Translate

Sunday, July 4, 2010

Người không cha mẹ, tên thật, ngày sanh: Tìm cha mẹ lạc trên đường di tản

Trích NguoiViet Online

Hà Giang/Người Việt

“Trước khi qua đời, ông bà nuôi cho tôi biết là đã nhặt được tôi lúc 2, 3 tuổi tại sân bay Ðà Nẵng vào những ngày chạy loạn trước ngày 31 Tháng Ba 1975 khi thành phố Ðà Nẵng thất thủ.

Trước đây ông bà nuôi tôi nói với mọi người rằng tôi là cháu ruột, cha mẹ đã chết hết. Tôi cũng tin như vậy. Nhưng từ ngày biết được thân phận mình, tôi rất mặc cảm và đau khổ trong lòng.

Nay đã gần 40 tuổi, đã có gia đình vợ con, nhưng lòng tôi vẫn luôn hướng về nơi xa xăm nào đó cha mẹ hoặc người thân yêu cùng máu mủ với tôi cũng có lẽ đang đau khổ như tôi trong mấy chục năm ròng cố tìm kiếm nhau nhưng thấy đều vô vọng.”

Ðó là những dòng chữ trong bức thư viết tay, mà anh Nguyễn Ðức Chính, hiện đang sống ở Ðắc Lắc, Ban Mê Thuột, Việt Nam, gửi cho nhật báo Người Việt, kèm theo tấm hình của anh, để nhờ tòa báo giúp anh thực hiện ước mơ “được một lần gọi được hai tiếng Cha Mẹ”, hay tìm tông tích của mình.

Thư viết tiếp:

Hiện tại tôi đã có gia đình, có vợ con, công ăn việc làm, không trông mong tìm kiếm vật chất mà chỉ khao khát tình thương ruột thịt mà tôi đã mất. Thưa nhà báo, tôi kính xin nhà báo giúp đỡ đăng cho tôi nhiều kỳ, nhiều ngày, cho trường hợp của tôi được thông tin rộng rãi, để gia đình cha mẹ đẻ tôi biết được tôi đang còn sống và đang tìm kiếm họ qua gần 40 năm xa cách.

Ở một đoạn, không dằn được cảm xúc, anh viết:

“Hỡi cha mẹ thân yêu! Người ở đâu? Chân trời góc bể nào, có nghe được tiếng lòng của con không? Con đang thèm khát được gọi hai tiếng cha mẹ. Cầu xin ơn trên cho con tìm lại được một gia đình hạnh phúc thực sự mà cha mẹ con vô tình hay cố ý bỏ rơi con...”

Khi chúng tôi gọi phôn về Việt Nam để hỏi chuyện, thì được anh Chính cho biết đã nhờ chương trình “Như Chưa Hề Có Cuộc Chia Ly” tại Việt Nam giúp hơn một năm nay rồi, nhưng “chưa có kết quả gì.”

Trả lời câu hỏi tại sao anh lại đặt hy vọng vào nhật báo Người Việt, anh Chính bảo là một người bà con với gia đình ông bà nuôi của anh mới từ California về chơi, và kể là báo Người Việt vừa “có vẻ quan tâm đến những đứa trẻ mồ côi”, vừa có phương tiện quảng bá tin tức rộng rãi đến khắp nơi qua trang báo mạng.

“Chị có nghĩ là báo Người Việt có thể giúp em tìm được cha mẹ không?”

Anh Chính hỏi, như bám lấy niềm hy vọng.

“Em mới gửi thư đi mà chị đã gọi liền, đó làm điềm tốt, chị biết không?”

“Ngoài địa danh Ðà Nẵng, anh có biết gì về thân thế của mình không?”

“Không, chỉ biết ông bà nuôi nhặt em về từ sân bay Ðà Nẵng vào cuối Tháng Ba, năm 75, như em viết trong thư thôi chị.”

Thư viết tay của anh Nguyễn Ðức Chính gửi cho nhật báo Người Việt.

Ðà Nẵng - Cuối Tháng Ba?

Theo lời một bài hát, nhiều bài văn viết về Ðà Nẵng, và lời kể của những ai từng lớn lên ở Ðà Nẵng, thì cuối Tháng Ba là thời gian đẹp nhất của thành phố này. Ðó là lúc những cơn mưa “dầm dề” làm sũng ướt thành phố đã tạm ngớt, nhường chỗ cho những tia nắng ấm áp làm hồng đôi má cô thiếu nữ chân mau bước trên đường...

Nhưng vào những ngày cuối Tháng Ba năm 1975, thì Ðà Nẵng là một nơi thật hỗn độn, thật rối loạn. Ðường phố chật ních từng đoàn người lôi thôi lếch thếch kéo nhau từ các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Huế túa về. Trong hoàn cảnh đó, có lẽ nhiều người bất đắc dĩ đã phải bỏ lại con nhỏ.



Nguyễn Ðức Chính, một đứa trẻ được cặp vợ chồng lớn tuổi nhặt về nuôi ở sân bây Ðà Nẵng, cuối Tháng Ba, 1975, hiện đang sống ở Việt Nam.



“Chị nghĩ em có hy vọng không?”

Câu hỏi của Chính kéo tôi trở về thực tại.

“Anh có biết cha mẹ mình tên là gì không?”

“Không, em được ông bà nhặt về nuôi, tên thật mình còn không biết, thì làm sao biết tên cha mẹ mình được chị?”

“Nhưng em biết chắc em là người Ðà Nẵng hay Quảng Trị hay là gần Huế gì đó thôi, chị nghe giọng nói em chị cũng biết.”

Chính khẳng định.

“Anh biết mình không phải cháu ruột của ông bà lâu chưa?”

“Lâu lắm rồi chị, từ năm tám mươi mấy rồi.”

“Lúc mới biết mình không phải là cháu ruột, chắc anh buồn lắm?”

“Buồn, hụt hẫng, như trời sập. Bỏ ăn mấy ngày đó chị. Không ngủ được luôn.”

“Cứ nhắm mắt lại, em lại tự hỏi không hiểu sao cha mẹ mình sao lại bỏ mình ở sân bay? Không biết là họ tính bỏ em ở đó đi đâu rồi quay lại, hay muốn bỏ em luôn.”

“Buồn nhiều, nhưng em cứ giữ kín trong lòng, không tâm sự với ai.”

Giọng Chính trĩu nặng.

“Mang tiếng mình là con nuôi, hay đứa con bị bỏ rơi cũng làm mình tủi thân hay tự ái trong người, nên thoạt đầu em cố dấu.”

“Khi lớn lên có hiểu biết một chút, thì em thỉnh thoảng có tỉm về Quảng Trị, và những người xung quanh cũng xác định em có lẽ là người Quảng Trị, vì giọng nói em, nhưng rốt cuộc cũng không tìm được manh mối gì.”

“Giờ đây, đăng hình lên báo, anh hết sợ người ta cười rồi sao?”

“Vẫn sợ chứ, lấy vợ mười mấy năm rồi mà em còn chưa dám nói, sợ nói ra không biết vợ mình có buồn không.”

“Nhưng nếu em không tìm, thì nó thôi thúc trong lòng mình, em không chịu nổi.”

“Hôm bữa đứa con trai em, 15 tuổi, nó muốn em kể về ông bà nội. Nó làm em muốn khóc luôn. Em không biết nói gì. Không lẽ em nói là ba bị bỏ rơi từ nhỏ, không cha không mẹ?”

Nguyễn Ðức Chính nói một hơi, rồi im lặng hồi lâu.

“Không hiểu tại sao em cứ nghĩ cha mẹ em còn sống, mà còn ở nước ngoài nữa.”

“Em biết, em không có hy vọng nhiều, nhưng chị và tòa báo cố giúp em, em nhớ ơn suốt đời.”

“Vâng, chúng tôi sẽ cố gắng.”

Chính cám ơn tôi, gửi lời cám ơn tòa báo, chào tôi tôi rồi cúp phôn.

***

Ðà Nẵng - cuối Tháng Ba, 1975 chắc hẳn phải là một khoảng thời gian hỗn loạn

Trong khung cảnh hỗn loạn đó, một cặp vợ chồng lớn tuổi, không hiểu sao đã lui cui ở sân bay, và nhặt được chú bé Nguyễn Ðức Chính, lúc đó 2, 3 tuổi mang về nuôi?

Và chú bé Chính đó, giờ đã trưởng thành, đã thành công nhưng khắc sâu trong tâm anh là một niềm riêng thật ngậm ngùi.

Tôi tự hỏi ngoài Nguyễn Ðức Chính ra, không biết còn bao nhiêu thanh niên thiếu nữ khác cùng hoàn cảnh, giờ đang khắc khoải tìm, và ôm chặt mối hy vọng sẽ tìm được ra tăm hơi của cha mẹ ruột?

Và với những người như Chính, câu chuyện xảy ra cách đây hơn 35 năm, chỉ có thể chấm dứt khi nghe ngóng được một chút tăm hơi của người thân...

4th Of July (Fireworks)

Happy 4th of July

Saturday, July 3, 2010

Ho Chi Minh: the man and the myth- Hồ Chí Minh: con người và huyền thoại

















Trước hiểm hoạ Trung Quốc: Kế hoạch hành động của người Việt hải ngoại

Trích Đàn Chim Việt
Tác giả: Lê Xuân Khoa

Trong bài “Người Việt hải ngoại làm được gì trước hiểm hoạ Trung Quốc?” đăng trên một số trang mạng và báo chí Việt ngữ mấy tháng trước[i], tôi đã trình bày tổng quát về mối hoạ thường trực của Trung Quốc đối với Việt Nam qua các triều đại từ thời Tần Thủy Hoàng đến ngày nay, và về vai trò thích hợp của người Việt hải ngoại trong những nỗ lực ngăn chặn tham vọng bá quyền của Bắc Kinh, không chỉ đối với Việt Nam mà toàn thể khu vực Đông Nam Á.

Trong bài này, tôi sẽ đề nghị một số ý kíến cần thiết cho việc thiết lập một kế hoạch hành động của người Việt Nam ở nước ngoài, xác định chúng ta có thể làm được gì và làm như thế nào để đóng góp có hiệu quả vào công cuộc đối phó với mưu đồ xâm chiếm Việt Nam mà Trung Quốc dưới chế độ cộng sản đã thật sự bắt đầu.

Ba tiền đề

Sau đây là ba nhận định then chốt được dùng làm tiền đề cho một kế hoạch hành động toàn diện mà tôi nghĩ là thực tế và thích hợp với cộng đồng người Việt hải ngoại trong nỗ lực ngăn chặn Trung Quốc chiếm hữu Việt Nam và thống lĩnh Biển Đông (đã được nhiều người đề nghị đổi tên là Biển Đông Nam Á).

1. Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc

Trong những điều kiện địa-chính trị khu vực và quan hệ quốc tế hiện thời, hiểm họa Trung Quốc dưới chế độ cộng sản rất khác và nguy hiểm hơn tất cả những cuộc xâm lăng của các triều đại phong kiến phương Bắc trong hơn hai ngàn năm lịch sử bang giao giữa hai nước. Khác, vì đây không phải là một cuộc chiến tranh xâm lược cổ điển bằng lực lượng vũ trang, mà là một cuộc chinh phục thầm lặng bằng kinh tế, chính trị và văn hóa, vừa thuyết phục vừa đe dọa, giữa một nước cộng sản đàn anh đối với một nước cộng sản đàn em. Chiến tranh quân sự chỉ có thể xảy ra khi tình thế thay đổi và cuộc chinh phục thầm lặng không còn hiệu lực. Ngoài ra, mục đích thôn tính Việt Nam của Trung Quốc ngày nay không chỉ có mục đích mở mang bờ cõi phía Nam mà còn để khai thác tài nguyên trên biển, chi phối các nước trong khu vực và thực hiện tham vọng bá quyền quốc tế. Nguy hiểm hơn, vì Trung Quốc không chỉ mạnh hơn Việt Nam gấp bội về kinh tế và quân sự mà còn có tư thể sử dụng Việt Nam như một quân cờ để mặc cả với các nước đồng minh của Việt Nam, khiến cho nước ta khó có thể tồn tại như một quốc gia độc lập. Về điểm này, chúng ta không nên quên rằng mới năm ngoái, một Đô Đốc của Trung Quốc đã thăm dò Đô Đốc Timothy Keating, khi đó là Tư lệnh Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương, về khả năng chia đôi khu vực kiểm soát TBD, lấy lằn ranh là quần đảo Hawaii, nhưng bị ông Keating bác bỏ [ii] . Mới đây, trong bài “The Geography of Chinese Power” (Thế địa lý của sức mạnh Trung Quốc) trên tạp chí Foreign Affairs, Robert Kaplan đã nhắc đến viễn tượng Ngũ Giác Đài có thể rút vòng đai chiến lược Thái Bình Dương tới các nước trong khu vực Đại Dương Châu (Oceania) để “đối phó với sức mạnh chiến lược của Trung Quốc . . . mà không cần phải đối đầu trực tiếp bằng quân sự.”[iii] Trong viễn tượng này, Việt Nam và hầu hết các nước ASEAN sẽ không còn nằm trong khu vực được Mỹ bảo vệ.

Với tốc độ vô địch về phát triển kinh tế tài chánh hiện nay, Trung Quốc đang ráo riết chuẩn bị cho tham vọng trở thành siêu cường số một trong thế kỷ 21, thay thế vai trò của Hoa Kỳ, và thiết lập một trật tự mới, một nền văn minh mới có ảnh hưởng toàn cầu. Chuyên gia về Trung Quốc Martin Jacques đã thảo luận về khả năng TQ lãnh đạo thế giới chỉ trong vòng ba, bốn chục năm nữa [iv]. John và Doris Naisbitt thì ca ngợi sáng kiến mới của TQ về một nền dân chủ quân bình theo hàng dọc (vertical democracy) từ trên đi xuống và từ dưới đi lên, thay cho thể chế dân chủ hỗn loạn theo hàng ngang của xã hội Tây phương [v]. Ngay tại Trung Quốc, Đại tá Lưu Minh Phúc, Giám đốc Viện Nghiên cứu Xây dựng Quân đội thuộc Bộ Quốc Phòng TQ, vừa xuất bản cuốn “Trung Quốc Mộng”, nhấn mạnh rằng “Giấc mơ TQ không chỉ là giấc mơ kinh tế, giấc mơ quân sự mà gồm cả giấc mơ văn hoá” và điểm nổi bật là “TQ phải xây dựng một quân đội mạnh nhất thế giới và giành lấy vị trí cường quốc số một toàn cầu từ tay Mỹ.”[vi] Bước đầu tiên trong chiến lược bá quyền của Trung Quốc là thống lĩnh vùng biển phía Nam và kiểm soát toàn thể khu vực ĐNÁ. Mục tiêu này chỉ có hi vọng đạt được nếu Trung Quốc có cơ hội sử dụng Việt Nam làm bàn đạp và căn cứ chiến lược.

