Translate

Wednesday, December 8, 2010

Lý Đại Nguyên: Quân Đội Vì Nước Không Vì Đảng, Giải Pháp Tối Ưu Đối Với Việt Nam

Theo NguoiViet Boston

Ly_Dai_NguyenHiện nay Việtcộng gồm 3 triệu đảng viên vẫn nằm trong danh sách sinh hoạt với đảng, thì đã có 2 triệu đảng viên hưu trí, chỉ còn 1 triệu là đương chức, đương quyền, đang nắm toàn bộ vận mệnh đất nước và được độc quyền tham nhũng. Thế ra 2/3 số đảng viên không chức, không quyền thuộc diện chính sách của nhà nước. Họ tuy có danh nghĩa là đảng viên, nhưng chỉ để cho một thiểu số lãnh đạo nhân danh toàn đảng tước đoạt chủ quyền đất nước, quyền công dân và đàn áp khống chế toàn dân. Như vậy có thể gọi cuộc hội họp, ngày 07-10-2010 tại Hànội của trên 20 đảng viên kỳ cựu, từng là ủy viên Trung Ương Đảng, thuộc hàng Phó Thủ Tướng, cho tới các Viện Trưởng, các Giáo Sư đã làm cố vấn chính phủ là tiếng nói tiêu biểu cho 2 triệu đảng viên hưu trí. Họ đều cho rằng: “Đường lối kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin là sai lầm, giả dối, nguy hiểm, vì Mác đã mắc nhiều sai lầm cơ bản, do đó đã phá sản hoàn toàn tại Đông Âu, Liên Xô và tàn phá nền kinh tế các nước Xã Hội Chủ Nghiã, trong đó có Việtnam. “Kiên định chủ nghĩa xã hội cũng là sai lầm, giả dối…đã thất bại phá sản hiển nhiên. Còn chủ nghĩa xã hội trước mắt và tương lai, gắn liền với kinh tế thị trường, thì chưa ai hình dung ra sao, làm sao thực hiện được. Đây là một quan niệm ảo tưởng viển vông, lừa dối, không khoa học”. “Còn mục tiêu xây dựng xã hội dân chủ, bình đẳng, hiện đại văn minh chỉ là nói suông, là bánh vẽ, nhằm lừa dối nhân dân và tự lừa dối mình”. Từ đó họ dứt khoát và thẳng từng ‘xổ toẹt’ vào các văn kiện sắp được trình cho Đại Hội XI này.

Trong số 1 triệu đảng viên tại chức, tại quyền, thì quyền lực chỉ tập trung vào một thiểu số lãnh đạo thuộc Bộ Chính Trị và một số Ủy Viên Trung Ương năng nổ, hiện nay đã chia làm 3 phe rõ rệt. Phe kiên định chủ nghĩa xã hội, thân Tầu. Phe quốc tế đa phương, thân Mỹ. Phe lửng lơ ‘con cá vàng’, ai mạnh thì theo. Thế nên cuộc họp Trung Ương Khóa 14 vào ngày 12 tháng 12 /2010 này, nhằm chọn ra các Ủy Viên Trung Ương khóa mới, kể cả ban lãnh đạo cao nhất sẽ khó có thể thống nhất về phương án nhân sự lãnh đạo để trình Đại Hội XI vào giữa tháng 01/2011. Trong trường hợp đó phía Công An đã được lệnh truy quét tất cả những thành phần đối kháng nguy hiểm có khả năng phát động đấu tranh đường phố. Nhưng một khi dân chúng đã nhất tề vùng lên như trường hợp ở Thái Bình và Cao Nguyên thì Công An cũng phải ù té chạy. Bởi thế đảng phải nhờ tới Quân Đội. Quân đội, thì đại đa số cùng chung kiếp nghèo như toàn dân, chỉ có số ít đưọc hưởng bổng lộc của đảng và các tổ hợp quân đội trong nganh thầu xây dựng. Hầu như tất cả quân nhân các cấp đều muốn được trở thành “Quân Đội Nhà Nghề Phi Chính Trị” như họ đã được học hỏi, hay nhận biết ở quân đội các nước Dân Chủ tiên tiến, chỉ làm nhiệm vụ Bảo Vệ Tổ Quốc, Bảo Vệ Tự Do Công Dân theo luật pháp Quốc Gia, không thuộc quyền lãnh đạo của Đảng. Bảo vệ Đảng nhằm trấn áp Dân Chúng để cho giới lãnh đạo đảng lén lút dâng đất, hiến biển, nộp tài nguyên quốc gia, và nhường luôn chủ quyền dân tộc cho kẻ thù truyền kiếp của Việtnam là Tầucộng. Chính vì vậy mà cơ quan tuyên truyền của đảng đã lớn tiếng chống lại khuynh hướng quân đội đòi “phi chính trị”. Đã tới lúc quân đội Việtnam phải tự khẳng định vị thế cứu nguy dân tộc và bảo vệ toàn dân của mình. Buộc Đại Hội XI phải từ bỏ ảo tưởng kiên định chủ nghĩa xã hội của phe thân Tầu. Bầu ra ban lãnh đạo mới để Dân Chủ Hóa chế độ, đáp ứng với nhu cầu toàn dân, phản ảnh khuynh hướng của toàn đảng, toàn quân đang ‘tự diễn biến hoà bình’.

Nếu kỳ này, Đảng Cộng Sản Việtnam không thoát ra khỏi bàn tay của Bắc Kinh, cứ bám lấy thứ chủ nghĩa xã hội chết tiệt, bầu ra một ban lãnh đạo đầy tớ của Tầucộng, thì quân đội phải có trách nhiệm lịch sử của mình là ra tay ‘cứu nước, yên dân’. Như Tổng Thống Yeltsin của nước Nga năm 1991 đã giải tán đảng cộng sản Liênxô. Tổ chức ra một Chính Quyền Dân Sự Chuyển Tiếp để điều hành việc nước. Tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến để đưa ra cho Dân Phúc Quyết- trưng cần dân ý- Nhưng điều quan trọng là phát động Phòng Trào Văn Hóa Xây Dựng Dân Chủ. Lấy thành phần chủ chốt là Sinh Viên của các trường Đại Học Việtnam. Họ được học Luật Bầu Cử trong ngắn hạn. Nắm vững phương pháp tổ chức và vận động tranh cử, bầu cử. Tổ chúc thành từng đoàn, mỗi đoàn do một Giáo Sư hướng dẫn đi về từng Làng Xã nông thôn, Thị Xã thành phố, nơi đó là đơn vị Hành Chánh gốc của Quốc Gia. Nơi trực tiếp quản lý tài sản nhà nước, bảo vệ người dân, điều hành chính quyền, tạo ra trật tự xã hội và phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống Dân Chủ Trọng Pháp và là môi trường phát huy Truyền Thống Dân Tộc. Việc giữ an ninh cho các đoàn Sinh Viên này do Quân Đội chiụ trách nhiệm.

Chính vì vậy, mà phải cần tới tinh thầu vô tư trong sáng của lớp trẻ có học, không vướng vào tranh chấp quyền hành bè phái, như Phù Đổng Thiên Vương việc xong về trường, nhằm gieo vào ý thức người dân về giá trị dân chủ, tự do, tôn trọng nhân quyền và dân quyền của mỗi công dân, trên tinh thần trọng pháp. Chính người dân phải có trách nhiệm công dân của mình là bầu ra những người trực tiếp “cai trị’ mình, điều hành chính quyền địa phương và quản lý xã hội theo luật pháp quốc gia. Mình thực sự là chủ nhân ông xã hội, chủ nhân ông chế độ, chủ nhân Làng Xã nơi mình sinh sống. Mình có quyền tuyệt đối tự lựa chọn và trực tiếp bầu ra những người điều hành Làng Xã, Thị Xã và có quyền kiểm soát họ. Đối với Dân Làng họ là vị Tổng Thống và chính quyền dân cử trực tiếp của nền Cộng Hoà Địa Phương. Dân có quyền truất nhiệm họ theo luật định. Có quyền khóa sau không bầu cho họ nữa. Từ đó người dân mau chóng cảm nhận một cách trực tiếp về quyền công dân, trách nhiệm công dân và giá trị chủ nhân của công dân một nước dân chủ. Cũng từ đó những lá phiếu của công dân bầu ra cấp tỉnh và cấp quốc gia mới là những lá phiếu có ý thức trách nhiệm của người dân. Và cũng từ đó cơ quan Tự Quản Làng Xã, Thị Xã ý thức được Chủ Nhân Ông đích thực của mình là Dân Làng. Không do ơn huệ của thượng cấp ban xuống. Thượng cấp cũng chỉ được phân công theo luật pháp, và thi hành luật pháp để bảo vệ người dân và an toàn xã hội, phát triển kinh tế…Tất cả những ý niệm trên đây được khởi đi từ nền tảng Văn Hiến Nhân Chủ của Truyền Thống Dân Tộc Việtnam, lấy Con Người Làm Chủ. Lấy Làng Xã Làm Gốc, tạo thành môi trường cho tinh thần Độc Lập Tự Chủ của Nòi Giống phát triển, nhằm chống lại với cuộc đồng hóa khắc nghiệt của Đế Quốc Đại Hán và ứng xử với cuộc trường kỳ bang giao giữa một nước nhỏ với nước lớn, luôn luôn ngoài vẫn phải ‘xưng Thần với Tầu, nhưng trong nước vẫn là Đế. Dân giữ được Văn Hoá Dân Tộc và tinh thần Độc Lập Quốc Gia trong Làng Xã. Mãi tới cuộc Cải Cách Ruộng Đất do Hồ Chí Minh và cộng đảng, nhận lệnh của Mao Trạch Đông tiêu diệt tinh thần Làng Xã Tự Quản đi, để thiết lập chế độ độc tài toàn trị, nên khi đảng theo Nga thì toàn dân lệ thuộc Nga, theo Tầu thì cả nước phải nô lệ Tầu. Đến lúc Quân Đội phải hành động cứu nước, yên dân trước khi trở thành Quân Đội Nhà Nghề Phi Chính Trị.

Little Saigon 07/12/2010.

Tuesday, December 7, 2010

Nợ xấu các ngân hàng Việt Nam có nguy cơ gia tăng vì Vinashin

Theo RFI

Vinashin đã trở thành biểu tượng của tập đoàn kinh tế Nhà nước làm tổn hại công quỹ.
Vinashin đã trở thành biểu tượng của tập đoàn kinh tế Nhà nước làm tổn hại công quỹ.
DR
Thanh Phương

Trong báo cáo công bố ngày 07/12/2010 tại Hà Nội, Ngân hàng Thế giới cảnh báo là tình trạng gần như phá sản của Vinashin có thể làm tăng tỷ lệ nợ xấu trong một số ngân hàng Việt Nam. Theo báo cáo, chính phủ Việt Nam cần cập nhật thông tin về tình trạng của các công ty Nhà nước để thẩm định những rủi ro tài chính.

Công ty thẩm định tài chính Standard and Poors ngày 29/11 vừa qua đã cho biết là nợ của tập đoàn Vinashin có thể lên tới 3 % tổng dư nợ cho vay của các ngân hàng Việt Nam. Công ty này còn dự đoán là trong vòng 30 ngày nữa, Vinashin sẽ không còn khả năng thanh toán nợ nước ngoài.

Trong một báo cáo được công bố hôm nay tại hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam tại Hà Nội, Ngân hàng Thế giới cảnh báo là tình trạng gần như phá sản của Vinashin có thể làm tăng tỷ lệ nợ xấu trong một số ngân hàng Việt Nam. Báo cáo cho rằng chính phủ Việt Nam cần thu thập những thông tin cập nhật về tình trạng của các công ty Nhà nước và thẩm định những rủi ro tài chính của các công ty này.

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, hệ thống ngân hàng của Việt Nam sẽ chịu nhiều áp lực trong năm nay, do các ngân hàng ngày càng khó mà duy trì mức tăng tiền ký gởi, do tiền đồng ngày càng mất giá, do các khoản ký gởi bằng tiền đồng được chuyển thành vàng hoặc đôla...

Theo cùng chiều hướng đó, hôm nay, Quỹ Tiền tệ Quốc tế đưa ra nhận định rằng, mặc dù các ngân hàng Việt Nam không bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính ở các nước phát triển, nhưng các ngân hàng này gặp nhiều vấn đề từ chính trong nước. Mức tăng tín dụng trong những năm gần đây có thể làm suy thoái chất lượng tài sản của các ngân hàng Việt Nam, trong đó có các khoản vay của Vinashin và các công ty lớn của Nhà nước cũng như không phảì Nhà nước.

