Translate

Saturday, November 13, 2010

Sự khác biệt giữa chủ nghĩa Cộng sản Châu Âu và Châu Á

Theo NguoiViet Boston

Giáo sư Jerry Livingston Voorhis
(Bản dịch của bán nguyệt san Tự do Ngôn luận)

Trong năm 1989, hai sự kiện rất ý nghĩa và rất khác biệt đã diễn ra ở hai đầu của thế giới. Tại Đức, bức tường Berlin sụp đổ. Cộng sản, xét như một hệ thống cầm quyền, bị sụp đổ ở Đức và phần còn lại của Đông Âu.
Tuy nhiên ở Trung Quốc, một điều rất khác xa đã xảy ra. Những niềm hy vọng của thế giới cho một nước Trung Quốc tự do, dân chủ đã tiêu tan khi xe tăng và quân đội từ nông thôn tiến vào Thiên An Môn và tàn sát hàng trăm trong số hàng ngàn sinh viên vốn đã biểu tình đòi dân chủ tại Bắc Kinh trong nhiều tháng.
Dân chủ, một nền kinh tế thị trường và việc tự do phát biểu quan điểm chính trị lẫn văn hóa đã chiến thắng chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Âu và thậm chí ở Nga, đang khi ở Trung Quốc và trong các khu vực Cộng sản kiểm soát ở Châu Á, những ảnh hưởng giải phóng này đã bi đè bẹp bởi các Chính phủ Cộng sản Trung Quốc, Việt Nam, Lào và đặc biệt là Campuchia và Bắc Triều Tiên.

Chúng ta phải đặt câu hỏi: Tại sao kết quả của phong trào hòa bình và dân chủ lại quá khác nhau giữa Châu Âu và Châu Á?

Có nhiều lý do cho những kết quả khác nhau này và một trong những lý do đầu tiên và quan trọng nhất là các loại Cộng sản vốn đặc trưng Châu Á hoàn toàn trái ngược với các loại Cộng sản ở Châu Âu.

Tại Châu Âu, ngay từ nguyên thủy, chủ nghĩa Cộng sản là một hiện tượng có căn bản là đô thị. Công nhân đô thị, nhất những người làm việc trong các ngành công nghiệp quy mô lớn, được coi như giai cấp vô sản, những người tiên phong của cách mạng. Cùng với các đảng Cộng sản và lãnh tụ của họ, nhiều công nhân trong các nghiệp đoàn chặt chẽ và những khu vực công nghiệp cao như Saxony hoặc lưu vực sông Ruhr ở Đức đều đã bầu cho người Cộng sản hoặc ít nhất cho người Xã hội Chủ nghĩa với số lượng lớn. Trên khắp vùng quê, và ở các thị trấn nhỏ hay vùng ngoại ô Châu Âu, các cử tri bầu cho các đảng bảo thủ hay các đảng chính trị trung dung, nhưng không bao giờ bầu cho những người Cộng sản.
Nông dân Nga đã tham gia và ủng hộ Đảng Cách mạng Xã hội chứ không ủng hộ những người Cộng sản hay những người Bolsheviks như được gọi sau đó suốt thời gian của cuộc cách mạng. Cả trước và sau Thế chiến II, những khu vực nông thôn ở Đông Âu, và đặc biệt là những trại chủ giàu có đã cực lực chống đối và phá hoại các nỗ lực tập thể hóa tại Ukraine, Ba Lan, Nam Tư, Rumania, Đông Đức và mọi nơi khác. Đối với Cộng sản Châu Âu, thành phố là cơ sở hỗ trợ và phải chinh phục hoặc đánh thắng các vùng nông thôn.
Sự kiện này đã tác động rất lớn vào những gì đã xảy ra với các chế độ Cộng sản suốt các thập niên 80’s và 90’s tại Châu Âu Cộng sản, kể cả Nga. Một khi các thành phố đã lật đổ chế độ Cộng sản và thay thế nó bằng một chính phủ dân chủ phi Cộng sản và thay thế nền kinh tế hỗn hợp bằng một khu vực tư nhân lớn, chủ nghĩa Cộng sản đã bị tiêu diệt. Xét cho cùng, các vùng nông thôn luôn chống Cộng sản!

Ở Châu Á, người ta thấy một tình hình hoàn toàn trái ngược. Khắp Châu Á cũng như Cuba, chủ nghĩa Cộng sản lan từ nông thôn vào thành phố. Trung tâm sức mạnh chính của Mao Trạch Đông, trong Thế chiến II và cuộc Nội chiến tiếp theo sau đó, nằm ở nông thôn, vùng nông nghiệp tương đối thưa thớt dân cư ở Tây Bắc Trung Quốc, từ đó Cộng sản Trung Quốc lan tràn đến Bắc Kinh, Nam Kinh, Quảng Châu và các trung tâm đô thị khác. Một khi Cộng sản của Mao đã chiếm được các thành phố nơi Quốc Dân Đảng hoặc những người quốc gia tương đối mạnh, thì coi như họ đã chinh phục tất cả Trung Quốc.
Phong trào Khmer Đỏ của Pol Pot là ở nông thôn và gồm nông dân có khuynh hướng gần như cuồng tín. Nó nghiêm trị các cư dân của Nam Vang (Phnom Penh) và các trung tâm đô thị khác, giết chết hàng trăm ngàn nếu không phải hàng triệu người, và buộc những kẻ sống sót đi làm nông dân lao động ở nông thôn.

Sau cùng, phong trào Cộng sản của Hồ Chí Minh đã bắt đầu như là một lực lượng chính trong vùng đồi núi phía Bắc và phía Tây của Hà Nội. Cộng sản đã không kiểm soát được các thành phố như Hà Nội cho đến khi Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ. Cũng thế trong miền Nam Việt Nam, các thành phố Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn đã kiên trì chống lại Cộng sản cho đến ngày tàn cuộc bi thương. Hỗ trợ cho Việt Cộng chủ yếu là ở nông thôn hẻo lánh như các khu vực trong đồng bằng sông Cửu Long.
Như một kết quả của sự kiện này, những chống đối ở đô thị trong các nước Cộng sản Châu Á đã không có hiệu quả như ở Châu Âu. Chính phủ Cộng sản ở Trung Quốc, Việt Nam và Campuchia luôn luôn có thể dựa vào hỗ trợ từ nông thôn. Các vùng nông thôn châu Á đã ủng hộ cho Cộng sản nhiều hơn so với phía tương ứng bên châu Âu.

Một yếu tố thứ hai góp phần vào sự kiên cường của chế độ Cộng sản ở Châu Á là việc tương đối thiếu những ảnh hưởng chống Cộng từ bên ngoài so với tình hình mà Cộng sản Đông Âu phải đối đầu. Trong suốt những thập niên 1950, 1960, 1970 và 1980, Đông Âu đã bị “dội bom” tới tấp bởi những chương trình phát sóng chống Cộng từ Radio Free Europe (đài Châu Âu Tự do), một mạng lưới chống Cộng tư nhân, từ Voice Of America (đài Tiếng nói Hoa Kỳ) và BBC. Tây Berlin, một vùng đất chống Cộng nằm sâu trong lãnh thổ Cộng sản, đã được dùng như một cái loa để phát tán các bài phát biểu chống Cộng của Tổng thống John Kennedy và của Tổng thống Ronald Reagan: “Hỡi Gorbachev! Hãy phá đổ bức tường này đi”. Lời tuyên bố ấy đã có một tác động rất lớn trên những người sống phía sau Bức Màn Sắt.
Rất nhiều người dân từ Đông Âu (Ba Lan, Hungari, Đức, v.v…) đã đến sống tại Hoa Kỳ vào lúc này. Sự hiện diện và ảnh hưởng chính trị của họ đã làm dấy lên nhiều hoạt động đặc biệt tại Hoa Kỳ như “Tháng hay Tuần lễ các Quốc gia bị lệ thuộc” (Captive Nations). Quốc gia bị lệ thuộc muốn ám chỉ các nước ở Châu Âu đã bị rơi vào tay Cộng sản và do đó, nằm dưới ngôi mộ hay sự thống trị của Liên Xô. Những sự kiện như thế đã làm dấy lên các cuộc liên minh và biểu tình chính trị để dồn sự chú ý liên tục của nước Mỹ và Quốc tế vào hoàn cảnh của các nước Đông Âu.

Loại cảm thông, chú ý và nỗ lực như thế đơn giản đã không có được cho các nước Châu Á nằm dưới sự cai trị cộng sản. Người Mỹ gốc Hoa là một nhóm nhỏ hơn nhiều so với những người Mỹ gốc Ba Lan, Đức và Hungari và những cộng đồng thiểu số thiểu số khác có gốc từ Đông Âu. Người tị nạn Việt Nam, Campuchia và Hàn Quốc thậm chí còn nhỏ hơn nữa. Sau hết, người Mỹ gốc Hoa và những người Mỹ chống Cộng phi Trung Hoa đã tập trung sự quan tâm của họ vào Đài Loan và củng cố Chính phủ Quốc Dân Đảng ở đó hơn là giải phóng hay dân chủ hóa Hoa lục.

Cuối cùng, Đông Âu đã là sân khấu diễn ra những cuộc nổi dậy hay là cách mạng chống Cộng sản đầu tiên. Năm 1952, công nhân Đông Đức ở Berlin và các thành phố khác đã nổi dậy chống lại ách cai trị của cộng sản ở Đông Đức, vốn mang tính áp bức hơn ở bất cứ nơi nào khác. Cuộc nổi dậy của họ đã bị dập tắt bởi xe tăng và quân đội Liên Xô. Trong năm 1956 và 1957, Hungari tiến hành một cuộc nổi dậy bất thành nhưng anh hùng nhằm lật đổ một chính phủ tàn bạo kiểu Stalin, và ngoài ra còn nhằm hợp pháp hóa các chính đảng phi Cộng sản, ủng hộ một nền kinh tế hỗn hợp với một khu vực tư nhân và chủ trương giữ Hungari trung lập trong Chiến tranh Lạnh giữa Liên Xô với các cường quốc phương Tây.
Cuộc nổi dậy của người Hungari đã bị dẹp tan, nhưng chỉ sau khi Liên Xô can thiệp mạnh mẽ ồ ạt, làm nhiều người thiệt mạng. Hậu quả của cuộc nổi dậy là có trên 100.000 người Hungari đi tị nạn và họ đã trở thành một lực lượng chính trị mạnh ghê gớm, hoạt động chống lại chủ nghĩa Cộng sản ở Châu Âu. Cuối cùng nhưng không kém quan trọng, trong khi cuộc cách mạng Hungari đang diễn ra, Cộng sản Ba Lan đã thi hành một loạt các cải cách chống lại đường lối chủ nghĩa Cộng sản cứng rắn. Ngoài ra, chính phủ Ba Lan còn chấm dứt việc thành lập các nông trường tập thể ở nông thôn, và cho phép nông dân Ba Lan được giữ đất đai của họ. Chính phủ cũng cho phép dạy giáo lý Công giáo Rôma trong các trường công, và dung túng cho một đại học tư nhân duy nhất trên thế giới trong một quốc gia Cộng sản, Đại học Công giáo Lublin.