2. Bảo vệ chủ quyền là trách nhiệm chính thức của Nhà Nước Việt Nam.

Ba điều kiện liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm của Nhà Nước trong việc bảo vệ chủ quyền và độc lập dân tộc là: lãnh đạo phải có tài và thật lòng yêu nước, huy động được sự đoàn kết của toàn dân và vận động được sự ủng hộ của quốc tế. Điều kiện thứ nhất là một nghi vấn rất lớn vì giới lãnh đạo Việt Nam cho đến nay chỉ cho thấy rằng họ bất tài và đang dựa vào Trung Quốc để bảo vệ độc quyền thống trị của Đảng cùng những đặc quyền đặc lợi của họ. Gần đây, do thái độ ức hiếp quá đáng của Trung Quốc và những yếu tố thuận lợi từ phía quốc tế, lãnh đạo Việt Nam đã có vẻ muốn khẳng định chủ quyền toàn vẹn của đất nước và gia tăng hợp tác với các nước đồng minh để đối thoại với Trung Quốc. Nhưng họ vẫn còn rất lúng túng trong chính sách đi hàng hai, chưa dám có những quyết định rõ rệt. Người ta có thể ngờ rằng những lời lẽ cứng rắn đối với Trung Quốc chỉ là một xảo thuật hỏa mù nhằm xoa dịu sự bất mãn của nhân dân và gia tăng sự tin tưởng của Hoa Kỳ và các nước dân chủ. Về điều kiện thứ hai, lãnh đạo bất tài và bất khả tín như vậy sẽ không thể huy động sự đoàn kết và các nguồn lực của toàn dân cho đến khi họ thật sự thay đổi đường lối. Trong khi đó, do bị bưng bít thông tin, đại đa số nhân dân không thấy được nguy cơ mất nước vào tay Trung Quốc. Hơn nữa, chuyện toàn dân đoàn kết thì vẫn chỉ là một ước mơ do hậu quả của hai mươi năm nội chiến và chính sách sai lầm của Nhà Nước cộng sản đối với nhân dân miền Nam sau ngày thống nhất. Hòa giải và đại đoàn kết dân tộc luôn luôn được nói đến nhưng chưa bao giờ thực hiện sau 35 năm chấm dứt chiến tranh. Riêng điều kiện thứ ba thì Việt Nam đang có nhiều thuận lợi vì ASEAN, Hoa Kỳ và các quốc gia dân chủ trên thế giới đều muốn ngăn chặn tham vọng bá quyền của Trung Quốc. Vấn đề là lãnh đạo Việt Nam có đủ khả năng và dũng cảm hay không, không phải để đối phó với Trung Quốc bằng chiến tranh, mà để cùng với cộng đồng quốc tế giải quyết với Trung Quốc vấn đề Biển Đông Nam Á và các vấn đề an ninh, hợp tác và phát triển trong khu vực.

3. Vai trò của cộng đồng người Việt hải ngoại

Với giả định là lãnh đạo Việt Nam muốn thật lòng tìm cách thoát ra khỏi vòng kiểm soát của Trung Quốc, vai trò thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại là giúp cho chính quyền trong nước đối phó với Trung Quốc bằng những công trình nghiên cứu và tư vấn, và đóng góp vào công cuộc phát triển sức mạnh của nhân dân. Ngoài ra, người Việt hải ngoại có thể vận động đắc lực cho vấn đề quốc tế hóa Biển Đông Nam Á và cho một giải pháp hòa bình bền vững giữa Trung Quốc và các nước ASEAN. Những hoạt động này cần tiến hành đồng bộ và phải được phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, nhân dân trong nước, và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Đến đây, câu hỏi quan trọng được đặt ra là làm thế nào có được sự tin cậy và hợp tác giữa chính quyền và nhân dân trong nước, nhất là giữa chính quyền và khối người Việt ở nước ngoài, khi vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc chưa được giải quyết? Hợp tác với chính quyền trong nước, dù để đối phó với Trung Quốc, có giúp duy trì chế độ độc tài toàn trị hay không? Những câu hỏi này cần phải được trả lời trước khi bàn đến những hoạt động thích hợp của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Tôi đề nghị chúng ta nên tạm ngưng thảo luận về vấn đề hòa giải giữa Nhà nước và cộng đồng người Việt hải ngoại vì vấn đề này đã được tranh cãi từ nhiều năm qua và vẫn còn bế tắc. Chúng ta hãy đồng ý rằng khi đất nước lâm nguy thì các thành phần dân tộc đều cần phải bỏ qua một bên mọi niềm thù hận hay bất đồng chính kiến để hợp lực chiến đấu cho sự vẹn toàn của lãnh thổ và nền độc lập của dân tộc. Khi đã vắng bóng quân xâm lược hay nguy cơ đã qua đi thì những chuyện đối nghịch cũ sẽ trở lại để được giải quyết bằng hòa giải hay tiếp tục đối kháng. Sự kiện người Việt hải ngoại đóng góp công trình nghiên cứu lịch sử hay tư vấn pháp lý cho chính quyền trong nước về vấn đề Hoàng Sa, Truờng Sa là một hành động hợp tác vì nguy cơ chung nhưng không phải hay chưa phải là hành động hòa giải. Một thí dụ khác: nếu chính phủ Việt Nam lên tiếng yêu cầu Trung Quốc ngưng tiếp tục xây đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong để bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái của hàng triệu dân Việt Nam sinh sống ở lưu vực dòng sông này thì việc người Việt hải ngoại gửi kiến nghị vận động các chính phủ và tổ chức quốc tế ủng hộ lập trường của chính phủ Việt Nam, không có nghĩa là một hành động củng cố chế độ độc tài cộng sản. Trong khi đó những nỗ lực dân chủ hoá Việt Nam vẫn được tiếp tục dù dưới những hình thức ôn hoà hơn.

Đây không phải là lần đầu tiên “người quốc gia” đặt vấn đề nói chuyện với “người cộng sản”, hay ngược lại, vì quyền lợi tối thượng của đất nước. Cựu Ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc đã cho biết là sau khi Trung Cộng cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa ngày 19.01.1974, ông đã ba lần “đề nghị đến gặp Bộ trưởng Ngoại giao của chính quyền Hà Nội để cùng thảo luận về những vấn đề của đất nước” (ngày 26.02, 16.05 và 20.07.1974) nhưng “cả ba lần đó, Hà Nội đều làm ngơ không đáp ứng tích cực”[vii]. Hai trường hợp khác về đề nghị hợp tác giữa quốc gia và cộng sản là năm 1954 và 1989. Theo lời kể lại của cố Ngoại trưởng VNCH Trần Văn Đỗ, mấy ngày trước khi hiệp định Genève 1954 được ký kết, ông được Trưởng phái đoàn cộng sản Phạm Văn Đồng mời gặp để cùng tìm giải pháp hoà bình giữa người Việt Nam với nhau thay vì chịu sự áp đặt của các cường quốc. Hai ông đã gặp nhau nhưng khi đó đã quá muộn. Cố Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ kể cho tôi câu chuyện này khi tôi ghé Paris trên đường đi Genève, tháng Sáu 1989 để tham dự hội nghị quốc tế về tị nạn Đông Dương, và được Giáo sư Vũ Quốc Thúc đưa đến thăm ông. Cố ngoại trưởng cho hay ông nhờ GS Thúc đưa tôi đến gặp là để nhắc tôi phải tìm gặp Trưởng phái đoàn cộng sản ở Genève để tìm một giải pháp “của người Việt Nam” cho vấn đề tị nạn Việt Nam. Dù rất ngần ngại, cuối cùng tôi cũng yêu cầu Eric Schwartz, Giám đốc Á châu trong Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (NSC) khi đó đang có mặt trong phái đoàn Hoa Kỳ, thu xếp cho tôi gặp Trưởng phái đoàn Việt Nam là Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, nhưng lúc đó ông Thạch không chịu gặp tôi. Một năm sau, khi ông Thạch sang New York tham dự Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thì chính ông lại mời tôi gặp sau khi nhận được thư của Thượng Nghị sĩ Mark O. Hatfield. Vì vấn đề tị nạn Việt Nam đã được hội nghị quốc tế Genève 1989 giải quyết bằng Kế hoạch Hành động Toàn diện (CPA), chủ đích cuộc gặp gỡ giữa nhóm đại diện của Trung Tâm SEARAC, do tôi làm chủ tịch, và ông Nguyễn Cơ Thạch là vấn đề định cư cựu tù nhân cải tạo ở Hoa Kỳ. Vấn đề này được nối kết với vấn đề POW/MIAs mà Việt Nam cần hợp tác tích cực hơn để chính phủ Mỹ có thể đáp ứng thuận lợi vấn đề thiết lập quan hệ bình thường giữa hai nước.[viii]

Trở lại trường hợp người Việt hải ngoại giúp cho chính quyền trong nước đối phó với Trung Quốc, ngoài lý do quyền lợi tối thượng của đất nước, người bên ngoài còn có cơ hội tiếp cận với những người yêu nước và tiến bộ ở trong hay ngoài đảng cộng sản, hóa giải được những ngộ nhận và định kiến còn tồn tại giữa hai bên để tin cậy nhau hơn, hợp tác chặt chẽ với nhau hơn trên nhiều lãnh vực khác nhằm cải thiện đời sống của nhân dân và gia tăng triển vọng dân chủ hóa Việt Nam. Trong viễn tượng ấy, lãnh đạo Đảng và Nhà nước sẽ đứng trước ba lựa chọn: một là chấp thuận sự hợp tác của trí thức ở trong và ngoài nước, và chủ động tiến trình đổi mới chính trị để thực hiện đại đoàn kết và huy động được các nguồn lực của nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới; hai là bác bỏ sự hợp tác của cộng đồng hải ngoại, tiếp tục đàn áp những đòi hỏi ôn hòa về dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội, tiếp tục thực hiện một chiều khẩu hiệu “bốn tốt” và “mười sáu chữ vàng” với Trung Quốc; ba là hạn chế và kiểm soát sự hợp tác của người Việt hải ngoại, tiếp tục thân với Trung Quốc nhưng cũng dựa vào những điều kiện thuận lợi quốc tế để điều đình với Trung Quốc. Trong khi đó, chính sách áp chế nguyện vọng của nhân dân vẫn không thay đổi.

Trong hoàn cảnh hiện thời, lựa chọn thứ nhất rất ít hi vọng trở thành hiện thực. Chính quyền có vẻ đang thi hành lựa chọn thứ ba. Trong trường hợp này, và ngay cả trong trường hợp chính quyền lựa chọn cách thứ hai, những đóng góp độc lập hay có phối hợp của người Việt hải ngoại với trí thức và nhân dân trong nước vẫn cần thiết cho việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam và cho việc tìm kiếm giải pháp hòa bình ở Biển Đông Nam Á. Hiểm họa Trung Quốc, nếu không làm cho chính quyền thức tỉnh và thực hiện chính sách hòa giải với các thành phần dân tộc để cứu nước thì nó cũng sẽ tạo cơ hội cho người Việt Nam ở trong và ngoài nước đoàn kết và hợp tác với nhau trong các nỗ lực ngăn chặn nguy cơ mất nước và giải thể chế độ độc tài toàn trị.

Kế hoạch cụ thể và toàn diện

Trong bối cảnh lịch sử và viễn tượng tương lai đó, chúng ta cần thiết lập một kế hoạch hành động toàn diện với các đối tượng quốc nội và quốc tế. Tôi xin đề nghị một số công tác và gợi ý cần thiết cho việc thiết lập và thực hiện kế hoạch này:

1. Quan hệ giữa người Việt trong và ngoài nước :

  1. Phổ biến bằng mọi cách những thông tin chính xác tới mọi tầng lớp nhân dân và cấp bậc trong quân đội, nhất là ở các vùng sâu và xa trên toàn quốc về những lời tuyên bố ngang ngược và hành động tàn bạo của TQ về chủ quyền Biển Đông, về những lá thư và bài viết của các nhân vật có uy tín ở trong nước tố cáo mưu đồ thôn tính VN của TQ bằng kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, và về những nhượng bộ của lãnh đạo VN đối với TQ. Cần nêu rõ những bằng chứng cho thấy trong khi những công dân yêu nước biểu tình phản đối TQ bị trừng phạt thì bộ máy thông tin nhà nước lại đưa ra những tin tức và hình ảnh có lợi cho TQ. Cần hỗ trợ những đòi hỏi của nhân dân về thái độ cụ thể của chính quyền đối với TQ.
  2. Thiết lập và mở rộng quan hệ với các trí thức, văn nghệ sĩ ở trong nước, thuộc mọi lớp tuổi, có lòng yêu nước và mong muốn Việt Nam trở thành một quốc gia giàu mạnh, dân chủ, văn minh, có vị thế xứng đáng trong cộng đồng thế giới. Nhiều người xuất ngoại để công tác đã có cơ hội tiếp xúc với những đối tác hay đồng nghiệp của họ trong cộng đồng hải ngoại và đã có nhiều quan hệ tốt. Họ đã và đang có tiếng nói phản biện trước những chính sách và chương trình của chính phủ đi ngược với lợi ích của dân tộc, mặc dù phải chịu nhiều hành động sách nhiễu và phá phách của bộ máy công an.
  3. Tiếp xúc và hợp tác với những cựu đảng viên đã ly khai và bỏ ra nước ngoài để tranh đấu chống độc tài, và những trí thức sinh trưởng trong lòng chế độ nhưng bất mãn với chính sách kìm kẹp của nhà nước nên cũng chọn cuộc sống lưu vong để có điều kiện tự do nghiên cứu, sáng tác và tìm cách cải thiện đời sống của đồng bào trong nước. Tiếng nói của những trí thức này rất có ảnh hưởng đối với nhân dân trong nước.
  4. Tiếp xúc và hợp tác với các trí thức chuyên gia xuất ngoại trước 1975, nhiệt tình yêu nước nhưng có thiện cảm với miền Bắc trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ, nay thất vọng trước những chính sách sai lầm của nhà cầm quyền cộng sản nên đã thẳng thắn chỉ trích chế độ và thúc đẩy công cuộc đổi mới về mọi mặt. Tuy nhiên, do bị ngộ nhận về lòng yêu nước của mình, những trí thức này đã sống biệt lập với cộng đồng hải ngoại và chỉ sinh hoạt trong những diễn đàn do chính họ thành lập. Trong những năm gần đây, qua sự tham dự những hội nghị do các trường Đại học hay cơ quan nghiên cứu ngoại quốc tổ chức, một số trí thức trước và sau 1975 đã có dịp tiếp xúc thân tình, trao đổi quan điểm và công trình nghiên cứu về những vấn đề quan trọng của đất nước.
  5. Tiếp xúc và trao đổi với những sinh viên du học hay tu nghiệp mỗi ngày một đông hơn. Hầu hết những du sinh hay nghiên cứu sinh này đã có những hiểu biết căn bản về đời sống ở nước ngoài và đều mong muốn đất nước đổi mới và hội nhập thành công với cộng đồng thế giới văn minh, dân chủ. Do bận việc học hành và do những qui định của nhà nước về điều kiện du học, họ thường né tránh những cuộc tiếp xúc với người Việt định cư ở nước ngoài vì e ngại bị lôi cuốn vào những sinh hoạt chống cộng của cộng đồng. Nhưng trong những cuộc trao đổi giữa họ với nhau hay với một số giáo sư hay bạn đồng học người Việt sở tại, họ đã chia sẻ những mối quan tâm sâu sắc trước tình trạng tham nhũng trầm trọng, đạo đức suy đồi ở Việt Nam, và không ngần ngại biểu lộ sự tức giận đối với những biện pháp của chính phủ ngăn cấm dân chúng phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền đất nước, ngăn cấm và phá hoại thông tin chính trị trên internet. Sự trao đổi thân tình giữa người Việt hải ngoại và các du sinh sẽ xóa bỏ được nhiều ngộ nhận của họ về cộng đồng tị nạn, chia sẻ một cách nghiêm túc những suy nghĩ và mong ước về tương lai nước Việt. Họ sẽ là những nhân tố thay đổi xã hội Việt Nam, là những nhịp cầu cho sự hợp tác phát triển giữa trong và ngoài nước sau này.

2. Quan hệ với chính quyền Việt Nam:

Người Việt hải ngoại không cần phải yêu cầu chính phủ Việt Nam chấp thuận thiết lập quan hệ hợp tác giữa đôi bên, vì từ nhiều năm nay các lãnh đạo trong nước vẫn tha thiết kêu gọi nhân tài Việt Nam ở nước ngoài đóng góp chất xám vào công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước. Thực tế thì đã có một số chuyên gia người Việt ở các nước tiền tiến trở về làm tư vấn cho chính phủ, giúp đỡ kỹ thuật hay đào tạo cán bộ chuyên môn. Vì chính sách sai lầm của chính quyền, số người này cho đến nay mới có khoảng vài trăm so với tổng số ước lượng là trên 300 nghìn nhân tài người Việt ở nước ngoài. Bây giờ chỉ cần chính thức hóa mối quan hệ này trong việc việc đối phó với TQ để có thể phát huy nội lực, gia tăng sự tin cậy của các thành viên khác trong khối ASEAN và được quốc tế hỗ trợ cho những cuộc đàm phán đa phương với Trung Quốc. Tuy nhiên, sự hợp tác này được chính phủ Việt Nam chấp thuận đến mức độ nào thì chưa thể biết được.

