Translate

Wednesday, March 4, 2009

Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân

TRANG SỬ CŨ: Cố Thiếu Tướng TRƯƠNG QUANG ÂN Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh
03.03.2009 00:08

PHAN NHẬT NAM

Để biết được đầy đủ hơn về cuộc đời kiệt liệt của một người lính cực lớn, chúng ta phải bắt đầu lại chuyện kể từ thời điểm sớm nhất, ngày TSQ Trương Quang Ân tốt nghiệp thiếu úy khóa 7 Sĩ Quan Hiện Dịch Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt với vị thứ thủ khoa, tháng 12, năm 1952.



Thiếu úy Trương Quang Ân có đủ tất cả điều kiện thuận lợi để được thuyên chuyển đến một văn phòng bình yên tránh nơi lửa đạn, hoặc một đơn vị tham mưu, chuyên môn (mới thật sự đúng với khả năng tham mưu sắc sảo của ông sẽ được chứng thực ở thời gian sau). Nhưng không, ông đã chọn binh chủng Nhảy Dù, đơn vị tổng trừ bị cho những chiến trận lớn nổ rộng suốt miền châu thổ Bắc Việt Nam, nơi những đỉnh núi cao lẫn trong mây vùng bắc Trường sơn dọc biên giới Lào Việt.

Trận Bản Hiu Siu cuối năm 1953 bùng nổ trên vùng Cánh Đồng Chum nơi cao nguyên Trấn Ninh, vị trí xung trí xung yếu của miền Trung Lào, đầu nguồn sông Nậm Ngung, do tướng Cogny, tư lệnh quân đội Pháp miền bắc Đông Dương chỉ huy có mục đích bẻ gãy mũi tiến công của cộng sản có ý tiến về thủ đô Vạn Tượng của Lào (nhưng sau nầy hồ sơ trận liệt giải thích, và giải thích đúng, đấy là ý niệm điều quân của phía bộ đội cộng sản cố đánh lạc hướng, hoặc là cách nhử quân đội Pháp chiếm đóng Điện Biên Phủ) Bộ phận địa phương giữ Bản Hiu Siu xin quân tăng viện, Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù, đơn vị đầu đời của Thiếu úy Trương Quang Ân nhảy xuống với 2 đại đội của Tiểu đoàn 7 Dù tăng pháị (Lưu ý, tất cả các tiểu đoàn Dù vào giai đoạn nầy mang phiên hiệu BEP hoặc BPC - Battaillon Parachustiste Colonial, thuộc Liên đoàn Không vận số 3 (GAP/3è- Groupe Aeroporté) của quân đội Liên hiệp Pháp; chỉ mỗi Tiểu đoàn 5 Dù nơi miền Nam mới có danh hiệu Tiểu đoàn Nhảy Dù Việt Nam (BPVN) Trận đánh không cân sức diễn ra ngay từ phút đầu tiên vì bộ đội Việt Minh sẵn có ưu thế quân số, chuẩn bị, chọn lựa và chiếm giữ trận địa.

Nhưng dần dần thắng lợi nghiêng về phía quân Nhảy Dù bởi sức chiến đấu quá đổi kiên cường. Phản công, giữ vững, kiểm soát được những vị trí xung yếu của vùng Cánh Đồng Chum, đẩy quân đội cộng sản trở về hướng Bặc Thành. Quả chiến trận không phải là điều bất ngờ, bởi Tiểu đoàn 3 Dù là một đơn vị ngoại hạng của 17 tiểu đoàn tổng trừ bị mặt trận phía bắc Việt Nam, như trường hợp một đơn vị bạn khác, Tiểu đoàn 6 Dù (6è BEP) đã từng chận đứng một sư đoàn cộng sản (SĐ/320) để những đồn bót thuộc tả ngạn sông Đà có thời gian triệt thoái trong chiến dịch rút bỏ Na Sản, Nghĩa Lộ (cùng năm 1953) Kết quả trận đánh đồng thời đã chứng minh cho thành phần lãnh đạo Pháp Việt thấy rõ một yếu tố mới: những sĩ quan trẻ, những hạ sĩ quan, binh sĩ người Việt (tình nguyện) trong đơn vị chính là nhân tố kết nên thắng lợi.

Quân đội chỉ mới khai sinh trong vài năm qua (1951) nay đã dần trở nên là đạo quân chính qui của một quốc gia đang trong giai đoạn lịch sử quyết định về bản lãnh và giá trị của mình. Chiến sử dài theo những năm sau đã chứng thật đánh giá buổi ban đầu nầy: Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù Việt Nam là một trong những đơn vị đầu tiên của quân đội Cộng Hòa được tuyên dương Bảo quốc huân chương, kỳ hiệu đơn vị mang dây biểu chương Tam hợp vàng xanh đỏ do công trận chỉ huy bởi những những thiếu úy, trung úy của năm 1953 nầy, những sĩ quan có tên Trương Quang Ân, Phan Trọng Chinh...

Bộ tư lệnh quân đoàn viễn chinh Pháp với lớp cán bộ nhà nghề cũng đã nhận ra khả năng lãnh đạo tiềm ẩn nơi viên thiếu úy trẻ tuổi mà họa hằm lắm mới biểu lộ ra đối với những sĩ quan trẻ tuổi cực kỳ xuất sắc, như những Thiếu úy de Gaulle, de Lattre của học viện quân sự Saint Cyr, những người đã từng nắm giữ vận mệnh quốc gia và quân đội Pháp, nên họ mau chóng đưa Trung úy Ân vào trường tham mưu quân sự tại Pháp vào năm sau, 1954 khi ông vừa được đặc cách vinh thăng trung úy tại mặt trận.
Những sĩ quan chỉ huy Trường Sĩ Quan Đà Lạt và ở bộ tham mưu Liên đoàn Không vận số 3 quả thật đã không lầm khi đánh giá như trên. Hơn thế nữa, họ còn có dự định chọn viên trung úy ngoại hạng nầy vào chức vụ chỉ huy Đại đội xung kích Lê Dương Sen Đầm cho chiến trường Algérie đang bắt đầu có dấu hiệu sôi động. Khóa sĩ quan tham mưu tại Pháp cốt để làm đầu cầu cho dự định nầy. Thêm một lần nữa, ông lại đỗ thủ khoa khóa học, trên cao hơn toàn thể những học viên có 75 quốc tịch của khối Liên hiệp Pháp, đa số là người Tây Âu.

Trung úy Trương Quang Ân đậu hạng thủ khoa mà không hề có tị hiềm từ những học viên, bởi qua bản tự đánh giá, khóa học đồng ý hầu như toàn thể về người sĩ quan Việt Nam tài năng xuất sắc nầy. Sau thất bại Điện Biên Phủ, tháng 5, 1954, bộ tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp cố gắng tập trung những tiểu đoàn Nhảy Dù còn lại ở miền Bắc đưa gấp vào Đà Nẵng, Nha Trang, để từ đây có kế hoạch tái trang bị, bổ sung sang chiến trường Bắc Phi. Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù trở nên đơn vị trụ cột đầu tiên của Liên đoàn Nhảy Dù Việt Nam, thành lập ngày 29 tháng 9, 1954, và Trung úy Trương Quang Ân ở lại với quân đội Việt Nam dưới phiên hiệu đơn vị mới như một điều tất nhiên, nhưng cũng do lời kêu gọi từ một Thiếu sinh quân khác, người anh cả của toàn quân, Thiếu tướng Lê văn Tỵ, vị Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mở đầu kỳ độc lập, tự chủ nơi miền Nam, 29 tháng 11, năm 1954.

Ngày 1 tháng 1, 1955 bắt đầu năm mới với những biến động chính trị nghiêm trọng xẩy ra tại thủ đô Sài Gòn từ những mầm mống va chạm sẳn có giữa các lực lượng giáo phái, tổ chức vũ trang với chính phủ Thủ tướng Ngô Đình Diệm vừa được thành lập ngày 20 tháng 7, 1954. Chính phủ mới mang đủ tất cả gánh nặng của quá khứ gần 100 năm lệ thuộc người Pháp, tình thế quân sự suy sụp hỗn loạn sau thất trận Điện Biên Phủ của quân đội Pháp và công cuộc định cư hơn triệu người di cư từ miền Bắc vào Nam.

Các lực lượng chống đối kết hợp thành Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia yêu cầu Thủ tướng Ngô Đình Diệm giải tán nội các, cải tổ chính phủ và chấp thuận để họ duy trì tình trạng cát cứ của những tổ chức quân sự tại những địa phương riêng biệt. Chính phủ Sài Gòn giữ nguyên lập trường: thống nhất quân đội trước khi bàn đến những cải tổ chính trị. Thành phần mặt trận gồm 3 khuynh hướng: Phe ôn hòa muốn trở về hợp tác với chính phủ; phe trung lập không có ý kiến và thành phần quá khích nhất quyết tổ chức nổi loạn quân sự.

Lực lượng Bình Xuyên dưới quyền chỉ huy của Thiếu tướng Lê văn Viễn (quân hàm do chính phủ Pháp trao gắn theo nguyên tắc đồng hóa) thuộc nhóm thứ ba. Ngày 1 tháng 1, 1955 Thủ tướng Ngô Đình Diệm đóng cửa các cơ sở kinh tài quan trọng của Bình Xuyên, sòng bạc Đại Thế Giới, Kim Chung và nhà chứa Bình Khang; ngày 26 tháng 4, cách chức tổng giám đốc Cảnh sát và Công an của Lại văn Sang, một người thân tín đắc lực của Thiếu tướng Viễn.

Cuối cùng việc phải đến, ngày 28 tháng 4, lực lượng Bình Xuyên nổ súng tấn công quân chính phủ, nhưng Liên đoàn Nhảy Dù với 4 Tiểu đoàn 1, 3, 5, 6 đã hình thành những trụ cột chống đỡ nền móng quốc gia. Chỉ một ngày sau, quân Nhảy Dù đã làm chủ tình hình toàn bộ đô thành Sài Gòn, Chợ Lớn. Ngày 30 tháng 4 Nhảy Dù và Bình Xuyên dàn trận đối diện dọc kinh Đôi bên kia cầu chữ Y.

Dù đã được người Pháp ngấm ngầm hỗ trợ nhưng Bình Xuyên không thể nào là địch thủ của những tiểu đoàn Nhảy Dù thiện chiến nên mặt trận Sài Gòn mau chóng kết thúc vào ngày 5 tháng 5, tàn binh Bình Xuyên rút về Rừng Sát, vùng sình lầy dọc theo sông Sài Gòn và Đồng Nai lập thế chống cự. Tháng 9, lực lượng chính phủ mở cuộc hành quân Hoàng Diệu truy quét đám phản loạn, cũng với lực lượng Nhảy Dù làm thành phần xung kích.

Ngày 24 tháng 10 kết thúc chiến dịch, nơi khuôn viên Dinh Dộc Lập lần đầu tiên diễn ra khung cảnh đại hội ân thưởng toàn quân kể từ ngày mở nước về phương Nam. Cũng là lần đầu tiên, quân, quốc kỳ cùng bay rạng rỡ trên kỳ đài tòa dinh thự báo hiệu thống nhất quân đội, chủ quyền quốc gia qui về một mối.

Trung úy Trương Quang Ân đứng hàng đầu giữa những chiến binh của quân đội Cộng Hòa được tuyên công. Ông được trao gắn một lần hai Anh dũng bội tinh với nhành dương liễu, hiện tượng độc nhất đã xẩy ra trong các quá trình nghi lễ trao gắn huy chương. Cho dù về sau nầy khi chiến trường trở nên nặng độ và có những chiến công lớn lao với những nhân vật xuất chúng khác như Lưu Trọng Kiệt, Hồ Ngọc Cẩn... cũng không hề được lập lại thêm lần thứ hai. Năm 1957, Đại tá Nguyễn Chánh Thi thay thế Đại tá Đỗ Cao Trí giữ chức tư lệnh Liên đoàn Nhảy Dù.

Đại úy Trương Quang Ân cùng với viên tiểu đoàn trưởng, Thiếu tá Phan Trọng Chinh, rời Tiểu đoàn 3 Dù về bộ tư lệnh với chức vụ mới, trưởng phòng 3, và tham mưu trưởng Liên đoàn. Bộ tư lệnh Liên đoàn Nhảy Dù với thành phần sĩ quan chỉ huy, tham mưu tài năng mới mẻ nầy đã nhanh chóng canh tân, trở nên một đại đơn vị mẫu mực đối với toàn quân, có phẩm, lượng cao về khả năng hành quân tác chiến lẫn tổ chức tham mưu.

Một sự kiện quan trọng xẩy ra trong đời sống cá nhân Đại úy Trương Quang Ân, đồng thời cũng là một biểu tượng đặc thù của binh chủng nếu không nói của toàn quân độị Ông làm lễ thành hôn với Chuẩn úy Dương thị Kim Thanh, một trong những nữ quân nhân đầu tiên của binh chủng Nhảy Dù. Cuộc kết ước được chính vị tư lệnh làm chủ hôn, và hôn lễ được thực hiện theo nghi thức thuần túy quân đội: Đại úy Trương Quang Ân trao nhẫn đính hôn cho nữ Chuẩn úy Dương thị Thanh từ nơi cửa máy bay, xong hai người cùng nắm tay điều khiển dù nhảy xuống đất nơi bãi đáp Ấp Đồn, Hóc Môn.


Trương Quang Ân (1932-1968)
Dương Thị Kim Thanh (1931-1968)


nguồn: Người Việt Boston

Cảnh tượng cảm xúc trên chắc hẳn không phải là màn trình diễn của đôi vợ chồng trẻ muốn làm nên sự kiện độc đáo ngoạn mục, nhưng đấy là hành vi biểu hiện lòng sắc son của hai người lính muốn kết hợp lời nguyền hiến dâng đời sống bản thân, gia đình cho Quân Đội và Tổ Quốc. Chúng ta không nói điều ước đoán theo cảm tính, bởi cuộc sống đầy chiến đấu của hai người suốt quãng đời tiếp theo đã hiện thực nghi lễ cao thượng của buổi thanh xuân nầy trong bầu trời và trên mặt đất quê hương.