Ở Châu Á đã hầu như không có những cuộc nổi loạn chống lại ách cai trị Cộng sản trên quy mô của những gì đã xảy ra ở Đông Âu. Cuộc nổi dậy của Tây Tạng vào cuối những năm 1950 là để chống Trung Quốc hơn là chống Cộng sản. Cũng có một số ổ kháng cự cuối cùng chống lại chế độ Cộng sản ở Tây Nam Trung Quốc, dọc theo biên giới Miến Điện và tại Việt Nam sau khi Sài Gòn thất thủ, nhưng đó không phải là những cuộc nổi loạn tươi mới như cuộc nổi dậy của người Hungari năm 1956. Sau hết, người dân sống trong các nước Cộng sản kiểm soát như Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Triều Tiên, bị cô lập nhiều hơn hoặc bị cắt liên lạc với thế giới phi cộng sản. Đã không có một Tây Berlin ở Châu Á Cộng sản.

Một yếu tố khác nhấn mạnh sự khác biệt giữa Châu Á và Châu Âu là nhân tố lãnh đạo. Ngoại trừ ở Nga dưới thời Stalin, Nam Tư dưới thời Tito, Rumania dưới thời Ceauşescu và Albania dưới thời Enhver Hoxha, tất cả các nhà lãnh đạo Cộng sản Đông Âu đều là các viên chức vô danh, các sĩ quan quân đội không hấp dẫn hoặc những cán bộ Cộng sản thiếu lôi cuốn. Họ thường bị dân chúng mà họ cai trị coi như là những bù nhìn của Liên Xô. Mặt khác, hai nhà lãnh đạo được ưa chuộng và lôi cuốn nhất trong nước Cộng sản Ba Lan, ví dụ vậy, là Lech Walesa, lãnh đạo Công đoàn Đoàn kết, một phong trào lao động chống Cộng, và giáo hoàng Gioan-Phaolô II.
Các lãnh đạo Cộng sản quyền lực và lôi cuốn ở Đông Âu là Tito tại Nam Tư, Ceauşescu ở Rumania và Enhver Hoxha tại Albania đều chống Xô viết và thường xuyên chỉ trích hiệp ước Warsaw. Tito đã dung túng một khu vực tư nhân lớn trong nền kinh tế Nam Tư, và ông đã từ chối tham gia hiệp ước Warsaw, thay vào đó, thích đi theo một chính sách trung lập. Ceauşescu thương lượng với cả Trung Quốc lẫn Hoa Kỳ, thách thức lại Liên Xô, và quan trọng nhất, tiếp tục công nhận Do Thái sau cuộc chiến tranh sáu ngày năm 1967 khi tất cả các nước Cộng sản Đông Âu khác đã chấm dứt quan hệ với Do Thái và kịch liệt thân khối Á Rập.
Cuối cùng, Hoxha đã mạnh mẽ lên án cả Liên Xô lẫn Trung Quốc. Albania rút ra khỏi hiệp ước Warsaw vào đầu thập niên 1960. Sau hết, có thể cho rằng ngoại trừ Lenin, nhà lãnh đạo có uy tín và thực sự đầy quyền lực của Liên Xô là Joseph Stalin, thế nhưng ông lại không phải là người Âu. Stalin đến từ nước Cộng hoà Georgia thuộc Châu Á và vì sự kiện ấy, ông đã cai trị nước Nga như một lãnh đạo Cộng sản Châu Á hơn là một lãnh đạo CS Châu Âu. Chẳng nhà lãnh đạo Liên Xô nào sau Stalin có quyền lực lôi cuốn gần như siêu nhiên của ông ta cả.
Nikita Khrushchev, người kế vị Stalin, trông như là một chú hề, và các chính sách đối nội lẫn đối ngoại của ông ta đã thất bại thê thảm. Leonid Brezhnev, người kế vị Khrushchev, là một viên chức không ai biết mặt, đã vụng về đưa Liên Xô vào một cuộc chiến tranh vô vọng ở Afghanistan. Những người kế vị Brezhnev thậm chí còn kém thành công hơn nữa, trong đó có cả Mikhail Gorbachev, kẻ bất đắc dĩ phải chịu trách nhiệm về sự sụp đổ, “cái chết” của Liên Xô.
Cũng như Liên Xô bắt đầu tan rã, chủ nghĩa Cộng sản sụp đổ tại Nam Tư sau cái chết của Tito, tại Rumania sau cuộc hành quyết Ceauşescu, và tại Albania sau cái chết của Hoxha. Cuối cùng, các nhà lãnh đạo Cộng sản Châu Âu đã bị phỉ báng lẫn bị khước từ sau cái chết của họ và ảnh hưởng của họ tan biến. Điều này đã đúng ngay cả cho Stalin.
Các nhà lãnh đạo Cộng sản Châu Á đã tạo ra một sự tương phản rõ ràng với các tương nhiệm Châu Âu của họ. Điều này cũng áp dụng vào trường hợp Fidel Castro và Che Guevara. Mao-Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Pol Pot, Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật đều đã được tôn thờ như Thần thánh hoặc Hoàng đế bởi những đệ tử Cộng sản của họ. Thậm chí ngày nay, ở Trung Quốc, mặc dù nhiều chính sách của Mao đã thay đổi, bản thân Mao vẫn không bị tấn công.
Tại đây tuyệt đối chẳng có chuyện bài Mao như đã bài Stalin ở Liên Sô. Mao đã và vẫn là một hoàng đế đầy quyền lực như Tần Thuỷ Hoàng hay Càn Long vậy. Ảnh hưởng của ông còn dài dài sau khi ông chết. Kim Nhật Thành vẫn là quốc trưởng chính thức của nhà nước Bắc Triều Tiên, dù ông ta đã chết cách đây hai thập kỷ. Các đại sứ nước ngoài phải xuất trình Ủy nhiệm thư của họ cho nhà lãnh đạo vĩ đại này chứ không phải cho quốc trưởng đương nhiệm là Kim Chính Nhật, “Lãnh tụ kính yêu”.
Sau đó có Hồ Chí Minh, một hoàng đế đỏ khác, người mà quyền lực vẫn mở rộng từ bên kia nấm mộ. Điều khác biệt giữa sự kính sợ và tôn trọng dành cho các nhà lãnh đạo Cộng sản Châu Á với sự ít thần phục dành cho các tương nhiệm Châu Âu có thể giải thích tại sao chủ nghĩa Cộng sản đã thất bại ở Châu Âu nhưng vẫn tiếp tục ở Châu Á.

Cũng cần nói về hai cường quốc Cộng sản là Trung Quốc và Nga, và thảo luận về tác động khác nhau của hai nước này đối các láng giềng Cộng sản của họ.
Nước Nga nằm ở rìa phía Đông của Châu Âu. Theo lịch sử, nó từng bị các nước láng giềng Châu Âu xem thường và khinh miệt. Người Ba Lan đã xâm lấn Nga đầu thập niên 1600 và chiếm đóng Moscow. Đạo quân Pháp của hoàng đế Napoleon cũng đã xâm chiếm Nga suốt đầu thế kỷ 18. Cuối cùng, Đức đã xâm chiếm và tàn phá nước Nga hai lần trong cuộc Thế chiến thứ nhất và thứ hai. Nga có một ảnh hưởng văn hóa rất hạn chế lên Châu Âu.
Bảng chữ cái Cyrillic của Nga không được sử dụng bởi bất cứ quốc gia Châu Âu Cộng sản nào trước đây, ngoại trừ Serbia, Macedonia, Montenegro, Bosnia, Ukraine và Belarus. Ngoài ra còn có một khác biệt tôn giáo lớn giữa Nga và các láng giềng Đông Âu. Các nước vùng Baltic, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungari, Croatia, Slovenia và Đông Đức hoặc theo Tin Lành Luthêrô hoặc theo Công giáo Rôma, và họ sử dụng bảng chữ cái Latinh. Người Nga theo Chính Thống giáo Đông phương, một hình thức của Kitô giáo. Các nước Cộng sản Đông Âu theo Chính Thống giáo Đông Phương có những Giáo hội quốc gia riêng, khác với Giáo hội Chính thống Nga về một số điểm.
Tiếng Nga hoặc các biến thể của nó chỉ được nói ở Nga, Ukraine và Belarus. Tiếng Đức, Lithuania, Estonia, Latvia, Hungari và Rumani hoàn toàn khác tiếng Nga, và thậm chí cả trong trường hợp các ngôn ngữ Slave khác như tiếng Ba Lan, Serbi-Croatia hoặc Czech, vẫn có nhiều khác biệt đáng kể giữa Nga và họ.
Những lễ hội, y phục, ẩm thực, thái độ sống của người Nga rất khác với các nước Cộng sản Đông Âu, ngoại trừ có thể có là Ukraine và Belarus. Ngay cả huyền thoại và văn hóa dân gian Nga cũng khác với các nước Đông Âu còn lại. Cuối cùng, hơn một nửa đất đai của Nga thuộc Châu Á (Siberia). Nga đã trở nên Á và ít Âu hơn sau khi Ukraine và Belarus trở thành độc lập. Dân số của Nga cũng đang giảm. Chỉ có 140 triệu người sống trong những gì bây giờ là nước Nga. Châu Âu đã từng coi Nga như một lãnh thổ biên cương hoang dã, không văn minh, nửa Châu Á, man rợ. Tất cả các điều này có thể không đúng, nhưng nhiều người Châu Âu, đặc biệt là những người sống ở Đông Âu (Ba Lan, Hungari , Lithuania, v.v.) đều tin như vậy.

Mối quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng Cộng sản và phi Cộng sản hoàn toàn khác với Nga. Trung Quốc có thể bị các nước láng giềng bực bội hoặc thậm chí căm ghét, nhưng nó không bao giờ bị coi là man rợ, thiếu văn minh hoặc kém văn hóa. Không giống như Nga, các nước láng giềng vừa tôn trọng vừa nể sợ Trung Quốc.
Nền văn minh Nga hiện có khoảng 1.500 năm tuổi. Nền văn minh Trung Quốc (lâu đời nhất trên trái đất) thì ít nhất đã 5.000 năm tuổi. Trung Quốc là nước lớn thứ ba trên thế giới, và dân số một tỷ năm trăm triệu của nó lớn hơn dân số của bất kỳ nước nào khác. Trung Quốc là một nước rất to lớn, màu mỡ, hoàn toàn chế ngự bản đồ Đông Á. So với Trung Quốc về địa lý, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam và Lào đều là những rẻo đất nhỏ bị anh khổng lồ Trung Quốc làm cho bé lại. Cuối cùng, thiểu số người Hoa ở Indonesia, Malaysia, Nepal, Ấn Độ và các nước Châu Á khác thường là hang ổ của Chủ nghĩa Mao. Ngược lại, thiểu số người Nga sống ở các nước bên ngoài Nga thường đa số chống Cộng. Lào, Việt Nam hoặc Bắc Triều Tiên rất khó lật đổ chế độ Cộng sản của họ bao lâu Trung Quốc vẫn còn là Cộng sản.