Trong những cuộc đối thoại với chính quyền, nếu có, cần xác nhận yếu tố ổn định chính trị trong tiến trình hợp tác. Nói cụ thể và thực tế hơn, cần giải quyết tình trạng đối kháng hiện thời bằng thái độ tương nhượng: cộng đồng hải ngoại sẽ trì hoãn những hoạt động quyết liệt chống chính quyền, những đòi hỏi giải thể chế độ, những cuộc vận động Quốc hội Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC; để đổi lại, chính quyền phải cải thiện chính sách đối với những người tranh đấu ôn hòa cho dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo bằng việc phóng thích những người đang bị giam giữ, nới rộng những quyền tự do căn bản, chấm dứt việc phá hoại những trang mạng hay trang blog trên internet.

Đế cho sự đóng góp chất xám từ hải ngoại được thực tế và hiệu quả hơn, cần phải có sự cộng tác của trí thức và chuyên gia tiến bộ ở trong nước. Một cơ quan tư vấn theo mô hình “think tank” của Mỹ cần được thành lập với sự tham gia của trí thức trong và ngoài nước. Thật ra, đây là một dự án đã được thử nghiệm hơn ba năm trước bởi cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt sau khi ông và nhóm chuyên gia của ông nghiên cứu “dự án phát triển Việt Nam thế kỷ 21 (VN21)” do TS Phùng Liên Đoàn ở Mỹ soạn thảo với sự góp ý của tôi. Sau những buổi làm việc trực tiếp giữa đôi bên, dự án VN21 đã trở thành một dự án “think tank” mang tên là “Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển Bền Vững”, với tỉ lệ thành phần sáng lập là 50 phần trăm trí thức ở trong nước và 50 phần trăm trí thức ở nước ngoài. Quá trình vận động cho việc thành lập “think tank” này rất khó khăn nhưng nhờ quyết tâm của cố Thủ tướng Kiệt, Nhà nước đã chấp thuận đề nghị của ông, nhưng chỉ cho phép trí thức trong nước đứng chủ trương. Do đó Viện Nghiên Cứu Phát Triển IDS được ra đời vào tháng Mười Một năm 2007. Dù sao, đây cũng là một bước khởi đầu cần thiết. Như chúng ta đều biết, các hoạt động của Viện IDS đã bị chính quyền tìm cách hạn chế và kiểm soát, nhất là sau ngày ông Kiệt qua đời, thậm chí Hội Đồng Quản Trị của IDS đã phải ra tuyên bố tự giải thể để phản đối Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng Bảy 2009 của Thủ tướng Chính Phủ, với lời cáo buộc rất dũng cảm là Quyết định này “phản khoa học, phản tiến bộ và phản dân chủ.”

Dĩ nhiên, tất cả những ý kiến trên đây về quan hệ hợp tác giữa người Việt hải ngoại và chính quyền trong nước chỉ có thể thực hiện trong trường hợp chính quyền quyết định chọn lựa theo cách thứ nhất trong ba lựa chọn đã nói đến ở trên (tiền đề số 3: Vai trò của người Việt hải ngoại). Quan hệ hợp tác này, nếu đạt được, sẽ không có nghĩa là cộng đồng người Việt hải ngoại giúp củng cố chế độ độc tài; trái lại, nó mở đầu cho một tiến trình dân chủ hóa mà không có sự đối đầu. Nói cách khác, đây là một tiến trình “diễn biến hòa bình” do chính Nhà nước chủ động để thực hiện mục tiêu ‘dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” vẫn được nêu cao nhưng không thấy làm. Đây là cơ hội mà người Việt hải ngoại và nhân dân trong nước mở ra cho chính quyền nhưng cũng là một thách thức lịch sử đối với lãnh đạo Đảng Cộng sản trước sự tồn vong của đất nước và dân tộc Việt Nam.

3. Vận động ASEAN, Hoa Kỳ và quốc tế

Như trên đã nói, đây là trách nhiệm và thẩm quyền chính thức của chính phủ Việt Nam trong quan hệ với các quốc gia khác. Những cuộc vận động của nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt ở nước ngoài, nói chung, chỉ có tính cách hỗ trợ cho chính phủ. Tuy nhiên, trong trường hợp đối phó với hiểm họa Trung Quốc, cộng đồng người Việt hải ngoại có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc vận động quốc tế mà nhân dân trong nước không có, trong khi chính phủ Việt Nam lại chưa có chính sách rõ rệt trước hiểm hoạ Trung Quốc. Đặc biệt là những cuộc vận động hành lang của công dân ngoại quốc gốc Việt Nam có thể đem lại nhiều kết quả tích cực do khả năng thuyết phục những nhà làm chính sách ở các nước sở tại, nhất là ở Hoa Kỳ.

Vì Trung Quốc cũng đang là mối đe dọa chung đối với các nước ASEAN và một số quốc gia Á châu khác như Nhật Bản và Ấn Độ, những công dân ngoại quốc gốc Á châu sẽ sẵn sàng hợp lực với người Việt hải ngoại trong các nỗ lực vận động chính quyền ở quốc gia sở tại và ở quê hương gốc của họ. Lợi điểm chính là họ cũng rất quan tâm về tham vọng bá quyền của Trung Quốc, về vị trí chiến lược của Biển Đông Nam Á và nhất là không thể chấp nhận vai trò lãnh đạo thế giới của một nước cộng sản độc tài. Riêng ở Hoa Kỳ, các cộng đồng người Mỹ gốc Á châu thường có quan hệ hợp tác chặt chẽ với chính phủ và các tổ chức tư nhân có thế lực ở quê hương họ. Những người lãnh đạo cộng đồng của họ trên khắp các tiểu bang cũng có nhiều quan hệ và kinh nghiệm làm việc với Quốc hội và chính phủ Hoa Kỳ [ix]. Ngay cả những trí thức người Mỹ gốc Hoa vì đã quen với những suy nghĩ và hành động theo những nguyên tắc bình đẳng và dân chủ cũng có thể đứng chung hàng ngũ với người Mỹ gốc Á trong cuộc vận động cho một giải pháp công bằng và hòa bình trong khu vực. Như vậy, chúng ta không cô đơn mà có nhiều bạn đồng minh rất đắc lực. Tiếng nói chung của công dân và cử tri Mỹ gốc Á qua những bản tuyên bố, những thư kiến nghị, những buổi điều trần ở Quốc hội, những bài báo hay tham luận ở các hội nghị chuyên đề chắc chắn sẽ được những nhà làm chính sách của Mỹ và quốc tế lắng nghe [x].

Đối tượng quốc tế cần được tiếp cận để vận động, ngoài các chính phủ có mối quan tâm chung đối với Trung Quốc, là tổ chức Liên Hiệp Quốc, các cơ quan nghiên cứu quốc tế về luật pháp và nhân quyền, các trường Đại học và các chuyên gia về TQ. Ngoài ra, cũng cần theo dõi và khai thác những phản ứng chống chủ nghĩa “tân thực dân” của TQ tại Châu Phi và những mâu thuẫn quyền lợi giữa Nga và Trung Quốc tại những nước vùng Trung Á như Kyrzystan va Uzbekistan. Sự ủng hộ trực tiếp hay gián tiếp của các cơ quan truyền thông như báo chí, truyền thanh và truyền hình cũng rất quan trọng và phải được triệt để khai thác khi có cơ hội. Cộng đồng nguời Việt hải ngoại cần tập hợp được những nhà nghiên cứu, những tác giả giỏi ngoại ngữ và những đại diện thông thạo về giao tế (PR) ở thủ đô của các quốc gia cần vận động.

Kết luận

Vấn đề vai trò của người Việt hải ngoại như vừa được trình bày, phát xuất từ một giả định là các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước thống nhất ý chí trước nguy cơ Trung Quốc muốn thôn tính Việt Nam làm bàn đạp cho chiến lược bá quyền quốc tế. Với quyết tâm ấy, Nhà nước sẽ vận dụng mọi khả năng hợp tác với các nước ASEAN, Hoa Kỳ và các đồng minh khác để quốc tế hóa vấn đề Biển Đông Nam Á nhằm đạt được giải pháp chung sống hòa bình, hợp tác và phát triển giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực. Khả năng trung lập hoá ASEAN cũng có thể được xem xét như một giải pháp giúp cho Việt Nam và các nước trong khu vực tạo được vị thế riêng biệt, có thể bảo vệ được chủ quyền của mỗi thành viên với các đối tác quốc tế, tránh khỏi vai trò đu dây giữa các cường quốc.[xi] Điểm quan trọng trong giả định này là Nhà nước Việt Nam sẽ thay đổi chính sách đối nội, tạo điều kiện cho một xã hội công dân, chấp nhận đối lập, xóa bỏ những bản án nặng nề đối với những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền và công bằng xã hội. Qua các thành tích của chế độ độc tài cộng sản và kinh nghiệm trực tiếp của nhân dân Việt Nam từ 65 năm qua ở miền Bắc và 35 năm ở miền Nam, kịch bản tự giác và tự chuyển hoá từ độc tài sang dân chủ của nhà cầm quyền Hà Nội có thể được xem như một mơ ước hão huyền. Nhưng trong cuộc đời đã từng xảy ra nhiều chuyện bất ngờ, nhất là khi nguy cơ mất nước đã gần kề và sự bất mãn của dân chúng đối với những biện pháp khắc nghiệt của chính quyền đang gia tăng cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Bởi thế giả định này vẫn cần đặt vào trong những mục tiêu của kế hoạch. Giả định này có thể trở thành hiện thực hay không thì nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng vẫn cần hợp lực để ngăn chặn hiểm họa Trung Quốc, đồng thời đem lại tự do, dân chủ thật sự cho dân tộc.

Chính quyền trong nước cũng như cộng đồng người Việt ở nước ngoài đang phải đôi diện với những thử thách quan trọng đòi hỏi những quyết định dũng cảm, đột phá, để biến những thử thách đó thành cơ hội hợp tác cứu nguy đất nước và cải thiện chế độ chính trị. Hiểm hoạ Trung Quốc là “thời cơ vàng”[xii] để lãnh đạo Đảng và Nhà nước có thể sửa chữa sai lầm, lấy lại được lòng tin của dân chúng và hoà giải với cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Đây cũng là cơ hội cho những đảng viên sáng suốt, trí thức tiến bộ và nhân dân trong nước gia tăng áp lực với những nhà làm chính sách, nhất là trong khi Đảng đang chuẩn bị Đại Hội XI vào đầu năm 2011. Ở hải ngoại, đã đến lúc các nhà lãnh đạo cộng đồng cần hội ý với nhau để xác định một hướng đi mới và một sách lược lâu dài đối với tương lai của đất nước, và trước mắt là thiết lập một kế hoạch thực tế có thể đóng góp hữu hiệu vào những nỗ lực ngăn chặn cuộc chinh phục thầm lặng của Trung Quốc. Vấn đề không phải là ai hay đoàn thể nào có thể khởi động cuộc thảo luận này vì bất cứ một cá nhân hay tập hợp nào đảm nhận trách nhiệm đó cũng đáng được hoan nghênh, nhất là vì đây không phải là vấn đề lãnh đạo mà là điều hợp những cuộc thảo luận cho đến khi đạt được đồng thuận về đường lối và kế hoạch. Sau đó mới cần bầu ra những đại diện chính thức để phụ trách thực hiện kế hoạch. Tốt hơn hết là vai trò điều hợp nên được đảm nhiệm bởi những chuyên gia thuộc lớp tuổi trung niên thành thạo viêc tổ chức và điều hành hội nghị. Cộng đồng người Việt hải ngoại không thể bỏ lỡ vai trò và cơ hội lịch sử này.

© Lê Xuân Khoa

© Đàn Chim Việt

————————————————————–

Chú thích

[i] Xem talawas (Đức) 01 tháng 03, 2010; Ngày Nay (Houston, Texas) 01/03/10; Đàn Chim Việt Online (San Jose, California) 02/03/10; NgườiViệt (Westminster, California) 18-19-20/03/10.

[ii] Admiral Timothy Keating, “Asia-Pacific Military Review”, http://2002-2009-fpc.state.gov/113312.htm. Dẫn bởi Vũ Quang Việt trong “Towards a just and fair solution to the conflicts in the Southeast Asian Sea”, tài liệu thuyết trình tại “Seminar on Conflicting Claims to the South China Sea”, do Đại học Temple, Philadelphia, PA, tổ chức ngày 25/03/2010.

[iii] Robert D. Kaplan, “The Geography of Chinese Power: How Far Can Beijing Reach on Land at at Sea”, Foreign Affairs, May/June 2010, trang 22-41.

[iv] Martin Jacques, When China Rules the World, The Penguin Press, New York, 2009.

[v] John & Doris Norbitt, China’s Megatrends: The 8 Pillars of a New Society, HarperCollins Publishers, New York, 2010, đặc biệt là chương 2.

[vi] Nguyễn Hải Hoành, “Giấc mơ hùng vĩ của người Trung Quốc (phần 1)”, http://community.tuanvietnam.net/2010-03-10-giac-mo-hung-vi-cua-nguoi-trung-quoc-phan-1-?print=1

[vii] Vương Văn Bắc, “Nhớ lại và Suy ngẫm về vụ Hải chiến Hoàng Sa, Đặc San Ái Hữu Ngoại Giao, Xuân Mậu Tý, Paris, France (2008).

[viii] Chi tiết về cuộc gặp gỡ này cũng như những cuộc vận động của SEARAC (Trung Tâm Tác Vụ Đông Nam Á) cho các chương trình định cư HO và ROVR sẽ được trình bày đầy đủ trong cuốn sách về lịch sử tị nạn mà tôi đang viết, tiếp theo tập I của cuốn Viêt Nam 1945-1995:Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử, đã phát hành. Tạm thòi, xin xem bản tóm lược các hoạt động của SEARAC trong “The Voice of Refugees”, một tài liệu tôi viết cho The Boat People Archives của Thư Viện Quốc Hội, nhân dịp họ tổ chức cuộc hội thào về thuyền nhân ở Washington, DC, ngày 2 tháng 5 năm 2009.

[ix] Trong một buổi tiếp xúc gần đây của tôi với Floyd Mori, Chủ tịch tổ chức Japanese American Citizens League (JACL) và Chủ tịch Asian Pacific American Council, ông Mori cho tôi hay ông sẵn sàng gặp gỡ các đại diện cộng đồng Mỹ gốc Việt để thảo luận về nỗ lực chung này.

[x] Một thí dụ cụ thể: TS Vũ Quang Việt, sau khi thuyết trình tại cuộc Hội thảo ở Đại học Temple (xem chú thích số ii trên đây), đã được cơ quan U.S.-China Economic and Security Review Commission (USCC) ở Washington, DC, mời đến tham khảo và có thể sẽ tổ chức một buổi điều trần ở Quốc hội hay một buổi họp với các chuyên gia người Việt hải ngoại về giải pháp cho Biển Đông Nam Á. (USCC là tổ chức do Quốc Hội Mỹ thành lập năm 2000 để nghiên cứu và đề nghị về các vấn đê kinh tế và an ninh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.)

[xi] Xem Vũ Quốc Thúc, Thời Đại của tôi, cuốn I, Người Việt xuất bản, Westminster, 2010., trong Phụ lục: “Việt Nam làm gí sau khi được bầu vào Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc?” trang. 401-408, và “Nhận định về hai cuộc vận động ngoại giao của chính quyền Hà Nội”, trang 409-414.

[xii] Mượn lời của tác giả Nguyễn Trung trong loạt bài “Thời Cơ Vàng của Đảng Ta” trên Vietnam.net năm 2009.

Friday, July 2, 2010

Trách nhiệm công dân và tinh thần Phan Châu Trinh

Trích Bauxit Vietnam


Hà Huy Sơn


Điều 51, HP 1992
:

“Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.


Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội.


Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định.”



Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:

  • Khai dân trí: bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ Quốc ngữ, kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục xa hoa.

