Translate

Saturday, September 11, 2010

Hòa giải dân tộc không chỉ thả tù binh Cọng Hòa mà phải là đại xá toàn dân.

Theo NguoiViet Boston

Thiên Ðức

Trong thời gian gần đây, trên trang mạng Bauxite Việt Nam có phổ biến bài viết với tựa đề: “Kiến nghị trả tự do cho tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam Cọng Hòa, lấy “Việt Nam” làm quốc hiệu để hoa giải dân tộc“

su thatBài viết kết thúc như sau:
“Nhân danh con trai Nhà thơ Huy Cận, Bộ trưởng thành viên Chính phủ khai sáng nền Cộng hòa và nhân danh cá nhân, kiến nghị Quốc hội khẩn cấp thực hiện Hòa giải dân tộc bằng:
1. Ðại xá tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa theo Khoản 10 Ðiều 84 Hiến pháp (Quốc hội quyết định đại xá).
2. Lấy “Việt Nam” làm quốc hiệu thay cho “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Khoản 1 Ðiều 84 Hiến pháp (Quốc hội làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp). (1)

Qua bản kiến nghị trên, hai cụm đại xá và hòa giải dân tộc đã sử dụng một cách ngộ nhận, gây nhiều tranh cãi.

1)- Ðại xá:

Trở lại thời điểm lịch sử vào năm 1975, khi những người lính Cọng Hòa miễn cưỡng buông súng theo lệnh của vị chỉ huy đầu đàn là tướng Dương Văn Minh, cũng là lúc chế độ mới thiết lập tại miền Nam Việt Nam. Nhằm hòa giải dân tộc, để thông suốt chánh sách đường lối cai trị mới, nhà cầm quyền đã đề ra chính sách học tập cải tạo toàn bộ quân nhân cán chính miền Nam Việt Nam, mang theo lương thực đủ ăn 10 ngày hoặc một tháng tùy theo cấp bậc. Và thực tế cho đến nay hơn 35 năm, vẫn còn có những người tham gia học tập cải tạo chưa được về với gia đình?

Ðiều này nói lên một thực tế là đảng cọng sản Việt Nam đã phản bội lại chính mình, đã lợi dụng chính sách học tập cải tạo để trả thù đê tiện những người từng phục vụ dưới chế độ Cọng Hòa, với một lý do duy nhất là những người này không bao giờ tự nhận là người có tội với tổ quốc và dân tộc.

Thật vậy họ là những người bảo vệ tổ quốc, bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa không để rơi vào tay ngoại bang, họ là những người đã từng cưu mang một triệu người miền Bắc chạy trốn chế độ cọng sản miền Bắc vào năm 1954. Thì làm sao có thể buộc họ có tội với tổ quốc và nhân dân? Họ là những người từng cầm súng bảo vệ quê hương làng mạc nơi họ đang sống để chống lại mọi cuộc xâm lăng bất cứ từ đâu tới. Họ chưa từng cầm súng chiếm đoạt một vùng đất nào ngoài lãnh thổ của họ, nhưng cũng chưa để mất một tấc đất nào của tổ tiên để lại.

Theo lời kể của cựu tù chính trị Nguyễn Ngọc Quang về cựu đại úy địa phương quân Nguyễn Hữu Cầu, quân lực VNCH hiện đang bị học tập cải tạo 34 năm nay như sau:

Sống trong tù với anh Nguyễn Hữu Cầu một thời gian không dài lắm, tôi cảm phục chí khí bất khuất kiên cường của anh Nguyễn Hữu Cầu. Anh đã gần 500 lần viết những lá đơn để kháng cáo tội bị gán cho mình. Nhà tù đã dùng biết bao cực hình để khuất phục ý chí của anh. Nhưng chưa một lần nào viết bản kiểm điểm mà anh ghi vào đó rằng “tôi nhận tội” cả. Mà anh ghi như thế này, “Tôi luôn luôn giữ quan điểm của mình là tôi vô tội. Người có tội chính là đảng CSVN”. Vì vậy anh luôn luôn bị biệt giam, bị cùm.

Ðối với người tù bất khuất Trương Văn Sương với thời gian 33 năm 4 tháng trong trại cải tạo vừa ra trai đã tuyên bố:
“Trong những ngày bị lao tù, tôi cũng mong một ngày nào đó có được một giải pháp chính trị để họ thả tôi ra. Thật ra, tôi không nghĩ rằng họ có nhân đạo thả tôi, hoặc tôi cũng không nghĩ rằng tôi là người cải tạo tiên tiến để được đặc xá hay giảm án, tha án gì. Tôi mong rằng có một giải pháp chính trị nào đó để giúp giải quyết cho những người tù chính trị.” (2)

Giả thiết, đảo ngược lại, có một đội quân ngoại nhập nào đó đến cướp đất đai, mồ mả làng xóm của những người cọng sản nói chung, hay của gia đình ls. Cù Huy Hà Vũ nói riêng, rồi bắt cha, ông những người dân trong vùng này đi biệt tích trong 35 năm, ép buộc họ nhận tội mới được thả ra có hợp lý không? Mong ông Cù Huy Hà Vũ trả lời theo lương tâm của một người con yêu của đất nước và theo lương tri của một người đã thành đạt trong ngành luật.

Ðảng csvn và nhà nước đã từng kêu gọi xếp lại quá khứ hướng về tương lai, thế mà giờ này vẫn còn giam giữ tù binh Cộng Hòa với bất cứ lý do gì, cũng là một điều nghịch lý đáng phê phán. Những người tù này phải được trả tự do vô điều kiện, và hành vi thả tù binh này không mang ý nghĩa hòa giải dân tộc như đã chứng minh trên, mà chỉ là một hành vi của lương tâm và đạo lý giữa con người Việt Nam với nhau.

Sự việc gán ghép hành vi trả tự do toàn bộ những người phục vụ chế độ Việt Nam Cọng Hòa sau ba mươi lăm năm giam giữ với ý nghĩa hòa giải dân tộc là một hành vi không trong sáng, cố tình đánh tráo lịch sử.

2)- Hòa giải dân tộc:

Khi đất nước chấm dứt tiếng súng, hai miền Nam Bắc nối liền nhau, đảng csvn đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng, đó là dựa trên lý tưởng “Vô sản toàn thế giới đoàn kết lại” để chia dân tộc Việt Nam ra hai thành phần “Vô sản và không vô sản”.

Ðặc biệt thành phần “không vô sản” phải bị tiêu diệt dưới mọi hình thức. Là người Việt Nam không ai không biết hậu quả của chính sách cải cách ruộng đất, “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ, cải cách công thương nghiệp, tổ chức bán dân, bán bãi xô đẩy người dân vào lòng biển cả…, chính sách mở rộng cửa tù cho những người có tiếng nói khác biệt. Tất cả đó chính là nguồn gốc của hận thù dân tộc.

image002Hình trái: Bia tưởng niệm thuyền nhân, dấu ấn của hận thù hay hòa giải dân tộc?
Ai gây ra cảnh này?

Hận thù Quốc Cộng (nếu có?) xảy ra trong chiến tranh và đang tàn lụi theo thời gian. Hận thù dân tộc do đảng cs gây nên xảy ra trong hòa bình, kéo dài từ khi có đảng cho đến ngày nay.
Những người phục vụ chế độ Việt Nam Cọng Hòa không gây hận thù dân tộc, mà chính đảng cọng sản gây ra và nuôi dưỡng hận thù dân tộc.

Nội hàm này người viết đã từng nhiều lần trình bày rõ ràng qua nhiều loạt bài viết như:
- Ðối thoại với ông Võ Văn Kiệt và đảng csvn: Xếp lại quá khứ? (3)
- Hòa hợp hòa giải dân tộc (4)
- Phong thủy tính sổ ngày tàn chế độ cọng sản Việt nam. (5)

Không ai có thể nhập nhằng và đánh tráo lịch sử giữa hòa giải dân tộc và hòa giải “Quốc Cộng” để trốn tránh trách nhiệm trước lịch sử.

Muốn hòa giải dân tộc chỉ có một con đường duy nhất đó là đảng cọng sản Việt Nam phải biết tôn trọng dân tộc Việt Nam thể hiện qua hai bước:
- Thứ nhất: Ðại xá toàn dân tộc vô điều kiện những người đang bị giam giữ tại quốc nội hoặc lưu đày ngoại quốc, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, thành phần giai cấp, địa vị xã hội.
- Thứ hai: mọi người Việt Nam đều có quyền bình đẳng ngang nhau, có nghĩa là đảng cọng sản Việt nam phải hoạt động trong vòng hiến pháp và luật pháp, ngang bằng với toàn dân tộc Việt.

Không thể có hòa giải dân tộc khi toàn dân tộc bị áp bức tù đày, bất công của luật pháp tồi tệ hơn cả thời kỳ Pháp thuộc, trong khi đảng csvn ngồi xổm trên hiến pháp và luật pháp như chính ông Nông Ðức Mạnh đã tuyên bố:

Theo Vietnamnet ngày 26/6/2010, Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh khẳng định: “Bộ máy Nhà nước ở Việt Nam không hoạt động theo nguyên tắc tam quyền phân lập mà có sự phân định nhiệm vụ, hoạt động thống nhất dưới sự lãnh đạo của Ðảng”. (6)

Mọi người Việt Nam phải được thủ đắc quyền và nghĩa vụ được ghi rõ ràng trong hiến pháp. Ðảng csvn chỉ là một bộ phận của dân tộc chứ không phải là một ngoại lệ để có quyền đứng trên và ngoài hiến pháp. Dân tộc Việt Nam không phải là dân tộc bị trị dưới quyền của đảng csvn. Ðảng Cộng sản Việt Nam chỉ là con dân, chứ không phải là cha mẹ dân tộc Việt Nam.

Bao lâu đảng cọng sản Việt Nam chưa thể hiện được hai bước căn bản này thì hận thù dân tộc sẽ ngày càng chồng chất theo thời gian, và hòa hợp hòa giải dân tộc chỉ là cái bong bóng nước bọt trên đầu môi của mỗi người dân Việt mà thôi.

Luật sư Cù Huy Hà Vũ nói riêng và giới sĩ phu Việt Nam nói chung mong muốn Việt Nam có hòa giải dân tộc nên nhìn thẳng vào thực tế để thực hiện một bước cụ thể trong thời gian sắp tới nhân dịp sửa đổi hiến pháp đó là:
- Ðề nghị chính sách hòa giải hòa hợp dân tộc trở thành quốc sách, phải được ưu tiên thi hành trong hiến pháp, trước tiên đại xá toàn dân, ngăn chận mọi hành vi trả thù phát xuất từ nhiều phía, và mọi công dân Việt Nam đều được quyền bình đẳng và hưởng mọi quyền lợi và nghĩa vụ ghi rõ trong hiến pháp không có ngoại lệ. Ðảng cọng sản Việt Nam cũng chỉ là một bộ phận dân tộc phải nằm trong hiến pháp.

Sự dũng cảm và đấu tranh nói lên sự thật là đáng khen ngợi, thế nhưng đánh tráo sự thật hay chỉ nói lên một nửa sự thật sẽ không bao giờ có kết quả như một sự thật đáng có.

Ghi chú:

1)- Kiến nghị trả tự do cho tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam Cọng Hòa, lấy “Việt Nam” làm quốc hiệu để hòa giải dân tộc
http://boxitvn.blogspot.com/2010/08/kien-nghi-tra-tu-do-cho-tat-ca-tu-nhan_31.html

2)- Còn biết bao người tù chính trị bất khuất trong cảnh đọa đày
http://www.rfa.org/vietnamese/vietnam/chinh-tri/Plight-of-long-term-political-prisoners-in-vn-tquang-07252010125719.html

3)- Ðối thoại với ông Võ Văn Kiệt và đảng csvn: Xếp lại quá khứ?
http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=45&nid=107413

4)- Ðối thoại với ông Võ Văn Kiệt và đảng csvn: Ðể hòa giải hòa hợp dân tộc
http://anhduong.net/binhluan/May07/bai_viet_doi_thoai_voi_ong_vo_van_kiet_2__unicode_.htm

5)- Phong thủy tính sổ ngày tàn chế độ cọng sản Việt nam.
http://thongtinberlin.de/diendan/tinhsongaytanchedocsvn03.htm

6)- Nhà nước CHXHCNVN không phải là nhà nước pháp quyền
http://boxitvn.blogspot.com/2010/06/nha-nuoc-chxhcn-viet-nam-không-phai-la.html

Friday, September 10, 2010

Dân Hà Nội biểu tình chống cướp đất: Công An đàn áp, bắt giữ 6 người

Theo NguoiViet Online

HÀ NỘI (TH) .- Hàng trăm người dân ở thôn Phùng Khoang xã Trung Văn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, biểu tình chống nhà cầm quyền cướp đất đã bị đàn áp và bị bắt 6 người.

Chuyện xảy ra từ ngày 6/9/2010 dù ở ngay thủ đô nhưng đến ngày 9/9/2010 tin mới tới được báo điện tử Nữ Vương Công Lý phổ biến.

