Translate

Thursday, September 9, 2010

Văn Học Kiểu Hà Nội

TRẦN KHẢI . Việt Báo Thứ Ba, 9/7/2010, 12:00:00 AM

Văn Học Kiểu Hà Nội

Trần Khải
Khi ngòi bút được cầm lên và những cảm xúc được ghi xuống giấy, người ta gọi đó là văn học, bất kể đó có là những cảm xúc còn thơ dại của một em bé bậc tiểu học hay là những trầm tư thâm sâu của một học giả. Khi ngòi bút được cầm lên và những sự kiện lịch sử được ghi xuống giấy được tin là trung thực để cho đời sau đọc, người ta gọi đó là sử liệu, bất kể đó có là những cái nhìn từ những hướng khác nhau, từ cộng sản miền bắc hay từ quốc gia miền nam.
Khi ngòi bút được cầm lên, và ký hàng chục hay hàng trăm bút hiệu, viết xuống những lời tự ca ngợi mình, người ta gọi đó là nền văn học định hướng xã hội chủ nghĩa, mà người tiên phong là ông Hồ Chí Minh, người nổi tiếng với nhiều bút hiệu không ai có thể nhớ hết, trong đó nổi bật là hai bút hiệu Trần Dân Tiên và T. Lan sử dụng cho hai cuốn sách ông Hồ tự ca ngợi mình.
Nền văn học này chỉ độc đaó tại VN, nơi đang liên tục phát động chiến dịch “học theo gương bác Hồ vĩ đại.” Tất cả những hướng đi văn học khác tại VN, hoặc là trở thành ngoaì luồng, hoặc bị ngăn cấm, hoặc là bị xóa sổ.
Do vậy, định hướng văn học là một nhu cầu chính phủ CSVN đòi hỏi. Không định hướng đúng, văn học sẽ bị “lệch chuẩn,” nói theo lời các quan chức.
Trên báo SGGP ngày 20-8-2010, có bản tin nhan đề “Văn học nghệ thuật và giới trẻ: Cảnh báo lối rẽ thiếu định hướng” có nêu lời giáo sư Ca Lê Thuần, nói về điều gọi là “Hoạt động phát triển văn học nghệ thuật (VHNT) tại TPHCM rất năng động, sôi nổi với nhiều sáng tạo mới mẻ, đa dạng. Tuy nhiên, VHNT đang thiếu một bộ lọc để chọn lựa và tiếp nhận những khuynh hướng tốt. Chính điều này đã ảnh hưởng đến giới trẻ, làm công chúng trẻ tiếp nhận VHNT bằng cảm tính bản năng, thiếu định hướng thẩm mỹ đúng đắn.”
Thiếu một bộ lọc? Có thật là thiếu bộ lọc? Hay có phải nhà nước CSVN cố ý dựng tường lửa để lọc riêng theo nhu cầu?
Bài báo nhà nước yêu cầu phải góp phần định hướng kỹ hơn, ngắn gọn là phải xiết bàn tay định hướng kỹ hơn. Bài báo có đoạn kết:
“...Như thế, để VHNT phát triển đúng hướng, nâng cao xu hướng thẩm mỹ của công chúng trẻ thì cần có sự quan tâm nhiều hơn từ các ban ngành chức năng, các nhà lý luận phê bình và các cơ quan thông tin đại chúng. Qua đó, sẽ chỉ rõ cái nào tốt cần khuyến khích, cái nào chưa tốt hoặc xấu cần hạn chế hoặc xóa bỏ… như thế là góp phần định hướng cho đời sống VHNT TPHCM phát triển đúng và đầy đủ hơn.”
Đó là nói nhu cầu định hướng, nhưng theo động lực nào?
Trên báo SGGP hôm chủ nhật 5-9-2010, bài viết nhan đề “Một động lực của văn học nghệ thuật” ký tên tác giả Tân Văn đã viết, trích:
“...tính phục vụ của VH-NT chính là một giá trị cao nhất của VH-NT. Không phục vụ cho sự tiến bộ, cho đời sống tốt đẹp hơn, VH-NT không có lý do tồn tại...
...Các hoạt động VH-NT ở nước ta hiện nay rất cần có lý luận, phê bình soi rọi, giải mã. Về công việc của lý luận, phê bình chắc hẳn ai cũng biết! Có lẽ chỉ cần nói thêm, trong thế giới kỹ thuật số, nối mạng toàn cầu và xu hướng hội nhập như hiện nay, phê bình VH-NT cần có tư duy mới. Lý luận, phê bình không thể chung chung mơ hồ, duy ý chí hoặc duy tâm chủ quan, mà phải có hàm lượng tri thức cao, rõ ràng, cụ thể. Lý luận, phê bình VH-NT là một bộ phận không thể thiếu được trong hoạt động VH-NT. Do vậy, lý luận, phê bình phải có sức thuyết phục cao...” (hết trích)
Theo bài viết, như thế, văn học nghệ thuật... cần phê bình soi rọi, giảỉ mã... hàm lượng tri thức cao... có sức thuyết phục cao... Có thật như thế không? Nền văn học định hướng xã hội chủ nghĩa đang hiển lộ những đặc tính nào?
Có phải sợ lệch chuẩn, nên phải bẻ quẹo chuẩn? Có phải sợ các động lực văn học trung thực, nên phải biến tất cả động lực thành độc lực? Có phải soi rọi và giảỉ mã phải biến thành soi mói để xóa sổ tất cả những nền văn học không thuộc về Miền Bắc xã hội chủ nghĩa? Và có phải “phê bình phải có sức thuyết phục cao” là phảỉ tẩy não tất cả người đời sau bằng cái nhìn kiểu văn học “tự sướng” của Trần Dân Tiên và T. Lan?
Trên trang web Talawas.org hôm chủ nhật 5-9-2010, tác giả Nguyễn Vy Khanh với bài viết nhan đề “Văn học Miền Nam qua một bộ "văn học sử" của trong nước đã cho thấy mặt thật của nền phê bình văn học quốc nội.
Bài của Nguyễn Vy Khanh có trích đoạn sau:
“Miền Nam đây là Việt Nam Cộng hòa và nền văn học của những năm 1954-1975. Văn hóa và nền văn học của miền Nam sau những cuộc thanh lọc, bắt bớ và cấm đoán, vẫn tiếp tục bị những bất thường và quái gở của một thế giới văn hoá, biên tập cố tình làm cho sai lạc. Ai cũng biết sau ngày cưỡng chiếm miền Nam 30-4-1975, văn học và văn hóa Việt Nam Cộng hòa đã bị cấm đoán, phủ nhận như thế nào qua nhiều đợt tấn công, dàn cảnh. Nay, đã 35 năm sau, chiến thuật đó vẫn còn ở một nước Việt Nam hô hào cái gọi là 'cởi mở', 'kinh tế thị trường'. Mới đây, chúng tôi được đọc bộ Văn học Việt Nam nơi miền đất mới trên 4 ngàn trang gồm 4 tập của soạn giả Nguyễn Q. Thắng (NXB Văn Học, Hà Nội). Miền Đất Mới ở đây được soạn giả bao gồm miền Nam Lục tỉnh và miền Nam Cộng hòa; và trong các tập 3 và 4 chủ yếu vẫn là những cây viết của Đảng Cộng sản Việt Nam gồm nằm vùng, ly khai, tập kết, gởi vô Nam hoặc những cây viết từng có mặt thời Việt Nam Cộng hòa nhưng sau này sinh hoạt với các hội và báo chí của Cộng sản Việt Nam. Đặc biệt Nguyễn Q. Thắng đã xen vào đó những nhà văn của miền Nam 1954-1975, nhưng vì ông có thể nói hãy còn tuân theo một “chính sách” hay “chỉ thị” nào đó, do đó chưa thể là một bộ văn học sử đúng nghĩa – nghĩa là ghi nhận, tổng kết và phê phán các tác giả và tác phẩm như đã xuất hiện và sinh hoạt một thời.
Những phê phán, nhận xét có thể có những chủ đích chính trị:
1. Cố tình nêu sai danh tính các nhà văn Việt Nam Cộng hòa: Ngoại trừ trong một số trích (nguyên) văn, toàn bộ sách của Nguyễn Q. Thắng không nêu đích danh các nhà văn qua các bút hiệu đã dùng, đã quen với người đọc và đã đi vào văn học sử như Mai Thảo, Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu, Võ Phiến, mà lại dùng tên thật (tên khai sanh) của họ để làm tiêu đề cũng như đánh giá. Mai Thảo trở thành Nguyễn Đăng Sinh (tập 3, tr. 1233, trong khi tên thực thật của Mai Thảo là Nguyễn Đăng Quý) với chú thích rằng phần này được làm để thông tin về sinh hoạt báo chí và thơ tự do. Nhã Ca lúc được gọi là Thu Vân, lúc lại là Trần Thị Thu Vân. Võ Phiến thành Đoàn Thế Nhơn, Trùng Dương có lúc là Trùng Dương Nguyễn Thị Thái, v.v…
Nhà văn học sử khi viết về các tác giả văn học đều phải ghi bút hiệu là chính, chỉ ở những phần tiểu sử mới nhắc đến tên thật, hoặc giả tác giả đó dùng tên thật để sinh hoạt văn học nghệ thuật thì mới ghi tên thật: Giáo sư Nguyễn Văn Trung có các bút hiệu Hoàng Thái Linh, Phan Mai, nhưng các bút hiệu này chỉ được sử dụng hạn chế và khi xuất bản tác phẩm, tên thật của ông được ghi thì nhà viết văn học đương nhiên phải dùng tên thật của ông. Nguyên Sa ngược lại là một nhà thơ khi ký Nguyên Sa, và khi viết sách giáo khoa triết học (Descartes nhìn từ phương Đông, Luận lý học, Luận Triết học, v.v…) thì ký Trần Bích Lan (riêng cuốn Một bông hồng cho văn nghệ ký Trần Bích Lan khi nhà Trình Bày xuất bản năm 1967; khi ra hải ngoại NXB Đời của ông tái bản thì ký Nguyên Sa); do đó khi viết về nhà thơ Nguyên Sa, người ta có thể nói đến những sách giáo khoa mà ông là tác giả, dĩ nhiên là không thể ngược lại, viết về ”nhà thơ Trần Bích Lan” vì không hề có nhà thơ Trần Bích Lan dù Nguyên Sa và Trần Bích Lan là một người.
- Lê Vĩnh Hòa được ghi trong tiểu sử là “em ruột văn sĩ Đoàn Thế Nhơn...” (tập 4, tr. 270 – từ đây các chú thích đều trích từ tập 4) - thay vì Võ Phiến!
- Về hai nhà văn Y Uyên và Doãn Dân, ông Nguyễn Q. Thắng chỉ ghi năm mất của Doãn Dân; còn Y Uyên thì “mất năm 1969 đang độ tài hoa nẩy nở”(tr. 827) nhưng không ghi rõ chết vì đạn pháo của ai (Việt Cộng!) trong khi các tay văn nghệ nằm vùng ở miền Nam vô bưng chết thì được ghi lý do chết: Lê Vĩnh Hòa thì “hi sinh trong một trận chống càn tại Long Mĩ, Xẻo Giá...” (tr. 270); Trần Triệu Luật thì “hi sinh trên đường công tác ở Tây Ninh (cùng nơi cùng ngày với) Trần Quang Long”. Trần Triệu Luật được đề cao trong một mục từ riêng (51- TTL, nhà văn chiến sĩ) cũng như Trần Quang Long (42- TQL với thi đề 'nghiêng nón'”!
- Về Luân Hoán thì một chi tiết trong tiểu sử nếu không được nhắc đến vẫn còn hơn là ghi như Nguyễn Q. Thắng: “Những năm 60 ông (LH) bị động viên vào quân trường Thủ Đức một thời gian rồi trở về đời sống dân sự” vì phải thêm rằng sau Thủ Đức, nhà thơ Luân Hoán ra chiến trường và bị đạn pháo “quân thù” làm mất một chân! (...)
...3. Những đánh giá và xếp loại vô nghĩa, lỗi thời:
Đây là trường hợp các nhà văn nữ miền Nam thời ấy Túy Hồng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, kể cả Nhã Ca, đều bị Nguyễn Q. Thắng gán cho nhãn hiệu 'vô sỉ'. Theo ông, các vị này mà ông gộp chung là “những người cùng nhóm là một thứ 'vô sỉ' (cynique) trong văn chương. Nghĩa là họ đem những cái không đáng phô trương ra quảng diễn không chút e dè (Nguyễn Thị Thụy Vũ tr.455, Trùng Dương tr.872, Nguyễn Thị Hoàng tr.629,…)”. Nguyễn Q. Thắng thêm rằng Nguyễn Thị Thụy Vũ làm công việc này “khá nhiệt tình trên từng trang văn”, còn tác phẩm nhà văn Trùng Dương “đều được dựng nên bởi nhân sinh quan và thế giới quan một cách “hiện sinh”, buông xả và gần như vô sỉ” (tr. 872, 873). Nặng nề nhất là với nhà văn Túy Hồng mà Nguyễn Q. Thắng cho rằng cùng với các nhà văn nữ kia “từng gây nên hiện tượng văn học có tính nhục cảm dồn nén thể xác của các cô gái lỡ thì... (một cách) tiêu biểu nhất” (tr. 538). Đây là thứ ngôn ngữ của Vũ Hạnh và Tin Văn (do Nguyễn Ngọc Lương, Trần Bạch Đằng chi phối, điều khiển)!
Nhà văn Nhã Ca có lẽ bị nặng nề nhất trong bộ gọi là văn học sử này. Với mục đề “35-Thu Vân, nhà văn dùng tính dục để giải quyết vấn đề” mấy ai nghĩ là Nguyễn Q. Thắng nói về nhà văn Nhã Ca? Ở trang 639, “Thu Vân” biến thành “Trần Thị Thu Vân”, và khi viết về thơ Nhã Ca, không, về nhà thơ Thu Vân chớ, thì ông Nguyễn Q. Thắng viết như sau: “Bà còn là một thi sĩ với những thi đề có giá trị nghệ thuật của mĩ tính thi ca hiện đại có thể nói thơ bà Thu Vân vượt trên văn bà Thu Vân”. Sau đó ông trích bài thơ nổi tiếng của bà nhưng lại cắt mất một phần tựa đề chỉ vì trùng với bút hiệu thật của bà (Nhã Ca!): “Bài… Ca thứ nhất”!
Nhà văn Nhật Tiến khi viết về các nhà văn nữ này đã nhẹ nhàng nhận xét rằng “...những tác phẩm viết táo bạo của giới cầm bút phụ nữ, gây cho độc giả một ấn tượng mới mẻ về những ý tưởng muốn thoát ly cái vỏ phụ nữ Á-đông thuần túy...” (Bách Khoa, 1967). Gần đây, nhà thơ Du Tử Lê thì khẳng định rằng “Nhã Ca, nhà văn nữ nói “không” với dục tính” trong bài viết cùng tựa đề trên tờ Người Việt (CA) số 6-4-2010...”(hết trích)
Chúng ta suy nghĩ như thế nào về những người cầm bút phê bình văn học như Nguyễn Quốc Thắng, người viết 4.000 trang chỉ để bóp méo động lực, bẻ quẹo định hướng, bôi đen văn học Miền Nam?
Khi một em bé ở bậc tiểu học hay trung học tập làm những câu lục bát đơn sơ trong đời em, đó là những dòng thơ tinh tuyền và trong sáng.
Khi ông Hồ cầm bút và hoàn tất tác phẩm tự ca ngợi mình với chữ ký tên là Trần Dân Tiên, người ta còn gọi đó là “nền văn học tự sướng,” và sẽ sinh nở ra những nhà phê bình kiểu Nguyễn Quốc Thắng, những người không thể nhìn cuộc đời xa hơn đầu gối ông Hồ.
Bài viết của tác giả Nguyễn Vy Khanh trên Talawas.org cũng thu hút nhiều bình luận từ nhiều nhà văn khác. Và hiển nhiên đây là một đề tài lý thú cho mùa Quốc Khánh CSVN năm nay.
Điều quan tâm bây giờ là, bao giờ nền văn học hồn nhiên thơ trẻ và trung thực được phép trả về cho đồng bào tôi.