Năm 1959, Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù được thành lập, Đại úy Trương Quang Ân nhận lãnh chức vụ tiểu đoàn trưởng đầu tiên của đơn vị. Lần xuất quân của Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù cũng là dịp phá vỡ huyền thoại về mật khu Bời Lời (vùng tây bắc ven đô nằm dọc sông Sài Gòn), căn cứ địa đã được lực lượng quân sự cộng sản thành hình từ chiến tranh 1945-1954, nay đang được củng cố cho cuộc chiến mới với nhiệm vụ chiến thuật quan trọng, từ đây làm khu vực bản lề tiếp vận của 3 tỉnh Gia Định, Bình Dương, Hậu Nghĩa, hình thành đầu cầu để tiến chiếm Sài Gòn (chiến dịch Mậu Thân 1968 chứng thực cho quan điểm chiến thuật nầy) Tiểu đoàn 8 Dù đã truy kích địch dài theo con sông, phá vỡ toàn thể những địa đạo vừa được xây dựng, đánh bật tất cả các cụm, tổ du kích, đuổi sạch đám cán bộ vừa trở lại từ miền Bắc, nay được gài chặt với cơ sở địa phương để hình thành lớp cán bộ hạ tầng của Mặt trận giải phóng miền Nam.

Công trận nầy cùng lần với những đơn vị quân đội khác đã kiến tạo nên một thời hưng thịnh bình yên từ 1954 đến 1960 ở miền Nam. Dân chúng từ Sài Gòn có thể ra đi bất cứ nơi nào trong đêm và trở lại thủ đô vào giờ rạng sáng để làm việc. Có mấy ai trong thuở ấy và sau nầy nhớ lại buổi bình an kia để nhắc nhở đến gian khổ của mỗi người lính, những người không ai biết đến tính danh. Người hiến dâng đời sống mình cho quê hương, đồng bào nhưng không hề nói lên lời, dù là lời đơn giản, khiêm nhượng. Biến cố 11 tháng 11, 1960 lần đầu tiên đẩy quân đội trực tiếp tham dự vào diễn trường chính trị, Liên đoàn Nhảy Dù lại là thành phần nòng cốt quyết định để thực hiện việc dứt điểm chế độ và người lãnh đạo.

Nhưng Đại úy Trương Quang Ân đã vô cùng tinh tế để nhận rõ nguyên do lẫn hậu quả của lần bạo loạn tranh chấp, ông từ nhiệm cáo bịnh lánh mặt khỏi cảnh huống khốc liệt, vị tiểu đoàn phó được chỉ định tạm thời thay thế ông trong tình thế khẩn cấp. Cuộc đảo chính 11 tháng 11 thất bại, những giới chức cao cấp của Liên đoàn Dù phải chịu cảnh chạy trốn, lưu vong ra khỏi nước, hoặc bị bắt giữ; các đơn vị phải tái biên chế, xáo trộn, thay đổi cấp chỉ huy. Chỉ riêng Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù vẫn giữ nguyên phong độ và khả năng chiến đấu truyền thống bởi Thiếu tá Trương Quang Ân lại trở về, giữ vững đơn vị tồn tại, phát triển sau cơn hỗn loạn.

Năm 1962, ông di chuyển từ trại Trần Quí Mại của Tiểu đoàn 8, nơi khuôn viên căn cứ Hoàng Hoa Thám của Lữ đoàn Nhảy Dù trong phi cảng Tân Sơn Nhất về trại Quang Trung, Tam Hiệp, Biên Hòa, bản doanh Tiểu đoàn 5 Dù, cũng là của Chiến đoàn 2 Dù, đơn vị chỉ huy chiến thuật vừa được thành lập gồm các Tiểu đoàn 5, 6, 7. Doanh trại xây trên một ngọn đồi hùng vĩ bên cạnh sông Đồng Nai, và người chỉ huy đầu tiên của đơn vị tân lập đã thực hiện những nền tảng vô cùng kiến hiệu để các tiểu đoàn thuộc quyền có điều kiện thuận lợi khai triển tối đa năng lực chiến đấu với tầm vóc mới.

Thiếu tá Trương Quang Ân đã chứng thực một khả năng lãnh đạo lớn trong cương vị mới, với kích thước của người chỉ huy tài năng, đạo đức tưởng chừng chỉ có trong những huyền thoại về những con người của lịch sử phương Đông xưa cũ. Vào một buổi họp của toàn thể sĩ quan thuộc các tiểu đoàn trực thuộc và bộ tham mưu chiến đoàn, mọi người đã vào ghế ngồi để đợi vị chỉ huy trưởng. Cây kim chỉ phút của chiếc đồng hồ ở phòng hội sắp sửa chập vào số 12 để chỉ đúng 12 giờ, giờ bắt đầu buổi họp, nhiều người sửa soạn đứng lên để chào đón chiến đoàn trưởng, họ nhìn ra cửa, hướng về phía văn phòng của Thiếu tá Ân cách hội trường một khoảng đồi khá xa, trống trải nằm phơi dưới nắng hạ chí miền Nam.

Bỗng một bóng người xuất hiện từ khung cửa căn phòng, gỡ chiếc nón đỏ cầm tay và chạy về phía hội trường với tốc độ cực nhanh, Thiếu tá chiến đoàn trưởng Trương Quang Ân bước vào hội trường. Sau khi đội lại chiếc mũ, chào tay trả lại lệnh chào kính của toàn thể sĩ quan. Ông nói gấp: - Xin lỗi quí vị sĩ quan, tôi bị trễ gần một phút vì phải trả lời điện thoại với Đại tá tư lệnh, nên anh em phải ngồi đợi!

Thiếu tá Ân nhìn lên kim đồng hồ vừa nhếch quá chữ số 12. Tính chính xác, hành vi nghiêm chỉnh, sự kính trọng đối với tất cả các cấp quân đội là cách xử thế thường hằng mà người chỉ huy Trương Quang Ân luôn thực hiện, tổng hợp tấm lòng của kẻ sĩ khiêm cung, nhân ái và tính nguyên tắc, tinh thần trách nhiệm cao của người lính. Hàng tháng, nếu không phải bận hành quân, ông soạn lịch trình đến thăm viếng, kiểm soát những tiểu đoàn thuộc quyền.

Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù của Thiếu tá Nguyễn văn Minh, người bạn cũ cùng Trường Thiếu Sinh Quân là đơn vị ông lưu tâm nhất vì ở nơi xa xôi (Vũng Tầu) so với 2 tiểu đoàn 5, 7 cùng trong vùng Biên Hòa của chiến đoàn. Mỗi lần thăm viếng đều được ông chuẩn bị nghiêm chỉnh như một cuộc thanh tra đơn vị, mà bản thân ông là người trước tiên phải hội đủ khả năng, tư cách, phẩm chất của một giới chức chỉ huy, thanh tra.

Trước ngày đi, ông nói cùng Đại úy Nguyễn Thái Hợp, nay đã kiêm nhiệm chức vụ tham mưu trưởng chiến đoàn:

- Đại úy nhớ nhắc nhở, kiểm soát anh em mình phải mang đủ bi đông nước, lương khô để khỏi làm phiền dưới Tiểu đoàn 6 nghe!

- Nhưng Thiếu tá Minh đã báo cho tôi bằng 106 (máy truyền tin siêu tần số dùng bạch thoại để chuyển những nội dung không cần phải mã hóa) là dưới đó đã chuẩn bị bữa ăn cho chiến đoàn mình rồi Thiếu tá!

Đại úy Hợp vội vã trả lời.

- Cơm thân mật trong tiểu đoàn hay tiệm ngoài phố?

Thiếu tá Ân hỏi gấp.

- Vâng, ở một tiệm nơi Bãi Sau!

- Vậy đại úy phải nói liền với Thiếu tá Minh là tôi không nhận. Mình đi thanh tra tiểu đoàn chứ đâu phải đi Vũng Tàu tắm biển, ăn tiệc!

Cuối cùng, ông lên xe với nón sắt hai lớp, súng Colt nơi thắt lưng có bi đông nước đầy, gói lương khô, và ngồi thẳng trong suốt chặng đường đi từ Tam Hiệp, Biên Hòa về đến Tiểu đoàn 6 ở Vũng Tàu.

- Đường đi xa hơn trăm cây số, Thiếu tá dựa lưng một chút cho đỡ mỏi!

Người tài xế ái ngại nhắc nhở.

- Không được đâu, mình tới thăm viếng, thanh tra mà lưng áo bị nhăn như thế trông thấy có vẻ thiếu kính trọng đơn vị và anh em! Thiếu tá Ân giải thích với người tài xế, không quên hỏi thêm:

- Mà anh có đem đủ bi đông nước dùng cho cả ngày và nhớ bỏ thuốc lọc nước vào chưa?

Cũng liên quan đến người tài xế, chiếc xe, một hôm ông gọi bà vào văn phòng với vẻ nghiêm trọng, và sau đó có những lời:

- Mình là sĩ quan nữ quân nhân, mình biết cũng rõ quân kỷ như tôi; thế nên, chiếc Jeep là của chiến đoàn cấp cho chiến đoàn trưởng, chứ không phải cho riêng cá nhân tôi. Vậy khi nào mình đi thăm gia đình binh sĩ với tư cách chủ tịch gia đình binh sĩ Chiến đoàn 2 thì mình sử dụng và ngồi vào ghế trưởng xa. Nhưng ngoài giờ làm việc, nếu cần chú tài xế đưa đi đâu thì mình phải ngồi băng sau, vì xe đó là của quân đội chứ đâu phải của riêng gia đình mình.

Tôi đã dặn chú ấy, khi nào không có mặt tôi thì lưng ghế trưởng xa phải gập xuống, vậy mình đừng bảo chú ấy làm trái lời tôi!

Bà im lặng nghe, và tuân theo lời ông không một phản ứng nhỏ tị hiềm, khó chịu, dẫu bà chỉ thua ông một cấp bậc. Đầu năm 1965 để chuẩn bị đưa ông vào những chức vụ cao hơn, Bộ Tổng tham mưu tuyển chọn Trung tá Ân theo học Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ.

Vào thời điểm nầy, tiếng Anh vẫn còn là một ngôn ngữ xa lạ đối với những sĩ quan xuất thân từ quân đội Liên hiệp Pháp, nhưng ông đã vượt qua khỏi trở ngại kia bằng biện pháp: luôn luôn trên tay, trước mặt, trong tầm với, có những sách tự học Anh ngữ. Ông vào Trường Sinh Ngữ Quân Đội với thái độ chuyên cần của một sinh viên chuyên khoa, và sử dụng toàn bộ thời giờ vào công việc đọc, viết, học tài liệu khóa học và tài liệu nghiên cứu.

Và cũng như hai mươi năm trước, Trung tá Trương Quang Ân lại tốt nghiệp khóa học với vị thứ thủ khoa kèm lời khen ngợi nồng nhiệt kính phục từ ban giám đốc trường. Đây là học viên tốt nghiệp với số điểm cao nhất từ trước đến naỵ Ông đứng đầu trên 45 sĩ quan cao cấp của quân đội toàn thế giới, kể cả những tướng lãnh, cấp tá thuộc quân lực Mỹ.

Năm 1966, trong buổi tiệc tiễn ông đi làm tỉnh trưởng Gia Định, binh sĩ, hạ sĩ quan của bộ chỉ huy chiến đoàn và sĩ quan của những tiểu đoàn trực thuộc trong vùng Biên Hòa đều được mời tham dự. Mỗi người có một hộp giấy gồm 2 pâté chaud, 2 bánh ngọt và 1 sandwich; thức uống gồm một chai bia và nước ngọt Quân tiếp vụ.

Trung sĩ Đâu, Ban 2 chiến đoàn vốn là tay ưa ăn nhậu, cất tiếng rổn rảng:

- Trung tá đi làm tỉnh trưởng cái tỉnh to nhất nước mà không cho tụi em uống một bữa cho đã!

Trung tá Ân nghiêm sắc mặt, nhưng từ tốn nói với Đâu:

- Trung sĩ Đâu nói như vậy là phụ lòng tôi, bữa tiệc nầy là do tiền lương tôi xin lãnh trước để đãi anh em. Chứ còn như trong Chợ Lớn đã có mấy tiệm ăn, tửu lầu gì đó, nghe tin tôi về làm tỉnh trưởng, họ đã đưa đề nghị đãi hết người của chiến đoàn mình. Nhưng đó là của họ, mình ăn làm chi anh Đâu!

Căn phòng im lặng, lắng xuống, Đâu cười cười:

- Em nói giỡn cho vui thôi, tụi em biết ông thầy nghèo mà, ông thầy cho uống chi tụi em cũng chịu hết. Vì được ở với ông thầy là vui rồi, nay ông thầy đi tụi em buồn lắm!

Vô tình, Đâu đã nói lời tiễn biệt chính xác, hàm xúc nhất với tấm lòng đơn giản trung hậu của người lính đối với một cấp chỉ huy hằng sống với đơn vị mà âm hưởng luôn bền chặt tồn tại. Nhưng nếu có một lần người chỉ huy Trương Quang Ân phải chịu nhận phần tiêu cực thất bại trong toàn bộ sự nghiệp của mình lại là chính với chức vụ không tiếng súng, tại văn phòng bình yên nơi tòa tỉnh trưởng Gia Định. Vào một ngày của năm 1967, Đại tá tỉnh trưởng Gia Định nhận danh thiếp thiếu tá chánh văn phòng của vị phu nhân một viên tướng cao cấp nhất của quân lực.

