Translate

Monday, January 17, 2011

Nếu tôi là Tổng bí thư

Nhân vào blog Nguyễn Hữu Quý đọc được bài tho :”Nếu tôi được bầu Tổng bí thư” tự nhiên cảm hứng làm bài thơ họa:

Nếu tôi là Tổng bí thư

Nếu tôi là Tổng bí thư
Tôi sẽ làm Việt Nam thay da đổi thịt
Người dân sẽ được tự tay cầm lá phiếu
Để bầu cho đại diện của mình

Nếu tôi là Tổng bí thư
Tôi cũng sẽ noi gương Gớc Ba Chốp
Để đất nước được đa nguyên đa đảng
Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng sẽ phải vươn mình

Nếu tôi là Tổng bí thư
Tôi sẽ phải để nhân dân bầu chọn
Nếu nhân dân không còn tín nhiệm
Tôi sẵn sàng sẽ tự rút lui

Nếu tôi là Tổng bí thư
Đảng Cộng Sản sẽ đổi thay toàn diện
Kẻ bất tài sẽ về nhà…đuổi vịt
Đất nước rồi sẽ được thăng hoa…

Ôi! Nếu tôi là Tổng bí thư…

Phi Vũ

Bộ Trưởng Quốc Phòng Gates thắng lớn khi sang Trung Quốc

Truyền thống của Trung Hoa thường hay phô trương sức mạnh khi đón tiếp sứ thần nước ngoài, không ngờ lần này bị Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Robert Gates dùng “gậy ông đập lưng ông” đem lại thiệt hại đáng kể về ngoại giao.

Bộ trưởng Quốc phòng HK, Robert Gates. Ảnh: thirdage.com

Vào tuần lể trước cuộc viếng thăm của ông Gates các trang mạng Hoa Lục tung ra ảnh chụp của mẫu phi cơ khó bị phát hiện (stealth) J-20 như một lời cảnh báo không chính thức rằng Trung Quốc có khả năng chế tạo các loại vũ khí tối tân nhất không thua gì Hoa Kỳ.

Vài giờ trước khi Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates gặp Chủ Tịch Nhà Nước Hồ Cẩm Đào các trang mạng lạI tung ra đoạn phim của chiếc J-20 bay thử nghiệm để chứng tỏ ngành kỹ thuật này của Hoa Lục đã trưởng thành hơn nhiều dự đoán của Tây Phương.

Khi ông Gates nêu lên mối quan tâm của Mỹ về việc thử máy bay thì Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào tỏ vẻ ngạc nhiên – không biết là giả đò hay bị bất ngờ thật sự – lúng túng một lúc rồi mới trấn an rằng việc bay thử hoàn toàn ngẫu nhiên chớ không phải được chuẩn bị trước như một cử chỉ thách đố với vị Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ.

Sau buổi họp và khi đến Nhật Bản, Bộ Trưởng Gates đưa ra vấn đề là liệu giới cầm quyền dân sự Bắc Kinh có hoàn toàn kiểm soát được thành phần quân đội tại Trung Quốc hay không? Cách ứng xử tuy nhẹ nhàng và ngoại giao nhưng lại hết sức nghiêm khắc vì Hoa Lục trong tư thế cường quốc hàng đầu không thể bị thế giới đánh giá có chính sách ngoại giao và quân sự bất nhất – hơn nữa trong hoàn cảnh các thử thách phiêu lưu của Bình Nhưỡng, một đàn em của Bắc Kinh hiện đang đe doạ đưa bán đảo Triều Tiên vào chiến tranh.

Vì những quyền lợi kinh tế và chính trị nên Hoa Kỳ và Nhật Bản đã không thể ra mặt liên minh quân sự đối đầu với Trung Quốc, nhưng giờ đây Bộ Trưởng Gates đã có thể kêu gọi sự hợp tác của hai nước để đối phó với những “bất ngờ” trong khu vực. Bước kế tiếp là Mỹ sẽ tạo cơ hội cho hai nước Nam Hàn và Nhật Bản bỏ qua các hiềm khích trong quá khứ để hợp tác phòng thủ khu vực Đông Bắc Á.

Theo tin tức cho biết ông Dương Thiết Trì sẽ mất chức Ngoại Trưởng vì bị “phục kích” tại Hà Nội vào tháng 07-2010 khi Ngoại Trưởng Hillary Clinton và các nước ASEAN xác định lợI ích của Hoa Kỳ và thế giới tại khu vực tranh chấp biển Đông. Không biết Bộ Quốc Phòng Trung Quốc lần này có sẽ thay đổi nhân sự hay không vì thất bại không nhỏ vừa qua.

Ông Robert Gates là một trong các nhà lãnh đạo nhiều kinh nghiệm và hiệu quả nhất của Hoa Kỳ, và ông đã thắng lợi trên mặt ngoại giao cho dù đang nắm giữ chức Bộ Trưởng Quốc Phòng.

© Đoàn Hưng Quốc

© Đàn Chim Việt


Sunday, January 16, 2011

TRẢ LẠI NHỮNG GÌ …CỦA LỊCH SỬ CHO LỊCH SỬ

Theo Việt Thức

Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay trải qua hàng ngàn năm đô hộ của giặc Tàu, gần một trăm năm nô lệ giặc Tây và hơn nửa thế kỷ nô dịch văn hóa ngoại lai. Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc bành trướng với ưu thế của kẻ thắng trận và thủ đoạn thâm độc quỉ quyệt đã không những dùng mọi phương cách để đồng hóa Việt tộc bằng cách xóa đi mọi dấu vết cội nguồn, bóp méo sửa đổi lịch sử khiến thế hệ sau chỉ biết tìm về lịch sử trong một mớ “chính sử” hỗn độn mơ hồ. Mỗi một triều đại Hán tộc đều chủ tâm thay đổi địa danh, thủy danh xưa cũ của Việt tộc cùng với ảnh hưởng nặng nề của một ngàn năm đô hộ của sự nô dịch văn hóa khiến ta chấp nhận tất cả như một sự thật mà không một chút bận tâm. Thế nhưng… Lịch sử vẫn là lịch sử của sự thật dù bị sửa đổi vùi lấp hàng nghìn năm dưới ánh sáng của chân lý khách quan trước thềm thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại. Sự thật lịch sử này làm đảo lộn mọi nhận thức từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. đến nỗi mà một sử gia thời danh J Needham người có công phục hồi sự thật lịch sử bị che giấu hàng ngàn năm, làm đảo lộn mọi sử sách xưa nay đã phải thốt lên: “Sự thật bị che phủ hàng ngàn năm cùng với ảnh hưởng của ngàn năm thống trị nô dịch văn hóa khiến ngay cả người Việt cũng ngỡ ngàng, không tin đó là sự thật .!!!”.(1)

Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải nhìn lại toàn bộ lịch sử để phục hồi sự thật của lịch sử để xóa tan đám mây mờ che lấp suốt mấy ngàn năm lịch sử bởi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.. Trong lịch sử nhân loại, có lẽ không một dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm lịch sử, những khốn khó thương đau. Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đã bị Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục đã đánh đuổi Việt tộc phải rời bỏ địa bàn Trung nguyên Trung quốc xuống phương Nam để rồi trụ lại địa bàn Việt Nam bây giờ. Trải qua gần một ngàn năm đô hộ, với chiến thắng Bạch Đằng Giang năm 938 của Ngô Quyền mới chính thức mở ra thời kỳ độc lập của Việt tộc. Tuy thất bại về quân sự nhưng nền văn hóa của Việt tộc đã thẩm nhập vào đất nước và con người Hán tộc để hình thành cái gọi là văn minh Trung Quốc. Chính sử gia chính thống của Hán tộc là Tư Mã Thiên đã phải thừa nhận một sự thực là “ Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi đã có đại công đức với muôn dân vậy ..!”.

Trước đây, Hán tộc vẫn tự hào cho rằng Tứ Thư Ngũ Kinh là của Hán tộc. Thế nhưng, những công trình nghiên cứu đã phục hồi một sự thật lich sử, Tứ Thư Ngũ Kinh không phải của Hán tộc mà chính là của Việt tộc. Sách Trang Tử kể chuyện Khổng Tử gặp Lão Tử. Khổng Tử nói: “ Khâu này chỉ khảo cứu sâu 6 kinh là Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu”. Như vậy thời Khổng Tử Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu đã có từ lâu và được gọi là “Kinh”. Chính bộ “Trung Quốc Văn học Sử” do “Bắc Kinh đại học, Trung văn hệ” biên soạn viết rõ ràng là “Tên gọi Thi Kinh là do Hán Nho thêm vào”. Sử gia chính thống Hán tộc Tư Mã Thiên viết “ Xưa kia, Thi vốn có hơn 3 ngàn bài, đến Khổng Tử chỉ lấy 305 bài hợp với việc thực thi lễ nghĩa, đều phổ nhạc, cố tìm âm hợp với nhạc Thiều, Vũ, Nhã, Tụng”.

Cổ văn Thượng Thư do Lỗ Cung Công con của Lỗ Cảnh Đế tìm thấy khi phá ngôi nhà cũ của Khổng Tử để xây cất lại lớn hơn. Trong bức vách nhà có những sách cổ thời Ngu, Hạ, Thương, Chu … Luận Ngữ, Hiếu Kinh đều viết bằng chữ cổ gọi là Khoa Đẩu tự hình con nòng nọc. Sách Hán Thư, Thiên văn Nghệ chí chép “Cổ văn Thượng Thư được tìm thấy trong vách tường nhà Khổng Tử. Khổng An Quốc, hậu duệ của Khổng Tử trước đây đã biết bộ sách này có 29 thiên do Phục Sinh truyền, chưa kể Thái Thệ còn thừa ra 16 thiên, tính ra 45 quyển, 58 thiên không kể bài tựa …, nay lại được thêm 16 quyển”. Như vậy, rõ ràng là Ngũ Kinh có trước thời Khổng Tử và được viết bằng lối chữ “Khoa Đẩu” là lối chữ viết theo hình dáng của con nòng nọc của Việt tộc thời xa xưa. Lối chữ “Nòng Nọc” của người Việt cổ cùng với nền văn hóa Hòa Bình đã lan truyền khắp Trung Đông, góp phần tạo nên những nền văn minh …

Chính“Vạn thế Sư biểu” Khổng Tử là người thầy muôn đời của Hán tộc cũng đã phải đem những nghiên cứu, sưu tập, học hỏi của nền văn minh Bách Việt phương Nam đặt để thành những quy luật, trật tự cho xã hội phương Bắc. Tất cả những “Tứ thư, ngũ kinh” được xem như tinh hoa của Hán tộc đã được chính Khổng Tử xác nhận là ông chỉ kể lại “Thuật nhi bất tác”, sao chép lại của tiền nhân chứ không phải do ông sáng tác ra. Vạn thế sư biểu của Hán tộc là Khổng Tử đã ca tụng nền văn minh rực rỡ, xác nhận tính ưu việt của nền văn minh Bách Việt ở phương Nam. Trong sách Trung Dung Khổng Tử đã viết như sau: “Độ luợng bao dung, khoan hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ở đấy ..! Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo ở đó…”. Trong kinh “Xuân Thu”, Khổng Tử đã ghi lại bao nhiêu trường hợp cha giết con, con giết cha, cha cướp vợ của con, con cướp vợ của cha, anh chị em dâm loạn với nhau, bề tôi giết chúa … Điều này chứng tỏ Hán tộc du mục vẫn còn dã man với lối sống du mục.ngay trong giới quí tộc chứ đừng nói đến bình dân. Thế mà chính sử Trung Quốc cứ vẫn sao chép Việt tộc là man di, các Thứ sử Thái Thú Hán vẫn lên mặt giáo hóa dân Việt trong khi Bách Việt ở phương Nam đã đi vào nền nếp của văn minh nông nghiệp từ lâu.