Một nhân tố cuối cùng, phải được xem xét khi nói về các đường lối khác nhau đã được thực hiện bởi Cộng Sản Châu Âu so với Cộng sản Châu Á, đó là việc chống chủ nghĩa đế quốc. Tại Cuba, Trung Quốc, Lào, Cộng sản đã có thể lợi dụng sự oán giận của dân bản xứ đối với chủ nghĩa đế quốc Pháp, Anh, Nhật hay Mỹ. Họ có thể đóng vai người yêu nước đấu tranh giải phóng xứ sở khỏi các tay cai trị ngoại quốc bị chán ghét.
Tại Châu Âu, một lần nữa, sự thật là ngược lại. Cộng sản Châu Âu đều đã chống phe quốc gia và chống đế quốc. Nhưng Châu Âu là cái nôi của đế quốc chủ nghĩa. Chống lại chủ nghĩa đế quốc ở Anh, Pháp hoặc Hà Lan bị coi là không yêu nước và phá hoại. Cộng sản ở Châu Âu từng hát “Quốc Tế ca” và chủ trương đấu tranh giai cấp toàn diện với chủ nghĩa tư bản và với các đế quốc Anh, Pháp, Hà Lan v.v…. Điều này đặt Cộng sản Châu Âu vào cuộc xung đột trực tiếp với phong trào dân tộc chủ nghĩa của Anh, Pháp hoặc Đức.

Để kết luận, có thể nói rằng mặc dù có thể mất một khoảng thời gian ở Châu Á lâu hơn ở Châu Âu, chủ nghĩa Cộng sản ở Châu Á vẫn có thể bị lật đổ hoặc thay thế. Ví dụ, các tranh chấp về quần đảo Hoàng Sa (Paracel) và Trường Sa (Spratly) đã đặt Trung quốc và Việt cộng vào một cuộc xung đột trực tiếp với nhau.
Khi việc đô thị hóa phát triển tại Việt Nam lẫn các nước Châu Á khác, và con số nông dân giảm đi, ảnh hưởng của chủ nghĩa Cộng sản ở Châu Á sẽ suy giảm. Ngoài ra, cùng với việc đô thị hóa, sẽ có sự lệ thuộc lớn hơn vào kỹ thuật và một nền kinh tế toàn cầu. Điều này sẽ gia tăng sự tiếp xúc với thế giới phi Cộng sản và rồi xói mòn chủ nghĩa Cộng sản. Với một trình độ giáo dục cao hơn, số lượng trí thức chống Cộng sẽ tăng lên dần.

Cuối cùng, một sự quan tâm rộng rãi và gia tăng đối với tôn giáo khắp Châu Á Cộng sản sẽ tiếp tục làm suy yếu quyền lực của các chế độ Cộng sản. Tất cả mọi nhân tố này cộng với một khu vực tư nhân mạnh mẽ hơn trong nền kinh tế sẽ dần dần tạo ra một Châu Á dân chủ và phi Cộng sản.

Friday, November 12, 2010

Hoa tự do sẽ bừng nở rộ

Mến tặng Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ

Hãy dẹp đi những trò dơ bẩn
Bắt bớ người hòng bịt miệng dân
Khát vọng tự do sẽ mãi là
Hướng đích đến cao trào dân chủ
Bắt một người muôn người đứng dậy
Quét sạch đi bè lũ hung tàn
Đất nước rồi sẽ lại hồi sinh
Hoa tự do sẽ bừng nở rộ

Phi Vũ

11/12/10

Việt Nam: Từ con hổ châu Á đến chú mèo ngủ đông

Theo Tuanvietnam.net
Tác giả: Trần Đông

Trước kia, nhiều người cho rằng Việt Nam sẽ là con hổ của thế giới trong 15 - 20 năm tới, tiếp đến họ lại cho Việt Nam sẽ là con hổ Châu Á và bây giờ Việt Nam được xem lại là con mèo ngủ đông!

LTS: Ngày 07/11/2010 tại Hà Nội diễn ra buổi Hội thảo về Hội nhập WTO với chủ đề: "4 năm gia nhập WTO, Sự hội nhập của DN Việt Nam" với sự tham gia của hai diễn giả là Ông Lương Văn Tự - Nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại, Trưởng đoàn Đàm phán Việt Nam - WTO, Bà Phạm Chi Lan - Chuyên gia Kinh tế cao cấp. Tuần Việt Nam tổng lược nội dung cuộc trao đổi giữa các DN với hai chuyên gia trong hội thảo.

>> Hội nhập không phải là một cuộc "đánh quả"
>> Việt Nam vẫn làm ăn không giống ai

Thua trên sân nhà

Ông Lương Văn Tự: Sau 4 năm chúng ta gia nhập WTO, môi trường kinh doanh đã thay đổi từ đóng, mở ở mức độ thấp sang môi trường mở ở mức độ cao hơn, hội nhập sâu hơn. Môi trường pháp lý tốt hơn, xóa đi được quan niệm cũ "tân quan, tân chính sách", tạo ra được DN giỏi.

Chính hội nhập mà tư duy của các DN có nhiều thay đổi, từ thụ động sang chủ động hơn, lấy hiệu quả kinh tế làm trọng tâm. Nhiều DN chuyển từ đơn ngành sang đa ngành; từ làm ăn gia đình sang đa sở hữu cổ phần, đại chúng; từ chụp giật sang lâu dài và bền vững hơn.

Những điều này thể hiện qua số lượng DN và chất lượng sản phẩm. Từ 100 ngàn DN năm 2006 lên khoảng 500 ngàn DN năm 2009. Nhiều lĩnh vực có sự tham gia của các DN nước ngoài, một phần tạo nên nhiều nhà quản lý trẻ giỏi, năng động.

Bốn năm trước, Việt Nam chính thức là thành viên WTO.
Tuy nhiên, sau 4 năm gia nhập WTO, nhiều DN của chúng ta vẫn thiếu nghiên cứu một cách khoa học về thị trường và phân khúc của nó. Nhiều DN làm ăn theo kiểu phong trào, bầy đàn, chụp giật; văn hóa kinh doanh chưa cao; thiếu doanh nhân, cán bộ quản lý có trình độ cao; công nghiệp phụ trợ chậm phát triển vì thiếu nguồn lực đầu tư... đặc biệt là vai trò của thể chế chậm cải tiến cho phù hợp với luật chơi chung của toàn cầu.

Bà Phạm Chi Lan: Sau khi gia nhập WTO, VN đã tham gia những quy định chung và tự nhận ra mình được gì và mất gì từ sân chơi ấy. Trước kia, nhiều nhà khoa học của các nước cho rằng Việt Nam sẽ là con hổ của thế giới trong 15 - 20 năm tới, tiếp đến họ lại cho Việt Nam sẽ là con hổ Châu Á và bây giờ Việt Nam được xem lại là con mèo ngủ đông!

Khi đã tham gia WTO, nhiều người đã nói rằng hàng hóa đến đâu thì biên giới quốc gia đến đó và rõ ràng Việt Nam đang thua hàng hóa trên sân nhà, trước nguy cơ cạnh tranh thị trường, đặc biệt là từ Trung Quốc.

Ví dụ, trong một số liệu điều tra tại Trà Vinh, 95% hàng hóa tiêu thụ là hàng Trung Quốc. Nếu chúng ta hội nhập sâu hơn nữa thì không biết hàng hóa Việt Nam sẽ đi đâu về đâu? Đây là một thách thức lớn cho đường lối phát triển hiện nay và sắp tới.

Nếu chúng ta không có những chính sách tốt thì trong thập kỷ tới, nền kinh tế, các ngành và DN Việt Nam khó mà cạnh tranh với các đối thủ "nặng ký" hơn. Đặc biệt, vai trò quản lý rủi ro, nhất là đối với các DNNN cần phải được coi trọng, để "nút thắt" thể chế không kìm hãm tăng trưởng.

Sau khi vào WTO, chúng ta đi theo một mô hình tăng trưởng sai lệch, quá chú trọng đến tăng trưởng theo tốc độ và số lượng, để rồi sung sướng khi mình luôn đứng thứ hai ở châu Á về mức độ tăng trưởng, chỉ sau Trung Quốc. Tuy nhiên, thực tế là 1% tăng trưởng của Việt Nam nhỏ hơn rất nhiều với 1% tăng trưởng của các nước.

Chưa theo được luật chơi

Nhiều người kì vọng, WTO cùng với hội nhập nói chung sẽ là động lực để tạo nên những thay đổi về luật chơi và cách chơi, nhất là về thể chế, chính sách trong nước. Sau 4 năm, việc này đã giúp gì trong việc xây dựng cách chơi của VN theo luật chơi thế giới?

Ông Lương Văn Tự: Hiệu quả hội nhập phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó bản thân chính sách Nhà nước và năng lực của DN là hai yếu tố quan trọng. Các nước họ trở thành những con hổ, con rồng là do chính sách kinh tế vĩ mô và năng lực sản xuất kinh doanh của các DN. Thiếu cả hai điều này nên Việt Nam chưa theo được luật chơi của thế giới.

Bà Phạm Chi Lan: Những cải cách trước đây từ khi ta gia nhập WTO là vẫn chưa đủ để nền kinh tế Việt Nam cất cánh. Thể chế đang là nút thắt của sự tăng trưởng, nút thắt của sự hội nhập sân chơi toàn cầu. Chính vì vậy, chúng ta cần có chiến lược cải cách mới, triệt để và thực hiện nghiêm túc hơn.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan.
Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta xây dựng hệ thống thể chế hiện đại, năng lực thể chế cao (luật pháp, chính sách, bộ máy, con người) mới tận dụng được lợi ích, vượt qua khó khăn. Không có năng lực thể chế sẽ không có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Trong thời gian tới, Nhà nước cần thúc đẩy sự sáng tạo và tăng cường quản lý rủi ro, đề cao vai trò của các DN và xã hội. Nhà nước phải biết lợi thế so sánh của nền kinh tế để phát triển các ngành công nghiệp trong từng giai đoạn, trong đó hai điều kiện tiên quyết phải là hệ thống thị trường cạnh tranh và một nhà nước tạo thuận lợi cho phát triển.

Việt Nam sẽ không dễ thay đổi vị trí trong khu vực nếu cứ tình trạnh chính sách tài chính và chính sách kinh tế có sự cách xa nhau như hiện nay. Cần cải thiện quản trị nhà nước để phát triển các khu kinh tế tự do, cải cách các tập đoàn kinh tế lớn, cải thiện cơ chế đối thoại nhằm tạo đồng thuận.

Thế giới dựa luật, Việt Nam vẫn dựa quan hệ

- Bà Virginia Foote, người gắn bó với quá trình hội nhập kinh tế VN từng chua chát nói: Việt Nam cứ chơi theo luật chơi riêng, thì chỉ có DN Việt Nam tự chơi với nhau thôi. Vậy điều gì cản trở Việt Nam mãi không chơi luật chơi chung của thế giới? Những gì cần điều chỉnh?

