Chuyện quan tâm hôm nay là một bí mật của ông Hồ Chí Minh, rằng chính báo quốc nội loan tin rằng ông ưa quan tâm chuyện dưới lưng quần của phụ nữ.

Để nói cho rõ. Đây không phải là chuyện ông Hồ có thắc mắc thầm kín với các tiểu muội họ Tăng, họ Nông... của ông. Không phải thế. Mà là nói chung, cái đầu của ông Hồ khi ngó các phụ nữ, là thắc mắc liền “chuyện ấy”... Xin đừng nghĩ tầm bậy cho ông Hồ. Nói “chuyện ấy” nhưng không phải là “chuyện ấy.”

Thực ra, bài báo trên tờ Công An Nghệ An và báo của UBND TP Vinh có tựa đề là “Bác Hồ với sự nghiệp giải phóng phụ nữ”, nghĩa là nghe rất Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Nhưng cũng thực ra, có thể đặt tít cho bài báo này khác hơn, thí dụ như:

- Bác Hồ giải mã về bí mật đoàn phụ nữ Miền Nam...
- Bác Hồ và chuyện chưa biết về phụ nữ...
- Bác Hồ vén màn bí mật của đoàn phụ nữ Miền Nam.
- Khi đoàn phụ nữ Miền Nam bật mí với Bác Hồ...


Hồ Chí Minh, Gynecologist?
Nguồn: DCVONline tổng hợp
Trong một chiến dịch ca ngợi ông Hồ Chí Minh, một bài viết ký tên Nguyễn Minh Châu đăng hôm chủ nhật 7/3/2010 trên báo Công An Nghệ An và báo Vinh của tỉnh này đã kể chuyện rằng ông Hồ đã có công giải phóng phụ nữ.
Đặc biệt, cụ thể, khi tiếp đón một phái đoàn phụ nữ, ông Hồ đã hỏi rằng kinh nguyệt của quý bà có trồi sụt hay không... Nguyên văn, trích từ bài ca ngợi ông Hồ viết:

“Khi đoàn phụ nữ miền Nam vượt Trường Sơn ra thăm Bác, các chị được Bác đón tiếp thân tình. Thấy các chị gầy, xanh, hốc hác, Bác hỏi: ‘Các cháu kinh nguyệt có đều không?’...”
Khi nghe các cô trả lời là trồi sụt thất thường, ông Hồ đã “ứa lệ...”

Bài viết ca ngợi ông Hồ này khi được nhiều người đọc và gây sốc với phụ nữ, hiện đã bị gỡ xuống trên mạng Vinh (UBND TP Vinh), nhưng ở mạng Công An chưa gỡ xuống: http://congannghean.com.vn/Bac_Ho_voi_su_nghiep_giai_phong_phu_nu-details.aspx.

Trường hợp độc giả không vào được link trên, có thể vào Google để tìm, vẫn còn lưu nhiều bản ở bộ nhớ cache.

Bài viết kể chuyện ông Hồ hỏi trực tiếp quý bà về kinh nguyệt trích như sau:

Giải phóng phụ nữ là một bộ phận trong sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc mà lúc sinh thời Bác Hồ rất quan tâm.
Nguồn: Congannghean.vn

“Bác Hồ với sự nghiệp giải phóng phụ nữ - Chu Nhật, 7/03/2010 08:00
(Congannghean.vn)-Nhà sử học Mỹ, bà Gi-xen-tơn trong bài viết: "Vai trò của Hồ Chí Minh trong lịch sử của sự tiến bộ của phụ nữ" đã nhận xét: "Chỉ có Hồ Chí Minh đã luôn luôn bộc trực về quyền bình đẳng của phụ nữ, về giáo dục, tự do ngôn luận, độc lập về kinh tế và quyền của phụ nữ được hưởng các quyền lợi khác như của nam giới

Giải phóng phụ nữ là một bộ phận trong sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc mà lúc sinh thời Bác Hồ rất quan tâm. (...)

Nhân dịp này Người còn "Kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sỹ đã hi sinh cho Tổ quốc. Tôi kính chào các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ cùng vợ con của các liệt sỹ". Gần cuối bức thư Người khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già ra sức thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực rỡ.”

Sau này mỗi dịp đến công tác ở địa phương Bác luôn quan tâm đến chị em phụ nữ. Vào thăm nhà máy cơ khí, thấy cô công nhân để bộ tóc dài, Bác ra hiệu dừng máy, đến gần ân cần nhắc: “Cháu là gái khi lao động phải vận tóc lên, đội mũ bảo hiểm để đảm bảo an toàn: Bộ tóc là gốc con người.” Khi đoàn phụ nữ miền Nam vượt Trường Sơn ra thăm Bác, các chị được Bác đón tiếp thân tình. Thấy các chị gầy, xanh, hốc hác, Bác hỏi: “Các cháu kinh nguyệt có đều không?”

Các chị xúc động đến ứa nước mắt. Một chị nhẹ nhàng thưa với Bác như đứa con nói riêng với mẹ: “Thưa Bác! do điều kiện ăn uống, vệ sinh kham khổ, thiếu thốn nên chúng cháu... rất thất thường.”

Đôi mắt Bác ứa lệ nói với bác sỹ Phạm Ngọc Thạch - Bộ trưởng Bộ Y tế cùng tiếp khách với Bác: “Chú phải tìm cách trông nom chạy chữa cho các cô ấy, kinh nguyệt là biểu hiện xuất sắc của người phụ nữ, là điều kiện đảm bảo hạnh phúc của đời người và bảo tồn nòi giống.”

Có lần đoàn đại biểu lãnh đạo tỉnh Thanh Hoá ra làm việc với Bác xin chụp ảnh lưu niệm, Bác không đồng ý và bảo: “Khi nào các chú ra làm việc với Bác có đại biểu phụ nữ thì Bác mới chụp ảnh lưu niệm”...
(hết trích)

Nhiều người nói rằng tác giả bài báo là văn nô. Có lẽ không phải thế. Bởi vì các chi tiết này là bí mật ngàn đời trong Lịch Sử Đảng CSVN... không ai dám bịa đặt chuyện như thế.

Phải là chuyện có thật, nhưng là chưa kể công khai. Người viết bản tin ký tên là Nguyễn Minh Châu, hình như chỉ làm ra vẻ ca ngợi ông Hồ, nhưng thực ra là kể hết bí mật thầm kín về các quan tâm của ông Hồ khi gặp phụ nữ.

Rằng Ông Hồ thắc mắc không phải là chuyện nước mắt của Tăng Tiểu Muội có còn rơi lẻ bóng hay không, và không phải là chuyện Nông Tiểu Muội đã đầu thai về đâu.
Mà là ngay trước mắt, Ông Hồ ngó xuống dưới lưng quần của đoàn phụ nữ Miền Nam mà thắc mắc, trời ạ, trồi hay sụt.

Wednesday, May 26, 2010

Hãng Securency hối lộ tiền và gái mãi dâm

DCVOnlineTin tổng hợp


Hãng Securency hối lộ tiền và gái mãi dâm


Công ty Securency International, là công ty sản xuất giấy bạc có cổ phần của Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA), đã có ý cung cấp gái làng chơi và hối lộ viên chức ngân hàng trung ương ngoại quốc để được trúng thầu, báo The Age ở tiểu bang Melbourne, Úc Đại Lợi tường thuật, dựa vào lời khai của một cựu viên chức hãng Securency, là một nhân chứng trong cuộc điều tra của sở Cảnh sát Liên bang Úc.