THẾ NHƯNG SỰ THẬT LỊCH SỬ ĐÃ ĐƯỢC PHỤC HỒI khi giới nghiên cứu đều xác nhận hầu hết các phát minh gọi là văn minh Trung Quốc từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh kim loại, kỹ thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu thủy tinh, cách làm thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút … tất cả đều là của nền văn minh Bách Việt. Chính một vị vua của Hán tộc, Hán Hiến Đế đã phải thừa nhận: “Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất ..!”.

Ngày nay, hầu hết các học giả, các nhà Trung Hoa học trên toàn thế giới đều cho rằng văn hoá Trung Quốc phát nguyên từ văn hóa Việt ở miền Nam Trung Quốc. Các sử gia Trung Quốc thời trước cố tình không thừa nhận một sự thực, đó là sự đóng góp to lớn của cư dân Hoa Nam tức người Việt cổ trong việc hình thành tạo dựng nền văn minh Trung Hoa. Học giả Eicks Kedt nhận định rằng “Tư Mã Thiên, sử gia chính thống của “Đại Hán” sinh ở Long Môn thuộc Sơn Tây nên nhất quyết từ chối không để lại bất kỳ một tài liệu gì về dân Mạn Nam. Hầu như tất cả người Tàu mạn Bắc đều như vậy. Eicks Kedt tiếc rằng những học giả Âu Tây chỉ biết ngốn nghiến sử liệu của Tư Mã Thiên hay những sử gia khác mà không chú ý đến việc bẻ quặt do sự bỏ sót nhiều sự kiện, nhất là khi nói đến các dân Man Di ngoài Hán tộc. Lý do của sự bỏ sót đó là họ đã xem Nho giáo xuyên qua lăng kính nhuộm đẫm màu Hán tộc nên chỉ nhìn nhận để có những gì thuộc miền Bắc nước Tàu mà thôi”.

Một nhà nghiên cứu về Trung Quốc khác là Terrien de la Couperie trong tác phẩmWestern Origin of the Early Chinese Civilisation/ Những ngôn ngữ trước Hán đã nhận định: “Người Hán ngại nhìn nhận sự có mặt của những cư dân không phải là Hán tộc sống độc lập ngay giữa miền họ cai trị. Tuy họ không thể giấu được sự kiện là họ đã xâm lăng, nhưng họ đã quen dùng những danh từ đao to búa lớn, những tên địa dư rộng để bịt mắt những độc giả không chú ý, hầu che đậy buổi sơ khai tương đối bé nhỏ của họ. Muốn tìm hiểu các cư dân đó thì chỉ còn cách là đi dò tìm vết tích còn quá ít vì cho tới nay, người ta ít chú ý tới sự quan trọng lịch sử của các chủng tộc tiền Hán trừ một hai chuyện gây sự tò mò mà thôi”. Terrien de la Couperie kết luận: “Niềm tin là Trung Quốc vốn lớn lao mãi từ xưa và thường xuyên là như thế chỉ là một huyền thoại. Trái ngược lại, đó là việc mới xảy ra về sau này. Văn minh Trung quốc không phải tự nó sinh ra mà chính là kết quả của sự thâu hoá. Việc thâu hoá thì ngày nay được nhiều người công nhận, còn thâu hoá từ đâu thì trước đây cho là từ phía Tây nhưng về sau này, nhiều người cho là từ văn hoá Đông Nam …”

Học giả Andreas Lommel trong tác phẩm “Tiền sử” (Prehistoric) đã nhận định cái gọi là nền văn hoá Trung Hoa do 8 nền văn hoá khác hợp lại mà thành:(2)

1. Nền văn hoá Tung-Xích từ Đông Bắc đến, tập trung ở Hà Bắc (Hopei) và Sơn Đông (Shangtung). Tộc người này trước chuyên về săn bắn sau chuyển sang chăn nuôi, đặc biệt là nuôi heo.

2. Nền văn hoá Mông Cổ của tộc người chuyên săn bắn sống đời du mục. Nền văn hoá này tập trung nhiều nhất ở Sơn Tây và Nội Mông.

3. Nền văn hoá Thổ (Turkish) của tộc người chuyên sống đời du mục, săn bắn và trồng lúa Tắc( Millet), họ đã thuần hoá ngựa khoảng 2.500 năm TDL. Theo ông thì nền văn hoá này góp phần lớn cho sự hình thành nền văn hoá Hán và Hán tộc sau này.

4. Nền văn hoá Tây Tạng (Tibetan) của tộc người chuyên về chăn nuôi dê cừu, phần lớn tập trung tại miền núi của các tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc và Tứ Xuyên.

Còn lại 4 nền văn hoá gọi chung là văn hoá phương Nam bao gồm nhiều chủng tộc như tộc người Nhao chuyên về săn bắn, tộc người Dao vừa săn bắn vừa hái lượm và một tộc người chuyên về nghề trồng lúa nước mà theo Lommel cho là tổ tiên của người Thái, người Miến (Shan) và người Lào sau này thành lập các quốc gia Thái Lan, Miến Điện và Ai Lao. Lommel cũng cho rằng tổ tiên của người Việt sau này là do người Thái và người Dao hợp thành ..! Theo Lommel thì “Phương Nam có nền văn hoá nông nghiệp mạnh mà Thái là tộc người tiêu biểu. Chính tộc người này trở nên thành phần quan trọng nhất tại Trung Quốc”. Theo ông có 2 tộc người, một từ Tây Bắc là tộc Thổ (Turc) giỏi về chiến tranh, biết thuần hoá ngựa và thiên về săn bắn và một tộc người từ phương Nam giỏi về canh nông. Đây là 2 tộc người chính tạo nên nước Trung Quốc ngày nay mà tộc người Tây Bắc là chính yếu”.

Nhận định trên của Lommel tuy có phần chính xác nhưng còn nhiều phiến diện sai lầm. Thực ra, cư dân gốc Thổ Turc hợp củng với Mongoloid tạo thành Hán tộc còn cư dân phương Nam chính là Bách Việt bị Hán tộc thống trị và nên văn hoá phương Nam chính là nền văn hoá của Bách Việt ở phương Nam kể cả nên văn hoá mà Lommel nói là Tung Xích thực ra của chi Lạc bộ Trãi mà thư tịch cổ Trung quốc gọi là “Rợ Đông Di” cũng chính là nền văn hoá của Bách Việt. Tộc người mà Lommel gọi là tộc Thái chính là chi Âu Việt trong Bách Việt, tên Thái chỉ mới có sau này mà thôi, sau khi thiên cư xuống phương Nam.

Trong tác phẩm vĩ đại Science and Civilization in China, nhà sử học lừng danh Joseph Needham đã nhận định rằng nền văn hoá Trung Hoa được hình thành nhờ 6 nền văn hoá cổ đại:

Thứ nhất là nền văn hoá Tung Gu Xích phương Bắc ảnh hưởng đến lối sống của người Ngưỡng Thiều và Long Sơn.

Thứ hai là nền văn hoá du mục của người Thổ từ Tây Bắc đến.

Thứ ba là nền văn hoá Proto-Tibetan tức cổ Tạng đến từ phương Tây.

Thứ tư, năm và sáu là từ phương Nam và Đông Nam lên.

Theo học giả J.Needham thì Protoviets đã mang theo 25 đặc trưng văn hoá lên địa bàn cư trú mới.

Điểm quan trọng được nhấn mạnh ở đây là khác với Lommel, J. Needham khẳng định rằng: “ 3 nếp sống văn hoá này đem vào Trung Hoa thời Tiền sử mang yếu tố “Biển” rõ rệt và có thể mô tả bằng một chữ, đó là chữ “VIỆT” mà trước kia thường gọi sai lầm là Thái cổ (ProtoThai)”. Học giả lừng danh này còn chú thích rõ chữ Việt nay là quốc hiệu của một nước vùng Đông Nam châu Á: Nước Việt Nam ngày nay.

Tóm lại, người Trung Quốc mà ta thường gọi là Tàu (Hán tộc) không phải là một chủng thuần tuý và cũng không có một văn hoá riêng biệt nào. Lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ triều đại Thương là một tộc người du mục kết quả của sự phối hợp chủng giữa Nhục Chi và Huns (Mông cổ). Kế tiếp là triều Chu cũng là một tộc du mục có hai dòng máu Mông Cổ và Hồi (Turc). Sau khi Mông Cổ chiếm được Trung Quốc đã thành lập triều Nguyên rồi khi Mãn Châu diệt triều Minh lại thành lập triều Thanh trong lịch sử Trung Quốc. Có thể nói lịch sử Trung Quốc là lịch sử của sự xâm lăng và bành trướng đồng thời cũng bị xâm lăng nhưng tất cả kẻ chiến thắng bị sức mạnh của văn hoá của dân bị trị khuất phục để rồi tự đồng hoá với cư dân bản địa cuối cùng trở thành Hán tộc mà ta thường gọi là người Tàu. Văn hóa của cư dân bị trị đây là văn hóa Bách Việt. Giáo sư Wolfram Eberhard trong tác phẩm “Lịch sử Trung Quốc” đã nhận định: “Ý kiến cho rằng chủng tộc Hán đã sản sinh ra nền văn minh cao đại hoàn tự lực do những tài năng đặc biệt của họ thì nay đã không thể đứng vững, mà nó phải chịu cùng một số phận như những thuyết cho rằng họ đã thâu nhận của Âu Tây. Hiện nay, người ta biết rằng xưa kia không có một chủng tộc Tàu, cũng chẳng có đến cả người Tàu nữa, y như trước đây 2.000 năm không có người Pháp, người Suisse vậy. Người Tàu chỉ là sản phẩm của sự pha trộn dần theo một nền văn hoá cao hơn mà thôi”.

Chính sử gia Trung quốc, Chu Cốc Thành trong “Trung Quốc Thông sử” viết: “Viêm tộc (Việt tộc) đã có mặt khắp nước Trung Hoa cổ đại trước khi các dòng tộc khác tràn vào nên có thể xem là chủ nhân đầu tiên. Khi Viêm Việt đã định cư, Hán tộc còn sống du mục tại vùng Tân Cương, Thanh Hải. Về sau họ theo Hoàng Hà tràn vào Hoa Bắc, chiếm đất của Việt tộc”. Nhà nghiên cứu La Hướng Lâm người Trung Quốc trích dẫn “Việt tỉnh Dân tộc Khảo nguyên” của Chung Độc Phật cho biết “Cả miền đất châu Kinh (đất nước Sở), châu Dương (đất nước Việt) và châu Lương (đất nước Quì Việt) nghĩa là tất cả lưu vực sông Dương Tử từ Vạn Huyện ở Tứ Xuyên trở xuống đều là giống người Việt ở cả. Sách Hoa Dương Quốc chí chép miền Nam Trung gồm Quí Châu, Vân Nam là đất Di Việt xưa. Vùng đất này gồm hơn 1 chục vương quốc như Điền Bộc, Cú Đinh, Dạ Lang, Diệp Du, Đồng Sư, Việt Tuỷ …”.

Sự thực lịch sử này đã được thư tịch cổ và khoa khảo Tiền sử xác nhận là Việt tộc theo sông Dương Tử tiến về phía Đông thành lập 7 tỉnh lưu vực sông Dương Tử gồm Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, An Huy và Triết Giang. Dần dần Việt tộc tiến lên Hoa Bắc thành lập 6 tỉnh lưu vực Hoàng Hà là Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Đông, Thiểm Tây, Cam Túc và phía Nam thành lập các tỉnh lưu vực Việt Giang gồm Vân Nam, Quí Châu, Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến.