Crédit Suisse có thể sẽ bác yêu cầu hoãn trả món nợ đáo hạn của Vinashin

Lời cảnh báo của Ngân hàng Thế giới được đưa ra đúng vào lúc mà theo hãng tin DPA của Đức, các chủ nợ quốc tế, mà đại diện là ngân hàng Thụy Sĩ Crédit Suisse, có thể sẽ bác bỏ yêu cầu của chính phủ muốn hoãn việc trả món nợ đáo hạn 60 triệu đôla của Vinashin ngày 20/12 tới. 60 triệu đôla này nằm trong số 600 triệu đôla trái phiếu mà Vinashin phát hành năm 2007 thông qua ngân hàng Crédit Suìse.

Theo nhận định của hãng tin DPA, nếu yêu cầu hoãn trả nợ của Vinashin bị bác bỏ, điều này sẽ làm tổn hại đến uy tín của chính phủ Việt Nam và sẽ làm tăng thêm cấp độ rủi ro về đầu tư cho cả nước. Một nguồn tin từ ngân hàng Crédit Suisse cũng cho rằng sự kiện nói trên sẽ có ảnh hưởng rất xấu đến khả năng của Việt Nam huy động nguồn tín dụng ngoại quốc trong nhiều năm. Đặc biệt, nó sẽ gây khó khăn cho chính phủ Việt Nam khi họ muốn vay nợ cho các dự án cơ sở hạ tầng.

Cho dù, các chủ nợ quyết định ra sao thì vụ Vinashin đã đã gây tổn hại cho sự tín nhiệm của các nhà đầu tư vào Việt Nam, nhất là như lời đại sứ Anh tại Việt Nam, Antony Stokes, « chắc chắn sẽ có những Vinashin khác ».

Monday, December 6, 2010

Hội thảo: Ðô thị hóa Việt Nam không bền vững

Theo NguoiViet Online

ÐÀ NẴNG (TT) - Hôm 4 tháng 12 năm 2010, Hội Kiến Trúc Sư CSVN tổ chức cuộc hội thảo tại thành phố Ðà Nẵng đưa ra nhận định: “Các phong trào đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay là giả tạo vì không đạt tiêu chuẩn sống một cách bền vững.

Cư dân thành phố nhìn vào bản đồ qui hoạch thủ đô Hà Nội dọc theo sông Hồng trong cuộc triển làm về phát triển đô thị ở Hà Nội ngày 12 tháng 5, 2008. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

Hơn 50% cư dân đô thị sống trong điều kiện thấp kém, tồi tàn, thiếu tất cả các cơ sở hạ tầng cần thiết của một đô thị: Giao thông, cấp nước, thoát nước, điện, đèn chiếu sáng, v.v.”

Trình bày trước một cử tọa khoảng 150 kiến trúc sư, ý kiến của ông Trần Trọng Hanh - ủy viên Hội Kiến Trúc Sư Việt Nam cho rằng tình trạng đô thị hóa ở trong nước bất chấp các điều kiện cần có trong khi dân số đô thị tăng đều từ 12 lên tới 25 triệu rưỡi người, tính từ năm 1986 cho đến năm 2009.

Một số kiến trúc sư khác đưa lập luận cho rằng nhà ở vượng khí phải quay mặt về hướng Ðông Nam hoặc hướng Nam, để đón gió mát vào Mùa Hè và tránh gió rét vào Mùa Ðông, và cần có một không vườn hài hòa với cảnh quan để làm cho cuộc sống cư dân trở nên dễ chịu hơn. Tuy vậy, vì đất đô thị chật chội, đắt tiền cho nên người ta cứ xây “thoải mái”, có đất thì cứ xây, chen chúc, bất kể.

Một số kiến trúc sư khác thì xác định rằng sự biến đổi khí hậu sẽ mang lại các đợt bão lụt triền miên, đưa nước biển vào sâu sông rạch... sẽ tác động xấu đến “thành quả phát triển đô thị”. Nói tóm lại, cuộc hội thảo nói trên báo động về tình trạng đô thị hóa ồ ạt, thiếu vững bền trong nước dẫn tới hậu quả: Cuộc sống cư dân đô thị sẽ không khác gì người nông thôn, phải đi lại bằng... xuồng, thiếu điện, thiếu nước, bệnh tật triền miên...


Sunday, December 5, 2010

Làng Vũ Đại ngày nay

Theo DCV Online
Đỗ Trung Quân

Sân đình Vũ Đại lại chật cứng siêu xe từ khắp nơi đổ về. Rất nhiều khách mời là các hótgơ nõn nà của hàng chục làng quốc tế.

Mụ Phó Đoan với trang phục lộng lẫy bước trên thảm đỏ sân đình. Bữa nay mụ chơi trò đấu giá.

Số là làng Vũ Đại sau trận lũ lụt lớn, nhiều nơi thiệt hại đê điều, dân tình cơ cực, mụ Phó bây giờ là một nữ doanh nhân thành đạt bèn mang cái mề đay “tiết hạnh khả phong” của mình ra đấu giá để làm từ thiện.

Thư mời phát ra suýt không đủ bởi lẽ cuộc đấu giá từ thiện lại có nhiều mỹ nhân làng quốc tế tham dự khách mời, các cụ nào bỏ lỡ cơ hội chen chân rửa mắt. Tai to mặt lớn của làng đủ cả, Bá Kiến, cụ Cố Hồng, ông Văn Minh, cô Hoàng Hôn, Xuân Tóc Đỏ, đến Nghị Quế, Nghị Hách, cả ông Tuýp Phờ Nờ nữa…

Chí Phèo làm sẹc-cu-ri-ti.

Thị Nở, chị Dậu làm rì-xép-sần

Giáo Thứ làm thư ký ghi biên bản đấu giá.

Bong! Bong! Cái mề đay “tiết hạnh khả phong” của Phó Đoan phút chốc được đẩy lên giá ngất ngưởng. Hết Xuân Tóc Đỏ đến Nghị Quế, cụ Cố Hồng theo nhau sát nút. Ông Văn Minh bỏ ra ngoài sân đình hút thuốc, gọi di động đi đâu đó rồi cũng cố gọi từ xa vào đẩy giá lên chạm nóc đình. Ca mê ra của làng sung sướng truyền hình ảnh trực tiếp lên sóng vệ tinh để cổ xuý cho cuộc đấu giá từ thiện quan trọng này.

Kết quả cái mề đay của mụ Phó có giá suýt… chạm máy bay bay ngang làng Vũ Đại. Phó hả hê tít mắt. Đấy, đừng tưởng bà không biết làm từ thiện nhá!

Mề đay "tiết hạnh khả phong" của mụ phó Đoan? Nguồn: Onthenet
Nhưng vài tháng rồi ban tổ chức chả thấy tiền đâu. Bá Kiến bực quá triệu giáo Thứ: “anh đi đòi tiền mấy đứa đấu giá ngay. Cứ chiếu theo biên bản anh ghi chép mà đòi”.

Giáo Thứ tất tả bắt xe ôm công vụ đi, đến chiều trở về mặt mũi bần thần “Cụ Bá ạ! Thằng Xuân, cụ Nghị Quế, cụ Cố Hồng, ông Văn Minh gãi râu bảo rằng ta trả giá để khè thiên hạ, chớ ngu gì mua cái mề đay đó. Mấy tay báo hình của làng chĩa ống kính vào ta ai cũng thấy thì ta trả chơi cho… cả làng thấy. Cơ hội oách thế bỏ qua uổng”.

Giáo Thứ đau khổ chạy đến gõ cửa nhà mụ Phó Đoan, “bà Phó đưa cái mề đay đây, tôi đi bán ve chai được đồng nào hay đồng nấy, gỡ gạc tí thanh danh chứ thế này nguy quá!”

Mụ Phó cười hềnh hệch “có cái mề đay quái nào đâu, bà chơi sốc hàng đó, để bàn dân thiên hạ lác mắt một phen, thế thôi!”

Saturday, December 4, 2010

THÔNG BÁO KHẨN

Thư của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi đề nghị Nguyễn Xuân Diện-Blog đăng tải:

Thưa quý Anh Chị,

Xin kính báo đến quý Anh Chị một sự lạ: Trong chùm bài cập nhật trên trang boxitvn.net trong ngày 3-12 đột nhiên có 05 bài không có trong danh mục do Ban điều hành trang mạng chuẩn bị và duyệt đăng. Chúng tôi biết đây là một thủ đoạn nham hiểm của đám Hacker đã thao túng được trang mạng của chúng tôi nhưng không đánh sập nó mà chỉ thay đổi nội dung, trong đó có bài vô thưởng vô phạt nhưng cũng có bài vốn của những người chống đối Nhà nước Việt Nam, điều đó nhằm tạo cớ cho trang boxitvn.net và người điều hành sẽ bị co quan AN tra vấn hoặc khép tội. Vì thế, chúng tôi đã gửi một thông báo khẩn sẽ đăng ngay trên 2 trang blogs để bày tỏ thái độ của mình. Xin gửi trước đến quý Anh Chị đọc và nếu có thể, đăng giúp lên trang mạng của quý Anh Chị. Xin cám ơn.

Kính mến

BVN


THÔNG BÁO KHẨN
.
Thời gian gần đây, rất nhiều trang mạng và blogs tiếng Việt bi hacker đánh sập hoặc chiếm dụng, boxitvn.net cũng nằm trong số đó. Trang mạng của chúng tôi đã bị tấn công từ lâu, nhưng chúng tôi không tuyên bố mà âm thầm chống cự để giành lại quyền sở hữu chính đáng của mình. Nhờ nỗ lực của các kỹ thuật viên, trong mấy tuần lễ vừa qua, trang mạng trở lại hoạt động như cũ, tuy tư liệu thì chưa cập nhật đủ. Không ngờ trong ngày 3-12, trên boxitvn.net bỗng xuất hiện 05 bài không hề có trong danh mục của chúng tôi. Đó là các bài sau:

· Hải Phòng: Trung tá công an gây chết người bỏ chạy - Danlambao
· Mỹ – Nhật tập trận lớn nhất từ trước tới nay - Thái An
· Đồng tiền của VN ‘đang có vấn đề’ - BBC
· Trận tuyến đối lập không tiếng súng - Bùi Tín
· WikiLeaks muốn “bóc trần” Trung Quốc, Nga như Mỹ

Xem xét lại, chúng tôi biết đây là một thủ đoạn mới rất liều lĩnh của Hacker: chui vào được trang mạng của chúng tôi nhưng không phá hủy nó mà thay đổi nội dung để làm cho bạn đọc cũng như cơ quan chức năng Việt Nam ngộ nhận và đánh giá sai chủ trương yêu nước trước sau như một của trang mạng. Đó là một âm mưu thâm độc, gắp lửa bỏ tay người vô cùng nguy hiểm. Vì thế, chúng tôi xin được tuyên bố rõ: 05 bài có tên nêu ở trên tuy hiện diện trên trang mạng của chúng tôi nhưng không hề nằm trong số những bài được người điều hành duyệt đưa lên boxitvn.net. Chúng tôi sẽ tìm mọi cách ngăn chặn tình trạng tồi tệ này, tuy vậy nếu tạm thời chưa thể đẩy lùi được Hacker trong một sớm một chiều thì xin bạn đọc coi như những nội dung đăng tải trên trang mạng từ nay không còn thuộc phạm vi chúng tôi kiểm soát, cho đến bao giờ chúng tôi làm chủ lại nó.

Cũng vậy, trang bauxitevietnam.info vốn do chúng tôi lập ra từ cuối tháng Tư năm 2009 để truyền tải bản Kiến nghị thứ nhất ngày 12-4-2009 nhằm đề nghị Nhà nước Việt Nam dừng khai thác bauxite ở Tây Nguyên, nhưng đến cuối năm 2009 thì bị Hacker chiếm đoạt, bán về Hongkong, và từ đó đến nay vẫn ngang nhiên tồn tại trong thế giới ảo, đăng nhiều bài rất trở trêu đi ngược lại chủ trương của người lập ra nó, ra sức ủng hộ việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Xin khẳng định với bạn đọc, kể từ ngày 27-12-2009 đến nay, trang bauxitevietnam.info đã tuyệt nhiên không còn là sở hữu của Nhóm khởi xướng ban đầu.
.
Thay mặt những người khởi xướng, biên tập và điều hành boxitvn.net

Nguyễn Huệ Chi

Đà Nẵng : “Không tham nhũng” và “cấm cửa” sinh viên hệ tại chức !

Theo Blog Dân Làm Báo

Bí thư kiêm Tiến sỹ dỏm Nguyễn Bá Thanh chỉ đạo “cấm cửa” sinh viên tại chức

Dân Làm Báo – UBND TP Đà Nẵng vừa có văn bản gửi các sở, ban, ngành, quận, huyện chỉ đạo “không tiếp nhận sinh viên tốt nghiệp hệ tại chức” vào làm việc tại các cơ quan, đơn vị thuộc bộ máy nhà nước.

Quy định trên đã gây ra nhiều phản ứng, nhất là đối với những học viên đang theo học các chương trình tại chức. Thậm chí, có ý kiến thẳng thắn cho rằng đây là một quyết định phân biệt và hoàn toàn trái pháp luật.