Người dân bị bắt nhốt trên xe của Công An, thò đầu qua lỗ thong hơi để thở. (Hình: NVCL)


Theo nguồn tin, đất của dân bị cưỡng chế giao cho nhà thầu xây “khu đô thị mới”, tiền đền bù dân không có đồng nào nhưng nhà thầu đã che chắn, mang xe cơ giới đến để san lấp đất và cả san lấp một phần hồ Phùng Khoang.


“Mọi người kéo nhau đến UBND Huyện đòi thả người vô điều kiện, nhưng họ không thả mà vẫn còn tiếp tục đánh đập, bắt một số người, họ dùng những thủ đoạn, những trò bỉ ổi, đến nhà bắt người ban đêm, đưa đi đâu không ai biết. Họ còn có lệnh bắt giữ thêm một số người đã quá bức xúc đi đòi quyền lợi, đòi công lý (như những người đánh trống kêu oan).

Hiện nay tại thôn Phùng Khoang xôn xao và vô cùng bức xúc trước những hành động khốn nạn của nhà cầm quyền.” Bản tin của một người địa phương phổ biến trên trang báo Nữ Vưong Công Lý viết hôm Thứ Năm.


Bài viết trên NVCL kể: “Theo điều 14 nghị định 64/CP của chính phủ ban hành ngày 18/6/1999 và quyết định số 471/QĐ – UB ngày 10/10/1998 của UBND Tp Hà Nội: Quỹ đất giành cho nhu cầu công ích của xã được quy định như sau:

Căn cứ vào quỹ đất đai, đặc điểm và nhu cầu của địa phương HĐND tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, quyết định tỉ lệ đất được để lại cho mỗi xã không quá 5%. Năm 1999 chia theo nghị định 64 thì mới chỉ chia 53%. Quỹ đất nông nghiệp để lại không giao cho các hộ dân sản xuất nông nghiệp. xã còn giữ lại chiếm 47% trong tổng quỹ đất nông nghiệp của địa phương, dẫn đến tình trạng nhiều hộ dân thiếu đất sản xuất. Trong khi đó, phần lớn diện tích xã giữ lại đều bị bỏ hoang hóa không được sử dụng, gây lãng phí, gây thiệt hại lớn đến kinh tế cũng như quyền lợi của nhân dân.”

Theo nguồn tin, năm 2009 bà con thôn Phùng Khoang đã đến UBND xã hỏi ông Chủ tịch xã (ông Dũng) và Phó Chủ Tịch xã thì được trả lời là khu đất đó chưa bán. Tháng 5/2009 chưa được thông báo, người dân chưa nhận đền bù mà đã thấy các nhà thầu, che chắn, đổ đất, san lấp mặt bằng trên phần đất của mình, đồng thời các nhà thầu đã rao bán trên mạng. Nên người dân đã bức xúc dựng 2 lều làm điểm canh giữ đất. Các nhà thầu đã không thể thi công được.


Nhưng đến ngày 6/9/2010 “thành phố đã huy động lực lượng hàng trăm công an, cảnh sát cơ động, dân phòng dân vệ, các ban ngành trong xã mang đầy đủ vũ khí: súng ống, rùi cui điện, lá chắn, cùng với xe cứu hoả, cứu thương, xe chở tội phạm đến để cưỡng chế (cướp đất của dân) trước khi cướp, họ đọc những gì không biết chỉ biêt có câu: “khu đất này đã được đền bù cho dân một cách hợp pháp” (mặc dù người dân chưa nhận được tiền đền bù).”


Người dân thôn Phùng Khoang “vô cùng bức xúc đã đến đòi, công lý, đòi quyền lợi và giữ 2 lều canh đất, thì bị công an bóp cổ, đánh đập giã man bằng mọi thủ đoạn, rồi bắt người đưa lên xe bịt kín không biết chở đi đâu”.

Máy xúc, máy ủi đất của “nhà đầu tư” san lấp ở bên hồ Phùng Khoang. (Hình: NVCL)


Tất cả có 6 người đã bị bắt mà nguồn tin nêu ra gồm Nguyễn Thị Sớm, Nguyễn Thị Liên, Lê Thị Trọng, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Nhất, và một người chưa rõ tên.

Giữa tháng 12 năm ngóai, báo VietnamNet đã có bài viết đả kích sự bất hợp lý của dự án xây “đô thị mới” ở Phùng Khoang, diện tích 28 ha (mẫu tây). Nhà cầm quyền thành phố cướp đất của dân bán cho nhà đầu tư lấy tiền. Không những bán đất của dân còn bán luôn cả hồ Phùng Khoang 16 ha (mẫu) để nhà thầu lấp đi phần lớn lấy đất xây nhà trong khi ngày mưa nào thành phố cũng ngập lụt vì thiếu chỗ thoát nước. Hồ này chỉ còn có 6.3 ha.


“Hồ Phùng Khoang những ngày này đang là một đại công trường san lấp quy mô lớn.
Xưa kia, cả một khu hồ mặt nước mênh mông xanh biếc, không khí trong lành nay đang bị những đống gạch, đất, cát đổ ngổn ngang lấn vào giữa lòng hồ, bụi cát công trường bay mù mịt.” VietnamNet viết.