Viên thiếu tá đặt lên bàn giấy ông tỉnh trưởng tập hồ sơ thổ trạch đứng tên bà tướng với lời yêu cầu ông phê chuẩn sự hợp thức hóa tình trạng sỡ hữu phần đất của bà. Sau khi xem xét kỹ hồ sơ và những qui định hành chánh về thủ tục hợp thức hóa đất đai thuộc phạm vi tỉnh, Đại tá tỉnh trưởng Trương Quang Ân có lời quyết định:

- Thiếu tá có thể trở về trình với bà tướng như thế nầy: Tôi đã xem xét kỹ càng về thủ tục hợp thức hóa thổ cư, điền thổ theo như các qui định hành chánh cho phép, nhưng lô đất nầy dẫu thuộc về tỉnh Gia Định, cũng là công thổ quốc gia nên tôi không thể hợp thức hóa quyền sỡ hữu của bà đối với phần đất đó được! Khoảng một thời gian ngắn sau, viên thiếu tá trở lại với lá thư viết tay của bà tướng cũng với yêu cầu như đã kể với lời lẽ quyết liệt dứt khoát hơn, kèm theo ý nghĩa đe dọa, chức vụ ông có thể bị ảnh hưởng xấu nếu tiếp tục đường lối cũ.

Và Đại tá tỉnh trưởng Gia Định cũng trả lời dứt khoát với nội dung minh bạch như đã nói một lần:

- Công thổ, công điền không thể bị chiếm đoạt, sang nhượng cho bất cứ ai. Kết quả Đại tá tỉnh trưởng Gia Định bàn giao chức vụ lại cho một viên đại tá sau nầy phải ra tòa vì tội buôn lậu và tham nhũng.

Đại tá Trương Quang Ân rời tỉnh Gia Định với luyến tiếc của mọi tầng lớp thân hào, nhân sĩ cùng binh sĩ, đồng bào các quận ven đô. Hãy nghe anh Heo, trung đội trưởng Nghĩa quân ấp Vĩnh Lộc, xã Tân Sơn Nhì, quận Tân Bình nói với chúng tôi (Tiểu đoàn 9 Dù đang giữ an ninh vòng đai Biệt khu Thủ đô vào thời điểm 1966-1967):

- Từ khi có ông tỉnh với mấy anh về đây, ban đêm tui ngủ ở nhà và đi nhậu như ở Sài Gòn!

Nếu Đại tá tỉnh trưởng Trương Quang Ân còn ở Gia Định vị tất các đơn vị Việt cộng có thể ngang nhiên tập trung nơi những chỗ ém quân ở Nhị Bình, Thạnh Lộc (Gò Vấp), hoặc Bà Điểm, Bà Hom (Hóc Môn), hay Phú Lâm, An Lạc (Bình Chánh)... để tấn công vào Sài Gòn trong những ngày đầu năm 1968. Và nếu điều nầy không xẩy ra thì chắc rằng mặt trận Sài Gòn Chợ Lớn Gia Định ắt sẽ có những hình thái khác. Đau thương của dân chúng, sinh mạng người lính hẳn sẽ bớt phần khốc liệt oan khiên hơn. Nhưng bởi người lính đã ra đi. Vị tỉnh trưởng thanh liêm phải rời bỏ nhiệm sở.

***

Phi trường Phụng Dực Ban Mê Thuột hôm ấy có một sinh hoạt khác hơn ngày thường với giàn quân nhạc của Sư đoàn 23 Bộ Binh đứng xếp hàng nhiêm chỉnh. Phòng khách phi trường được quét dọn sạch sẽ, có mặt gần như đầy đủ thành phần sĩ quan cao cấp của đơn vị và tiểu khu Darlac, đơn vị hành chính cùng có chung một địa bàn hoạt động với Sư đoàn, lực lượng diện địa quan yếu của Khu 23 Chiến thuật.

Chiếc máy bay C-47 hàng không quân sự đáp xuống, lố nhố những hành khách quân nhân và gia đình ào ra từ cửa máy bay. Giàn quân nhạc chuẩn bị nhạc cụ, sửa soạn trình tấu khúc Thượng Cấp Võ; đám sĩ quan vội vã xếp đội hình, tất cả chờ đợi viên tân tư lệnh xuất hiện. Họ chờ một tướng lãnh mặt trận có uy danh với những chiến công nơi trận địa mà ông đã thu đạt từ binh chủng Nhảy Dù qua những chức vụ sĩ quan chỉ huy những đơn vị tác chiến. Nhưng vị tướng với vóc dáng, y phục, cách thế như chờ đợi ấy đã không xuất hiện.

Người ta chỉ thấy một người lính với nón sắt hai lớp, lưới ngụy trang, quân phục tác chiến xanh của bộ binh, vai mang ba lô, tay xách sac marin đi lẫn vào cùng đám quân nhân hành khách.

- Hay là ông chưa tới?

Có thể ông đi máy bay Air Việt Nam để được sạch sẽ, lịch sự hơn chăng?! Đám sĩ quan nghi lễ bàn tán. Bỗng một người nhác thấy người lính đi hàng cuối mang bảng tên màu trắng kẻ chữ "Ân" đen trên nắp túi áo và ngôi sao huy hiệu cấp tướng màu đen may tiệp vào cổ áo tác chiến.

Không một chiếc huy chương ở phần ngực áo. Người nầy vội vã, hốt hoảng:

- Vào hàng! Vào hàng! Phắc!

Hành khách quân nhân cuối cùng kia vội đi nhanh đến chỗ viên sĩ quan trưởng toán chào kính, và nói nhanh, dẫu tiếng nhỏ nhưng dứt khoát:

- Trung tá cho anh em nghỉ, tôi không thể nhận!

Và khi đứng hẳn trước đoàn người, tướng Trương Quang Ân khiêm tốn giải thích:

- Cám ơn anh em đã đón tôi với đủ lễ nghi quân cách, nhưng tôi không được phép nhận vì chưa bàn giao đơn vị. Vậy chỉ cho tôi một xe Jeep cũng như những sĩ quan vừa đáo nhậm đơn vị mới và chờ cho tôi bàn giao với vị chỉ huy trưởng xong, các anh em hẳn dành cho tôi quân lễ đối với một tân tư lệnh!

Ông lên một chiếc Jeep trần trụi, sửa lại thế ngồi, bi đông nước, khẩu súng Colt, chiếc nón sắt hai lớp đội thẳng, sát xuống mí mắt đúng quân phong, quân kỷ ấn định. Đoàn xe ra khỏi phi trường, hướng khu dân cư nơi đặt những cơ sở quân sự của khu chiến thuật và tòa tỉnh trưởng. Sau chiếc Jeep cũ kỷ chở vị tân tư lệnh, một chiếc khác bóng loáng mới tinh khôi cắm cờ hiệu cấp tướng không người ngồi, chạy theo giữa bụi mù. Ngay sau khi nhậm chức, Tướng quân được dịp chứng nghiệm khả năng chỉ huy vào dịp Tết Mậu Thân, 1968 khi quân cộng sản tổng tấn công miền Nam mà thị xã Ban Mê Thuột với bộ tư lệnh Sư đoàn 23 là mục tiêu đầu tiên bị Trung đoàn 33 Cộng sản Bắc Việt tập trung dứt điểm.

Liền sau giờ giao thừa, lúc 1 giờ 35 đêm 29 rạng 30 tháng 1, 1968, 4 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 33 tăng cường 2 Tiểu đoàn 401 và 301 Cơ động tỉnh và 4 đại đội địa phương cùng du kích đồng loạt tấn công những mục tiêu của thị xã. Sở Hành chánh tài chánh, tòa hành chánh, dinh tỉnh trưởng, bộ chỉ huy tiểu khu, Đại đội 514 Vận tải, trại gia binh Đại đội Trinh sát, cư xá sĩ quan và bản doanh bộ tư lệnh sư đoàn là những vị trí phải được chiếm cứ trước hết.

Bởi phía chỉ huy quân sự đối phương hiểu rõ rằng, nếu đập vỡ được cơ quan chỉ huy, khống chế được thành phần nhân sự hoặc thân nhân, gia đình của lực lượng trừ bị tiếp ứng (Đại đội Trinh sát, thành phần sĩ quan chỉ huy, tham mưu sư đoàn) thì cuộc tấn công ắt chiếm giữ phần ưu thắng. Nhưng tất cả mũi tấn công đồng bị chận đứng trước cổng các doanh trại và âm mưu lùa dân vào thị xã biểu tình thực hiện bước tổng nổi dậy tiếp theo hoàn toàn bị thất bại.

Bởi từ bộ tư lệnh Sư đoàn 23, Tướng quân đã điều động ngay trong đêm cuộc phản công với Thiết đoàn 8 Kỵ binh, các Tiểu đoàn 2, và 3 thuộc Trung đoàn 45 Bộ Binh và Đại đội 45 Trinh sát đang hành quân bên ngoài thị xã. Lực lượng tấn công cộng sản hóa thành bị bao vây, chia cắt bởi đoàn quân tiếp ứng. Sáng ngày 30 (mồng một Tết âm lịch) lực lượng thiết kỵ và bộ binh của sư đoàn đã hoàn toàn giữ vững những vị trí, cơ quan quân sự, hành chánh trọng yếu của tỉnh và thị xã.

Về mặt chiến thuật, chúng ta có thể nói rằng âm mưu tiến chiếm Ban Mê Thuột bị dập tắt từ giờ phút đầu tiên, chỉ trừ những cơ sở như ty ngân khố, Sở Hành chánh tài chánh số 3 còn bị những tiểu tổ du kích chiếm đóng mà vì cốt tránh thiệt hại về nhân mạng cũng như tài sản chung nên phía tiểu khu, bộ tư lệnh sư đoàn chưa cho lệnh phản kích lấy lại.

Tính đến ngày mồng 6 Tết, mặt trận Ban Mê Thuột hoàn toàn được giải tỏa, Trung đoàn 33 và các đơn vị địa phương, du kích bị đánh bật ra khỏi vành đai thị xã để lại 924 xác trên hiện trường và 143 bị bắt sống. Nhưng mỉa mai thay, có một "lạnh nhạt cố ý" rất đáng chê trách: suốt chiến dịch ca ngợi thắng lợi kiên trì giữ vững miền Nam sau biến cố lớn lao nầy, công trận thủ thắng ở mặt trận Ban Mê Thuột "hình như" được cố ý loại bỏ. Điều nầy càng thấy được cụ thể qua tập quân sử tổng kết "Cuộc Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa của Việt Cộng Tết Mậu Thân 1968", danh tính vị Tướng quân tư lệnh Sư đoàn 23, Chuẩn tướng Trương Quang Ân hoàn toàn không được nhắc tới một lần, cho dù có hình ảnh của người cùng viên tư lệnh Quân khu đi xem xét chiến lợi phẩm sau khi mặt trận im tiếng súng và quân địch đã toàn phần bị đánh bại.

Khi những người cầm quyền quốc gia, lãnh đạo quân đội xem nhẹ kẻ sĩ, bạc đãi chiến sĩ, danh tướng thì chỉ dấu suy thoái của quốc gia, quân đội đó ắt đã phát hiện. Nếu những người lính mang tên Trương Quang Ân, Nguyễn Viết Thanh, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Trần văn Hai, Lê văn Hưng nắm quyền thống lĩnh quân đội, trọng trách vận mệnh quốc gia từ thập niên 60, đầu những năm 70, thì đâu có ngày đau thương oan nghiệt 30 tháng 4, 1975. Chúng ta phải kêu lên tiếng uất hận vỡ trời cùng anh linh Chiến Sĩ - Tướng Quân. Một ngày hè giữa năm 1970 sau buổi thuyết trình buổi sáng tại trung tâm hành quân, Chuẩn tướng tư lệnh cùng cố vấn sư đoàn, vị sĩ quan Phòng 3 ra bãi đáp trực thăng cạnh bộ tư lệnh để đi thanh tra, kiểm soát những đơn vị thuộc quyền đang hành quân trong phạm vi quận Đức Lập.

Theo thường lệ, Tướng quân đi cùng những giới chức trên bằng trực thăng UH-1D của hệ thống cố vấn Mỹ, nhưng bởi sáng nay có bà tháp tùng theo cùng để đến thăm gia đình binh sĩ của đơn vị có hậu cứ tại quận lỵ, nên hai người quyết định sử dụng trực thăng H-34 của Không quân Việt Nam, cũng cốt để chở được nhiều nhu yếu phẩm, quà tặng cho binh sĩ và gia đình của họ. Hai vợ chồng Người Lính lớn nhất của đơn vị đi thăm hỏi mỗi gia đình binh sĩ, bà ngồi xuống giữa những người vợ lính, những em bé xao xác do thiếu dinh dưỡng, trú ngụ nơi những lều trại dã chiến mà người lính tạm dựng lên tại tiền trạm vùng hành quân. Bà bối rối, băn khoăn về nỗi khổ của từng người, bà ôm không hết những em nhỏ với nước mắt rưng rưng thương cảm.

Ông yên lặng đi đến tại mỗi vị trí phòng thủ, xem xét những khẩu pháo, hỏi kỹ về nhu cầu của đơn vị và luôn nhắc nhở cán bộ sĩ quan:

- Phải luôn cố gắng chăm sóc đời sống anh em, họ đã quá thiếu thốn, quá gian khổ, bổn phận của cấp chỉ huy là phải tận tụy hết lòng với mỗi người lính của mình. Ai cũng có thể có khuyết điểm nhưng cần nhất là biết phục thiện, sửa chữa.