Ông Đặng Công Ngữ

Trả lời trên báo Tuổi Trẻ, ông Đặng Công Ngữ – giám đốc Sở Nội vụ Đà Nẵng – cho biết: quy định đó nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ.

Bằng tại chức vẫn là một văn bằng được Bộ giáo dục công nhận, mặc dù trong những năm vừa qua, chất lượng đào tạo đại học hệ tại chức lẫn chính quy ngày càng đi xuống.

Nhiều quan chức đứng đầu Việt Nam cũng từng có văn bằng tại chức, điển hình là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hay Ủy viên Bộ Chính trị Trương Tấn Sang…

Người đứng đầu Đà Nẵng, Bí thư Nguyễn Bá Thanh thậm chí không có bằng tại chức, nhiều thông tin đáng tin cậy cho biết, ông này mua bằng tiến sỹ hết 600 triệu.

Đà Nẵng không tham nhũng ?

Cũng liên quan đến Đà Nẵng, trong một diễn biến khác, ngày 2/12, Hội đồng nhân dân TP Đà Nãng đã tiến hành họp và thảo luận. Trong báo cáo của mình, Đà Nẵng cho biết trong năm 2010, TP không phát hiện vụ tham nhũng nào (!?)

Có đại biểu băn khoăn: “Báo cáo như vậy liệu người dân có tin không?”.

Đà Nẵng được xem là một điển hình cho cách quản lý chuyên quyền, độc đoán mà Bộ chính trị VN đang cố gắng nhân rộng tại các tỉnh. Theo đó, quyền lực thuộc về một nhóm lợi ích duy nhất do Nguyễn Bá Thanh đứng đầu.

Một thực tế cho thấy, có nhiều thay đổi trong những năm qua tại Đà Nẵng qua các kế hoạch “chỉnh trang đô thị”. Nhiều người dân được hưởng lợi từ những thay đổi này, nhưng cũng có nhiều người khác bị mất nhà mất cửa, tạo thành đội ngũ dân oan ngày đêm khiếu kiện, oan khuất thấu trời.

Đà Nẵng là nơi được báo lề phải và quan chức đánh giá cao với một đội ngũ công chức tốt, hiếm khi xảy ra nạn tham nhũng hay hối lộ vặt vãnh như các tỉnh khác. Tuy vậy, đây vẫn chỉ là bề nổi, sự thật thì tham nhũng nơi đây thuộc diện lớn và dữ dội không thua kém các tỉnh khác, các dự án muốn được triển khai đều phải để lại cho nhóm lợi ích của Nguyễn Bá Thanh 10% tiền “lại quả”.

Ở Đà Nẵng không có những diễn đàn cho nhân dân tự do phát biểu. Các phe phái trong Đảng nếu muốn tranh giành quyền lực đều bị nhóm Nguyễn Bá Thanh dập tắt.

Rất nhiều đơn thư tố cáo tư cách và sự tham nhũng của Nguyễn Bá Thanh đều bị đàn áp, có trường hợp thậm chí bị tai nạn & chết bí ẩn. Đa số truyền thông nơi đây vẫn thực hiện tốt công việc mị dân và tuyên truyền một chiều về hình ảnh của ông quan “Nguyễn Bá Thanh”.

Dân Làm Báo

*


Friday, December 3, 2010

Thiếu Tướng (CSVN) Nguyễn Trọng Vĩnh Lên Tiếng: Chưa bao giờ Việt Nam bị hại bởi người láng giềng “hữu nghị” như từ 1979 đến nay

Theo Việt Thức

Việt Nam không hề khiêu khích và xâm phạm vào đất Trung Quốc. Thế mà năm 1979, Trung Quốc huy động hàng chục sư đoàn “dạy cho Việt Nam một bài học”, giết hại dân và tàn phá bốn tỉnh của Việt Nam; đánh chiếm cao điểm 1509 trong huyện Vị Xuyên – Hà Giang của chúng ta; năm 1988, đánh đắm tàu hải quân, giết hơn 70 chiến sĩ, sĩ quan và chiếm một số bãi đá ngầm trong quần đảo Trường Sa của chúng ta.

Trong đàm phán biên giới, họ ép ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, dân ta cũng không được đặt chân đến Ải Nam quan nữa, tất cả ta mất hàng trăm km2 đất. Họ xóa hiệp định phân định ranh giới vịnh Bắc Bộ giữa hai Chính phủ Pháp – Thanh (do lịch sử để lại) đòi chia lại, ăn hơn của ta một phần hải phận.

Sau khi nêu ra phương châm 16 chữ 4 tốt với lãnh đạo ta, họ đã nghiễm nhiên đứng được trên nóc nhà Đông Dương, vị trí chiến lược xung yếu của ta, khai thác Bốc-xít, di hậu họa cho hàng triệu đồng bào ta.

Các công ty của họ thuê rừng 50 năm để trồng cây bạch đàn, trước tiên là chặt cây phá rừng, tạo thêm nguyên nhân gây lũ lụt cho ta. Bạch đàn là cây ăn rất hại đất, hết hạn thuê, họ rút đi để lại cho ta hàng dãy hecta đất trống đồi trọc, vì không cây gì mọc được. Đây là một mưu kế rất thâm hiểm hại ta. Nguy hiểm hơn nữa là các công ty của họ thuê các khoảnh rừng trong đó ôm cả những đồi cao 600-700m tại các huyện Tràng Định, Bảo Lộc của Lạng Sơn và Tiên Yên của Quảng Ninh, có nơi chỉ cách biên giới Trung Quốc 700m. Họ phá rừng để trồng bạch đàn, phá rừng làm đường vào khu rừng họ thuê, họ làm đường xoáy trôn ốc lên đỉnh các đồi cao nói trên. 50 năm không ai kiểm soát được, họ có xây dựng công sự gì trên đỉnh các cao điểm ấy cũng không ai biết, liệu có để sau này sử dụng như cao điểm 1509 ở Vị Xuyên trước đây không?

Ngoài việc năm 1974, đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của ta, họ tự ý vẽ một cái “lưỡi bò” rất phi pháp bao chiếm gần hết biển Đông của Việt Nam, khoanh vùng cấm ngư dân ta vào đánh cá trong hải phận của mình, bắn chết, bắt ngư dân ta, tịch thu tài sản, ngư cụ, giam giữ, phạt tiền, dùng “tàu lạ” đâm chìm tàu cá của ngư dân ta.

Cậy có hải quân mạnh, tập trận diễu võ dương oai ở Biển Đông, uy hiếp ta, luôn tuyên bố sẽ “thu hồi” Tây Sa, là Trường Sa của Việt Nam, mà họ to mồm nhận xí là của họ.

Họ thuê dài hạn một đoạn bờ biển ở Đà Nẵng, nói là để xây dựng “khu vui chơi giải trí”, xây nhà máy điện nguyên tử chỉ cách biên giới tỉnh Quảng Ninh 60km, nếu rò rỉ phóng xạ thì bên ta mang họa.

Trên thượng nguồn sông Mê Kông, Trung Quốc xây một hệ thống đập trong đó có đập Tiểu Loan, chặn mất một khối nước vô cùng lớn. Nam Bộ của chúng ta ở cuối dòng sông, mùa khô đồng bằng sông Cửu Long sẽ thiếu nước, liệu còn nuôi được cá tra, cá basa nữa không? Có đủ nước tưới cho các vùng cây trái không? Vựa lúa Nam Bộ có bị ảnh hưởng không? Sông cạn, nước mặn sẽ dâng sâu vào nội địa, triều cường càng dữ, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh liên quan sẽ sống ra sao? Trung Quốc chặn nguồn nước thượng lưu của một con sông quốc tế, thật là một kế hoạch ích kỷ, ác độc.

Họ trúng thầu một loạt nhà máy nhiệt điện và một số công trình, họ tự do đưa ồ ạt lao động của họ vào. Thế là, trên khắp đất nước ta, từ “nóc nhà Đông Dương”, từ rừng núi tới đồng bằng, đến ven biển đã có hàng vạn người Trung Quốc rải ra, có là mối nguy tiềm ẩn không?

Từ những tình hình trên, rõ ràng Việt Nam ta bị hại đủ đường, và bị o ép tứ phía. Vì đâu nên nỗi này? Nhân dân ta nghĩ gì?


Nguyễn Trọng Vĩnh

Tác giả, Thiếu Tướng (CSVN) Nguyễn Trọng Vĩnh (95 tuổi), là cựu Đại sứ CHXHCN Việt Nam tại Trung Quốc

Thursday, December 2, 2010

Đường lưỡi bò" và những nhóm lợi ích ở Trung Quốc

Theo TuanVietNam.net
GS Tonnesson, Na Uy đi sâu phân tích về các nhóm lợi ích ở Trung Quốc với vấn đề Biển Đông, thái độ của từng nhóm với "đường lưỡi bò" cũng như cách tiếp cận xử lí tranh chấp Biển Đông.

LTS: Tổng kết Hội thảo Quốc tế Biển Đông lần thứ hai, diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh vào 11-12/11/2010, Giám đốc Học viện Ngoại giao Dương Văn Quảng đã hứa với các học giả tham dự rằng ông sẽ báo cáo về những phân tích, đánh giá của họ lên các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Với mục đích, theo ông, là giúp các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam có những cách tiếp cận hợp lý hơn đối với tranh chấp chủ quyền Biển Đông.

Những phân tích dưới đây của Giáo sư Tonnesson về quan điểm của các nhóm lợi ích đối với cái gọi là "Đường lưỡi bò" hy vọng sẽ là một trong những điều Giáo sư Quảng đặc biệt nhấn mạnh trong báo cáo của mình. Bởi Việt Nam, trong khi triển khai tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh của mình, với nội dung cốt lõi là phân hóa đối thủ, hay "tăng bạn bớt thù", sẽ có có thêm những cơ sở để vạch ra những đối sách "vừa hợp tác, vừa đấu tranh".

Giải mã "lợi ích cốt lõi" và "đường lưỡi bò" của Trung Quốc

Theo Giáo sư, sự bất đồng quan điểm ở Trung Quốc liên quan đến yêu sách chủ quyền và cách giải quyết tranh chấp chủ quyền liệu có phải là điều thực sự đáng lo ngại ở Trung Quốc không? Nhất là đối với những nước muốn giải quyết ổn thoả tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc vì mục đích thúc đẩy hợp tác vì phát triển.

Đúng vậy. Sự bất đồng quan điểm của Trung Quốc còn được thể hiện dưới cái gọi là "mâu thuẫn về chức năng" của từng nhóm lợi ích khác nhau. Đó là ngư dân, doanh nghiệp khai thác dầu khí, cộng đồng doanh nghiệp phi dầu khí, hải quân và ngoại giao.

Ngư dân là nhóm vốn quen với việc đánh cá ở bất cứ đâu họ thích. Ở bất cứ quốc gia nào, việc bắt ngư dân phải tuân thủ những qui định như lệnh cấm biển (cấm đánh cá) trong một khoảng thời gian nào đó đều là điều hết sức khó khăn. Hơn nữa, cá thì không tuân thủ đường phân định lãnh hải do con người đặt ra, mà ngư dân phải đi theo luồng cá, nên họ cũng chẳng thích thú gì với việc đường phân định lãnh hải. Có thể nói nhóm này là nhóm thiếu xây dựng nhất.

Thăm quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Ảnh Lê Anh Dũng.
Nhóm lợi ích thứ hai là các tập đoàn dầu khí Trung Quốc, như CNOOC (Chinese National Offshore Corporation). Họ luôn muốn được khai thác dầu khí ở thềm lục địa, và chính vì vậy họ muốn thềm lục địa Trung Quốc càng kéo dài càng tốt. Họ phản ứng rất mạnh đối với những thoả thuận giữa PETRO Vietnam, chẳng hạn, với các đối tác bên ngoài (như BP hay Exxon Mobile), mà họ cho là khai thác dầu khí tại thềm lục địa của Trung Quốc.

Hơn nữa, lãnh đạo những doanh nghiệp này có quan hệ chặt chẽ với chính quyền, bởi doanh thu từ khai thác dầu khí thuộc về quốc gia. Phần lớn những nhà lãnh đạo doanh nghiệp này đều ủng hộ cho "đường lưỡi bò". Chính vì vậy đây cũng là nhóm có những ảnh hưởng tiêu cực.

Nhóm lợi ích thứ ba là hải quân. Và, theo tự nhiên, nhóm này rất ủng hộ đường lưỡi bò. Họ có một ý tưởng, hay thậm chí ảo tưởng, rằng toàn bộ khu vực Biển Hoa Nam (Biển Đông) là nơi hải quân Trung Quốc có thể thống trị, và ngăn chặn sự hoạt động của tàu hải quân nước ngoài mà họ gọi là lực lượng thù địch, theo luật về lãnh hải của Trung Quốc và tiềm lực quân sự.