  • Chấn dân khí: thức tỉnh tinh thần tự lực tự cường, mọi người giác ngộ được quyền lợi của mình, giải thoát được nọc độc chuyên chế.

  • Hậu dân sinh: phát triển kinh tế, cho dân khai hoang làm vườn, lập hội buôn, sản xuất hàng nội hóa...
Căn cứ Hiến pháp và tư tưởng của chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh, tôi một độc giả gắn bó với Bauxite Việt Nam muốn nhắn gửi các quí vị độc giả đôi lời.

Thời gian qua, những người chân chính quan tâm đến sự tình của đất nước đã mang ơn
Bauxite Việt Nam nhiều. Vì độc giả đã được đọc, được biết nhiều nhờ Bauxite Việt Nam. Nay chúng ta phải nghĩ đến nghĩa vụ của mình là viết cho chính mình và sau đó là viết cho người khác; không lẽ cứ đọc của người khác viết mãi sao.

Căn cứ vào Hiến pháp, Luật pháp để thực hiện quyền công dân. Công dân ở mỗi địa phương chưa thể lập ra 01 blog như
Bauxite Việt Nam, thì ít ra miền Trung, miền Nam, Huế, Sài Gòn, Cần Thơ… nên có 01 blog như Bauxite Việt Nam. Như vậy có làm cho chúng ta nhỏ đi, yếu đi không? câu trả lời là Không. Thế giới ngày nay là thế giới phẳng, mọi người kết nối theo mô hình mạng (net); cứ 01 máy điện thoại mới sẽ làm tăng giá trị của cho các máy điện thoại khác.

Blog địa phương sẽ có sức mạnh riêng, bởi nó gần gũi, kịp thời phản ánh những tích cực, những bức xúc tại chỗ mà vẫn kết nối được với cả nước. Tạo cho nhiều người có điều kiện được tham gia, đóng góp nhiều hơn, tích cực hơn… Một
Bauxite Việt Nam không thể truyền tải hết, truyền tải đủ nhu cầu của xã hội ở mọi nơi dễ làm mọi người dù nhận được thông tin phong phú đến bao nhiêu cũng thấy như chưa đủ, và cũng là để “giảm tải” cho các bác BVN. Hơn nữa, sự nghiệp này không phải trách nhiệm của riêng ai.

Mọi người hãy nhận chia sẻ phần việc chung. Với nguyên tắc tự nguyện, làm những việc từ dễ đến khó, thường xuyên và tự nhiên như hít thở hàng ngày. Ai cũng có thể tham gia, không căng thẳng, không mệt mỏi, không giấu diếm. Hạn chế ảnh hưởng đến kế sinh nhai, ảnh hưởng đến gia đình. Nhất cử, nhất động tuân theo pháp luật.


Lấy tinh thần Phan Châu Trinh làm tôn chỉ, có khác là thực hiện đồng thời Khai dân trí, Hưng dân trí, Chấn dân sinh.


Hà Nội, 30-6-2010


HHS

Thursday, July 1, 2010

Cs Lại Dùng Tôn Giáo

VI ANH . Việt Báo Thứ Tư, 6/30/2010,


Cùng gần như đồng thời có hai tin quốc tế như liên quan đến VN, hết sức đáng chú ý. Tin đầu là tin theo thông cáo chung của Vatican và Hà nội sau hai ngày hội đàm, Đức Giáo Hoàng lần đầu tiên trong lịch sử tương quan giữa Vatican và Hà Nội, sẽ cử “đặc phái viên không thường trú của Vatican về Việt Nam ..’’. Tin kế là tin phân tích của nhựt báo La Croix của Pháp ngày 26/06/2010 có một bài khá lạ, thay vì coi tôn giáo là thuốc phiện theo chủ nghĩa CS, nay TC đang nắm «Chính quyền Trung Quốc sử dụng các tôn giáo như công cụ kiểm soát » dân chúng và xã hội.
Một, theo bản tin của Đài RFI Pháp Quốc tế sau hai ngày 23 và 24/06 nhóm công tác hỗn hợp đã họp lần hai tại Vatican (lần đầu tại Hà nội hồi tháng 2 năm 2009) Tòa Thánh Vatican và Bộ Ngoại Giao của CS Hà nội đã chính thức công bố đồng thời một thông cáo chung. Câu áp chót của bản thông cáo chung là phần kết quả đáng lưu ý nhứt. Rằng hai bên “nhất trí” về việc Đức Giáo Hoàng sẽ bước đầu cử “đặc phái viên không thường trú của Vatican về Việt Nam nhằm tăng cường quan hệ giữa Vatican và Việt Nam cũng như quan hệ giữa Vatican và Giáo hội Công giáo Việt Nam’’.
Theo bản tin này, khi Linh Mục Federico Lombardi SJ, giám đốc thông tin báo chí của Tòa Thánh, việc “Đức Giáo Hoàng bổ nhiệm một đại diện không thường trú của Tòa Thánh cho Việt Nam là " một bước có ý nghĩa rất quan trọng" trong việc xây dựng các quan hệ hiện hữu.Tuy nhiên, phát ngôn viên Tòa Thánh đã tỏ vẻ thận trọng, cho rằng việc cử ‘’đại diện không thường trú’’ đặc trách Việt Nam không có nghĩa là quan hệ ngoạii giao toàn diện giữa hai bên đã được thiết lập. Ngoài ra, chức vị đó cũng không phải là chức "sứ thần" hay "khâm sứ thường trực" tại Việt Nam, cho dù nhân vật này sẽ do đích thân Đức Giáo Hoàng chính thức bổ nhiệm.Là chức sắc thường xuyên qua lại giữa Vatican và Việt Nam, nhân vật này, theo phát ngôn viên Tòa Thánh, sẽ đại diện một cách có hiệu quả cho Đức Giáo Hoàng trong các quan hệ với Việt Nam. Tuy nhiên vào lúc này, chưa có ai được đề nghị vào chức vụ đại diện không thường trú của Tòa Thánh.
Không phải là sứ thần, không phải là khâm mạng Toà Thánh, không thường trú tức không thường trực ở bên cạnh nhà cầm quyền CS Hà Nội, nhưng do đức Giáo Hoàng bổ nhiệm thì nói theo kiểu bình dân đại khái đó cũng như “ sĩ quan liên lạc” hay “ công cán ủy viên” của Đức Giáo Hoàng.
Nhưng có một điểm đáng chú ý về phía Công Giáo. Theo tinh thần thông cáo chung, đặc phái viên không thường trú này lo hai công cán cho Đức Giáo Hoàng. Một là của tăng cường quan hệ giữa Vatican và Việt Nam. Hai là quan hệ giữa Vatican và Giáo hội Công giáo Việt Nam’’. Liên từ cũng như đáng chú ý, đặc phái viên có thẩm quyền trong bang giao và trong nội bộ giáo hội. Nói cách khác đạc phái viênb có quyền có ý kiến trong các mâu thuẩn việc giải quyết mâu thuẩn giữa giáo hội vá nhà cầm quyền sở tại.
Và một điểm khác không nói ra nhưng tránh những Vatican không làm khó Hà nội. Vatican chỉ buớc đầu cử đặc phái viên không thường trú, nên Hà nội không cẩn trao trả toá khâm sứ lại mà giáo dân đang đòi. Vì theo thông lệ khi tái lập bang giao. Cơ sơ ngoại giao phải trả lại, như CS Hà nội trả lại Toà Đại sứ Mỹ ở Saigon, Mỹ sùng làm toà tổng lãnh sư.
Ráng chờ Đức Giáo Hoàng cử nhân vật nào thì có thể đoán biết làn sóng ngầm của cuộc thương lương bang giáo có thể nói quá lâu này mà thông cáo chung là bọt biển. Nhưng kinh nghiệm CS của người Việt cho biết cuộc đối thoại với CS là cả một vấn đề, CS có một ngàn lẻ một cách tránh né, phản bội cam kết. Cụ thể khi xin Mỹ gỡ CPC, Hà nội hứùa hẹn, cam kết cải thiện nhân quyền, sau khi Mỹ gở CPC, cấp PNTR, vào được WTO rồi, CS Hà nội mở nhiều chiến địch càn quét những tôn giáo dộc lập và những nhà dân chủ trong nước.
Hai, gần như đồng thời với thông cáo chung của Vatican và Hà nội, vào ngày 26/06/2010, theo RFI, nhựt báo La Croix của Pháp có một loạt bài về các tôn giáo tại Trung Quốc như bài «Phật giáo nở rộ tại Trung Quốc», «Tại Hàng Châu, các xứ đạo Tin Lành không ngớt người lui tới». Và một bài rất mới lạ đáng chú ý nhứt là bài « Chính quyền Trung Quốc sử dụng các tôn giáo như công cụ kiểm soát ».
Lạ là vì đây là một bài phỏng vấn, mà người trả lời giáo sư Lý Thiên Cương, một chuyên gia về lịch sử Công giáo tại đại học Phục Đán, Thượng Hải ở Trung Cộng. Theo nhà sử học tôn giáo ở TC này, TC bây giờ đã không còn theo quan điểm truyền thống của CS, của chính quyền Bắc Kinh khi xưa, không coi tôn giáo như một hoạt động mê tín dị đoan và lừa mị con người nữa. Trái lại Đảng Nhà Nước CS Bắc Kinh sử dụng các tôn giáo như các công cụ để kiểm soát xã hội nhằm bảo vệ một sự ổn định.
Thực ra nhận định của học giả này suy cho cùng kỳ lý cũng không có gì mới lạ. Đối vói CS, cứu cánh biện minh cho phương tiện. Con mèo trắng, con mèo đen, con nào bắt được chuột thì cứ xài, cũng tốt thôi, như Ông Đặng tiểu Bình nói. Từ lâu CS Trung Quốc và VN đã dàn dựng các giáo hội do nhà nước kiểm soát để lấy củi đậu nấu dậu, lấy đạo diệt đạo và dùng tôn giáo để kiếm soát xã hội rồi. Dân chúng biết quá rành nên gọi là “giáo hội quốc doanh”. Đó là chưa nói ngành an ninh nội nội chính đào tạo nhiều mật vụ giả dạng nhà tu vào lũng đoạn hay khống chế các tôn giáo độc lập.
Theo giáo sư Lý Thiên Cương, ở Trung Cộng có năm tôn giáo chính thức, đạo Phật, đạo Lão, đạo Hồi, đạo Tin Lành và đạo Công giáo, vẫn nằm dưới sự kiểm soát chính trị của Đảng Nhà Nước. Và Đảng Nhà Nước CS Bắc Kinh đã nhìn thấy mặt tích cực của các tôn giáo trong việc phục vụ xã hội nên trực tiếp giúp dỡ và yêu cầu các nhà lãnh đạo tôn giáo nên niềm nở và thu hút làm cho các tín đồ tin tưởng họ và đặc biệt là lắng nghe họ.
Trả lời câu hỏi của phóng viên báo La Croix, giáo sư Lý Thiên Cương cho biết các hoạt động của các tín đồ Công giáo hoạt động ngoài vòng pháp luật không không gây nguy hiểm cho chế độ. Mặc dù, số lượng những người này rất đông, nhưng chính quyền Bắc Kinh đã nắm được những người công giáo trên phương diện tôn giáo và vì vậy không coi họ như là những người đối lập. Ông Lý Thiên Cương cho biết, Giáo hội Công giáo có tổ chức rõ ràng và, trong con mắt của chế độ, những người Trung Quốc theo Công giáo rất có kỷ luật, hàng ngũ giáo hội ngầm tỏ ra tuân phục. Điều này hoàn toàn khác với đạo Tin Lành, vốn có tổ chức rất lỏng. Có hiện tượng đã biến thành phong trào những người Trung Quốc tự tập hợp tìm hiểu Kinh thánh với nhau trong các cộng đồng rất nhỏ của họ. Ông lo ngại người nghèo hướng đến Giáo hội, mà phủ nhận chính phủ, điều đó sẽ là nguồn gốc của các xung đột trong tương lai. Ông muốn chính quyền chú ý đến các hoạt động truyền giáo mới này, và mong muốn chính quyền quản lý các vấn đề mà ông gọi là «hoàn toàn mang tính nội bộ của Trung Quốc» để tránh sự ra đời của các phong trào cực đoan, có tính giáo phái, động chạm trực tiếp đến chế độ. Phát biểu của vị giáo sư này đã cho thấy Ông là một cán bộ tôn giáo vận cho Đảng Nhà Nước TC, nhiều hơn là một học giả. Và với người Việt Nam, hiện tượng Tin Lành ỡ TC là một hiện tượng đã biến thành phong trào ở VN gọi là Tin Lành tại gia, đang phát triễn ở Cao Nguyên Trung Phần VN, CS Hà nội rất lo ngại.

VI ANH

Wednesday, June 30, 2010

Việt Nam Airlines: Cùng non sông cất cánh

DCVOnlineTin DPA


Nhân viên phi cảng buôn lậu hàng điện tử


Hà Nội - Một nhân viên làm việc ở phi cảng quốc tế thành phố Hồ Chí Minh và đồng phạm của ông ta đã bị kết tội đưa lậu hàng điện tử trị gía hàng triệu đô-la cũng như tiền mặt vào Việt Nam trong tám năm qua, một viên chức nhà nước cho hay hôm qua thứ Ba ngày 29 tháng Sáu.

Nguyễn Đức Vũ, 35 tuổi, nhân viên của Trung tâm Kiểm soát Hoạt động phi trường Tân Sơn Nhất và Nguyễn Minh Hoàng, 47 tuổi, bị kết tội nhận hàng lậu và tiền mặt từ nhân viên của hãng Hàng không Việt Nam, phát ngôn viên của VN Airlines nói.

“Truyền thống Nguyễn Xuân Hiển”?
Nguồn: DCVOnline
Hai người này bị bắt hôm 16 tháng Sáu sau khi cảnh sát Úc bắt giam và thẩm vấn phi hành đoàn của một chiếc máy bay thuộc hãng Hàng không Việt Nam chuẩn bị bay ra khỏi Úc từ phi trường Sydney.

Cảnh sát cho hay và Vũ và Hoàng đã thừa nhận là có nhận và phân phối điện thoại cầm tay và laptops được đưa lậu về từ Úc trên những chuyến bay của hãng Hàng không Việt Nam cũng như chuyển lậu khoảng một triệu đô-la Úc, theo báo Lao Động.

Báo này cũng nói thêm là cảnh sát tin rằng ông Vũ và ông Hoàng làm việc cho hai nhân viên của hãng Hàng không Việt Nam có văn phòng nằm ở Úc. Kể từ tháng Tám năm 2002, đường dây buôn lậu này được tường thuật mang đồ lậu vào Việt Nam, hai hoặc ba lần một tuần sau khi hối lộ cho nhân viên quan thuế.

Tòa án Úc đã tuyên án hai phi công của hãng Hàng không Việt Nam vì tội buôn lậu trong hai năm 2007 và 2008.


© DCVOnline

Tuesday, June 29, 2010

Nhiều người ở Hà Nam vẫn sống như người ‘nguyên thủy’

Trích NguoiViet Online

HÀ NAM - Sống nguyên thủy ở xóm ‘5 không’ là tựa một bài báo của tờ Ðất Việt hôm 27 tháng 6, mô tả về cuộc sống của hơn 80 gia đình ở xóm 3, thôn Thanh Sơn, xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Nơi đây chỉ cách thành phố Phủ Lý chưa đến 15 cây số, nhưng có cuộc sống như người nguyên thủy.

Cuộc sống ‘nguyên thủy’ của 80 gia đình ở đây, theo lời tờ báo, là họ đang sống trong cảnh “không điện, không đường, không trường (học), không trạm (y tế) và không cả... nước sạch.”



Người dân ở đây chưa bao giờ biết sử dụng quạt bằng điện. (Hình: Ðất Việt)


Báo Ðất Việt mô tả thêm, “Xóm 3 vẫn âm u, leo lét ánh sáng của đèn dầu. Ăn cơm dưới ánh sáng đèn dầu, chăn lợn, nuôi gà cũng dùng đèn dầu... Ở đó, người dân vẫn không được sử dụng các đồ vật thiết yếu như tivi và họ hoàn toàn biệt lập so với thế giới bên ngoài.”