Ông Lương Văn Tự: Các DN thế giới sử dụng pháp luật để hợp tác kinh doanh trong khi DN Việt Nam nặng về quan hệ để làm ăn. Điều này có thể dễ trong việc làm ăn, nhưng rõ ràng để chơi được với thế giới là điều không dễ.

Ngoài ra, tính minh bạch và đầu tư cho bộ phận pháp chế để tuân thủ luật lệ thế giới cũng là điều còn rất hạn chế ở những DN Việt. Vì vậy mà các DN Việt Nam tự chơi với nhau cũng là điều dễ hiểu.

Để có thể tiến xa hơn các DN chúng ta nên khắc phục điểm bất lợi này. Đồng thời, chúng ta là nước đang còn nghèo nhưng lại được hưởng những ưu ái của chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong khi các nước nghèo phải làm cả thứ bảy và chủ nhật thì ta chiều thứ sáu đã nghỉ rồi thì làm sao mà giàu được.

Chúng ta phải tham gia vào cuộc chơi toàn cầu và bắt buộc phải nâng tầm mình lên, DN càng khỏe, càng mạnh thì hội nhập càng tốt.

Ngoài ra, bản thân DN cũng phải thay đổi tư duy là đừng trông chờ vào Chính phủ.

Bà Phạm Chi Lan: DN Việt Nam vẫn xem nó là cuộc đánh quả, vẫn tư duy theo kiểu chộp giật, lo cái lợi trước mắt, thiếu tầm nhìn. Bản thân chính sách vẫn còn thay đổi xoành xoạch, thiếu tính tiên lượng. Năng lực cạnh tranh của các DN thấp, tinh liên kết nội bộ các DN trong nước khi ra sân chơi toàn cầu rất ít, vì vậy mà không tạo được sức mạnh cạnh tranh DN với thế giới, vẫn theo kiểu mạnh ai người ấy làm.


Cũng như nói ở trên, một trong những nguyên nhân dẫn đến tính trạng các DN Việt như vậy là do vấn đề chính sách, thể chế, sự hạn chế trong năng lực đại diện cho các DN của các hiệp hội trong việc đối thoại, vận động chính sách, hỗ trợ và liên kết DN, xúc tiến thương mại và đầu tư...

Chính vì vậy, bản thân từng DN phải tự rà soát lại mình, điều chỉnh chiến lược, cách tổ chức kinh doanh, thực hiện những việc cần làm ngay. Coi trọng hơn thị trường trong nước, chuyển mạnh sang chiến lược kinh doanh hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, phát triển các cụm liên kết.

Ưu ái cũng là gây hại

- Sau 4 năm gia nhập WTO thế nhưng nhiều nước vẫn chưa công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường và họ viện dẫn bằng chứng rõ nhất là cách chúng ta phân bổ nguồn lực, với những ưu ái dành cho DNNN. Góc nhìn của ông/ bà như thế nào về điều này?

Ông Lương Văn Tự: Kinh tế thị trường cũng như một thứ game mang màu sắc chính trị. Tiêu chuẩn kinh tế thị trường của Mỹ có một số tiêu chí như đồng tiền chuyển đổi, lao động tự nguyện, lương theo thỏa thuận... những vấn đề nhạy cảm mà Hoa Kỳ quan tâm.

Còn về việc phân bố nguồn lực, tôi nghĩ, nhà nước nên phân bố nguồn lực dựa vào luật đấu thầu, trên các tiêu chí cụ thể.

Bà Phạm Chi Lan: WTO không đưa ra các tiêu chuẩn để nói thế nào là một nước có nền kinh tế thị trường, tuy nhiên cần chú ý các tiêu chí về kinh tế thị trường của các nước hoặc nhóm nước đưa ra và quan trọng nhất là tiêu chí kinh tế thị trường của Mỹ, EU. Nhiều nước nói chúng ta chưa có nền kinh tế thị trường có liên quan đến bảo hộ cho DNNN với việc bán phá giá liên quan đến trợ cấp của Chính phủ.

Thế giới không quan tâm chúng ta có bao nhiêu DNNN, việc này là do chúng ta, tuy nhiên việc đối xử với nó như thế nào trong cuộc chơi toàn cầu lại là chuyện khác.

Nhiều lúc, ở Việt Nam bài toán phân bổ nguồn lực đã không tạo ra được những ưu ái cho số đông DN, thậm chí đã làm méo mó môi trường cạnh tranh. Việc phân bổ nguồn lực không bình đẳng đã làm hại cho cả hai phía.

Đối với bên kinh tế tư nhân bị phân biệt đối xử, thiệt thòi là dễ hiểu rồi, vì đất đai và các nguồn lực ngon lành đều nằm trong tay DNNN. Còn đối với bên DNNN được ưu ái đôi khi lại thành bị hại, như Vinashin là ví dụ sinh động cho vấn đề vay vốn và tiếp cận các nguồn lực một cách dễ dàng và thoải mái.

Đôi khi nhiều nguồn lực quá đối với DNNN lại là tai hại đang rình rập mà họ không hề biết, bởi vì họ đã mất đi khả năng cạnh tranh vốn là sự sống còn của bản thân mỗi DN muốn phát triển.

Đã đến lúc chúng ta phải cắt bỏ điều này đi, hãy để cho nó tự lập mới đủ sức đề kháng trong xu thế hội nhập khốc liệt.

Thursday, November 11, 2010

Thái độ của Trung Quốc áp đặt chủ quyền Biển Đông bị nêu bật tại Việt Nam

Theo RFI

Một tàu tuần tra của Việt Nam gần một đảo của Trường Sa.
Một tàu tuần tra của Việt Nam gần một đảo của Trường Sa.
Reuters
Trọng Nghĩa

Tại cuộc hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ hai mở ra hôm nay ở Thành phố Hồ Chí Minh, tình hình căng thẳng bắt nguồn từ các tranh chấp chủ quyền là nhân tố được hầu hết các chuyên gia chú ý. Phân tích lý do khiến căng thẳng gia tăng thời gian gần đây, giáo sư Carl Thayer nhấn mạnh đến vai trò của Trung Quốc, vừa tăng cường sức mạnh để áp đặt các đòi hỏi chủ quyền, vừa tìm cách phá hoại các nỗ lực của Việt Nam nhằm hình thành một mặt trận thống nhất để đối phó.

Là một chuyên gia tại Học viện Quốc phòng Úc, từng theo dõi hồ sơ Biển Đông từ hàng chục năm qua, trong bài tham luận tại Hội nghị lần này, giáo sư Thayer đã tỏ ý bi quan trước tình trạng có thể nói là « bất di bất dịch » của các đòi hỏi chủ quyền trong vùng Biển Đông. Tình hình tuy nhiên đã xấu đi thêm do việc Trung Quốc vẫn duy trì thái độ « thiếu minh bạch » trong vấn đề Biển Đông, làm dấy lên « những câu hỏi chính đáng về dụng tâm chiến lược của Bắc Kinh ».

Về các hành động quyết đoán gần đây của Bắc Kinh tại vùng Biển Đông, giáo sư Thayer đặc biệt chú ý đến hai nhân tố có liên quan chặt chẽ với nhau :

Trước hết là các vụ liên tục bắt giữ tàu thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam và liên tục áp đặt lệnh cấm đánh cá trên một vùng rộng lớn tại Biển Đông, viện cớ là để bảo đảm nguồn hải sản cho khỏi bị tổn hại. Chỉ mới đây thôi, vào tháng trước, Việt Nam đã phải lên tiếng yêu cầu Bắc Kinh trả tự do cho một chiếc tàu đánh cá của tỉnh Quảng Ngãi, cùng với 9 ngư dân bị họ chận bắt trước đó.

Ngoài ra, để có thể tiến hành thuận lợi các hành động độc đoán kể trên, Trung Quốc đã không ngừng tăng cường đội tàu kiểm tra ngư trường của họ, còn được gọi là tàu ngư chính. Giáo sư Thayer ghi nhận : « Trung Quốc đang tăng cường năng lực củng cố các đòi hỏi chủ quyền của họ trong vùng Biển Đông bằng cách làm ra thêm nhiều chiếc tàu Ngư chính ».

Đối với chuyên gia nghiên cứu Thayer, « đà vươn lên của Trung Quốc và tiến trình hiện đại hóa và chuyển hóa của quân đội Trung Quốc sẽ tiếp tục làm cho giới hoạch định chính sách quốc phòng trong khu vực cảm thấy là bối cảnh chiến lược bất ổn định thêm ».

Bắc Kinh sẳn sàng dùng vũ lực?

Câu hỏi mà giới quan sát đặt ra là mới đây, khi đôn vùng Biển Đông lên hàng « lợi ích cốt lõi », ngang hàng với Đài Loan hay Tây Tạng, phải chăng là Trung Quốc bắn tín hiệu cho thấy là họ sẵn sàng dùng võ lực để bảo vệ các đòi hỏi chủ quyền của họ ?

Trong số các nước có tranh chấp chủ quyền với Bắc Kinh tại vùng Biển Đông, Trung Quốc đặc biệt gay gắt với Việt Nam, quốc gia luôn luôn tìm cách thiết lập một mặt trận chung nhằm đối phó với các đòi hỏi chủ quyền của láng giềng phương Bắc.

Từ đầu năm đến nay, Việt Nam đã cố gắng đẩy mạnh các nỗ lực ngoại giao để tiến tới một bộ quy tắc ứng xử giữa các bên tại vùng Biển Đông mang tính ràng buộc hơn đối với các nước ký kết. Theo giáo sư Thayer, Bắc Kinh đã tìm cách phá hoại các nỗ lực của Việt Nam, trong tư cách chủ tịch ASEAN, nhằm hình thành một mặt trận chung đối phó với Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông.

Tại Diễn đàn An ninh Khu vực ASEAN hạ tuần tháng 7, ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã lên tiếng kêu gọi một cách tiếp cận đa phương để giải quyết các tranh chấp Biển Đông. Lời kêu gọi này đã bị Trung Quốc phản bác dữ dội vì nước này chủ trương giải quyết song phương với từng nước, đồng thời không muốn Hoa Kỳ can thiệp quá sâu vào khu vực.

Tuy nhiên, quan điểm mới của Hoa Kỳ về Châu Á cũng như Biển Đông đã tiếp tục được các lãnh đạo Mỹ khẳng định, từ bộ trưởng quốc phòng Robert Gates cho đến người lãnh đạo cao nhất là Tổng thống Barack Obama.

Trong một chừng mực nào đó, theo ghi nhận của giáo sư Thayer, vấn đề đặt ra hiện nay là khu vực Đông Nam Á sẽ tiếp tục "chịu ảnh hưởng của cuộc cạnh tranh giữa các đại cường quốc". Đối với hồ sơ Biển Đông, câu hỏi quan trọng cần đặt ra là thực lực của Hoa Kỳ ra sao và quyết tâm của họ như thế nào trong việc duy trì thế cân bằng quyền lực trong lĩnh vực hàng hải.