Buổi thăm viếng đã quá lâu, cố vấn Mỹ, toán sĩ quan tham mưu, cũng như cá nhân tướng tư lệnh phải trở về Ban Mê Thuột; những người vợ binh sĩ vây quanh bà, bà bước đi ngập ngừng. "Về mình ạ, mình còn trở lại nhiều lần nữa, mình nói với các chị, các cháu như thế!" Ông bắt tay từng sĩ quan, ân cần đáp lại ánh mắt lưu luyến của binh sĩ. Cánh quạt chiếc H-34 bắt đầu quay, Tướng quân đỡ phu nhân, chiến hữu sắc son của Người suốt đời dài binh đao, bước lên cửa máy bay vì sức gió mạnh xô đẩy. Hai Người Lính nhìn lại những bóng người dưới đất bắt đầu mờ dần do nước mắt của bà đã thấm nhòa cảm xúc.

Người dưới đất đưa tay ngoắc từ biệt. Bỗng như tia chớp cực mạnh lóe sáng, con tàu bùng vỡ thành khối lửa hung hản ác độc và lao nhanh xuống như một mũi tên. Khu trại gia binh đồng la lớn kinh hoàng:

- Chết rồi! Chết rồi trời ơi!

- Ông bà tướng chết rồi trời ơi! Trời ơi là trời ơi!!

Những người vợ lính bật khóc cùng với những đứa con gào ngất trong tay bởi ánh lửa đỏ rực sáng loáng khoảng trời. Tướng quân Trương Quang Ân cùng phu nhân Dương thị Thanh trở về cùng mặt đất quê hương như trong tuổi thanh xuân hai Người Lính đã kết hợp giữa bầu trời Tổ Quốc.

Trong buổi phát tang nhị liệt vị, sĩ quan nghi lễ kê khai phần tài sản để lại gồm: 53,000 đồng, tiền lương tháng cuối cùng của Tướng quân, và 8 chiếc áo dài nội hóa của phu nhân.

Chúng ta hôm nay cùng sông núi kính cẩn nghiêng mình trước Anh Linh Người Lính Thanh Cao, Trung Liệt đã vô vàn tận hiến với nước Việt Miền Nam: Thiếu Sinh Quân - Người Lính Cộng Hòa Trương Quang Ân.


Vài hình ảnh tang lễ vợ chồng vị Tướng lãnh nổi tiếng là kỷ luật và thanh liêm của Quân lực VNCH do Phòng Nhiếp ảnh, Bộ Thông Tin Tâm Lý Chiến, Việt Nam Cộng Hòa thực hiện.

(nguồn: Người Việt Boston)

Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu và Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ đến chia buồn cùng tang quyến tại tư gia cố Chuẩn Tướng Trương Quang Ân, số 58 cư xá Lê Đại Hành, Phú Thọ, Sài gòn vào thứ tư ngày 11 tháng 9 năm 1968.

Thủ Tướng Trần Văn Hương, Tổng Trưởng Quốc Phòng Trung Tướng Nguyễn Văn Vỹ và các Tổng Trưởng trong nội các.

Các Tướng Lãnh trong quân phục tác chiến từ trái: Thiếu Tướng Trần Văn Trung, Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh Chính trị; Đề Đốc Trần Văn Chơn, Tư Lệnh Hải Quân; Thiếu Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân; Chuẩn Tướng Đồng Văn Khuyên, Tổng Cục Trưởng Tổng cục Tiếp Vận; một vị Thiếu Tướng và Thiếu Tướng Nguyễn Văn Mạnh, Tư lệnh Quân đoàn IV và Quân khu 4, cựu Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh.

Bàn thờ và quan tài tại tư gia có Đại tá Vũ Quang Tài, Cục trưởng Cục Xã hội hầu quan tài.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu truy thăng cấp Thiếu Tướng và truy tặng Đệ nhị đẳng Bảo Quốc Huân Chương kèm Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu cho cố Chuẩn Tướng Trương Quang Ân.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu truy tặng Đệ ngũ đẳng Bảo Quốc Huân Chương cho phu nhân Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân, bà Dương Thị Kim Thanh, Chủ Tịch Hội Bảo Trợ Gia Đình Binh Sĩ Sư đoàn 23 Bộ binh và Khu 23 Chiến thuật.

Động quan, linh cữu Cố Thiếu tướng Trương Quang Ân rời nhà


Thủ Tướng Trần Văn Hương, Đại Tá Nguyễn Cả, Trưởng Phòng Nhất Bộ TTM và gia đình trước nhà

Xe tang chuyển bánh và đoàn xe dẫn đầu dưới cơn mưa tầm tã

Đến nghiã trang Mạc Đĩnh Chi trời vẫn mưa nặng hột.

Trên đường đến nơi an nghỉ: quan tài Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân

Theo sau là quan tài cựu Chuẩn Úy Dương Thị Kim Thanh

Hai quan tài song song trên huyệt lạnh dưới bầu trời ảm đạm.

Trung Tướng Nguyễn Văn Là, Tổng Tham Mưu Phó kiêm Tư Lệnh Điạ Phương Quân và Nghiã quân, đại diện Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đọc điếu văn.

Xếp cờ phủ - Quân lực Việt nam Cộng hòa chào vĩnh biệt.

(bên trái) Đại Tá Võ Văn Cảnh, Quyền Tư Lệnh Sư đoàn với nắm đất cuối cùng cho vị tiền nhiệm.
(bên phải) Các con với nắm đất vĩnh viễn mất cha mẹ.

(bên trái) Hai ngôi mộ tại nghiã trang Mạc đỉnh Chi trước ngày giải tỏa (trong hình: Trương Quang Thế Anh, con trai duy nhất của ông bà Ân-Thanh đứng cạnh bà ngoại, cụ Tôn Nữ Kim Hoàng)

Ngày nay, hương khói tại chùa Vạn Phước, Sài gòn.

BCH (Theo Phan Nhật Nam)

TS Nguyễn Đình Thắng: Nỗi đau và nỗi nhục của chúng ta, tình trạng buôn bán người Việt

Trích Người Việt Boston

By anlac • Mar 4th, 2009 • Category: Từ Thiện Xã Hội

Đối với một dân tộc thì không có gì nhục và đau hơn là dân bị buôn và nước bị bán. Đó là hoàn cảnh của chúng ta ngày hôm nay. Một phần của đất nước bị dâng hiến cho ngoại bang thì nhiều người đã nói đến. Còn dân bị buôn thì chưa mấy ai biết hoặc quan tâm.

Mỗi năm hàng trăm, hàng ngàn đồng bào bị buôn, qua rất nhiều hình thức. Nào là những cô dâu bị đưa sang Đài Loan, Nam Hàn, Singapore. Và rồi hàng trăm phụ nữ và trẻ em bị đưa vào các hang ổ mãi dâm ở Cambốt, Thái Lan. Nhưng kinh khủng nhất thì phải nói đến các lao nô: một số lớn trong tổng số 600 ngàn công nhân Việt đang lao động ở ngoài nước nằm trong tình trạng nô lệ. Và hiểm hoạ tăng lên khi Việt Nam bắt đầu xuất cảng người Việt đi ở đợ cho chủ ở Mã Lai và các quốc gia Trung Đông.


Một số nạn nhân buôn người (ảnh CAMSA)

Khi đang viết những dòng này tôi nhận được điện thoại của một thanh niên Việt từ Phoenix, Arizona. Hốt hoảng và bủn rủn, anh cầu cứu hộ cho một người thân. Người này, một thiếu nữ từ Hậu Giang, cho biết là môi giới Việt Nam hứa hẹn đưa sang Mã Lai để làm trong nhà hàng với mức lương khá cao. Đến phi trường Kuala Lumpur thì cô bị tịch thu sổ thông hành và chở xe ô tô ra vùng ngoại ô nào đó. Cô bị giam cách li và tối tối được chở ra nhà điếm để đi khách. Tại đây cô gặp một số thiếu nữ Việt khác cùng hoàn cảnh, có người đã ba năm nay. Không ai biết mình đang ở đâu, thành phố nào. Gia đình ở Việt Nam xem như họ bị mất tích.

Trước những cảnh đau lòng ấy, chúng ta không thể không bùi ngùi cho thân phận của đồng bào. Điều may mắn là, nếu tập trung tâm trí và cùng dốc sức, chúng ta có cơ hội bài trừ tệ nạn buôn người này tận gốc rễ.

Chúng ta không đơn độc. Năm 2000 Liên Hiệp Quốc khởi xướng nỗ lực toàn cầu để chống buôn người. Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đầu tiên hưởng ứng. Ngày càng nhiều những quốc gia tham gia. Chúng ta có thể nương vào lực lượng quốc tế ngày càng lớn mạnh này để đối phó với tệ trạng buôn người đang hoành hành ở Việt Nam.

Để thực hiện điều này, tháng 2 năm 2008 bốn tổ chức từ ba quốc gia Hoa Kỳ, Gia Nã Đại và Đức cùng nhau thành lập Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Mới Ở Á Châu (Coalition to Abolish Modern-day Slavery in Asia, tức CAMSA). Chỉ trong vòng hai tháng, Liên Minh CAMSA đã giải cứu và can thiệp thành công cho hàng ngàn đồng bào ở Jordan và Mã Lai. Đầu năm nay Liên Minh CAMSA đã đóng góp tích cực cho đạo luật chống buôn người vừa được chính phủ Đài Loan ban hành.

Liên Minh CAMSA thực hiện kế hoạch toàn diện về cả chiều sâu lẫn bề rộng. Về chiều sâu, kế hoạch áp dụng nguyên tắc “truy nguyên”, nghĩa là khởi sự bằng cuộc giải cứu nạn nhân, rồi truy ngược về gốc ngõ hầu nhận diện các nhân tố buôn người: chủ sử dụng lao động, công ty môi giới ở quốc gia tiếp nhận, công ty môi giới ở Việt Nam và có khi cả những giới chức chính quyền can dự vào việc buôn người. Về bề rộng, kế hoạch này vận dụng tất cả những biện pháp đa dạng nhằm tạo áp lực tối đa lên từng nhân tố: vận động dư luận, truy tố dân sự và hình sự, đánh quyền lợi kinh tế, tạo ảnh hưởng ngoại giao và chính trị từ các chính phủ… Tôi tin tưởng rằng với kế hoạch này thì chỉ trong 5 năm chúng ta có thể làm giảm hẳn đi tình trạng buôn người ở Việt Nam.

Bước tiên khởi để thực hiện kế hoạch là thiết lập văn phòng thường trực, mà chúng tôi mệnh danh là “toà đại sứ tình thương”, ở những quốc gia có đông người Việt bị buôn. Qua đó chúng ta giải cứu nạn nhân và khởi đầu việc truy nguyên. Văn phòng này cũng sẽ là điểm tựa để huy động áp lực tổng hợp ở địa phương và phối hợp với những áp lực quốc tế. Hiện nay Liên Minh CAMSA đã lập toà đại sứ tình thương ở Mã Lai và dự định sẽ lập thêm toà đại sứ tình thương ở hai quốc gia nữa.

Để thực hiện kế hoạch toàn diện, chúng tôi rất cần sự tiếp tay của đồng bào ở khắp nơi. Mỗi toà đại sứ tình thương cần khoảng 50 ngàn Mỹ kim một năm để duy trì và điều hành. Đây không phải là một ngân khoản quá lớn cho tập thể lên đến hàng triệu người Việt ở hải ngoại.

Trở lại trường hợp đáng thương tâm kể trên, toà đại sứ tình thương ở Mã Lai đang tìm cách giải cứu cho các thiếu nữ Việt đang là nạn nhân. Riêng về anh thanh niên ở Phoenix, khi được biết tôi sẽ đến thành phố của anh trong ngày gần đây để dấy lên phong trào chống buôn người, anh cho biết sẽ hết lòng tiếp tay trong công tác này.

Buôn người ở thế kỷ 21 là điều nằm ngoài sức tưởng tượng của nhiều người, nhưng nó rầt cận kề. Đồng bào đang là nạn nhân và có thể chính thân nhân của chúng ta cũng sẽ không thoát khỏi nanh vuốt của kẻ đi buôn người.

Chúng ta hãy cùng nhau xoa dịu nỗi đau và rửa đi nỗi nhục chung này.
Mọi thông tin hay đóng góp, xin gởi về:

BPSOS/CAMSA
PO Box 8065
Falls Church, VA 22041-8065

Luật Sư Lê Thị Công Nhân được đề cử giải thưởng quốc tế Gruber về Luật

Trích Người Việt Online

Tuesday, March 03, 2009



medium_VN_74122856_LTCN.jpg

Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân trong phiên tòa ngày 11 Tháng Năm 2007. Cô bị vu cho tội “tuyên truyền chống nhà nước” và bị bản án 3 năm tù. (Hình: AFP/Getty Images)


PARIS 3-3 (NV) - Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân được Nghiệp Ðoàn Luật Sư Quốc Tế đề cử giải thưởng nhân quyền về nghề luật cho giải thưởng quốc tế Gruber International Prize Program.

“Luật Sư Lê Thị Công Nhân được Nghiệp Ðoàn Luật Sư Quốc Tế (UIA) đề nghị cho giải thưởng về nghề luật của tổ chức Peter and Patricia Gruber Foundation”. Ðiện thư gửi tới cho báo Người Việt từ nhóm thân hữu của Luật Sư Công Nhân báo tin này ngày hôm qua.

Ðây là một giải thưởng có giá trị tiền bạc khá lớn và một số người được trao giải thưởng này sau đó đã được trao giải thưởng Nobel.

“Ðính kèm theo thư này là đơn đề cử của UIA. Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân hiện đang bị cầm tù... Cũng đính kèm theo thư này là các tài liệu liệt kê thành tích của cô Lê Thị Công Nhân trong lãnh vực luật pháp bảo vệ nhân quyền khi cô hành nghề luật sư tại Việt Nam”. Bức thư của bà Julie Goffin, đồng phối trí viên bộ phận Nhân Quyền và Sự Bênh Vực Quyền Bào Chữa (Human Rights & Defence of The Defence Co-Ordinator) của tổ chức UIA, viết như vậy cho bà Sarah Hreha, phó chủ tịch điều hành Gruber Foundation.