Cảnh sát liên bang Úc bắt đầu tiến hành cuộc điều tra công ty này hôm tháng Năm năm rồi khi công ty này bị kết tội đút lót viên chức nhà nước Việt Nam, Nigeria và Mã Lai Á để có được thầu cung cấp tiền polymer cho các nước này.

Cảnh sát Liên bang Úc đang tiến hành cuộc điều tra bắt đầu từ tháng Năm năm 2009. Khi nào đến phiên cảnh sát Việt Nam nhập cuộc, hay ném chuột lại sở bễ đồ? Nguồn: ABC News: Michael Janda
Một người trung gian được hãng Securency thuê nói với nhân chứng là ông ta có ý định hối lộ một viên thống đốc ngân hàng trung uơng người châu Á, và một giám đốc thâm niên của hãng Securency nói với người nhân chứng thu xếp một gái làng chơi sẵng sàng cho một phó thống đốc ngân hàng ngoại quốc đang thăm viếng Úc, theo báo The Age. Người nhân chứng tạm được ẩn danh này tiết lộ những điều trên với nhật báo The Age và chương trình Bốn Góc của Công ty Truyền thông Úc (ABC), sẽ được phát thanh trên hệ thống truyền thanh tối qua ngày 24 tháng Năm.

Phát ngôn viên Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) từ chối bình luận. Trong lúc, văn phòng của hãng Securency ở thành phố Craigieburn, tiểu bang Victoria lại lái những câu hỏi này qua cho RBA trả lời. Nữ phát ngôn viên cho Sở Cảnh sát Liên bang Úc ở Canberra cũng từ chối bình luận, bà chỉ nói rằng thảo luận về chuyện này trong thời điểm hiện nay sẽ làm ảnh hưởng đến cuộc điều tra đang được tiến hành.

Được thành lập năm 1996, hãng Securency là một công ty hợp doanh giữa Ngân hàng Dự trữ và hãng Innovia Films, chuyên cung cấp vật liệu được dùng làm giấy bạc và tài liệu an ninh, theo trang mạng của hãng này cho hay. Bạc giấy dùng chất liệu polymer đã được 29 quốc gia hiện đang dùng, theo công ty này.

Hãng Innovia đã không trả lời câu hỏi để lại trên máy nhắn tin ở văn phòng Craigieburn hay e-mail yêu cầu họ bình luận thêm về chuyện này.

Việt Nam chuyển từ bạc giấy sang tiền với nguyên liệu polymer trong năm 2002. Nguồn: vntripguide.com
Theo một bản tin khác của báo The Age đã được DCVOnline đưa lại vào hôm 30 tháng Mười năm rồi, một viên chức Việt Nam cao cấp đã nhận hơn 5 triệu đô-la như là tiền hoa hồng từ công ty Securency. Báo The Age cho hay, tiền trả cho viên chức Việt Nam và công ty của ông ta đã được chuyển đến trương mục nằm ở nước ngoài, tổng cộng hơn 12 triệu đồng. Và một thương gia ở Hà Nội tên Lương Ngọc Anh, giám đốc của một công ty hoạt động ở Úc có văn phòng nằm ở Frankston, tây nam thành phố Melbourne đã đóng một vai trò lớn lao trong chuyện hối lộ này.

Công ty Securency đã thuê Lương Ngọc Anh vì ông này quen biết với nhiều người ở cấp cao trong nhà nước Việt Nam. Người ta ghi nhận là ông và công ty của ông ta làm việc cho Bộ Công an Việt Nam. Theo báo The Age, công ty Securency trả cho ông và công ty của ông ta, CFTD, hơn 12 triệu đô-la, một số trong số tiền này được chuyển qua những trương mục ngân hàng nằm ở Thụy sĩ (Switzerland).


© DCVOnline

Tuesday, May 25, 2010

Hrw: Giam 3 Nhà Hoạt Động, Csvn Bưng Bít Tin Cả 3 Tháng

Trích Việt Báo
Việt Báo Thứ Bảy, 5/22/2010, 12:00:00 AM

HRW: Giam 3 Nhà Hoạt Động, CSVN Bưng Bít Tin Cả 3 Tháng

Bản tin đài VOA ghi theo thông cáo báo chí của tổ chức Human Rights Watch hôm nay nhấn mạnh sự quan ngại về tình trạng của 3 nhà hoạt động đang bị giam giữ là Đoàn Huy Chương, 25 tuổi, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, 29 tuổi, và Đỗ Thị Minh Hạnh, 25 tuổi.
Theo Human Rights Watch, các nhân vật vừa kể là những người trẻ tuổi tranh đấu cho quyền lợi của công nhân và các nạn nhân bị chính quyền tịch thu đất đai tại Việt Nam.
Human Rights Watch cho biết cả ba người hầu như bị biệt giam hoàn toàn kể từ khi bị bắt hồi tháng hai, trong khi giới hữu trách Việt Nam không công bố việc giam cầm những người này suốt 3 tháng nay là về tội danh gì.
Đoàn Huy Chương, một trong những sáng lập viên của Hiệp hội Đoàn kết Công Nông, từng bị bắt hồi năm 2006 sau khi giúp thành lập tổ chức không được chính quyền Việt Nam công nhận này.
Sau đó, anh bị tuyên án một năm rưỡi về tội danh “lợi dụng các quyền tự do, dân chủ” và “xuyên tạc nhằm phá hoại nhà nước”. Cùng thời gian đó, thân phụ của anh là ông Đoàn Văn Diên, một người truyền đạo Tin Lành, cũng bị bắt giam với tội danh tương tự, và hiện đang còn trong trại giam B5 ở tỉnh Đồng Nai.
Trao đổi với VOA Việt Ngữ, bà Hồ Thị Thương, thân mẫu anh Đoàn Huy Chương, cho biết:
“Cháu bị bắt ngày 29 trước Tết, tới nay gia đình chưa gặp mặt. Cháu đang bị giam tại số 237 đường Nguyễn Văn Cừ, quận 1, TPHCM. Họ nói đang trong vòng điều tra, chưa cho gặp được. Họ cũng không cho mình một biên bản gì hết, nhưng vừa rồi khi về đọc lệnh xét nhà thì họ nói rằng cháu 'rải truyền đơn tuyên truyền chống nhà nước Việt Nam', nhưng tôi cũng không biết chủ đề của truyền đơn đó như thế nào. Giờ tôi chỉ mong muốn nhà nước cho biết cháu đã làm việc gì, chứ mong nó được về cũng không được. Nó chỉ tranh đấu cho người dân Việt Nam bị áp bức thì tôi cho đó là việc làm đúng thôi. Bây giờ đúng sai, cháu đã vào tù một lần rồi thì chắc cũng đã có sự quyết định của mình. Nhưng tôi nghĩ, cháu làm thì biết đúng mới làm, nhưng đối với nhà nước Việt Nam thì chuyện cháu làm lúc nào họ cũng cho là sai, vì họ không muốn mình tranh đấu ngoài ý muốn của họ.”
Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đỗ Thị Minh Hạnh là hai nhà hoạt động tích cực ủng hộ những người dân nghèo bị chính quyền tịch thu đất đai, còn được gọi là dân oan khiếu kiện.
Tổ chức Human Rights Watch nhấn mạnh việc biệt giam công dân kéo dài, không cho phép họ tiếp cận các hỗ trợ pháp lý là một hành động tùy tiện và vi phạm các chuẩn mực nhân quyền quốc tế. Human Rights Watch kêu gọi chính quyền Hà Nội tạo điều kiện cho 3 nhà hoạt động đang bị giam cầm được tiếp xúc với luật sư và phóng thích họ ngay lập tức.
Đài VOA ghi theo bản tin AFP hôm Thứ Sáu viết rằng giới phân tích, các tổ chức nhân quyền trên thế giới, và các nhà ngoại giao quốc tế mô tả tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam đang ngày càng trầm trọng hơn. Kể từ tháng 10 năm ngoái đến nay, có ít nhất 20 nhà tranh đấu dân chủ bị giam cầm. Số này chưa kể trường hợp của 3 nhà hoạt động được Human Rights Watch lưu tâm trong thông cáo báo chí hôm nay.