Thursday, September 9, 2010

Văn Học Kiểu Hà Nội

TRẦN KHẢI . Việt Báo Thứ Ba, 9/7/2010, 12:00:00 AM

Văn Học Kiểu Hà Nội

Trần Khải
Khi ngòi bút được cầm lên và những cảm xúc được ghi xuống giấy, người ta gọi đó là văn học, bất kể đó có là những cảm xúc còn thơ dại của một em bé bậc tiểu học hay là những trầm tư thâm sâu của một học giả. Khi ngòi bút được cầm lên và những sự kiện lịch sử được ghi xuống giấy được tin là trung thực để cho đời sau đọc, người ta gọi đó là sử liệu, bất kể đó có là những cái nhìn từ những hướng khác nhau, từ cộng sản miền bắc hay từ quốc gia miền nam.
Khi ngòi bút được cầm lên, và ký hàng chục hay hàng trăm bút hiệu, viết xuống những lời tự ca ngợi mình, người ta gọi đó là nền văn học định hướng xã hội chủ nghĩa, mà người tiên phong là ông Hồ Chí Minh, người nổi tiếng với nhiều bút hiệu không ai có thể nhớ hết, trong đó nổi bật là hai bút hiệu Trần Dân Tiên và T. Lan sử dụng cho hai cuốn sách ông Hồ tự ca ngợi mình.
Nền văn học này chỉ độc đaó tại VN, nơi đang liên tục phát động chiến dịch “học theo gương bác Hồ vĩ đại.” Tất cả những hướng đi văn học khác tại VN, hoặc là trở thành ngoaì luồng, hoặc bị ngăn cấm, hoặc là bị xóa sổ.
Do vậy, định hướng văn học là một nhu cầu chính phủ CSVN đòi hỏi. Không định hướng đúng, văn học sẽ bị “lệch chuẩn,” nói theo lời các quan chức.
Trên báo SGGP ngày 20-8-2010, có bản tin nhan đề “Văn học nghệ thuật và giới trẻ: Cảnh báo lối rẽ thiếu định hướng” có nêu lời giáo sư Ca Lê Thuần, nói về điều gọi là “Hoạt động phát triển văn học nghệ thuật (VHNT) tại TPHCM rất năng động, sôi nổi với nhiều sáng tạo mới mẻ, đa dạng. Tuy nhiên, VHNT đang thiếu một bộ lọc để chọn lựa và tiếp nhận những khuynh hướng tốt. Chính điều này đã ảnh hưởng đến giới trẻ, làm công chúng trẻ tiếp nhận VHNT bằng cảm tính bản năng, thiếu định hướng thẩm mỹ đúng đắn.”
Thiếu một bộ lọc? Có thật là thiếu bộ lọc? Hay có phải nhà nước CSVN cố ý dựng tường lửa để lọc riêng theo nhu cầu?
Bài báo nhà nước yêu cầu phải góp phần định hướng kỹ hơn, ngắn gọn là phải xiết bàn tay định hướng kỹ hơn. Bài báo có đoạn kết:
“...Như thế, để VHNT phát triển đúng hướng, nâng cao xu hướng thẩm mỹ của công chúng trẻ thì cần có sự quan tâm nhiều hơn từ các ban ngành chức năng, các nhà lý luận phê bình và các cơ quan thông tin đại chúng. Qua đó, sẽ chỉ rõ cái nào tốt cần khuyến khích, cái nào chưa tốt hoặc xấu cần hạn chế hoặc xóa bỏ… như thế là góp phần định hướng cho đời sống VHNT TPHCM phát triển đúng và đầy đủ hơn.”
Đó là nói nhu cầu định hướng, nhưng theo động lực nào?
Trên báo SGGP hôm chủ nhật 5-9-2010, bài viết nhan đề “Một động lực của văn học nghệ thuật” ký tên tác giả Tân Văn đã viết, trích:
“...tính phục vụ của VH-NT chính là một giá trị cao nhất của VH-NT. Không phục vụ cho sự tiến bộ, cho đời sống tốt đẹp hơn, VH-NT không có lý do tồn tại...
...Các hoạt động VH-NT ở nước ta hiện nay rất cần có lý luận, phê bình soi rọi, giải mã. Về công việc của lý luận, phê bình chắc hẳn ai cũng biết! Có lẽ chỉ cần nói thêm, trong thế giới kỹ thuật số, nối mạng toàn cầu và xu hướng hội nhập như hiện nay, phê bình VH-NT cần có tư duy mới. Lý luận, phê bình không thể chung chung mơ hồ, duy ý chí hoặc duy tâm chủ quan, mà phải có hàm lượng tri thức cao, rõ ràng, cụ thể. Lý luận, phê bình VH-NT là một bộ phận không thể thiếu được trong hoạt động VH-NT. Do vậy, lý luận, phê bình phải có sức thuyết phục cao...” (hết trích)
Theo bài viết, như thế, văn học nghệ thuật... cần phê bình soi rọi, giảỉ mã... hàm lượng tri thức cao... có sức thuyết phục cao... Có thật như thế không? Nền văn học định hướng xã hội chủ nghĩa đang hiển lộ những đặc tính nào?
Có phải sợ lệch chuẩn, nên phải bẻ quẹo chuẩn? Có phải sợ các động lực văn học trung thực, nên phải biến tất cả động lực thành độc lực? Có phải soi rọi và giảỉ mã phải biến thành soi mói để xóa sổ tất cả những nền văn học không thuộc về Miền Bắc xã hội chủ nghĩa? Và có phải “phê bình phải có sức thuyết phục cao” là phảỉ tẩy não tất cả người đời sau bằng cái nhìn kiểu văn học “tự sướng” của Trần Dân Tiên và T. Lan?
Trên trang web Talawas.org hôm chủ nhật 5-9-2010, tác giả Nguyễn Vy Khanh với bài viết nhan đề “Văn học Miền Nam qua một bộ "văn học sử" của trong nước đã cho thấy mặt thật của nền phê bình văn học quốc nội.
Bài của Nguyễn Vy Khanh có trích đoạn sau:
“Miền Nam đây là Việt Nam Cộng hòa và nền văn học của những năm 1954-1975. Văn hóa và nền văn học của miền Nam sau những cuộc thanh lọc, bắt bớ và cấm đoán, vẫn tiếp tục bị những bất thường và quái gở của một thế giới văn hoá, biên tập cố tình làm cho sai lạc. Ai cũng biết sau ngày cưỡng chiếm miền Nam 30-4-1975, văn học và văn hóa Việt Nam Cộng hòa đã bị cấm đoán, phủ nhận như thế nào qua nhiều đợt tấn công, dàn cảnh. Nay, đã 35 năm sau, chiến thuật đó vẫn còn ở một nước Việt Nam hô hào cái gọi là 'cởi mở', 'kinh tế thị trường'. Mới đây, chúng tôi được đọc bộ Văn học Việt Nam nơi miền đất mới trên 4 ngàn trang gồm 4 tập của soạn giả Nguyễn Q. Thắng (NXB Văn Học, Hà Nội). Miền Đất Mới ở đây được soạn giả bao gồm miền Nam Lục tỉnh và miền Nam Cộng hòa; và trong các tập 3 và 4 chủ yếu vẫn là những cây viết của Đảng Cộng sản Việt Nam gồm nằm vùng, ly khai, tập kết, gởi vô Nam hoặc những cây viết từng có mặt thời Việt Nam Cộng hòa nhưng sau này sinh hoạt với các hội và báo chí của Cộng sản Việt Nam. Đặc biệt Nguyễn Q. Thắng đã xen vào đó những nhà văn của miền Nam 1954-1975, nhưng vì ông có thể nói hãy còn tuân theo một “chính sách” hay “chỉ thị” nào đó, do đó chưa thể là một bộ văn học sử đúng nghĩa – nghĩa là ghi nhận, tổng kết và phê phán các tác giả và tác phẩm như đã xuất hiện và sinh hoạt một thời.
Những phê phán, nhận xét có thể có những chủ đích chính trị:
1. Cố tình nêu sai danh tính các nhà văn Việt Nam Cộng hòa: Ngoại trừ trong một số trích (nguyên) văn, toàn bộ sách của Nguyễn Q. Thắng không nêu đích danh các nhà văn qua các bút hiệu đã dùng, đã quen với người đọc và đã đi vào văn học sử như Mai Thảo, Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu, Võ Phiến, mà lại dùng tên thật (tên khai sanh) của họ để làm tiêu đề cũng như đánh giá. Mai Thảo trở thành Nguyễn Đăng Sinh (tập 3, tr. 1233, trong khi tên thực thật của Mai Thảo là Nguyễn Đăng Quý) với chú thích rằng phần này được làm để thông tin về sinh hoạt báo chí và thơ tự do. Nhã Ca lúc được gọi là Thu Vân, lúc lại là Trần Thị Thu Vân. Võ Phiến thành Đoàn Thế Nhơn, Trùng Dương có lúc là Trùng Dương Nguyễn Thị Thái, v.v…
Nhà văn học sử khi viết về các tác giả văn học đều phải ghi bút hiệu là chính, chỉ ở những phần tiểu sử mới nhắc đến tên thật, hoặc giả tác giả đó dùng tên thật để sinh hoạt văn học nghệ thuật thì mới ghi tên thật: Giáo sư Nguyễn Văn Trung có các bút hiệu Hoàng Thái Linh, Phan Mai, nhưng các bút hiệu này chỉ được sử dụng hạn chế và khi xuất bản tác phẩm, tên thật của ông được ghi thì nhà viết văn học đương nhiên phải dùng tên thật của ông. Nguyên Sa ngược lại là một nhà thơ khi ký Nguyên Sa, và khi viết sách giáo khoa triết học (Descartes nhìn từ phương Đông, Luận lý học, Luận Triết học, v.v…) thì ký Trần Bích Lan (riêng cuốn Một bông hồng cho văn nghệ ký Trần Bích Lan khi nhà Trình Bày xuất bản năm 1967; khi ra hải ngoại NXB Đời của ông tái bản thì ký Nguyên Sa); do đó khi viết về nhà thơ Nguyên Sa, người ta có thể nói đến những sách giáo khoa mà ông là tác giả, dĩ nhiên là không thể ngược lại, viết về ”nhà thơ Trần Bích Lan” vì không hề có nhà thơ Trần Bích Lan dù Nguyên Sa và Trần Bích Lan là một người.
- Lê Vĩnh Hòa được ghi trong tiểu sử là “em ruột văn sĩ Đoàn Thế Nhơn...” (tập 4, tr. 270 – từ đây các chú thích đều trích từ tập 4) - thay vì Võ Phiến!
- Về hai nhà văn Y Uyên và Doãn Dân, ông Nguyễn Q. Thắng chỉ ghi năm mất của Doãn Dân; còn Y Uyên thì “mất năm 1969 đang độ tài hoa nẩy nở”(tr. 827) nhưng không ghi rõ chết vì đạn pháo của ai (Việt Cộng!) trong khi các tay văn nghệ nằm vùng ở miền Nam vô bưng chết thì được ghi lý do chết: Lê Vĩnh Hòa thì “hi sinh trong một trận chống càn tại Long Mĩ, Xẻo Giá...” (tr. 270); Trần Triệu Luật thì “hi sinh trên đường công tác ở Tây Ninh (cùng nơi cùng ngày với) Trần Quang Long”. Trần Triệu Luật được đề cao trong một mục từ riêng (51- TTL, nhà văn chiến sĩ) cũng như Trần Quang Long (42- TQL với thi đề 'nghiêng nón'”!
- Về Luân Hoán thì một chi tiết trong tiểu sử nếu không được nhắc đến vẫn còn hơn là ghi như Nguyễn Q. Thắng: “Những năm 60 ông (LH) bị động viên vào quân trường Thủ Đức một thời gian rồi trở về đời sống dân sự” vì phải thêm rằng sau Thủ Đức, nhà thơ Luân Hoán ra chiến trường và bị đạn pháo “quân thù” làm mất một chân! (...)
...3. Những đánh giá và xếp loại vô nghĩa, lỗi thời:
Đây là trường hợp các nhà văn nữ miền Nam thời ấy Túy Hồng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, kể cả Nhã Ca, đều bị Nguyễn Q. Thắng gán cho nhãn hiệu 'vô sỉ'. Theo ông, các vị này mà ông gộp chung là “những người cùng nhóm là một thứ 'vô sỉ' (cynique) trong văn chương. Nghĩa là họ đem những cái không đáng phô trương ra quảng diễn không chút e dè (Nguyễn Thị Thụy Vũ tr.455, Trùng Dương tr.872, Nguyễn Thị Hoàng tr.629,…)”. Nguyễn Q. Thắng thêm rằng Nguyễn Thị Thụy Vũ làm công việc này “khá nhiệt tình trên từng trang văn”, còn tác phẩm nhà văn Trùng Dương “đều được dựng nên bởi nhân sinh quan và thế giới quan một cách “hiện sinh”, buông xả và gần như vô sỉ” (tr. 872, 873). Nặng nề nhất là với nhà văn Túy Hồng mà Nguyễn Q. Thắng cho rằng cùng với các nhà văn nữ kia “từng gây nên hiện tượng văn học có tính nhục cảm dồn nén thể xác của các cô gái lỡ thì... (một cách) tiêu biểu nhất” (tr. 538). Đây là thứ ngôn ngữ của Vũ Hạnh và Tin Văn (do Nguyễn Ngọc Lương, Trần Bạch Đằng chi phối, điều khiển)!
Nhà văn Nhã Ca có lẽ bị nặng nề nhất trong bộ gọi là văn học sử này. Với mục đề “35-Thu Vân, nhà văn dùng tính dục để giải quyết vấn đề” mấy ai nghĩ là Nguyễn Q. Thắng nói về nhà văn Nhã Ca? Ở trang 639, “Thu Vân” biến thành “Trần Thị Thu Vân”, và khi viết về thơ Nhã Ca, không, về nhà thơ Thu Vân chớ, thì ông Nguyễn Q. Thắng viết như sau: “Bà còn là một thi sĩ với những thi đề có giá trị nghệ thuật của mĩ tính thi ca hiện đại có thể nói thơ bà Thu Vân vượt trên văn bà Thu Vân”. Sau đó ông trích bài thơ nổi tiếng của bà nhưng lại cắt mất một phần tựa đề chỉ vì trùng với bút hiệu thật của bà (Nhã Ca!): “Bài… Ca thứ nhất”!
Nhà văn Nhật Tiến khi viết về các nhà văn nữ này đã nhẹ nhàng nhận xét rằng “...những tác phẩm viết táo bạo của giới cầm bút phụ nữ, gây cho độc giả một ấn tượng mới mẻ về những ý tưởng muốn thoát ly cái vỏ phụ nữ Á-đông thuần túy...” (Bách Khoa, 1967). Gần đây, nhà thơ Du Tử Lê thì khẳng định rằng “Nhã Ca, nhà văn nữ nói “không” với dục tính” trong bài viết cùng tựa đề trên tờ Người Việt (CA) số 6-4-2010...”(hết trích)
Chúng ta suy nghĩ như thế nào về những người cầm bút phê bình văn học như Nguyễn Quốc Thắng, người viết 4.000 trang chỉ để bóp méo động lực, bẻ quẹo định hướng, bôi đen văn học Miền Nam?
Khi một em bé ở bậc tiểu học hay trung học tập làm những câu lục bát đơn sơ trong đời em, đó là những dòng thơ tinh tuyền và trong sáng.
Khi ông Hồ cầm bút và hoàn tất tác phẩm tự ca ngợi mình với chữ ký tên là Trần Dân Tiên, người ta còn gọi đó là “nền văn học tự sướng,” và sẽ sinh nở ra những nhà phê bình kiểu Nguyễn Quốc Thắng, những người không thể nhìn cuộc đời xa hơn đầu gối ông Hồ.
Bài viết của tác giả Nguyễn Vy Khanh trên Talawas.org cũng thu hút nhiều bình luận từ nhiều nhà văn khác. Và hiển nhiên đây là một đề tài lý thú cho mùa Quốc Khánh CSVN năm nay.
Điều quan tâm bây giờ là, bao giờ nền văn học hồn nhiên thơ trẻ và trung thực được phép trả về cho đồng bào tôi.

TRẦN KHẢI

Wednesday, September 8, 2010

Đâu phải là vùng duyên hải của Trung Quốc đâu mà la làng

Southeast Asia Sea

Ralph CossaNguyên Hân lược dịch


Đâu phải là vùng duyên hải của Trung Quốc mà la làng


Nhờ ai đó rảnh vui lòng cho người phát ngôn viên của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (QDGPNDTQ) một tấm bản đồ. Mấy tháng vừa qua, kể từ lúc còn là tin đồn, rồi phủ nhận, và rồi xác nhận việc hàng không mẫu hạm George Washington có thể sẽ tham dự cuộc thao diễn nhằm “biểu dương sức mạnh” của hải quân ở vùng duyên hải phía tây của Nam Hàn, người của QDGPND cho đến nay vẫn tuyên bố họ “kiên quyết chống máy bay và tàu chiến nước ngoài tiến hành hoạt động trong vùng biển Hoàng Hải (Yellow Sea) và vùng duyên hải của Trung Quốc mà điều này có thể phương hại đến lợi ích an ninh của Trung Quốc.

Vùng duyên hải Trung Quốc? Trong lúc khu vực hoạt động của chiếc George Washington chưa được lên kế hoạch, thì người ta giả định là chiếc hàng không mẫu hạm này sẽ hoạt động ngay trong hay gần lãnh hải của Nam Hàn, đâu đó gần chỗ chiếc chiến hạm Cheonan của Hải quân Nam Hàn bị đánh chìm bởi thủy lôi của Bắc Hàn. Chỗ này cách bờ biển gần nhất của Trung Hoa 195 cây số ở bán đảo Shandong và cách 280 cây số tính từ đây tới thành phố gần nhất tương đối lớn một chút, là thành phố Dalian. Làm sao điều này có thể phương hại đến nền an ninh của Trung Quốc?

Bất chấp những dự kiện địa lý như thế, người thuyết minh của QDGPND cảnh cáo cái khả năng “đụng nhau” giữa những chiến hạm của Trung Quốc và Hoa Kỳ/Nam Hàn, cùng lúc người khác lên tiếng hăm dọa “Nếu người nào đó gây tổn hại cho tôi, tôi phải gây tổn hại lại người đó.” Kể từ lúc nào mà hoạt động ở hay gần vùng duyên hải của Nam Hàn – vùng biển Hoàng Hải tiếp giáp Bắc và Nam Hàn cũng như bờ duyên hải Trung Hoa – đồng nghĩa với hăm dọa Trung Quốc hay gây tổn hại cho họ?

USS George Washington. Nguồn: US Navy
Có phải QDGPND Trung Quốc giờ đây cho rằng cảng Incheon của Nam Hàn là một phần duyên hải của họ? Liệu tàu của Hoa Kỳ (hay Nam Hàn) phải xin phép Trung Quốc để đi qua vùng hải phận quốc tế rất gần với đất liền của Đại Hàn hơn là Trung Quốc? Điều này, dĩ nhiên là lố bịch. Điều nực cười là thoạt đầu Hoa Kỳ không có kế hoạch điều chiếc hàng không mẫu hạm George Washington vào vùng biển Hoàng Hải. Thực thế, cả Hoa Thạnh Đốn lẫn Hán Thành đều hy vọng một cuộc biểu dương sức mạnh sẽ không cần thiết chút nào, đó là lý do tại sao họ hoãn kế hoạch thao diễn hải quân chung; thay vào đó, họ đưa Bắc Hàn ra Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (HĐBALHQ), một phương cách “đứng đắn” để gởi ra một thông điệp.

Không may, chính thái độ của Bắc Kinh ở HĐBALHQ – nơi mà Bắc Kinh đứng ra làm luật sư biện hộ cho Bình Nhưỡng mặc dù trước đó Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã cam kết là sẽ nghiên cứu kỹ lưỡng kết quả điều tra của quốc tế trong vụ tấn công chiến hạm Cheonan “một cách công bằng và khách quan” và “không bảo vệ ai qua chuyện xem xét này” – đã thúc đẩy chuyện thao diễn quân sự này đến chỗ cần thiết phải làm, để chống lại cái mà Bình Nhưỡng tuyên bố là “chiến thắng ngoại giao vĩ đại” của họ ở Liên Hiệp Quốc.

Ngay cả sau khi Trung Quốc có những động thái như thế ở HDBA Liên Hiệp Quốc, sự chọn lựa của Hải quân Hoa Kỳ là hạn chế sự liên quan của chiếc hàng không mẫu hạm George Washington qua lần thao diễn quân sự hỗn hợp lần đầu tiên ở vùng duyên hải phía đông của Nam Hàn, như là một phần biểu dương sức mạnh quân sự có ý nghĩa, nhắm vào Bình Nhưỡng để Bắc Hàn thấy rằng mức chịu đựng của Nam Hàn và Hoa Kỳ có giới hạn, và những hành động gây hấn, khiêu khích trong tương lai sẽ không được tha thứ.