Và vì tranh chấp ở Biển Hoa Nam (Biển Đông) khó mà có thể giải quyết một sớm một chiều được, các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam, đều mong muốn chứng kiến sự hiện diện của hải quân các nước ngoài khu vực tại vùng biển này, chứ không nhất thiết chỉ là hải quân Mỹ. Chẳng hạn như hải quân Ấn độ, hải quân Nhật, hay hải quân Nga.

Riêng Trung Quốc không có lợi ích từ sự hiện diện này ở Biển Hoa Nam (Biển Đông), bởi còn phải mất nhiều năm xây dựng nữa, hải quân Trung Quốc mới có thể sánh ngang sức mạnh với hải quân Mỹ. Mặt khác, sự cấp tập tăng cường sức mạnh hải quân của Trung Quốc vì mục tiêu này, nếu theo hướng khiêu khích, hay đối đầu, với các nước khác như Ấn Độ, Nhật Bản, và tất nhiên, cả Mỹ, họ chắc chắn sẽ thất bại.

Trung Quốc có thể nhìn thấy những tấm gương nhãn tiền của những thế lực nổi lên trước Đệ Nhị Thế Chiến như Quân phiệt Nhật, hay Đức Quốc Xã. Lãnh đạo Trung Quốc chắc ý thức được điều này. Và những người đứng đầu ngành hải quân Trung Quốc cũng vậy. Cuối cùng họ cũng hiểu ra rằng trong thời gian 20-30 năm tới việc tăng cường sức mạnh hải quân phải diễn ra bí mật.

Chính vì vậy, họ muốn ngăn những tàu khảo sát của Mỹ ở khoảng cách càng xa căn cứ hải quân Tam Á của họ càng tốt.

Nhóm lợi ích thứ tư ở Trung Quốc là bộ ngoại giao. Có lẽ đây là nhóm có sự hiểu biết luật pháp quốc tế tốt nhất, bởi họ có nhiều chuyên gia được đào tạo bài bản về lĩnh vực này. Hơn nữa, đây là nhóm đã đầu tư rất nhiều công sức vào việc xây dựng quan hệ hữu hảo với các nước láng giềng.

Và nhóm cuối cùng có thể quan tâm đến Biển Hoa Nam (Biển Đông) là cộng đồng doanh nghiệp phi dầu khí. Tuy không mặc quân phục, nhưng đội quân đông đảo này thực sự có sức mạnh. Họ quan tâm đến việc thúc đẩy quan hệ hợp tác, giao thương trên cơ sở thực hiện đầy đủ một khu vực thương mại tư do Trung Quốc - ASEAN.

Đây chính là nhóm mong muốn những tranh chấp trên biển được giải quyết ổn thoả, để cho những quan hệ kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và 10 nước ASEAN trở nên suôn sẻ.

Như vậy, theo phân tích của Giáo sư, dường như chỉ có hai nhóm cuối là có thể có cái nhìn tích cực đối với những giải pháp cho tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Tuy nhiên, liệu lợi ích từ tự do hoá thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc có đủ lớn để đối trọng với lợi ích từ khai thác nguồn năng lượng biển vẫn là một dấu hỏi lớn. Cũng tương tự như vậy đối với mối quan hệ giữa giới ngoại giao Trung Quốc và giới quân sự, nhất là hải quân.

Như vậy, liệu có hy vọng gì cho một cách tiếp cận thống nhất và dễ chấp nhận hơn từ Trung Quốc đối với các nước trong khu vực không, thưa ông? Nhất là khi mà ông Đới Bỉnh Quốc chỉ là nhân vật đứng thứ 50 trong hàng ngũ lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc, theo như tạp chí Foreign Affairs.

Đúng là có chuyện đó. Nhưng vẫn có những dữ kiện khác để chúng ta có cách nhìn đỡ bi quan hơn.

Chẳng hạn, ngay đối với nhóm doanh nghiệp dầu khí, cũng đã có những dấu hiệu hứa hẹn của sự thay đổi thái độ về tranh chấp chủ quyền ở Biển Hoa Nam (Biển Đông). CNOOC hiện đang rất quan tâm đến việc quốc tế hoá hoạt động của mình, tức là muốn tham gia vào những hoạt động thăm dò - khai thác bên ngoài thềm lục địa Trung Quốc. Chính vì vậy, hoạt động của họ sẽ thuận lợi nếu khuôn khổ pháp lý liên quan đến thăm dò - khai thác dầu khí trở nên rõ ràng hơn, tức là có sự phân định rõ ràng về chủ quyền đối với các nguồn năng lượng biển.

Chúng ta cần nhớ rằng để hoạt động thăm dò dầu khí là rất tốn kém và mang tính rủi ro cao, vì vậy đây chính là lợi thế của CNOOC, với khả năng vay tiền ngân hàng với lãi suất thấp và dài hạn. Đó là chưa nói đến một ưu thế rất lớn khác của CNOOC là họ có một đội ngũ chuyên gia dầu khí rất giỏi.

Vậy tại sao với việc phân định rõ ràng về thềm lục địa, CNOOC lại không thể thắng thầu thăm dò khai thác ở các lô trên thềm lục địa của Việt Nam, hay Philippines, cơ chứ?

Lãnh đạo Trung Quốc cần học tập những người đồng chí, đồng cấp từ Việt Nam

Hơn nữa, những diễn biến trong khu vực trong khoảng thời gian một năm rưỡi qua đã khiến cho nỗ lực trong suốt hơn một thập kỷ qua của bộ ngoại giao có nguy cơ trở nên công cốc. Chính nguy cơ này khiến cho bộ ngoại giao cảm thấy lo ngại sâu sắc.

Tôi cho rằng bộ ngoại giao là nhóm mong muốn thay đổi quan điểm của Trung Quốc, theo hướng thực tiễn và dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tôi hy vọng rằng khi vạch ra chính sách biển cho giai đoạn sau 2012, giới lãnh đạo Trung Quốc, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo sẽ tham vấn kỹ với các chuyên gia giỏi và có chính kiến riêng của họ để có những cách tiếp cận thực tế.

Những diễn biến trong khu vực trong thời gian một năm rưỡi vừa qua là quá đủ để cho họ hiểu rằng nếu chính sách của Trung Quốc được xây dựng theo hướng củng cố quan hệ láng giềng và hợp tác, trên cơ sở thúc đẩy quá trình xây dựng lòng tin. Và, nếu họ làm được như vậy, các nước ASEAN có liên quan cũng không cần trông mong vào sự can dự ngày càng mạnh mẽ của những thế lực ngoài khu vực như Mỹ.

Vả lại, trong trường hợp này, một nhóm lợi ích quan trọng là hải quân Trung Quốc cũng sẽ hưởng lợi. Họ có thể ít bị chú ý hơn trong việc xây dựng năng lực phòng thủ, như họ vẫn tuyên bố.

Tại sao Giáo sư lại có niềm tin như vậy vào giới lãnh đạo Trung Quốc? Nhất là theo thông lệ, khó có sự thay đổi chính sách từ nay đến khi đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc diễn ra vào năm 2012.

Nhưng lại có một tiền lệ khác diễn ra ở một nước lánh giềng gần gũi của Trung Quốc. Đó là Việt Nam. Thời gian qua, Việt Nam đã có sự thay đổi khá mạnh về cách tiếp cận, nhất là trong chính sách đối ngoại. Và Việt Nam có thể tự hào rằng họ đã thành công trong cách tiếp cận mạnh dạn này.

Vậy tại sao các ông Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo lại không học tập những người đồng chí và đồng cấp từ Việt Nam nhỉ? Nếu làm được như vậy, hai vị lãnh đạo này sẽ để lại cho hai người kế nhiệm, nhiều khả năng là Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường, một di sản cực kỳ quan trọng: Giới thiệu với khu vực, và thế giới nói chung, một Trung Quốc với cách nhìn mới, thực tế và thân thiện hơn.

Wednesday, December 1, 2010

HIỆN TƯỢNG MỚI MÀ KHÔNG LẠ Ở VIỆT NAM

Theo NguoivietBoston

ĐẠI-DƯƠNG

Bối cảnh lịch sử đã hình thành hai khối người Việt quốc nội và hải ngoại với tư duy dân chủ và độc tài đối chọi nhau mà đôi lúc cũng có hiện tượng thỏa hiệp vì quyền lợi cá nhân.

Do đó, công cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam tự do, dân chủ, phú cường ngày càng phức tạp và khó khăn, thậm chí có vẻ muốn tuột khỏi tầm tay dân tộc.

Khối người Việt hải ngoại ngày càng phình to về số lượng mà sụt giảm về phẩm chất khi công dân xã hội chủ nghĩa thâm nhập qua các đường dây buôn người, di dân chính thức hoặc bất-hợp-pháp, du lịch đã mang theo các tệ nạn buôn lậu, ăn cắp, lường gạt, trồng cần sa, rữa tiền. Tỉ lệ tị nạn cộng sản, tị nạn chính trị ngày càng giảm so với di dân kinh tế nên “tiền là tiên là phật đánh bật lý tưởng tự do”.

May ra, người Việt hải ngoại chỉ còn nửa phần hồn hướng tới tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam vì họ chẳng có trách nhiệm và bổn phận trực tiếp đối với vận mệnh dân tộc.

Vì thế, sự thay đổi tại Việt Nam nằm trong tay khối người Việt quốc nội đang bị chi phối bởi nhiều ngộ nhận lịch sử và điều kiện tư duy khuất phục cứ như bị sa vào đầm lầy.

Hai khối này trông chờ, canh chừng nhau trong ngờ vực và đều bị Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa giám sát hoặc theo dõi với từng mức độ khác nhau.

Niềm tin về biện pháp xuyên thủng bức màn sắt bằng vũ khí tin học để làm thay đổi thể chế độc tài hình như ngày càng bớt lạc quan vì hai yếu tố chính.

Thứ nhất, internet vốn là một phương tiện trung lập không hề thiên vị với độc tài hoặc dân chủ nên lan truyền tin tức, thu thập dữ kiện từ nhiều nguồn khác nhau chưa chắc đã dẫn tới một sự thay đổi tư duy của mỗi con người.

Tình trạng nhiễu loạn thông tin khi những tài liệu về dân chủ, nhân quyền cứ chuyển đi, truyền lại lòng vòng khiến cho người nhận không còn thích thú với hộp thư điện tử đầy ắp nội dung tương tự. Chủ nhân không còn thì giờ để tìm kiếm thông tin cần thiết nên mất hết kiễn nhẫn để đọc mà chỉ có bực dọc xóa bỏ.

Rất nhiều người Việt quốc nội cũng như hải ngoại miệt mài thu thập tin tức thượng vàng hạ cám rồi chuyển cho nhiều địa chỉ cùng một lúc mà không tự hỏi người nhận sẽ thích thú hay khó chịu. Thực tế, chẳng phải ai cũng có nhu cầu tri thức giống nhau và họ đã có phương tiện truy cập tương tự ắt không cần nhờ đến kẻ khác. Cách xử dụng internet vô-trách-nhiệm đã tác hại không ít đến khát vọng tự do, dân chủ mà người Việt hằng ấp ủ.

Mỗi công dân mạng đều có nhu cầu phục vụ cá nhân riêng biệt tùy thị hiếu nên khó biết lĩnh vực họ thích tìm biết, học hỏi về chính trị, kinh tế, quân sự, văn học, nghệ thuật, giáo dục hoặc giải trí. Hơn nữa, chưa chắc họ đọc để gạn lọc tinh túy hữu dụng hoặc chỉ nhằm mục đích bài xích.

Vì thế, tự do thông tin như con dao hai lưỡi mà người sử dụng cần tính toán cẩn thận mới mang lại hiệu quả như mong muốn.

Thứ hai, các chế độ độc tài biết rõ không thể ngăn cản luồng thông tin trong thế giới ảo nên tìm cách gây nhiễu loạn và lèo lái công luận, theo dõi phản ứng của quần chúng.

Chế độ độc tài không chịu sự giám sát của dư luận nên có thể đổi chác tài nguyên, lợi thế thị trường để đòi các công ty đa quốc, nhà đầu tư nước ngoài phải chia sẻ kỹ thuật tin học và trợ giúp kỹ năng nhằm tạo ra mạng lưới giám sát hoạt động của công dân trong thế giới ảo. Nhờ thế, Nhà nước có thể theo dõi, hạn chế thông tin từ khắp nơi Việt Nam.

Tài liệu luân chuyển trong thế giới ảo có trung thực, thật hay giả quả khó lường vì có thể sử dụng nhiều bút hiệu, tên giả sẽ khiến cho “cộng đồng mạng” như bị rơi vào tâm bão chẳng còn phân biệt được phương hướng. Mỗi bài tiểu luận dài khoảng 5,000 từ ngữ, rất lang bang khiến cho độc giả mệt nhừ mà chỉ tóm được toàn râu ria, kém phần bỗ ích.