Wednesday, November 10, 2010

Bùn đỏ Nguyễn Tấn Dũng

Theo NguoiViet Online

Ngô Nhân Dụng

Trong tiếng Việt, mai mốt nếu quen dùng, sẽ có thứ bùn gọi tên là Bùn Ðỏ Nguyễn Tấn Dũng. Cũng giống một từ người Pháp đã đặt ra trong ngô ngữ của họ, Vespasienne. Danh từ này là do tên Vespasianus, một hoàng đế La Mã (từ năm 69 đến năm 79).

Vespasienne, nghĩa là chỗ đi tiểu công cộng. Hoàng đế Vespasianus đã có sáng kiến đặt những cái chum ở bên đường cho người qua lại lấy chỗ đi tiểu. Khi còn làm chức “aedile,” giống như cảnh sát trưởng đô thành ngày nay, ông đã bị Hoàng đế Caligula trừng phạt vì để cho kinh đô đế quốc, với hàng triệu dân vào thời đó, thiếu vệ sinh. Hình phạt được thi hành là lột chiếc áo khoác (toga) của ông ta, đem ngâm áo vào những xú uế ngập ngụa trên đường phố (sau đó có bắt ông ta mặc áo lại hay ngay không, sách không nói rõ)! Các sử gia kể đường phố La Mã 2000 năm trước rất nhơ nhớp, vì nhiều nhà đem thùng vệ sinh đổ ngay ra mặt đường. Nếu bây giờ quý du khách đi trên các con phố cổ thấy những tảng đá dọc theo đường, đó chính là để cho nhân dân có chỗ đặt chân tương đối sạch sẽ!

Các nhà nguyên ngữ học cho là sở dĩ tên tuổi Vespasianus được nhắc nhở đến bây giờ trong tiếng Pháp Vespasienne là vì ông còn buộc ai sử dụng cái chum của hoàng đế phải trả hai đồng xu, không kể dùng lâu hay mau! Và sau đó, còn có thể thêm sáng kiến kiếm tiền khi sai bán những thùng nước phế thải cho nông dân ngoại thành làm phân bón. Chính vì thế mà tên Hoàng đế Vespasianus đã lưu danh thiên cổ, nói cách khác là lưu xú vạn niên!

Bây giờ, ở Việt Nam khi nghe tin có cơn lũ bùn đỏ ở Hà Giang, người ta chợt nghĩ đến ông Nguyễn Tấn Dũng, đặt tên loại bùn này là Bùn Ðỏ Nguyễn Tấn Dũng. Trước đây, mọi người đã biết có bôxit trong các tầng đá vôi ở Hà Giang, Cao Bằng và Lạng Sơn. Ngày 5 tháng 11, một cơn lũ bùn đỏ tràn xuống xóm Nà Kéo, xã Duyệt Trung, thị xã Cao Bằng. Dân trở tay không kịp, nhiều nhà cửa, súc vật “bị bùn đỏ nuốt chửng” theo lời báo chí trong nước. Dọc hai bên bờ suối dài khoảng 2 km, toàn là bùn đỏ. Bộ máy thông tin của nhà nước xã hội chủ nghĩa giải thích nguyên nhân là đập chắn nước thải rửa quặng của xí nghiệp khai thác quặng sắt Nà Lũng bị vỡ nên gây ra tai nạn này. Nhưng dân bán tín bán nghi! Và ai cũng liên tưởng đến vụ bùn đỏ tràn ngập ở Hungary gần đây, do mỏ khai thác bô xít gây nên. Cái tên ông Dũng từ nay có thể được lưu danh hậu thế, không khác gì tên Vespasienne!

Có lẽ để cho dư luận bỏ qua chuyện Bùn Ðỏ, cho dân lãng quên luôn cả hai kiến nghị phản đối việc khai thác Bô xít ở Tây nguyên, cho nên nhà nước đã ra tay bắt Luật Sư Cù Huy Hà Vũ! Vừa đánh vào một luật sư của mạng lưới Bô xít, vừa đánh lạc hướng dư luận. Khi trong số những người ký tên vào bản kiến nghị do nhóm các giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, vân vân khởi xướng lại có tên nhiều vị tướng lãnh, học giả, kể cả những người đã từng phục vụ đảng suốt đời như các bà Nguyễn Thị Bình, Võ Thị Thắng, thì đảng cảm thấy nhột quá, ra tay bây giờ là đúng lúc.

Các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng đã quả quyết việc cho Trung Quốc khai thác Bô xít là chủ trương chiến lược của đảng Cộng Sản. Phải làm sao cho dư luận đừng ai nghĩ tới cái ung nhọt đó nữa, để các công ty Trung Quốc làm ăn. Công an trước đây đã ra tay gây nhiều vụ đánh lạc hướng dư luận, trong lúc vẫn đe dọa nhóm chủ trương mạng Bô Xít Việt Nam, nhưng chưa có hiệu quả. Bắt người làm blog “Cô Gái Ðồ Long,” một tờ báo mạng chuyên về xì căng đan có 23 triệu người vào đọc; nhưng cũng chẳng ai quên được vụ Bô xít. Bắt Luật Sư Lê Thị Công Nhân, nhưng lại thả ngay. Hạch tội Nguyễn Tấn Dũng ở Quốc Hội về vụ Vinashin làm biến mất 4, 5 tỷ Mỹ kim trong mấy năm “làm kinh tế,” cũng chưa đủ. Bây giờ, guồng máy công an đã bắt ông Cù Huy Hà Vũ, người nhận làm luật sư cho mạng Bô Xít Việt Nam. Một công đôi việc, vừa gây sôi nổi trong dư luận, vừa đe dọa thẳng vào mạng Bô Xít.

Luật Sư Cù Huy Hà Vũ đã nhiều lần cù nách đảng, cù vào nhiều huyệt “nhậy cảm” khác làm cho đảng luôn luôn bị nhột. Nhưng trong đảng cộng sản cái nách bên phải bị cù có khi cái nách bên trái nó lại cười khúc khích, cù vào chỗ khác thì cả hai cái nách đều khoái trí, có khi cái nách lại xúi cho họ Cù cứ tiếp tục cù vào cái bàn chân. Vì thế cho nên lâu nay ông Cù Huy Hà Vũ cứ tiếp tục cù mà vẫn còn được yên thân. Có người tin rằng ông đã được một nhóm bên trong đảng che chở, cho nên mới bạo mồm bạo miệng như vậy. Nhưng nhiều người biết Cù Huy Hà Vũ vốn là tay trên trời dưới đất không sợ ai cả, có lúc giận bố lạm chiếm miếng đất nhỏ cũng làm đơn kiện cả bố, can mãi mới thôi. Lại có người Hà Nội nói Cù Huy Hà Vũ tin rằng mình có chân mạng, thế nào cũng phải lãnh đạo dân Việt Nam, vì cái số như thế không thể tránh được. Rất có thể Cù Huy Hà Vũ chỉ là một người nóng và thẳng, không biết sợ ai cả, như Bác Sĩ Hà Thúc Nhân thời Việt Nam Cộng Hòa xưa kia. Hà Thúc Nhân từng tủ thủ trong bệnh viện, tuyên bố nếu không dẹp được tham nhũng thì tự sát; ông cũng từng ra trước Quốc Hội họp báo tố giác tham nhũng. Dân Việt Nam không thiếu những người khẳng khái, táo tợn như vậy.

Dù không biết có giả thuyết nào giải thích đúng hành vi của Cù Huy Hà Vũ, phải công nhận là ông làm được những việc rất đáng phục, luôn luôn thọc nách đảng.

Ðảng ra tay bắt Cù Huy Hà Vũ, nhưng vụ bắt bớ này lại được đạo diễn rất vụng về, ngớ ngẩn, có thể gọi là lố bịch!

Nửa đêm mùng 4 tháng 11, công an nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bắt Cù Huy Hà Vũ ở một khách sạn trong Sài Gòn, cùng với một phụ nữ, gán cho tội danh là “Quan hệ với gái mãi dâm.” Công an tung lên mạng lưới hình ảnh, trong đó có cả hình Cù Huy Hà Vũ cởi trần. Ðây là một tin giật gân, loại thông tin chuyên được các tờ báo của công an khai thác để câu khách bán báo.

Nhưng nhiều người đã nêu lên các điều đáng nghi ngờ. Những bức hình có vết ghép lại, không phải hình thật. Bức hình ông luật sư cởi trần đã được chụp từ nhiều tháng trước. Ðiều lố bịch nhất là không nước nào lại đem công an từ trên bộ xuống làm công việc khám khách sạn, bắt người mua bán dâm, một công việc thuộc thẩm quyền của Cảnh sát Kiểm Tục! Ông Cù Huy Hà Vũ không cần phải tự biện hộ, chính bà vợ ông cũng tin rằng ông vô tội! Phản ứng ngược: Bà Nguyễn Thị Dương Hà, một luật sư, tin rằng chính nhà nước cộng sản mới có tội! Bây giờ bà đã phản đồng, tố cáo công an và nhà nước đã xúc phạm cả ông lẫn gia đình bà.

Biết bị hố, nghiệp vụ loảng choảng không đâu vào đâu, guồng máy công an và tuyên truyền của đảng cộng sản bèn sửa sai ngay. Chế độ độc tài nào cũng vậy, phải dùng hai cánh tay: Ðàn áp và Dối trá. Họ rêu rao lên là mới đến khám nhà Cù Huy Hà Vũ và tìm ra chứng cớ ghép ông vào tội “tuyên truyền chống đảng và âm mưu lật đổ chính quyền, vi phạm điều 88 trong bộ luật hình sự!” Từ tội mua dâm chuyển sang tội âm mưu lật đổ chính quyền, nghe không khác gì thơ Bút Tre!

Nhiều người Việt Nam thấy thế rất buồn. Ðây là một bằng cớ cho thấy ngay cả bộ máy công an cũng bất lực thê thảm! Ðáng buồn, vì xưa nay công an là guồng máy chạy tốt nhất ở trong đảng Cộng Sản Việt Nam. Kỹ sư công chánh có thể xây cầu chưa xong đã sập. Bộ Giáo Dục có thể bất lực để cho trẻ em ở thôn quê thất học; đào tạo sinh viên ra trường đến hãng ngoại quốc nào người ta cũng phải huấn luyện lại. Hải quân có thể bất lực không bảo vệ được ngư phủ Việt Nam, để cho “tàu lạ” cướp thuyền, cướp máy móc và tôm cá, bắt cóc, đòi tiền chuộc! Cả guồng máy cai trị có thể bất lực để cho nước cống phềnh lên tràn ngập các thành phố Sài Gòn, Hà Nội; đêm đêm dân nằm ngủ nghe tiếng nước chảy dạt dào dưới gậm giường, người này lại đổ cho người kia! Tất cả các cơ quan cai trị có thể làm ăn bết bát, không đâu vào đâu cả; nhưng công an xưa nay vẫn là bộ máy chạy tốt nhất, không ai chê được. Châm ngôn của công an là “Ðảng còn, mình còn” có thể tin là họ làm được!