TRẦN KHẢI

Wednesday, September 8, 2010

Đâu phải là vùng duyên hải của Trung Quốc đâu mà la làng

Southeast Asia Sea

Ralph CossaNguyên Hân lược dịch


Đâu phải là vùng duyên hải của Trung Quốc mà la làng


Nhờ ai đó rảnh vui lòng cho người phát ngôn viên của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (QDGPNDTQ) một tấm bản đồ. Mấy tháng vừa qua, kể từ lúc còn là tin đồn, rồi phủ nhận, và rồi xác nhận việc hàng không mẫu hạm George Washington có thể sẽ tham dự cuộc thao diễn nhằm “biểu dương sức mạnh” của hải quân ở vùng duyên hải phía tây của Nam Hàn, người của QDGPND cho đến nay vẫn tuyên bố họ “kiên quyết chống máy bay và tàu chiến nước ngoài tiến hành hoạt động trong vùng biển Hoàng Hải (Yellow Sea) và vùng duyên hải của Trung Quốc mà điều này có thể phương hại đến lợi ích an ninh của Trung Quốc.

Vùng duyên hải Trung Quốc? Trong lúc khu vực hoạt động của chiếc George Washington chưa được lên kế hoạch, thì người ta giả định là chiếc hàng không mẫu hạm này sẽ hoạt động ngay trong hay gần lãnh hải của Nam Hàn, đâu đó gần chỗ chiếc chiến hạm Cheonan của Hải quân Nam Hàn bị đánh chìm bởi thủy lôi của Bắc Hàn. Chỗ này cách bờ biển gần nhất của Trung Hoa 195 cây số ở bán đảo Shandong và cách 280 cây số tính từ đây tới thành phố gần nhất tương đối lớn một chút, là thành phố Dalian. Làm sao điều này có thể phương hại đến nền an ninh của Trung Quốc?

Bất chấp những dự kiện địa lý như thế, người thuyết minh của QDGPND cảnh cáo cái khả năng “đụng nhau” giữa những chiến hạm của Trung Quốc và Hoa Kỳ/Nam Hàn, cùng lúc người khác lên tiếng hăm dọa “Nếu người nào đó gây tổn hại cho tôi, tôi phải gây tổn hại lại người đó.” Kể từ lúc nào mà hoạt động ở hay gần vùng duyên hải của Nam Hàn – vùng biển Hoàng Hải tiếp giáp Bắc và Nam Hàn cũng như bờ duyên hải Trung Hoa – đồng nghĩa với hăm dọa Trung Quốc hay gây tổn hại cho họ?

USS George Washington. Nguồn: US Navy
Có phải QDGPND Trung Quốc giờ đây cho rằng cảng Incheon của Nam Hàn là một phần duyên hải của họ? Liệu tàu của Hoa Kỳ (hay Nam Hàn) phải xin phép Trung Quốc để đi qua vùng hải phận quốc tế rất gần với đất liền của Đại Hàn hơn là Trung Quốc? Điều này, dĩ nhiên là lố bịch. Điều nực cười là thoạt đầu Hoa Kỳ không có kế hoạch điều chiếc hàng không mẫu hạm George Washington vào vùng biển Hoàng Hải. Thực thế, cả Hoa Thạnh Đốn lẫn Hán Thành đều hy vọng một cuộc biểu dương sức mạnh sẽ không cần thiết chút nào, đó là lý do tại sao họ hoãn kế hoạch thao diễn hải quân chung; thay vào đó, họ đưa Bắc Hàn ra Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (HĐBALHQ), một phương cách “đứng đắn” để gởi ra một thông điệp.

Không may, chính thái độ của Bắc Kinh ở HĐBALHQ – nơi mà Bắc Kinh đứng ra làm luật sư biện hộ cho Bình Nhưỡng mặc dù trước đó Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã cam kết là sẽ nghiên cứu kỹ lưỡng kết quả điều tra của quốc tế trong vụ tấn công chiến hạm Cheonan “một cách công bằng và khách quan” và “không bảo vệ ai qua chuyện xem xét này” – đã thúc đẩy chuyện thao diễn quân sự này đến chỗ cần thiết phải làm, để chống lại cái mà Bình Nhưỡng tuyên bố là “chiến thắng ngoại giao vĩ đại” của họ ở Liên Hiệp Quốc.

Ngay cả sau khi Trung Quốc có những động thái như thế ở HDBA Liên Hiệp Quốc, sự chọn lựa của Hải quân Hoa Kỳ là hạn chế sự liên quan của chiếc hàng không mẫu hạm George Washington qua lần thao diễn quân sự hỗn hợp lần đầu tiên ở vùng duyên hải phía đông của Nam Hàn, như là một phần biểu dương sức mạnh quân sự có ý nghĩa, nhắm vào Bình Nhưỡng để Bắc Hàn thấy rằng mức chịu đựng của Nam Hàn và Hoa Kỳ có giới hạn, và những hành động gây hấn, khiêu khích trong tương lai sẽ không được tha thứ.

Và rồi là tối hậu thư của Trung Quốc gởi đến và cảnh cáo Hải quân Hoa Kỳ không được vào vùng “duyên hải – mà thực ra, đó là quốc tế -- của Trung Quốc, đi kèm ngay sau đó là một loạt than phiền từ nhiều bạn bè và đồng minh (đặc biệt là Nam Hàn và Nhật Bản), họ cằn nhằn “cái điều” là Hoa Kỳ tuồng như khúm núm nhượng bộ trước sự đòi hỏi của Trung Quốc. Điều này làm cho cuộc viếng vùng biển Hoàng Hải của hàng không mẫu hạm trở nên thiết yếu, nếu Hải quân Hoa Kỳ, chưa nói đến cái nguyên tắc tôn trọng sự tự do giao thông trên mặt biển đã có lâu đời, muốn duy trì bất kỳ niềm tin và uy tín nào của mình ở Đông Á châu.

Phát ngôn viên của chính phủ Hoa Kỳ đã lập đi lập lại rằng hoạt động hải quân này là không nhằm nhắm vào Trung Quốc; cuộc thao diễn này đã, và đang nhằm gởi cho Bắc Hàn một lời cảnh cáo. Tuy nhiên, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, qua những cảnh cáo và tuyên bố thô bạo và thái quá, cũng làm bất lợi cho Trung Quốc. Vấn đề là, tại sao nên nỗi thế?