Tờ báo kể, “Những năm 1985 và 1986, hơn 200 hộ gia đình theo chủ trương của tỉnh Hà Nam đi lập vùng kinh tế nội địa và thành lập nên thôn Thanh Sơn ngày nay, với hy vọng có một cuộc sống tốt hơn, đầy đủ hơn vì khi đó, mỗi hộ được hỗ trợ tiền làm nhà và 3 sào vườn... Hiện, cả xóm có 2 chiếc tivi, nhưng những chiếc tivi này cũng chỉ để trưng bày cho sang vì không có điện.”

Báo này dẫn lời một cư dân tên Nguyễn Văn Thúy nói: “Nếu như có điện, việc quay sắn sẽ được thuận tiện hơn, bình thường quay bằng tay mất một ngày, nếu có điện chỉ khoảng một giờ, có điện chúng tôi còn có thể mở rộng sản xuất...”

Vẫn theo lời tờ báo, “Từ nhiều năm nay, việc kiểm tra thăm khám sức khỏe với người dân xóm 3 là điều xa xỉ. Cuộc sống nghèo túng cứ thế dần trôi, những lần đau ốm cũng qua theo những ‘đơn thuốc’ tự chế của người trong xóm. Thôn Thanh Sơn trước kia cũng có một trạm y tế nhưng giờ đây nó đổ nát chẳng khác gì... cái nhà hoang. Theo lãnh đạo xã Thanh Nghị, do thiếu kinh phí nên khu ‘đa khoa’ với 3 cán bộ y tế phải rút lui xuống miền xuôi.”

“Ở đây, một dự án nước sạch cũng đã được thực hiện, nhưng không đạt hiệu quả sau một thời gian ngắn sử dụng. Kết cục là giờ đây, người dân đang dùng nước mưa và nước suối. Mỗi một gia đình ở xóm 3 được chính quyền hỗ trợ một lu đựng nước mưa để phục vụ tất cả các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, tắm giặt...



Một người dân bên dòng suối phục vụ nhu cầu sinh hoạt của hơn 80 gia đình ở xóm 3. (Hình: Ðất Việt)



Mỗi khi nước mưa trong các lu cạn dần, người dân phải dùng xe bò đi kéo nước ở suối và bể chứa về dùng. Những gáo nước màu vàng, nổi váng vẫn hàng ngày được người dân đem về sử dụng.”

Anh Vũ Văn Thực nghẹn ngào nói: “Chiều đến, tôi lại kéo xe bò đi xa gần một cây số để lấy nước, đó là nguồn nước suối tự nhiên, phục vụ cho hơn 80 hộ dân tại đây. Nếu ai ra muộn thì đành chờ đến đêm cho nước suối chảy xuống”

Báo Ðất Việt kể thêm về chuyện học hành, “Vào xóm 3 có một điểm dễ nhận thấy nhất là cả xóm gần như không có lấy một em nhỏ, họ phải gửi con cách xa nhà để được học cái chữ, ‘đã nhiều lần đề nghị xã Thanh Sơn, thành lập một điểm trường ở xóm 3, nhưng quá lâu rồi, chúng tôi không còn tha thiết nữa’” anh Thực nói.

Cả thôn Thanh Sơn có 3 xóm thì xóm 3 là xóm rộng nhất, nằm sâu trong núi nhất và cũng là xóm khó khăn nhất. Trời mưa, con đường vào xóm 3 heo hút như đi vào chốn không người, trơn nhầy nhụa, có những đoạn đá nhô lên gập ghềnh xe máy không đi quen sẽ không đi được. Mưa thì trơn trượt, nắng thì bụi lùm, vậy mà bao năm nay người dân vẫn nhọc nhằn đi lại trên con đường này, mỗi khi trời mưa, người dân lại rủ nhau, một nhà đóng góp công để đi tu sửa lại đường sá.

Báo Ðất Việt dẫn lời ông Tính, một người dân xóm 3 nói: “Ở nơi đây, hình thức trao đổi hàng lấy hàng vẫn còn tồn tại và nó còn là hình thức chính để bà con có gạo ăn. Cứ gần 2 tấn sắn thì đổi được một tấn lúa. Nếu trời mưa lụt, đường đi khó, không có chủ nào vào trao đổi hàng thì chúng tôi phải mang sắn ra xóm ngoài để đổi thóc”.

Cuối cùng, theo lời bà Trần Thị Hằng, bí thư chi bộ thôn Thanh Sơn cho biết thêm, do việc quy hoạch, bố trí không hợp lý ngay từ đầu khi người dân mới vào lập vùng kinh tế nội địa nên giờ đây người dân xóm 3 còn đang gặp phải một “không” nữa là người chết không có đất chôn! Những người qua đời phải dùng xe bò, kéo đi xa gần 10 km để có thể có chỗ yên nghỉ hoặc phải đi chôn nhờ nơi khác.


Monday, June 28, 2010

Thư ngỏ gởi cô Nguyễn Thị Hoàng Bắc

Trích DCV Online
Mộc Lan



Thưa cô Hoàng Bắc

Em xin được tự giới thiệu mình là một fan âm thầm của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc. Có lần em mượn được trong thư viện quận tập truyện ngắn “Long Lanh Hạt Bụi”. Em đọc thấy thích hơn truyện của Phan Thị Vàng Anh dù trước đó em cũng rất thích những truyện ngắn lãng mạn của nhà văn này.

Về sau, mua được tập truyện “Bên Lở Bên Bồi”, tuy không thích bằng “Long Lanh Hạt Bụi” nhưng vẫn thấy hay lắm. Những mẩu chuyện đời thường nhưng được người viết ngắm nghía qua những góc cạnh khác lạ rồi kể lại với một giọng văn hài hước, dí dỏm, có khi trầm trầm xa vắng, cộng thêm với những nhận xét sắc sảo bất ngờ nên rất ngộ nghĩnh và lôi cuốn.

Nguyễn Thị Hoàng Bắc
Nguồn: vietnamlit.org
Nếu so thứ bậc có lẽ em còn là học trò của học trò của cô nữa kia, nhưng em vẫn chỉ là một người đọc như trăm ngàn người đã đọc văn của cô. Hôm nay, em viết lá thơ này cũng tại vì một bài cô viết đăng trên talawas, kể lại chuyến về thăm Việt Nam mới đây của cô, ký sự “Đến Rồi Đi”.

Đọc xong, suốt ngày em chẳng làm được việc gì ra hồn (tội nghiệp công ty bị em ăn gian tiền lương) và em thấy mình phải viết là thơ này đây, nó chắc sẽ làm cô không vui đâu, nên ngay lúc này đây cô có thể bấm tắt đừng đọc tiếp nữa.

“Đến Rồi Đi” bắt đầu bằng chuyện cô thấy cần sửa giọng để có thể hòa đồng với những người chung quanh. Tiếc thay, thiện ý đó không được khéo nên bạn đọc Hòa Nguyễn có nhận xét, “Bà Hoàng Bắc cười cợt về cách phát âm của người khác hơi… quá nhiều.”

Buôn dưa lê với cháu nái xe một hồi thì biết cháu quê ở Quảng Linh, trước nái xe tải, bây giờ thì chuyển qua nái taxi,

Và thế nghĩa rằng thì là… tôi đang hiểu và biết nói được đến… hai thứ tiếng Việt! Ba mẹ tôi là người Trung, tất nhiên tôi sẽ dễ dàng hạ sang tone nặng trịch, rứa là tui nọi được tợi ba thự tiệng Việt rồi đó nghẹ. Thời buổi toàn cầu hoá, khuynh hướng nổi bật hiện nay là mỗi người nên tự trang bị cho mình ít nhất là hai sinh ngữ, bilingual, cho nó văn minh văn hoá, tôi thấy yên chí lớn, vì với khả năng nghe và nói tiếng Việt vừa rồi, tôi đã là multilingual rồi còn gì.

Hồi nhỏ có lần em cũng nhại giọng nói miền này miền kia cũng chỉ đùa vui thôi, nhưng người lớn trong nhà bảo “Đừng làm thế, chửi cha không bằng pha tiếng”, từ đó hết dám! Nếu có nói cũng chỉ vài chữ ngắn rất thường như: ní nuận (để chỉ việc thích cãi cho những điều vô lý), hay, cũng rứa (cũng vậy), cái nớ (cái đó)... Chị dâu em, người miền Nam, ưa nói câu này: “Hổng dzè (không vè xe đạp) hả, hổng dzè thì bùng (bùn) dzăng (văng) đầy đầu!”

Cô Hoàng Bắc ơi! Em thật rất ngỡ ngàng khi thấy tác giả của những truyện ngắn với những câu văn nhẹ nhàng tinh tế ngày nào nay phải cần tới kỹ thuật chọc cười thường thấy ở những màn tấu hài rẻ tiền. Thật là buồn quá!

Nhưng thôi, cái nớ cũng chỉ là chuyện son phấn như bọn con gái chúng mình xanh xanh đo đỏ cho vui, cũng không quá quan trọng. Cô cứ coi em nhỏ này khó tính như bà già dzị đó.

Nhưng cái điều làm em buồn hơn là cô chê báo chí bên này mở ra chỉ toàn (ba cái thứ) sát cộng, diệt cộng…

Như trưa nay khi về lại Mỹ, đi ăn trưa với vài người bạn tôi nhặt được trong mấy tờ báo tiếng Việt địa phương ở đây sử dụng, cũng vẫn cái luận đề sát cộng, diệt cộng năm mươi năm trước sặc mùi máu, mà máu của ai đây mới được chứ, máu đã đổ thành sông thành biển, tám mươi tám triệu người trong nước không ai đọc, không ai viết, không ai suy nghĩ, không ai chia sẻ những gì như ghetto người Việt ở đây viết dai, nói dài, đọc dở. Chúng ta đang tự đóng cửa rút cầu, tự cô lập, tự xa lạ mình với tổ quốc, đất nước gốc, với đồng bào ta để làm gì vậy?

Cô ơi, em đang ở Maryland, nghĩa là hàng xóm của cô đó. Maryland cũng đâu nhỏ nhít gì, người Việt cũng đông chứ, vậy mà phải đọc ké báo Virginia hoài: Phố Nhỏ, Thủ Đô Thời Báo, Thời Mới Phụ Nữ Mới, Việt Mỹ Magazine, Hoa Thịnh Đốn, chưa kể những báo có cơ sở nơi khác như VietTide, Sài Gòn Nhỏ, Trẻ, Thời Báo...

Những báo đó đa số sống bằng tiền quảng cáo, nên bài viết một phần ba là tin tức thời sự, một phần ba là truyện tình cảm, kiến thức phổ thông, vui cười... còn lại là quảng cáo. Báo chí như thế sao có thể “sặc mùi máu” được cô ơi. Mà các tin thời sự trên đó phần nhiều cũng lấy từ TuoitreOnline, Dân Trí, VietnamNet, hay RFA, BBC... chớ đâu xa lạ gì, mà cũng không thể đăng hết tất cả mọi sự thật đang diễn ra ở Việt Nam. Em thấy mình phải đọc báo trong nước, blogger trong nước, nhà văn trong nước mới thấy người ta “chửi cộng” ghê gớm tới mức nào.

Em được biết ngày xưa cha ông mình khắc trên cánh tay hai chữ “Sát Thát” khi ra trận diệt bọn Tàu xâm lược. Còn bây giờ, vài bài báo đăng lại các tin xập cầu Cần Thơ, xã hội đen tấn công tăng ni Bát Nhã, người dân nổi giận đốt xe công an, v.v... thì có chặt, có chém, có giết được ai. Vậy mà cô nỡ nói là sặc mùi diệt cộng, em thật không hiểu nổi.

Mà em xin hỏi cô, cái nhà nước cộng sản hiện nay dùng công an giả dạng côn đồ để đàn áp dân, dùng những tòa án kangaroo để bỏ tù dân không xét xử, làm ra những pháp lệnh cấm mọi quyền tự do của dân, uốn mình dưới gót Tàu cộng để thống trị dân … thì mình nên gọi là như thế nào. Có thể gọi họ là “sát dân, diệt dân” được không, cô ơi?

Nhưng mà như vầy, tuần nào em cũng mua cho mẹ em 5 đồng tiền báo. Bà đọc hết (bà đã 80) nhưng không nói gì, chỉ lâu lâu dặn, “Này, đừng mua đồ (làm từ) Việt Nam nữa, độc lắm.” Không biết như mẹ em thì có bị gọi là “đóng cửa rút cầu, tự cô lập, tự xa lạ mình với tổ quốc, đất nước gốc, với đồng bào ta” không cô? Bởi Việt Nam bây giờ chỉ mong sao bán được đồ qua Mỹ thôi. Dù sao cũng nên thông cảm cho mẹ em, cô cũng là một người mẹ, cũng đâu muốn con mình bị gì đâu.

Nhưng cái điều làm em sốc nhất chưa phải là mấy chuyện vừa nói, cái làm em sững sờ đến mức không muốn tin vào mắt mình là những dòng chữ cô viết về Hồ Chí Minh. Em cảm thấy rất sốc và... ớn lạnh.


“Bác Hồ mình đẹp trai…” - NTHB
Nguồn: OntheNet

Đi city tour thì tất nhiên phải có đi thăm Lăng Bác, vào thăm lăng bác âm u, các chị bộ đội dở mu ra chào, trời nắng, tôi không phải bộ đội nhưng chưa kịp dở nón nên bị anh cảnh vệ dữ dằn lừ mắt phất tay ra hiệu. Tôi thấy Bác nằm nghiêm trang, hồn hậu, đèn mờ nên mặt như mặt sáp, sau này vào xem ông Mao ở Trung Quốc cũng thấy không biết đâu là thật đâu là giả, nhưng nói chung, Bác Hồ mình đẹp trai hơn Bác Mao, theo tôi. Khu nhà ở của Bác nguy nga bát ngát, người tour guide nói tiếng Anh giới thiệu đây là nhà cũ của French Ambassador, một tên Tây trong đoàn xì xào, dạo đó Việt Nam là thuộc địa của Pháp thì làm sao có đại sứ?

Cô ơi! Đến như những vua Pharaon Ai Cập ngày xưa dù ướp xác cũng được chôn đi, chẳng có thời đại nào xác lãnh tụ cứ được giữ tươi và để khơi khơi ra ngoài trừ chế độ cộng sản. Em thấy chỉ có một trường hợp xác chết không đem chôn mà giữ lại là bá tước Dracula thôi. Chỉ nghĩ tới thôi cũng đủ nổi gai ốc cùng mình, vậy mà cô không sợ thì gan thiệt. Lại còn khen xác… đẹp giai.

Nhưng đến khi em coi lại những bài cô viết trước kia, mới thấy cô thường nghĩ tới Bác lắm cơ. Trong đoản văn “Nghỉ hè” (2009), cô viết:

Tôi sinh ở Thị Nghè Gia Định, ngày 14 tháng 3. Ngày đó Pháp còn lai rai ở Sài-gòn cho đến hiệp định Genève 1954. Ngày đó, Sài-gòn còn tên là Saigon hay Sè-goòng trước khi đổi là HoChiMinhgrad. Về mục này thì ông Hồ bằng ông Lenin, Stalin, Sihanook, và hơn ông Mao. Hiện nay thì Leningrad đã trở về với tên cũ St Petersburg, Stalingrad giờ là Volvograd, Sihanookville vẫn vậy, ông Hồ ăn điểm được hai ông. Nhưng Lenin, Mao và Hồ hơn Stalin vì xác ướp Stalin đem chôn rồi mà xác ba ông này còn nằm trong tủ đá. Đong qua đếm lại một hồi, quá mệt, thì bác mình được cả hai, vừa thành phố vừa tủ lạnh, nhất thế giới. Ông Lenin ở nước Nga, mà sao lại đứng vườn hoa nước mình, nghe nói Hồ cũng cạnh tranh vượt chỉ tiêu qua mặt đàn anh luôn vì hiện ông có đứng ở Cuba nữa cơ.
Em đọc, muốn té xỉu, “bác mình” là bác của ai thưa cô Hoàng Bắc. Cô đùa kiểu này thì em thua! Mà sao cô không so sánh luôn giữa 4 người họ: Lênin, Stalin, Mao, Hồ - ai “vượt chỉ tiêu”, qua mặt ai về vụ giết hại, đày ải, giam cầm nhiều người nhất. Chắc cô chưa đến thăm đài Tưởng niệm các Nạn nhân Cộng sản ở Washington D.C., có hơn 1 trăm triệu người đã chết, còn con số những người bị giam cầm, đến nay vẫn còn chưa tính được là bao nhiêu.