Và rồi là tối hậu thư của Trung Quốc gởi đến và cảnh cáo Hải quân Hoa Kỳ không được vào vùng “duyên hải – mà thực ra, đó là quốc tế -- của Trung Quốc, đi kèm ngay sau đó là một loạt than phiền từ nhiều bạn bè và đồng minh (đặc biệt là Nam Hàn và Nhật Bản), họ cằn nhằn “cái điều” là Hoa Kỳ tuồng như khúm núm nhượng bộ trước sự đòi hỏi của Trung Quốc. Điều này làm cho cuộc viếng vùng biển Hoàng Hải của hàng không mẫu hạm trở nên thiết yếu, nếu Hải quân Hoa Kỳ, chưa nói đến cái nguyên tắc tôn trọng sự tự do giao thông trên mặt biển đã có lâu đời, muốn duy trì bất kỳ niềm tin và uy tín nào của mình ở Đông Á châu.

Phát ngôn viên của chính phủ Hoa Kỳ đã lập đi lập lại rằng hoạt động hải quân này là không nhằm nhắm vào Trung Quốc; cuộc thao diễn này đã, và đang nhằm gởi cho Bắc Hàn một lời cảnh cáo. Tuy nhiên, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, qua những cảnh cáo và tuyên bố thô bạo và thái quá, cũng làm bất lợi cho Trung Quốc. Vấn đề là, tại sao nên nỗi thế?

Đâu phải là vủng duyên hải của Trung Quốc đâu mà la làng la xóm? Nguồn: Straits Times
Cho những ai có khuynh hướng cho rằng Quân đội Giải phóng Nhân dân đang cố tạo hay thổi phồng một kẻ thù để lấy cớ gia tăng ngân qũy quốc phòng hay nhằm đẩy giới dân sự -- những người có thể “mềm mỏng trong vấn đề quốc phòng – vào cái thế thụ động. Có lẽ thế! Nhưng tôi cũng thấy có những ý đồ khác.

Một kết quả rõ ràng qua việc Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc lên án Hoa Kỳ là một sự gia tăng thấy rõ của cái gọi là cảm tính yêu nước và chống Hoa Kỳ. Chỉ cần đọc Nhật báo Trung Quốc (China Daily) hay Thời báo Toàn cầu (Global Times) người ta sẽ thấy sự lên án hằng ngày về việc người Hoa Kỳ sỉ nhục và vô cảm với những mối quan tâm của người Trung Hoa. Có thể nào chăng rằng sự mê mệt, quyến rũ của người Trung Hoa, đặc biệt là giới trẻ -- qua việc ông tổng thống Barack Obama và tiến trình người dân Hoa Kỳ chọn người lãnh đạo cho họ -- lại đặc biệt được xem như là sự hăm dọa cho Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và cũng là sự hăm dọa cho giới lãnh đạo dân sự mà họ đang chuẩn bị cho cuộc “bầu cử” lãnh đạo của chính họ vào năm 2012 tới?

Chúng ta đã từng chứng kiến một hiện tượng tương tự 12 năm về trước, là trong thời chính phủ Tổng thống Bill Clinton, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã gởi nhiều nhóm đến các trường đại học của Trung Quốc ngay liền sau khi NATO đánh nhầm bom vào Toà Đại sứ Trung Quốc ở Belgrade, họ khẳng định rằng cuộc đánh bom nhầm kia thực sự là một cuộc tấn công cố ý và khêu dậy cái cảm tính chống Hoa Kỳ và điều này đã đưa đến chuyện Toà Đại sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh bị ném đá và các lãnh sự quán bị tấn công. Nghe giống như chuyện đã rồi giờ tái diễn lần nữa.

Gỉa như Quân đội Giải phóng Nhân dân muốn bảo đảm cuộc thao diễn hải quân của Hoa Kỳ và Nam Hàn không nhắm vào hoặc hăm dọa đến Trung Quốc, hiện đang có cách để thảo luận vấn đề này, bao gồm cái cơ chế tham khảo gọi là Thỏa thuận An toàn Hàng hải Quân sự giữa Hoa Kỳ - Trung Quốc. Dĩ nhiên, điều đó ắt hẳn bắt buộc Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc thực sự ngồi xuống và đối thoại với quân đội Hoa Kỳ (3), là điều tuồng như ngày càng cho thấy họ miễn cưỡng không muốn làm. Biết đâu, nếu họ tiếp tục cuộc thảo luận quân sự đối với quân sự (military-to-military) mà hiện đang bị tránh né, thì Hải quân Hoa Kỳ có thể cung cấp cho họ một số bản đồ phác họa vùng duyên hải của mọi người.


© DCVOnline

Tuesday, September 7, 2010

Trung Quốc cần tên lửa chống mẫu hạm để đối phó với Mỹ

Theo RFI

Tên lửa. Ảnh minh họa
Tên lửa. Ảnh minh họa
AFP
Trọng Thành

Trên đây là nội dung xã luận của nhật báo Anh ngữ Global Times. Theo báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ, Bắc Kinh đã bắt đầu có kế hoạch sản xuất các vũ khí chống hàng không mẫu hạm.

Xã luận của nhật báo tiếng Anh của Trung Quốc, tờ Global Times số ra ngày 06/09/10 cho biết : Trung Quốc cần phải có tên lửa tầm xa và các phương tiện khác có khả năng tiêu diệt các tàu sân bay.

Tác giả bài xã luận cho rằng : một khi hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ trong khu vực Thái Bình Dương trở thành một đe dọa cho quyền lợi của Trung Quốc, thì Trung Quốc phải có vũ khí đối phó. Theo một báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ, được công bố giữa tháng 8 vừa qua, Bắc Kinh đã bắt đầu có kế hoạch sản xuất các vũ khí chống hàng không mẫu hạm.

Cũng theo Bộ Quốc phòng Mỹ, Trung Quốc tăng cường vũ khí để đề phòng một xung đột quân sự với Đài Loan, bất chấp việc hai phía đang sáp gần lại nhau trên phương diện chính trị. Bắc Kinh vẫn luôn luôn coi Đài Loan như một tỉnh nổi loạn và không loại trừ khả năng dùng sức mạnh để khẳng định chủ quyền của mình đối với hòn đảo này.

Hoa Kỳ và Hàn Quốc dự kiến tập trận chung, từ ngày 05/09/2010 đến ngày 09/09/2010, tại vùng biển Hoàng Hải, để biểu dương sức mạnh trước Bắc Triều Tiên, trong bối cảnh tình hình giữa hai miền Triều Tiên rất căng thẳng.

Trung Quốc tuyên bố nếu Mỹ đưa tàu sân bay vào tập trận tại khu vực này, thì đây sẽ là một hành động khiêu khích. Hiện tại Hoa Kỳ sẽ không đưa tàu sân bay hạt nhân vào Hoàng Hải và hoãn cuộc tập trận đến một thời điểm không xác định, vì bão đến.

Monday, September 6, 2010

Lá thư trần thế :Giang Tử- Ngọc Minh- Đan Nguyên



LIÊN HỆ VIỆT MỸ TIẾN THÊM MỘT BƯỚC VIỆT CỘNG PHẢI NHƯỜNG TRUNG CỘNG HAI BƯỚC

Theo NguoiViet Boston

LÝ ĐẠI NGUYÊN

Câu nói từ cửa miệng dân gian đã thành nguyên tắc chính trị của Cộng đảng Việt nam là: “Đi với Tầu thì mất nước. Đi với Mỹ thì mất đảng”. Thế nên chủ trương đối ngoại mới đây của Cộng sản Việt nam là “Toàn cầu hoá ngoại giao”. “Đa phương hóa quốc phòng”. “Quốc tế hoá Biển Đông”. Nhưng thực tế thì từ 1991, khi Liên xô sụp đổ, Việt cộng đã quay lại thần phục Trung cộng. Chịu cúi đầu học theo phương pháp “đầu hàng tư bản, mà vẫn duy trì được độc đảng, độc quyền toàn trị cộng sản” cả ở Tầu, lẫn ở Việt. Trung cộng gọi đó là: “Xã hội chủ nghĩa đặc thù Trung quốc”. Còn Việt cộng thì gọi là: “Làm kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa, lấy công ty quốc doanh là chủ đạo”. Với 2 lối gọi đó, thấy ngay được Trung cộng chỉ coi Xã hội Chủ nghĩa là phương tiện để phát triển Trung hoa thành một Đại Đế Quốc. Còn Việt cộng vẫn mù quáng muốn giữ độc quyền lãnh đạo, nên dùng Việt nam làm phương tiện để tiến lên Xã hội Chủ nghĩa hoang tưởng đã chết tiệt rồi. Chính vì vậy mà Trung cộng ngang nhiên coi Việt cộng là đàn em cộng sản ngoan ngõan để làm công cụ cho họ thực hiện giấc mộng Đại Đế Quốc Bành Trướng, nuốt trửng Việt nam, khống chế Đông Nam Á và toàn cõi Á châu, tiến lên hòng vượt Mỹ làm bá chủ hoàn cầu.

Về phiá Mỹ, trong chiến tranh lạnh, Mỹ tích cực triển khai nguyên tắc “Dùng Cộng Diệt Cộng”. Chính việc Mỹ hoá chiến tranh Việt nam để rồi bỏ rơi Miền Nam cho Miền Bắc chiếm trọn, nhằm kết thúc cuộc chiến tranh quái ác Việt nam, đã đẩy Liên xô và Trung cộng vào cảnh huynh đệ tương tàn, mà Việt cộng bị kẹt giữa 2 đàn anh lớn. Cuối cùng Việt cộng ngả về Liên xô chống Trung cộng. Khi Liên xô đổ, Việt cộng đã không khôn ngoan quay về với Dân Tộc, dựa vào thế Toàn Dân để chủ động liên hệ với quốc tế, mà lại theo quán tính nô lệ cộng sản ngả vào tay Trung cộng. Thực ra trước khi Mỹ bỏ Miền nam Việt nam, tổng thống Hoa kỳ, Richard Nixon và thủ tướng Trung cộng, Chu Ân Lai đã ký Hiệp Ước Thượng Hải 1972, trong đó Trung cộng cam kết: “Tất cả các quốc gia lớn hay nhỏ, phải được đối xử bình đẳng; những quốc gia lớn không được gây tổn thương đau khổ cho những nước nhỏ. Trung quốc không bao giờ là một siêu cường. Trung quốc chống lại quyền lực bá chủ và quyền lực chính trị dưới bất cứ hình thức nào”. Vậy, việc Trung cộng chiếm Hoàng sa, Trường sa của Việt nam, và vẽ đường ranh ‘lưỡi bò’ chiếm trên 80 phần trăm Biển Đông của các nước Đông Nam Á, định làm bá chủ toàn vùng là một vi phạm Hiệp Ước Thượng Hải 1972 đã ký với Mỹ. Chỉ với điều khoản này thôi Hoa kỳ đã danh chính ngôn thuận can thiệp vào Biển Đông rồi.

Mỹ vừa kỷ niệm 15 năm bang giao với Việt nam, sự xuất hiện của Mỹ trở lại toàn cõi Việt nam lần này dù là theo khuynh hướng “Kinh Tế Thị Trường Toàn Cầu Hoá”. Nhưng với Trung cộng đó là một trở lực lớn đối với tham vọng bành trướng của họ. Riêng Việt cộng bị đẩy vào thế nằm kẹt giữa 2 nước Mỹ-Hoa. Họ vẫn theo quán tính nô lệ cho các đàn anh Nga và Tầu trước kia, để luồn lách đi giây giữa Mỹ và Tầu. Nhưng Tầu vẫn lợi thế hơn Mỹ, vì Việt cộng sợ đi với Mỹ thì phải Dân Chủ Hóa Chế Độ, như thế Đảng cộng sản mất độc quyền lãnh đạo. Chính vì vậy, mà quan hệ Việt-Mỹ tiến thêm một bước, thì Trung cộng buộc Việt cộng phải nhượng bộ Trung cộng hai buớc. Khi Mỹ tuyên bố cho Việt nam được hưởng quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn – PNTR trước Trung quốc, thì họ lập tức cấm cản, khiến Việt nam phải ký sau Trung quốc một năm. Đồng thời buộc Lê Khả Phiêu, tổng bí thư đảng, và chủ tịch nước Trần Đức Lương phải cam kết ‘hiến đất, dâng biển” cho họ rồi mới được ký. Mỗi lần thủ tướng, chủ tịch, hay các bộ trưởng Việt cộng sang thăm gặp Mỹ thì, trước, hay sau đó đều phải sang triều kiến Bắc kinh để nhận chỉ thị hoặc là bắt phải nhượng một thứ quyền nào đó của đất nước cho Trung cộng.