Đâu phải là vủng duyên hải của Trung Quốc đâu mà la làng la xóm? Nguồn: Straits Times
Cho những ai có khuynh hướng cho rằng Quân đội Giải phóng Nhân dân đang cố tạo hay thổi phồng một kẻ thù để lấy cớ gia tăng ngân qũy quốc phòng hay nhằm đẩy giới dân sự -- những người có thể “mềm mỏng trong vấn đề quốc phòng – vào cái thế thụ động. Có lẽ thế! Nhưng tôi cũng thấy có những ý đồ khác.

Một kết quả rõ ràng qua việc Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc lên án Hoa Kỳ là một sự gia tăng thấy rõ của cái gọi là cảm tính yêu nước và chống Hoa Kỳ. Chỉ cần đọc Nhật báo Trung Quốc (China Daily) hay Thời báo Toàn cầu (Global Times) người ta sẽ thấy sự lên án hằng ngày về việc người Hoa Kỳ sỉ nhục và vô cảm với những mối quan tâm của người Trung Hoa. Có thể nào chăng rằng sự mê mệt, quyến rũ của người Trung Hoa, đặc biệt là giới trẻ -- qua việc ông tổng thống Barack Obama và tiến trình người dân Hoa Kỳ chọn người lãnh đạo cho họ -- lại đặc biệt được xem như là sự hăm dọa cho Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và cũng là sự hăm dọa cho giới lãnh đạo dân sự mà họ đang chuẩn bị cho cuộc “bầu cử” lãnh đạo của chính họ vào năm 2012 tới?

Chúng ta đã từng chứng kiến một hiện tượng tương tự 12 năm về trước, là trong thời chính phủ Tổng thống Bill Clinton, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã gởi nhiều nhóm đến các trường đại học của Trung Quốc ngay liền sau khi NATO đánh nhầm bom vào Toà Đại sứ Trung Quốc ở Belgrade, họ khẳng định rằng cuộc đánh bom nhầm kia thực sự là một cuộc tấn công cố ý và khêu dậy cái cảm tính chống Hoa Kỳ và điều này đã đưa đến chuyện Toà Đại sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh bị ném đá và các lãnh sự quán bị tấn công. Nghe giống như chuyện đã rồi giờ tái diễn lần nữa.

Gỉa như Quân đội Giải phóng Nhân dân muốn bảo đảm cuộc thao diễn hải quân của Hoa Kỳ và Nam Hàn không nhắm vào hoặc hăm dọa đến Trung Quốc, hiện đang có cách để thảo luận vấn đề này, bao gồm cái cơ chế tham khảo gọi là Thỏa thuận An toàn Hàng hải Quân sự giữa Hoa Kỳ - Trung Quốc. Dĩ nhiên, điều đó ắt hẳn bắt buộc Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc thực sự ngồi xuống và đối thoại với quân đội Hoa Kỳ (3), là điều tuồng như ngày càng cho thấy họ miễn cưỡng không muốn làm. Biết đâu, nếu họ tiếp tục cuộc thảo luận quân sự đối với quân sự (military-to-military) mà hiện đang bị tránh né, thì Hải quân Hoa Kỳ có thể cung cấp cho họ một số bản đồ phác họa vùng duyên hải của mọi người.


© DCVOnline

Tuesday, September 7, 2010

Trung Quốc cần tên lửa chống mẫu hạm để đối phó với Mỹ

Theo RFI

Tên lửa. Ảnh minh họa
Tên lửa. Ảnh minh họa
AFP
Trọng Thành

Trên đây là nội dung xã luận của nhật báo Anh ngữ Global Times. Theo báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ, Bắc Kinh đã bắt đầu có kế hoạch sản xuất các vũ khí chống hàng không mẫu hạm.

Xã luận của nhật báo tiếng Anh của Trung Quốc, tờ Global Times số ra ngày 06/09/10 cho biết : Trung Quốc cần phải có tên lửa tầm xa và các phương tiện khác có khả năng tiêu diệt các tàu sân bay.

Tác giả bài xã luận cho rằng : một khi hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ trong khu vực Thái Bình Dương trở thành một đe dọa cho quyền lợi của Trung Quốc, thì Trung Quốc phải có vũ khí đối phó. Theo một báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ, được công bố giữa tháng 8 vừa qua, Bắc Kinh đã bắt đầu có kế hoạch sản xuất các vũ khí chống hàng không mẫu hạm.

Cũng theo Bộ Quốc phòng Mỹ, Trung Quốc tăng cường vũ khí để đề phòng một xung đột quân sự với Đài Loan, bất chấp việc hai phía đang sáp gần lại nhau trên phương diện chính trị. Bắc Kinh vẫn luôn luôn coi Đài Loan như một tỉnh nổi loạn và không loại trừ khả năng dùng sức mạnh để khẳng định chủ quyền của mình đối với hòn đảo này.

Hoa Kỳ và Hàn Quốc dự kiến tập trận chung, từ ngày 05/09/2010 đến ngày 09/09/2010, tại vùng biển Hoàng Hải, để biểu dương sức mạnh trước Bắc Triều Tiên, trong bối cảnh tình hình giữa hai miền Triều Tiên rất căng thẳng.

Trung Quốc tuyên bố nếu Mỹ đưa tàu sân bay vào tập trận tại khu vực này, thì đây sẽ là một hành động khiêu khích. Hiện tại Hoa Kỳ sẽ không đưa tàu sân bay hạt nhân vào Hoàng Hải và hoãn cuộc tập trận đến một thời điểm không xác định, vì bão đến.

Monday, September 6, 2010

Lá thư trần thế :Giang Tử- Ngọc Minh- Đan Nguyên



LIÊN HỆ VIỆT MỸ TIẾN THÊM MỘT BƯỚC VIỆT CỘNG PHẢI NHƯỜNG TRUNG CỘNG HAI BƯỚC

Theo NguoiViet Boston

LÝ ĐẠI NGUYÊN

Câu nói từ cửa miệng dân gian đã thành nguyên tắc chính trị của Cộng đảng Việt nam là: “Đi với Tầu thì mất nước. Đi với Mỹ thì mất đảng”. Thế nên chủ trương đối ngoại mới đây của Cộng sản Việt nam là “Toàn cầu hoá ngoại giao”. “Đa phương hóa quốc phòng”. “Quốc tế hoá Biển Đông”. Nhưng thực tế thì từ 1991, khi Liên xô sụp đổ, Việt cộng đã quay lại thần phục Trung cộng. Chịu cúi đầu học theo phương pháp “đầu hàng tư bản, mà vẫn duy trì được độc đảng, độc quyền toàn trị cộng sản” cả ở Tầu, lẫn ở Việt. Trung cộng gọi đó là: “Xã hội chủ nghĩa đặc thù Trung quốc”. Còn Việt cộng thì gọi là: “Làm kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa, lấy công ty quốc doanh là chủ đạo”. Với 2 lối gọi đó, thấy ngay được Trung cộng chỉ coi Xã hội Chủ nghĩa là phương tiện để phát triển Trung hoa thành một Đại Đế Quốc. Còn Việt cộng vẫn mù quáng muốn giữ độc quyền lãnh đạo, nên dùng Việt nam làm phương tiện để tiến lên Xã hội Chủ nghĩa hoang tưởng đã chết tiệt rồi. Chính vì vậy mà Trung cộng ngang nhiên coi Việt cộng là đàn em cộng sản ngoan ngõan để làm công cụ cho họ thực hiện giấc mộng Đại Đế Quốc Bành Trướng, nuốt trửng Việt nam, khống chế Đông Nam Á và toàn cõi Á châu, tiến lên hòng vượt Mỹ làm bá chủ hoàn cầu.