Gruber Foundation đặt theo tên của vợ chồng ông Peter và bà Patricia Gruber. Ông Peter Gruber, sinh năm 1929, là di dân từ Hung Gia Lợi. Ông đã theo cha mẹ trốn được sang Ấn Ðộ với cha mẹ năm 1939 trước Thế Chiến Thứ Hai có hai tháng. Ông được gửi đi học ở một trường Dòng Tên ở Himalayas, nơi ông có cơ hội tìm hiểu ý nghĩa cũng như mục đích của đời người.

Thế Chiến II chấm dứt, ông trở nên chú ý nhiều đến cả khoa học, tôn giáo và triết học khi du học ở Úc. Ông cũng nghiên cứu về đạo Phật một thời gian và di cư đến New York Hoa Kỳ mà nơi đây ông thành lập Hội Nghiên Cứu Ðông Phương, bảo trợ các công trình phiên dịch và xuất bản sang Anh ngữ các tài liệu bằng chữ Tây Tạng.

Có một thời gian ngắn, ông phục vụ trong ngành tài chính của quân đội Hoa Kỳ rồi sau đó hoạt động ở thị trường chứng khoán New York.

Ông đã tạo lập được một tài sản lớn lao nhờ kinh doanh quản trị tài sản. Từ đó vợ chồng ông đã quyết định thành lập Gruber Foundation từ năm 1993 để hàng năm trao giải thưởng cho các nhân vật quốc tế đáng ca ngợi trong các lãnh vực về thần kinh học, thiên văn học, di truyền học, nữ quyền và luật pháp. Tiền cho mỗi giải thưởng hàng năm là $500,000 đô la.

“Tôi có được thông báo về chuyện này. Ðây là một vinh dự cho con gái tôi khi được đề cử dự tranh một giải thưởng quốc tế cao quí. Có nhiều người cũng được đề cử để tùy Hội Ðồng Cứu Xét tuyển chọn.” Bà Trần Thị Lệ, mẹ nữ luật sư Lê Thị Công Nhân nói như vậy với báo Người Việt sáng 3 Tháng Ba 2009.

Bà mới đi thăm con gái cách đây hơn một tuần lễ. Cô vẫn bị giam chung với những người khác gồm 60 tất cả trong một căn phòng chật hẹp hơn 40m2. Mỗi người chỉ được chia cho bề ngang có 80cm nên hè nóng cũng như Mùa Ðông phải nằm cài vào nhau trên sàn xi măng. Không đủ chỗ cho từng đó người nên phải xây thêm một cái “gác lửng” bằng xi măng thành 2 tầng trong một căn phòng giam.

Vì chế độ ăn uống dành cho tù nhân chỉ gồm ít cơm hẩm và rau luộc, bà Lệ phải tiếp tế đồ ăn khô cho con gái. Ðây cũng là trường hợp của Luật Sư Nguyễn Văn Ðài, (cùng vụ án với Luật Sư Lê Thị Công Nhân) và bao nhiêu tù nhân khác. Gia đình phải tiếp tế lương thực, quần áo, chăn màn cho thân nhân ở trong tù.

Bà Lê cho hay khoảng 4 tháng trước, bà có nhờ Tòa Ðại Sứ Mỹ chuyển qua đường ngoại giao vào nhà tù cho con gái 2 quyển tự điển lớn, một số sách thuật ngữ luật. Ðồng thời, Tòa Ðại Sứ Mỹ cũng gửi thêm vào cho Lê Thị Công Nhân một số sách. Cho đến nay, những thứ sách đó vẫn không được trao cho cô dù không phải là các loại sách bị cấm đọc trong tù.

Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, 30 tuổi, và Luật Sư Nguyễn Văn Ðài, 40 tuổi, bị CSVN vu cho tội “tuyên truyền chống nhà nước” và bị kết án tù ngày 11 Tháng Năm 2007. Phiên tòa phúc thẩm ngày 27 Tháng Mười Một 2007 chỉ giảm án từ 4 năm còn 3 năm cho Luật Sư Lê Thị Công Nhân và từ 5 năm xuống còn 4 năm cho Luật Sư Nguyễn Văn Ðài dù các luật sư biện hộ đã chứng minh rất thuyết phục cho thấy không những hai người này không hề vi phạm điều luật nào của chế độ, hệ thống tòa án CSVN đã sai trái trong thủ tục tố tụng hình sự.

Dù vậy, họ vẫn bị nhốt vào tù. Nhiều chính phủ Tây phương và các tổ chức nhân quyền quốc tế đã kịch liệt đả kích chế độ Hà Nội đã bóp nghẹt quyền làm người của Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân cũng như của những người tham gia đấu tranh đòi tự do dân chủ ở trong nước.

Mới đây, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ công bố bản phúc trình thường niên về tình hình nhân quyền thế giới đã nói rằng tình hình nhân quyền tại Việt Nam vẫn tồi tệ.

Tuesday, March 3, 2009

Chiến thuật "gà thả vườn" của công an Gò Vấp

Trích Blog Tạ Phong Tần


Theo kế hoạch, ngày 3/3/2009 Luật sư Lê Trần Luật sẽ bay ra Hà Nội để cùng các giáo dân Thái Hà nộp đơn khởi kiện báo Hà Nội Mới và Đài Truyền Hình Việt Nam.

Khoảng 6 giờ sáng ngày 3/3/2009, tôi đang ngủ thì ông Luật gọi điện thoại bảo tôi ra sân bay Tân Sơn Nhất đem hành lý của ông Luật về, vì "bị họ chặn lại không cho lên máy bay". Ông Luật không nói rõ "họ" ở đây là ai.

Tôi lập tức cùng Luật sư Đạt đi xe máy ra ngay sân bay. Đến cổng an ninh sân bay, tôi nhìn thấy ông Luật đang đứng đó cùng với anh Đặng Phương Quang - mặc sắc phục Cảnh sát khu vực CAP7 (Gò Vấp), còn lại xung quanh có khoảng gần 20 người thanh niên mặc thường phục quần áo rất lôi thôi đi qua đi lại vây quanh ông Luật nhưng dáng vẻ nghênh ngang như ở chốn không người, dù tại đó có hai anh mặc sắc phục An ninh sân bay đang đứng chần dần. Dĩ nhiên, tôi không có vé máy bay nên không thể đi qua cái cổng ấy. Tôi mới hỏi ông Luật: "Có chuyện gì vậy?". Ông Luật trả lời: "Mấy anh này giữ lại không cho lên máy bay, bảo là lệnh sếp như vậy, hành lý đã đưa lên máy bay rồi, bây giờ đang chờ lấy hành lý lại". Tôi quay ra hỏi: "Chuyện này là sao vậy anh Quang?". Anh Quang trả lời lí nhí: "Em không biết. Tại lãnh đạo bảo như thế thì phải làm như thế".

Trong khi tôi đang nói chuyện với anh Quang thì mấy thanh niên này xúm lại nhìn tôi. Tôi hỏi một thanh niên mặc áo thun trắng bỏ ngoài quần, cắt đầu đinh: "Các anh là ai vậy?". "An ninh kinh tế. Chị là ai?". Nghe câu trả lời muốn cười bể bụng, chắc mấy chú này tưởng tôi không biết "an ninh kinh tế" là cái giống gì nên đem ra "hù" tôi chăng? Tôi chỉ ông Luật nói: "Tôi là nhân viên của ông này". "Nhân viên là sao?". "Ơ! Các anh giữ ông này lại ở đây mà không biết ông ta là ai à? Không hiểu nhân viên của ông này làm cái gì à?". Mới nói đến đây thì một người đàn ông khoảng hơn 50 tuổi, tầm vóc trung bình, mắt hi hí, mặt nhăn nhó như cái bị rách, nói giọng Bắc the thé nhảy xổ vào quát tôi: "Chị không được phép hỏi chúng tôi. Chị chỉ được hỏi anh Quang thôi". Ơ hay, cái nhà ông này lạ chưa, ông ta là ai mà dám cấm tôi hỏi? Ông ta không mặc đồng phục, sắc phục của cơ quan, tổ chức nào, không có bảng tên, cũng không xuất trình giấy chứng minh cho tôi xem, áo quần thì còn tệ hơn mấy tay xe ôm ngoài cổng sân bay, điệu bộ thì ngênh ngang, nhìn giống xã hội đen nhiều hơn là người lao động lương thiện, ai biết ông ta là cái quái quỷ nào. Lúc đó mà có Ban giám khảo chấm điểm về thời trang thanh lịch chắc chắn tôi chiếm hạng nhất (dù tôi chả ăn mặc sang trọng gì) chớ không phải ông ta hay mấy tay thanh niên nghênh ngang kia.

Tôi vốn dĩ không thích đôi co, cãi cọ với kẻ ngang ngược, những ngữ này thì biết gì lý lẽ mà nói cho vã bọt mép, nói nhiều thì cũng trôi tuột đi như "nước đổ đầu vịt" mà thôi. Chờ lấy va ly hành lý xong tôi đi về.

Vừa về đến Văn phòng, đã gặp ngay "quan phường" đến đưa "Giấy Mời" Luật sư Nguyễn Quốc Đạt và cô kế toán Quỳnh Nhi. Hê hê, coi như Văn phòng này ai cũng đều có Giấy Mời rải đều hết. Thôi thì bảo nhau "khăn gói quả mướp" dọn hết Văn phòng cùng với toàn bộ nhân viên lên Công an quận Gò Vấp ở làm việc luôn cho tiện cả đôi bên. Trời Sài Gòn tháng này nắng nóng chói chang, khỏi mất công các chú Công an Gò Vấp mời tới mời lui cho nắng cực.

10 giờ cùng ngày, ông Luật gọi điện thoại cho tôi hay ông đang ở Công an quận Gò Vấp trong tình trạng: không ai làm việc, giữ không lý do, giữ không giấy tờ mà theo "lệnh của sếp" (chả biết sếp nào), nhưng đi ra phía cổng thì bị gác cổng lôi vô, nghe thật giống y như gà thả trong vườn. Đến đúng 11 giờ trưa mới thấy ông Luật được "hộ tống" trở về. Hình như mấy chú kia sợ ông Luật đi một mình thì "lạc đường" chăng? Đầu giờ làm việc buổi chiều, đích thân "mấy chú" đến tận Văn phòng rước "gà" đem vô "vườn" "thả" tiếp đến 5 giờ chiều. N

Ngày mai tôi không biết ông Luật có "làm gà" nữa hay không, bởi lẽ khi nhà cầm quyền không hành xử theo pháp luật thì không thể căn cứ vào quy định pháp luật mà đoán trước được chuyện gì sẽ xảy ra.

Nói chung là làm cách nào cho "gà" không còn điều kiện "xía mỏ" mổ mổ mổ vào các mụt ghẻ ung nhọt của ai đó thì thôi.

Tạ Phong Tần

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Tỉ lệ thất nghiệp ở VN sẽ tăng gấp 5 trong năm 2009

Trích VOA

03/03/2009

Vietnam seafood
Ngành dệt may, giày dép và chế biến thủy hải sản là những khu vực có tỉ lệ thất nghiệp cao nhất
Các giới chức chính phủ Việt Nam cho hay tình trạng suy giảm kinh tế toàn cầu sẽ khiến tỉ lệ thất nghiệp ở Việt Nam trong năm 2009 tăng 5 lần so với năm 2008.

Bản tin của DPA trích lời bà Nguyễn Thị Hải Vân, phó cục trưởng Cục Việc làm, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam, nói rằng theo dự đoán của Bộ Lao động thì khoảng 300,000 công nhân có phần chắc sẽ mất việc trong nửa đầu năm 2009, và khoảng hơn 100,000 công nhân nữa sẽ bị giảm biên chế trong nửa cuối năm 2009.

Theo cục trưởng Nguyễn Đại Đồng thì con số này cao gấp 5 lần so với con số 80 ngàn công nhân mất việc làm trong năm 2008.

Những con số này chỉ phản ánh tình trạng thất nghiệp của công nhân ở khu vực chính thức chứ chưa tính đến khu vực phi chính thức như những người buôn bán trên đường phố và nông dân.

Các giới chức cho biết họ chỉ đang thu thập dữ liệu và so sánh số việc làm tạo được và số việc làm mất đi. Bà Bùi thị Thuý Quỳnh, một giới chức cao cấp của Cục cho biết là 70% số công nhân bị sa thải ở Thành phố Hồ Chí Minh đã tìm được việc làm mới.

Tuy nhiên, với sự phụ thuộc vào xuất khẩu của nền kinh tế Việt Nam, thì rõ ràng sự suy giảm kinh tế toàn cầu sẽ khiến cho tình trạng thất nghiệp trở nên trầm trọng.

Một giới chức cao cấp khác của Cục cũng cho biết ngành dệt may, giày dép và chế biến thuỷ hải sản là những khu vực có tỉ lệ thất nghiệp cao nhất.

Việt Nam hiện vẫn chưa có cơ chế bảo hiểm thất nghiệp. Theo dự kiến thì hệ thống này sẽ có hiệu lực vào năm 2010.

Để khắc phục tình trạng này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã loan báo hôm 23 tháng 2 rằng những công ty nào sa thải 30% công nhân sẽ được vay ngân hàng với lãi suất 0% để tiếp tục trả lương cho công nhân bị sa thải.

Việt Nam hiện có lực lượng lao động khoảng 45 triệu người và mỗi năm lại có thêm hơn 1 triệu người nữa tham gia vào lực lượng này, khiến cho áp lực đối với chính phủ phải tạo thêm nhiều việc làm ngày càng gia tăng.



Giải thưởng cho bloggers trong nước

Hiện nay, Take2Tango đang phối hợp với Diễn đàn Tiếng nói Tự do của người dân Việt Nam tổ chức trao giải thưởng cho các bloggers trong nước. Các blogger trong nước đều có thể dự thi. Hy vọng rằng đây sẽ là giải thưởng hàng năm nhằm khuyến khích các blogger trong nước có sự khích lệ để phát triển mạnh hơn nữa.