Ngày nay, các nhà nghiên cứu như VK Tinh, Wang Kwo Wu và cả nhà văn nổi tiếng Quách Mạt Nhược đều xác định là hầu hết các huyền thoại về các vị Vua cổ xưa nhất không thấy ghi trên giáp cốt đời Thương, mà chỉ ghi vào sách vở về sau này, khoảng từ thế kỷ thứ IV TDL, tức là thời kỳ xuất hiện các quốc gia Bách Việt thời Xuân Thu Chiến quốc. Thực tế lịch sử này cho thấy những huyền thoại cổ xưa là của Việt tộc vì nếu là tổ tiên Hán tộc thì đã phải ghi trên giáp cốt đời Thương cũng như trong các sử sách, cốt tự văn hoặc chữ tạc trên đồ dùng. Chính vì vậy mà nhóm Tân học gọi là Nghi cổ phái thành lập năm 1920 do Quách Mạt Nhược chủ xướng đã bác bỏ thời Tam Hoàng, Ngũ Đế là của Trung Quốc. Thật vậy, huyền thoại về thủy tổ Bàn Cổ mới được nói đến trong quyển “Tam Hoàng”, kể cả Phục Hi, Nữ Oa cũng không hề được nhắc tới trong các sách cổ xưa như Kinh Thi, Trúc thư kỷ niên và cũng không hề thấy xuất hiện trong đồ đồng hoặc bốc từ. Viêm Đế Thần Nông mới được Mạnh Tử thời Xuân Thu Chiến quốc nhắc tới còn Hoàng Đế chỉ biết tới vào thế kỷ thứ III TDL khi Tư Mã Thiên đưa vào bộ “Sử ký” của Tư Mã Thiên.

Tháng 2-1971, các nhà khảo cổ tìm được ở Liu-ch’êng-ch’iao Trường Sa thuộc vùng Hồ Nam một “Cái Qua” còn nguyên vẹn. Trong tác phẩm “Cultural Frontiers in Ancient East Asia” của William Watson viết về những đồ vật đào lên tại tỉnh Hồ Nam trong đó có một cái qua có khắc tên một vị vua tên là Nhược Ngao. Sử Ký Tư Mã Thiên và Xuân Thu Tả Truyện viết rõ là vị vua có hiệu là Nhược Ngao là vị vua Hùng thứ 14 tên thật là Hùng Nghi hiệu Nhược Ngao cai trị vào năm 789 trước Tây Lịch. Điều này chứng tỏ thời đại Hùng Vương là có thật trong lịch sử.

Trước những sự thật của lịch sử, Trung Quốc đã phải xác nhận là nền văn hoá của họ là do hàng trăm dân tộc góp phần tạo dựng nhưng văn hoá Hán ở vùng Tây Bắc là chủ thể. Thế nhưng chính học giả Trung Quốc Wang Kuo Wei lại cho rằng nơi phát nguyên văn hoá Tàu là ở miền Đông Bắc tức vùng Sơn Đông của Lạc bộ Trãi chứ không phải ở miền Tây Bắc (Thiểm tây) như quan niệm sai lầm từ trước đến nay. Sử Trung quốc vẫn cho rằng 3 triều đại Hạ, Thương, Chu là những triều đại đầu tiên của Trung Quốc theo thứ tự, nhưng Kwang Chih Chang khám phá ra thì không phải là như vậy mà đó chỉ là 3 trong nhiều nhóm chính trị đại diện cho các chủng tộc đối nghịch tranh giành ảnh hưởng mà thôi, còn văn hoá thì đều theo như Di Việt nghĩa là cũng thờ thổ thần và cây linh.

Theo Công trình mới nhất “Nguồn gốc nền văn minh Trung Hoa”, tổng kết trong Hội nghị Quốc tế các nhà Trung Hoa học trên toàn thế giới tổ chức tại Berkeley năm 1978, thì “ Không thể tìm ra đủ dấu vết chứng cớ để phân biệt giữa Hán tộc và các tộc người không phải là Tàu trên phương diện lịch sử. Giới nghiên cứu phải tìm về dấu tích văn hoá mà về văn hoá thì Hán tộc chịu ảnh hưởng của Di Việt”. Tương truyền Thần Nông phát xuất ở miền Tây Tạng (Tibet) đi vào Trung Nguyên qua ngã Tứ Xuyên tới định cư ở Hồ Bắc bên bờ sông Dương Tử, còn theo dân gian thì ông Bàn cổ chính là ông Bành tổ. Theo dân gian truyền tụng thì mồ mả của ông còn ở đâu đó miền rừng núi Ngũ Lĩnh. Bàn cổ mới được đưa vào lịch sử Trung Quốc đời Tam Quốc trong quyển “Tam Ngũ lược Kỷ” của Từ Chỉnh và theo Kim Định thì Phục Hi, Nữ Oa đều xuất thân từ Di Việt ở châu Từ miền Nam sông Hoài.

Việt tộc là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước đã cư ngụ rải rác khắp Trung nguyên (lãnh thổ Trung Cộng bây giờ) từ lâu trước khi Hán tộc du mục từ Tây Bắc tràn xuống đánh đuổi nhà Hạ của Việt tộc để thành lập triều Thương đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Tư Mã Thiên sử gia “Đại Hán” đã mạo nhận Hoàng Đế nguyên là vị thần được dân gian tôn kính là tổ tiên của Hán tộc (Tàu) nên xem nhà Hạ là của Tàu. Thế rồi họ thêm chữ Hoa là một hình dung từ chỉ sự cao sang vinh hiển để trước chữ Hạ để chỉ nền văn minh Hoa Hạ cao đẹp của Việt tộc là của họ. Bản chất của đế quốc “Đại Hán” là xâm lược và bành trướng suốt dòng lịch sử nên hết triều Thương rồi đến Chu, Tần, Hán đã liên tiếp xâm lược đẩy lùi Việt tộc xuống phương Nam. Năm 939 chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử mở đầu thời kỳ độc lập của dân tộc. Hán tộc đã bao lần xâm lược nước ta nhưng đều thất bại thảm hại. Ngày nay, Trung Cộng lại xâm lấn lãnh thổ Việt Nam với sự tiếp tay của tập đoàn CS Việt gian bán nước, thế nhưng sau khi dẹp kẻ nội thù toàn dân Việt sẽ giáng cho đế quốc mới Trung Cộng bài học lịch sử để đời như bao lần thảm bại ê chề trong lịch sử.

Một sự thật lịch sữ mới được khoa học xác nhận đã làm đảo lộn những giả thuyết nhận định từ xưa tới nay về Nguồn gốc tộc Việt. Kết quả mới nhất thuyết phục nhất về phân tích cấu trúc di truyền DNA của Việt tộc đã xác định một lần nữa là Việt tộc là một đại chủng và hoàn toàn khác biệt với Hán tộc. Chúng ta cùng tìm về cội nguồn phát tích Việt tộc qua truyền thuyết, thư tịch Trung Quốc, Văn hoá Khảo cổ, Tiền Sử học và cuối cùng là mã di truyền DNA sau đây:

1. Niên đại của truyền thuyết về Thần Nông vào thiên niên kỷ thứ IV TDL hoàn toàn phù hợp với niên đại khảo cổ và kết quả đo chỉ số sọ của các nhà Khảo Tiền Sử về chủng Indonesian (Malaysian). Theo các nhà Tiền Sử học thì Malay-Viets tức Bách Việt đã định cư ở Trung Nguyên cách đây ít nhất là 6 ngàn năm. Công trình nghiên cứu sử học của học giả Shi Shi người Trung Quốc thì người U Việt (GU-YUE) đã làm chủ biển cả cách đây hơn 7 ngàn năm. Đặc biệt, Truyền thuyết kể lại rằng bố Lạc dẫn 50 con về “Thủy Phủ”, trước đây chúng ta cho là huyền hoặc thế nhưng địa danh thủy phủ đã được 2 học gỉa người Pháp là P Gouron và J Loubet tìm ra, đó chính là cảng Thành Đô, phủ Trùng Khánh tỉnh Tứ Xuyên được in trên bản đồ Atlas 1949. Sự thật lịch sử này đã được chính nguồn sách sử cổ Trung Hoa xác nhận khi chép về cộng đồng Bách Việt, đã chứng minh sự thật lịch sử của huyền thoại mà ta cứ tưởng là huyền hoặc hoang đường.

2. Mặt khác, chính thư tịch cổ Trung Quốc đã thừa nhận một thực tế lịch sử đó là sự thành lập của các quốc gia thời Chiến quốc mà họ gọi là Bách Việt ở vùng Giang Nam. Đông Việt tức U-Việt (còn gọi là Vu Việt) của Việt Vương Câu Tiễn không chỉ ở Triết Giang mà lên tới miền Giang Tô tức Châu Từ, quê hương của gốm sứ Việt cổ nổi tiếng của chi Dương Việt mà kinh đô là Cối Kê. Lý Tế Xuyên đã viết “Việt Điện U Linh” về nước Việt cổ xưa. Mân Việt ở Phúc Kiến, Dương Việt ở Giang Tây, Điền Việt ở Vân Nam, Quì Việt ở Tứ Xuyên, Nam Việt ở Quảng Đông, Âu Việt còn gọi là Tây Âu ở Quảng Tây, Lạc Việt ở Quảng Tây và Bắc VN. Chính sách sử cổ Trung Quốc ghi rõ cộng đồng Bách Việt cư trú khắp trung nguyên, thế mà sử quan triều Thanh Tiền Hy Tộ đã bóp méo ý nghĩa và sửa lại niên hiệu thành lập nước Văn Lang như sau: “Đến đời Chu Trang Vương (696-682TDL) ở bộ Gia Ninh có người lạ dung ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng Hùng Vương, đóng đô ờ Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang. Phong tục thuần hậu, chất phác. Chính sự dung lối thắt nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương …”(3). Các nhà sử học Mác Xít đã viết sử rập khuôn sử quan triều Thanh theo nghị quyết của đảng CSVN về sự thành lập nước Văn Lang trong bộ Lịch sử Việt Nam của Nhà nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam như sau: “Sự ra đời của nhà nước Văn Lang đầu tiên của nước ta đời Hùng Vương và Âu Lạc đời An dương Vương vào giai đoạn Đông Sơn trong thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên… Căn cứ theo 15 bộ của nước Văn lang và nhất là căn cứ vào quá trình chuyển hoá lịch sử nước Văn lang đời Hùng Vương đến nước Âu Lạc đời An Dương Vương, rồi đến 2 quận Giao Chỉ, Cửu Chân thời thuộc Triệu và thuộc Hán, có thể xác định địa bàn của nước Văn Lang tương ứng với vùng Bắc bộ, Bắc Trung bộ nước ta ngày nay và một phần phiá Nam tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc”.(4)

3. Kết quả các công trình khảo cổ cho phép chúng ta kết luận là nhà nước Văn Lang đã thành hình từ lâu, ít nhất là 5 ngàn năm lịch sử. Khoa Khảo cổ cho biết rằng người Việt cổ thời Phùng Nguyên đã chế tác nhiều vật đồ đá, đồ xương và một ít đồ đồng như rìu, đục, giáo, lao, qua, mũi tên, mũi nhọn, mũi khoan, chì lưới, bàn mài, bàn dập gốm. Căn cứ trên những đồ gốm, đồ đồng thuộc nền văn hoá Hoà Bình, Đông Sơn được thám quật ở Bắc Thái và Hạ Lào đã xác định bằng phương pháp vật lý phóng xạ C14 có niên đại khoảng 3.000 năm TDL nghĩa là cách đây 5.000 năm. Như vậy, niên đại thành lập nước Văn Lang vào thiên niên kỷ thứ III TDL hoàn toàn phù hợp với mốc truyền thuyết là năm 2879 TDL vào giai đoạn đầu thời đại đồ đồng của cộng đồng Bách Việt với nghề nông trồng lúa nước, và nghề luyện kim đồng đã tìm thấy khắp nơi, từ Nam Trung Hoa Thái Lan đến toàn bộ vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo

4. Năm 1962, G Coedès nguyên Giám Đốc Trường Viễn Đông Bác Cổ công bố kết quả công trình khảo Tiền sử đã minh chứng những gì truyền thuyết kể lại là một sự thật lịch sử với những kết qủa của những công trình khảo tiền sử trên toàn cõi Á Đông của hàng trăm nhà bác học Khảo cổ, Nhân chủng và Địa chất học. Những nhà bác học này đã đào bới khắp nơi từ Nhật Bản, Hàn quốc (Triều Tiên) tới Tây vực và từ Tây Bá Lợi Á xuống tới quần đảo Nam Á trong hàng chục năm trời đã tìm kiếm các di chỉ khảo cổ, khai quật những lớp sọ nằm dưới của cư dân đến trước, cư dân đến sau nằm ở trên. Sau khi đo chỉ số sọ và dung lượng sọ đã vẽ lại lộ trình di cư từ cao nguyên Hi Mã Lạp Sơn Himalaya xuống lưu vực các con sông lớn Hoàng Hà, Dương Tử và Cửu Long, đồng thời xác định ngọn nguồn gốc tích chủng tộc đó. Các nhà Khảo Tiền sử đã kết luận: “Tất cả các cư dân Nam Á từ Nam Ấn, Môn, Tạng, Miến, Thái, Lào, Miên, Mã Lai, Nam Dương, Célèbres, Việt Nam kể cả đồng bào thiểu số thượng du Bắc Việt đều có cùng một gốc cổ Malaya gọi là Indonesian (chúng tôi gọi là Malaysian chính là cộng đồng Bách Việt MalayViets) là những cư dân Nam Á có chung một chỉ số sọ trung bình là 81,42 và dung lượng sọ có tính cách sọ tròn khác hẳn với các chủng tộc trong vùng”.(5)

Tất cả chứng cứ khoa học cho phép chúng ta kết luận là giai đoạn đầu thời đại đồ đồng khoảng thiên niên kỷ thứ III TDL hoàn toàn phù hợp với niên đại truyền thuyết là 2879 TDL. Đây chính là thời điểm Việt tộc đã nung chảy xã hội nguyên thủy để thành lập một xã hội định chế hoá của quốc gia Văn Lang. Thật vậy, kết quả của những phân tích bằng phóng xạ carbon C14 than tro ở Đồng Dậu cho biết cộng đồng dân cư với nền văn hoá Phùng Nguyên cách đây ít nhất là 3.500 năm. Điều này có nghĩa là họ đã có một cuộc sống ổn định đi vào tổ chức thiết chế xã hội với hình thức nhà nước Văn Lang. Sự xác định của niên đại khảo cổ là khoảng thiên niên kỷ thứ III TDL hoàn toàn phù hợp với niên đại thư tịch để chứng minh sự ra đời của nhà nước Văn Lang ít nhất là 3.000 năm TDL chứ không phải vào thế kỷ thứ VII TDL như Đại Việt sử lược đã bị sử quan triều Thanh, Tiền Hi Tộ sửa đổi sự thật lịch sử.

5. Từ truyền thuyết cũng như căn cứ vào các Thần tích và Tộc phả được phối kiểm bởi khoa Khảo cổ học, Khảo Tiền sử, Chủng tộc học, Cổ nhân học, Dân tộc và Ngôn ngữ học được kiểm chứng bởi kết quả phân tích cấu trúc phân tử di truyền DNA của các tộc người trong vùng cho phép chúng ta xác định tính hiện thực của Huyền Thoại Rồng Tiên với cộng đồng Bách Việt (MalayViets). Kết quả của khoa Phân tích Di truyền hoàn toàn phù hợp với thư tịch cổ Trung Hoa, Khoa Khảo cổ học, Nhân chủng học, Khảo tiền sử kể cả truyền thuyết Rồng Tiên về thời kỳ dựng nước của Việt tộc là một sự thật lịch sử. Luận chứng khoa học mới nhất có tính thuyết phục nhất, một lần nữa khẳng định tộc Việt và Hán tộc là 2 tộc người khác nhau. Việt tộc có yếu tố đột biến di truyền đặc biệt của châu Á trong khi Hán tộc không có yếu tố này. Đồng thời xác định địa bàn cư trú của tộc người Malaysian tức MalayViets (Bách Việt) trải dài từ rặng Tần Lĩnh ở Trung nguyên trải dài xuống tận vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo. Địa bàn cư trú của Việt tộc phía Bắc tới lưu vực phía Nam sông Hoàng Hà, lưu, phía Tây giáp Tây Tạng, Đông giáp Nam Hải, Nam xuống tận Bắc Trung Việt, chính là cương giới của nước Văn Lang xưa của tộc Việt. Địa bàn cư trú của Việt tộc phía Bắc tới lưu vực 2 con sông Hoàng Hà và Dương Tử (Trường Giang), phía Tây giáp Tây Tạng, Đông giáp Nam Hải, Nam xuống tận Bắc Trung Việt, chính là cương giới của nước Văn Lang xưa của tộc Việt.

Sau cùng là Khoa Đại Dương học(6)và khảo cổ học đã chứng minh rằng người cổ Hoà Bình Hoabinhian do nạn biển tiến cách nay khoảng 8.500 năm đã tiến lên vùng núi cao Hòa Bình, Bắc Sơn và ngược lên cao nguyên Malaya hướng Tây Bắc và Đông Bắc vùng Ngũ Lĩnh. Khi mực nước biển dâng lên cao, cư dân khắp các nơi dồn về vùng cao nên đã tập trung nhiều nền văn hóa với những phát kiến để hình thành nền văn hóa Hòa Bình, một nền văn hóa cổ đại tinh hoa của nhân loại. Mực nước dâng cao dần khiến cư dân Hoabinhian mà chúng tôi cho là những người Tiền-Việt Protoviets ở lưu vực 2 con sông lớn là sông Hồng và sông Cửu Long phài thiên cư theo hướng Tây Bắc lên miền cao sơn nguyên giữa 2 dãy núi Hi Mã Lạp sơn và Côn Luân, nhánh khác tiến theo hướng Đông Bắc lên định cư ở Phúc Kiến, Triết Giang, Sơn Đông TQ bây giờ. Họ mang theo đặc trưng của văn hoá Hoà Bình lên địa bàn mới vùng cao nguyên giữa hai rặng núi cao nhất là Hi Mã Lạp Sơn và cổ nhất là Côn Luân ở Tây Bắc và vùng núi cao Thái Sơn ở Sơn Đông.

Khi mực nước biển hạ xuống, những vùng biển nước mênh mông nước rút dần để lộ ra những vùng đất màu mỡ phì nhiêu. Tiền nhân chúng ta đã từ vùng cao nguyên Hi Mã Lạp sơn tiến xuống vùng đồng bằng, nước rút đến đâu từng đoàn người tiến tới đó để lập làng định cư khai phá đất đai. Chính sự kiện tiến về vùng sông nước này được truyền thuyết diễn tả qua việc mẹ Âu cùng 50 con ở lại vùng cao, Bố Lạc dẫn 50 con xuống “Thủy Phủ” miền sông nước. Hai Thạc sĩ sử địa người Pháp là J Loubet và P Gouron đã tìm ra địa danh Thủy Phủ chính là cảng Thành Đô tỉnh Tứ Xuyên Phủ Trung Khánh TQ bây giờ.

Kết quả mới nhất, thuyết phục nhất của các nhà Di Truyền học đã xác định Việt tộc hoàn toàn khác hẳn với Hán tộc. Người Việt có 1 tỷ lệ cao nhất về biến đổi di truyền trong dân tộc (Intrapopulatinal genetic divergence 0.236% và về Hinc II/ Hpal nên được xem là dân tộc cổ nhất Đông Nam Á.(7) Chính vì vậy, Việt Nam là trung tâm của nền văn hoá Hòa Bình ảnh hưởng bao trùm Đông Nam Á, Trung Hoa, Ấn Độ, Trung Cận Đông và cả châu Mỹ nữa (8).

Việt Nam là một dân tộc có lịch sử lâu đời nhất có Haplogroups chính gồm A, B, C, D và không có cặp căn bản số 9 giữa 2 thể di truyền COII/ tRNA.LYS mà các nhà di truyền học gọi là “Đột biến đặc biệt Á Châu= “9bp deletation bettween COII/ tRNA.LYS genes”, bp= base pair). Cư dân Nam Trung Hoa tức người Hán ở Hoa Nam, Đài Loan, Cư dân Đông Nam Á gồm Miến Điện, Việt, Miên, Lào, Thái Lan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật tân, Brunei và Đông Timor, thổ dân Đa Đảo Polynesian, thổ dân Maya ở Trung và Nam Mỹ, Pima ở Bắc châu Mỹ có cùng Halogroup A, B, C, D (9) và Thất thoát cặp căn bản số 9 giữa 2 thể di truyền COII /tRNALYS mà các nhà Di truyền học gọi là Đột biến châu Á Mitochondrial DNA Á Châu (Asian Mitochondrial DNA).(10)

Truyền thuyết khởi nguyên của dân tộc mới đầu tưởng là hoang đường huyền hoặc ngày nay đã trở thành hiện thực, một sự thật lịch sử sau khi đã được thư tịch cổ Trung Hoa, Khoa Khảo cổ học, Nhân chủng học, Khảo tiền sử và phân tích cấu trúc mã di truyền xác định. Trước thềm thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại, một sự thật khách quan của lịch sử được phục hồi làm đảo lộn tất cả nhận thức từ trước tới nay về chủng tộc, nền văn minh nhân loại. Đó là luận chứng khoa học mới nhất về DNA có tính thuyết phục nhất, một lần nữa khẳng định tộc Việt và Hán tộc là 2 tộc người khác nhau và Việt tộc là một đại chủng mà địa bàn cư trú trải rộng từ châu Á sang tới châu Mỹ với nền văn minh Hòa Bình tỏa rạng khắp thế giới.

Bước sang thiên niên kỷ thứ ba, ánh sáng của sự thật soi rọi vào quá khứ bị che phủ hàng ngàn năm bởi kẻ thù Hán tộc bành trướng. Trong thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại sửng sốt trước cái gọi là “Nghịch lý La Hy” khi trước đây nhân loại cứ tưởng tất cả nền văn minh Tây phương là của đế quốc Hy Lạp La Mã để rồi phải xác nhận đó chính là nền văn minh của Trung Quốc. Cuối thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại lại ngỡ ngàng khi thấy sự thật lịch sử là Việt tộc là một đại chủng và “ cái gọi là nền văn minh Trung Quốc” lại chính là nền văn minh của đại chủng Bách Việt.

PHẠM TRẦN ANH

Chú Thích

1. J. Needham: Science and civilization in China, Introduction. History of Science thought, Cambridge, England 1956.

2. Andréas Lommel: Prehistoric“ In the South there were a number of agratian cultures, of which the Thai was the most powerful, becoming of most importance to the later China…”.

3. Đại Việt Sử Lược tác gỉa khuyết danh, Bản dịch của Trần Quốc Vương, NXB Thuận Hoá 2001, tr 17.