Về phiá Mỹ, trong chiến tranh lạnh, Mỹ tích cực triển khai nguyên tắc “Dùng Cộng Diệt Cộng”. Chính việc Mỹ hoá chiến tranh Việt nam để rồi bỏ rơi Miền Nam cho Miền Bắc chiếm trọn, nhằm kết thúc cuộc chiến tranh quái ác Việt nam, đã đẩy Liên xô và Trung cộng vào cảnh huynh đệ tương tàn, mà Việt cộng bị kẹt giữa 2 đàn anh lớn. Cuối cùng Việt cộng ngả về Liên xô chống Trung cộng. Khi Liên xô đổ, Việt cộng đã không khôn ngoan quay về với Dân Tộc, dựa vào thế Toàn Dân để chủ động liên hệ với quốc tế, mà lại theo quán tính nô lệ cộng sản ngả vào tay Trung cộng. Thực ra trước khi Mỹ bỏ Miền nam Việt nam, tổng thống Hoa kỳ, Richard Nixon và thủ tướng Trung cộng, Chu Ân Lai đã ký Hiệp Ước Thượng Hải 1972, trong đó Trung cộng cam kết: “Tất cả các quốc gia lớn hay nhỏ, phải được đối xử bình đẳng; những quốc gia lớn không được gây tổn thương đau khổ cho những nước nhỏ. Trung quốc không bao giờ là một siêu cường. Trung quốc chống lại quyền lực bá chủ và quyền lực chính trị dưới bất cứ hình thức nào”. Vậy, việc Trung cộng chiếm Hoàng sa, Trường sa của Việt nam, và vẽ đường ranh ‘lưỡi bò’ chiếm trên 80 phần trăm Biển Đông của các nước Đông Nam Á, định làm bá chủ toàn vùng là một vi phạm Hiệp Ước Thượng Hải 1972 đã ký với Mỹ. Chỉ với điều khoản này thôi Hoa kỳ đã danh chính ngôn thuận can thiệp vào Biển Đông rồi.

Mỹ vừa kỷ niệm 15 năm bang giao với Việt nam, sự xuất hiện của Mỹ trở lại toàn cõi Việt nam lần này dù là theo khuynh hướng “Kinh Tế Thị Trường Toàn Cầu Hoá”. Nhưng với Trung cộng đó là một trở lực lớn đối với tham vọng bành trướng của họ. Riêng Việt cộng bị đẩy vào thế nằm kẹt giữa 2 nước Mỹ-Hoa. Họ vẫn theo quán tính nô lệ cho các đàn anh Nga và Tầu trước kia, để luồn lách đi giây giữa Mỹ và Tầu. Nhưng Tầu vẫn lợi thế hơn Mỹ, vì Việt cộng sợ đi với Mỹ thì phải Dân Chủ Hóa Chế Độ, như thế Đảng cộng sản mất độc quyền lãnh đạo. Chính vì vậy, mà quan hệ Việt-Mỹ tiến thêm một bước, thì Trung cộng buộc Việt cộng phải nhượng bộ Trung cộng hai buớc. Khi Mỹ tuyên bố cho Việt nam được hưởng quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn – PNTR trước Trung quốc, thì họ lập tức cấm cản, khiến Việt nam phải ký sau Trung quốc một năm. Đồng thời buộc Lê Khả Phiêu, tổng bí thư đảng, và chủ tịch nước Trần Đức Lương phải cam kết ‘hiến đất, dâng biển” cho họ rồi mới được ký. Mỗi lần thủ tướng, chủ tịch, hay các bộ trưởng Việt cộng sang thăm gặp Mỹ thì, trước, hay sau đó đều phải sang triều kiến Bắc kinh để nhận chỉ thị hoặc là bắt phải nhượng một thứ quyền nào đó của đất nước cho Trung cộng.

Việc Nguyễn Tấn Dũng sang gặp tổng thống George W. Bush năm 2008, nâng cao tầm quan hệ giữa Việt-Mỹ. Dịp này tổng thống Bush khẳng định “Ủng hộ chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ Việt nam”. Lập tức Trung cộng lồng lộn lên, bắt ban lãnh đạo Việt cộng và Nguyễn Tấn Dũng sang Tầu để ký kết cho Trung cộng khai thác tài nguyên ở Việt nam. Chương trình khai thác bauxite Tây nguyên của Trung cộng được tiến hành bất chấp sự chống đối của toàn dân Việt nam là do đấy. Từ đó Trung cộng hầu như chiếm độc quyền đấu thầu các công trình trọng điểm ở Việt nam, rồi tràn người vào thi công và làm nhiều việc có tính cách ‘Thực Dân Hoá” Việt nam từ từ… Đồng thời tỏ ra hung hãn chiếm quyền kiểm soát Biển Đông. Bắt, giết, cấm đoán, đánh đuổi ngư dân Việ tnam hành nghề ở Biển Đông. Nhất là mới đây Mỹ đặt vấn đề An Ninh Biển Đông lên hàng ưu tiên chiến lược của Hoa kỳ. Dùng sự đe dọa quân sự của Bắc kinh ở Biển Đông để quy tụ sự chống đối Trung cộng của các nước ASEAN và nhất là của Việt nam thì Mỹ đã trở thành chỗ tựa tin cậy của toàn Á châu để ngăn sức bành trướng của Trung cộng.

Việt cộng tuy không dám bỏ rơi Trung cộng để ngả hẳn về phía Mỹ. Nhưng cả Trung cộng và Việt cộng đều biết rõ là Việt nam giờ này không thể tách khỏi ASEAN, mà ASEAN thì cần phải dựa vào Mỹ mới đủ sức ngăn Trung cộng. Việc tàu sân bay USS George Washington vào biển Việt nam và tàu USS John S. McCain cập bến Đà nẵng đã đánh dấu sự hiện diện thường trực của Đệ Thất Hạm Đội Mỹ ở nơi đây. Lẽ cố nhiên Trung cộng không còn tự tung, tự tác ở Biển Đông nữa. Trung cộng tránh không đụng độ quân sự với Mỹ, nhưng nhắm vào đe dọa, đòi đánh Việt nam. Theo club.china.com: “Việt nam là cốt lõi của vấn đề Biển Đông, để thúc đẩy Việt nam thành trọng điểm vây hãm Trung quốc, Mỹ đã hợp tác hạt nhân với Việt nam, để chứng tỏ Việt nam chống đối Trung quốc, Việt nam cũng sung sướng được ôm chân Mỹ làm cấp tiền phong chống Trung quốc”. Bài báo kêu gọi trừng trị Việt nam với lý do: “… chuyển dời mâu thuân Mỹ-Trung. Trung-Mỹ xung đột trực tiếp không phù hợp lợi ích của Trung-Mỹ. Trừng trị Việt nam là giết gà dọa khỉ, đánh chó làm nhục chủ… Mâu thuẫn Trung-Mỹ biến thành xung đột Trung-Việt, khiến Mỹ không còn cách thọc tay vào… đánh Việt nam có thể thu lợi. đánh Việt man có thể thu hồi được Trường sa… Có lẽ vì sợ bóng sợ vía Trung cộng, nên bộ Quốc Phòng Việt cộng mới để cho Nguyễn Chí Vịnh tay say của Trung cộng họp với Mỹ, rồi sang Tàu khẳng định chính sách 3 không : “…không tham gia liên minh quân sự; không là đồng minh quân sự của bất cứ nước nào; không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt nam và không dựa vào nước này để chống nước kia”. “Việt nam vui mừng chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của nước láng giềng Trung quốc”. “Việt nam ủng hộ sự phát triển của Trung quốc, trong đó có phát triển quốc phòng”. Nói vậy có nghĩa Nguyễn Chí Vịnh và bè lũ hứa từ bỏ luôn cả quyền tự vệ chính đáng của dân tộc, và đi ngược lại quyền chủ động liên minh quốc tế – Đa Phương Hóa Quốc Phòng, nhằm ngăn cuộc xâm lăng của Trung cộng đang diễn ra. Đây là hậu quả của giới lãnh đạo Việt cộng coi dân là kẻ thù, không dựa vào dân, mà chỉ ngửa cổ trông vào sự bố thí quyền thế của ngoại bang.
Tóm lại, khi Mỹ đã triển khai chiến lược ngăn bành trướng Trung cộng tại Biển Đông và Á châu, mà trọng điểm là Việt nam thì Việt cộng có “chạy đàng trời không khỏi nắng”. Chờ coi những màn hay.