Luật sư Lê Trần Luật bị công an áp giải tại phi trường Tân Sơn Nhất

Trích rfa.org

Hiền Vy, phóng viên RFA
2009-03-03
Sáng thứ Ba 3-3, công an thành phố Hồ Chí Minh đã ngăn chận không cho luật sư Lê Trần Luật lên máy bay đi Hà Nội.
LS Lê Trần Luật gặp rắc rối với công an vì đã đứng ra bào chữa cho giáo dân Thái Hà?
Sau đó công an đã áp giải Luật sư Lê Trần Luật về cơ quan công an Gò Vấp. Từ Sài Gòn, Luật sư Lê Trần Luật cho thông tín viên Hiền Vy của ban Việt ngữ chúng tôi biết vụ việc.
Lệnh của cấp trên
Hiền Vy: Thưa luật sư, chuyện gì đã xảy ra sáng nay tại phi trường Tân Sơn Nhất ?
LS Lê Trần Luật: Sáng nay tôi đi ra Hà Nội vì có hẹn với bà Dung và bà Việt. Chúng tôi sẽ chính thức gửi đơn khởi kiện báo Hà Nội Mới vì chúng tôi đã có đầy đủ những điều kiện cần thiết theo yêu cầu của tòa án rồi.
Khi tôi mở cửa ra thì tôi thấy khoảng 6 người của lực lượng an ninh chay theo tôi. Chạy tới sân bay thì họ ào vào trước, họ nhờ lực lượng an ninh của sân bay ngay cổng không cho tôi đi.
Tôi bảo là không có lý do gì để mà không cho tôi đi hết. Tôi vẫn đi vào, làm xong thủ tục. Tôi gửi hành lý xong, vào phòng chờ thì mấy phút sau, an ninh của sân bay mời tôi quay trở lại phòng an ninh của sân bay để làm việc.
Tại đây tôi thấy chừng mười mấy người, mặc sắc phục cũng có mà không sắc phục cũng có. Một người bảo là họ có lệnh của cấp trên không cho tôi đi.
Khi tôi mở cửa ra thì tôi thấy khoảng 6 người của lực lượng an ninh chay theo tôi. Chạy tới sân bay thì họ ào vào trước, họ nhờ lực lượng an ninh của sân bay ngay cổng không cho tôi đi.
LS Lê Trần Luật
Tôi hỏi là lý do nào mà không cho tôi đi, tôi đã làm xong thủ tục hết rồi, đâu có một cái lệnh nào mà cấm tôi không được đi. Thì người đó giải thích là “đây là lệnh của cấp trên, chúng tôi chỉ biết là phải cản anh, không cho anh đi”.
Sau đó họ đề nghị lực lượng an ninh sân bay là hoãn chuyến bay lại để họ đem toàn bộ đồ đạc của tôi ra khỏi sân bay. Ra khỏi sân bay thì họ thỏa thuận là đưa tôi về văn phòng nhưng sau đó họ đổi ý rồi cho 1 xe cảnh sát tới và họ tống tôi lên xe cảnh sát đó và chở tôi thẳng về công an Gò Vấp.
Hiền Vy: Thưa khi họ bắt ông như vậy thì họ có nói lý do tại sao không ạ ?
LS Lê Trần Luật: Họ không nói lý do gì hết, họ chỉ nói là lệnh cấp trên không cho tôi đi. Họ bảo dứt khoát là không cho đi, bản thân của lực lượng an ninh sân bay cũng nhất quyết không cho tôi đi. Họ buộc tôi phải đi xuống lại và lấy hành lý đi về, và sau đó đưa tôi sang công an Gò Vấp.

Biên bản tịch biên tài sản. courtesy of Cong Ly Su That's blog Tại đây tôi gặp một anh công an, anh ấy cứ cười cười bảo là “Anh Luật cố gắng ở đây chơi 1 ngày” tôi nói là tôi không có chơi, tôi còn nhiều việc lắm. Anh ấy nói là anh ấy có lệnh phải giữ tôi 24 tiếng.
Tôi nói là nếu giữ tôi thì phải cho tôi biết là quyết định tạm giữ dựa trên cơ sở nào. Anh ấy nói là “anh Luật thông cảm, đây không có quyết định gì hết, anh Luật chỉ ở đây chơi thôi”.
Tôi nói nếu thế thì tôi đi về. Khi tôi ra tới cổng thì lực lượng bảo vệ công an đẩy tôi vào. Khi vào, tôi hỏi phải cho tôi cái lệnh tạm giữ thì không ai trả lời tôi hết, họ bỏ đi hết. Tôi ra cổng thì lực lượng công an không cho tôi đi thành ra tôi ở trong công an.
Cuối cùng mấy ảnh đem một cái ghế bố và một cái quạt tới ngay cái phòng của cơ quan điều tra rồi bảo tôi nằm đó nghỉ. Đến trưa thì họ nhờ lực lượng an ninh đưa tôi về và họ bảo đến đầu giờ chiều họ sẽ đến văn phòng đưa tôi qua cơ quan công an
Hiền Vy: Sáng nay tại Gò Vấp họ có phỏng vấn, có điều tra, có làm gì không?
LS Lê Trần Luật: Họ không làm gì, tức là tất cả những gì họ muốn làm với tôi, tôi đã làm xong, kể cả thi hành án họ cũng đã làm xong. Bây giờ họ lại năn nỉ tôi lên đóng tiền để lấy máy vi tính về.
Rồi cái việc bên công an mời thì họ cũng đã kết luận đây là một vụ việc dân sự bình thường. Nói chung là không có lý do gì hết .
Hiền Vy: Thưa ông đêm hôm trước thì có triệu chứng gì không ?
Không có án lệnh, không có bất cứ một loại giấy tờ nào hết và họ cũng chẳng làm việc gì, họ chỉ giữ tôi ở đó.
LS Lê Trần Luật
LS Lê Trần Luật: Đêm hôm trước thì mọi chuyện vẫn bình thường, chỉ đến lúc 9 giờ đêm tôi nhận đươc điện thoại của hãng hàng không Indochina thông báo cho tôi là chuyến bay của tôi không được đi thì ngay lập tức tôi đi mua một vé máy bay khác.
Bây giờ khi tôi hỏi lại hãng máy bay thì được trả lời là hãng máy bay đã nhận được lệnh là không cho tôi đi và mời tôi đến hãng máy bay để nhận lại tiền.
Liên quan đến vụ Thái Hà?
Hiền Vy: Thưa ông, họ nói là nhận được lệnh thì như vậy là lệnh của ai?
LS Lê Trần Luật: Họ chỉ bảo là họ nhận được lệnh từ phía công an là không cho tôi đi trên chuyến bay đó và mời tôi qua nhận tiền. Đêm hôm qua tôi không đồng ý chuyện đó nhưng trong linh cảm của mình tôi biết sắp rắc rối cho nên tôi mua tiếp một vé máy bay khác của hãng Jetstar.

LS Lê Trần Luật (phải) tham gia bào chữa cho các giáo dân Thái Hà tại phiên tòa ở Hà Nội. Sáng hôm nay tôi đi thì họ dùng lực lượng an ninh sân bay cản lại và cưỡng chế tôi về
Hiền Vy: Thưa, ông đã ở tại cơ quan an ninh Gò Vấp hết nguyên sáng hôm nay ạ?
LS Lê Trần Luật: Từ 6 giờ rưỡi thì họ cưỡng chế tôi về tới công an Gò Vấp và đến 11 giờ trưa thì họ thông báo cho tôi là cơ quan an ninh sẽ đưa tôi về tới nhà, sau đó 1 giờ rưởi chiều thì sẽ có người đến văn phòng của tôi để đưa tôi qua công an Gò Vấp lại
Hiền Vy: Họ mời đi như vậy mà không có một án lệnh nào hết sao?
LS Lê Trần Luật: Không có án lệnh, không có bất cứ một loại giấy tờ nào hết và họ cũng chẳng làm việc gì, họ chỉ giữ tôi ở đó.
Hiền Vy: Thưa ông bây giờ bên Việt Nam là mấy giờ ạ?
LS Lê Trần Luật: Bây giờ 11 giờ 30, họ vừa thả tôi về cách đây 15 phút.
Hiền Vy: Họ dặn là mấy giờ đến đón ông đi?
LS Lê Trần Luật: 1:30 thì sẽ có lực lượng an ninh đến đưa đi qua bên công an Gò Vấp và sẽ tiếp tục ở vậy chứ không ai làm việc hết họ cũng để sẵn cái ghế bố và cái gối cho tôi nằm. Họ bảo qua bên công an là ngủ thôi rồi chiều về thôi
Hiền Vy: Theo như ông thì tại sao họ ngăn chặn ông, không cho ông đi ra Hà Nội ? Và họ giữ ông trong cơ quan để làm gì ạ?
Chúng ta đang sống trong một chế độ mà quyền con người đã bị chà đạp một cách thô bạo.
LS Lê Trần Luật
LS Lê Trần Luật: Trong cách phán đoán của tôi, thì họ không muốn tôi làm công việc ở Thái Hà; một là phiên tòa phúc thẩm, hai là kiện các cơ quan truyền thông. Một phần khác nữa tôi là luật sư của 6 nhà đấu tranh dân chủ, đều ở ngoài Bắc hết thì việc họ không cho tôi ra có thể là vì những lý do đó
Hiền Vy: Thưa, nhân viên trong văn phòng của ông thì như thế nào?
LS Lê Trần Luật: Tất cả nhân viên của tôi đều được lệnh triệu tập của công an hết, bao gồm cô Tạ Phong Tần, luật sư Đạt, luật sư Hùng, rồi cô kế toán. Tất cả đều có giấy mời của công an Gò Vấp mời lên làm việc.
Bản thân tôi sắp tới tôi phải làm việc với Thuế trong vòng 2 ngày để giải trình thuế về những năm 2005, 2006, 2007, cách đây ba bốn năm rồi mà bỗng dưng họ yêu cầu tôi đến để giải trình.
Các vị cũng biết là máy móc của tôi đã bị thi hành án tịch thu hết rồi, bây giờ không biết cái số liệu nào để tôi giải trình với họ nữa
Hiền Vy: Thưa ông có muốn nhắn gửi gì không?
LS Lê Trần Luật: Chúng ta đang sống trong một chế độ mà quyền con người đã bị chà đạp một cách thô bạo. Ngay cả bản thân tôi là một luật sư, cũng trở thành nạn nhân của vấn nạn cường hào thì thử hỏi những người dân oan, những người thấp cổ bé họng khác thì họ chịu biết bao nhiêu sự đau khổ.
Tôi mong truyền thông và các đồng bào trong nước cũng như nước ngoài hãy tiếp tục hỗ trợ cho chúng tôi trên bước đường đi tìm công lý.
Hiền Vy: Cám ơn LS Lê Trần Luật!


Monday, March 2, 2009

Dạy sai có thể khiến cả một dân tộc sai lầm

Trích VietNamNet

(TuanVietNam)- “Hiện nay từ đào tạo mẫu giáo đến đào tạo tiến sĩ phương pháp dạy đều giống nhau. Cách làm này sẽ thủ tiêu sức sống cá nhân. Cứ học dồn, cứ nghĩ rằng làm trước là xong mà không thấy chất lượng cuộc sống của mỗi giai đoạn một khác... Bản thân tôi cả một đời dạy học. Với tôi, “trẻ em là cứu tinh của dân tộc”. Giáo sư Hồ Ngọc Đại trăn trở.


Giáo sư Hồ Ngọc Đại (trái) và Nhà báo Nguyễn Quang Thiều.
Ảnh Phạm Hải


Trẻ con luôn luôn đúng?

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thưa quý vị độc giả, câu hỏi muôn thuở của xã hội về một thứ sản phẩm, và đây cũng là sản phẩm quan trọng nhất, hệ trọng nhất làm nên đời sống, xã hội. Đó là sản phẩm người. Nhưng chúng ta cũng bắt đầu thấy lo lắng về sản phẩm này. Dường như có điều bất ổn, khiếm khuyết, sai lầm, ở đâu đó trong hệ thống giáo dục.

Cũng chính vì điều đó, VietNamNet đã mời Giáo sư Hồ Ngọc Đại- một người dành tâm huyết cả đời mình cho nền giáo dục, cùng bàn luận về một trong những vấn đề cấp bách của giáo dục nước nhà: đào tạo dạy dỗ học sinh tiểu học.

GS. Hồ Ngọc Đại: Cuộc sống hiện nay đã khác trước rất nhiều. Có căn cứ nào để chúng ta nói về sự đúng - sai. Theo tôi, có hai căn cứ để xác định một vấn đề là sai hay đúng trong giáo dục.

Căn cứ quan trọng nhất là cuộc sống thật, cuộc sống ta đang sống, mà triết học gọi là khách quan. Gọi là cuộc sống thật, vì nó phải sống thật, không thể giả dối được. Cuộc sống ấy phải là cơ sở để xử lý tất cả mọi vấn đề (văn hóa, khoa học, chính trị, thơ văn...). Và cuộc sống thật của ta so với cuộc sống thật của nền giáo dục hiện nay như thế nào?

Căn cứ thứ hai là trẻ em hiện đại. Giáo dục trẻ em, dạy trẻ con, cần phải biết nó là cái gì? Từ cuối thế kỷ 20, khi ở châu Âu, tôi đã nhận thức được một điều là cuộc sống biến đổi ghê gớm. Tôi đã chứng kiến sự nổi loạn của sinh viên. Tôi cũng đã từng có một cuộc phiêu lưu lớn trong giáo dục. Nhưng cuộc phiêu lưu ấy thất bại.