(Mà hỏi thiệt nha, cô muốn được gọi là “người Sài Gòn” hay “người Hồ Chí Minh” đây?)

Nhưng có lẽ cô cũng có lý riêng khi nói tới ông Hồ bằng cái kiểu đùa cợt vui vẻ như thế vì đối với cô ông Hồ là một người khả kính, thậm chí đáng thương nữa kia.

Cụ già xứ Nghệ sống thanh đạm và có vẻ lặng lẽ, tủ sách nhỏ, vài quyển sách cũ đã tróc gáy, sờn bìa, thậm chí mất cả bìa, giấy ố vàng rất giống mấy quyển sách của ông già tôi khi ông về hưu; vườn hoa, ao cá, nhà sàn, khu vườn mênh mông, nếu hồi ký sách vở của vài nhân vật thân cận Bác nói đúng thì những năm cuối đời không được các đồng chí cho tham gia việc nước, suốt ngày cứ ra vào vỗ tay nói chuyện với cá không biết nói chỉ biết đớp mồi, ông cụ sống cô tịch lặng lẽ mà lại không được la đà tiêu dao thoải mái rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp, gót sen theo đủng đỉnh một đôi dì, vừa hé ra một dì Xuân gì đấy đã bị Bộ Chính trị tàn sát ngay, tôi thấy tội nghiệp Bác, sống thế có khác gì Bác đang bị cầm tù… Tuổi già của mọi người, dù là của một người thông minh kiệt xuất như ông cũng không hơn gì bọn dân ngu như tôi, rồi mình sẽ có chuyện để tự an ủi nếu lỡ có buồn khi về hưu bị ngồi một mình…

Cô Hoàng Bắc ơi! Tình cảm của cô, suy nghĩ của cô... em không dám nói dzô nói ra gì đâu. Em chỉ thắc mắc một điều rằng nếu ông già xứ Nghệ đó thật hiền hòa, vô hại như thế sao cứ ai trong nước muốn tìm hiểu về ông ta thì bị lãnh búa vào đầu?

Đó đó, mới vừa rồi đây thôi, cô giáo Bích Hạnh chỉ khuyên các học sinh nên cẩn thận với thông tin trên mạng vì gần đây cô ấy thấy có bài viết của tác giả Lê Hữu Mục nói rằng Nhật Ký Trong tù không phải của Bác Hồ. Chỉ có vậy mà “người ta” cũng đuổi cô ấy ra khỏi trường.

Họ sợ cái gì vậy? Sợ những thông tin “ngoài luồng” sẽ nói xấu ông Hồ a? Sách khen ông Hồ đâu ít đâu, trước tiên là có “Sự nghiệp và cuộc đời hoạt động của HCM” của Trần Zân Tiên; các tác giả Tây Mỹ khen ông ta cũng đâu ít, trong quyển “Hồ Chí Minh - Nhận định Tổng hợp” Minh võ có ghi kỹ lưỡng từng người đó mà. Chèng đéc ơi, ông Hồ là thánh sống, được thờ cúng trong nhà, ngoài đình chùa miếu đủ thứ. Rứa thì lo cái gì. Sao không để cho lớp trẻ tự do tìm hiểu về ông Hồ, bưng bít làm chi cho mệt.

Rồi cô còn trách sao có người cứ gọi ông Hồ bằng những danh từ nghe kỳ cục quá:

Nhưng đến Hà Nội thì tôi thấy cái gì là cội nguồn, cái gì là lịch sử, và cái gì là các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải ra công giữ nước. Khi lên biên giới đến xem Hữu Nghị Quan thấy cột mốc biên giới quả có bị lùi lại thật, quả các đồng chí công an Trung Quốc có dương oai diệu võ thật, người nói câu nói trên dù có là ai đi nữa cũng không thể bị/được gọi bằng những từ xỏ xiên như già hồ, cáo hồ, giặc hồ, con hoang của Hồ Sĩ Tạo…

Cô ơi, ông Hồ mà có bị mắng chửi thì cũng tại là do các “cháu” của ông ta thôi, vì bây giờ ai cũng biết các “đồng chí công an Trung Quốc diễu võ dương oai” được cũng chính vì “bác cháu ta” đã đồng lòng làm tay sai và dâng đất dâng biển để họ có được cái ghế cao ngày nay.

Từ lúc còn nhỏ, em đã được dạy rằng nếu không muốn người ta phiền hà ba má mình thì con nít không được làm chuyện bậy bạ. Còn bây giờ, những người tự xưng là “cháu của Bác” kia một mặt cứ nói hoài về cái- gọi-là Đạo-đức-Hồ-Chí-Minh, nhưng mặt khác lại hành xử như côn đồ, bạo chúa, thì người ta mắng “Bác của cháu” cũng đâu có oan. Nếu người cháu, người con nào biết thương, biết quý bác mình, cha mình, thì chẳng bao giờ làm ra những chuyện bậy bạ đâu. Vậy thì Bác có bị chửi này nọ cũng là lỗi của chính các “cháu” thôi. Cô là người mẹ, chắc cô đâu muốn con mình làm điều xấu để người ta chửi cha chửi mẹ chúng. Em nói vậy có đúng không cô?

Thưa cô Hoàng Bắc,

Thành thực mà nói, em phải công nhận văn cô viết vẫn còn có nét lắm, vẫn đậm đà “trào và tự trào”. Văn cô ăn đứt mấy ông Nguyễn Hữu Liêm, Nguyễn Khoa Thái Anh gì gì kia. Thế nhưng, đó chỉ là bề ngoài, còn bề trong thì... Nếu trước kia “Long lanh hạt bụi”, “Bên lở bên bồi”, đã nở bông hoa xinh đẹp trong em thì “Đến rồi đi” lại như một đám ruồi nhặng, ở đâu chợt kéo đến, bu đen, rút rỉa, cắn xé. Chúng đến rồi đi, để lại sau lưng một đống xám xì bầm dập.

Thưa cô Hoàng Bắc,

Cô còn nhớ không những gì cô viết, đăng trên Hợp Lưu, và được tác giả Nguyễn Văn Lục trân trọng ghi lại:

“Khi mới bắt đầu cầm bút, tôi thường dựa vào những chuyện riêng tư của mình, của đời sống hằng ngày mà mình quan sát được, đem nó vào văn chương, vào mục đích muốn giải bầy một điều gì đó, một quan niệm sống, một chia sẻ nỗi đau với người đồng cảnh, một lời tâm sự, một nỗi đau lòng, một mối thiết tha...”

Cô ơi, người dân mình đã đau khổ quá rồi, ai cũng muốn được sống yên, sống vui. Nhưng rồi cũng chẳng được yên, nói chi đến vui. Đất nước, tình người, dân trí… cứ sạt lở từng vạt từng mảng để bồi đắp cho túi ai đó thêm to thêm đầy. Đúng là “Bên lở - Bên bồi”.

Cũng muốn kể với cô, từ lúc cô không viết nữa, em lại kiếm được truyện của những nhà văn nữ khác, Nguyễn Ngọc Tư nổi tiếng khỏi nói ha, nhưng còn có những tay bút khác cũng có nét lắm như Phong Diệp, Trang Hạ, Trần Thùy Mai, Trần Thu Trang...


Em … muốn giải bày một điều gì đó… (chỉ là minh hoạ)
Nguồn: OntheNet
Có cái vui là dường như ngày càng nhiều những người viết trẻ đầy nhiệt huyết và tài năng như thế. Nếu như cái bên “Nguyễn Thị Hoàng Bắc” ngày kia bỗng nhưng sạt lở mất, thì bên đám đó như dải đất mới cứ được bồi đắp thêm hoài. Cũng là “Bên lở - Bên bồi”.

Thưa cô Hoàng Bắc,

Nếu như cô đọc đến hàng chữ cuối cùng này, em rất cám ơn. Đừng trách tại sao em đã nói cho mọi người nghe suy nghĩ riêng tư của em đối với cô, cô nhé. Bởi vì em cũng như cô, cũng có những điều ấm ức trong lòng, và cũng chỉ muốn giải bày một điều gì đó…

Trân trọng.



© DCVOnline

Sunday, June 27, 2010

Nguyễn Thanh Ty: Gần bắn xa đâm!

Trích NguoiViet Boston
Phép trị nước từ thưở thanh bình, vua Nghiêu, vua Thuấn dùng âm nhạc để dạy dân. Đời sống nhân dân rất an bình, hiền hòa, ai nấy đều chăm lo cầy cấy, luôn hạnh phúc trong câu ca tiếng hát.

Đó là thuật chăn dân bằng nhạc gọi là Nhạc trị của bậc Đế. Gọi là Đế đạo.
Đến đời vua Vũ, vua Thang nhân tính có phần biến đổi, chán nghe âm nhạc, mãi mê săn bắn, thích giết thú lấy thịt để ăn hơn là chăm việc ruộng đồng. Tính tình trở nên hung hăng. Xã hội có phần rối loạn. Để thuần hóa lại nhân tính, hai vị vua này đặt ra Lễ, Nghi để dạy dân biết ôn nhu, kính trên nhường dưới, trên thuận dưới hòa, vãn hồi trật tự xã hội.
Đó là thuật vỗ về, chăn dân bằng Lễ gọi là Lễ trị của bậc Vương. Gọi là Vương đạo.
Đến thời nhà Chu, khoảng 390 TCN (trước Công Nguyên) thiên hạ đại loạn. Nước Tàu chia ra thành mười mấy nước nước lớn, nhỏ đua nhau tranh hùng, xưng bá, chém giết nhau liên miên, bất tận để cướp đất đai, của cải lẫn nhau. Ai mạnh thì được. Ai yếu thì bị diệt vong. Đế đạo, vương đạo không còn hiệu lực để vỗ yên trăm họ được nữa.
Lúc ấy, có một người nước Vệ, tài cao, túc trí đa mưu, tên là Công tôn Ưởng, sau đổi thành Vệ Ưởng, đề xuất ra một học thuật mới gọi là Bá đạo, giúp vua Tần Hiếu công, chấn hưng đất nước, lập nên nghiệp bá.
Thoạt đầu Tần Hiếu công không hiểu Bá thuật là gì. Ưởng giải thích:
-Bá thuật khác với Đế thuật và Vương thuật. Đế thuật, Vương thuật thì cốt thuận dân tình. Bá thuật tất phải trái dân tình mới được.
Tần Hiếu công lấy làm lạ, biến sắc mặt hỏi:
-Bá thuật cứ phải trái với dân tình mới được sao?
Ưởng nói:
-Đàn cầm, đàn sắt nghe không êm ái thì phải thay dây, gióng lại. Chính trị cũng thế. Không chỉnh, đổi lại, không được. Ngày xưa Quản Trọng giúp Tề Hoàn công đặt ra phép nội chính và phép quân lệnh, chia nước Tề thành 25 hướng, đổi hết pháp luật nước Tề, đâu có phải bọn tiểu dân vui lòng mà theo! Đến khi nước cường thịnh, thì dân mới biết Quản Trọng là bậc kỳ tài trong thiên hạ. (Bá thuật rất ép phê, mạnh và mau. Giống như công an bây giờ, sáng ra đứng đường thâu tiền mãi lộ. Chiều về rượu thịt ê hề, gái gú tươi mát phủ phê)
Tần Hiếu công nghe ra, mừng lắm, bèn phong ngay cho Vệ Ưởng chức thừa tướng, được toàn quyền định đoạt. Ai trái lệnh sẽ bị xử.
Vệ Ưởng liền soạn thảo “Pháp lệnh thất điều”. (Sử gọi đó là Biến pháp của Vệ Ưởng) Vệ Ưởng chưa dám tuyên bố vì sợ dân chúng không theo, bèn nghĩ ra một cách:
Ông cho dựng ở cửa Đông một cây cột mà ai cũng đủ sức vác, rồi cho lính rao:
-Ai mang cây cột này sang đặt ở cửa Bắc sẽ được thưởng 10 lạng vàng.
Mọi người đều nghi ngờ, vì nghĩ mình vác nó dễ dàng, chỉ sợ quan trên đánh lừa, nên không ai dám vác. Vệ Ưởng thấy vậy bèn tăng thưởng lên 50 lạng vàng. Có một kẻ nghèo liều mạng đến vác cây cột ra cửa Bắc. Người bu theo coi rất đông. Lập tức Vệ Ưởng thưởng 50 lạng vàng mà không có điều kiện gì. Ai nấy đều khen:
-Quan trên biết giữ lời!
Hôm sau, Vệ Ưởng lập tức tuyên bố “Biến pháp thất điều”. Bảy điều rất khắc nghiệt, cả Thái tử cũng phàn nàn:
-Thật là rắc rối cho thứ pháp luật này!
Hàng ngàn người tỏ ý tán đồng theo Thái tử đều bị trị tội. Vì Thái tử sau này nối ngôi nên không thể bắt tội. Thầy dậy học Thái tử là hai vị hoàng thân đều phải bị thích chữ vào mặt để trị tội thay. Ai nấy đều sợ hãi, tuân hành răm rắp.
Trong “Biến pháp thất điều”, điều thứ 7 là khắc nghiệt hơn cả.
Điều thứ 7- Cấm gian: Cứ năm nhà là một bảo, có bảo trưởng coi ngó. Mười nhà là một liên, có liên trưởng quán xuyến. Nếu một nhà có lỗi, chỉ cần một trong chín nhà không tố thì cả mười nhà đều bị chém. Ai tố cáo được một chuyện gian coi như chém được một đầu giặc.Chứa người có tội hoặc không có giấy tờ thì gia sản bị tịch biên hoặc tùy theo nặng nhẹ mà xử phạt.

Pháp lệnh thi hành trong 10 năm, dân Tần sống có nề nếp trật tự, ngoài đường không ai nhặt của rơi, trong xóm không có người gây gỗ, ẩu đã, trong núi không có trộm cướp. Nước Tần trở nên hùng mạnh. Các nước xung quanh đều tự đến xin thần phục.
Triệu Lương là người cùng thời với Vệ Ưởng, từng đến gặp và khuyên Ưởng nên từ quan bỏ đất (Ưởng được phong 15 ấp ở đất U, đất Thương, phong hiệu là Thương Quân nên gọi là Thương Ưởng) mới giữ nỗi mạng do pháp chế của ông quá nặng, lại có quá nhiều người oán ông. Ưởng không nghe vẫn làm quan. Sau khi Tần Hiếu công mất, Thái tử lên ngôi, tức Tần Huệ vương, lập tức ra lệnh bắt Ưởng, vu cho tội phản nghịch. Ưởng bỏ trốn nhưng không có giấy “Hộ khẩu” nên không ai dám chứa. Ưởng bị bắt và bị hành hình phân thây giữa chợ bởi năm con trâu. Trăm họ xúm lại tranh nhau ăn thịt, chỉ một lúc là hết.
Pháp lệnh và hình phạt này do Ưởng đặt ra và bây giờ Ưởng rước lấy. Gieo nhân gặt quả.
Đến đời Tần Thủy Hoàng, 259 TCN- 210 TCN, vị vua đầu tiên tóm thâu sáu nước chư hầu, thống nhất nước Tàu rộng lớn, đặt nền cai trị chính sách rất hà khắc, tàn bạo.
Chính sách này do thừa tướng Lý Tư đặt ra.
Năm 213 TCN, theo đề nghị của Lý Tư, Thủy Hoàng ra lệnh đốt sách và chôn nho: đốt hết các bản Tứ thư, Ngũ kinh và bách gia chư tử trong dân gian, chỉ giữ lại một bản tàng trữ trong thư viện của triều đình. Các bộ sử của lục quốc cũng phải đốt hêt, chỉ được giữ những sách về kỹ thuật, như sách thuốc, sách trồng trọt, sách bói… Kẻ nào không tuân lệnh mà lén lút giữ thì bị kết tội là phản quốc. Có người phải giấu sách vào trong tư tưởng, có người lại ráng học thuộc lòng thư và kinh để truyền miệng lại đời sau. Số nhà nho bị chôn sống ở Hàm Dương là 460 người. Sau mỗi ngày một đông, đều bị đày ra ngoài biển.Các trường tư bị dẹp hết. Dân muốn học thì phải học các quan (bác sĩ) của triều đình, mà chỉ được dạy cho mỗi môn là pháp luật của quốc gia.(Wikipedia)

(Sau tháng 4 năm 1975, Cộng sản Bắc Việt Nam cưỡng chiếm miền Nam xong cũng thi hành chính sách “Đốt sách, chôn học trò” như đời Tần, nhưng tinh vi hơn. Thay vì đi xây Vạn lý Trường thành, Cộng sản bắt giam cả triệu quân, cán, chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa vào rừng sâu, nước độc, bắt lao động khổ sai để làm ra của cải vật chất cho Đảng, lại bị bỏ đói, hoặc cho ăn rất ít để tù nhân kiệt sức, bị bệnh tật rồi chết dần, chết mòn.)