Little Saigon ngày 31/08/2010.

Sunday, September 5, 2010

rồi đây sẽ có ngày

thành sầu từ đất nước đau chung
nỗi nhớ nỗi đau luống ngập tràn
ba lăm năm niềm đau thế kỷ
hận sầu ray rức nhói tâm can

ta nhớ ngày xưa đất nước ta
tự do, dân hớn hở cười vui
nay bao dân oan tràn ngập lối
để lũ đê hèn giàu sụ thêm

chắc chắn rồi đây sẽ có ngày
hận sầu quật khởi đạp đầu bay
hố sâu sẽ chứa quân gian tặc
đất nước lại hồi buổi thái lai

Phi Vũ

Saturday, September 4, 2010

Thơ của anh Lê Diễn Đức về việc blog Lê Diễn Đức bị tin tặc tấn công

Các bạn quý mến

Blog “FreeLeCongDinh bị tường lửa chặn từ vài hôm nay và các bạn ở Việt Nam không truy cập được nữa. Tiếp đến là các trang “Thông Luận”, “Tiền Vệ”, "Trắng Đen Online" và hôm nay (23/08) “X-Caphevn”, “Talawas”, Dân Luận” cũng đã bị tin tặc tấn công.
Trang Blog của tôi www.ledienduc.wordpresss.com cũng đã bị tin tặc tấn công trong hôm nay, nhờ các bạn đăng tải giùm thông báo sự cố này lên các trang mạng để đọc giả được rõ và hạn chế truy cập vào trang blog để bị nhiễm virus!
Thân mến
LDD

Cảnh giác với con bài Nguyễn Chí Vịnh

Theo Đàn Chim Việt

Thư ngỏ gứi hai bác Bùi Tín và Trân Bình Nam

Đúng là gần đây, một hiện tượng gây nhiều nghi ngại, thắc mắc là sự xuất hiện liên tục của Nguyễn Chí Vịnh trên các phương tiện thông tin đại chúng cả trong nước và nước ngoài. Nhưng gây ấn tượng mạnh nhất là cuộc trả lời phỏng phấn của báo Quân đội nhân dân ngày 10/08/2010. Nhiều người cho rằng, cuối cùng, phe thân Tàu trong đảng cộng sản đã buộc phải “xuất tướng”. Bởi vì, người ta biết, sau Nông Đức Mạnh, người được coi là có thế lực nhất (thế lực ngầm) thuộc phe này là Nguyễn Chí Vịnh.

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh. Ảnh On the net

Đọc bài phỏng vấn, người ta có cảm giác rằng, người hỏi không phải là phóng viên báo quân đội nhân dân Việt nam, mà là một phóng viên của một tờ báo nào đó đến từ Trung Quốc. Và không phải là Nguyễn Chí Vinh trả lời phỏng vấn mà là Nguyễn Chí Vịnh thanh minh với Trung Quốc.

Có thể thấy rất rõ rằng, cuộc trả lời phỏng vấn này nhằm vào 3 mục đích:

1- Tầm thường hóa quan hệ Việt Mỹ

2- Khẳng định trước sau như một, quan hệ với Trung Quốc mới là một quan hệ bạn hữu chiến lược

3- Chỉ Bộ quốc phòng có quyền thông tin các vấn đề liên quan tới quân sự

Thứ nhất :

Hoa Kỳ bày tỏ mong muốn cử một đoàn tàu quân sự vào thăm Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 15 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, và chúng ta đã chấp thuận ý kiến này.”

Và: “Chúng ta chấp nhận lời mời của phía Hoa Kỳ vì mong muốn thể hiện thiện chí trong quan hệ giữa hai nước, đồng thời khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên vùng đặc quyền kinh tế theo quy định của luật pháp quốc tế”

Có thể hiểu điều mà Nguyễn Chí Vịnh muốn nói là: những hoạt động giao lưu hợp tác giữa quân sự hai nước sôi nổi và dồn dập gần đây chỉ là theo“thông lệ” và hoàn toàn do phía Hoa Kỳ chủ động, phía Việt nam không tìm kiếm và có vẻ như băt buộc phải “chấp nhận” hay “ chấp thuận”. Nguyễn Chí Vịnh nhấn mạnh:” Việt nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự, không dựa vào nước này để chống nước kia”, và những hoạt động này đều do “chính quyền địa phương chủ trì, các bộ, ngành có liên quan và các đơn vị quân đội ở địa phương tham gia và phối hợp.” nghĩa là không thuộc trách nhiệm lãnh đạo Bộ Quốc phòng! Tóm lại, quan hệ Việt Mỹ chẳng có gì mới, chẳng có gì quan trọng.

Và làm như là trích lời của báo chí, Nguyễn Chí Vịnh nói: “Việt Nam theo đuôi Mỹ”… đây thực chất chính là sự kết tội phe phái thân Mỹ trong nội bộ đảng cộng sản.

Thứ hai:

Phát triển quan hệ hải quân với Trung Quốc là một hướng ưu tiên trong quan hệ đối ngoại quốc phòng của Việt Nam, mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai nước”

Và “Có thể nói, quan hệ hải quân giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được phát triển theo đúng tinh thần quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mà lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước đã cam kết.”

“Hiện nay, mối quan hệ đó đã đạt được nhiều thành tựu, hai bên thường xuyên trao đổi các đoàn đại biểu cấp cao, tiến hành giao lưu sĩ quan hải quân, tuần tra chung, lập đường dây nóng và gần đây nhất đã tiến hành diễn tập cứu hộ, cứu nạn trên biển.

Không có gì thay đổi trong mối quan hệ “thân hữu anh em” giữa Việt Nam và Trung Quốc. Người Việt chúng tôi vẫn trước sau trung thành với Trung Quốc, dù cho ai “nói ngả nói nghiêng” lòng trung thành trước sau như một đó vẫn “vững như kiềng ba chân”.

“Cây ngay không sợ chết đứng”. Lời thanh minh này dành cho ai? Ai đã nghi ngờ lòng “ngay” của Nguyễn Chí Vịnh? Ai đã quy tội oan cho phe phái của Vịnh?

Không! Cú đánh vỗ mặt bất ngờ của Hà nội ngày 23/07 tại Hội nghị Ngoại Giao ASEAN là của phe Nguyễn Tấn Dũng, Phạm Gia Khiêm. Đó là cú đánh quá độc và quá bất ngờ, ngay chính Nông Đức Mạnh cũng không ngờ. Cú đánh có thể làm Dương Khiết Trì, đương kim bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, mất chức.