Bây giờ chính guồng máy có công suất tốt nhất đó lại làm ăn loạng choạng! Nhiều người rất thất vọng! Tại sao các chiến sĩ công an lại vụng tính như thế? Nếu đã tính bắt người để gán tội “tuyên truyền chống đảng và âm mưu lật đổ chính quyền, vi phạm điều 88 trong bộ luật hình sự nhà nước xã hội chủ nghĩa” thì cứ đến gõ cửa nhà người ta ở Hà Nội, đòi xét nhà rồi đem tài liệu do mình chế tạo ra nhét vào gậm giường, cứ theo đó mà kết tội cũng được. Tại sao còn đi theo đuôi vào tận Sài Gòn, rình mò ở khách sạn cứ như bọn du côn được các bà Hoạn Thư thuê mướn! Phá cửa xông vô phòng, lại còn bầy ra chuyện ghép hình mua bán dâm cũng ghép vội vã, tất cả thành công cốc! Ðể làm cái gì? Thật là khó hiểu!

Một cách giải thích giản dị, là thực sự công an nó như vậy, khả năng của nó không hơn gì các kỹ sư làm cột xi măng cốt tre cả! Xưa nay người ta cứ sợ công an, không phải vì họ giỏi, mà chỉ vì họ đông quá, lấy thịt đè người. Họ lại không phải theo một quy tắc luật pháp hay đạo đức nào cả, bất cứ hành động nào cũng sẵn sàng nhẫn tâm thi hành, miễn là “bảo vệ đảng!” Cả bộ máy đó chạy khi nào được trên chỉ huy thống nhất.

Nhưng khi ngay ở bên trong đảng, trên tận chóp bu, mà có cảnh đấm đá nhau tranh quyền trước ngày đại hội đảng, thì guồng máy đó không chạy được như trước nữa. Một ông bảo phải làm cái này “Vì đảng;” ông khác lại bảo làm cái khác. Bố ai biết đâu mà bảo vệ được các ông! Tệ nhất là guồng máy công an có thói quen nghe lệnh trực tiếp từ các cụ ở trên ban ra cho các bộ phận bên dưới. Không như thời Trần Quốc Hoàn, chỉ có một người nắm đầu tất cả, vừa lo dắt gái cho chủ tịch nước, vừa lo thủ tiêu gái khi không dùng tới nữa, tất cả được kín đáo thi hành trong ngoài không ai dám nói! Bây giờ phân công ra, có khi sinh loạn, nhất là trong thời đại Internet này.

Có thể trong thời gian qua, một bộ phận đang lo gài bẫy, bêu xấu những người lớn tiếng bất đồng ý kiến với đảng; bằng cách rình mò khách sạn, bất kẻ là ai. Trong khi đó một bộ phận khác đang chuẩn bị truy tố Cù Huy Hà Vũ vào một cái tội vi phạm điều 88, như đã dùng cho Nguyên Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân. Anh thứ nhất, thấy một cơ hội thì ra tay trước, bắt Cù Huy Hà Vũ ngay trong khách sạn, sợ mình chậm chân thằng khác nó tranh công! Anh thứ hai nhảy ngay vào để giành thành quả chiến thắng giương cao ngọn cờ điều 88! Thế là cả guồng máy đụng nhau, tất cả thành ra lùng bùng, đến độ bầy nhầy, không khác gì cảnh đường phố thành La Mã khi ông Vespasianus phụ trách quản lý vệ sinh công cộng!

Nhưng bộ phận truyền thông lề bên phải đã làm việc đắc lực, tung câu chuyện Cù Huy Hà Vũ bị bắt lên, lôi kéo dư luận chú ý. Ít nhất, khi dân chúng kháo nhau về câu chuyện xí căng đan hấp dẫn, họ quên chuyện Bô xít! Dù việc dàn dựng không thành công về kỹ thuật nhưng báo chí trong nước không dám phê phán, nay mai ông Cù Huy Hà Vũ bị đưa ra tòa về cả hai vụ, báo chí lề phải sẽ tường thuật hết! Nhờ tin tức sôi nổi quanh xì căng đan này mà mọi người quên đi mối đe dọa của Bùn đỏ Nguyễn Tấn Dũng. Quên đi cả mối quan hệ giữa mối nguy bùn đỏ với áp lực từ Bắc Kinh đang muốn xếp đặt Bộ Chính Trị mới trong kỳ đại hội sang năm! Khi các ông lớn trong Bộ Chính Trị mổ lẫn nhau thì ngư ông ở Bắc Kinh lại thấy sức ép của mình càng mạnh và có hiệu quả hơn! Dù việc bắt giữ Cù Huy Hà Vũ có luộm thuộm, ngớ ngẩn, bị thiên hạ chê cười, nhưng nếu sang năm Bắc Kinh xếp đặt được đúng người của họ vào cái ghế tổng bí thư, thì kể như công tác vẫn đạt thành quả cao! Khi đó, bùn đỏ có thể được đổi tên, không còn là Bùn Nguyễn Tấn Dũng nữa!


Tuesday, November 9, 2010

Thấy gì từ vụ Cù Huy Hà Vũ

THeo Đàn Chim Việt Info

Thấy gì từ vụ Cù Huy Hà Vũ

Thế là lại thêm một giọng nói can đảm nữa bị Đảng cộng sản Việt Nam bịt miệng. Vụ bắt bớ này cũng như tất cả các vụ bịt miệng tư do tư tưởng khác, chẳng có gì đặc biệt. Chẳng có gì bất ngờ.

Nhưng gắn việc bố trí vội vàng và gượng gạo trong vụ bắt Cù Huy Hà Vũ với những sự kiện gần đây, như vụtrấn áp Tạ Phong Tần, vụ thả “đểu” và bắt giam tiếp nhà báo Điếu Cày, bắt lại Lê Thị Công Nhân, có thể thấy đợt đàn áp lần này cố tình không che đậy, có phần hốt hoảng, nôn nóng và pha nhiều chất vừa cay cú, hằn học vừa trắng trợn, thô bạo.

Áp lực của dư luận công chúng thực chất đã đạt tới mức làm lung lay trực tiếp ghế ngồi của từng vị chóp bu trong bộ máy lãnh đạo của đảng, bóc bỏ những chiếc “lá nho” che đậy của từng vị. Vì vậy mà phạm tội “khi quân”?

Nhưng, nếu đảng có thể tự do hành động, thì có nghĩa là đảng đang nắm quyền kiểm soát xã hội, đang làm chủ quyền lực. Rõ ràng đảng không “ớn” dân chủ, và cũng chẳng ” ớn” lòng dân. Tại sao vậy?

Cái yếu nhất của đảng là tính chính nghĩa. Khư khư ôm chủ thuyết Mác –Lênin không tưởng và lạc hậu, đảng đã không còn chính nghĩa để quy tụ lòng người. Nội bộ lãnh đạo đảng phân hóa và chia rẽ là vì thế.

Nhưng nếu nội bộ đảng chia rẽ sâu sắc về tư tưởng, về trình độ kiến thức văn hóa, về tầm vóc trí tuệ, về phẩm chất đạo đức, về khí phách và cốt cách, thì ngược lại, đảng có một sự nhất quán hoàn toàn, tuyệt đối bền vững về mặt quyền lợi. Còn đảng thì còn tất cả, tất cả đều có phần, hoặc ít, hoặc nhiều. Nhưng mất đảng, sẽ mất hết, cả anh lẫn tôi đều chẳng còn gì. Vì vậy, đa đảng, hay dân chủ thực sự, chính là «giặc ngoại xâm » của đảng. Nội bộ đảng đoàn kết được, nhất trí được, chính là vì có chung một kẻ thù. Kẻ thù đó là dân chủ chính trị và tư do tư tưởng. Đàn áp dân chủ, tiêu diệt mọi mầm mống đa đảng, bằng cách nào cũng được, sẽ chẳng có ai trong lãnh đạo đảng phản đối.

Thẳng tay trừng trị dân chủ và bóp nghẹt tự do diễn đạt tư tưởng trở thành tiêu chuẩn để xác định lòng trung thành với “sự nghiệp cách mạng”. Khu vực “trấn áp dân chủ” là khu vực “đầu tư” có lời và an toàn nhất. Với phe nào cũng được ủng hộ. Với bất cứ ai đứng đầu đều có công. Không cần phải “theo ai” để đàn áp dân chúng.

Tuy nhiên, nhìn vào hiện tượng và mức độ thô kệch của phương pháp, có thể hình dung ra chủ nhân của nó. Ông chủ này ít văn hóa, hàm lượng trí thức ít, nhưng đang lên, đang nắm và có triển vọng tiến tới nắm những công cụ quyền lực tuyệt đối. Có thể ông ta không thiếu thông minh, nhưng mọi thứ cóp nhặt được ở ông ta đều vụn vặt, chắp vá. Vì vậy ông không ưa bọn “hàn lâm”. Sẽ không chỉ “không có dân chủ đa nguyên”. Rồi sẽ còn có cả chuyện đốt sách và thủ tiêu nhà nho nữa.

Sau một tháng rưỡi tiếp nhận ý kiến góp ý của dân ( từ 15/09- 31/10/10), đảng đã gần như phát điên. Quá nhiều nguyện vọng muốn đảng rút đi, dù không nói toạc ra. Quá nhiều ý kiến chỉ trích sự tha hóa, thiếu tài thiếu đức của đảng, không xứng đáng với vai trò lãnh đạo dân tộc. Người ta chỉ chưa nói thẳng ra rằng, đảng nên nhường chỗ cho lực lượng tiến bộ khác lãnh đạo đất nước. Nhưng trả lời được những kiến nghị, những yêu cầu của dân, chỉ có cách đảng từ bỏ cương lĩnh cộng sản, hóa thân thành một lực lượng chính trị khác, tiến bộ, công tâm và trong sạch hơn. Nghĩa là đảng phải đổi tên để mở rộng cửa với các lực lượng tiến tiến thật sự của đất nước. Đảng phải đoạn tuyệt với hệ thống tư tưởng lỗi thời. Đảng phải từ bỏ độc chiếm chính trị bằng chuyên chính vô sản, dân chủ hóa thật sự và rộng rãi toàn xã hội.

Những ngày này trước khi vào đại hội XI, đảng đang tìm những quyết định được lựa chọn cho sự tồn tại tiếp tục trong ít nhất năm năm tới. Hoặc là không khí dân chủ sẽ thoáng đãng hơn, mở con đường rộng hơn cho dân, cho nước, cho tương lai dân tộc hòa vào dòng chảy chung của nhân loại. Hoặc sẽ là một giai đoạn khủng bố khốc liệt. Tức là : hoặc sự thoát xác của một lãnh tụ xuất chúng, hoặc sự chìm đắm tiếp tục trong hoang dại và tăm tối.