Nhà nước còn có thể thuê những ngòi bút hưu trí từng tham chính để đánh bóng đường lối đúng đắn của đảng cộng sản và phê bình đại khái các sai lầm nhỏ nhặt.

Hôm 07/10/2010, Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, Trần Phương đã mở cuộc hội thảo với cả tá cán bộ hưu trí từng phục vụ cho tổng bí thư, thủ tướng, hoặc cầm đầu viện nguyên cứu, hoặc cựu phó thủ tướng nhằm “Góp ý cho các Dự thảo Văn kiện Đại hội XI của Đảng”.

Đa số chê bai Dự thảo luộm thuộm, thụt lùi so với Đại hội X, đòi cải tổ chính trị, nới rộng dân chủ nghe rất khoa trương, nhưng, thiếu thuyết phục vì cứ như nhai lại phát biểu của giới lãnh đạo cao cấp từng được phổ biến rộng rãi mà không lọt tai dân chúng. Họ phải than “có bao giờ góp ý lọt được vào nghị quyết đâu”.

Lớp cán bộ cao cấp này khi còn tại chức, có nhiều lợi thế và môi trường để thực hiện những điều họ đòi hỏi bây giờ thì tại sao không làm? Vì sợ mất ghế hoặc vẫn chưa hiểu thấu đáo hay cố tình không phân biệt giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản?

Tại Quốc Hội, Dân biểu Boris Yeltsin đứng lên tuyên bố từ bỏ đảng cộng sản Liên Xô và phủi đít ra đi trước sự sững sờ của đồng viện đã truyền tải tâm tư chán ghét chủ nghĩa cộng sản của dân chúng nên trở thành con chim đầu đàn trong công cuộc dân-chủ-hóa nước Nga mà chẳng ai lầm lẫn. Tổng bí thư Mikhail Gorbachev còng lưng cải tổ chính trị Liên Xô vẫn thất bại. Nhưng, Yeltsin rất thực tế “đảng cộng sản chỉ xóa bỏ chứ không thể cải cách”.

Ngược lại, nhiều cây bút dù với nhãn hiệu “phản kháng” hoặc “chuyên gia có lòng với dân tộc” vẫn khư khư giữ chặt chiếc vòng kim cô khi phát biểu. Những “dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng” hoặc “đảng cộng sản nên tách thành 2 đảng cấp tiến và bảo thủ để phục vụ đất nước tốt hơn” hoặc “phải dân chủ trong đảng trước”.

Tất cả mớ lý luận như thế không hề sai đường lối “đảng cộng cộng sản lãnh đạo toàn diện xã hội”. Dĩ nhiên, chẳng còn mãnh đất nào cho dân chúng trồng cây dân chủ!

“Dân Việt Nam không muốn chiến tranh mà chỉ cần xây dựng đất nước, tránh xáo trộn làm ảnh hưởng đến phát triển kinh tế”.

Nếu Lech Walesa của Ba Lan và Vavlav Havel cũng sợ làm đất nước xáo trộn như trí thức Việt Nam thì các quốc gia Đông Âu phải gắn thêm chiếc đuôi kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa!

Dân Việt Nam chẳng muốn chiến tranh huynh đệ tương tàn, không thích xâm lăng nước khác bằng nghĩa vụ quốc tế vô sản. Nhưng, cần quyết liệt với kẻ nội thù đang dìm dân tộc trong cảnh lạc hậu, chuyên bán tài nguyên thiên nhiên, trinh tiết phụ nữ, cho thuê sức lao động với giá bèo để lập lại niềm hãnh diện Hồng Lạc.

Vài khuôn mặt phản kháng được thổi phồng từ quốc nội cho chí hải ngoại vì những tuyên bố hùng hồn cứ như Từ Hải “gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”, nhưng, mới bị Nhà nước nháng một cái đã than “bó thân về với triều đình, hàng thần lơ láo phận mình ra sao”. Họ tự kiểm duyệt từ lời nói lẫn hành động khiến cho dư luận chỉ còn biết chép miệng “À, ra thế!”.

Bà Aung San Suu Kyi âm thầm nuốt lệ với tin người chồng đang hấp hối ở Luân Đôn vì ra đi sợ phản bội niềm tin của người Miến Điện. Tấm thân tưởng như gió thổi bay của Bà không hề khuất phục trước giới tướng lãnh trang bị tận răng chỉ vì dốc tâm mang lại dân chủ cho dân tộc.

Người Việt hải ngoại chỉ có nửa phần hồn hướng về Việt Nam, trong khi người Việt quốc nội cứ khư khư giữ chặt chiếc vòng kim cô do đảng cộng sản đặt lên đầu, thế thì, đến bao giờ đất nước mới được tự do, dân chủ, phú cường.

ĐẠI-DƯƠNG

Tuesday, November 30, 2010

Dân biểu Cao Quang Ánh vận động đòi chế tài Việt Nam

Theo VOA News

Dân biểu sắp mãn nhiệm Cao Quang Ánh

Dân biểu Cao Quang Ánh

Dân biểu sắp mãn nhiệm Cao Quang Ánh, dân biểu gốc Việt đầu tiên tại Quốc hội Hoa Kỳ, đang tận dụng những tuần lễ cuối cùng của mình tại Hạ viện để thúc đẩy các biện pháp chế tài vì điều mà ông gọi là những vi phạm nhân quyền của Việt Nam.

Theo tường trình của The Hill và NewsMax, ông Ánh đã đưa ra hai dự luật hôm 18/11, gồm Đạo luật Thúc đẩy Dân chủ ở Việt Nam 2010 (Vietnam Democracy Promotion Act of 2010) và Đạo luật Chế tài Việt Nam vì thành tích Nhân quyền (Vietnam Human Rights Sanctions Act).

Đạo luật Thúc đẩy Dân chủ ở Việt Nam gồm có các chương trình hỗ trợ tài chính cũng như các chương trình giáo dục và các tái định cư cho người tị nạn. Đạo luật này cũng áp đặt các điều kiện đối với các khoản viện trợ cho Hà Nội và đòi hỏi phải có các bản báo cáo thường niên.

Đạo luật Chế tài Việt Nam gồm các biện pháp chế tài về tài chính và từ chối thị thực đối với các giới chức Việt Nam vi phạm nhân quyền.


Cũng theo The Hill, ông Ánh, người sẽ có cuộc gặp với đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ vào ngày 30/11, nói rằng chính quyền của ông Obama vẫn chưa trả lời ông về dự luật này, tuy nhiên ông cho rằng họ sẽ ủng hộ việc trừng phạt những cá nhân chịu trách nhiệm về những vụ vi phạm nhân quyền.

Trước đó, trong một thông cáo báo chí đưa ra hồi tháng 7, ông Cao Quang Ánh cho rằng Việt Nam đã thụt lùi về mặt nhân quyền kể từ khi gia nhập WTO năm 2007; do đó, thay vì xây dựng quan hệ chặt chẽ hơn, Hoa Kỳ nên tiếp tục gây áp lực cho tới khi nào Việt Nam cải thiện thành tích nhân quyền.

Ông Ánh cũng đã đề nghị đưa Việt Nam trở lại vào danh sách các quốc gia cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo (CPC).

Ông Ánh, một đảng viên Cộng hòa, đã giành chiến thắng bất ngờ năm 2008 tại New Orleans sau khi một ứng viên thuộc đảng Dân chủ dính líu tới một vụ bê bối tham nhũng. Tuy nhiên, ông đã thất bại trong cuộc chạy đua tái tranh cử vào cơ quan lập pháp của Hoa Kỳ hồi đầu tháng này.

Nguồn: The Hill, NewsMax

Monday, November 29, 2010

Nợ xấu của Vinashin đe dọa một số ngân hàng Việt Nam

Theo RFI

Vinashin đã trở thành biểu tượng của tập đoàn kinh tế Nhà nước làm tổn hại công quỹ.
Vinashin đã trở thành biểu tượng của tập đoàn kinh tế Nhà nước làm tổn hại công quỹ.
DR
Đức Tâm

Báo trên mạng Bloomberg cho biết là theo nhận định của công ty tư vấn tài chính Moody, nợ của Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Vinashin tương đương khoảng 3% tổng số tiền cho vay của một số ngân hàng Việt Nam. Vinashin, hiện đang đứng bên bờ vực phá sản, khó có thể thanh toán các khoản nợ đáo hạn và điều này có nguy cơ gây khó khăn cho các ngân hàng Việt Nam.

Trong một nghiên cứu được công bố ngày hôm nay, 29/11/2010, bà Karolyn Seet, chuyên gia phân tích tại Singapore thuộc công ty Moody's, cho biết là ngày 19/11, tập đoàn Vinashin tuyên bố có thể hoãn trả 60 triệu đô la đáo hạn trong khoản vay 600 triệu đô la, trong lúc chính phủ Việt Nam dường như không muốn giúp đỡ giải quyết những khó khăn tài chính.

Vừa qua, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cho thay thế ban lãnh đạo Vinashin và chính phủ thông báo tiến hành cơ cấu lại doanh nghiệp này. Trong khi đó, lãnh đạo mới của tập đoàn, ông Nguyễn Ngọc Sự khẳng định lại rằng Vinashin sẽ tự cơ cấu lại trên cơ sở những gì còn lại của doanh nghiệpTập đoàn này.

Theo chuyên gia Seet, việc hoãn trả một khoản nợ dài hạn đi kèm với việc chính phủ không hỗ trợ, có thể buộc các ngân hàng Việt Nam phải cơ cấu lại khoản nợ của Vinashin, gây thiệt hại cho các ngân hàng này.

Tháng 8 năm nay, chính phủ Việt Nam thông báo, nợ của Vinashin tính cho đến tháng sáu, lên tới 86 ngàn tỷ đồng, tương đương 4,4 tỷ đô la.

Trước đây, giới phân tích nghĩ rằng chính phủ Việt Nam sẵn sàng ứng cứu, cấp vốn cho bất kỳ ngân hàng nào gặp khó khăn. Nhưng nhìn vào vụ Vinashin, thì trong tương lai, không có gì chắc chắn là chính phủ sẽ giúp đỡ các ngân hàng khi rơi vào tình trạng thiếu hụt các phương tiện thanh toán.

Theo số liệu của Bloomberg, Vinashin đã phát hành 16,2 tỷ đồng công trái và khoản vay này sẽ được thanh toán vào tháng tư năm 2017. Chi nhánh ngân hàng Deutsche Bank Vietnam cho biết, lãi suất danh nghĩa là 9%, tuy nhiên, do thị trường thiếu tin tưởng vào khả năng tài chính của Vinashin, lãi suất của công trái này đã lên tới 21,16% ngày hôm nay.

Lãnh đạo một số các ngân hàng cho vay của Việt Nam, đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần, cho biết, Vinashin là con nợ lớn nhất của họ. Trong khi đó, đa số các khoản cho vay không được khấu trừ và được coi là loại tín dụng đặc biệt.

Bản nghiên cứu của công ty tư vấn Moody's nhận định, vụ Vinashin cho thấy chính phủ không thể cùng một lúc hỗ trợ các tập đoàn và khu vực ngân hàng. Điều này làm các ngân hàng lo ngại bị mất vốn khi cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước. Hiện nay, tổng tín dụng cấp cho các doanh nghiệp nhà nước chiếm tới 40% khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Sunday, November 28, 2010