Nhưng thưa, chúng tôi vẫn làm chủ tình hình, vẫn toàn quyền kiểm soát tình hình. Bằng chứng là ngay sau đó, báo chí cả nước đã buộc phải im bặt. Không một lời tán tụng. Không một sự tôn vinh. Một không khí đang hừng hực ngây ngất, náo nức đột ngột tắt lịm như bị dội nước lạnh.

Thứ ba:

“…một số báo chí Việt Nam cũng đưa chưa thật chính xác về vấn đề này. Rất tiếc là giới truyền thông không tìm đến địa chỉ cần thiết là Bộ Quốc phòng để tìm hiểu thông tin chính xác về sự kiện này cũng như các vấn đề tương tự”

Hãy coi chừng. Nếu không có sự cho phép của Bộ quốc phòng, các người sẽ chịu hoàn toán trách nhiệm về những gì mà các người say sưa đưa lên mặt báo. Hãy luôn nhớ rằng Ta là tất cả, Ta có thể làm được tất cả, có thể nghiền nát mọi thứ.! Đã như thế và vẫn như thế.

Người phát ngôn bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga ngay lập tức bác bỏ hợp tác hạt nhân Việt Mỹ do Wall Street loan báo (1), bất chấp danh dự quốc gia, để thanh minh với Trung quốc rằng: không phải Lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản Việt Nam chủ trương, Gói thầu lớn nhất của hai trung tâm năng lượng hạt nhân đầu tiên vẫn được giữ nguyên để dành cho Trung Quốc.

Và việc xuất hiện của Nguyễn Chí Vịnh trên tờ báo tiếng nói của Quân đội nhân dân Việt Nam là báo cáo chính thức với “thượng cấp” rằng, “ Nguyễn Chí Vịnh và phe đảng đang kiểm soát Bộ quốc phòng” và luôn sẵn sàng tung “quả đấm thép” trừng trị bất kỳ thế lực cản trở nào.

Việc im bặt của giới báo chí chính thống cả nước trong suốt thời gian từ sau sự kiện “Đa phương hóa Biển Đông” ngày 23/07/2010, chứng tỏ rằng đã có sự liên minh chính thức giữa Nguyễn chí Vịnh( tức là Nông Đức Mạnh) với Nguyễn Phú Trọng và Tô Huy Rứa. Và một thứ vũ khí nhân danh “ tiêu diệt kẻ thù của Chủ nghĩa xã hội” sẽ được phát động. Với sức mạnh tàn độc của Tổng cục II và bằng tiền bạc và kỹ thuật đến từ Trung Nam Hải, mọi trở lực sẽ biến thành tro bụi.

Cùng với sự xuất hiện liên tục của Nguyễn Chí Vịnh, người ta có thể thấy:

1- Cuộc chiến giữa các phe phái trong nội bộ Bộ chính trị trong cuộc giành giật quyền lực trước Đại hội XI đã đến vòng chung kết. Trước thất bại 20/07/2010, buộc lòng Nguyễn Chí Vịnh phải xuất hiện để khẳng định với quan thầy. Rất có thể, sự nghi ngờ đang đe dọa an ninh của chính cá nhân Nguyễn Chí Vịnh và phe đảng cùng với nguy cơ biến mất của những mối lợi kếch xù mà sự gắn bó với Trung Quốc đem lại.

2- Bằng sự xuất hiện, Nguyễn Chí Vịnh chứng tỏ “quả đấm thép” là có thật. Nguyễn Chí Vịnh đang là người duy nhất chi phối Bộ Quốc Phòng chứ không phải người nào khác. Nguyễn Chí Vịnh là người phát ngôn Bộ Quốc Phòng, Nguyễn Chí Vịnh vừa đàm phán với thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, và nguyễn Chí Vịnh sẽ là người tham dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN tháng 10. Những thế lực nào dám cản trở sẽ bị trừng trị.

3- Bằng sự xuất hiện chính thức ngày càng nhiều trên sân khấu chính thống, người ta đang tiến hành việc tô son lên khuôn mặt thiếu đạo đức, vô liêm sỉ của Nguyễn Chí Vịnh, dạo nhạc và dọn dẹp dư luận cho một chiến dịch biến Nguyễn Chí Vịnh thành một tượng đài của lòng yêu nước và một tài năng xuất chúng, để nhảy vào Trung ương và Bộ chính trị, bước đầu tiên để Nguyễn Chí Vịnh leo lên vị trí tột đỉnh của quyền lực. Và khi đó, từ chế độ độc đảng, Việt nam sẽ trở thành Phát xít. Hận thù trong lòng Nguyễn Chí Vịnh sẽ có cơ hội để thỏa mãn và cuộc thanh trừng khốc liệt sẽ không thể tránh khỏi. Ngược lại, nếu thất bại, Nông Đức Mạnh ra đi, Nguyễn Chí Vịnh không vào được Trung ương. Đại hội XI sẽ đưa hồ sơ Tổng cục II ra xét lại, và Nguyễn Chí Vịnh sẽ không tránh được một cái án tử hình, hoặc chí ít cũng chung thân. Đó là lý do sự vội vã hấp tấp này của Nguyễn Chí Vịnh.

Sau sự lồng lộn ầm ĩ của Bộ Ngoại Giao Trung quốc cùng vói một loạt công bố tăng cường sức mạnh uy hiếp của Trung quốc (tập trân bắn đạn thật trên vùng biển Trường sa, thiết lập căn cứ thứ hai tên lửa đầu đạn hạt nhân tại Quảng châu, đẩy mạnh chương trình xây dựng hàng không mẫu hạm…), người Trung quốc đang nhắc đến “sự khiêm tốn Trung quốc”, tìm lại chính sách “Thao cương dưỡng thổ” của Đăng Tiểu Bình, im lặng phục binh, âm thầm như núi Thái sơn…Vì vậy có thể dự đoán, Trung quốc sẽ bớt múa mép, đe dọa ồn ào, mà sẽ im lặng hành động. Cách cư xử tại Biển Đông sẽ có hình thái khác, hiệu quả hơn, nhưng ít tạo ra phản ứng hơn. Đối phó với Việt nam sẽ được tính toán cẩn thận và chuẩn xác hơn. Mục tiêu là biến ASEAN thành cái xác không hồn, những kẻ theo Mỹ ở Việt Nam và các nước sẽ phải biến mất, bằng mọi giá.

Trong chiến lược này, người Việt sẽ tự diệt người Việt. Nguyễn Chí Vịnh sẽ phải thể hiện lòng trung thành bằng cách lần lượt “hô biến”, trước hết là Phùng Quang Thanh, tiếp đến là Phạm Gia Khiêm và Nguyễn Tấn Dũng, rồi đến Lê Hồng Anh…

Nếu những phán đoán trên đây mà đúng, thì hãy yên phận. Người Việt Nam rồi sẽ nói tiếng Trung Quốc, tiêu tiền Nhân dân tệ và thoát được nỗi khỗ phải phân định ranh giới, cả trên đất liền lẫn trên biển.

Có một điều khá lạ nhưng vô lý là: dư luận cả trong và ngoài nước hình như hiển nhiên thừa nhận tính chính danh của công cụ khủng bố trong tay đảng cộng sản. Bắt và xử, một vụ tai nạn máy bay, ô tô, xe máy, một vụ tai biến mạch máu não, một vụ đột tử không rõ nguồn gốc v.v.. là độc quyền của đảng cộng sản và dư luận chính thống. Người ta có quyền mơ ước ai đó cũng học được phép thuật “hô biến”.