Monday, May 24, 2010

Cù Huy Hà Vũ: Đảng lệ đè lên Luật Pháp hay “Ô dù” của Nguyễn Bá Thanh

Trích NguoiViet Boston

nguyenbathanh944Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra trung ương Nguyễn Văn Chi bảo kê bỏ tù những người tố cáo Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh tham nhũng hay Đảng lệ đè pháp luật?
Dù muốn hay không, Ban lãnh đạo Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam cũng đã phải thừa nhận “Tham nhũng là quốc nạn” với việc lập ra cả một Ban chỉ đạo trung ương chống tham nhũng do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cầm chịch có chân rết trong tất cả các Bộ, ngành và địa phương. Điều này không chỉ cho thấy tham nhũng có phạm vi toàn Việt mà còn cho thấy cuộc chiến chống tham nhũng là Một mất một còn.

Chỉ lấy ví dụ ở Đà Nẵng, đáng tiếc là các thế lực tham nhũng và bao che tham nhũng đang thắng thế với việc những người tố cáo hành vi “nhận hối lộ” của Bí thư thành ủy Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, Đại biểu Quốc Hội Nguyễn Bá Thanh, bị Hội đồng xét xử Tòa phúc thẩm – Tòa án nhân dân tối cao do thẩm phán Trần Mẫn làm Chủ tọa bỏ tù vào cuối tháng 12 năm ngoái do đã “Lợi dụng các quyền tự do, dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”?!

Mọi chuyện bắt đầu từ Công văn số 73/KSĐT-KT ngày 31/10/2000 của Viện KSND thành phố Đà Nẵng gửi Lãnh đạo Viện KSNDTC và Công văn số 77/KSĐT/KT ngày 01/11/2000 của Viện KSND thành phố Đà Nẵng gửi Viện trưởng Viện KSNDTC và Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Phan Diễn đề nghị xử lý Nguyễn Bá Thanh về tội nhận hối lộ của Phạm Minh Thông, Giám đốc Công ty hợp doanh xây lắp và kinh doanh nhà Đà Nẵng, Nguyễn Hưng, Chỉ huy phó Công trình đường Bắc Nam.

Đặc biệt Công văn số 77/KSĐT/KT ghi rõ: “Thông khai có đưa cho ông Nguyễn Bá Thanh – Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng nhiều lần số tiền là 4.425 triệu đồng theo yêu cầu của ông Thanh là Công ty muốn được thanh toán vốn nhanh phải trích lại cho ông 5% trên số vốn do công trình xây dựng bằng vốn ngân sách và 150.000đ/m2 trên số mét vuông đất do Ủy ban nhân dân thanh toán bằng quỹ đất đường Bắc Na… Với các tài liệu, chứng cứ nêu trên, vào chiều ngày 31/10/2000 sau khi phân tích một cách sâu sắc và có trách nhiệm, thì có 5/7 thành viên Ủy ban kiểm sát thống nhất Phạm Minh Thông, Nguyễn Hưng phạm tội: Đưa hối lộ, Nguyễn Bá Thanh phạm tội: Nhận hối lộ. Do đó nếu vụ án dừng lại chỉ xử lý quy buộc số tiền trên cho Phạm Minh Thông và Nguyễn Hưng mà không điều tra, xử lý đối tượng nhận tiền thì sẽ oan cho người đưa tiền, trong khi đó người đòi hối lộ thì vô can, dư luận nhân dân không đồng tình và vụ án không được giải quyết triệt để và thỏa đáng”.

Do hai công văn này cùng với những lá đơn tố cáo hành vi tham nhũng của Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh được một công dân thành phố Đà Nẵng là Đinh Công Sắt lưu hành trong dân chúng mà trong mắt Công an thành phố Đà Nẵng là hành vi xâm hại đến uy tín, danh dự của Nguyễn Bá Thanh nên vụ án “Lợi dụng các quyền tự do, dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” đã được khởi tố. Trong số các bị can rồi tiếp đó là bị cáo ngoài Thiếu tướng Trần Văn Thanh, Chánh Thanh tra Bộ Công an, người đã tổ chức điều tra hành vi “nhận hối lộ” của Nguyễn Bá Thanh, còn có một cán bộ công an khác là Trung tá Dương Tiến, Trưởng Đại diện báo Công an thành phố Hồ Chí Minh.

Nếu như Thiếu tướng Trần Văn Thanh đã là nạn nhân của sự trả thù tư pháp phi nhân chưa từng thấy trong lịch sử thế giới hiện đại khi ông bị Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng Nguyễn Văn Quận điệu ra nơi xét xử khi đang hôn mê và bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xử 12 tháng tù treo, Trung tá Dương Tiến bị Tòa án thành phố Đà Nẵng kết án 17 tháng 5 ngày tù giam và bị Hội đồng xét xử phúc thẩm y án, đúng bằng thời gian ông bị giam cầm trái pháp luật. Và phân tích sau đây chỉ riêng những hành vi phản pháp luật thể hiện trong bản án hình sự phúc thẩm đối với Trung tá Dương Tiến cũng đã đủ cho thấy thế lực tham nhũng có tính hệ thống trả thù những người chống tham nhũng điên cuồng và hèn hạ đến mức nào.
Hội đồng xét xử phúc thẩm đã kết án Trung tá Dương Tiến với lời buộc tội sau đây:

Tại đơn kháng cáo kêu oan cũng như tại phiên tòa sơ thẩm trước đây và phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo chỉ thừa nhận vào ngày 14/5/2007, tại Văn phòng đại diện báo Công an TP. Hồ Chí Minh tại Hà Nội, bị cáo có giao cho Đinh Công Sắt tài liệu gồm: công văn số 73/KSĐT-KT ngày 31/10/2000 và công văn số 77/KSĐT-KT ngày 01/11/2000 của VKSND TP. Đà Nẵng gửi lãnh đạo VKSNDTC và Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, nội dung công văn có nêu kết quả điều tra vụ án Phạm Minh Thông, trong đó có một số lời khai của Phạm Minh Thông có liên quan đến lãnh đạo thành phố Đà Nẵng; bị cáo không thừa nhận có bảo Đinh Công Sắt đem tài liệu về phát tán cho dân Đà Nẵng đọc.