4. Lịch Sử Việt Nam tập I. NXB Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Hà Nội 1985 tr 164 và Tài liệu 40 năm nước CHXHCNVN, NXB Sự Thật Hà Nội). Chính vì viết sử theo nghị quyết nên sử gia Đào Duy Anh trước khi chết đã phải cay đắng thốt lên “Người ta biết tôi vì lịch sử và kết án tôi cũng vì lịch sử”.

5. G Coedès : Les Peuples de la peninsula Indochinoise, Paris 1962. . Bình Nguyên Lộc “Nguồn gốc Mã lai của dân tộc ta”, NXB Bách Bộc Sài Gòn, tr 446-449.

6. Stephen Oppenheimer: Eden in the East, The Drowned Continents of Southeast Asia, Pheonix, London 1998.

7. Mitochondrial DNA provides a link between Polynesians and Indigeneous Taiwanese. Tréjaut, JA, KivisildT, Lơ JH, et al PLoS Biol. 2005 3(8) e281: “Mitochondrial DNA provides a link between Polynesians and indigeous Taiwanese”. Mitochondrial DNA (Deoxyribonucleic Acide) là thể di truyền do 4 chất căn bản sắp theo một thứ tự nhất định cho mỗi loài sinh vật bằng những chuỗi tiếp diễn cặp căn bản (sequence of base pairs). Có 2 loại DNA: DNA trong nhân và DNA trong tế bào chất ở các cơ quan sản xuất năng lượng Mitochondria. Haplotype là một nhóm thể di truyền trong một vị trí của chuỗi tiếp diễn DNA. Đột biến là (mutation) là sự thay đổi các cặp căn bản trong chuỗi tiếp diễn DNA. Những đột biến nhẹ không gây trở ngại cho sự sinh trưởng tế bàoự stái tạo cặp căn bản. Nó giúp chúng ta theo dõi sự tiến hóa của con người hay sinh vật khác. Loại đột biến này cho phép các nhà nhân chủng học xác định thủy tổ của một số dân tộc trên thế giới và sự di dân của họ trên 10 ngàn năm tiền sử. Trên lý thuyết, chúng ta mỗi người có một bản sao Mitochondrial in hệt như thủy tổ nhưng trên thực tế không phải như thế vì những sai lầm trong tái tạo của các chuỗi tiếp diễn các cặp căn bản DNA. Mỗi châu lục có một số Haplotypes riêng biệt như châu Âu (Caucasoid) là H, I, J, K, M,T, U, V, W và X. Châu Phi là L, L1, L2 và L3, châu Á và châu Mỹ có chung Haplotypes gồm A, B, C và D.

8. W.G.Solheim II: “New Light on a forgotten Past”, National Geographic Vol.139, No 3, 1971. Reflection on the new data of Southeast Asia prehistory: Autronesian origins and consequence.A.P.18: 146-160. 1979a: New data on late Southeast Asia prehistory and their interpretation, JHKAS 8:73-87. Wilhelm G. Solheim H. Ph. D, đăng ở tạp chí National Geographic Vol 139 n. 3 tháng 3 – 1971, dưới nhan đề “New light on Forgotten Past”.

9. American Journal of Physical Anthropology Vol. No 9999 (2007), NA: “Mitochondrial DNA diversity and population differentiation in Southern Asia” ( Hui Li, Xiaoyun Cai, Elizaberth r. Winograd, Bo Wen, Xu Cheng, Zhendong Tan, Li). Founding Amerindian Mitochondrial DNA Lineages I ancient Maya From Xcaret, Quintana Ro o, Angelica Gonzales-Oliver, Lourdes Marqueze-Morfin, Jose c. Jimenez, and Alfonso Torres-Blanco, American Journal of Physical Anthropology, 116-230-235(2001).

10. Amerindian mitochondrial DNAs have rate Asian mutations at hight frequences, suggesting they derived from four primary maternal lineages, Schurr TG, Ballinger SW, Gan Ỳ, Hodge JA, Merriwether DA, Lawrence DN, Knowler WC, Weiss KM, Wallace DC, Am. J.Hum, Genet. 1990 Mar; 46(3):613-23). “The 9 bp deletation betwe en COII/tRNA (LYS upper) genes have be en associated with at least two migrations: One moved south along the Asian coastline, eastward into Indonesia and out into Pacific Islands (Hertzberg et al 1989). The other migration went North into Siberia and eventually crossed the Bering land bridge into the New World, yielding the Amerindians (Schurr et al 1990”.

Năm 1991, tạp chí National Geographic nổi tiếng của Hoa Kỳ đã cho ấn hành bản đồ Trung Quốc trong đó ghi rõ sự xâm lấn bành trướng của họ. Bản đồ “History of China” đã cung cấp một chứng liệu lịch sử rõ ràng là lãnh thổ Trung Quốc thời Chu rất nhỏ trên lưu vực phía Bắc sông Hoàng Hà. Trong khi chính National Geographic lại ghi rõ tộc Việt định cư ở lưu vực sông Dương Tử đã đinh cư định canh từ hơn 5 ngàn năm TDL và là cư dân trồng lúa nước đầu tiên trên thế giới “5000 B.C.Farmers along the Chang Jiang (Dương Tử) are the first to grow rice”.

Tên vùng Thủy Phủ (Suifu) ghi rõ trong Bản đồ Bán đảo Đông Dương và Nam Trung Quốc của New International ATLAS of the World Geographical Publishing Company 1949. Theo truyền thuyết thì Bố Lạc dẫn 50 con về Thủy Phủ chính là Cảng Thành Đô, Phủ Trùng Khánh tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc bây giờ. Thời đó, tất cả vùng đất này còn ngập nước mênh mông như biển ở phương Nam nên sách sử gọi là vùng Nam Hải.

Saturday, January 15, 2011

Tư liệu và tuyên cáo của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa về quần đảo Hoàng Sa

Theo Blog Nguyễn Xuân Diện



TUYÊN CÁO CỦA BỘ TRƯỞNG NGOẠI GIAO VIỆT NAM CỘNG HÒA VỀ NHỮNG HÀNH ĐỘNG GÂY HẤN CỦA TRUNG CỘNG TRONG KHU VỰC ĐẢO HOÀNG SA
(NGÀY 19.1.1974)

Nguyên văn:

Sau khi mạo nhận ngày 11.1.1974 chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng - Sa và Trường-Sa của Việt Nam Cộng-Hòa, Trung cộng đã đưa Hải-quân tới khu vực Hoàng- Sa, và đổ bộ quân lính lên các đảo Cam -Tuyền, Quang -Hòa và Duy -Mộng.

Lực lượng Hải -quân Trung -Cộng gồm 11 chiến đỉnh thuộc nhiều loại và trọng lượng khác nhau, kể cả một tàu loại Komar có trang bị hỏa tiễn.

Để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và nền an ninh quốc gia trước cuộc xâm lăng quân sự này, các lực lượng Hải quân Việt-Nam Cộng-Hòa trấn đóng trong khu vực này đã ra lệnh cho bọn xâm nhập phải rời khỏi khu vực.

Thay vì tuân lệnh, các tàu Trung-Cộng, kể từ 18.1.1974, lại có những hành động khiêu khích như đâm thẳng vào các chiến đỉnh Việt-Nam.

Sáng ngày nay, 19.1.1974 hồi 10h20, một hộ-tống hạm Trung-Cộng thuộc loại Kronstadt đã khai hỏa bắn vào khu vực hạm “Trần Khánh Dư” mang số HQ-04 của Việt-Nam Cộng-Hòa. Để tự vệ, các chiến hạm Việt-Nam đã phản pháo và gây hư hại cho hộ tống hạm Trung Cộng. Cuộc giao tranh hiện còn tiếp diễn và đang gây thiệt hại về nhân mạng và vật chất cho cả đôi bên.

Các hành động quân sự của Trung Cộng là hành vi xâm phạm trắng trợn vào lãnh thổ Việt-Nam Cộng-Hòa, và một lần nữa vạch trần chánh sách bành trướng đế quốc mà Trung Cộng liên tục theo đuổi, đã được biểu lộ qua cuộc thôn tính Tây Tạng, cuộc xâm lăng Đại Hàn và Ấn Độ trước kia.

Việc Trung Cộng ngày nay xâm phạm lãnh thổ Việt Nam Cộng-Hòa không những chỉ đe dọa chủ quyền an ninh của Việt Nam Cộng Hòa mà còn là một hiểm họa đối với nền hòa bình và ổn cố của Đông Nam Á và toàn thế giới.

Với tư cách một nước nhỏ bị một cường quốc vô cớ tấn công. Việt Nam Cộng Hòa kêu gọi toàn thể các dân tộc yêu chuộng công lý và hòa bình trên thế giới hãy cương quyết lên án các hành vi chiến tranh thô bạo củaTrung Cộng nhằm vào một quốc gia độc lập và có chủ quyền để buộc Trung Cộng phải tức khắc chấm dứt các hành động nguy hiểm đó.

Làm ngơ để cho Trung Cộng tự do tiến hành cuộc xâm lấn trắng trợn này là khuyến khích kẻ gây hấn tiếp tục theo đuổi chánh sách bành trướng của chúng và sự kiện này đe dọa sự sống còn của những nước nhỏ đặc biệt là những nước ở Á Châu.

Trong suốt lịch sử, dân tộc Việt Nam đã đánh bại nhiều cuộc ngoại xâm. Ngày nay, Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa cũng nhất định bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia.

(Tài liệu ronéo của Bộ Ngoại Giao, Sài Gòn,
Số 015/BNG/ TTBC/ TT)

TUYÊN CÁO CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA TRÊN NHỮNG ĐẢO Ở NGOÀI KHƠI BỜ BIỂN
VIỆT NAM CỘNG HÒA

Nguyên văn:

Nghĩa vụ cao cả và cấp thiết của một chánh phủ là bảo vệ chủ quyền, độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của quốc gia. Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết làm tròn nghĩa vụ này, bất luận những khó khăn trở ngại có thể gặp phải và bất chấp những sự phản đối không căn cứ dầu phát xuất từ đâu.

Trước việc Trung Cộng trắng trợn xâm chiếm bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa thấy cần phải tuyên cáo long trọng trước công luận thế giới cho bạn cũng như thù biết rõ rằng:

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của mình trên những quần đảo ấy.

Chừng nào còn một hòn đảo thuộc lãnh thổ ấy của Việt Nam Cộng Hòa bị nước ngoài chiếm giữ bằng bạo lực thì chừng ấy Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa còn đấu tranh để khôi phục những quyền lợi chính đáng của mình.

Kẻ xâm chiếm phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi tình trạng căng thẳng có thể do đó mà có.

Trong dịp này, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng long trọng tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên những hải đảonằm ở ngoài khơi bờ biển Trung Phần và bờ biển Nam Phần Việt Nam, từ trước tới nay vẫn được coi là một phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa căn cứ trên những dữ kiện địa lý, lịch sử, pháp lý và thực tại không chối cãi được.

Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên những đảo ấy bằng mọi cách.

Trung thành với chánh sách hòa bình cố hữu của mình, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa sẵn sàng giải quyết bằng đường lối thương lượng những vụ tranh chấp quốc tế có thể xảy ra về những hải đảo ấy, nhưng nhất định không vì thế mà từ bỏ chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên những phần đất này.

Làm tại Saigon, ngày 14 tháng 2 năm 1974.
.
Nguồn: Tập san Sử Địa, tập 29.