Vì sao có cuộc nổi loạn của sinh viên năm 1968 và tại sao lại có sự nổi loạn của giáo dục thế giới hồi năm 1960? Là vì họ không chấp nhận được cái nền giáo dục hiện tại của họ. Không thể chấp nhận được vì cuộc sống hiện đại đã hoàn toàn thay đổi.

Sự biến đổi của tuổi trẻ thế kỷ này đã khác rất nhiều so với thế kỷ trước. Những đứa trẻ lên 5 lên 6 tuổi sống ở thế kỷ 20 đã có thể đi làm nuôi em. Nhưng giờ đây, lứa tuổi 18, 20 vẫn còn bé bỏng, vẫn cần cha mẹ chu cấp.

Do vậy, tôi kết luận: cuộc sống thực luôn luôn đúng. Cuộc sống thực không thể sai. Cuộc sống là như thế, vì nó buộc phải như thế. Cho nên, tôi gọi triết lý gốc của con người là từ đó: Muốn gì thì gì, phải sống đã. Và rồi mới tính đến chuyện sống tốt hơn.

Trong cuộc sống thực ấy, chúng ta cứ giả định trẻ em luôn sống đúng. Điều đó có thể khiến các thầy giáo sẽ khó chấp nhận. Vậy trong tình huống này phải xử lý thế nào?

Khi mà cuộc sống diễn ra hiển nhiên như thế và dĩ nhiên ta phải sống. Do vậy có khi anh phải chấp nhận chịu thua cuộc sống, đơn giản vì anh không thể thắng nổi. Đối với trẻ em, vì đã xác định chúng luôn đúng, cho nên ta phải bằng lòng với hiện thực này.

Nguyên lý một nhà giáo dục là phải biết chịu thua trẻ em, để rồi sau đó tìm cách thắng lại, mà phải làm sao để thắng được cái lý của chúng, chứ không phải thắng cái lý của mình.

Nếu độc giả chấp nhận hai mệnh đề tôi vừa đề xuất là cuộc sống thực luôn luôn đúng và trẻ em luôn luôn đúng thì cứ căn cứ vào đó chúng ta sẽ xử lý được mọi vấn đề.

Do vậy, trong một nền giáo dục mà được trẻ em chấp nhận, thì mới hi vọng nền giáo dục đó đúng. Còn với một nền giáo dục mà trẻ em không chấp nhận, chúng cảm thấy bất hạnh, thì dứt khoát đó là một nền giáo dục sai, một nền giáo dục thất bại.

Nhà trường sai, người lớn sai?

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Tôi đồng ý với GS rằng cuộc sống thực luôn luôn đúng. Nhưng khi nói trẻ em luôn luôn đúng thì hơi khó thuyết phục. Phải chăng chúng đang sai, chúng đang trốn chạy nhà trường? Hoặc là nhà trường sai?

GS. Hồ Ngọc Đại: Nhà trường sai. Thầy giáo sai. Người lớn sai.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: GS có thể chỉ ra vài điều cơ bản nhất để minh chứng rằng trẻ con đúng và nhà trường đang sai. Do đó, hiện thực đang đòi hỏi phải có sự quan tâm cẩn trọng hơn nữa, đặc biệt hơn nữa đối với cấp tiểu học?

GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi có một cách tiếp cận khác với khái niệm trẻ con. Cách đây 30 năm, chúng ta phải đồng ý với quan điểm rằng coi trẻ em là của trời đất, cha mẹ, văn hoá, truyền thống, tự nhiên. Phải coi các em như thực thể sống trong đời, hít thở không khí, chịu ánh sáng tự nhiên, đói thì ăn, khát thì uống.

Nhưng hiểu lầm lớn nhất xưa nay là cứ bắt trẻ con phải làm theo mình, nếu trẻ con mà làm trái ý là coi như sai. Đáng lẽ khi trẻ con hiểu sai ý mình, thì mình phải tìm hiểu cái lý của nó là gì? Trẻ con không có âm mưu, chỉ suy nghĩ trên cơ sở chính nó, vì lợi ích cơ bản của nó, vì sự sống của nó chứ nó không tính về phía anh. Nhưng người lớn thì cái gì cũng tính về mình. Hai cách tính khác nhau, nên vênh.

Trẻ con phải hồn nhiên, vui tươi, không có gì đau khổ, vì ở vào lứa tuổi đó, chúng không đáng phải đau khổ. Chỉ có người lớn chúng ta mới đau khổ. Trẻ con khi đã không thích là không thích, nhiều khi bố mẹ còn cảm thấy ngượng với khách vì con, những khi mà không thích thì chúng thản nhiên bỏ đi, mặc kệ khách khứa. Nhưng chúng ta vẫn phải tôn trọng nó như một thực thể tự nhiên, bọn trẻ vốn sống hồn nhiên. Chúng có sai là sai theo ý mình, chúng cư xử trên cái lý của chúng.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Một trong những bức thư của các em học sinh gửi đến cho chúng tôi, bức thư của em Thảo Ly ở Hưng Yên. Bức thư này là một thông điệp, một lời cảnh báo, một tiếng kêu cứu của một đứa trẻ đối với nền giáo dục mà em đang sống trong đó, đang phải gánh chịu nó, đang phải cố gắng để vượt qua và thực hiện những tham vọng của người lớn. Bức thư viết : Cháu đang học lớp 3, cháu cảm thấy mệt mỏi vì chương trình học quá tải, chúng cháu học cả ngày, tối về lại ôn bài, làm bài, chuẩn bị cho ngày hôm sau. Cuối tuần, chúng cháu có rất nhiều phiếu ôn tập nhà trường giao cho, chúng cháu mong Bộ Giáo dục chỉ bắt chúng cháu học nửa ngày thôi, để buổi chiều chúng cháu có thể ôn bài, có thể chuẩn bị bài, có thể vui chơi, có thể chia sẻ, buổi tối chúng cháu có thể xem những chương trình tivi dành cho chúng cháu, được chọn trò chơi, được đọc truyện..

GS. Hồ Ngọc Đại: Em ấy nói đúng, cuộc sống không chỉ có chữ, cuộc sống nó còn nhiều thứ khác. Một trong những sai lầm từ ngàn năm nay của giáo dục là gì? Đến trường để kiếm dăm ba chữ, và ai hơn mình nửa chữ thôi cũng tôn làm thầy. Điều này ở một khía cạnh nào đó có nghĩa nhưng ở khía cạnh khác lại là vô nghĩa, chữ không phải là tất cả.

Tôi đã phê phán khẩu hiệu "vì tương lai con em chúng ta". Sao lại đi hứa hão với bọn trẻ rằng cứ chịu khổ đi, chịu khó đi rồi nay mai sẽ hạnh phúc. Và thế là bọn trẻ bị đầy đọa từng ngày. Đáng lý ra khẩu hiểu đó phải là: “Ngày hôm nay các em hạnh phúc, ngày mai các em còn hạnh phúc hơn”. Tại sao lại không vì hạnh phúc ngay hôm nay, hạnh phúc ngay bây giờ của con em chúng ta. Hãy nói với chúng rằng, ngày hôm nay em đến trường vui, ngày mai em đến trường vui hơn.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Phụ huynh Nguyễn Văn Trường ở Hà Nam viết về thời gian biểu của con mình mà lại ngập tràn đau xót : “Cháu không còn một chút thời gian nào để nghỉ ngơi và chơi, lúc nào cũng trong tình trạng như hoảng loạn. Nhiều khi buổi tối cháu học mệt quá ngủ gục trên bàn, tôi bế cháu lên giường ngủ thì cháu choàng tỉnh dậy vội cầm bút ngơ ngác học tiếp”. Tôi thấy thời gian biểu của một học sinh không mang lại cho em một cảm hứng nào mà lại như là một án phạt đối với em. Những đứa trẻ đến trường với một nỗi sợ hãi như thế thì nền giáo dục ấy mang lại gì cho những công dân tương lai của một dân tộc ?

GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi cũng đau khổ lắm, như tất cả các vị. Bởi vì người lớn có thể chịu đựng mọi nỗi đau khổ, nhưng trẻ con không đáng phải chịu đựng như thế.

Trẻ con cần hưởng hạnh phúc, trẻ con cần được vui chơi và chưa đến lúc phải chịu nỗi khổ của người lớn. Cái đúng là sự hồn nhiên, thanh thản, được làm theo ý mình.

Ta cứ nghĩ trẻ làm theo ý mình là hư – nhưng cuộc sống thực của nó bảo nó phải làm như thế, chứ nó không tự ý.

Xã hội đã ngàn đời coi trọng bằng cấp, đè nén con người khủng khiếp. Chính nỗi đau đó cũng là nỗi đau của các thầy giáo.

"Hãy nói với chúng rằng, ngày hôm nay em đến trường vui,
ngày mai em đến trường vui hơn". Ảnh: antdonline


Nhà báo Nguyễn Quang Thiều:
Có một bạn đọc phản ánh, trước kia con chúng tôi phải vác 1 cặp sách, thì nay, sau cải cách, con chúng tôi phải vác đến 3 chiếc cặp sách đến trường?

GS. Hồ Ngọc Đại: Một bước tiến của nền giáo dục trong nền văn minh hiện đại là phải có tư tưởng mới và cách làm đúng. Để có những bước phát triển mới thì phải có tư tưởng và cách làm mới. Cách làm xưa nay là thầy giảng, trò ghi nhớ. Cách làm của tôi là thầy không giảng giải, trò tự làm tất cả. Cách làm cũ là trò phải cố gắng, còn cách làm của tôi là trò không phải cố gắng, hãy cứ tự nhiên.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Mọi người đều quan tâm đến một sáng tạo của giáo sư đối với nền giáo dục Việt Nam đó là trường Thực Nghiệm?

GS. Hồ Ngọc Đại: Đó là một sáng tạo của thế kỷ 20 của những nhà tâm lý học Liên Xô.

Trường Thực nghiệm vừa là trường, vừa không phải là trường. Ở đây những tư tưởng, ý tưởng phải được làm thật, trên những con người thật.

Anh đã dám làm khoa học trên những con người thật, thì khoa học của anh phải thật và anh cũng phải thật. Và trẻ cảm nhận mỗi ngày đi học đúng là một ngày vui. Thay vì bắt trẻ làm theo ý mình, ở đây chúng tôi nói với chúng: "Thưa các em, thầy nghĩ như thế, thầy làm như thế, các em xem có đúng không, các em có chấp nhận hay không?".

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Nó ưu việt như vậy, nhưng vì sao mô hình trường Thực nghiệm hay những phần ưu việt của mô hình này vẫn chưa được phổ cập trong đời sống giáo dục của nước ta? Phải chăng các nhà quản lý giáo dục không nhận ra điều ấy ? Hay họ nhận ra nhưng không làm ? Chúng ta đang vì những học sinh hay chỉ vì lợi ích và lòng tự ái của chúng ta ?

GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi đã từng đề xuất “Học sinh là nhân vật trung tâm, thầy giáo đóng vai trò quyết định” và “Đưa công nghệ giáo dục mới vào nhà trường”. Nhưng khi đưa vào Nghị quyết thì lại thành: “Học sinh là nhân vật trung tâm” và “Đưa công nghệ mới vào giáo dục nhà trường”.

Tôi đem thắc mắc này đi hỏi và được giải thích: “Xưa nay ta vẫn quen đề cao giáo viên, nay phải nhấn mạnh vai trò của học trò thì nên đặt dấu chấm ở đấy cho gọn. Còn câu thứ hai, nếu đưa nguyên xi vào thì hóa ra ngả hẳn về phía cậu à?”.

Sau đó Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định cả nước dùng chung một bộ sách giáo khoa, chung một phương pháp, và đương nhiên tôi trở thành thiểu số...

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Tôi đã thăm một trường tiểu học ở Boston (Hoa Kỳ), được xem một vở kịch của các em lớp 1 diễn. Chúng tranh luận với nhau về việc ai làm đổ cái chuồng của chúng. Và một con lừa già xuất hiện nói: “Ta xin lỗi, chính ta đã làm đổ cái chuồng, nhưng lúc trước ta đã không dám thừa nhận, vì ta xấu hổ, ta sĩ diện, ta hão huyền, ta ngạo mạn…”.. Tôi đã rất “kinh hãi” và xúc động vì con lừa đó do ông hiệu trưởng đóng. Họ thật sự hoà đồng, chia sẻ, và lắng nghe. Xin tất cả hãy suy ngẫm thật kỹ về câu chuyện này. Những điều này sao không có trong các trường ở Việt Nam ?

GS. Hồ Ngọc Đại: Ngày xưa, chúng ta giáo dục dựa trên nền tảng là vì lợi ích của người lớn, còn ngày nay là vì lợi ích của đứa trẻ. Đó là hai vấn đề khác nhau.

Lâu nay người lớn chúng ta vẫn quan niệm trẻ con là trẻ con. Nhưng với tôi, trẻ con là dân tộc, là thiên nhiên, chúng sống thánh thiện và vô tư. Khi chúng không bằng lòng là không bằng lòng thật. Không giống người lớn, thất bại nhiều rồi nên nhiều khi phải giả vờ. Mà giả vờ chính là sự hèn mọn. Do không phải giả vờ nên bọn trẻ con chưa hèn, cuộc đời chưa làm cho chúng hèn đi. Vì vậy, bọn trẻ đáng được tôn trọng, và chúng ta phải tôn trọng thật, chứ không phải sự tôn trọng giả vờ.

Còn đối với nhà giáo, trong một ý nghĩa nào đó phải coi học sinh là cấp trên. Nghĩ như vậy không phải là chúng ta hạ mình, mà đây chính là trách nhiệm, chính là lương tâm.