Công An Bạo Lực Giải Tỏa Đất: Còng Tay, Đè Đàn Bà, Trẻ Em

Việt Báo Thứ Bảy, 11/27/2010

Công An Bạo Lực Giải Tỏa Đất: Còng Tay, Đè Đàn Bà, Trẻ Em

Công an còng tay dân để giải phóng mặt bằng? Bản tin báo Lao Động, dựa theo thông tấn Bee, cho biết như trên.
Bản tin ghi theo lời chị Lê Thị Khanh (40 tuổi), trú tại số nhà 1, đường Trưng Nữ Vương, phường Phú Bài, thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế, vì không cho giải tỏa khi chưa nhận được tiền đền bù đất, chị và con gái bị công an phường còng tay, khiến con gái nhập viện còn mẹ bị ngất xỉu.
Chị Lê Thị Khanh kể lại sự việc: “Khoảng 9h ngày 25/11, lực lượng công an, dân phòng, một số cán bộ phường và cán bộ giải phóng mặt bằng đến yêu cầu giải tỏa. Tôi yêu cầu: Các anh viết cho mấy chữ rằng đã lấy 26,7m2 đất để thi công nhưng chưa đền bù đất. Sau lời yêu cầu của tôi, họ trả lời không văn bản gì hết.
Và một số người vào ôm lại, người cầm tay, có một anh công an còng hai tay tôi đưa sang một căn nhà hoang bên kia đường từ 9h đến 11h. Do mấy hôm nay tôi bị bệnh xoang nên bị ngất, sau đó mọi người đưa vào bệnh viện”.
Cũng theo chị Khanh, vào năm 2009 dự án mở đường 2/9 triển khai, nhà chị có 26,7m2 bị giải tỏa. Chị đã ký vào văn bản giao đất cho ban đền bù giải phóng mặt bằng nhưng đến nay chưa có tiền đền bù nên không cho giải toả.
"Trước đó, mở đường Trưng Nữ Vương nhà tôi cũng bị giải tỏa một phần đất nhưng cũng không được đền bù, tôi đã viết đơn thư đi nhiều nơi nhưng chưa được giải quyết" - chị Khanh trình bày.
Gia đình chị Khanh, chồng mất sớm chỉ có 4 mẹ con nuôi nhau sống qua ngày.
Em Trần Thị Khánh Huyền (18 tuổi, con gái chị Khanh) đang được các bác sĩ theo dõi và điều trị tại buồng điều trị 1, Khoa ngoại, Bệnh viện Đa khoa thị xã Hương Thủy, kể lại sự việc:
"Sáng nay thấy các chú công an còng mẹ, em chạy ra để can ngăn thì có một người phụ nữ ôm ngang bụng, hai người đàn ông cầm hai tay, hai người cầm hai chân, trong năm người này có một người dùng cùi tay đè đầu em.
Khi em cố thoát chạy thì mọi người kéo em lại không cho đi. Sau đó, một chú công an lấy còng còng tay phải em vào cửa sổ nhà.
Sự việc xảy ra từ 9h30 đến 11h thì em được thả, sau đó em đau quá được mọi người đưa vào bệnh viện. Trong số hai chú công an, thì em có biết một người tên là Long còng tay em vào cửa sổ".
Tuy nhiên, công an đã chối. Bản tin Lao Động và Bee ghi lời Trung tá Nguyễn Sỹ Hùng, Trưởng Công an phường Phú Bài, nói rằng công an có đi giải tỏa, nhưng không còng tay hay đè bà Khanh và con gái.
Trong khi đó, bản tin ghi thêm, “Một bác sĩ ở bệnh viện cho biết: Bệnh nhân Khánh Huyền bị chấn thương phần mềm ở vai và cổ tay, hiện bệnh viện đang theo dõi và điều trị.”


Saturday, November 27, 2010

NHÂN MÙA TẠ ƠN TRÊN ĐẤT MỸ (2010), XIN ĐƯỢC CÁM ƠN CÁC ANH : NGƯỜI TPB/VNCH

Theo Trachnhiemonline.com

Mường Giang

Kính tặng tất cả TPB/VNCH

Những ngày tháng Tư năm đó, không biết sao mà trời bỗng đổ mưa thật sớm và lớn hơn bao giờ hết. Mưa làm ngập những chiếc hố tránh đạn và giao thông hào của những người lính trận, tại các chiến trường máu lệ Phước Long, Phan Thiết, Long Khánh, Hậu Nghĩa, Long An, Phước Tuy, Biên Hòa và Sàigòn.

Trong cơn mưa nước mắt năm ấy, có máu, thây người và xác của những cánh hoa học trò, làm nhuộm hồng áo người lính và đồng bào chiến nạn, chạy theo cơn mưa, mịt mù đạn pháo.

"B Đào m tu, d quang bôi

Dc m tỳ bà, mã thượng thôi

Tuý nga sa trường, quân mc vn?

C lai chinh chiến, k nhân hi"

Bốn câu thơ cổ trong bài "Lương Châu Từ" của Vương Hàn (687-726) đã nói lên thân phận của người lính chiến, sống và chết không có biên giới, nên mấy ai dám nghỉ tới chuyện trở về? Và giọt mưa nào đây vừa lăn trên má, đã khiến cho người lính già bồi hồi nhớ lại, một thời chinh chiến cũ, những căn hầm tránh pháo ngập mưa, những nấm đất đào đấp vội vàng, để vùi bạn vữa ngã gục và những thương binh rên xiết, đang chờ cấp cứu.

Tất cả đã thành cổ tích. Giờ chỉ còn biết ngồi đây mà nhớ lại những ngày xa cũ. Chúng ta, tất cả đều là những người VN tội nghiệp, trót đầu thai lộn trong thế kỷ này, nên đã cùng nối vai lần lượt bước lên những giàn lửa đỏ. Cuối cùng, kẻ chết thì bị dầy mồ, tan xác, còn người sống, nếu không sống kiếp mây chiều lang thang, thì cũng lết lê phận bèo trong vùng giặc chiếm, để gục đầu thương hận, mà khóc cho quê hương vì đâu máu xương chất ngất, vì đâu mà kiếp sống của con người, tới nay vẫn không bằng cây cỏ bên đường.

Tất cả chỉ còn là kỷ niệm trong nhớ, vào những ngày đầu đời, mẹ bỏ con trong gánh, dầm mưa chạy loạn, giữa tiếng bom đạn, máy bay gầm thét, của Việt Minh và Pháp. Tóm lại, chúng ta đều ra đời và trưởng thành trong tiếng súng, cùng với bom đạn làm rách vỡ da thịt của quê hương. Rồi cũng vì người, vì tang bồng hồ thỉ nam nhi trái, mà giốc cả tuổi trẻ, đời trai, vào cốc men đắng cay, uống cạn hạnh phúc của chính mình.

Đất nước hai mươi năm chinh chiến, hai mươi năm dài hờn hận, đã dày vò người lính miền Nam, trong mưa bom đạn xéo trùng hằng. Rốt cục những người nằm xuống, những kẻ ra đi hay ở lại chịu cảnh ngục tù khổ sai của VC, ai nấy cũng đã trả xong cái nợ "da ngựa bọc thây", tủi nhìn từng trang lịch sử của nước nhà, bị giặc thù bôi nhọ và khép kín.
Trưa 30-4-1975 Sàigòn thất thủ, miền Nam VN từ bên này cầu Hiền Lương, trên sông Bến Hải, chạy ngang vĩ tuyến 17, tới mũi Cà Mâu, đã chính thức thuộc về lãnh thổ Xã Hội Chủ Nghĩa đệ tam quốc tế cộng sản, có tổng đài ở tận Nga Sô. Cũng từ giờ phút đó, khi mà chiếc mặt nạ hòa bình của người cộng sản đã cởi, để lộ những khuôn mặt thật của các thây ma vô hồn, lạnh băng và hung hiểm, thì cũng là lúc, đồng bào mới sực tỉnh và thương tiếc người lính VNCH. Nhưng than ôi tất cả đã muộn rồi, họ đã ngã gục không phải tại chiến trường vì đạn pháo của VC, mà ngay trên hè phố Huế, Đà Nẵng, Phan Thiết, Sàigòn... bởi chính những viên đạn ích kỷ, hám danh, những miệng lưỡi ngòi bút, của chính phe mình.

Ai chẳng một lần về với đất? khác chăng là sớm hay muộn, vinh với nhục và sống chết sao cho ý nghĩa của một kiếp người. Chỉ tội nhất là những người lính chưa chết nhưng coi như đã chết vì thương tật chiến trận và những vết thương lòng. Họ không chết mà chỉ bị thương nặng và tất cả đã gởi lại chiến trường một phần thịt da của mẹ, ở Khánh Dương, Tháp Chàm, Phan Thiết, Xuân Lộc... và ngay tại Sàigòn, vào lúc mà cây cột đèn cũng muốn chạy, để khỏi bị VC nhổ đem đi bán. Họ ở lại làm vật hy sinh cản xe tăng, hứng đại pháo của giặc thù, để kiếm thêm một chút thời gian, một bầu trời an toàn, một dòng sông lặng sóng, giúp cho mọi người từ dân tới lính, bình yên di tản ra nước ngoài, để tiếp tục sinh con đẻ cháu, ăn học thành tài và thành người ngoại cuộc..

Nay thì từ quan tới lính, ai cũng kiếm cách đi khỏi quê nhà, bỏ lại những bóng ma của quá khứ và những người thương phế binh sống sót, tủi hờn, đang lê lết phận bèo khắp đầu đường xó chợ. Thời gian có thay đổi, lịch sử cũng sang trang nhưng thân phận của người thương binh và gia đình của họ, chẳng có gì mới lạ, vẫn lấy nước mắt làm mưa rửa mặt hằng ngày. Buổi trước, khi VC tràn vào, họ bị bỏ lại ở những quân y viện, làng phế binh, không còn đại bàng, đồng đội và hậu phương. Bây giờ thì dần hồi chết đói, chết nhục trong thiên đàng xã nghĩa, trước sự xa hoa thừa mứa của VC, Việt Gian và Việt kiều muôn phương, vinh quy bái tổ, áo gấm về làng, mà trong dòng người đổi đời này, không làm sao mà đếm hết, những cấp chỉ huy và đồng đội cũ.

Có làm lính mới cảm thông cho kiếp lính nghiệt ngã đoạn trường. Có làm dân thời ly loạn mới biết được thế nào là mạng sống của con người, giữa bom đạn vô tình, héo úa còn thua cây cỏ. Có là người thương phế binh sau khi xuất viện, bỏ lại một phần cơ thể, mới thật tội nghiệp cho tuổi trẻ bạc phước vô phần. Thê thiết tận cùng là đời của người lính về chiều lại còn mang thương tật. Hỡi ôi những mảnh đời cùng khốn ấy rồi sẽ đi về đâu, trong cảnh mưa gió phũ phàng của cuộc đời? "ngày xưa, là lính vì đời chiến đấu là cầu đem người sang sông, hôm nay làm ma cô đơn, gục chết bên vệ đường..."

1.Thân Phận Người Lính VNCH :

Đọc Congressional Record, một trong những tài liệu tuyệt mật của Tòa Bạch ốc vừa được công bố, đã làm cho những lính già của VNCH phải cười ra nước mắt và thương xót cho những đồng đội, đồng bào, suốt hai mươi năm qua, vì chiến đấu chống sự xâm lăng của Bắc Việt, mà chết oan hay bị mang thương tật do đạn bom và bàn tay VC gây ra. Những luật lệ kỳ quái như Lính Mỹ không được bắn VC, trừ phi chúng tấn công trước. Không lực Mỹ không được dội bom vào xe của VC khi chúng ở cách đường mòn Trường Sơn 200m. Phi cơ Mỹ không được tấn công phi cơ Mig nếu chúng không gây hấn, không dội bom các phi cơ VC đậu yên tại phi trường. Cuối cùng, nghiêm cấm quân Mỹ truy đuổi VC, khi chúng chạy sang Lào và Kampuchia.

Chính phủ Hoa Thịnh Đốn, chẳng những cấm Quân Lực Mỹ, Đồng Minh, VNCH không được thẳng tay tiêu diệt kẻ thù, mà còn báo trước những bí mật quân sự, quốc phòng cho VC biết trước, qua những lần oanh tạc tại miền Bắc, trên đường mòn HCM, hành quân Lam Sơn 719... Đó là tất cả những sự kiện lịch sử có thật, được Thứ Trưởng QP Mỹ Phil Golding, thời TT. Johnson, trả lời thắc mắc của hàng ngàn gia đình tử sĩ Hoa Kỳ: "Chúng ta đang tham gia vào một cuộc chiến giới hạn, với những mục tiêu hạn chế. Nói chung đây là một cuộc chiến vì chính trị, nên không thể tiêu diệt VC được".

Do sự phản ứng càng lúc càng đông của người Mỹ, trước cái gọi là "đánh không cần thắng", nên dân chúng đã xuống đường, đả đảo mà báo chí thời đó, gọi là do phản chiến giựt dây. Thật sự, người Mỹ đã quá chán ngấy cái trò đem con bỏ chợ, đem trứng cho ác, dai dẳng từ thời Kennedy, Johnson, kế đó là Nixon, nên đã giận dữ đòi Hoa Thịnh Đốn "Hãy cút khỏi VN ngay, hãy chấm dứt cái trò chiến tranh nướng thịt dai dẳng vô ích này."

Tóm lại qua cuộc chiến VN, do đầu óc con buôn, người Mỹ đã đánh mất tất cả mọi ý thức về trách nhiệm và danh dự, làm tiêu tốn hơn 150 tỷ mỹ kim tiền đóng thuế của dân chúng, hại cho 55,000 chiến sĩ bị chết oan và hơn 300,000 quân nhân các cấp bị thương tật. Trong khi đó, người lính VNCH, dù là một quân đội bất hạnh nhất thế giới, theo báo cáo của MACV, Command History hay Dwight Owen, một cố vấn Mỹ tại VN, thì đối với các quân nhân VNCH, Chỉ Có Chết, Tàn Phế Hay Đào Ngũ, mới mong giải thoát được cái thân phận bọt bèo của người Lính chiến trong thời loạn lạc.