Nhà báo Phạm Trần, công dân Hoa Kỳ, đề nghị được tham gia tố tụng trong vụ án Cù Huy Hà Vũ

Theo Bauxite Việt Nam

Phạm Trần



Kính gửi: Bà Nguyễn Thị Dương Hà
Luật sư, Văn Phòng Luật sư Cù Huy Hà Vũ
24, Điện Biên Phủ-Ba Đình-Hà Nội

ĐT: (04) 3734-2679-Fax : (04) 3843-5793

Việt Nam

V/Đ: Xin làm Nhân Chứng vụ Tố tụng Tiến sỹ Luật Cù Huy Hà Vũ

Thưa Bà,

Tôi là Phạm Trần, Nhà báo-Bình luận, công dân Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ viết thư này để xin Bà can thiệp cho tôi được tham gia vụ tố tụng Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ do Văn phòng của Bà đại diện bào chữa cho tội bị tố cáo “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Lý do tôi xin làm nhân chứng trong vụ án này vì trong năm 2010, thay mặt cho Văn phòng Bản tin Hoa Thịnh Đốn của Hệ thống Truyền hình SBTN (Sagion Broadcasting Television Network), có Văn phòng chính tại California, 10501 Garden Grove Blvd, Garden Grove, California 92843 – ĐT: (714) 636-1121, đã thực hiện các Cuộc phỏng vấn bằng điện thoại với Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ về những vấn đề : 1) Liên quan đến lãnh hải; 2) Cho ngọai quốc thuê rừng; 3) Khai thác Bauxite trên Tây Nguyên; 4) Phục hồi danh dự và truy điệu những Chiến sỹ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trong trận chiến chống quân Trung Quốc cưỡng chiếm Quần đảo Hoàng Sa năm 1974.

Trân trọng kính chào Bà,

Phạm Trần
Nhà Báo-Bình Luận
6396, True Lane
Springfield, Virgimnia 22150
ĐT: (703) 785-9265
U.S.A.

Bản sao kính gửi Quý vị: Giáo sư Nguyễn Huệ Chi
Nhà giáo Phạm Tòan
GSTS Nguyễn Thế Hùng
(Website Bauxite Việt Nam)

Lưu: – Bản tin Hoa Thịnh Đốn/SBTN
- Phạm Trần

Friday, January 14, 2011

Ðại hội ù lì trâng tráo

Theo NguoiViet Online

Ngô Nhân Dụng

Ðại hội thứ 11 của Ðảng Cộng Sản Việt Nam có đặc tính nào nổi bật? Có thể gọi tên, đó là tính chất ù lì và trâng tráo. Ù lì vì 1,377 đại biểu nhất quyết sẽ giữ đảng ngồi tại chỗ trên đầu trên cổ dân Việt Nam, không có gì thay đổi cả mặc dù gần như toàn thể 88 triệu người Việt Nam đang khát khao muốn thay đổi, thay đổi toàn diện và càng nhanh càng tốt.

Trâng tráo, bởi vì muốn ngồi lại để hưởng thụ các “quả thực của cách mạng,” tích lũy của cải làm giầu thì họ phải theo truyền thống “văn hóa mặt dầy” mà nói dối, hô to những khẩu hiệu huênh hoang, phải đánh lừa mình và lừa người một cách thản nhiên, không biết hổ thẹn.

Thể hiện tính chất ù lì là chủ trương giữ vững độc quyền chính trị. Hai ngày trước đại hội, ông Trưởng Ban Tuyên Giáo Tô Huy Rứa đã dọa trước rằng: “Ðảng kiên quyết bác bỏ ‘nhu cầu đa nguyên’ về chính trị tại Việt Nam.” Một người có hy vọng sắp vào Bộ Chính Trị là ông Ðinh Thế Huynh, chủ tịch Hội Nhà Báo Việt Nam đã khẳng định: “Dứt khoát không đa nguyên đa đảng!” Ông Huynh giải thích rằng: “Chúng tôi đã từng thử nghiệm đa nguyên đa đảng thông qua cuộc tổng tuyển cử năm 46, với nhiều đảng tham gia Quốc Hội. Nhưng đến khi thực dân Pháp quay lại xâm lược nước tôi thì chỉ có Ðảng Cộng Sản cùng với nhân dân Việt Nam chiến đấu chống lại và giành thắng lợi trước thực dân Pháp. Và nay, Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn đang tiếp tục lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.”

Ðây là một lối xuyên tạc lịch sử trắng trợn, mà xưa nay đảng Cộng Sản vẫn trâng tráo thi triển. Năm 1945 chỉ có 5,000 đảng viên cộng sản, còn các đảng phái quốc gia đông hơn nhiều. Hồ Chí Minh đã phải mời các đảng quốc gia hợp tác vào chính phủ, mời cả ông Bảo Ðại làm cố vấn, để có bộ mặt đoàn kết. Hồ còn tuyên bố giải tán đảng Cộng Sản nữa, nhưng ai cũng biết là bịp. Sau đó, Cộng Sản đã thỏa hiệp để có thời gian “hưu chiến” với Pháp, trong thời gian đó họ dùng toàn lực lượng tìm giết các người có khuynh hướng quốc gia, những người không theo đảng Cộng Sản do Stalin và Ðệ Tam Quốc Tế chỉ huy. Trước khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, Cộng Sản Việt Nam đã hạ sát, thủ tiêu bao nhiêu người Việt yêu nước xuất sắc. Hãy nhớ tới Trương Tử Anh, Lý Ðông Á, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Huỳnh Phú Sổ. Một nhà văn yêu nước như Khái Hưng, đã từ giã cháu ở Hà Nội với câu, “Chú về quê đi kháng chiến,” nhưng cũng bị cộng sản thủ tiêu mất xác. Bao nhiêu các lãnh tụ đảng phái quốc gia phải trốn sang Tầu như Nhất Linh, Hoàng Ðạo, Nghiêm Kế Tổ, chỉ vì nếu ở lại trong nước sẽ bị ám sát như các nhân vật trên. Lịch sử sẽ ghi rõ năm 1946 đảng Cộng Sản Việt Nam đã cướp độc quyền chính trị theo đúng bài bản của Stalin. Năm 1953, Cộng Sản Việt Nam lại phát động Cải Cách Ruộng Ðất theo đường lối Mao Trạch Ðông, và một lần nữa, đi tìm giết hết những người bị nghi ngờ, hoặc bị vu cáo, là đảng viên Quốc Dân Ðảng! Vì đã nhắm mắt chạy theo một chủ nghĩa ngoại lai “đấu tranh giai cấp” để thực hiện “vô sản chuyên chính” cho nên đảng Cộng Sản tiêu diệt hết những người yêu nước không cùng ý kiến và có khả năng!

Bây giờ ông Ðinh Thế Huynh lại nói rằng năm 1946 các đảng phái quốc gia biến đi mất để đảng Cộng sản một mình kháng chiến, đó là một lời trâng tráo xuyên tạc lịch sử. Nhưng trong số các nhân vật lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam ít có người trâng tráo bằng ông Nguyễn Tấn Dũng!

Ngày hôm qua tạp chí trên mạng Ðàn Chim Việt đã trình bày cho bà con khắp thế giới một thủ đoạn tô điểm phấn son để tung hô ông Nguyễn Tấn Dũng, người đang ngồi chủ tọa đại hội Ðảng Cộng Sản. Màn kịch này xuất hiện ở Việt Nam với một bài báo ngày 11 tháng 1, 2011, trên tờ Pháp Luật Việt Nam, nhan đề “Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng xuất sắc nhất Châu Á!”

Báo Pháp Luật nói là họ viết tin này “theo báo Firmenpress” và rêu rao rằng đó là do báo chí Châu Âu đánh giá Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng! Nhưng đảng Cộng Sản quen đánh lừa dân Việt Nam lại không biết rằng ngày nay người Việt đã khôn hơn những năm 1946 nhiều rồi. Ông Nguyễn Tôn Hiệt, trên tờ Ðàn Chim Việt, đã đi tìm hiểu và khám phá ra mạng firmenpresse.de ở Ðức là một trang mạng chuyên đăng các bài tự quảng cáo (PR), dưới hình thức “Thông cáo cho báo chí” trong mọi lĩnh vực, từ thương mại, nghệ thuật, công nghệ, cho đến chính trị, do các khách hàng tự viết gửi đến. Ai muốn “lăng xê” món hàng nào, ca sĩ, tài tử nào, cứ việc đưa lên mạng này!

Tìm trên trang firmenpresse.de, ông Nguyễn Tôn Hiệt cuối cùng thấy có tới hai cái “press release” quảng cáo cho Nguyễn Tấn Dũng do một khách hàng tên là “RES-Resources, Ecology, Services GmbH” gửi đăng trong hai ngày 10 và 12 tháng 1, 2011. Công ty này bản thân là một hãng chuyên về các dịch vụ chế biến rác rưởi và vệ sinh môi trường; tạm gọi là một Công ty Rác.

Sau nhiều màn điều tra, Ðàn Chim Việt đã khám phá ra đây là một “vở kịch chuyền bóng” giữa công ty chế biến rác “RES-Resources,” với hai tờ báo của Việt Nam là VnExpress và Pháp Luật. Màn mở đầu là mạng VnExpress, từ ngày đầu năm 2011, viết bài tổng kết thời sự phong ông Dũng là Nhân Vật Năm 2010 của họ. Thế rồi, qua công ty Rác RES-Resources, Cộng sản đã biến tin đó thành một bài quảng cáo trên mạng firmenpresse.de vào ngày 10 tháng 1 năm 2011, trước khi đảng Cộng Sản khai mạc đại hội. Hôm sau, báo Pháp Luật lại dùng bài quảng cáo trên firmenpresse làm thành bản tin mới, tung ông Nguyễn Tấn Dũng lên cao hơn, nói các báo ở Âu Châu coi ông ta là vị thủ tướng “xuất sắc nhất Châu Á!” Một ngày sau, họ lại dựa trên bài của báo Pháp Luật này mà đưa qua RES-Resources cho thêm một bài quảng cáo nữa trên firmenpresse với nội dung “Ngôi sao chính trị mới ở Châu Á: Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng!” Các báo khác trong nước cứ theo firmenpresse mà đăng tin theo đuôi, nói trắng trơn rằng: “Các báo Châu Âu đánh giá Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng xuất sắc nhất Châu Á!”

Sau khi những màn tung bóng trên được xuất hiện làm quà cho đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam trong ngày khai mạc, 1,377 đại biểu thay mặt cho gần 3.7 triệu đảng viên cộng sản không biết đầu đuôi thế nào chắc sẽ “hồ hởi phấn khởi” tin tưởng vào ông Nguyễn Tấn Dũng, như một nhân vật nổi danh quốc tế, không kém gì ông Hồ Chí Minh! Như vậy thì không bầu ông ta làm tổng bí thư sẽ phí uổng một nhân tài quốc tế!

Ít nhất, Nguyễn Tấn Dũng bây giờ còn giỏi hơn ông Hồ Chí Minh ngày xưa. Ông Dũng có thể thuê người dùng mạng lưới ngoại quốc mà dàn cảnh vở kịch “tự đánh bóng mình,” như đánh bóng chuyền. Chứ không như ông Hồ phải tự cặm cụi viết sách ca ngợi mình ký tên Trần Dân Tiên; chứ không phải là một cái tên Nga hay tên Ðức cho có vẻ quốc tế! Có thể nói, ông Dũng đã làm đúng theo chủ đề của Ðại Hội XI là “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng!” Năng lực dối trá, nói láo một cách trâng tráo không hề đỏ mặt, đã được đưa lên ngang tầm thời đại!