Xét thấy, vụ án Phạm Minh Thông và vụ án Nguyễn Hưng đã được Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm từ năm 2002, án đã có hiệu lực pháp luật, không có cán bộ lãnh đạo nào của thành phố Đà Nẵng liên quan đến bản án đã xét xử. Do đó mọi hành vi nhằm xúc phạm đến uy tín, danh dự lãnh đạo thành phố Đà Nẵng trong vụ án trên là phạm pháp.

Tại các biên bản ghi lời khai và tại các bản tường thuật trong giai đoạn điều tra cho thấy bị cáo Dương Tiến khi cung cấp hai công văn 73,77/KSĐT-KT nói trên đã bảo với Đinh Công Sắt đem đi photocopy nhiều bản, mang về cho dân Đà Nẵng đọc. Lời khai này phù hợp với lời khai của Đinh Công Sắt. Tài liệu này cùng với một số tài liệu khác sau đó đã được Sắt phát tán nhiều nơi, cho nhiều người tại địa bàn thành phố Đà Nẵng vào các ngày 15,16,17,18/5/2007 gần ngày bầu cử Quốc hội khóa 12 nhằm mục đích làm ảnh hưởng, gây khó khăn cho công tác bầu cử tại địa phương, làm giảm uy tín ứng cử viên đại biểu Quốc hội. Hành vi của bị cáo Dương Tiến và Đinh Công Sắt đã làm cho một bộ phận cử tri hoang mang, khiến chính quyền và các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan có trách nhiệm trong công tác chuẩn bị bầu cử cũng như giới thiệu ứng cử viên phải huy động lực lượng cho việc khắc phục hậu quả, thu hồi tài liệu mà các bị cáo tán phát và trấn an dư luận nhằm đảm bảo cho công tác bầu cử được diễn ra thuận lợi.

Về việc bị cáo Dương Tiến và Luật sư cho rằng công văn 73,77 không có dấu mật, công khai, ai đọc cũng được là điều không thể chấp nhận. Bởi lẽ bị cáo là công an, đồng thời giữ chức vụ Trưởng Văn phòng đại diện của một tờ báo ngành công an, bị cáo phải nhận thức rõ nội dung 2 công văn trên có đề cập đến cá nhân lãnh đạo địa phương, vì vậy chỉ có người có thẩm quyền mới được biết.

Việc Dương Tiến đã chủ động gọi cho Đinh Công Sắt ra Hà Nội để cung cấp 2 công văn trên, hỗ trợ tiền cho Sắt làm chi phí đi lại, bảo Sắt mang về tán phát đã thể hiện rõ mục đích, ý thức phạm tội của bị cáo. Do biết đây là hành vi vi phạm pháp luật nên bị cáo đã dặn Sắt “Phải cẩn thận”. Sau đó ngày 17/5/2007, bị cáo vào Đà Nẵng gặp Đinh Công Sắt để nắm tình hình dư luận Đà Nẵng sau khi Sắt tán phát tài liệu như lời khai tại bút lục 912, ngày 04/3/2008. Trong vụ án này, Dương Tiến và bị cáo Đinh Công Sắt là đồng phạm về hành vi tán phát tài liệu 2 công văn 73,77/KSĐT-KT tại thời điểm gần đến ngày bầu cử Quốc hội khóa 12, làm ảnh hưởng đến hoạt động của Nhà nước, tổ chức xã hội địa phương về công tác bầu cử, làm ảnh hưởng đến uy tín của người khác. Dương Tiến là đồng phạm với Đinh Công Sắt về hành vi trên. Án sơ thẩm không quy buộc bị cáo Tiến là đồng phạm với Trần Văn Thanh và Nguyễn Phi Duy Linh.

Với những căn cứ trên, xét án sơ thẩm áp dụng Khoản 1 Điều 258 BLHS để xử phạt Dương Tiến về “Tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” là có căn cứ, đúng tội. Do đó, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo cũng như quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo”.

Thế nhưng Hội đồng xét xử phúc thẩm đã cố tình kết án oan Trung tá Dương Tiến vì vụ án hình sự này không có người bị hại như chứng minh sau đây.

Điều 8 BLHS quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân…”, Điều 51 BLTTHS quy định: “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra”. Rồi các Điều 68, 137 BLTTHS quy định về lời khai của người bị hại, Điều 191 BLTTHS quy định sự có mặt của người bị hại tại phiên tòa… Như vậy, theo pháp luật hình sự, tội phạm được xác định bởi người bị hại, không có người bị hại thì không có tội phạm.

Chắc chắn “Tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” không thuộc các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe và vì thế người bị hại bởi tội phạm này chắc chắn không chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, đồng nghĩa với việc người bị hại phải lên tiếng về tội phạm bằng cách này hay cách khác.

Công văn số 73/KSĐT-KT ngày 31/10/2000 của Viện KSND thành phố Đà Nẵng gửi Lãnh đạo VKSNDTC và Công văn số 77/KSĐT/KT ngày 01/11/2000 của Viện KSND thành phố Đà Nẵng gửi Đ/c Viện trưởng VKSNDTC và Đ/c Phan Diễn, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng đều đề cập đến việc Nguyễn Bá Thanh, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng đã nhận hối lộ của Phạm Minh Thông, Giám đốc Công ty hợp doanh xây lắp và kinh doanh nhà Đà Nẵng, Nguyễn Hưng, Chỉ huy phó Công trình đường Bắc Nam.

Đặc biệt Công văn số 77/KSĐT/KT ghi rõ: “Thông khai có đưa cho ông Nguyễn Bá Thanh – Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng nhiều lần số tiền là 4.425 triệu đồng theo yêu cầu của ông Thanh là Công ty muốn được thanh toán vốn nhanh phải trích lại cho ông 5% trên số vốn do công trình xây dựng bằng vốn ngân sách và 150.000đ/m2 trên số mét vuông đất do Ủy ban nhân dân thanh toán bằng quỹ đất đường Bắc Nam… Với các tài liệu, chứng cứ nêu trên, vào chiều ngày 31/10/2000 sau khi phân tích một cách sâu sắc và có trách nhiệm, thì có 5/7 thành viên Ủy ban kiểm sát thống nhất Phạm Minh Thông, Nguyễn Hưng phạm tội: Đưa hối lộ, Nguyễn Bá Thanh phạm tội: Nhận hối lộ. Do đó nếu vụ án dừng lại chỉ xử lý quy buộc số tiền trên cho Phạm Minh Thông và Nguyễn Hưng mà không điều tra, xử lý đối tượng nhận tiền thì sẽ oan cho người đưa tiền, trong khi đó người đòi hối lộ thì vô can, dư luận nhân dân không đồng tình và vụ án không được giải quyết triệt để và thỏa đáng”.