Ngoài ra, tài liệu cũng có nói tới việc lính Nam VN đào ngũ, nhưng không phải họ đầu hàng VC, mà trở về quê nhà gia nhập lực lượng ĐPQ+NQ, để được chiến đấu bên cạnh vợ con, gia đình. Sau rốt, tính đến đầu năm 1975, QLVNCH đã có 231,508 tử sĩ và 95,371 phế binh. Thương tủi nhất là những ngày tháng sau đó, cho tới khi Nam VN sụp đổ vào ngày 30-4-1975, đã có hằng vạn dân lính vô tội gục ngã trên chiến trường và khắp các nẻo đường chạy loạn. Nhiều tử sĩ cũng như thương binh đã bỏ thây, bỏ xác tại chỗ, vì đồng đội không thể làm gì hơn giữa chốn loạn quân. Chính Nhảy Dù từ ngày thành lập cho tới khi tan hàng, cũng đã phải nuốt lệ, bỏ lại xác đồng đội, tại Mặt Trận Xuân Lộc tháng 4-1975, như Phạm Huấn đã viết, khi được lệnh rút quân bất ngờ trong đêm, mịt mù lửa đạn.

Trước sự sụp đổ nhanh chóng và vô lý của Nam VN không phải tại chiến trường, mà ngay ở các thành phố lớn Ba Lê, Hoa Thịnh Đón, New York, Luân Đôn, La Mã, Huế-Đà Nẵng và Sàigòn, khiến cho nhiều trí thức ngoại quốc đã phẫn nộ và bày tỏ thái độ khinh miệt, đối với một số người trong cũng như ngoài nước, một thời lợi dụng tự do, dân chủ và nghề nghiệp, để bẻ cong ngòi bút, xuyên tạc sự thật, phỉ báng đồng bào và quân đội Nam VN với mục đích đầu độc dư luận thế giới, giúp Bắc Việt cưỡng chiếm VNCH. Đề tài quen thuộc, được một số báo chí Hoa Kỳ và Tây Phương viết lách, đem lên truyền thanh truyền hình, đó là người lính VNCH hèn nhát không chịu chiến đấu nên bị mất tự do và bị người Mỹ khinh miệt.

Hai câu hỏi trên cách đây vài chục năm được bịa chuyện là có, nhưng bây giờ sự thật đã xác nhận "Không". Hoa Kỳ khi tới chiến đấu tại Nam VN, có đủ phương tiện tinh thần cũng như vật chất, vẫn nhiều lần bị thương vong, bại nhục, vẫn không thiếu những binh sĩ đào ngũ, bỏ chạy khi trận địa hỗn loạn, vẫn có tham nhũng và chính cựu TT. Bill Clinton, vì hèn nhát nên đã trốn quân dịch pháp định. QLVNCH chỉ mới thành lập, được coi là một quân đội nghèo nhất trên thế giới, lại bị chiến đấu trong một cuộc chiến không có giới hạn chiến trường, hậu phương, bạn địch.

Thế nhưng những người lính nghèo đó, mà lương năm cộng với tiền tử tuất, phế tật, không bằng một cuốc rượu của những ca ve, me Mỹ, vậy mà họ vẫn một đời đem máu đào xương trắng, phụng sự chính nghĩa, bảo vệ màu cờ, sắc áo và từng sinh mạng cũng như tất đất của quê hương. QLVNCH là sinh mạng của muôn người, nên khi thiếu vắng hay không còn họ, mạng người Nam VN chỉ còn là lá rụng, đã gục ngã tại Mậu Thân Huế-Sàigòn, trên các đại lộ kinh hoàng quốc lộ 1, Kontum, An Lộc mùa hè đổ máu và sau rốt là cùng nhau chết tập thể vào ngày 30-4-1975. Như sử gia Edward S. Creasy viết trong tác phẩm nổi tiếng "Fifteen Decisive Battle Of The World" năm 1851 "Tầm quan trọng của một cuộc chiến, là những gì ta có hôm nay, đối với người thắng cũng như kẻ bai". Những gì đã xảy ra tại Nam VN, sau 35 năm bị cộng sản cưỡng chiếm, đã đủ trả lời về tấn thảm kịch của VN, mà lần nữa Robert S. McNamara, cựu bộ trưởng QP. Thời TT Kenedy, đã giải thích một chiều, trong hồi ký của mình "In Retrospect-The Tragedy and Lesson of VN".

Nhưng không phải tất cả người Mỹ đều mù quáng và tin tưởng vào truyền thông báo chí lúc đó. Chính những giờ phút cuối cùng, nhìn cảnh đời bi thảm của phận lính bọt bèo Nam VN trên màn ảnh, tờ The New York Times Service, đã thay thế người nhược tiểu, giận dữ tố cáo chính quyền Mỹ là hèn nhát, bỏ đồng minh tháo chạy về nước trước sự tấn công của VC. Họ cũng nêu đích danh Henry Kissinger là kẻ bán đứng VNCH cho VC khi bắt ép họ ký vào bản hiệp ước giả mạo 1973, sau đó tàn nhẫn cúp viện trợ, phủi tay đứng nhìn miền nam sụp đổ.

Không có gì tồn tại với thời gian trừ chân lý. Vì vậy những câu chuyện hề của Henry Winston chủ tịch đảng cộng sản Mỹ, đem diễn tại Hà Nội vào tháng 5-1975, hay lời tuyên bố vung vít của Nguyễn Hữu Thọ, chủ tích bù nhìn của Mặt Trận Ma giải phóng tại Mạc Tư Khoa, ngay khi Sàigòn thất thủ: "cám ơn báo chí và ký giả Tây Phương, đã góp phần lớn cho chiến thắng của Hà Nội, trong số này đáng kể là người Mỹ".

Đây là tất cả sự thật, vừa được một cựu chiến binh Không Quân Hoa Kỳ là Harry H. Noyes, thay mặt những người lính VNCH, qua tác phẩm "Heroic Allies" nói lên vinh quang và sự hãnh diện của một quân lực, từ lâu đã bị bọn trí thức vô liêm sỉ, tước đoạt một cách hèn hạ, bất nhơn và vô nhân đạo. Sự tuyên truyền lố lăng và cuồng ngạo của Hà Nội cùng những mặt mo bưng bợ, làm cho thiên hạ năm châu chán ghét, sau khi cái thây ma VNCH chỉ còn trơ lại bộ xương gầy đét, không còn gì để cho Huỳnh Liên, Ngô Bá Thành, Huỳnh Tấn Mẫm, Chân Tín và một số quạ đen, diều hâu, bu tới rỉa rói như lúc chợ còn đông khứa.

Trong tài liệu đặc biệt "How Media Bias Distorts Our View of the World" của ký giả Allan Brownnfiels, nói rằng vì hầu hết giới truyền thông Tây Phương, quá mù quáng, ca tụng một chiều về Mao Trạch Đông và Fidel Castro, trong lúc thẳng tay sỉ nhục bôi nhọ Tưởng Giới Thạch và chính phủ CuBa lúc đó, tuy vô tình nhưng đã làm cho cộng sản tại hai nước này chiến thắng mau lẹ. Bài học của lịch sử sau đó lại tái diễn ở Nam VN. Lần này do chính những thành phần được ưu tiên trạng trọng trong xã hội lúc đó, là những công tử tiểu thư đài các của giới địa chủ, địa hào, thương gia, chủ vựa nước mắm, nhờ cha mẹ tổ tiên theo thực dân Pháp bóc lột đồng bào, nên có tiền, có thế, cho con trai, con gái qua Pháp, Mỹ du học thành luật sư, bác sĩ, giáo sư, những thành phần mà Hồ Chí Minh và đảng VC ở miền Bắc, chém giết và khinh bỉ tận tuyệt, sau khi được làm chủ nửa miền đất nước vào năm 1954.

Nhờ cái mặt nạ trí thức và sự tự do quá trớn của Nam VN, những thành phần ăn chén đá bát này, luôn bẻ cong ngòi bút, làm cho thế giới tự do lầm lạc, nghĩ rằng giặc Cộng tại Nam VN là những người bình thường, yêu nước, nên nổi dậy chống lại sự độc tài tham nhũng của chế độ. Tóm lại nhờ những trí thức này, mà VC nằm vùng sau ngày tập kết 1954, VC chính thống từ Miền Bắc xâm nhập, kể cả Tàu Cộng, Liên Xô, Cu Ba, Đông Âu... trong bộ đội Hà Nội đang chiến đấu tại Nam VN, đều không có dính líu tới Hồ và cộng sản đệ tam quốc tế. Sự độc ác trên, nhờ tuyên truyền ngay ở miền Nam và các mạng lưới quốc tế, khiến cho cuộc chiến chống xâm lăng cộng sản, của người Việt quốc gia Nam VN, mất đi cái ý nghĩa chính thống, làm cho Hoa Kỳ cũng gặp nhiều khó khăn khi sang chiến đấu bảo vệ tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á. Rốt cục, cả Mỹ lẫn Việt đều đại bại trước mặt trận thông tin ca ngợi VC, của báo chí, truyền thông ngoại quốc và ngay trong nước.

Từ năm 1965, Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân dồn dập vào Nam VN, cũng là thời kỳ lửa máu ở hậu phương. Đây cũng là thời kỳ ăn nên làm ra, của những thông tín viên, ký giả ngoại quốc, qua những bài tường thuật, có kèm hình ảnh, không phải để phổ biến những sự thật, mà chỉ để tuyên truyền một chiều, nhằm bôi nhọ những quân đội, đang trực diện với cộng sản Bắc Việt, trên chiến trường Nam VN. Có thể nói bài phóng sự chiến trường đầu tiên, của thông tín viên đài CBS tên Morley Safer, viết về cuộc hành quân của một đơn vị TQLC Mỹ, tại một làng xôi đậu, đã trở thành những mẫu thông tin "ăn khách", theo đơn đặt hàng của thị trường Mỹ và Tây Phương lúc đó. Cũng nhờ báo chí phản tuyên truyền về cuộc chiến Tết Mậu Thân 1968 “ VC chết thảm khắp nơi, đã thành chiến thắng, chiếm được ngay cả Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sàigòn “. Tàn nhẫn và đáng khinh tởm nhất, là báo chí Tây Phương, trong suốt cuộc chiến Nam VN, đã không hề có một chữ tường thuật những hành vi khủng bố, giết người tàn bạo của VC trong trận Mậu Thân 1968 tại Huế, năm 1972 trên Đại Lộ Kinh Hoàng tại KomTum, Bình Đinh, An Lộc, Quảng Trị và những ngày di tản máu lửa hận hờn.

Người lính VNCH vừa đánh giặc phương Bắc, vừa chống đỡ búa rìu truyền thông báo chí trong nước cũng như phong trào phản chiến tại Mỹ và tây phương, được liên kết bởi trí thức, sách báo và tuyên truyền. Đó cũng là lý do đưa đến sự sụp đổ tất yếu của một dân tộc hiền hòa, lễ nghĩa nhưng bất hạnh vì mang thân phận nhược tiểu

2. Thương Quá Người Phế Binh VNCH:

Tất cả hình như chỉ còn có kỷ niệm sau cuộc đổi đời. Là định mệnh mà chúng ta, những kiếp trai thời loạn phải gánh chịu theo vòng đời nổi trôi của dòng sông lịch sử, dù vô lý, dù hờn căm, dù bất công thương hận.

Mất nước nhà tan, nguời lính sống sót sau cuộc chiến, rã ngũ tan hàng đầu sông cuối bể, tha phương thì dần chết trong men đời cay đắng, còn tù ngục chịu cảnh nhục hờn. Nhưng tất cả giờ cũng đã đi hết rồi, chỉ còn ở đây là những thương phế binh xa cũ, những hồn ma cô quạnh, sống với quá khứ liệt oanh, qua những vết thương đời không hề hối hận:

"Di tn khó, sâu dòi lúc nhúc

Trong vết thương người bn nín rên

Người chết my ngày không ly xác

Thây sình mt nát, lch mương tanh..."

(Tô Thuỳ Yên)

Ta thán phục, ta hãnh diện biết bao, khi đọc được những trang sử cũ. Sẽ vui cười hớn hở cùng với tiền nhân qua những lần giết đuổi giặc Tống, Mông, Minh, Thanh..tận ải Chí Lăng, trên sông Bạch Đằng, đốt tàu Pháp tại Vàm Nhật Tảo. Không biết những trang quân vương dũng tướng thời xưa, hành xử thế nào mà muôn người như một, khiến cho người trong nước, già trẻ lớn bé, đều nguyện một lòng giết giặc cứu nước tại Hội Nghị Diên Hồng. Sau này mới vỡ lẽ, thì ra đó là tinh thần trách nhiệm, cũng như bổn phân của kẻ sĩ thời tao loạn. Hay đúng hơn, đó là đức tính cao quí của thanh niên-sĩ phu, dù họ chỉ là những người bình dân ít học.

"Tôi không là tôi na,

T khi được xut ngũ

Có qu đen đu trên đu

Có bao nhiêu đi ch đau kh.

.."