Tần Thủy Hoàng theo Pháp gia nên khuyến khích binh, nông, ghét công, thương. Muốn nắm hết mối lợi thương nghiệp, triều đình đày hết phú thương có những xưởng sản xuất sắt lại miền Thiểm Tây và miền Tứ Xuyên. Hai trăm ngàn gia đình phú thương, tiểu thương bị đày tại xứ Thục và miền An Dương (phía nam Lạc Dương ngày nay), hẳn là để làm ruộng.
Nông dân được ưu đãi. Đất không còn là sở hữu của nhà vua nữa, mà của người làm ruộng. Người chủ ruộng có quyển bán ruộng và ai cũng có quyền mua. Chế độ đó gọi là danh điền, tạo nên một giới địa chủ có những cơ sở rất lớn, dần dần thành một giai cấp có quyền hành tương tự như các chư hầu nhỏ thời trước.
(Cộng sản Việt Nam rập khuôn chính sách của Tần, nhưng tham và ác hơn Tần. Đảng diệt trừ công, thương xong, cướp luôn ruộng đất của nông dân mà ban đầu phỉnh gạt họ đứng lên “cướp chính quyền” nói là để lấy lại đất ruộng của địa chủ, phân chia cho nông dân. Nhưng khi cướp được rồi thì Đảng một tay thâu tóm quản lý)
Bạo chúa Tần Thủy Hoàng cũng chỉ ngồi được trên ngài vàng gần 40 năm rồi mất. Nước Tần lại bị suy vi. Bia đời sử sách chỉ còn ghi lại tiếng xấu:
“Tần Thủy Hoàng là một bạo chúa. Trong gần 40 năm ngồi trên ngai vàng, ông có nhiều hành động được cho là tội ác, đó là: Xây Vạn Lý Trường Thành, xây cung Lương Sơn , xây cung A Phòng, đốt sách, chôn học trò và xây lăng mộ cho riêng mình”.

Đến giữa thế kỷ thứ 19, năm 1848, có một du thuyết ở Vương quốc Phổ, thuộc Tây phương, tên Các Mác, là một lão râu xồm, trán hói, mắt cú, mũi diều hâu, nhiều tham vọng, xướng lên một học thuyết mới gọi là “Trường phái Mác Xít”. Phái này lấy “Đấu tranh giai cấp” để chống lại triều đình mà ông ta gọi là “chế độ tư bản” bóc lột giới công, nông. Mác hô hào lập ra “giai cấp vô sản công nghiệp”, làm sức mạnh để đi cướp chính quyền.
Các Mác là một du thuyết “bàng môn tả đạo”, giỏi dùng thuật ngữ xảo ngôn để lừa bịp giới công, nông ít học. Những lời lẽ trong bản “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” của ông ta cho rằng: “Lịch sử của tất cả các xã hội từ trước tới nay là lịch sử của “đấu tranh giai cấp” là một thứ xảo biện. Thật ra nó chỉ là “lợi dụng, tập hợp đám dân nghèo lại để đi cướp chính quyền”.
Mác còn chủ trương tam vô: vô thần, vô gia đình, vô tổ quốc. Mác gọi là thế giới đại đồng. Của cải tập trung vào tay một nhóm người, gọi là cộng sản.
Tư tưởng của Mác là chủ nghĩa duy vật biện chứng. Mác cho rằng, con người có thể quyết định vật chất qua việc sản xuất và con người cũng chỉ là một cổ máy sản xuất ra vật chất.
Cuối tháng 11/1842, Mác gặp Ph. Ăng Ghen người nước Đức, đang trên đường sang Anh, cũng là một du thuyết loại “bàng môn tả đạo”, có nhiều ý tưởng kỳ quái, lạ đời như Mác. Hai người trở nên bạn cùng chung lý tưởng và quan điểm trong tất cả mọi vấn đề lý luận và thực tiễn.
Mác bị Chính phủ Pháp trục xuất theo lời yêu cầu của Vương quốc Phổ, phải sang sống ở Bỉ. Năm 1848, cách mạng Pháp nổ ra, Chính phủ Bỉ lại trục xuất Mác. Mác cùng Ăng Ghen về Phổ thành lập tờ Nhật báo tỉnh Ranh để tiếp tục kêu gọi giới công, nông nổi loạn. Năm 1849, Chính phủ Phổ đóng cửa tờ báo và trục xuất Các Mác. Mác phải đi Luân Đôn sống ở đó đến cuối đời. Mác qua đời ngày 14 tháng Ba năm 1833.
Suốt đời Mác bị các nước xua đuổi, phải sống thang lang từ nước này sang nước khác, không thi thố được học thuyết của mình.
Chủ nghĩa Mác-Lê lại được Lênin ở Nga vận dụng tạo ra cuộc cách mạng giải phóng lớp công nhân thợ thuyền bị bóc lột và các dân tộc nhược tiểu bị áp bức. Lênin tổ chức Đảng Cộng sản Liên xô, tập hợp hầu hết giới thợ thuyền để thành lực lượng liều mạng đi cướp chính quyền.
Cung điện Mùa Đông Kremllin bị tấn công đêm 24 rạng 25 tháng 10. Lénin chiến thắng vào ngày 07 tháng 11, tuyên bố lập trật tự xã hội bằng sự tàn sát cũng như đày ải những ai không theo chủ nghĩa cộng sản. Vô thần và duy vật bắt đầu gieo rắc đau khổ cho nhân loại kể từ ngày 07-1-1917.
Lênin là người có dòng máu lai từ thời tổ tiên. Là người Nga nhưng ông ta có dòng máu của người Kalmyk qua ông nội, của người Đức Volga qua bà ngoại và của người Do Thái qua ông ngoại nên bản tính rất hung ác, giết người không ghê tay hay chớp mắt. Hồ Chí Minh rất tương đồng với Lênin chính ở điểm này nên lúc sinh thời, suy tôn Lênin như một ông thánh và cho lập tượng thờ ở Hà Nội. Nhưng người dân Hà Nội không biết Lênin là ai, mới có câu vè:
Lênin ông ở nước Nga,
Cớ sao ông đến vườn hoa nước này?
Ông ngửng mặt, ông chỉ tay,
Chủ nghĩa xã hội nước này còn lâu!
Lênin mất vào tháng 1 năm 1924.

Giới thân cận Lênin nói ông đã phải chịu đựng ba cơn đột quỵ liên tục để cuối cùng dẫn đến cái chết của ông. Nhưng chứng cứ mới được phát hiện cho thấy Lênin qua đời vì đã tửu sắc, dâm dục quá độ, chết vì căn bệnh lây truyền qua đường tình dục: giang mai…
Sau khi Lênin chết, Xít Ta Lin lên nắm quyền bính. Bản tính Xít Ta Lin còn hung tợn hơn cả Lênin, người dân Nga lúc bấy giờ xem y như là một con quĩ dữ, chuyên ăn uống máu người.
Trong những năm sau đó, hàng triệu người đã chết trong các cuộc thanh trừng tập thể và hàng triệu người khác đã chết vì đói và trong chiến dịch tập thể hóa nông nghiệp. Những cuộc bắt bớ tùy tiện và vụ di dân cưỡng bách các nhóm dân thiểu số đi đến những vùng xa xôi của Liên Bang Xô Viết làm xáo trộn đến tận gốc đời sống của nhiều người.
Thời kỳ Xít Ta Lin cai trị Liên Xô là một xã hội bưng bít, một xã hội thiên đường hoang tưởng, bắt đầu từ việc thần thánh hoá một cá nhân, thần bí hoá và không có cá tính hoá một cá nhân. Đó là tệ sùng bái cá nhân. Nếu ai đó bị ông ta coi là kẻ thù thì không thể thoát chết được. Nạn nhân của tệ sùng bái cá nhân là những tướng lĩnh công huân, những vị lãnh đạo lão thành, các chính trị – kinh tế gia tài giỏi. Cơ quan đàn áp của Xít Ta Lin ngụy tạo những chứng cớ về tội danh “Kẻ thù của nhân dân”, “tập đoàn phản cách mạng hoạt động chống Liên Xô” để tiến hành những cuộc tàn sát, thanh trừng bất chấp đạo lý phi nhân tính.
Hồ Chí Minh rất sùng bái Xít Ta Lin, muốn mình cũng sẽ được sùng bái như thế nên thẳng tay đàn áp phe Xét lại và phong trào Nhân văn Giai phẩm. Nhiều ngàn người đã bị chết hoặc tù đày trong thời gian này. Hồ tự mình viết sách ca ngợi, thần thánh hóa cá nhân mình, nhưng che dấu dưới cái tên già là Trần Dân Tiên và T. Lan. Hồ còn ra lệnh cho văn nô Tố Hữu (Bôn Lành) làm thơ ca tụng, nịnh bợ hắn ta lên tận mây xanh:
Xít Ta Lin! Xít Ta Lin!
Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Xít Ta Lin!

Thương cha, thương mẹ, thương chồng,
Thương mình thương một, thương Ông thương mười…

Ngược lại, người dân Nga rất ghê tởm và oán hận, căm ghét Xít Ta Lin đến tận xương tủy.
Ngày Xít Ta Lin vừa bị hạ bệ, nhân dân Nga reo mừng kéo nhau ra đường đập tan nát hết các tượng của Xít Ta Lin để trả thù, rửa hận.
Tổng thống Nga Dmitry Medvedev đã lớn tiếng chỉ trích những ai có ý định phục hồi vị thế của cựu lãnh tụ Xô viết Xít Ta Lin. Hàng triệu người dân Liên xô cũ chết dưới thời Xít Ta Lin và ông Medvedev khẳng định không có lời giải thích thỏa đáng cho hành động của những người lãnh đão huỷ diệt chính nhân dân mình…Ông Medvedev nói ông không thể tưởng tượng nổi quy mô đàn áp dưới thời Xít Ta Lin khi nhiều nhóm người bị tàn sát và thậm chí mất cả quyền được chôn cất.
Riêng ở Liên Sô: “Cách đây đúng 70 năm, trong giai đoạn 1937-1938, chế độ độc tài của nhà độc tài sắt máu Xít Ta Lin, mở đầu hàng loạt vụ bắt bớ, thủ tiêu và thanh trừng chính trị. Từ tháng 8-1937 đến tháng 10-1938, chỉ riêng trong nhà tù tại Uỷ ban An ninh quốc gia, chế độ Stalin đã bắn bỏ 20.760 người, trong đó có khoảng 1.000 người lãnh đạo tôn giáo. Giáo chủ giáo phận St.Petersburg Serafincũng bị giết vào thời gian này…Hơn 700 ngàn người bị giết. Theo Alexandr Solzhenitsyn, nhà văn đoạt giải thưởng văn học, có khoảng 60 triệu người đã bị chết trong chế độ Xô viết trong giai đoạn từ 1917 đến 1956…”(BBC online ngày 12-08-2007 )
Tại Trung Hoa, Mao Trạch Đông cũng áp dụng chủ thuyết Mác Lê để cướp chính quyền của Chính phủ Tưởng Giới Thạch, mở ra một giai đoạn lịch sử tàn ác, ghê tởm nhất, máu người dân Trung Hoa đã chảy thành sông.
“Đặc biệt là cuộc Cách mạng Văn hóa đã làm đổ máu hàng 10 triệu người mà tiêu biểu nhất là ông Lưu thiếu Kỳ, ông Bành đức Hoài, nguyên soái Hạ Long đã bị đối xử một cách tàn khốc, bị đọa đày, bị bắt phải quỳ xuống, bị đánh đá hộc máu. Gọi Cách mạng Văn hóa mà không có một tí gì văn hóa cả…
”(RFA online ngày 14-02-2008)
Trong phong trào Đại Nhảy Vọt năm 1958, ước tính 30 triệu người đã chết đói…
Mao Trạch Đông sinh năm 1893 chết năm1976. Mao nắm giữ chức Chủ tịch Đảng cộng sản Trung Quốc nhiệm kỳ từ 1943 đến tháng 9/ 1976.
Thành tích giết người lớn nhất của Mao là “Bước nhảy vọt Văn hóa”:
“Bước nhảy vọt của họ Mao đem đến nạn đói bi thảm nhất trong lịch sử Trung hoa với con số lên đến bốn mươi ba triệu người chết. Cuộc Cánh mạng Văn hóa thì đẩy đất nước vào tình trạng hổn loạn, tiêu huỷ đời sống người dân, phá hại gia đình, làm vỡ tan tình bằng hữu và toàn bộ cơ cấu xã hội Trung hoa…”