Việc Nguyễn Tấn Dũng sang gặp tổng thống George W. Bush năm 2008, nâng cao tầm quan hệ giữa Việt-Mỹ. Dịp này tổng thống Bush khẳng định “Ủng hộ chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ Việt nam”. Lập tức Trung cộng lồng lộn lên, bắt ban lãnh đạo Việt cộng và Nguyễn Tấn Dũng sang Tầu để ký kết cho Trung cộng khai thác tài nguyên ở Việt nam. Chương trình khai thác bauxite Tây nguyên của Trung cộng được tiến hành bất chấp sự chống đối của toàn dân Việt nam là do đấy. Từ đó Trung cộng hầu như chiếm độc quyền đấu thầu các công trình trọng điểm ở Việt nam, rồi tràn người vào thi công và làm nhiều việc có tính cách ‘Thực Dân Hoá” Việt nam từ từ… Đồng thời tỏ ra hung hãn chiếm quyền kiểm soát Biển Đông. Bắt, giết, cấm đoán, đánh đuổi ngư dân Việ tnam hành nghề ở Biển Đông. Nhất là mới đây Mỹ đặt vấn đề An Ninh Biển Đông lên hàng ưu tiên chiến lược của Hoa kỳ. Dùng sự đe dọa quân sự của Bắc kinh ở Biển Đông để quy tụ sự chống đối Trung cộng của các nước ASEAN và nhất là của Việt nam thì Mỹ đã trở thành chỗ tựa tin cậy của toàn Á châu để ngăn sức bành trướng của Trung cộng.

Việt cộng tuy không dám bỏ rơi Trung cộng để ngả hẳn về phía Mỹ. Nhưng cả Trung cộng và Việt cộng đều biết rõ là Việt nam giờ này không thể tách khỏi ASEAN, mà ASEAN thì cần phải dựa vào Mỹ mới đủ sức ngăn Trung cộng. Việc tàu sân bay USS George Washington vào biển Việt nam và tàu USS John S. McCain cập bến Đà nẵng đã đánh dấu sự hiện diện thường trực của Đệ Thất Hạm Đội Mỹ ở nơi đây. Lẽ cố nhiên Trung cộng không còn tự tung, tự tác ở Biển Đông nữa. Trung cộng tránh không đụng độ quân sự với Mỹ, nhưng nhắm vào đe dọa, đòi đánh Việt nam. Theo club.china.com: “Việt nam là cốt lõi của vấn đề Biển Đông, để thúc đẩy Việt nam thành trọng điểm vây hãm Trung quốc, Mỹ đã hợp tác hạt nhân với Việt nam, để chứng tỏ Việt nam chống đối Trung quốc, Việt nam cũng sung sướng được ôm chân Mỹ làm cấp tiền phong chống Trung quốc”. Bài báo kêu gọi trừng trị Việt nam với lý do: “… chuyển dời mâu thuân Mỹ-Trung. Trung-Mỹ xung đột trực tiếp không phù hợp lợi ích của Trung-Mỹ. Trừng trị Việt nam là giết gà dọa khỉ, đánh chó làm nhục chủ… Mâu thuẫn Trung-Mỹ biến thành xung đột Trung-Việt, khiến Mỹ không còn cách thọc tay vào… đánh Việt nam có thể thu lợi. đánh Việt man có thể thu hồi được Trường sa… Có lẽ vì sợ bóng sợ vía Trung cộng, nên bộ Quốc Phòng Việt cộng mới để cho Nguyễn Chí Vịnh tay say của Trung cộng họp với Mỹ, rồi sang Tàu khẳng định chính sách 3 không : “…không tham gia liên minh quân sự; không là đồng minh quân sự của bất cứ nước nào; không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt nam và không dựa vào nước này để chống nước kia”. “Việt nam vui mừng chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của nước láng giềng Trung quốc”. “Việt nam ủng hộ sự phát triển của Trung quốc, trong đó có phát triển quốc phòng”. Nói vậy có nghĩa Nguyễn Chí Vịnh và bè lũ hứa từ bỏ luôn cả quyền tự vệ chính đáng của dân tộc, và đi ngược lại quyền chủ động liên minh quốc tế – Đa Phương Hóa Quốc Phòng, nhằm ngăn cuộc xâm lăng của Trung cộng đang diễn ra. Đây là hậu quả của giới lãnh đạo Việt cộng coi dân là kẻ thù, không dựa vào dân, mà chỉ ngửa cổ trông vào sự bố thí quyền thế của ngoại bang.
Tóm lại, khi Mỹ đã triển khai chiến lược ngăn bành trướng Trung cộng tại Biển Đông và Á châu, mà trọng điểm là Việt nam thì Việt cộng có “chạy đàng trời không khỏi nắng”. Chờ coi những màn hay.

Little Saigon ngày 31/08/2010.

Sunday, September 5, 2010

rồi đây sẽ có ngày

thành sầu từ đất nước đau chung
nỗi nhớ nỗi đau luống ngập tràn
ba lăm năm niềm đau thế kỷ
hận sầu ray rức nhói tâm can

ta nhớ ngày xưa đất nước ta
tự do, dân hớn hở cười vui
nay bao dân oan tràn ngập lối
để lũ đê hèn giàu sụ thêm

chắc chắn rồi đây sẽ có ngày
hận sầu quật khởi đạp đầu bay
hố sâu sẽ chứa quân gian tặc
đất nước lại hồi buổi thái lai

Phi Vũ

Saturday, September 4, 2010

Thơ của anh Lê Diễn Đức về việc blog Lê Diễn Đức bị tin tặc tấn công

Các bạn quý mến

Blog “FreeLeCongDinh bị tường lửa chặn từ vài hôm nay và các bạn ở Việt Nam không truy cập được nữa. Tiếp đến là các trang “Thông Luận”, “Tiền Vệ”, "Trắng Đen Online" và hôm nay (23/08) “X-Caphevn”, “Talawas”, Dân Luận” cũng đã bị tin tặc tấn công.
Trang Blog của tôi www.ledienduc.wordpresss.com cũng đã bị tin tặc tấn công trong hôm nay, nhờ các bạn đăng tải giùm thông báo sự cố này lên các trang mạng để đọc giả được rõ và hạn chế truy cập vào trang blog để bị nhiễm virus!
Thân mến
LDD

Cảnh giác với con bài Nguyễn Chí Vịnh

Theo Đàn Chim Việt

Thư ngỏ gứi hai bác Bùi Tín và Trân Bình Nam

Đúng là gần đây, một hiện tượng gây nhiều nghi ngại, thắc mắc là sự xuất hiện liên tục của Nguyễn Chí Vịnh trên các phương tiện thông tin đại chúng cả trong nước và nước ngoài. Nhưng gây ấn tượng mạnh nhất là cuộc trả lời phỏng phấn của báo Quân đội nhân dân ngày 10/08/2010. Nhiều người cho rằng, cuối cùng, phe thân Tàu trong đảng cộng sản đã buộc phải “xuất tướng”. Bởi vì, người ta biết, sau Nông Đức Mạnh, người được coi là có thế lực nhất (thế lực ngầm) thuộc phe này là Nguyễn Chí Vịnh.

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh. Ảnh On the net

Đọc bài phỏng vấn, người ta có cảm giác rằng, người hỏi không phải là phóng viên báo quân đội nhân dân Việt nam, mà là một phóng viên của một tờ báo nào đó đến từ Trung Quốc. Và không phải là Nguyễn Chí Vinh trả lời phỏng vấn mà là Nguyễn Chí Vịnh thanh minh với Trung Quốc.

Có thể thấy rất rõ rằng, cuộc trả lời phỏng vấn này nhằm vào 3 mục đích:

1- Tầm thường hóa quan hệ Việt Mỹ

2- Khẳng định trước sau như một, quan hệ với Trung Quốc mới là một quan hệ bạn hữu chiến lược

3- Chỉ Bộ quốc phòng có quyền thông tin các vấn đề liên quan tới quân sự

Thứ nhất :

Hoa Kỳ bày tỏ mong muốn cử một đoàn tàu quân sự vào thăm Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 15 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, và chúng ta đã chấp thuận ý kiến này.”

Và: “Chúng ta chấp nhận lời mời của phía Hoa Kỳ vì mong muốn thể hiện thiện chí trong quan hệ giữa hai nước, đồng thời khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên vùng đặc quyền kinh tế theo quy định của luật pháp quốc tế”

Có thể hiểu điều mà Nguyễn Chí Vịnh muốn nói là: những hoạt động giao lưu hợp tác giữa quân sự hai nước sôi nổi và dồn dập gần đây chỉ là theo“thông lệ” và hoàn toàn do phía Hoa Kỳ chủ động, phía Việt nam không tìm kiếm và có vẻ như băt buộc phải “chấp nhận” hay “ chấp thuận”. Nguyễn Chí Vịnh nhấn mạnh:” Việt nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự, không dựa vào nước này để chống nước kia”, và những hoạt động này đều do “chính quyền địa phương chủ trì, các bộ, ngành có liên quan và các đơn vị quân đội ở địa phương tham gia và phối hợp.” nghĩa là không thuộc trách nhiệm lãnh đạo Bộ Quốc phòng! Tóm lại, quan hệ Việt Mỹ chẳng có gì mới, chẳng có gì quan trọng.

Và làm như là trích lời của báo chí, Nguyễn Chí Vịnh nói: “Việt Nam theo đuôi Mỹ”… đây thực chất chính là sự kết tội phe phái thân Mỹ trong nội bộ đảng cộng sản.

Thứ hai:

Phát triển quan hệ hải quân với Trung Quốc là một hướng ưu tiên trong quan hệ đối ngoại quốc phòng của Việt Nam, mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai nước”

Và “Có thể nói, quan hệ hải quân giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được phát triển theo đúng tinh thần quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mà lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước đã cam kết.”

“Hiện nay, mối quan hệ đó đã đạt được nhiều thành tựu, hai bên thường xuyên trao đổi các đoàn đại biểu cấp cao, tiến hành giao lưu sĩ quan hải quân, tuần tra chung, lập đường dây nóng và gần đây nhất đã tiến hành diễn tập cứu hộ, cứu nạn trên biển.

Không có gì thay đổi trong mối quan hệ “thân hữu anh em” giữa Việt Nam và Trung Quốc. Người Việt chúng tôi vẫn trước sau trung thành với Trung Quốc, dù cho ai “nói ngả nói nghiêng” lòng trung thành trước sau như một đó vẫn “vững như kiềng ba chân”.

“Cây ngay không sợ chết đứng”. Lời thanh minh này dành cho ai? Ai đã nghi ngờ lòng “ngay” của Nguyễn Chí Vịnh? Ai đã quy tội oan cho phe phái của Vịnh?

Không! Cú đánh vỗ mặt bất ngờ của Hà nội ngày 23/07 tại Hội nghị Ngoại Giao ASEAN là của phe Nguyễn Tấn Dũng, Phạm Gia Khiêm. Đó là cú đánh quá độc và quá bất ngờ, ngay chính Nông Đức Mạnh cũng không ngờ. Cú đánh có thể làm Dương Khiết Trì, đương kim bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, mất chức.

Nhưng thưa, chúng tôi vẫn làm chủ tình hình, vẫn toàn quyền kiểm soát tình hình. Bằng chứng là ngay sau đó, báo chí cả nước đã buộc phải im bặt. Không một lời tán tụng. Không một sự tôn vinh. Một không khí đang hừng hực ngây ngất, náo nức đột ngột tắt lịm như bị dội nước lạnh.

Thứ ba:

“…một số báo chí Việt Nam cũng đưa chưa thật chính xác về vấn đề này. Rất tiếc là giới truyền thông không tìm đến địa chỉ cần thiết là Bộ Quốc phòng để tìm hiểu thông tin chính xác về sự kiện này cũng như các vấn đề tương tự”

Hãy coi chừng. Nếu không có sự cho phép của Bộ quốc phòng, các người sẽ chịu hoàn toán trách nhiệm về những gì mà các người say sưa đưa lên mặt báo. Hãy luôn nhớ rằng Ta là tất cả, Ta có thể làm được tất cả, có thể nghiền nát mọi thứ.! Đã như thế và vẫn như thế.

Người phát ngôn bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga ngay lập tức bác bỏ hợp tác hạt nhân Việt Mỹ do Wall Street loan báo (1), bất chấp danh dự quốc gia, để thanh minh với Trung quốc rằng: không phải Lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản Việt Nam chủ trương, Gói thầu lớn nhất của hai trung tâm năng lượng hạt nhân đầu tiên vẫn được giữ nguyên để dành cho Trung Quốc.

Và việc xuất hiện của Nguyễn Chí Vịnh trên tờ báo tiếng nói của Quân đội nhân dân Việt Nam là báo cáo chính thức với “thượng cấp” rằng, “ Nguyễn Chí Vịnh và phe đảng đang kiểm soát Bộ quốc phòng” và luôn sẵn sàng tung “quả đấm thép” trừng trị bất kỳ thế lực cản trở nào.

Việc im bặt của giới báo chí chính thống cả nước trong suốt thời gian từ sau sự kiện “Đa phương hóa Biển Đông” ngày 23/07/2010, chứng tỏ rằng đã có sự liên minh chính thức giữa Nguyễn chí Vịnh( tức là Nông Đức Mạnh) với Nguyễn Phú Trọng và Tô Huy Rứa. Và một thứ vũ khí nhân danh “ tiêu diệt kẻ thù của Chủ nghĩa xã hội” sẽ được phát động. Với sức mạnh tàn độc của Tổng cục II và bằng tiền bạc và kỹ thuật đến từ Trung Nam Hải, mọi trở lực sẽ biến thành tro bụi.