Thanh niên VN thời nào cũng vậy, tất cả đều đặt trách nhiệm làm trai trên hết, nên chúng ta ngày nay mới còn có đất nước, để mà vui sướng, đau khổ. Hỡi ơi, có làm lính mới hiểu phận bèo của lính, có là thương phế binh, sau khi được xuât ngũ, mới thấm thía được nỗi buồn của một kẻ tàn tật, mất tất cả, ngoài người mẹ già từ quê xa, đang đợi con trở về. Thê thiết quá cũng như đau đớn tột cùng, kiếp lính chiều tàn là thế. Sự thật là vậy, có khi còn đau đớn trăm chiều. Ai đã tùng thấy chưa, cảnh vợ lính hay người yêu, chỉ một lần vào thăm người thân nơi quân y viện, rồi chẳng bao giờ quay lại, ngoài những giọt lệ cá sấu, vô tình còn vương vãi đó đây. Ai có một lần ngược xuôi trên các nẻo đường thiên lý, tình cờ hội ngộ những chàng trai tàn tật còn rất trẻ, những người mù, què, mặt mày in đầy thương-sẹo bởi đạn bom, đang lần mò ngửa tay chờ bố thí của mọi người. Họ là lính chiến của một thời oanh liệt, là thương phế binh QLVNCH đó, họ đau khổ mang thương tật không phải do bẩm sinh, mà vì đời, vì người gánh chịu:

Theo sử liệu, ta biết Nha Cựu Chiến Binh và Nạn Nhân Chiến Cuộc, trưc thuộc Bộ Quốc Phòng. Đầu tiên Nha này là một Bộ được thành lập vào tháng 8-1952, có một An Dưỡng Đường dành cho Thương Phế Binh. Sau đó, bộ này bị hủy bỏ, tất cả các vấn đề liên quan tới cựu chiến binh, đều giao cho Bộ Y Tế, với một Nha riêng gọi là Nha Tổng Thư Ký, Cưu Chiến Sĩ và Phế Binh đãm trách.

Thời VNCH, qua một Đại Hội Cựu Chiến Sĩ toàn quốc tại Toà Đô Sảnh Sàigòn. Ngày 29-5-1955, Nha Tổng Giám Đốc CCB và NNCC được thành lập, trụ sở ở đường Đoàn Thị Điểm. Sau Tết Mậu Thân 1968, Nha được cải thành Bộ, gồm các Nha Sở Trung Ương và các Ty trực thuộc.

Năm 1969, một biến cố lớn đã xảy ra tai thị xã Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Đó là vụ Y Sĩ Đại Uý Hà Thúc Nhơn, trưởng trại 12 tai, mắt, mũi, họng, thuộc Quân Y Viện Nguyễn Huệ. Vì dám tố cáo Chỉ Huy Trưởng QYV là Thiếu Tá Phùng Quốc Anh, với sĩ quan hành chánh Đặng Mai, toa rập tham nhũng, ăn xén tiền ẩm thực của thương bệnh binh, cũng như mờ ám trong các vụ cứu xét, phân loại trợ cấp, miễn dịch. Đại Uý Nhơn đã cầm đầu các bệnh binh nổi loạn, nên bị Tỉnh trưởng Khánh Hòa lúc đó là Đại Tá Lý Bá Phẩm, nguyên Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 43 Biệt Lập, ra lệnh cho ĐPQ bắn trọng thương và đã chết khi chở vào cấp cứu tại Cam Ranh.

Ngày đưa tang người xấu số, cũng là thời điểm Phế Binh Khánh Hòa đứng dậy đòi quyền sống. Taị Sàigòn, Trung Úy mù BĐQ Đỗ văn Lai cùng một số phế binh nặng, đang dưỡng thương tại Trung Tâm Chỉnh Hình đường Bà Huyện Thanh Quan, cũng biểu tình, cắm dùi khắp Đô Thành, đòi Chính Phủ phải cứu xét lại quyền lợi của họ, trước vật giá leo thang đắc đỏ, do sự hiện diện của Mỹ và Đồng Minh, vung đô la xanh đỏ qua cửa sổ như khói thuốc. Phong trào tranh đấu bùng nổ khắp nước, làm cho chính quyền trung ương cũng như tại các tỉnh bối rối, vì không thể dùng bạo lực để chèn ép hay khóa miệng, bởi phế binh cũng là lính, nên ai nỡ xuống tay.

Rồi Tổng Hội Thương Phế Binh ra đời tại Sàigòn, bầu PB Nguyễn Đinh làm Hội Trưởng, PB Nguyễn Bính Thịnh, tức nhà văn An Khê, làm phó và PB Đinh Trung Thu, tổng thư ký. Ngoài ra còn có một Hôi Ái Hữu Thương Phế Binh, do cựu Thiếu Tá Nguyễn Văn Hàng thành lập.

Thời Đệ Nhị Cộng Hòa (1967-1975) bắt đầu năm 1969 trở về sau, quyền lợi của Phế binh, cô nhi quả phụ càng ngay càng được cải tổ, chăm sóc và dễ thở hơn trước. Nạn chèn ép, dìm sổ trợ cấp để làm tiền cũng chấm dứt. Từ năm 1972, chính phủ cho thành lập Ty Cựu Chiến Binh tại các Tỉnh, có quyền hạn rất rộng rãi, ngoại trừ sổ trợ cấp đầu tiên được ký cấp từ Bộ. Cũng từ đó, người cô nhi, quả phụ và thương phế VNCH, được sống an nhàn hơn trước, với các quyền lợi thiết thực, tương xứng, từ trợ cấp, xin việc làm, y tế, cho tới các kỳ thi, tất cả đều ưu tiên cho họ.

Rồi thì hằng loạt Làng Phế binh, lần lượt ra đời tại quận cũng như thị xã. Riêng những phế binh đã có nhà, không muốn vào Làng, được trợ cấp một ngân khoản 60,000 đồng. Tất cả các làng trên, đều bị VC cướp giựt sau ngày 30-4-1975.

Làm người bình thường, sống trong thời loạn, đã phải khốn khổ vì miếng cơm manh áo, huống chi phận lính nghèo, lãnh đồng lương chết đói, vậy mà còn bị trí thức nguyền rủa, là lính đánh thuê cho Mỹ.

"Giọt mưa trên lá, nước mắt mặn mà, thiếu nữ mừng vì tan chiến tranh chồng về..."

"Mẹ lần mò, ra trước ao, nắm áo người xưa, ngỡ trong giấc mơ, tiếc rằng ta, đôi mắt đã lòa vì quá đợi chờ..."

(Phạm Duy).

Nhưng chiến tranh chứa dứt và vẫn còn khốc liệt, nhưng người xưa nay đã thành tàn phế, vô dụng, lê lết đời tàn xuân héo, lần mò trở về làng xưa, với những kẻ thân yêu, mong chút tình thân đùm bọc.

Ai có cảm thông chăng người lính mù trẻ tuổi vì đạn B40, lần mò trên chiếc xe lăn, quanh bến phà, bến xe, miệng hát tay đờn kiếm sống? Có thương không những người lính trận, bán thân bất toại, lê lết khắp các nẻo đường phố thị, để bán vé số, sách báo, đắp đổi qua ngày. Và còn nữa, còn trăm ngàn thảm kịch của tuổi thanh niên thời loạn, chân gỗ tay nạng, mắt mũi vàng khè, khô nám, luôn đau đớn bởi những hậu chứng, sau khi giải phẫu. Nhưng họ vẫn lao động để sinh tồn, đi biển, làm nông, lết lê trên ruộng trên sóng, đội nắng tấm mưa. Kiếp sống phận bèo của người phế binh là thế đó, nên phải chiếm đất cắm dùi, cũng là chuyện bình thường.

Hai mươi năm chinh chiến, dù có gọi bằng một thứ danh từ gì chăng nữa, thì xác của nam nữ thanh niên hai miền đất nước, cũng đã chất cao như núi, máu chảy thành sông. Rốt cục chỉ có cái vỏ độc lập, hòa bình, tự do, thống nhất. Người cả nước đói vẫn đói và đời sống càng bị tù hãm tứ phiá, bởi cổ được mang nhiều thứ gông, cả cộng sản, lẫn tư bản và đảng cầm quyền.

Nhưng thê thiết nhất vẫn là những người phế binh VNCH. Ngày xưa lúc chế độ cũ còn, được nói, được hưởng đủ thứ quyền lợi, thế nhưng họ vẫn sống bèo bọt, cực nghèo. 30-4-1975, VC vào tóm thu tất cả, thêm vào đó là chuyện trả thù. Lính sống thì đi tù, lính chết thì cầy mộ, còn lính què đui tàn phế, thì bị xua đuổi ra khỏi các quân y viện, làng phế binh và ngay cả ngôi nhà của mình.

19-4-1975 tại Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch, Phan Thiết. 30-4-1975 tại Tổng Y Viện Cộng Hòa-Sàigòn. Thảm họa gì đã đến với các thương bệnh binh còn đang điều trị, khi giặc về? Có ai cầm được nước mắt trong cảnh đoạn trường máu lệ, khi từng đoàn thương binh, nối gót đắt dìu ra cổng. Người sáng dắt kẻ mù, kẻ bị thương nhẹ cõng người trọng bệnh. Khắp lối ra vào, máu me vương vãi với nước mắt đoanh tròng của những nạn nhân bị bỏ rơi, không đại bàng, chẳng đồng đội và cũng hết hậu phương. Một số chết vì vết thương quá nặng, số khác sống trong cảnh tàn phế vĩnh viễn, vì vết thương không được tiếp tục điều trị. Đời thê thảm quá, cũng may lúc đó quanh họ, còn có những cô gái bán phấn buôn hương ở Ngã ba Chú Iá, Gò Vấp, những người xích lô ba gác, kẻ cho tiền, người giúp công, đưa hết những bệnh nhân xa xứ, tới bến xe về quê sống tiếp kiếp lính bèo.

Cuộc đổi đời nay đã xa lắc nhưng mỗi lần nhớ cứ tưởng mới hôm qua hôm nay. Ba mươi lăm năm rồi ta còn sống được, để nói chuyện văn chương chữ nghĩa trên đất người, đã là điều đại phúc. Trong lúc đó nơi quê nhà ngàn trùng xa cách, những người phế binh năm nào, không biết nay ai còn ai mất. Nhưng chắc chắn một điều, dù họ có sống hay đã chết, thì hận nhục, thương đau cũng đâu có khác gì bóng ma trơi, những mảng đời nghèo hèn tăm tối. Đâu có ai muốn nhắc tới những thân phận hẩm hiu trong vòng đời tục lụy, kể cả những cấp chỉ huy cũ, hiện đổi đời giàu sang, mồm to miệng thét ở hải ngoại.

- Xin hãy thương lấy họ, hãy cứu vớt họ đang trôi nổi trong ngục tù nghiệt ngã.

- Phế binh cũng là một phần của tập thể cựu quân nhân hải ngoại.

- Hãy rớt một chút ân thừa cho những thây người còn sống sót trong bể hận trầm luân.

- Hãy cho họ một chút tình thương trong cơn hấp hối.

- Hãy dành cho họ một chút không gian nho nhỏ, trong căn nhà VN to lớn, đã được các cộng đồng tị nạn hoàn thành trên khắp nẻo đường viễn xứ, để họ an tâm chờ đợi luân hồi và một vòng hoa tặng người chiến sĩ ca khúc khải hoàn, mà chắc chắn phải có trong thời gian gần.

Ngày xưa người chinh phụ, giữ sạch tâm hồn và băng trinh tuổi ngọc, để đợi chồng ngoài quan tái, hy vọng cuộc chiến mau tàn, để phu phụ trùng phùng, kết lại mối duyên xưa:

"Xin vì chàng xếp bào ci giáp

Xin vì chàng giũ lp phong sương

Vì chàng tay chuc chén vàng

Vì chàng đim phn, đeo hương não nùng

Liên m, đi m, đòi phen

Cùng chàng li kết, mi duyên đến già..."

(Chinh Phụ Ngâm)

Nhưng người chinh phụ VNCH lại không có cái diễm phúc đó, vì khi quê hương vừa ngưng tiếng súng, lập tức từ quan quân cho tới sĩ thứ, những người bại trận, lớp lớp vào tù. Lính chết đã rục tử thi vẫn bị dầy mồ, lính bị thương tàn phế bị xua đuổi ra khỏi cuộc sống. Thử hỏi trên thế gian này, có kiếp người nào, đáng thương hơn người lính VNCH?

"Du binh la nước non như cũ,

K hành nhân qua đó chnh thương"

(Chinh Phụ Ngâm)

Cuộc đời thanh niên thời loạn ly, rốt cục chỉ còn lại nỗi buồn thiên cổ, xin hãy nâng ly rượu sầu lên môi mà nhớ. Nghiêng mình, cúi đầu cảm tạ những vị ân nhân, đã và đang hết lòng cưu mang, giúp đỡ tận tình "Thương Phế Binh, gia đình kể cả cô nhị quả phụ VNCH", hiện đang sống kiếp trầm luân rách đói, trong địa ngục VN.

Xóm Cồn Ha Uy Di

Tháng 11-2010