Bên cạnh việc làm ác, đời sống của Mao cũng sa đọa, tê hại, hơn cả Xít ta Lin và Lênin.
“Con số các cô gái trẻ đẹp hầu hạ cho họ Mao tăng lên nhiều hơn trước, khắp mọi nơi…Chung quanh ông lúc nào cũng có một bầy con gái. Lúc Cách mạng Văn hóa trở thành cao trào thì họ Mao nằm trên giường với ba, bốn hoặc năm cô cùng một lúc…”
(Trích “Bí mật cuộc đời Mao trạch Đông” do Bs Lý Chí Tuy viết và Ngọc Dung dịch)
Còn ở xứ Việt Nam khốn khổ, khốn nạn của chúng ta thì Hồ Chí Minh ôm mớ tà thuyết Mác xít từ Liên xô về nước đã áp dụng ra sao sau khi xua nông dân làm bia đỡ đạn để cướp chính quyền của Hoàng đế Bảo Đại vào mùa Thu tháng Tám năm 1945?
Chiêu thức đại ác đầu tiên Hồ ra tay là “Cải cách ruộng đất 1953-1956” :
Hòa thượng Thích Quảng Độ, trong cuốn“ Nhận định về những sai lầm tai hại của đảng CSVN đối với dân tộc và Phật giáo Việt nam”, đoạn viết về cuộc tàn sát những người dân vô tội của cộng sản trong chiến dịch cải cách ruộng đất, ông viết:“…cuộc đấu tranh căm thù giai cấp diễn ra suốt sáu tháng trời trên toàn miền Bắc chết chóc quá nhiều, đến 700 ngàn người (trong đó có nhiều trường hợp, như một cán bộ đã nói với tôi nguyên văn như sau: “cộng sản chặt đầu cộng sản mới đau chứ.” Ông Bùi Tín một người bất đồng quan điểm với chính phủ CSVN cũng nêu lên con số nạn nhân là 500 ngàn người do Michel Tauriac, nhà văn, nhà báo đưa ra. Bùi Tín cũng cho rằng con số này hợp lý nếu kể cả người bị giết, bị chết trong tù, bị chết sau khi thả ra và tự tử.
Vụ đại ác lớn thứ nhì là: Thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế:
Trích bài “Huế, 40 năm sau Tết Mậu thân…” của Pv Thiện Giao đài RFA:
“Học gỉả Douglas Pike, thuộc Phòng Thông tin Hoa kỳ, trong bản báo cáo hoàn tất vào ngày 01 tháng 02 năm 1970 tại Sài gòn, đã viết: chỉ trong Mậu thân tại Huế, gần 4.800 thường dân đã chết và mất tích. Ông Pike kết thức lời mở đầu của báo cáo bằng một câu khẳng định:“Nếu báo cáo của tôi là một bản án đối với thái độ của người cộng sản, thì thật sự nó là như vậy đấy. Đơn giản vì thái độ ấy đáng bị lên án.” (RFA online ngày 4-2-2008)
Theo giáo sư Nguyễn Lý Tưởng, người tham dự cuộc tìm kiếm xác các nạn nhân bị cộng sản sát hại trong Tết Mậu Thân tại Huế trong bài “ Huế, 25 ngày kinh hoàng của 40 năm trước” của phóng viên Thiện Giao đài RFA viết lại thì:
“ Tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, 22 địa điểm tìm được là các mồ chôn tập thể Trong 22 địa điểm này, người ta đếm được2.326 sọ người. Sau tết, chúng tôi lập Hội Gia đình Nạn nhân Cộng sản trong Tết Mậu Thân. Các gia đình kê khai có người chết, có người mất tích, lên đến 4.000 gia đình. Người ta ước tính vào khoảng 6.000 người, có nhà báo ước tính 5.000.Chúng tôi cho con số 5 đến 6 ngàn là không sai lệch lắm đâu.”
(RFA online ngày 31-01-2008)
Chủ thuyết Mác Xít-Lênin chỉ tồn tại có 70 năm rồi sụp đổ, diệt vong theo các triều đại bạo chúa Tần Thủy Hoàng và Vệ Ưởng ngay tại cái nôi cộng sản của mình, kéo ngã theo cả khối Đông Âu nằm dưới quyền kiểm soát của Liên sô: Bungary, Ba Lan, Cộng hòa Séc, Slovakia, Hungary, Romania, Belarus, Ukraina, Moldova… Chấm dứt một giai đoạn khủng khiếp của nạn diệt chủng do tà thuyết cộng sản gây ra cho một nữa nhân loại.
Tuy vậy hiện nay, chủ nghĩa cộng sản vẫn còn lạc lõng bốn nhà nước ngoan cố duy trì cái ác, phản lại nhân loại, quyết bịt mắt bưng tai trước sự phát triễn văn minh, tiến bộ của nhân loại .
Đó là bốn nước gồm Trung Quốc, Bắc Hàn, Cuba và Việt Nam.
Các nước theo chủ nghĩa cộng sản đều theo một chính sách như nhau là dùng và xúi dục giới công, nông dân nổi loạn, đứng lên “làm cách mạng”, nghĩa là làm bia đỡ đạn cho bọn cán bộ CS núp bên trong hoặc đi phía sau, bí mật chỉ huy, xách động đi cướp chính quyền. Khi đã thành công, thì bọn này quay mặt lại với nhân dân, cai trị nhân dân bằng một chính sách tàn ác hơn nhiều lần so với thời phong kiến, thực dân, đế quốc.
Bởi do bản chất bá đạo đi ăn cướp mà có, không thuận lòng dân, nên dù nắm toàn quyền cai trị trong tay, đám lãnh tụ CS vẫn luôn luôn nơm nớp lo sợ không biết lúc nào bị nhân dân lật đổ. Và để bảo vệ chế độ ăn cướp bất nhân này Nhà nước cộng sản nào cũng đều phải dùng lực lượng công an, một công cụ chuyên chính sắt máu, vô nhân tính để duy trì quyền lực và địa vị.
Rút tỉa kinh nghiệm sụp đổ của Liên sô và khối Đông Âu, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập một chế độ “công an trị” để tạo nên một thành trì sắt thép vững chắc bảo vệ cho mình.
Chế độ “Công an trị” còn “khủng” hơn “Pháp lệnh thất điều” của Vệ Ưởng khi xưa.
Những nhà dân chủ trong nước lên tiếng đòi nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do tư tưởng cho nhân dân đều bị chúng quản thúc tại gia, bao vây kinh tế, khủng bố tinh thần, dàn dựng tai nạn giao thông, bắt cóc, đánh đập dã man… Và cuối cùng thì ngụy tạo chứng cớ vô lý để xử tù.
Một nửa ngân sách Nhà nước được Đảng CS dùng để nuôi bộ máy “công an trị” khổng lồ này gồm 1 triệu công an chìm, nổi đủ loại và hơn nửa triệu bọn đầu gấu, xì ke ma túy để hỗ trợ chúng trong các vụ đàn áp dân chúng, mà chúng gọi hoa mỹ là thành phần “nhân dân tự phát”.
Lực lượng công an đa số đều được tuyển chọn trong đám lưu manh côn đồ, trộm cắp, thất học nhưng rất trung thành với cấp trên theo tiêu chuẩn “hồng hơn chuyên”.
Chúng được huấn luyện theo cách dạy Quân khuyển, tuyệt đối tuân theo lệnh chủ mà thi hành, không cần biết đúng sai.
Bộ Công An Cộng sản Việt Nam do đại tướng Lê Hồng Anh nắm, là cơ quan quyền lực nhất của chế độ, nó được Đảng giao phó thực hiện chức năng quản lý về an ninh trật tự, phản gián, điều tra tội phạm, thi hành án, tạm giữ, tạm giam, bảo vệ dân…
Bộ Công an quản lý Lực lượng Công an Nhân dân.
Trên thực tế, khẩu hiệu “Công an là bạn của dân” lại là kẻ đàn áp nhân dân tàn bạo nhất thay vì bảo vệ dân, nên mỗi khi thấy công an: “ở xa thì sợ, đến gần thì run”.
Chế độ càng thối nát, tham nhũng lại càng ra sức o bế lực lượng công an để lực lượng này phải trung thành tuyệt đối với mình. Vì vậy, công an trở nên “kiêu binh”, ngày càng “loạn”, làm nhiều điều càn rỡ tàn ác, bất chấp luật pháp luật mà mình có bỗn phận phải gìn giữ, bảo vệ.
Người dân bị áp chế, ngược đãi vô cớ ngày càng nhiều, chỉ biết uất hận cam chịu mà không biết phải thưa gởi kêu cứu với ai.
Xin đơn cử vài trường hợp điển hình:
1/ Công an đánh người chỉ vì sợi râu đẹp.

Theo báo Pháp Luật, ngày 9/907, Nguyễn văn Long ngụ tại xã An Lư, huyện Thủy Nguyên bị một số CA đánh trọng thương tại trụ sở CA huyện chỉ vì anh Long có sợi râu đẹp. Hai công an tên Cường và Hải thấy Long có sợi râu dưới cằm. Cường nói: “Thằng này có cái râu cong dài thế này là gấu lắm đây!” Hải bảo:”Để tao nhổ cái nào!”. Long không đồng ý, lấy tay che lại, nên bị Hải đạp vào bụng. Long đấm lại làm Hải rơi kính. Lập tức có 4 CA xông vào đánh Long. Sauk hi đánh ở phòng ngoài, Hải còn gọi những CA khác lôi Long vào phòng ngủ của các điều tra viên đánh tiếp. Gần một tiếng đồng hồ sau, Long mới được đưa ra ngoài. Gia đình phải đưa Long vào bệnh viện cấp cứu.
(Không thấy báo Pháp Luật nói đám CA huyện Thủy Nguyên sau đó có bị xử lý ra sao)
2/ Công an đánh tài xế xe Bộ trưởng

Theo VietNamNet: Sự việc một sĩ quan CA thành phố Hà Nội đánh lái xe của Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ đã làm bạn đọc VietNamNet dây lên làn sóng bất bình về sư xuống cấp đạo đức của những người “vì dân phục vụ”.
Báo viết:
Hành vi này của người sĩ quan công an đã được Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc xác nhận tại buổi họp báo chiều 1/2, sau phiên họp thường kỳ Chính phủ.
Ông Phúc cho hay, một buổi sáng cách đây hơn 10 ngày, trên đường đi làm, xe của ông (biển số xanh) đã bị một xe biển số tư nhân đi phía sau đâm vào làm hư hỏng nhẹ. Đây là hành vi vi phạm pháp luật.
Không dừng lại ở đó, khi bước xuống xe, chủ nhân chiếc xe vi phạm (là một sĩ quan công an Hà Nội) đã bạt tai tài xế lái xe cho ông Phúc.
Ông Phúc nói: Đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng tư cách đạo đức người chiến sĩ công an nhân dân cần bị xử lý nghiêm túc. Trách nhiệm xử lý thuộc về Giám đốc Công an TP Hà Nội, nơi quản lý cán bộ.
3/ Nghi can công an đánh chết người tàn bạo. (15/3/2010)

Theo lời kể của ông Bình, cha của nạn nhân với VnExpress.net, chiều 10/11/09, có hai người đàn ông tự giới thiệu là công an quận Hà Đông đến nhà, nói nhờ Hùng chút việc. Họ không xuất trình giấy tờ chứng minh là cán bộ đang làm nhiệm vụ, nhưng con trai ông vẫn tin tưởng đi theo.
Tối hôm ấy con trai ông không về. Một tuần sau, gia đình ông nhận được giấy thông báo từ Công an Hà Đông rằng Hùng đã chết. Ông đau đớn kinh hoàng khi trông thấy xác con. “Toàn bộ phận than thể khô đét lại. 10 đầu ngón tay, chân bầm tím… Từ 1/3 đùi trở xuống đến bàn chân phù nề và thâm tím”. Với kinh nghiệm lâu năm làm việc liên quan với ngành y, ông Bình nhận định với VnExpress: “Cái chết của con trai ông không phải là cái chết tự nhiên”. Ông Bình cho rằng: “Phải chăng cháu bị đánh đập, hành hạ bằng cách không cho ăn uống, hay dùng xung điện?”
Công an Hà Đông vẫn im lặng không trả lời câu hỏi của gia đình ông Bình vì sao cháu bị bắt? Vì sao bị chết?
Đã 5 tháng trôi qua, nghi án công an đánh chết người một cách tàn bạo vẫn chìm trong im lặng.
4/ Hai vụ xãy ra cách nhau hai tháng, hai người tử vong tại cơ quan công an quận Hai Bà Trưng và quận Hà Đông.

Tháng 11/09, nạn nhân là Nguyễn Mạnh Hùng bị tạm giam vì nghi là trộm cắp. Sau một hôm tạm giữ, anh Hùng được mang đi cấp cứu nhưng đã ngừng thở.
Ngày 21/1/2010, nạn nhân là Nguyễn quốc Bảo bị công an Hai Bà Trưng tạm giữ hành chính vì mang trong người một dao, một kéo. Rạng sáng, 22/1/2010, anh Bảo được đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong vì bị chấn thương sọ não.
Công an Hà Nội và Hà Đông có biên bản kết luận hai người vì sơ ý bị ngã nên bị vỡ nền sọ và chấn động não.
Cũng giống như những vụ Thái Hà, Tòa Khâm Sứ, Giáo xứ Đồng Chiêm, núi Chẽ, Cồn Dầu… công an đã kéo đến đông hàng ngàn với vũ khí trang bị tận răng để “ bảo vệ dân nhưng nhân dân bị kích động bởi các phần tử quá khích và các thành phần phản động muốn lật đổ chính quyền, ngăn cản nhân viên thừa hành công vụ, có hành động điên cuồng đâm đầu vào khiên và dùi cui, roi điện của công an nên bị thương chảy máu chứ công an không hề ra tay đánh dân. Công an luôn luôn là bạn của dân, vì dân, do dân, phục vụ dân”. Báo Công An Nhân dân và An ninh Thế giới đều đăng tải như thế.
5/ Công an CSVN thú nhận bắn chết người

Gần đây nhất, ngày 25/5/2010, công an xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia trong lúc “tham gia đảm bảo an ninh trật tự trong quá trính giải tỏa mặt bằng (tức cướp đất của dân để chia lô bán cho ngoại quốc) đã xô xát với nhân dân, thấy tình hình phức tạp, một công an viên đã dùng súng bắn chỉ thiên khiến cho 2 người bị thương và một người chết”. Đó là lời phát biểu của Thiếu tướng Đồng Đại Lộc, Giám đốc Công an tỉnh Thanh Hóa trả lời PV báo Dân Trí ngay sau vụ việc công an nổ súng bắn chết dân.
“Em Lê Xuân Dũng 12 tuổi, ông Lê hữu Nam 40 tuổi bị bắn chết và chị Lê thị Thanh bị thương ở tay là những phần tử quá khích đã giằng cướp súng của của công an nên bị đạn lạc”.

Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam với quyết tâm: “CHỈ BIẾT CÒN ĐẢNG CÒN MÌNH” không chỉ là một khẩu hiệu nằm trên các tấm panô vĩ đại. Nó đã thể hiện bằng hành động sắt máu của công an khắp nơi.
Chỉ nhục một điều là, Công an nhân dân Việt Nam “anh hùng ta” chỉ giỏi trong việc hà hiếp, đàn áp, khủng bố dân một cách rất nhiệt tình, hăng say mù quáng trong vai trò làm chó săn bảo vệ cho bọn lãnh tụ Cộng sản Việt Nam được ngồi vững trên chiếc ghế độc tài lâu dài tiếp tục đè đầu cưỡi cổ nhân dân. Trái lại đứng trước kẻ thù xâm lược là bọn Tàu phù thì lại khiếp nhược, khúm núm quỵ lụy rất ti tiện, hèn hạ.
Mỗi khi đối mặt với bọn Tàu phù nghênh ngang, hống hách trên đất nước mình, trong các vụ xích mích ở các công trường hay ngay trên phố Hà Nội, trên Tây nguyên…hoặc trường hơp ngư dân bị bọn Tàu ô bắn giết ở đảo Hoàng Sa, kêu cứu, thì “Công an anh hùng ta” đều thực hiện mưu kế thứ 37 trong binh pháp Hồ Vỏ Chuối là “gần bắn xa đâm”.
-Bác nói lạ! Xưa nay trong binh pháp, chiến đấu với địch, xa thì bắn, gần thì đâm, cớ sao Bác lại nói ngược như thế?
- Ông anh nói chí phải! Binh pháp Tôn Võ Tử thì đúng là như vậy. Nhưng “Công an anh hùng ta” chỉ là một bọn vô học, lưu manh côn đồ, du thủ du thực, được tuyển dụng huấn luyện chuyên làm tay sai cho bọn Mafia lãnh đạo ăn cướp, chỉ biết hà hiếp dân là chính thì biết gì về quân sự chiến đấu với kẻ thù. Bởi vậy khi đối mặt kẻ thù thì xử dụng chiêu thức “gần bắn xa đâm”. Nghĩa là khi địch quân ở gần thì “Công an anh hùng ta” sợ quá, bắn cả cứt đái ra quần. Còn khi thấy địch ở xa xa thì đã ba chân bốn cẵng đâm đầu chạy trốn trối chết rồi! Đó chính là binh pháp Hồ Vỏ Chuối của bác Hồ chứ không phải của Tôn Võ Tử.
-Ra là thế! Thảo nào chủ sao thì tớ vậy! Bọn lãnh đạo chóp bu tại Bắc Bộ phủ đã hèn hạ khom lưng, cúi đầu trước bọn bá quyền Bắc kinh dâng đất, dâng biển để cầu an thì đám chó săn lâu la, lục chốt, tép riêu sức mấy mà dám ho he với bọn Tàu khựa!
Năm Kỷ Hợi, tháng Đinh Sửu, ngày Đinh Tỵ, chế độ cộng sản Việt Nam sụp đổ. Chỉ trong một đêm có hơn 5 vạn công an viên bị cắt gân tay. Điều lạ lùng là công an nào dùng tay trái đánh dân thì gân tay trái bị cắt. Công an nào dùng tay phải bắn dân thì gân tay phải bị cắt.
Không biết thủ phạm là ai. Chỉ nghe huyên truyền là do dân oan tự động làm để báo thù.

Nguyễn Thanh Ty Boston, 14/6/10