Một bằng chứng là trong ngày khai mạc đại hội, các đại biểu được nghe đọc “danh sách 103 đảng từ 69 nước và 14 tổ chức quốc tế” đã “gửi điện chúc mừng Ðại Hội XI của đảng Cộng Sản Việt Nam,” theo bản tin của hãng tin nhà nước. Sau khi biết chuyện về chiến dịch tung hô Nguyễn Tấn Dũng trên đây, người dân Việt Nam sẽ tự hỏi không biết có bao nhiêu điện văn chúc mừng đó ký tên là Trần Dân Tiên? Nhưng mối nghi hoặc đó cũng không ngăn cản được Nguyễn Tấn Dũng “thay mặt Ðoàn Chủ Tịch và toàn thể đại hội phát biểu ý kiến bày tỏ sự trân trọng và cảm ơn nồng nhiệt đối với tình cảm hữu nghị và hợp tác của các chính đảng, tổ chức và bạn bè quốc tế!” Tự nhiên, các “bạn bè quốc tế” như công ty Rác RES-Resources thì lúc nào cũng nồng nhiệt ủng hộ và hợp tác với Nguyễn Tấn Dũng rồi!

Bản tin báo nhà nước còn viết rằng: “Ðại hội coi đây là biểu hiện sinh động của mối quan hệ quốc tế của Ðảng ta; là sự ủng hộ, cổ vũ, động viên to lớn đối với công cuộc đổi mới của nhân dân Việt Nam do đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo.”

Ðiều đáng chú ý trong câu văn quảng cáo trên đây là họ không nói gì tới Chủ nghĩa Xã hội hay là Chủ nghĩa Cộng sản cả. Họ nói đến “sự ủng hộ, cổ vũ, động viên to lớn đối với công cuộc đổi mới...” Tức là họ coi như bỏ quên luôn cái tên của đảng họ! Mà trong thực chất, bây giờ những đại biểu ngồi trong đại hội này có còn ai là “chiến sĩ vô sản” nữa hay không?

Nhưng chúng ta biết trong báo cáo chính trị, ông Nông Ðức Mạnh đã nhắc lại một cách long trọng là đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn “tiếp tục thực hiện chủ trương đảng viên làm kinh tế tư nhân;” và “kết nạp những người là chủ doanh nghiệp tư nhân đủ tiêu chuẩn vào đảng.” Nhìn chung quanh đại hội, trong số 1,377 người ngồi đó có người nào không đang “kinh doanh” hay không? Trước khi đi dự đại hội này, có người nào còn đọc Tuyên ngôn Cộng sản của Karl Marx hay không?

Cuối cùng thì đối với gần 1,400 con người này, mối quan tâm lớn nhất của họ là bảo toàn tài sản của gia đình họ và làm sao cho tiền bạc cứ càng ngày cang phong phú hơn! Anh có một triệu đô la nhìn thấy anh khác có 10 triệu thì sẽ phấn đấu để mình cũng có 10 triệu. Anh có 10 triệu sẽ nhìn tấm gương các đồng chí có 100 triệu, có một tỷ đô la để quyết tâm tiến tới trên con đường đổi mới! Nhưng muốn giữ được tài sản và bành trướng tài sản, thì điều kiện quan trọng nhất là phải bám lấy quyền lực. Mất quyền là mất tất cả.

Ðó là tâm trạng của cả ngàn đại biểu đang ngồi nghe những bài diễn văn trống rỗng trong hội trường. Trong lúc đó, hơn 80 triệu người Việt Nam đang lo làm sao đối phó với lạm phát. Ông Nguyễn Bắc Son, phó trưởng ban Tuyên Giáo nói đến tiêu chuẩn chọn người vào Trung Ương Ðảng sắp tới: “có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức, có năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có uy tín trong đảng, trong xã hội, có tư duy đổi mới, khả năng tiếp cận, nắm bắt, xử lý vấn đề mới và vấn đề phức tạp nảy sinh; có khả năng đoàn kết, quy tụ, có phong cách làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát, nói đi đôi với làm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm...”

Toàn những khẩu hiệu ròn rã ghi trong sách giáo khoa cho trẻ em học, nghe hay kinh khủng. Nhưng ông ta không nói gì đến khả năng kiềm chế lạm phát cả! Cũng không nói gì đến khả năng giảm bớt khiếm hụt thương mại mỗi năm 12 tỷ đô la cả. Cũng không nói đến khả năng làm sao quản lý các doanh nghiệp nhà nuớc cho chúng khỏi ăn mòn của cải do toàn dân tạo ra cả!

Tóm lại, đảng nhất định ù lì, miễn sao tiếp tục hưởng thụ những “thành quả cách mạng” tính bằng đô la! Không biết người Việt Nam

Thursday, January 13, 2011

Việt Nam sẽ chi 2,6 tỷ đôla cho quân sự năm 2011

Theo RFI

Diễu hành trước quảng trường Ba Đình nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, Hà Nội.
Diễu hành trước quảng trường Ba Đình nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, Hà Nội.
Reuters
Thanh Phương

Tuyên bố với tờ Dân Trí bên lề Đại hội Đảng lần thứ 11 hôm nay, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh cho biết là ngân sách quân sự 2,6 tỷ đôla đã được thông qua cho năm 2011.

Ông Phùng Quang Thanh tuyên bố rằng hiện đại hóa một số binh chủng để bảo vệ đất nước trong tình hình mới là một ưu tiên, nhưng không nói rõ chi tiết về kế hoạch này. Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam chỉ cho biết là sẽ tập trung hiện đại hóa các lực lượng hải quân, không quân, phòng không, trinh sát điện tử. Theo ông Phùng Quang Thanh, cương lĩnh của Đại hội Đảng đề ra mục tiêu là đến giữa thế kỹ sẽ xây dựng một quân đội « chính quy, tinh nhuệ và hiện đại ».

Việt Nam đang phải đối phó với thái độ ngày càng ngang ngược của Trung Quốc về chủ quyền lãnh hải Biển Đông. Trong năm qua, lực lượng Trung Quốc thường xuyên bắt giữ tàu cá Việt Nam ở khu vực quần đảo Hoàng Sa.

Việt Nam sẽ bị thiếu 3 tỷ kWh điện trong năm 2011

Theo báo chí Việt Nam, ông Dương Quang Thành, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam vừa cho biết trong một hội nghị tại Hà Nội cách đây hai ngày là trong năm nay, Việt Nam sẽ bị thiếu hụt 3 tỷ kWh điện. Nguyên nhân là mực nước các hồ thủy điện thấp hơn rất nhiều so với mức bình thường vào thời điểm này của năm, đặc biệt là các hồ lớn.

Ông Dương Quang Thành cho biết là việc bảo đảm cung cấp điện trong mùa khô năm nay sẽ rất khó khăn nếu các nguồn nhiệt điện, tua bin khí và các nhà máy nhiệt điện than mới được xây lại gặp sự cố hoặc vận hành không tốt. Nói chung là tình trạng thiếu điện năm nay được dự báo sẽ trầm trọng hơn năm ngoái.

Thật ra thì theo Phó tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam, nguyên nhân chính của tình trạng thiếu điện triền miên là do thiếu vốn, trong khi giá bán điện chưa được điều chỉnh, cho nên tập đoàn này đang xin Bộ Tài chính cho phát hành trái phiếu quốc tế trị giá 1 tỷ đôla, nhưng chưa được trả lời. Vấn đề mà Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng đang nợ tới 46 ngàn tỷ đồng.

Wednesday, January 12, 2011

Đại hội XI Đảng CSVN, đại hội cuối cùng?

Theo danchimviet.info

Đại hội XI đã khai mạc sáng nay 12/1/2011 tại Hà Nội.

Thời gian chỉ còn đếm bằng giờ chứ không đủ để tính bằng ngày, chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng CSVN lần thứ XI khai mạc. Theo kế hoạch thì còn ít giờ nữa Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ diễn ra từ ngày 12/1 đến ngày 19/1 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội. Đây được coi là sự kiện chính trị trọng đại của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Được biết tham dự Đại hội sẽ có gần 1.400 đại biểu, đại diện cho hơn 3,6 triệu đảng viên, sinh hoạt tại 54.000 tổ chức cơ sở Đảng.

Vì là đại hội của đảng cộng sản, chính đảng hợp pháp duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội theo quy định của hiến pháp, cho đến nay Việt nam là số trong 5 quốc gia theo chủ nghĩa Cộng sản còn sót lại vẫn ngoan cố bám theo mô hình cai trị kiểu cộng sản, đó là đảng cộng sản là cơ quan quyền lực cao nhất ở đỉnh chóp của một trục thẳng đứng lãnh đạo toàn diện mọi mặt bao gồm cả 3 cơ quan quyền lực khác là Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp từ trung ương tới địa phương.

Theo chương trình, Đại hội sẽ thảo luận và thông qua Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa X); Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010 và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2011-2020; Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi). Đại hội sẽ bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (nhiệm kỳ 2011-2015), cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam giữa hai kỳ Đại hội.

Trong lịch sử các đảng cộng sản trên toàn thế giới và Việt Nam hiện nay, thì việc sắp đặt nhân sự của các bộ máy đảng và nhà nước cho các đại hội đảng với thời gian 5 năm một lần đều do Ban Tổ chức Trung ương thực hiện có tham khảo ý kiến của Bộ Chính trị. Tới thời điểm trước Hội nghị Trung ương kỳ chót thì mọi việc đã ngã ngũ kiểu ván đã đóng thuyền, nêu ra tại Hội nghị Trung ương cuối cùng thực ra chỉ mang tính chất thông báo cho các ủy viên Trung ương biết. Còn việc bỏ phiếu bầu ra Ban Chấp hành Trung ương, rồi để từ đó tiến tới Bầu các ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Kiểm tra Trung ương đảng chỉ hoàn toàn mang tính hình thức vì tất cả đã được sắp đặt sẵn. Kết quả nhân sự cuối cùng của các kỳ đại hội đảng toàn quốc đều diễn ra như theo nguyên tắc như vậy.

Theo đánh giá của các nhà phân tích tình hình cho thấy, trong số 11 đại hội toàn quốc của đảng CSVN từ năm 1930 đến nay, chưa từng có một đại hội nào lại gặp khó khăn, và bế tắc như việc chuẩn bị đại hội lần thứ XI. Ngay từ khâu công bố Dự thảo các văn kiện của đại hộ i XI để xin ý kiến toàn dân cũng vấp phải sự phản biện quyết liệt ngay từ những ngày đầu của các cựu lãnh đạo các cấp của đảng và nhà nước, các nhà khoa học, các chuyên gia hàng đầu, và những ý kiến đó đã bị quy kết cho là mang tính chống đối. Nhưng thê thảm hơn vẫn là vấn đề nhân sự, được biết tại Hội nghị trung ương 14 vấn đề nhân sự gặp bế tắc và bị phản ứng dữ dội bằng các tranh luận gay gắt, trong tiếng la ó của các đại biểu thuộc các phe phái khác nhau, một hiện tượng chưa từng xảy ra trong các kỳ đại hội đảng toàn quốc của đảng CSVN. Danh sách nhân sự dự kiến của Ban Tổ chức TW xem xét cũng phá sản, không được Hội nghị thống nhất, kể cả cách thức lựa chọn bầu Tổng Bí thư trực tiếp cũng phải gác lại mà không ai dám quyết. Và cuối cùng các phe nhóm cũng buộc phải tạm thỏa hiệp để đi đến kết luận cuối cùng là tạm chấp nhận để nghiên cứu xem xét thêm.