Cùng với sự xuất hiện liên tục của Nguyễn Chí Vịnh, người ta có thể thấy:

1- Cuộc chiến giữa các phe phái trong nội bộ Bộ chính trị trong cuộc giành giật quyền lực trước Đại hội XI đã đến vòng chung kết. Trước thất bại 20/07/2010, buộc lòng Nguyễn Chí Vịnh phải xuất hiện để khẳng định với quan thầy. Rất có thể, sự nghi ngờ đang đe dọa an ninh của chính cá nhân Nguyễn Chí Vịnh và phe đảng cùng với nguy cơ biến mất của những mối lợi kếch xù mà sự gắn bó với Trung Quốc đem lại.

2- Bằng sự xuất hiện, Nguyễn Chí Vịnh chứng tỏ “quả đấm thép” là có thật. Nguyễn Chí Vịnh đang là người duy nhất chi phối Bộ Quốc Phòng chứ không phải người nào khác. Nguyễn Chí Vịnh là người phát ngôn Bộ Quốc Phòng, Nguyễn Chí Vịnh vừa đàm phán với thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, và nguyễn Chí Vịnh sẽ là người tham dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN tháng 10. Những thế lực nào dám cản trở sẽ bị trừng trị.

3- Bằng sự xuất hiện chính thức ngày càng nhiều trên sân khấu chính thống, người ta đang tiến hành việc tô son lên khuôn mặt thiếu đạo đức, vô liêm sỉ của Nguyễn Chí Vịnh, dạo nhạc và dọn dẹp dư luận cho một chiến dịch biến Nguyễn Chí Vịnh thành một tượng đài của lòng yêu nước và một tài năng xuất chúng, để nhảy vào Trung ương và Bộ chính trị, bước đầu tiên để Nguyễn Chí Vịnh leo lên vị trí tột đỉnh của quyền lực. Và khi đó, từ chế độ độc đảng, Việt nam sẽ trở thành Phát xít. Hận thù trong lòng Nguyễn Chí Vịnh sẽ có cơ hội để thỏa mãn và cuộc thanh trừng khốc liệt sẽ không thể tránh khỏi. Ngược lại, nếu thất bại, Nông Đức Mạnh ra đi, Nguyễn Chí Vịnh không vào được Trung ương. Đại hội XI sẽ đưa hồ sơ Tổng cục II ra xét lại, và Nguyễn Chí Vịnh sẽ không tránh được một cái án tử hình, hoặc chí ít cũng chung thân. Đó là lý do sự vội vã hấp tấp này của Nguyễn Chí Vịnh.

Sau sự lồng lộn ầm ĩ của Bộ Ngoại Giao Trung quốc cùng vói một loạt công bố tăng cường sức mạnh uy hiếp của Trung quốc (tập trân bắn đạn thật trên vùng biển Trường sa, thiết lập căn cứ thứ hai tên lửa đầu đạn hạt nhân tại Quảng châu, đẩy mạnh chương trình xây dựng hàng không mẫu hạm…), người Trung quốc đang nhắc đến “sự khiêm tốn Trung quốc”, tìm lại chính sách “Thao cương dưỡng thổ” của Đăng Tiểu Bình, im lặng phục binh, âm thầm như núi Thái sơn…Vì vậy có thể dự đoán, Trung quốc sẽ bớt múa mép, đe dọa ồn ào, mà sẽ im lặng hành động. Cách cư xử tại Biển Đông sẽ có hình thái khác, hiệu quả hơn, nhưng ít tạo ra phản ứng hơn. Đối phó với Việt nam sẽ được tính toán cẩn thận và chuẩn xác hơn. Mục tiêu là biến ASEAN thành cái xác không hồn, những kẻ theo Mỹ ở Việt Nam và các nước sẽ phải biến mất, bằng mọi giá.

Trong chiến lược này, người Việt sẽ tự diệt người Việt. Nguyễn Chí Vịnh sẽ phải thể hiện lòng trung thành bằng cách lần lượt “hô biến”, trước hết là Phùng Quang Thanh, tiếp đến là Phạm Gia Khiêm và Nguyễn Tấn Dũng, rồi đến Lê Hồng Anh…

Nếu những phán đoán trên đây mà đúng, thì hãy yên phận. Người Việt Nam rồi sẽ nói tiếng Trung Quốc, tiêu tiền Nhân dân tệ và thoát được nỗi khỗ phải phân định ranh giới, cả trên đất liền lẫn trên biển.

Có một điều khá lạ nhưng vô lý là: dư luận cả trong và ngoài nước hình như hiển nhiên thừa nhận tính chính danh của công cụ khủng bố trong tay đảng cộng sản. Bắt và xử, một vụ tai nạn máy bay, ô tô, xe máy, một vụ tai biến mạch máu não, một vụ đột tử không rõ nguồn gốc v.v.. là độc quyền của đảng cộng sản và dư luận chính thống. Người ta có quyền mơ ước ai đó cũng học được phép thuật “hô biến”.

Những người bất đồng chính kiến Cuba đã biết thành lập Tòa án dân chủ để tập hợp tội phạm phản dân chủ, từ tháng 10 năm ngoái.

Ước gì bác Trần Bình Nam có được tin tức tình báo có thật từ nội bộ Trung ương đảng cộng sản. Cầu trời bác không bị là công cụ của trò chơi “hư hư, thật thật”.

Như vậy thì niềm hy vọng khiến phải chuyển lập trường từ “cuộc đảo chính” sang “chuyển biến chiến lược”của bác Bùi Tín khả dĩ được an ủi, mặc dù nhìn vào diễn biễn công khai thì có thể khó tin được.

Cũng có thể những suy luận như vây là suy diễn bệnh hoạn của cá nhân..

21/08/2110

© Bùi Quang Vơm

© Đàn Chim Việt

Đọc những bài cùng chủ đề:

Cuộc đảo chính không tiếng súng

Cao thủ tình báo và đòn thăm dò mạo hiểm

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Bộ QP VN, ông là ai?

—————————————————————

(1): xem các bài “ Hà nội đã cưỡi trên lưng hổ” và “ Ai đứng phía sau” của cùng tác giả, đăng trên DanChimViet.com

* các trích dẫn in nghiêng trong ngoặc kép “.” Là nguyên văn từ bài phỏng vấn.

Friday, September 3, 2010

Chào mừng ngày ông Hồ chết

Theo DCV Online
Trà Mi




Bài này viết để chào mừng ngày ông Hồ chết.

Ông Hồ Chí Minh chết ngày 2 tháng 9 năm 1969, khi ấy người viết còn nhỏ, sống ở Sài Gòn, loáng thoáng nghe nói ông là trùm Cộng sản Việt Nam (Việt Cộng, VC). Mà VC là ai thì cũng lờ mờ lắm; nghe nói (cũng chỉ nghe nói thôi) là mấy ông này hay đặt mìn xe đò, cũng là mấy ông bận đồ bà ba cầm súng vào thành phố bắn dân, và cũng chính là mấy ông bắn giết hàng loạt và chôn tập thể đồng bào vào dịp Tết Mậu Thân 1968 ở Huế tức là 1 năm trước ngày ông Hồ “đang sống chuyển sang từ trần.”

Túm lại, người viết không biết gì nhiều về ông Hồ thời đó. Thế thì tại sao lại viết bài chào mừng ngày ông chết?

Trước khi trả lời câu hỏi đó, xin được bàn ngang về sự “chuyển sang từ trần” của ông Hồ Chí Minh. Mới nghe tưởng đây chỉ là cách nói cho hợp vần, cho có điệu, cho vui tai của hai câu,

“Tin nghe như sét đánh ngang,
Bác Hồ đang sống chuyển sang từ trần!”


Nghĩ lại tác giả hai câu thơ này dùng ngoại động từ “chuyển sang” có ý nói rằng ông Hồ Chí Minh chủ ý chọn ngày chết của mình. Nếu ông Hồ đang sống phây phây bỗng lăn đùng ra theo ông Mác, ông Lê, ông Mao thì tác giả đã viết một cách hợp lý hơn, “Tin nghe như sét ngang lưng, Bác Hồ đang sống bỗng dưng từ trần!” Hai câu thơ “chuyển sang từ trần” không biết có từ lúc nào nhưng chắc chắn phải có trước khi bà Dương Thu Hương sang Tây (2006) viết và xuất bản tiểu thuyết “Đỉnh cao chói lọi” (Bản tiếng Pháp là “Au zénith”) năm 2009. Trong một bài báo của Thomas Bell, về Au zénith đăng ngày 21 tháng 1, 2009 trên Telegraph.co.uk, bà Hương nói, ông Hồ đã chọn chết đúng ngày 2 tháng 9 để trả thù tập đoàn lãnh đạo Việt Cộng và đồng thời “trù ẻo cái chế độ thối nát” đó. Theo bà Dương Thu Hương thì ông Hồ đã tự rút ống “nước biển” để “chuyển sang từ trần”.

Trở lại với câu hỏi tại sao lại có bài này để chào mừng ngày ông Nguyễn Sinh Cung chết. Vốn là thế này. Đang lúi húi trong bếp chuẩn bị cơm chiều thì tiếng Skype kêu inh ỏi. Đầu dây bên kia là giọng quen thuộc của một ‘bà tám’.


Sách mới về Hồ Chí Minh
Nguồn: NHĐT/V-Publisher (?)
‒ Này, bác đã đọc sách mới chưa?
Trời ạ mình đang bận, khói cay cả mắt mà sách với vở cái gì cơ chứ.
‒ Sách gì, sách hình hả? Sách nhiều chữ mình không đọc đâu.
‒ Không, bác Chao bảo bác phải tìm mua mà đọc.
Lại đem tương với chao ra áp lực.
‒ Được rồi, sách tựa là gì tác giả là ai?
‒ Hai cuốn cơ!
‒ Giời ạ, nói nhanh lên tôi còn phải thổi cơm.
‒ Đó là cuốn bằng tiếng Anh, “Ho Chi Minh – The soul and talent of a great patriot” và cuốn “Hồ Chí Minh - Tâm và tài của một nhà yêu nước” của cùng tác giả Nguyễn Đài Trang mới xuất bản.

Thế là bữa cơm chiều hôm ấy, cả nhà ăn pizza và uống xá xị. Mấy nồi cơm, canh chua và cá kho để sang hôm khác vì người viết phải tạm thời gác việc soong chảo để chạy vào mạng tìm mua sách; gì chứ hai chữ “tâm” và “tài” mà xếp cạnh ba chữ “Hồ Chí Minh” thì tác giả phải là chuyên gia tiếp thị hàng cao cấp.

Đây chính là lý do có bài viết này để chào mừng ngày ông Hồ chết. Hồ Chí Minh chết từ hơn 40 năm nay, sách viết về ông on sales đầy dẫy trên Amazon.com. Thế mà đến 2010 lại vẫn có sách mới (của Nguyễn Đài Trang) nói về ông. Đây hẳn phải là tác phẩm có nhiều tài liệu mới kết quả của nhiều năm nghiên cứu.

Những trình bày sau đây là kết quả của nhiều giờ thâm cứu để tìm hiểu và tìm mua hai cuốn sách nói trên.

Hai tác phẩm này, “Ho Chi Minh – The soul and talent of a great patriot” và cuốn “Hồ Chí Minh - Tâm và tài của một nhà yêu nước”, được tác giả xuất bản để kỷ niệm ngày sinh thứ 120 của Hồ Chí Minh tức là mới đây thôi, 19/5/2010.

Đầu tiên, xin được thưa ngay với người đọc, bài này sẽ không có nhiều chi tiết về nội dung tác phẩm. Đơn giản vì thời gian giới hạn, và internet lại không có biên cương nên không thể tìm được thông tin chuẩn xác để tìm mua tác phẩm của tác giả Nguyễn Đài Trang.

Để bù lại, bài viết chào mừng ngày ông Hồ chết sẽ trình bày với bạn đọc nhiều hơn về tác giả.

Không phải tình cờ mà tác giả cho xuất bản sách vào tháng 5 vừa qua; và cũng không phải tình cờ, báo đài của Đảng Cộng sản Việt Nam rầm rộ đăng bài quảng cáo hai tác phẩm của tác giả Đài Trang trên các trang mạng của công an, của đài phát thanh VOV, của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, v.v…

Tháng Sáu, tác giả ra mắt sách tại Canada. Theo tin của Hoàng Ánh đăng trên biethet.com này 18/6/2010

Đài Trang ra mắt sách ở Laval, Quebec (12/06/2010)
Nguồn: OntheNet

Nguyễn Đài Trang, một giáo sư người Việt đang giảng dạy tại khoa Khoa học Chính trị của Đại học Toronto (Canada), vừa có buổi giới thiệu cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, mang tên Hồ Chí Minh – Tâm và Tài của một nhà yêu nước.