Người ta thấy nhiều hơn ở khả năng thứ hai.

Không thể có phép mầu. Không thể có một cá nhân xuất chúng và trọng sạch, đột nhiên xuất hiện trên cùng một con tàu tội lỗi. Quy trình để leo lên cùng một con tàu, ngồi cùng một mâm, không cho phép sự khác biệt của bất cứ ai. Người có tư tưởng khác biệt tới mức đối kháng không thể lọt vào căn phòng của quyền lực cuối cùng. Trong cơ chế chính trị “cánh hẩu”, không thể leo lên tới cùng một đỉnh, nếu không “cùng cánh” và không cùng “làm và cùng ăn” với nhau. Người ta dù xuất phát từ một tâm đức trong sáng lúc ban đầu, cũng sẽ đổi màu dần, thích ứng dần và quen dần, rồi “say” dần với quyền lực và bổng lộc, nhất là tay cũng nhúng chàm dần dần, tâm cũng tối dần, từng bước, song song với từng nấc thang lên. Và khi đến tột đỉnh của quyền lực, lúc có thể làm được cách mạng, thì anh ta đã biến chất thành một kẻ phản cách mạng rồi. Chính anh ta sẽ là người kiên quyết nhất chống lại mọi sự thay đổi. Có người già cũ ra đi. Có người mới đến. Cả những người đang xếp lốt chờ đến lượt mình. Tất cả đều như vậy. Không có ngoại lệ. Hãy nói cho tôi ông làm chức gì, tôi sẽ nói ông là ai!

Nhưng giả sử có ai đó sống sót trong vũng lầy tội lỗi ấy, anh ta sẽ làm được gì ? Bao giờ những kẻ sống sót đó cũng quá ít. Và có quá nhiều việc quá sức họ phải làm. Đương nhiên là không thể. Lịch sử 70 năm của đảng chỉ có một trường hợp duy nhất là Trần Xuân Bách. Nhưng ngay cả sự gạt bỏ không thương tiếc như vậy cũng không được phép lặp lại.

Nghĩa là hy vọng một sự thay đổi tự nhiên, yên bình từ biến đổi nhận thức của đảng là không thể. Chờ đợi đảng tự làm cách mạng là ảo tưởng.

Trong khi đó, cái mà chúng ta gọi với nhau là phong trào dân chủ lại chỉ là một cái gì đó vô hình, không đầu không đuôi.

Thay đổi chính trị đồng thời với cải cách kinh tế. Tự do kinh tế gắn liền với tự do chính trị. Tự do biết và tư do diễn đạt điều mình biết. Đó là những xu thế không thể đảo ngược, không thể từ chối và không thể né tránh. Đó là thiên thời.

Có hơn 90% những người được hỏi phản đối khai thác Bô xít, thực chất đó là hơn 90% dân số việt Nam phản đối Bộ chính trị đảng cộng sản và phản đối Chính phủ. Đó là nhân hòa.

Địa lợi là Tổ chức. Không có tổ chức, sẽ không có sức mạnh, không có điểm tựa. Không có tổ chức, sẽ như một cơ thể không đầu. Chưa có được cả ba yếu tố, nghĩa là nếu không được tổ chức, phong trào cách mạng không thể đi đến kết quả.

Đảng cộng sản lo sợ nhất là các lực lượng đấu tranh dân chủ có tổ chức riêng của mình. Vì vâỵ, những mầm mống, phôi thai một tổ chức, bằng mọi giá, phải bị tiêu diệt, đặc biệt là công đoàn độc lập. Lê Trí Tuệ đã bị ai đó bắt cóc và âm thầm thủ tiêu. Tòa án Trà Vinh vừa xử bốn công nhân nữa đi tù.

Các tổ chức dân chủ nếu công khai có thể có sức ảnh hướng lớn, nhưng sớm muộn cũng trở thành con mồi của bạo lực chuyên chính. Trước một thế lực có tính hệ thống, trước sự hung hãn của bạo lực áp đảo, phong trào chính đáng của quần chúng phải học cách tự bảo vệ sự tồn tại của mình. Lấy bảo tồn làm phương châm hàng đầu. Lấy lòng dân làm nền tảng và giác ngộ dân chúng tự giải phóng làm mục đích. Không bạo lực thô kệch, nhưng không tự chìa nốt phía má còn lại. Sự cao thượng chỉ có ý nghĩa trong một môi trường văn minh.

Các tiếng nói cá nhân giàu ưu tư, trăn trở và giàu lòng can đảm, xin hãy tự giữ lấy mình.

Các anh chị là tài sản của phong trào, là niềm hy vọng của tương lai đất nước. Nếu cứ mỗi ngày thêm một chiếc lá rơi, và chúng ta chỉ còn biết co lại, thì trọng trách này ai gánh !

Nhìn vào tình hình có thể phỏng đoán một Đại hội không có gì thay đổi, nếu không nói là xấu hơn. Sẽ dứt khoát chống Tàu. Kết quả của một năm chủ tịch ASEAN đã khẳng định thế thắng của phe Nguyễn Tấn Dũng. Sẽ có những quyết sách liên kết với các nước lớn mạnh hơn. Nhưng cũng sẽ kiên quyết hơn với nhân quyền. Đi với Mỹ để chống Trung quốc. Nhưng cần Nga để mặc cả nhân quyền với Mỹ. Có thể không phải “định hướng xã hội chủ nghĩa”, nhưng độc đảng là bất di bất dịch, là bất khả xâm phạm.

Sẽ còn nhiều thử thách. Năm 2011 sẽ là một năm còn khó khăn hơn nhiều cho phong trào. Đàn áp sẽ khốc liệt hơn. Khi quyền lực tuyệt đối đã nắm gọn trong tay, sự ngạo mạn hoang dã sẽ đạt đến tột đỉnh.

Nếu không bằng cách mạng bạo lực, người ta có thể tưởng tượng một lộ trình ôn hòa, như sau : 1, Tìm cách đưa những người chưa nhúng chàm vào Trung ương đảng lần đại hội này. 2, Tìm cách ngăn không để những người này bị nhúng chàm trong quá trình nắm quyền nắm chức. 3, Đợi cho những kẻ đã nhúng chàm hạ cánh an toàn sau khi no đủ. 4, Làm cách mạng bằng một tập thể khả dĩ trong sạch.5, Thay đổi Hiến pháp trên cơ sở Hiến chương quốc tế về nhân quyền.

Như vậy mọi việc sẽ trở nên tốt đẹp. Phong trào vận động dân chủ không có việc gì cấp bách phải làm. Đảng không có gì quá lo lắng phải lập mưu đàn áp và khủng bố. Không có thêm người vào tù vì những vi phạm “buồn cười”. Của César sẽ trả lại cho César, vậy thôi. Có điều, làm thế nào để hợp thức hóa ngay từ bây giờ đống tài sản tự nhiên mà có của những vị tai to mặt lớn. Mà nếu không đủ “chứng từ”, thì làm sao mà “hạ cánh an toàn” được. Mà dù có hạ cánh bình yên bây giờ, chắc gì những thứ tự nhiên có ấy, sau ít nhiều thời gian, lại không tự tìm về chủ cũ ?

Còn những ” dũng sĩ diệt tự do”, như kiểu trung tướng Vũ Hải Triều, trung tướng Hữu Ước, Trung tướng Hoàng Kông Tư, Thượng tướng Lê Văn Hướng, đại tá Nguyễn Xuân Mừng…Ngày xưa, khi còn bí mật, đảng vẫn gọi những loại người như mấy ông này là “ác ôn” và đảng xử tử hình vắng mặt, rồi bí mật cử người đại diện cho Dân đi “thi hành án”. Những món nợ với tự do của những nhân vật này sẽ phải trả ra sao?. Họ cũng sẽ “hạ cánh an toàn”, nhưng sợ rằng linh hồn của họ sẽ vĩnh viễn không bao giờ có tự do.

Người ta đã cố tình sắp đặt vụng về và thiếu chuyên nghiệp một vụ án để thóa mạ và bôi nhọ danh dự Luật sư Cù Huy Hà Vũ, trong khi chính đích thân Tô Huy Rứa áp lực để lấp liếm sự sa đọa của chủ tịch Hà Giang Nguyễn Trường Tô và thiếu tướng giám đốc công an tỉnh Hà Giang, “mua dâm và quan hệ bất chính với nhiều phụ nữ”. Bản thân các sự kiện đã tự bộc lộ bản chất của chế độ. Cho nên, chẳng có mấy ai quan tâm tới những lý do mà chính quyền đưa ra, biên bạch cho một vụ bắt bớ chính trị. Chính phủ luôn có lý. Việc bắt bớ luôn luôn đúng pháp luật.

Chỉ tiếc rằng, những gì đáng được trân trọng thì cứ bị “công lý ” tiêu diệt dần dần.

08/11/2010

© Bùi Quang Vơm

© Đàn Chim Việt


Monday, November 8, 2010

Hoa Kỳ phản công ngoại giao tại châu Á - Thái Bình Dương

Theo RFI

Từ trái qua phải : Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, Ngoại trưởng Úc Kevin Rudd, và Bộ trưởng Quốc phòng Úc Stephen Smith tại Melbourne ngày 8/11/2010.
Từ trái qua phải : Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, Ngoại trưởng Úc Kevin Rudd, và Bộ trưởng Quốc phòng Úc Stephen Smith tại Melbourne ngày 8/11/2010.
EUTERS/Mick Tsikas
Đức Tâm

Washington đang tiếp tục phản công ngoại giao, nhằm tái khẳng định vai trò trong khu vực, qua đó cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc. Ví dụ mang tính thời sự nhất là chuyến công du châu Á của tổng thống Barack Obama diễn ra song song với các cuộc đối thoại hàng năm giữa các bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng Mỹ-Úc.

Sau một thời gian lơ là do phải tập trung xử lý cuộc chiến tranh Afghanistan và Irak cũng như hồ sơ chống khủng bố quốc tế, giờ đây, Hoa Kỳ đã quan tâm trở lại châu Á-Thái Bình Dương. Theo giới phân tích, Washington đang mở một đợt phản công ngoại giao, nhằm tái khẳng định sự hiện diện của mình trong khu vực, qua đó kiềm chế, cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc. Ví dụ nổi bật, mang tính thời sự nhất là chuyến công du châu Á của tổng thống Barack Obama diễn ra song song với các cuộc đối thoại hàng năm giữa ngoại trưởng và bộ trưởng Quốc phòng Mỹ-Úc.

Sự lựa chọn Ấn Độ là quốc gia đầu tiên trong chuyến viếng thăm châu Á của tổng thống Obama mang đầy ý nghĩa. Sau khi chứng kiến lễ ký kết các hợp đồng kinh tế trị giá 10 tỷ đô la, tại Bombay, cuối tuần qua, hôm nay, tổng thống Mỹ tới thủ đô New Delhi và tại đây, ông tuyên bố : « Ấn Độ không chỉ là một nước đang trỗi dậy và hiện nay, là một cường quốc thế giới ».