Như vậy, theo quan điểm của Hội đồng xét xử phúc thẩm, việc Trung tá Dương Tiến, cung cấp 02 công văn 73,77/KSĐT-KT của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng cho Đinh Công Sắt là hành vi “xúc phạm đến uy tín, danh dự” của Nguyễn Bá Thanh, Bí thư Thành ủy ĐCSVN thành phố Đà Nẵng, Đại biểu Quốc hội, nguyên Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng và do đó Nguyễn Bá Thanh là “người bị hại”. Thế nhưng, trong toàn bộ hồ sơ của vụ án phần liên quan đến Trung tá Dương Tiến không có bất cứ dấu vết nào dù là nhỏ nhất cho thấy Nguyễn Bá Thanh là “người bị hại”, chẳng hạn như: đơn tố cáo, lời khai của chính Nguyễn Bá Thanh tại Cơ quan điều tra về hành vi phạm tội của Trung tá Dương Tiến. Mà đã không có “người bị hại” thì không thể có việc Trung tá Dương Tiến phạm tội.
Tóm lại, chỉ riêng việc không có “người bị hại” trong vụ án hình sự này cũng đã đủ chứng minh Trung tá Dương Tiến hoàn toàn vô tội. Do đó, việc Hội đồng xét xử phúc thẩm đưa vụ án ra xét xử mà lẽ ra phải đình chỉ theo Khoản 2 Điều 239 (Kháng cáo kháng nghị những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm) Bộ Luật TTHS và hơn thế nữa, kết án Trung tá Dương Tiến dứt khoát là hành vi phạm “Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội” quy định tại Điều 294 và “Tội ra bản án trái pháp luật” quy định tại Điều 295 Bộ Luật Hình sự!

Như vậy, người viết bài này đã chứng minh xong sự vô tội của Trung tá Dương Tiến cũng như chứng minh xong tội phạm “Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội” của Hội đồng xét xử phúc thẩm – Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng do Thẩm phán Trần Mẫn làm Chủ tọa. Tuy nhiên, điều nghiêm trọng hơn rất nhiều là Hội đồng xét xử phúc thẩm kết án oan Trung tá Dương Tiến không hẳn do dốt nát về nghiệp vụ hoặc do có vấn đề về tâm thần mà là do cố ý hãm hại người vô tội nhằm bao che hành vi “nhận hối lộ” của Bí thư Thành ủy Đảng cộng sản Việt Nam, Đại biểu Quốc hội, nguyên Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh.
Thực vậy, có cả một loạt chứng cứ chứng minh nhận định này.

1. Hội đồng xét xử phúc thẩm bịa đặt căn cứ để kết tội
Pháp luật quy định các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ có thể điều tra, kiểm sát, xét xử trên cơ sở các quy định của pháp luật. Thế nhưng Hội đồng xét xử phúc thẩm đưa ra ít nhất 02 căn cứ không có trong bất kỳ văn bản pháp luật nào để kết tội Trung tá Dương Tiến.

Tại bản án phúc thẩm có ghi: “Xét thấy, vụ án Phạm Minh Thông và vụ án Nguyễn Hưng đã được Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm từ năm 2002, án đã có hiệu lực pháp luật, không có cán bộ lãnh đạo nào của thành phố Đà Nẵng liên quan đến bản án đã xét xử. Do đó mọi hành vi nhằm xúc phạm đến uy tín, danh dự lãnh đạo thành phố Đà Nẵng trong vụ án trên là phạm pháp”.

Ngoài ra, tại bản án phúc thẩm còn ghi: “bị cáo Dương Tiến và Luật sư cho rằng công văn 73,77 không có dấu mật, công khai, ai đọc cũng được là điều không thể chấp nhận. Bởi lẽ bị cáo là công an, đồng thời giữ chức vụ Trưởng Văn phòng đại diện của một tờ báo ngành công an, bị cáo phải nhận thức rõ nội dung 2 công văn trên có đề cập đến cá nhân lãnh đạo địa phương, vì vậy chỉ có người có thẩm quyền mới được biết”.

Sự bịa đặt của Hội đồng xét xử phúc thẩm được thể hiện như sau:
Thứ nhất
, không có bất cứ văn bản pháp luật nào quy định bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật đối với người không phải là bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm muốn bản án hình sự phúc thẩm vụ án Phạm Minh Thông và Nguyễn Hưng có hiệu lực pháp luật với Nguyễn Bá Thanh thì nhân vật này bắt buộc phải là bị cáo trong vụ án này. Thế nhưng Nguyễn Bá Thanh không phải là bị cáo trong vụ án vì chưa bị Công an thành phố Đà Nẵng khởi tố bị can để điều tra để rồi bị Viện kiểm sát truy tố ra Tòa án để xét xử về “Tội nhận hối lộ” quy định tại Điều 279 Bộ Luật Hình sự!

Nói cách khác, muốn pháp luật xác nhận Nguyễn Bá Thanh không phạm “Tội nhận hối lộ” của Phạm Minh Thông và Nguyễn Hưng thì cách duy nhất là phải khởi tố bị can và truy tố Nguyễn Bá Thanh ra Tòa án để rồi Hội đồng xét xử tuyên Nguyễn Bá Thanh không phạm tội sau khi bác bỏ những chứng cứ buộc tội của đại diện Viện kiểm sát thực hiện công tố đối với nhân vật này. Đó chính là điều mà Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà đã không dưới 2 lần cấp thiết đề nghị ngay giữa phiên tòa trước một cử tọa đông đảo nhưng Hội đồng xét xử phúc thẩm đã cố tình lờ đi.

Thứ hai, không có bất cứ quy định pháp luật nào cấm công dân tiếp tục tố cáo hành vi phạm pháp của lãnh đạo thành phố Đà Nẵng nói chung, hành vi phạm pháp của Nguyễn Bá Thanh nói riêng với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ngay cả trong trường hợp Nguyễn Bá Thanh với tư cách bị cáo được Tòa án tuyên vô tội như giả thiết nêu trên.

Nhân đây cần khẳng định rằng chống tham nhũng là sự nghiệp của toàn dân chứ không phải là việc riêng của chính quyền và các cơ quan bảo vệ pháp luật, đồng nghĩa hoạt động của các cơ quan này phải chịu sự giám sát chặt chẽ của người dân và của xã hội thông qua báo chí. Để nói việc Trung tá Dương Tiến đưa cho Đinh Công Sắt xem hai công văn số 73 và 77/KSĐT-KT của Viện kiểm sát thành phố Đà Nẵng là hoàn toàn chính đáng và cần thiết, không chỉ trao đổi thông tin để chống tham nhũng có hiệu quả hơn mà còn để giám sát chính quyền nói chung, cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng trong đấu tranh chống tham nhũng!

Theo Khoản 3 Điều 8 BLHS thì “Tội nhận hối lộ” là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm này quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 23 BLHS là 20 năm. Do Nguyễn Bá Thanh chưa bị Công an thành phố Đà Nẵng khởi tố để điều tra về hành vi nhận hối lộ như Viện KSND thành phố Đà Nẵng đề xuất tại 02 công văn 73 và 77/KSĐT-KT nên việc công dân phẫn nộ, tiếp tục tố cáo hành vi phạm pháp này của Nguyễn Bá Thanh không những là bình thường mà còn rất cần thiết để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý Nguyễn Bá Thanh một cách triệt để bằng biện pháp tư pháp.