Buổi giới thiệu sách, diễn ra ngày 12/6 tại thành phố Laval gần Montreal, diễn ra rất đơn giản nhưng trang trọng với khoảng 40 khách mời, chủ yếu là kiều bào ở các khu vực lân cận và một số sinh viên Việt Nam. Một đoàn đại biểu của Đại sứ quán Việt Nam tại Canada do Tham tán Văn hóa Đào Ngọc Dinh dẫn đầu…


Úi dào! Giáo sư khoa Khoa học Chính trị của một trong những đại học nổi tiếng nhất Canada mà viết về ông Hồ thì hẳn không thua gì các ông William J. Duiker (“Ho Chi Minh: A Life”, Hyperion, September 2000) hay bà Sophie Quinn-Judge (“Ho Chi Minh: the missing years, 1919-1941”, C Hurst & Co Publishers Ltd., Jul 24 2003).

Lại nữa đây là giáo sư Việt kiều viết về Hồ Chủ tịch chứ không phải là loại sách cũ của Trần Dân Tiên viết “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” năm nào hay là sách của ban Tuyên giáo Trung Ương viết về ông Hồ thì cũng không có gì đáng chú ý lắm.

Một mẩu tin khác đăng ở vieclam.net.vn viết

Ra mắt cuốn sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Canada

Ngày 12/6/2010, tại thành phố Montréal (Canada) đã diễn ra buổi giới thiệu cuốn sách Hồ Chí Minh - Tâm và Tài của một nhà yêu nước của tác giả Nguyễn Đài Trang, một Việt kiều đang giảng dạy Khoa học Chính trị tại Đại học Toronto; giáo sư ngành Kinh tế Ngoại thương.



Mèng đéc ơi, giáo sư Việt kiều ngành kinh tế ngoại thương mà lại giảng dạy cả Khoa học Chính trị nữa thì thiệt là tình (nghi) luôn!

Truy cập internet hàng giờ, đọc vài chục trang thông tin về tác phẩm nhưng không bản tin nào cho hay cả hai cuốn sách bằng tiếng Anh và tiếng Việt do nhà xuất bản nào ở Canada phát hành.

Vào Amazon.ca tìm tâm và tài của Hồ Chí Minh ví như mò kim đáy biển. Và theo tin của báo đài của Đảng thì cũng không phải dễ vì có chỗ ghi tên sách là “Ho Chi Minh – The Heart and Talent of A Patriot”, chỗ khác lại viết “Ho Chi Minh – The Soul and Talent of A Great Patriot.”

Tìm không được tác phẩm để mua đọc thì phải đi tìm tác giả vậy. Tác giả thuộc giới hàn lâm Canada, một xã hội dân sự trong thể chế dân chủ, hẳn sẽ không thiếu thông tin. Tìm được tác giả thì việc được sách tặng có chữ ký hẳn hoi là điều có thể xẩy ra. Nghĩ thế nên người viết bám sát màn hình.

Ghé lại ĐH Toronto, vào phân khoa Khoa học Chính trị, người viết tìm được ban giảng huấn khoa này (họ vần N, M, O...) như sau:


Ban giảng huấn Khoa Khoa học Chính trị ĐH Toronto: Không có tên Nguyễn Đài Trang
Nguồn: UoT


À đây rồi. Xin được trình bày sơ lược về tiểu sử tác giả.

Tiểu sử tác giả Nguyễn Đài Trang (Tổng hợp theo tin của nhiều trang khác nhau)

Nguyễn Đài Trang có tên trên giấy khai sinh là Nguyễn Hoàng Đài Trang.

Tác giả sinh năm 1970 tại Huế. Đã theo học tại Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh.

Sang sinh sống tại Montreal, Quebec, Canada khi 20 tuổi (1990). Đi học loáng thoáng tại hai Đại học Cộng đồng (trường Cao đẳng, sau bậc trung học) tiếng Anh (Collège d'enseignement général et professionnel, CEGEP) Vanier và Dawson. CEGEP là những cơ sở giáo dục có học trình 2 năm để sinh viên tiếp tục vào học cử nhân ở đại học, hay học trình 3 năm để vào thị trường lao động. CEGEP chỉ trao chứng chỉ (diploma) tốt nghiệp chứ không có bằng cử nhân hay cao hơn (degree).

Là sinh viên khoa Thương mại của Đại học Concodia University (Montreal); tốt nghiệp Cử nhân Thương mại (BComm) tại đại học này vào năm 1995.

Tác giả rời Montreal, Quebec sang tỉnh bang miền cực Tây của Canada ghi danh theo học Thạc sĩ Kinh tế tại Đại học Bristish Columbia (UBC) ở Vancouver và tốt nghiệp Master of Arts in Economics (MA) – Thạc sĩ Kinh tế vào năm 1996.

Sau khi tốt nghiệp MA, tác giả ghi danh, cũng tại UBC, theo học ban Tiến sĩ khoa “Individual Interdisciplinary Graduate Studies Program And Asian Research”. Trình luận án tựa đề “Exploring indigenous approaches to women’s well-being in Viet Nam: negotiating gender” vào tháng 12, 2003 và tốt nghiệp Tiến sĩ năm 2004.

Bản quyền của luận án (279 trang khổ 8.5”x11”) ghi © Julie H.D.T. Nguyen 2003.

Trên đây là sơ lược tiểu sử của tác giả cuốn “Hồ Chí Minh - Tâm và Tài của một nhà yêu nước”

Lại xin được phá ngang ở đây một chốc để thắc mắc với chính mình về cái tựa đề cuốn sách này. Ngày xưa đi học Việt sử, thầy cô dạy Nguyễn Thái Học là một người yêu nước, hai bà Trưng, bà Triệu là những người yêu nước v.v… Đọc sách báo trong cũng như ngoài nước thời nay, cái văn hoá “nhà” dường như đang phát triển đại trà! Có lẽ “a patriot” là người yêu nước còn “a great patriot” là nhà yêu nước. Thế còn “Super Patriot” như của Erik Larsen chẳng lẽ là “lầu yêu nước”?

Xin quay về với tác gỉa Julie Nguyễn hay Nguyễn Đài Trang. Sau khi học xong Tiến sĩ tác giả làm gì? Thật ra Julie Nguyễn đã đi làm tại Đại học Toronto từ năm 2001 trong Chương trình Nghiên cứu Châu Á-Thái Bình Dương tại đây. Từ 2004 đến 2006, tác giả tiếp tục nghiên cứu Sau Tiến sĩ (post-doctoral research) tại Munk Centre for International Studies thuộc ĐH Toronto.

Dựa trên những thông tin của chính tác giả công bố thì công việc chính hiện nay của tác giả là đi buôn hay nói chữ là kinh doanh.

Thứ nhất, bà Julie Nguyễn là 1 trong 2 thành viên Hội đồng Quản trị của “Hội Doanh Nghiệp Việt Nam-Canada” (Vietnam-Canada Chamber Of Commerce). Thứ hai Nguyễn Hoàng Đài Trang còn là Giám đốc của cơ sở có tên “Canada Education Support” (CES,Trung Tâm Hỗ Trợ Du Học Canada). Cả hai cơ sở này có cùng địa chỉ 1351 Dufferin Street, Toronto, Ontario M6H 4C7 Canada.

Tuy nhiên trên trang nhà của công ty “Canada Education Support” truy cập ngày 1 tháng 9, 2010, về bà Giám đốc, có ghi, Julie Nguyen, B.Comm., M.A., Ph.D., Director

…She is currently teaching in the Department of Humanities at the University of Toronto Scarborough and also in the School of Business at Centennial College…”


Tương tự, báo Quân đội Nhân dân (tiếng Anh) ngày Thứ Ba 31 tháng Tám, trong bài “An overseas Vietnamese’s insight into Uncle Ho’s humanism” (Nhận thức của một Việt kiều về tinh thần Nhân Bản của Bác Hồ) cũng ghi, “Dai Trang is now a lecturer at the Humanity Faculty under the University of Toronto. She also gives lectures on Business Management at the College of Centennial.”

Và trang báo mạng VOV News ngày 20/05/2010, trong bài “Canadian OV writes book about Uncle Ho” (Việt kiều Canada viết sách về Bác Hồ) ghi, “Dr. Trang graduated with a Masters and then a Doctorate from the University of British Columbia, she now gives lectures on political science with a particular focus on Asia-Pacific science at Toronto University.”

Đi tìm tác giả ở Đại học Toronto, người viết chỉ có được thông tin như sau về ban giảng huấn của Khoa Nhân Văn ĐH Toronto:

Ban Nhân Văn ĐH Toronto không có tên Julie Nguyen
Nguồn: UoT
Thông tin này không giống như những hàng quảng cáo trên trang mạng của công ty “Canada Education Support” của bà Giám đốc Julie Nguyễn và báo đài của Đảng CSVN.

Nguyễn Hoàng Đài Trang và sách vinh danh HCM (Kết)

20 Nam Mien Nam
Trà Mi


Tiếp theo phần I, Chào mừng ngày ông Hồ chết


Theo thông tin từ báo đài của Đảng CSVN và bài quảng cáo trên trang nhà của công ty “Trung Tâm Hỗ Trợ Du Học Canada” của Giám đốc Julie Nguyễn, người viết không tìm được tác giả Nguyễn Đài Trang ở cả khoa Khoa học Chính trị và ban Nhân Văn tại ĐH Toronto.

Không thấy ở đại học nổi danh thì tiếp tục tìm tác giả ở Đại học Cộng đồng. Cũng theo những thông tin truy cập được, người viết tìm đến Centennial College. Đây là một Đại học Cộng đồng (trường Cao đẳng, sau bậc trung học) mới thành lập từ năm 1966, hiện có khoảng 30 học trình – học kỳ từ hai 6 tháng đến 3 năm.


Trường Kinh doanh, Centennial College, Toronto
Nguồn: Centennial College
Một điểm ngoại lệ, trường Kinh doanh (School of Business) của Centennial College không phổ biến danh mục ban giảng huấn. Liên lạc với nhân viên trực của trường, có được điện thoại để tiếp xúc thẳng, người viết không may chỉ vào đến hộp nhắn tin đã quá tải của giáo sư Julie Nguyen và được biết bà chỉ có mặt tại trường trong tương lai gần.

Tìm hiểu thêm, người viết tình cờ gặp giáo sư Đài Trang trên một trang web rất phổ cập.

“RateMyProfessors.com” (Đánh giá giáo sư của tôi). Trang web này mới hoạt động từ 1999, đến nay đã có khoảng 11 triệu thẩm định của sinh viên với khoảng 1 triệu giáo sư của 6000 đại học các cấp ở Mỹ, Canada, England, Scotland và Wales.

Sinh viên khắp nơi tham khảo trang “RateMyProfessors.com” để chuẩn bị xếp đặt thời khoá biểu, chọn lựa khoá học và giáo sư phụ trách. Chính yếu, sinh viên mới sẽ biết được nhận định về từng giáo sư từ những sinh viên đã học trước để quyết định chọn theo khoá đó hay không. Sinh hoạt tự do tư duy này đã áp dụng từ lâu tại những đại học tại Bắc Mỹ dù chỉ công bố kết quả đánh giá ở phạm vi của riêng ở mỗi đại học, hay tại phân khoa.

Dưới đây là bảng đánh giá hồi tháng 5, 2010 của một sinh viên Centennial College về giáo sư Nguyễn Hoàng Đài Trang dạy môn kế toán (accounting).


Bảng đánh giá Giáo sư Đài Trang
Nguồn: http://ratemyprofessors.com
Giáo sư Trang được cho điểm 1/5 với lời phê, “Bà ấy là một thầy giáo kế toán rất tệ, … Bà còn dậy những môn không phải kế toán, và bà khá hơn ở những môn này. Đừng chọn khoá kế toán do bà này phụ trách.”

Tuy nhiên, đây chỉ là 1 đánh giá của một sinh viên.

Một ghi chú nhỏ, đọc qua trang quảng cáo dịch vụ của công ty “Canada Education Support” của Julie Nguyen, người thấy ngay đây là một người sanh sỏi trong việc kinh doanh với người trong nước. Ngoài những bảng hiệu đầy vai trò trong giới hàn lâm nửa thật nửa giả, tác giả còn phô trương hình ảnh chụp chung với chính giới Canada từ tỉnh bang đến liên bang, từ dân biểu đến Bộ trưởng, v.v…

Tóm lại, Julie Nguyễn Đài Trang có học vị Tiến sĩ, là giáo sư trường Kinh doanh của một Đại học cộng đồng, là người làm kinh doanh và bây giờ là tác giả sách ngoài phạm vi chuyên môn và sở học. Là một chuyên viên chú trọng đến việc nâng cao đời sống bình đẳng của phụ nữ nói chung (như việc đồng ký tên cổ suý chính sách chăm lo cho phụ nữ và trẻ em trong chiến dịch chống AIDS/HIV của The World Alliance for Breastfeeding Action (WABA) tại hội nghị vào tháng Năm 2006 tại Toronto) hay của phụ nữ Việt Nam như trong luận án tiến sĩ, động cơ nào thúc đẩy bà trở thành tác giả hai cuốn sách vinh danh Hồ Chí Minh, một nhân vật lịch sử đã và vẫn đang gây nhiều tranh cãi trong cộng đồng người Việt trong và ngoài nước?

Những bài báo, bản tin của Đảng CSVN phần nào trả lời câu hỏi trên đây. Theo trang của đài VOV News (30/08/2010) thì cuốn sách “Hồ Chí Minh - Tâm và tài của một nhà yêu nước” là kết quả “dày công nghiên cứu suốt 15 năm” của tác giả Đài Trang.