Tổng thống Mỹ nhấn mạnh, quan hệ giữa hai nước là một trong những quan hệ đối tác lớn nhất của thế kỷ 21 và ông kêu gọi chia sẻ trách nhiệm giữa hai nền dân chủ lớn nhất thế giới. Chiều nay, tổng thống Mỹ đọc diễn văn tại nghị viện Ấn Độ và một trong những chủ đề mà New Delhi rất mong đợi, đó là được Washington ủng hộ để Ấn Độ có thể trở thành thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, quan hệ Hoa Kỳ - Ấn Độ không mấy tốt đẹp, thậm chí có lúc căng thẳng. Tuy nhiên, bang giao song phương đã từng bước được cải thiện trong những năm 90 dưới thời tổng thống Bill Clinton và được thúc đẩy mạnh mẽ dưới chính quyền George Bush. Theo AFP, các chuyên gia về chính sách đối ngoại nhận định rằng Washington hỗ trợ New Delhi trong lĩnh vực kinh tế và ngoại giao là nhằm tạo đối trọng với Trung Quốc trong khu vực.

Cuộc phản công ngoại giao của Mỹ được phối hợp với chuyến viếng thăm một số nước châu Á-Thái Bình Dương của các quan chức cấp cao Hoa Kỳ. Từ gần hai tuần qua, ngoại trưởng Hillary Clinton công du nhiều nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Bà đã tham dự với tư cách là khách mời đặc biệt của Hội nghị thượng đỉnh Đông Á được tổ chức tại Hà Nội vào cuối tháng 10. Trong những ngày qua, tại Melbourne, ngoại trưởng và bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã có những cuộc đối thoại thường niên với các đồng nhiệm Úc.

Trong cuộc họp báo ngày hôm nay, bà Clinton đã kêu gọi Trung Quốc hãy đóng vai trò một đối tác có trách nhiệm và tuyên bố, xin trích, « Hoa Kỳ đã có một sự hiện diện từ lâu tại châu Á-Thái Bình Dương, chúng tôi đã từng có mặt ở đây từ 100 năm nay. Chúng tôi đã, đang và sẽ có mặt tại đây. ». Ngoại trưởng Mỹ cũng cho biết là Úc và Hoa Kỳ quan ngại về những tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và Nhật Bản và kêu gọi xây dựng bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông.

Hải quân Mỹ tiếp tục hoạt động tại tất cả những nơi được coi là vùng biển quốc tế

Về phần mình, bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates và đô đốc Mike Mullen nhấn mạnh rằng hải quân Hoa Kỳ sẽ tiếp tục hoạt động ở Hoàng Hải và tại những nơi mà Mỹ coi là vùng biển quốc tế, bất chấp sự phản đối của Trung Quốc.

Hôm qua, bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates còn tuyên bố là Hoa Kỳ muốn tăng cường sự hiện diện quân sự tại châu Á, củng cố quan hệ quân sự với Úc. Nhân dịp này, hai nước đã ký thỏa thuận hợp tác theo dõi không gian. Xin nhắc lại là vào 2007, Trung Quốc đã thành công trong việc bắn tên lửa đạn đạo phá hủy vệ tinh cũ, làm dấy lên lo ngại là Bắc Kinh tiến hành một cuộc chạy đua vũ trang trong không gian.

Các hoạt động ngoại giao của Mỹ tại châu Á-Thái Bình Dương diễn ra vào lúc Trung Quốc ngày càng thể hiện lập trường độc đoán, trong khu vực, với Nhật Bản, với các nước láng giềng Đông Nam Á, hiện đang có tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ với Bắc Kinh.

Trong nhãn quan của Washington và các chiến lược gia Hoa Kỳ thì sự phát triển kinh tế và quân sự của Trung Quốc là một mối đe dọa tiềm tạng đối với ưu thế truyền thống của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương.

Theo giới phân tích, trong bối cảnh đó, mọi động thái, phát biểu của tổng thống, ngoại trưởng, bộ trưởng Quốc phòng Mỹ trong các chuyến công du châu Á-Thái Bình Dương sẽ được Bắc Kinh chăm chú theo dõi, phân tích, và điều này sẽ tác động đến nội dung cuộc gặp giữa tổng thống Mỹ Barack Obama và chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, nhân Hội nghị thượng đỉnh G20, sẽ diễn ra tại Seoul, Hàn Quốc trong tuần này.

Sunday, November 7, 2010

Cù Huy Hà Vũ - 'sex' với A38

Theo NguoiViet Online

Tác giả: A Ba Chín/Người Việt

Ông Vũ và bà Q. đang trong khách sạn quận 6, Sài Gòn, lúc nửa đêm. Công an vào “khám xét hiện trường,” trong đó có laptop, tư trang, lập biên bản, giải về công an phường, nơi khách sạn thuộc phạm vi. Và “tạm giữ hành chính” ông này.

Trước đó, do có phản ứng, ông Vũ bị xem là có hành vi chống lại. Chiều cùng ngày, công an khám xét nhà của ông tại Hà Nội.

Ðó là vắn tắt show diễn mới nhất của an ninh Việt Nam qua truyền thông bằng việc “bẫy,” thành công, Cù Huy Hà Vũ.




Bắt người trong khách sạn là kế mà an ninh Việt Nam muốn ‘hạ nhục thanh danh’ ông Cù Huy Hà Vũ. (Hình: BVN)



Blogger nổi tiếng Truong Thái Du, trong một bình luận trên facebook, đã chỉ ra sơ đồ trình diễn này:

1. Sinh hoạt tình dục ngoài hôn nhân. 2. Kiểm tra hành chính. 3. Chống người thi hành công vụ. 4. Kiểm tra đồ dùng tùy thân, laptop. 5. phát hiện tài liệu phản động, và 6. Khám nhà!

Nếu công dân Vũ là người bình thường, thì cùng lắm ông có thể bị khép tội vi phạm luật hôn nhân và gia đình với một vợ một chồng. Ðây là việc ở Việt Nam hiếm khi có tòa mở, trừ khi có tranh chấp liên quan đến con/tài sản, vì đến nay, theo thông lệ, và theo điều tra, có hơn 40% đàn ông đô thị Việt Nam... ngoại tình.

Hoặc “chống người thi hành công vụ,” quá lắm cũng giữ 24 tiếng, rồi tại ngoại, và không đến độ khám xét nhà.

Chỉ vì công dân Cù Huy Hà Vũ không phải là người bình thường, và vì ông là người nổi tiếng phản biện.

Ông từng kiện Ủy Ban Tỉnh Thừa Thiên-Huế để bảo vệ đồi Vọng Cảnh, ông ra ứng cử bộ trưởng Văn Hóa. Hơn nữa, kiện Thủ Tướng Dũng về “vụ bô xít.” “Ghê gớm” hơn, ông đòi xóa bỏ điều 4 của Hiến Pháp, nghĩa là đòi tước bỏ độc quyền của đảng đang cầm quyền hiện tại - một đảng từ lâu đồng hóa với khái niệm nhà nước.

Do lịch sử, người Việt Nam hiểu chuyện mà còn sống đến hôm nay vừa e lại vừa ngán ngại chữ “phản.” “Phản biện” với người trong nước, giờ đây được hiểu gần hơn với “phản động.”

Khai thác tâm lý xã hội này, từ hai năm nay, hành tung của vị tiến sĩ họ Cù đã được các “trinh sát” Cục Bảo Vệ Chính Trị 4 chuyên “chống phản động” - A38 - của Hà Nội cập nhật và thuộc lòng - Họ “cú” ông đã lâu nay.

Và giờ đây là cước đầu.

* * *

Một phần của các thủ đoạn phản gián đã được các vị A38 Việt Nam hóa thuần thục thời gian qua trong “đấu tranh” bằng các cách để tạo cớ:

- Khích động và câu nhử. (trường hợp Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Ðịnh và đồng chí).

- Tai nạn - câu lưu, tạm giữ hành chính (thường xuyên, nhiều “đối tượng”).

- Khiêu khích hay vu cáo - khủng bố thể chất (nhà văn Trần Khải Thanh Thủy).

- Ðồn thổi và ly gián - hồ nghi gây chia rẽ. (Tạ Phong Tần, LS Lê Trần Luật và đồng bạn).

- Cô lập sinh kế - khủng bố tinh thần (gia đình các bloggers Ðiếu Cày, nhà báo Tạ Phong Tần, LS Lê Trần Luật, LS Lê Thị Công Nhân).

- Quan hệ nam nữ - hạ nhục thanh danh (LS Lê Trần Luật, giờ đây bổ sung thêm Tiến Sĩ Vũ).

Với “đối tượng” loại nào, họ sẽ dùng kiểu và cách tương ứng.

Với Tiến Sĩ Vũ, là người sống với chế độ Hà Nội, ông có nhạy cảm chính trị và cảnh giác với các mối an nguy bản thân. Nhưng đã chưa đủ.

An ninh Việt Nam đã phân tích hoàn cảnh và tình huống của vị tiến sĩ này, để có được “đấu pháp”: ông có học vị, địa vị, gia phả uy tín. Tính cách mạnh, có phần cực đoan,... Có tiếng nói độc lập, là nhân tố tạo hiệu ứng cộng đồng mạnh. (Cần nhớ, ông Cù Huy Hà Vũ là con trai thi sĩ Huy Cận, và là con nuôi thi sĩ Xuân Diệu).

Hai “chiến dịch” tung tin, quyết tạo dư luận về tư duy hoang tưởng của TS Vũ ở các dịp ông ứng cử bộ trưởng Văn Hóa, và vụ kiện Thủ Tướng Dũng, đã không thành công, thậm chí hiệu ứng ngược - TS Vũ gia tăng uy tín.

Hôm qua, “bài” cuối đã có được thành công đầu. Dù hơi lộ: khám xét mại dâm bằng An Ninh Bộ, chứ không phải là đội 7 của công an Sài Gòn (đội chống mại dâm).

Là kẻ có danh, thì hạ nhục thanh danh. Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ đã dính chưởng.

* * *

Ở khách sạn, hai thứ có giá trị sau khám xét: laptop và condom.

Mong mỏi có được của A38, cố nhiên, không phải là 2 condom đấy.

Condom để hợp lý hóa việc khám phòng ở khách sạn. Laptop là để khám nhà ở thủ đô.

Tiếng nói phản biện có tính tráng sĩ, phong cách thủ lĩnh mạnh mẽ, chút ‘cowboy’ Bắc kỳ, hình ảnh đại diện cho thái độ chính trị phản biện gây chú ý nhất qua truyền thông Internet trong 3 năm gần đây, đã bị khóa miệng.

Làm hài lòng Ban Bí Thư và Bộ Chính Trị trước đại hội đảng đầu năm, A38 sẽ tìm ra tội để buộc theo cách quen thuộc - chuyện nhỏ. Chương 2 của A38 show sẽ bắt đầu vào tuần tới. Hãy đợi!