Tóm lại, tố cáo là quyền công dân được Hiến pháp và Luật khiếu nại, tố cáo bảo hộ. Do đó việc Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử và kết án những người liên quan đến việc tố cáo Nguyễn Bá Thanh nhận hối lộ rõ ràng là hành vi cản trở việc tố cáo và cản trở việc xử lý ông Thanh theo pháp luật và vì vậy phạm “Tội xâm phạm quyền khiếu nại tố cáo” quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 132 Bộ Luật Hình sự.

Sự bịa đặt của Hội đồng xét xử phúc thẩm được thể hiện như sau:

Thứ nhất, không có bất cứ quy định pháp luật nào cấm công dân đọc công văn có dấu “Mật” của các cơ quan Nhà nước huống chi công văn không có dấu “Mật” như hai công văn số 73 và 77/KSĐT-KT của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Thứ hai, không có bất cứ văn bản pháp luật nào quy định công văn đề cập đến cá nhân lãnh đạo chính quyền địa phương chỉ người có thẩm quyền mới được biết.
Tóm lại, chỉ trong trường hợp tài liệu có dấu “Mật” bị lọt ra ngoài xã hội thì mới có thể truy cứu trách nhiệm và người bị truy cứu trách nhiệm là người có thẩm quyền đã để lọt tài liệu đó ra ngoài chứ tuyệt nhiên không thể truy cứu trách nhiệm người dân hay người không có thẩm quyền đã đọc tài liệu đó.

2. Hội đồng xét xử phúc thẩm tự mâu thuẫn khi một mặt, mặc nhiên thừa nhận Bí thư Thành ủy Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Bá Thanh có hành vi “nhận hối lộ” như kết luận của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại 02 công văn số 73 và 77/KSĐT-KT nhưng mặt khác, lại kết luận việc lưu hành 02 công văn này xúc phạm danh dự, uy tín của Nguyễn Bá Thanh.

Nếu Hội đồng xét xử cho rằng việc lưu hành 02 công văn số 73 và 77/KSĐT-KT của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng là hành vi xúc phạm danh dự, uy tín của Bí thư Thành ủy Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Bá Thanh thì người có hành vi này phải biết rõ những điều mà họ loan truyền, lưu hành là bịa đặt, tương tự hành vi của người phạm “Tội vu khống” quy định tại Điều 122 Bộ Luật Hình sự.

Thế nhưng Hội đồng xét xử phúc thẩm đã không đả động một chút nào đến nội dung của 02 công văn này, tức mặc nhiên thừa nhận việc Nguyễn Bá Thanh nhận hối lộ không phải là bịa đặt, tức có thực.

Điều đáng lưu ý là ngoài hai công văn 73,77 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, theo Thiếu tướng Trần Văn Thanh, Chánh Thanh tra Bộ Công an tại Bản trình bày ngày 03/11/2008 làm theo yêu cầu của tổ công tác liên ngành kèm theo công văn 3429/VKSTC-V2 ngày 30/10/2008 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, còn có nhiều văn bản của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác xác nhận các đơn tố cáo về hành vi tham nhũng của Nguyễn Bá Thanh của một số công dân thành phố Đà Nẵng (trong đó có đơn tố cáo của Đinh Công Sắt) là có cơ sở và đề xuất xử lý hình sự Nguyễn Bá Thanh như:

- Báo cáo số 73/BC-VPBCĐ ngày 26/10/2007 của Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng gửi Thủ tướng Chính phủ và Thường trực Ban bí thư và Báo cáo số 38/BC-VPBCĐ ngày 07/4/2008 của Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng gửi Ban Bí thư Trung ương Đảng đề xuất xử lý Nguyễn Bá Thanh theo quy định của pháp luật.

- Kết luận thanh tra số 524/KLTT-BCA (V24) ngày 06/6/2008 của Bộ Công an xác định có đủ căn cứ để khởi tố vụ án và bị can đối với Nguyễn Bá Thanh và việc Công an thành phố Đà Nẵng không khởi tố để điều tra là vi phạm Điều 103, 104 BLTTHS, có dấu hiệu vi phạm Điều 294 BLHS.

3. Hội đồng xét xử phúc thẩm cố ý vi phạm tố tụng hình sự do đã không triệu tập ông Nguyễn Trịnh Thăng tham gia tố tụng với tư cách nhân chứng duy nhất cuộc gặp giữa Đinh Công Sắt và Trung tá Dương Tiến, ngày 14/5/2007 tại Văn phòng đại diện báo Công an thành phố Hồ Chí Minh tại Hà Nội.

Ngày 11/01/2010, ông Nguyễn Trịnh Thăng, thường trú tại Tổ 42 An Hòa, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã viết Đơn gửi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tố cáo Hội đồng xét xử sơ thẩm – Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng do Thẩm phán Nguyễn Thành làm Chủ tọa và Hội đồng xét xử phúc thẩm – Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng do thẩm phán Trần Mẫn làm Chủ tọa đã cố ý gạt bỏ ông Thăng với tư cách nhân chứng để kết án oan Trung tá Dương Tiến cho bằng được. Nội dung Đơn tố cáo như sau:

“Vào ngày 14/05/2007, ông Sắt gọi điện thoại cho tôi báo ông Sắt đã ra đến Hà Nội và đề nghị tôi cùng đến gặp ông Dương Tiến tại Văn phòng đại diện báo Công an thành phố Hồ Chí Minh tại Hà Nội. Khoảng 5 đến 6 giờ tối cùng ngày tôi và ông Sắt được ông Dương Tiến tiếp tại phòng khách của Văn phòng và ông Sắt có đưa cho ông Dương Tiến một tập tài liệu (nội dung tài liệu thì tôi không được biết). Do thấy hai người nói chuyện cho nên tôi xin phép ra ngoài khoảng 15 phút. Khi quay lại thì tôi thấy ông Sắt đang đọc hai tài liệu. Sau đó ông Sắt có đưa cho tôi xem qua thì tôi được biết đây là 02 Công văn số 73,77/KSĐT-KT của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đề nghị xử lý ông Nguyễn Bá Thanh, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng lúc đó, do đã nhận hối lộ của Phạm Minh Thông. Đọc xong tôi trả lại hai tài liệu này cho ông Sắt. Lúc này ông Sắt nói với ông Dương Tiến cho ông Sắt mượn 02 Công văn số 73,77/KSĐT-KT của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng để đi photocopy và ông Dương Tiến đồng ý. Sau đó ông Sắt rủ tôi cùng đi đến một cửa hàng photocopy thuộc phường Cát Linh nhưng do cửa hàng đó đóng cửa nên ông Sắt bảo tôi vào quán uống nước đợi ông. Khoảng 20 phút sau ông Sắt quay lại và bảo tôi đi cùng để trả hai tài liệu trên cho ông Dương Tiến. Sau khi trả hai tài liệu, ông Sắt nói với ông Dương Tiến rằng ông Sắt không có tiền để về Đà Nẵng thì ông Dương Tiến đưa cho ông Sắt một triệu đồng để hỗ trợ. Sau đó tôi đưa ông Sắt ra ga Hà Nội để về Đà Nẵng, còn tôi thì vẫn ở lại Hà Nội.