Như thế có nghĩa là tác giả khởi sự thâm cứu về Hồ Chí Minh từ năm 25 tuổi, sau 5 năm định cư và vừa học xong Cử nhân Thương mại ở Montréal cho đến nay. Tuy nhiên, mới hơn 3 tháng trước, trong bài “Việt kiều Canada viết sách về Bác Hồ” cũng đăng tải trên trang VOV News, để trong ngoặc kép, VOV News ghi “It took me almost ten years to write this book. My first draft was in English…” Trong vòng 3 tháng từ kỷ niệm lần thứ 120 ngày sinh ông Hồ đến ngày ông Hồ sắp “Chuyển sang từ trần” thì công trình nghiên cứu của tác giả bỗng dưng tăng thêm 5 năm. Đến đây thì buộc lòng người viết ngờ rằng ông bà nhà báo viết tiếng Anh ở những tờ báo Đảng có lẽ học cùng trường với nhà kẻ băng rôn “Hanoi Well Come” trước đây.


Chụp hình với Bob Rae, cựu Thủ tướng tỉnh bang Ontario, nay là dân biểu Liên Bang và một du học sinh
Nguồn: CES
Theo báo Quân đội Nhân dân trên mạng trong bài “Nhận thức của một Việt kiều về tinh thần Nhân Bản của Bác Hồ” đăng ngày 31/08/2010 tác giả cho hay dù đã có nhiều sách viết về Hồ Chí Minh và về Chiến tranh Việt Nam ở thế kỷ thứ 20 ở phương Tây nhưng đa số những cuốn sách đó, do tác giả nước ngoài viết, đã hoàn toàn thiếu vắng nhận thức về tinh thần nhân bản của Hồ Chí Minh. Vì thế bà thấy cần phải viết cuốn sách vinh danh Hồ Chí Minh này.

Khi viết cuốn “Hồ Chí Minh - Tâm và tài của một nhà yêu nước”, tác giả đã tham khảo những quan điểm và khái niệm về Hồ Chí Minh của các học giả trong nước và ngoại quốc.

Học giả trong ước là những ai đã được tác giả tham khảo? Trong bài “Giáo sư Việt tại Canada viết sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh” , đăng ngày 17-06-2010 tại trang biethet.com, cho biết tác giả Đài Trang đã dùng tài liệu của ông Đăng Xuân Kỳ, Nguyễn Đức Đạt, Trân Dật Tiên…

Nguyễn Đức Đạt là ai? Học giả chuyên đề gì? Hỏi mãi, Gú gồ mới nói đó là tác giả cuốn “Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh”, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành năm 2007. Đọc qua bài “Tiên đoán biện chứng Hồ Chí Minh và những ‘dấu ấn đầu tiên’ của Người” thấy ông Nguyễn Đức Đạt liệt Thư chúc mừng năm mới - Xuân Kỷ Dậu (năm 1969) của Hồ Chí Minh vào một trong 10 ‘dấu ấn đầu tiên’ để lý luận và chứng minh HCM là thánh, biết trước sự việc sẽ xảy ra. Lúc đó, 1969, HCM viết, “Vì độc lập, vì tự do / Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.” Và sự việc xảy ra y như thế, 1973 (Mỹ cút) và đến năm 1975 (thì Nguỵ nhào)!

Theo lý luận trên đây và lời tự giới thiệu (…trong quá trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh… - NĐĐ) Nguyễn Đức Đạt quả đúng là một nhà nghiên cứu cỡ lớn về tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thế còn Đặng Xuân Kỳ? Đây là con cả của Trường Chinh Đặng Xuân Khu. Kỳ nguyên là Ủy viên T.Ư. Đảng khóa VI và VII, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận T.Ư. Tóm lại, đây là một đảng viên Cộng sản nặng cân. Vì chưa được đọc sách của Đài Trang nên người viết tự hỏi, trong phần tham khảo và trích lục tác giả có tìm thêm tư liệu quý báu nào thêm về những vụ thảm sát dân miền Bắc trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất mà Hồ Chí Minh đã đổ lỗi cả vào đầu Bố của Đặng Xuân Kỳ.

Trần Dật Tiên? Có lẽ chỉ là lỗi typo chứ Việt Nam cận đại làm gì có học giả nào tên Trần Dật Tiên. Nếu thật sự thế thì đúng là chuyện ly kỳ vì ở thế kỷ thứ 21, một người làm việc khoa học như tác giả Julie Nguyễn, lại tham khảo ông Trần Dân Tiên để viết sách vinh danh Bác Hồ của mình!

Về mặt học giả ngoại quốc tác giả Đài Trang đã chọ tham khảo các ông Walden Bello, một tác giả người Philippines, người vận động xã hội và đáng kể hơn cả là người khuyến khích những người chống thực dân cần đọc lại tư tưởng Hồ Chí Minh. Kế đến là Alice Walker, tác giả của cuốn “The Color Purple” một người Mỹ viết rất nhiều về bình đẳng sắc tộc và giới tính. Một tác giả ngưỡi Mỹ khác mà tác giả Đài Trang tham khảo là McNamara, cựu Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ thời TT Kennedy và TT Johnson.

Tác giả Đài Trang còn cho tờ QĐND biết bà viết quyển sách bằng Anh ngữ (“Ho Chi Minh – The soul and talent of a great patriot”) bằng những lý lẽ bình thường dựa trên kinh nghiệm và kiến thức học hỏi ở phương Tây. Một cách khác tác giả Đài Trang viết cuốn sách vinh danh Hồ Chí Minh bằng tiếng Anh bằng lý trí. Trong khi đó, khi viết cuốn “Hồ Chí Minh - Tâm và tài của một nhà yêu nước” thì tác giả viết bằng cả con tim, bằng lòng yêu nước nồng nàn, bằng khát vọng cháy bỏng muốn tìm hiểu cội nguồn và bằng tiếng kêu gọi đoàn kết vì sự nghiệp phát triển và sức mạnh của xứ sở.

Đó là những động cơ thúc đẩy tác giả viết sách vinh danh Hồ Chí Minh bằng tiếng Anh trước và sau đó mới viết bằng tiếng Việt. Xin được mở một dấu ngoặc ở đoạn này. Trong phần tiểu sử tác giả truy cập được, báo đài của Đảng nói bà sang sống ở Montreal vào năm 1990. Julie Nguyễn Hoàng Đài Trang nhập cảnh Canada ở dạng nào? Thời đó không còn người vượt biển, vượt biên đến Canada tìm tự do. Tác giả sang Canada theo dạng đoàn tụ gia đình? Gia đình của tác giả cớ gì lại đang là dân ở cố đô bỗng dưng “chuyển sang” thành dân di cư sống ở Montreal? Viết đến đây người viết lại hình dung ra ông Vũ Ngọc Nhạ trong tấm ảnh chụp hồi “di cư” từ Bắc vào Nam tìm tự do.

Rất sơ sài, thông tin và báo đài của Đảng cho biết về nội dung quyển sách (150 trang, bản tiếng Anh, gần 200 trang tiếng Việt) có nhiều hình ảnh, tư liệu hiếm quý về ông Hồ. Cuốn sách chia làm 5 chương: Những cách để hiểu Hồ Chí Minh, Chiến lược Tuyên truyền; Hồ Chí Minh – thời thơ ấu, Hồ Chí Minh và sự bình đẳng, sau cùng là Tầm quan trọng của Tư tưởng Hồ Chí Minh.


Ảnh quý: Hồ Chí Minh giơ ngón giữa
Nguồn: OntheNet
Để kết thúc và cũng là một lời tự hỏi, một người con của kinh thành Huế, dù sinh sau đẻ muộn, lại chọn đúng ngày giờ để xuất bản sách vinh danh ông Hồ là một điểm cần suy nghĩ. Lại nữa, tác giả tên Nguyễn Hoàng Đài Trang. Chỉ là một sự tình cờ hay có thể nào bà là con của ông Nguyễn Đắc Xuân và cháu của các ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan không? Đây chỉ là một câu hỏi rất … tình cờ thôi.

Người địa phương có câu “đi như vịt, kêu như vịt, nhìn giống vịt, ắt phải là con vịt.”



© DCVOnline

Thursday, September 2, 2010

Lá thư gởi các chiến hữu đã nằm xuống, nhân ngày tưởng niệm Đông Tiến (có âm thanh)

Tuệ Vân
tamthucviet.com
September 2, 2010
Nghe
Tải xuống để lưu giữ




Các chiến hữu kính mến,

Ngày giỗ của các anh năm nay, như mọi năm, các anh chị em đồng chí hướng có một buổi quây quần tụ họp, tưởng nhớ về các anh, những người anh hùng dân tộc đã nằm xuống cho tổ quốc. Buổi lễ đơn giản, chỉ có tình người và những nén hương lòng thành kính, thắp lên trên toàn thế giới.

Các chiến hữu kính mến,

Đã hai mươi ba năm trôi qua, kể từ ngày các anh vĩnh viễn đi vào lòng đất mẹ nhưng tình cảm của các anh chị em dành cho các anh vẫn còn đó, thiết tha, kính trọng, và yêu mến. Không một ai có thể lấy đi tình cảm thiêng liêng giữa những con người cùng chung lý tưởng, tâm ý tương thông, chung một lời thề giải phóng dân tộc khỏi độc tài bạo nghịch, khỏi lạc hậu dốt nát, khỏi nô lệ vong thân. Không ai có thể phủ nhận được sự hy sinh cao cả của các anh. Đường Đông tiến không thông, nhưng đường đấu tranh lấy sức mình làm chính đã rộng mở để ngày nay có trận thế đa dạng đa diện ở hải ngoại, khiến VC biến thái với phương tiện dồi dào và mánh khoé không thiếu, đã phải thúc thủ không thể lấn chiếm được hải ngoại. Chính vì thế mà những kẻ mặc cảm, đố kỵ, vì đã đứng ngoài cuộc đấu tranh từ khi miền Nam sụp đổ nên không có chỗ đứng nào trong trận thế này, cùng với bọn VC và tay sai, đã phải tiếp tục phun nọc độc bôi xấu, dầu các anh đã vắng mặt hơn hai thập niên.

Giặc bội nghĩa phi nhân, anh quyết tử
Diệt cộng thù thề “Giải Phóng - Việt Nam”
Độc Lập - Tự Do – No Ấm – Thanh Bình
Của dân Việt phải trở về trên đất Việt

Hoài bão ấy luyện Anh thành gang thép
Càng khó khăn càng gắng sức xuyên qua
Dù đường dài dù gió táp mưa sa
Dù phải chết, Anh không hề lui bước
(Trích từ bài thơ Anh Hùng Đông Tiến của KCQ Hà Dân)

Các chiến hữu kính mến,

Nhắc tới các anh mà sao lòng rung động lạ thường như tình cảm mới ngày qua. Các anh đã nằm xuống, hiên ngang, hào hùng như lời khẳng định khi ra đi: Giải phóng đất nước hay Hy sinh vì tổ quốc. Lời tưởng còn ấm môi mà người đã thành thiên cổ. Đau đớn siết bao, lệ trào dâng trong niềm tưởng nhớ. Các anh đi bỏ lại sau lưng những lợi danh, tuổi trẻ, sức sống và hạnh phúc gia đình. Chỉ có những trái tim hực lửa tình dân tộc mới có thể có những quyết định quật cường, dứt khoát, hy sinh thân mình cho đại cuộc. Các anh nằm xuống là một sự mất mát to lớn cho công cuộc đấu tranh của dân tộc. Vận nước ta vẫn còn lao đao vất vả, nên những kẻ biến tâm thời cơ, đã bước trên những sự hy sinh của các anh mà toa rập thỏa hiệp cùng ngoại bang và kẻ thù để buôn dân bán nước, hầu mong mũ áo xênh sang. Nhưng những ý đồ đen tối của bọn họ sẽ không bao giờ thành tựu, bởi vì các anh đã khơi thức dậy tinh thần độc lập dân tộc, tự mình giải quyết lấy vấn để của mình. Các anh nằm xuống nhưng tinh thần của các anh vẫn còn đây, bên cạnh các anh chị em mình trong cuộc đấu tranh đang tiếp diễn và vẫn còn gay go. Nhưng con đường gian khó không làm nhụt chí những người mà tâm nguyện chỉ là muốn góp một bàn tay với dân tộc, xoá sạch tà quyền ác đảng cho đất nước.

Các chiến hữu kính mến,
Nói sao cho hết những chất chứa trong tim. Ngày giỗ các anh, nén hương lòng xin khấn nguyện: Các anh hãy ngủ yên, các anh chị em mình còn đây, trung thành với lời thề đấu tranh, sẽ tiếp nối con đường các anh đi dở. Xin các anh phù hộ cho các anh chị em mình nhiều sức khỏe, đủ nghị lực để vượt qua mọi chông gai thử thách của cuộc đời. Phù hộ cho dân tộc Việt Nam mình sớm có một ngày dân chủ, tự do, và hạnh phúc sẽ trở lại trên quê hương, các anh nhé.

Kính thư,
Tuệ Vân