Cũng chưa yên, kết quả của Hội nghị TW14 kết thúc mang lại cũng bị các nhân vật cựu lãnh tụ cao cấp của đảng không chấp nhận. Ngay lập tức họ có các văn bản yêu cầu, bản kiến nghị gửi các đại biểu bầy tỏ quan điểm rõ ràng, khẳng định rõ họ ủng hộ ai, không ủng hộ ai và yêu cầu Bộ chính trị phải triệu tập Hội nghị Trung ương 15 bất thường để thông qua lần cuối trước ngày khai mạc có hơn 2 ngày. Đặc biệt có nguồn tin từ đại biểu cho biết dự kiến nhân sự của Hội nghị Trung ương 15 đã đảo ngược so với kết quả đạt được của Hội nghị Trung ương 14 thông qua và gay go nhất là trường hợp của ông Nông Quốc Tuấn, Bí thư tỉnh ủy Bắc Giang. Cũng tin từ đại biểu này cho biết tại Hội nghị 14 có đoàn đại biểu đã thẳng thừng yêu cầu bác bỏ tên của ông Nông Quốc Tuấn, khỏi danh sách đề cử vào Ban chấp hành Trung ương với lý do tư cách phẩm chất của Nông Quốc Tuấn chưa đủ, để lại sẽ làm mất uy tín của đảng. Việc để xuất thẳng thừng như vậy đã gay tranh cãi giữa các phe gay gắt,cuối cùng đưa đến phương án dung hòa để xem xét lại có thể đưa vào danh sách bầu ủy viên dự khuyết.

Đáng quan tâm nhất là tỷ lệ sự tín nhiệm của các đại biểu đối với các nhân vật tên tuổi hàng đầu có danh sách ngấp nghé các chức vụ Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước và Thủ tướng chính phủ như các ông Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang hay Nguyễn Minh Triết … số phiếu cũng chỉ xấp xỉ quá bán, đặc biệt trường hợp ông Nguyễn Sinh Hùng chỉ đạt dưới 50% không đủ phiếu theo tiêu chuẩn để vào trung ương. Nhưng người ta vẫn hy vọng trong buổi bỏ phiếu bầu trong đại hội chính thức sẽ có kết quả khả quan hơn.

Một câu hỏi đặt ra là tại sao lại có tình trạng thiếu thống nhất và lộn xộn như vậy trong việc thông qua các vấn đề chuẩn bị cho đại hội 11? Câu trả lời là:

* Nguyên nhân thứ nhất trước hết là sau hai đại hội 9 và 10, vai trò lãnh đạo đã được trao cho ông Nông Đức Mạnh giữ chức vụ Tổng Bí Thư, chức vụ quyền lực cao nhất trong hệ thống đảng và chính quyền ở Việt nam. Vốn là một người có gốc dân tộc thiểu số, thiếu kiến thức cần phải có của một vị lãnh tụ, do thiếu sự giáo dục toàn diện trong thời gian dài cộng với tính ba phải kiểu “mười bốn cũng ừ, mười tư cũng gật” và đầu óc nặng về vụ lợi thu vén cá nhân, không có khả năng phân biệt đúng sai, bạn hay kẻ thù. Qua hai khóa 9 và 10 ở cương vị này, ông Mạnh đã ngày càng sa sút về phẩm cách dẫn tới uy tín và sự tín nhiệm trong nội bộ Trung ương đảng hết sức thấp, bị đồng chí coi thường.

* Nguyên nhân thứ hai cũng từ nguyên nhân thứ nhất dẫn tới sự thiếu đoàn kết, thiếu nhất quán trong Bộ Chính trị, Ban bí thư Trung ương, hình thành các phe nhóm kiểu Tam quốc rõ nét và công khai thể hiện trong việc công tác triển khai các chủ trương lớn của đảng thường mâu thuẫn giữ các phe trong Bộ Chính trị như đường sắt cao tốc là một ví dụ điển hình.

* Nguyên nhân thứ ba là do trong hàng các nhân vật hàng đầu của đảng CSVN hiện nay không có một nhân vật xuất chúng, có bản lĩnh hơn người toàn diện và nổi trội để đủ sức khống chế và thuyết phục đội ngũ cán bộ cao cấp dưới quyền. Với sự phá sản của phương án nhân sự của Trưởng ban Tổ chức Trung ương Hồ Đức Việt trình Hội nghị, thì khi đưa danh sách ra có tới 142/200 nhân sự đề cử là tay chân của mình, đã gây cho các Ủy viên trung ương hết sức giận dữ (Hội nghị Trung ương 14) yêu cầu phải xé toạc, và kết quả tại Hội nghị TW 14 chính Trưởng ban TCTW Hồ Đức Việt đã bị gạt vào nằm trong danh sách về hưu sớm và ông Nguyễn Phú Trọng cũng chỉ đạt được 8/15 phiếu của Bộ Chính trị trong việc ủng hộ vào chức vụ Tổng Bí thư.

* Tất cả 3 nguyên nhân tạm dẫn ra trên đây đều do nguyên nhân chủ chốt cơ bản nhất là sự thoái hóa, xuống cấp về phẩm cách chính trị, đạo đức cách mạng của các lãnh đạo cao cấp trong bộ máy đảng do tác động của cơ chế kinh tế thị trường mang lại. Khi mà trong đảng CSVN thiếu một lãnh tụ kiệt xuất, đủ uy tín để quyết định các vấn đề nhân sự quan trọng cho đại hội kế tiếp theo nguyên tắc truyền thống của các đảng cộng sản từ xưa tới nay. Hiện tại do chức, quyền đi kèm với tiền bạc và quyền lợi của các nhóm lợi ích khác nhau, cộng với mục đích và lý tưởng của đảng viên cộng sản đã thay đổi sâu sắc. Từ chỗ các đảng viên luôn luôn xác định phấn đấu vì mục tiêu cao cả nhất vì đất nước và dân tộc đã được thay bằng vì lợi ích của đảng và cá nhân thì sự tranh chấp về quyền lực giữa các phe nhóm sẽ dễ bộc lộ, hòng triệt hạ lẫn nhau về uy tín chính trị và quyền lợi của mỗi nhóm là chuyện đương nhiên phải có, đồng thời động cơ không ăn được thì đạp đổ đã bắt đầu hình thành và xuất hiện trong suy nghĩ và hành động của các lãnh đạo cao cấp.

Sau Hội nghị Trung ương 14, đã có nhiều ý kiến đề nghị hoãn và lùi lại ngày khai mạc Đại hội XI do vấn đề nhân sự bế tắc, kể cả phương pháp lựa chọn Tổng Bí thư thông qua bỏ phiếu trực tiếp cũng chưa có câu trả lời thống nhất, mà phải chờ tới đại hội chính thức để xin ý kiến các đại biểu vì lý do điều lệ đảng không đề cập tới.

Người ta thường nói bèo hợp rồi sẽ tan là quy luật của tự nhiên, với các nguy cơ phân hóa, mâu thuẫn ngày càng sâu sắc về quyền lợi, quyền lực và với tình hình nội tại của ban lãnh đạo đảng CSVN thì khả năng đảng CSVN sẽ buộc phải tách đảng kiểu tôi đi đường tôi, anh đi đường anh là rất có thể. Đó chính là lý do vì sao khi phóng viên hãng tin AP đặt câu hỏi với ông Tô Huy Rứa tại cuộc họp báo hôm qua (10/01) tại Hà nội là “Việt Nam có đa nguyên đa đảng hay không?”, thì người trả lời thay lại là Đinh Thế Huynh – Uỷ viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân dân khẳng định: “Việt Nam chúng tôi không có nhu cầu đa nguyên đa đảng, và dứt khoát không đa nguyên đa đảng.” chứ không phải là ông Tô Huy Rứa Ủy viên Bộ Chính trị – Trưởng ban Tuyên giáo là người được hỏi.

Như ông Cù Huy Hà Vũ đã phát biểu khi trả lời phỏng vấn của bà Tâm Oanh trước ngày bị bắt cho rằng “Đại hội đảng lần thứ XI sẽ là đại hội cuối cùng”, điều đó hoàn toàn rất có khả năng xảy ra. Vì cứ xem sự bùng nhùng, bế tắc do bất đồng hiện tại trong nội bộ ban lãnh đạo đảng CSVN hiện nay, mà diễn biến các Hội nghị TW 14 và 15 cho thấy, điều mà chưa thành tiền lệ trong lịch sử 81 năm hoạt động và trưởng thành của đảng CSVN đã xảy ra như vậy, thì sự chia tay giữa các phe nhóm lợi ích sẽ là giải pháp tốt nhất. Các phe nhóm hiện tại trong đảng tách thành các đảng khác nhau để thi thố tài năng và cạnh tranh để chứng tỏ khả năng của chính mình thì cũng tốt, kể cả không cho các đảng phái khác tham gia cũng còn hay hơn hiện tại.

Chúng ta hãy cùng chờ xem!

Ngày 11/01/2011

Tuesday, January 11, 2011

HRW yêu cầu Việt Nam chấm dứt trấn áp giới bất đồng chính kiến

Theo RFI

Đức Tâm

Nhân dịp đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ 11, hôm nay, 11/01/2011, tổ chức Human Rights Watch, có trụ sở tại New York, Hoa Kỳ, đã kêu gọi chính quyền Việt Nam hãy tôn trọng – thay vì chà đạp – các quyền cơ bản của con người, chấm dứt ngay các hành động bóp nghẹt bất đồng chính kiến, trả tự do cho những người đang bị cầm tù, giam giữ và bị kiểm duyệt.

Theo HRW, trong thời gian qua, vào lúc trước khi có Đại hội 11, các hành động trấn áp đã gia tăng đột ngột. Lãnh đạo cấp cao của chính quyền Việt Nam đã ra chỉ thị cho các cơ quan chức năng địa phương phải bảo đảm trật tự, không để cho giới bất đồng chính kiến, các nhà tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền, những người dân đi khiếu kiện đất đai, các nhóm thiểu số đấu tranh đòi tôn giáo độc lập, gây ra các sự cố vào thời điểm trước và trong khi có Đại hội. Đây chính là nội dung công điện số 2402/CD-TTg do thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ngày 30/12/2010.

Ông Phil Robertson, phó giám đốc phụ trách châu Á của tổ chức này chất vấn : « Tại sao các nhà lãnh đạo Việt Nam lại sợ phải nghe những bức xúc của chính người dân nước mình ». Ông kêu gọi các nhà lãnh đạo Việt Nam nên có một kế hoạch cải thiện về nhân quyền, « thay vì tiến hành bắt giữ, trấn áp những tiếng nói phê phán để rảnh tay họp hành ».

Sau khi điểm lại những vụ vi phạm nhân quyền, trấn áp các nhà ly khai, những người đòi tự do tôn giáo trong thời gian qua tại Việt Nam, tổ chức Human Rights Watch đưa ra 7 kiến nghị đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam như Đại hội Đảng cần bãi bỏ các luật lệ và chính sách cản trợ tự do ngôn luận, khẳng định rằng Công an không được đứng trên pháp luật, chỉ đạo nghiêm cấm các quan chức địa phương tịch thu trưng dụng đất đai của người dân để đưa vào các dự án phát triển mà không có đền bù thỏa đáng, chấm dứt đàn áp quá tay với những người dân khiếu kiện, bảo đảm tự do tôn giáo, cho phép lập công đoàn độc lập, tiến hành thương lượng để bảo đảm quyền lợi cho người lao động, chấm dứt xách nhiễu, gây sức ép đối với giới luật sư khi họ tham gia các vụ án nhậy cảm, liên quan đến các hành vi lạm dụng công quyền, tôn trọng các cam kết quốc tế và bảo đảm các luật lệ, quy định của chính phủ phù hợp các chuẩn mực quốc tế.

Đại diện HRW nhấn mạnh, « đã đến lúc Việt Nam cần chú trọng tới nhân quyền, không phải Đảng quyền » và để đưa đất nước tiến lên, giới lãnh đạo Việt Nam phải để cho « các công dân của mình được hưởng đầy đủ mọi quyền được công nhận trong các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết, thay vì tập trung nỗ lực cản trở các quyền tự do cơ bản và bóp nghẹt bất đồng chính kiến ».