Vào ngày 16-17/05/20007, ông Dương Tiến vào Đà Nẵng và ở tại khách sạn Xanh và có nhờ tôi chở đi xem một số dự án, công trình mà các công dân Đà Nẵng đang khiếu kiện mà ông Tiến đã phản ánh qua bài báo “Nguyên nhân nào một số công dân Đà Nẵng khiếu kiện gay gắt” đăng trên báo Công an thành phố Hồ Chí Minh ngày 10/05/2007. Tôi có chở ông đi một số nơi trong đó có dự án sân vận động Chi Lăng, dự án thủy sản Thọ Quang đường Liên Chiểu, Thuận Phước… Trong thời gian ở khách sạn Xanh, ông Dương Tiến nhận được một bản fax bài viết của ông Trần Đình Bá và có cho tôi và ông Sắt xem ngay tại quán cà fê của khách sạn. Xem xong, chúng tôi trả lại ông Dương Tiến bản fax đó.

Kết luận lại, tôi, Nguyễn Trịnh Thăng, một lần nữa khẳng định ông Dương Tiến không hề:
1. Bảo chúng tôi, Nguyễn Trịnh Thăng và Đinh Công Sắt phát tán 02 Công văn số 73 và 77 của Viện kiểm sát thành phố Đà Nẵng cho nhân dân Đà Nẵng đọc;
2. Vào Đà Nẵng chỉ để theo dõi, nắm tình hình dư luận về bài báo của ông viết về Đà Nẵng;
3. Cung cấp cho Đinh Công Sắt bài viết của ông Trần Đình Bá với những nội dung không đúng sự thật để Sắt đọc, sử dụng cho mục đích khiếu nại, tố cáo.
Là người có mặt trong các cuộc gặp giữa ông Dương Tiến và ông Đinh Công Sắt nhưng tôi không hề được cấp Tòa sơ thẩm cũng như cấp Tòa phúc thẩm triệu tập tham gia tố tụng với tư cách nhân chứng. Điều này cho thấy cả hai cấp Tòa đã chủ định kết án oan ông Dương Tiến nên mới gạt tôi, Nguyễn Trịnh Thăng, nhân chứng chứng minh ông Dương Tiến vô tội, ra khỏi thành phần tham gia tố tụng trong vụ án “Lợi dụng các quyền tự do, dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.

4. Thẩm phán Trần Mẫn, Chủ tọa phiên Tòa phúc thẩm đã vi phạm nghiêm trọng Điều 218 (Đối đáp) Bộ Luật tố tụng hình sự.

Điều 218 (Đối đáp) Bộ Luật hình sự quy định:

“Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình; Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến.
Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác. Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án.
Chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận”.

Thế nhưng Thẩm phán Trần Mẫn, Chủ tọa phiên Tòa phúc thẩm đã liên tục vi phạm quy định tố tụng hình sự này:

Ø Khi Luật sư Nguyễn Thị Dương bắt đầu tranh luận thì ngăn Luật sư bằng cách nói là chưa đến phần tranh luận. Khi Luật sư đòi tranh luận, đối đáp với đại diện Viện kiểm sát thì lại nói là phần tranh luận đã qua rồi, Luật sư không được tranh luận nữa?!

Ø Nhiều lần cắt ngang, ngăn cản Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà thực hiện bào chữa thô bạo đến mức Luật sư phải tuyên bố thẳng thừng là Chủ tọa phiên tòa đã vi phạm nghiêm trọng Điều 218 Bộ Luật tố tụng hình sự thì mới chịu để Luật sư tiếp tục công việc của mình.

Ø Không yêu cầu Kiểm sát viên đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận.

Ø Nhiều lần trực tiếp tranh luận với Luật sư thay cho đại diện Viện kiểm sát, vi phạm tính khách quan của Hội đồng xét xử!!!

Ø Ra lệnh cho nhân viên kỹ thuật tắt micro mỗi khi Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà thực hiện công việc bào chữa nhằm ngăn cử tọa nghe được nội dung bào chữa liên quan đến hành vi “nhận hối lộ” của ông Nguyễn Bá Thanh!!!

8. Thẩm phán Trần Mẫn, Chủ tọa phiên Tòa phúc thẩm đã vi phạm nghiêm trọng tố tụng hình sự khi cho phép vị đại diện Mặt trận Tổ quốc thành phố Đà Nẵng – không phải là người tham gia tố tụng hình sự theo quy định tại Chương IV Bộ Luật tố tụng hình sự – lên án các bị cáo ngay giữa phiên tòa để bênh ông Nguyễn Bá Thanh.

Việc thẩm phán Trần Mẫn, Chủ tọa phiên tòa phúc thẩm cho phép đại diện Mặt trận Tổ quốc thành phố Đà Nẵng không phải là người tham gia tố tụng phát biểu ý kiến trong khi lại ngăn cản Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà là người tham gia tố tụng thực hiện quyền bào chữa được pháp luật tố tụng hình sự bảo hộ là bằng chứng không thể chối cãi về việc Hội đồng xét xử phúc thẩm cố ý làm trái luật pháp nhằm bao che hành vi “nhận hối lộ” của Nguyễn Bá Thanh và nhằm bao che hành vi “truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội” và hành vi “ra bản án trái pháp luật” của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng do thẩm phán Nguyễn Thành làm Chủ tọa.
Cũng cần nói thêm rằng việc thay Thẩm phán trước đó đã được giao nhiệm vụ Chủ tọa Hội đồng xét xử phúc thẩm bằng thẩm phán Trần Mẫn chuẩn bị nghỉ hưu và việc Thẩm phán họ Trần này đã phải tập dượt xử án vì đã lâu không ngồi tòa theo một nguồn tin đáng tin cậy càng chứng tỏ Thẩm phán này không có vai trò nào khác là tuyên một bản án “bỏ túi” hay được định sẵn để bỏ tù những người đã “dám” tố cáo hành vi tham nhũng của Nguyễn Bá Thanh!

Ngoài những hành vi cố ý xâm phạm pháp luật tố tụng nói trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm còn cố ý lờ đi những phản bác của Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà đối với hành vi “viết bài không đúng sự thật về tình hình Đà Nẵng nhằm gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của cán bộ lãnh đạo cũng như chính quyền thành phố Đà Nẵng” và hành vi “cung cấp cho Đinh Công Sắt bài viết của nhà báo Trần Đình Bá với những nội dung không đúng sự thật để Sắt đọc, sử dụng cho mục đích khiếu nại, tố cáo” mà Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã buộc cho Trung tá Dương Tiến. Nói cách khác, Hội đồng xét xử phúc thẩm tìm mọi cách để bao che Bản án trái pháp luật của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Kết luận lại, bằng việc xâm phạm trắng trợn pháp luật tố tụng hình sự, bịa đặt chứng cứ để kết tội Trung tá Dương Tiến như trên đã chứng minh, Hội đồng xét xử phúc thẩm – Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng do thẩm phán Trần Mẫn làm Chủ tọa là điển hình xâm phạm hoạt động tư pháp, khép tội oan công dân nhằm bao che tham nhũng và trả thù người chống tham nhũng!