Không thể cứ sai lầm mãi

GS Hồ Ngọc Đại: "Trẻ em là cứu tinh của dân tộc. Ảnh: hocmai.vn


Nhà báo Nguyễn Quang Thiều:

Có một quan niệm sai lệch trong nền giáo dục của chúng ta là bậc đại học thì được quan tâm hơn tiểu học. Nhưng tiểu học lại là thời điểm con trẻ hay có thể nói chính xác hơn là thời điểm quan trọng nhất của một đời người để bắt đầu nhận thức thế giới xung quanh, với con người bên cạnh, với muông thú, cây cỏ, côn trùng, đất trời… nhằm đặt nền tảng cho tâm hồn và nhân cách con người thì càng cần những “người thầy vĩ đại” nhất, thấu hiểu chúng, biết lắng nghe chúng, chia sẻ với chúng, hướng dẫn chúng, gợi mở chúng. Thì GD Việt Nam lại làm ngược lại tất cả các nguyên lý cơ bản đó. Có ai nhận ra điều đó không? Tại sao vẫn để tồn tại?

GS. Hồ Ngọc Đại: Muốn giải quyết nền giáo dục hiện nay thì phải tập trung vào giải quyết 2 bậc Tiểu học và Đại học. Và phải làm mới hoàn toàn.

Thứ nhất, bậc tiểu học có 2 đặc điểm cơ bản, học sinh tiểu học còn nhỏ, còn bố mẹ, ông bà nội ngoại, còn họ hàng… có hàng chục người gắn vào học sinh lớp 1. Nếu học sinh lớp chúng hạnh phúc thì hàng chục người đó hạnh phúc. Nếu giáo dục nhà trường tốt thì gia đình dễ yên ấm, xã hội dễ yên lành.

Thứ hai, với cấp tiểu học, đặc biệt nhóm lớp 1 nghiệp vụ phải tinh tế nhất, cao siêu nhất, chắc chắn nhất.

Và cấp tiểu học cũng nên kéo dài 6 năm, Vì đây là khoảng thời gian chúng ta có thể chuyển tải tất cả những gì gọi là bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc, đạo lý dân tộc, quan hệ giữa người với người, hạnh phúc gia đình, hạnh phúc xã hội,...

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thưa Giáo sư, với những đứa trẻ từ mầm non đến tiểu học chúng ta đào tạo để đưa chúng tiếp cận với những nền khoa học, những vấn đề chính trị thời đại hay là để chúng được trau dồi những nền tảng của mỹ học. Song nếu đưa chúng đến với nền tảng mỹ học, giàu tính nhân văn thì dường như phương pháp giáo dục của chúng ta và giáo trình của chúng đang sai?

GS. Hồ Ngọc Đại: Sai! Bởi nếu đã học văn hoá, học sinh phải tiếp cận với nền văn hoá hiện đại, thành tựu khoa học hiện đại, cuộc sống học hành giải trí hiện đại, vậy hà cớ gì phải học những cái cũ, chữ nghĩa từ mấy thế kỉ trước.

Dạy sai có thể khiến cả một dân tộc sai lầm

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Chứng kiến trong ngày quốc khánh Mỹ, tôi thấy những đứa trẻ Mỹ ở một trường tiểu học tự viết diễn văn, tự nói về dân tộc... Các thầy cô chỉ là những người quan sát, hỗ trợ và gợi ý. Và trong tâm hồn trong sáng, công bằng, không vụ lợi và đầy trí tưởng tượng về dân tộc của chúng, người lớn chúng ta sẽ có cơ hội nhìn thấy dân tộc họ trong một hình ảnh mới đầy sức sống và sáng tạo. Tôi tự đặt câu hỏi, nếu những điều đó là chân lý vậy tại sao chúng ta không làm? Trong khi đó, chúng ta đang biến những đứa trẻ trở thành những robot thực thi các “lệnh” của chúng ta ?

GS. Hồ Ngọc Đại: Khi một điều gì đó ra vượt khỏi nhà trường và vào xã hội, đó là quyền lực hành chính. Khoa học thì không bao giờ có quyền lực, chỉ có lời khuyên thôi.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Có một bạn đọc ở Xuân Trường (Hải Dương) hỏi: Thực tế cho thấy chất lượng sản phẩm giáo dục của chúng ta, rất thiếu sức khoẻ, thiếu kĩ năng sống, thiếu vốn kiến thức cơ bản để hoà nhập với đời sống xã hội và thiên nhiên. Thưa Giáo sư, thực trạng này là do chúng ta thiếu tiền hay thiếu chính những người thày có chất lượng?

GS. Hồ Ngọc Đại: Có những người thầy khiến tôi rất kính trọng. Nhưng đúng là nhiều người thầy hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Với những người làm thầy cần nhất là sự lương thiện. Đó là cách để làm ra sản phẩm thật cho xã hội.

Khi mà 5% dân cư đi học, và thất bại cả 5% thì ko sao. Nhưng với một nền giáo dục mà tất cả trẻ em đều đến trường mà lại được dạy bảo sai thì điều đó sẽ khiến cho cả một thế hệ sai lầm, cả một cả dân tộc sai lầm. Dân tộc đó là dân tộc của một trăm năm nữa, chứ không phải dân tộc của ngày hôm nay. Đây là nỗi đau của cả dân tộc.

Dạy trẻ con tự cảm nhận theo cách của mình

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thực tế cho thấy ngày càng nhiều giáo viên dạy văn đã không còn cảm xúc. Dạy văn, mục đích cơ bản là để học sinh tiếp cận vẻ đẹp ngôn ngữ và vẻ đẹp tâm hồn cũng như lòng nhân ái chứa đựng trong ngôn ngữ đó. Nhưng những buổi học văn vô cảm sẽ không mang lại bất cứ điều gì cho học sinh. Theo Giáo sư, điều gì đã mang lại sự vô cảm trong những bài giảng hiện nay? Phải chăng đó là những giáo trình sơ cứng và những phương pháp dạy bị động không sáng tạo?

GS. Hồ Ngọc Đại: Có 2 sai lầm. Nền giáo dục cũ hiện nay đề cao quá vào lí trí, chữ nghĩa, coi thường tình cảm, niềm tin, đạo đức. Mất niềm tin đạo đức sẽ trở thành người vô đạo đức. Lí trí hoá nền giáo dục, và lí trí hoá cuộc sống con người đi nhiều. Do vậy, phải tôn trọng tình cảm, mà tình cảm do nghệ thuật mang đến. Có thể áp đặt về lí trí, nhưng không thể áp đặt trong nghệ thuật và đạo đức.

Tôi luôn chú ý cả 3 lĩnh vực: khoa học, nghệ thuật và lối sống. Lõi của lối sống là niềm tin đạo đức. Nghệ thuật không thể giảng được. Nhưng có thể gợi ý, định hướng và hướng dẫn. Các em hoà nhập vào tác phẩm để cảm nhận theo cách riêng của mình.

Hãy để các em thoả sức tìm tòi.
Không nên ràng buộc các em bằng những chuẩn hoá quá sớm. Ảnh: hoikunblog



Nhà báo Nguyễn Quang Thiều:
Ông sẽ dạy những gì cho những học sinh không học trong trường thực nghiệm. Và ông sẽ chia sẻ những gì với cha mẹ chúng?

GS. Hồ Ngọc Đại: Việc này khó. Bởi họ đã quen nếp cũ, nếu thay đổi, phải thay đổi đồng bộ. Thay đổi giáo trình, phương pháp dạy với đứa trẻ. Thay đổi các mối quan hệ giữa đứa trẻ và thầy giáo, giữa thầy giáo và phụ huynh. Quan hệ giữa thầy giáo và phụ huynh hiện nay là quan hệ đối phó, chưa phải hợp tác.

Hiện nay phụ huynh thường có tâm lý trăm sự nhờ thầy giáo, hoặc lấy lòng thầy giáo vì sợ thầy giáo không hài lòng thì con mình khổ.

Đã không ai thấy rằng thành quả của các em là do gia đình và nhà trường cùng làm nên. Trong tương lai phụ huynh học sinh phải được đào tạo thành phụ huynh học sinh theo đúng nghĩa vụ, thầy giáo đúng trách nhiệm và nghĩa vụ, hai bên hợp tác nhau, không bên nào làm lẫn nhiệm vụ của bên nào, có vậy đứa trẻ mới thấy được hạnh phúc cả khi ở với gia đình lẫn ở trường. Với nền giáo dục hiện nay một số người đã không chịu nổi, và khi tất cả đều không chịu nổi thì sẽ khác.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Nhiều bạn đọc của VietNamNet đã gửi thư bày tỏ băn khoăn, lo lắng về quy định chuẩn cho trẻ 5 tuổi. Giáo sư có ý kiến gì về vấn đề này?

GS. Hồ Ngọc Đại: Những năm 70 ở Liên Xô có cuộc tranh luận. 1 phái nhận trẻ con 6 tuổi vào lớp 1 và phái kia nhận trẻ 7 tuổi (tôi là phái 7 tuổi).

Tại sao phải trì hoãn tuổi đi học? Bởi trong cuộc đời không có giai đoạn nào đẹp hơn thời kì từ 0 đến 6 tuổi. Tuổi này mà được ở nhà, được vui chơi thoải mái là thích nhất. 6 tuổi là thời điểm tích luỹ kinh nghiệm một cách thiên nhiên, bản tính. Giai đoạn này trẻ thích mầy mò, khám phá. Nên hãy để các em thảo sức tìm tòi. Dĩ nhiên có thất bại, có thành công…. không nên ràng buộc các em bằng những chuẩn hoá quá sớm.

Không dám nhìn vào sự thật

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: GS có thể nói gì về cái quy chuẩn trẻ 5 tuổi?

GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi cho rằng không cần thiết. Việc các trường mẫu giáo dạy chữ trước khi trẻ vào lớp 1 là hi sinh một thứ rất lớn để đổi lấy thứ không cần thiết.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Chúng ta đang mắc những sai lầm lớn trong giáo dục mầm non, tiểu học. Chúng ta phải từ bỏ ngay ý nghĩ những đứa trẻ phải nhất nhất nghe lời chúng ta. Chúng ta đã bỏ rơi chúng trong chính ngôi nhà của mình, nhà trường của mình và ngay cả trong xã hội của mình mà cứ lầm tưởng là chúng ta đang chăm sóc chúng. Thực tế, chúng ta đang chỉ chăm sóc phần xác của chúng mà thôi. Vậy theo Giáo sư, chúng ta làm gì để khắc phục những sai lầm đó, phải mất bao lâu thời gian để khắc phục?

GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi thấy đau xót vì không ai nhìn thẳng vào sự thật. Có thể nói thành lời, nhưng không ai cảm thấy rằng trẻ con là máu thịt của mình, không ai cảm thấy đứa con đau khổ chính là mình đau khổ. Và không thấy được sự tối ưu của mỗi giai đoạn khác nhau.

Hiện nay từ lớp mẫu giáo cho đến các bậc tiến sĩ dạy đều có phương pháp dạy giống như nhau. Cách làm này sẽ thủ tiêu sức sống của cá nhân. Phương pháp cứ dồn góp, cứ nghĩ rằng làm trước là xong, mà không thấy được chất lượng cuộc sống mỗi giai đoạn một khác. Do vậy, phải có phương pháp giáo dục riêng cho từng cấp học, mầm non khác, tiểu học khác, tiến sĩ phải càng khác. Bản thân tôi cả một đời dạy học. Tôi luôn quan niệm trẻ em là cứu tinh của dân tộc.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Cuộc trò chuyện chỉ vọn vẻn trong khoảng hơn 1 tiếng, nhưng chúng ta nhận ra quá nhiều điều bất ổn trong những đứa trẻ thời nay. Chúng ta không biết điều đó, và ngay cả những người biết nhưng đã chôn vùi những lỗi lo lớn ấy của xã hội vào giấc ngủ hưởng thụ và tự mãn của cá nhân mình. Chúng ta phải thừa nhận rằng: tất cả những lầm lẫn trong giáo dục hay những thất vọng về những đứa trẻ nào đấy đều do người lớn chúng ta gây ra. Có một lúc nào đó Giáo sư tuyệt vọng vì những lỗi lầm này?

GS. Hồ Ngọc Đại: Tôi đã nói những điều này từ cách đây 30 năm nay rồi. Tôi không sợ ai giận cả. Tôi không tuyệt vọng. Tôi có chiến lược, chứ không phải làm ẩu.

Khi tôi về nước, tôi hi vọng sau 20 năm sẽ có nền giáo dục mới. Tôi bỏ ra 10 năm đầu để làm mất nền giáo dục hiện nay đi, cùng lúc đó, tôi thiết kế một nền giáo dục khác. Khi không có những đứa trẻ thật, những cha mẹ thật, một nền giáo dục thật thì tất cả đều là viển vông. Dân tộc ở lại mãi mãi, trẻ em ở lại mãi mãi.

Tôi chịu trách nhiệm với trẻ em. Qua trẻ em tôi chịu trách nhiệm với cha mẹ. Qua trẻ em và cha mẹ chúng tôi chịu trách nhiệm với dân tộc này.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Nhiều người đều cảm nhận và không hài lòng với cách giáo dục hiện tại. Họ lo ngại điều đó sẽ mang lại tai hoạ cho đất nước. Đây cũng là nỗi lòng mà đông đảo các vị phụ huynh trên cả nước, những người có lương tâm giáo dục chia sẻ với Giáo sư và chúng tôi.

Vẫn còn rất nhiều câu hỏi của bạn đọc, nhưng tạm thời xin được phép khép lại cuộc bàn tròn nhỏ với một vấn đề quá lớn và còn quá nhiều điều phải bàn. Nhưng không còn cách nào là chúng ta phải lên tiếng.

Xin thay mặt bạn đọc VietnamNet, Tuần Việt Nam cám ơn Giáo sư. Mong rằng tất cả mọi người trong cộng đồng này cùng lên tiếng, lên tiếng mãi cho đến khi chúng ta đổi thay, kiên trì như Giáo sư Hồ Ngọc Đại để đến một ngày nào đó nền giáo dục mầm non nói riêng và nền giáo dục Việt Nam nói chung có sự đột phá khởi sắc.