Không chấp nhận Bất công tột bậc này của những kẻ nhân danh Công lý tại Đà Nẵng, ngày 19/5 vừa qua, đúng sinh nhật lần thứ 120 của Hồ Chí Minh, người khai sáng Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam, Trung tá Dương Tiến đã chính thức gửi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trần Quốc Vượng “Đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Bản án hình sự số 78/2009/HSPT ngày 07/12/2009 của Tòa phúc thẩm – Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng liên quan đến việc “nhận hối lộ” của Bí thư Thành ủy ĐCSVN, nguyên Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Bá Thanh” với yêu cầu không gì rõ ràng hơn:

Thứ nhất, tuyên Trung tá Dương Tiến, tức Dương Ngọc Tiến, không phạm “Tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”, đình chỉ vụ án và phục hồi cho Trung tá Dương Tiến mọi quyền và lợi ích hợp pháp.

Thứ hai, yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với các thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm – Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa ngày 6-7/8/2009 và Hội đồng xét xử phúc thẩm – Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng tại phiên tòa ngày 07/12/2009 về “Tội truy cứu trách trách nhiệm hình sự người không có tội” quy định tại Điều 295 Bộ Luật hình sự về “Tội ra bản án trái pháp luật” quy định tại Điều 295 Bộ Luật Hình sự.

Thứ ba, yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với ông Nguyễn Bá Thanh, Bí thư Thành ủy Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng về hành vi “nhận hối lộ” như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại Công văn số 73/KSĐT-KT ngày 31/10/2000.

Cũng chính việc Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng và Tòa phúc thẩm – Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đã đạp lên luật pháp để bao che tham nhũng nghiêm trọng của Nguyễn Bá Thanh và đàn áp một cách tàn bạo những người tố cáo đã gây phẫn nộ cao độ trong nhân dân thành phố Đà Nẵng. Liên tục từ cuối năm ngoái khi phiên tòa phúc thẩm kết thúc, công dân Đà Nẵng đã liên tiếp viết Đơn tập thể gửi các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước tố cáo và yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật hình sự cả Nguyễn Bá Thanh lẫn các thế lực bao che nhân vật này mà cụ thể là Thẩm phán Nguyễn Thành, Phó chánh án Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, Chủ tọa Hội đồng xét xử sơ thẩm và và thẩm phán Trần Mẫn, Chánh tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà nẵng, Chủ tọa Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án “lợi dụng các quyền tự do, dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.

Nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền là không bỏ lọt tội phạm nhưng cũng không được làm oan người vô tội nên người viết bài này thấy không có lý do gì để Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trần Quốc Vượng có thể chần chừ trong việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Bản án hình sự phúc thẩm để minh oan Trung tá Dương Tiến, Thiếu tướng Trần Văn Thanh – những sĩ quan công an xứng danh “Vì nhân dân phục vụ” – và các bị cáo khác trong cùng vụ án “Lợi dụng các quyền tự do, dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” là Nguyễn Phi Duy Linh và Đinh Công Sắt cũng như để trừng trị nghiêm khắc những kẻ đã dựng đứng lên vụ án này!

Mặc dầu vậy, ai cũng thấy rõ là việc trừng trị đến nơi đến chốn tham nhũng cũng như những thẩm phán “coi Pháp luật bằng vung” như Trần Mẫn là “bất khả thi” nếu như không vạch ra được thế lực “ô, dù” bao che cho cái lũ “thù trong” này. Bởi thế nhiều người cho rằng chính ông Nguyễn Văn Chi, Ủy viên Bộ chính trị, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra trung ương của Đảng là một trong số vai vế đã “bảo kê” ông Nguyễn Bá Thanh tham nhũng và do đó “bảo kê” luôn việc bỏ tù Trung tá Dương Tiến, Thiếu tướng Trần Văn Thanh… theo đúng nguyên tắc “Một mất Một còn” với 2 chứng cứ không dễ gì bác được:

Một là, kể từ sau Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy ban kiểm tra trung ương có thể nói là “độc quyền” hay “múa gậy vườn hoang” theo cách nói dân gian trong việc xử lý các cán bộ “có vấn đề” thuộc “diện Trung ương quản lý”, tức từ Phó chủ tịch tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương trở lên, sau khi những cơ quan khác của Đảng có cùng chức năng là Ban Nội chính trung ương, Ban bảo vệ chính trị nội bộ đã bị “xóa sổ”, hay nói đúng hơn là bị sáp nhập vào Văn phòng Trung ương Đảng.

Nói cách khác, Chủ nhiệm Nguyễn Văn Chi một khi “lắc đầu” thì dù Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng do Thù tướng đứng đầu có muốn xử lý cũng phải chào thua. Bằng chứng là Báo cáo số 73/BC-VPBCĐ ngày 26/10/2007 của Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng gửi Thủ tướng Chính phủ và Thường trực Ban bí thư và Báo cáo số 38/BC-VPBCĐ ngày 07/4/2008 của Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng gửi Ban Bí thư Trung ương Đảng đề xuất xử lý ông Nguyễn Bá Thanh theo quy định của pháp luật cũng đã không “đè” nổi, “đánh xuôi” nổi Thông báo số 94TB/KTTW ngày 25/4/2007 của Ủy ban kiểm tra trung ương do Phó Chủ nhiệm Nguyễn Thị Doan, nay là Phó Chủ tịch Nước, ký thay Chủ nhiệm Nguyễn Văn Chi “thổi ngược”, phủi sạch trơn mọi tố cáo đối với ông Nguyễn Bá Thanh!

Hai là, Thẩm phán Trần Mẫn là em ruột bà Trần Thị Thủy mà bà Thủy lại chính là… vợ Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra trung ương Nguyễn Văn Chi!
Đó chưa kể “thâm giao” khó có thể không có giữa Nguyễn Bá Thanh và Chủ nhiệm Chi bởi ông Chi là Bí thư Quảng Nam – Đà Nẵng trong gần cả chục năm, từ 1986 đến 1994.

Để nói rằng, vẫn theo những ý kiến trên, oan khuất tày trời mà Trung tá Dương Tiến, Thiếu tướng Trần Văn Thanh và hai bị cáo khác của vụ án “Lợi dụng các quyền tự do, dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” khó có thể được giải quyết chừng nào Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra trung ương Nguyễn Văn Chi vẫn còn tại vị, chừng nào Nhà nước nói chung, các cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng, vẫn còn đặt lợi ích của Đảng lên trên lợi ích của Tổ Quốc và Nhân Dân, tóm lại chừng nào Đảng lệ vẫn còn đè Pháp luật!

Thế nhưng tôi vẫn tin rằng lũ “nội xâm” như Nguyễn Bá Thanh và các thế lực “bảo kê” không thể tiếp tục tồn tại bởi Nước Nam này Hào Kiệt đời nào chẳng có, mảnh đất Đà Nẵng kia đâu có thiếu Anh Hùng, mà bắt đầu bằng tác giả của hai công văn 73,77/KSĐT-KT giờ đã thành huyền thoại: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng Nguyễn Quốc Dũng.

Rất có thể tôi bị thuyết phục bởi bộc bạch này của người Viện trưởng – cựu chiến binh quả cảm ấy: “Tôi đã ký lệnh bắt nó rồi… Tôi đã nói thẳng với Nguyễn Bá Thanh rằng nếu mày không có quá nhiều tiền thì mày đã xanh cỏ với tao từ lâu rồi”!!

CHHV 23-5-2010
HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập
Nguồn: Bauxit Việt Nam