Những người bất đồng chính kiến Cuba đã biết thành lập Tòa án dân chủ để tập hợp tội phạm phản dân chủ, từ tháng 10 năm ngoái.

Ước gì bác Trần Bình Nam có được tin tức tình báo có thật từ nội bộ Trung ương đảng cộng sản. Cầu trời bác không bị là công cụ của trò chơi “hư hư, thật thật”.

Như vậy thì niềm hy vọng khiến phải chuyển lập trường từ “cuộc đảo chính” sang “chuyển biến chiến lược”của bác Bùi Tín khả dĩ được an ủi, mặc dù nhìn vào diễn biễn công khai thì có thể khó tin được.

Cũng có thể những suy luận như vây là suy diễn bệnh hoạn của cá nhân..

21/08/2110

© Bùi Quang Vơm

© Đàn Chim Việt

Đọc những bài cùng chủ đề:

Cuộc đảo chính không tiếng súng

Cao thủ tình báo và đòn thăm dò mạo hiểm

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Bộ QP VN, ông là ai?

—————————————————————

(1): xem các bài “ Hà nội đã cưỡi trên lưng hổ” và “ Ai đứng phía sau” của cùng tác giả, đăng trên DanChimViet.com

* các trích dẫn in nghiêng trong ngoặc kép “.” Là nguyên văn từ bài phỏng vấn.

Friday, September 3, 2010

Chào mừng ngày ông Hồ chết

Theo DCV Online
Trà Mi




Bài này viết để chào mừng ngày ông Hồ chết.

Ông Hồ Chí Minh chết ngày 2 tháng 9 năm 1969, khi ấy người viết còn nhỏ, sống ở Sài Gòn, loáng thoáng nghe nói ông là trùm Cộng sản Việt Nam (Việt Cộng, VC). Mà VC là ai thì cũng lờ mờ lắm; nghe nói (cũng chỉ nghe nói thôi) là mấy ông này hay đặt mìn xe đò, cũng là mấy ông bận đồ bà ba cầm súng vào thành phố bắn dân, và cũng chính là mấy ông bắn giết hàng loạt và chôn tập thể đồng bào vào dịp Tết Mậu Thân 1968 ở Huế tức là 1 năm trước ngày ông Hồ “đang sống chuyển sang từ trần.”

Túm lại, người viết không biết gì nhiều về ông Hồ thời đó. Thế thì tại sao lại viết bài chào mừng ngày ông chết?

Trước khi trả lời câu hỏi đó, xin được bàn ngang về sự “chuyển sang từ trần” của ông Hồ Chí Minh. Mới nghe tưởng đây chỉ là cách nói cho hợp vần, cho có điệu, cho vui tai của hai câu,

“Tin nghe như sét đánh ngang,
Bác Hồ đang sống chuyển sang từ trần!”


Nghĩ lại tác giả hai câu thơ này dùng ngoại động từ “chuyển sang” có ý nói rằng ông Hồ Chí Minh chủ ý chọn ngày chết của mình. Nếu ông Hồ đang sống phây phây bỗng lăn đùng ra theo ông Mác, ông Lê, ông Mao thì tác giả đã viết một cách hợp lý hơn, “Tin nghe như sét ngang lưng, Bác Hồ đang sống bỗng dưng từ trần!” Hai câu thơ “chuyển sang từ trần” không biết có từ lúc nào nhưng chắc chắn phải có trước khi bà Dương Thu Hương sang Tây (2006) viết và xuất bản tiểu thuyết “Đỉnh cao chói lọi” (Bản tiếng Pháp là “Au zénith”) năm 2009. Trong một bài báo của Thomas Bell, về Au zénith đăng ngày 21 tháng 1, 2009 trên Telegraph.co.uk, bà Hương nói, ông Hồ đã chọn chết đúng ngày 2 tháng 9 để trả thù tập đoàn lãnh đạo Việt Cộng và đồng thời “trù ẻo cái chế độ thối nát” đó. Theo bà Dương Thu Hương thì ông Hồ đã tự rút ống “nước biển” để “chuyển sang từ trần”.

Trở lại với câu hỏi tại sao lại có bài này để chào mừng ngày ông Nguyễn Sinh Cung chết. Vốn là thế này. Đang lúi húi trong bếp chuẩn bị cơm chiều thì tiếng Skype kêu inh ỏi. Đầu dây bên kia là giọng quen thuộc của một ‘bà tám’.


Sách mới về Hồ Chí Minh
Nguồn: NHĐT/V-Publisher (?)
‒ Này, bác đã đọc sách mới chưa?
Trời ạ mình đang bận, khói cay cả mắt mà sách với vở cái gì cơ chứ.
‒ Sách gì, sách hình hả? Sách nhiều chữ mình không đọc đâu.
‒ Không, bác Chao bảo bác phải tìm mua mà đọc.
Lại đem tương với chao ra áp lực.
‒ Được rồi, sách tựa là gì tác giả là ai?
‒ Hai cuốn cơ!
‒ Giời ạ, nói nhanh lên tôi còn phải thổi cơm.
‒ Đó là cuốn bằng tiếng Anh, “Ho Chi Minh – The soul and talent of a great patriot” và cuốn “Hồ Chí Minh - Tâm và tài của một nhà yêu nước” của cùng tác giả Nguyễn Đài Trang mới xuất bản.

Thế là bữa cơm chiều hôm ấy, cả nhà ăn pizza và uống xá xị. Mấy nồi cơm, canh chua và cá kho để sang hôm khác vì người viết phải tạm thời gác việc soong chảo để chạy vào mạng tìm mua sách; gì chứ hai chữ “tâm” và “tài” mà xếp cạnh ba chữ “Hồ Chí Minh” thì tác giả phải là chuyên gia tiếp thị hàng cao cấp.

Đây chính là lý do có bài viết này để chào mừng ngày ông Hồ chết. Hồ Chí Minh chết từ hơn 40 năm nay, sách viết về ông on sales đầy dẫy trên Amazon.com. Thế mà đến 2010 lại vẫn có sách mới (của Nguyễn Đài Trang) nói về ông. Đây hẳn phải là tác phẩm có nhiều tài liệu mới kết quả của nhiều năm nghiên cứu.

Những trình bày sau đây là kết quả của nhiều giờ thâm cứu để tìm hiểu và tìm mua hai cuốn sách nói trên.

Hai tác phẩm này, “Ho Chi Minh – The soul and talent of a great patriot” và cuốn “Hồ Chí Minh - Tâm và tài của một nhà yêu nước”, được tác giả xuất bản để kỷ niệm ngày sinh thứ 120 của Hồ Chí Minh tức là mới đây thôi, 19/5/2010.

Đầu tiên, xin được thưa ngay với người đọc, bài này sẽ không có nhiều chi tiết về nội dung tác phẩm. Đơn giản vì thời gian giới hạn, và internet lại không có biên cương nên không thể tìm được thông tin chuẩn xác để tìm mua tác phẩm của tác giả Nguyễn Đài Trang.

Để bù lại, bài viết chào mừng ngày ông Hồ chết sẽ trình bày với bạn đọc nhiều hơn về tác giả.

Không phải tình cờ mà tác giả cho xuất bản sách vào tháng 5 vừa qua; và cũng không phải tình cờ, báo đài của Đảng Cộng sản Việt Nam rầm rộ đăng bài quảng cáo hai tác phẩm của tác giả Đài Trang trên các trang mạng của công an, của đài phát thanh VOV, của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, v.v…

Tháng Sáu, tác giả ra mắt sách tại Canada. Theo tin của Hoàng Ánh đăng trên biethet.com này 18/6/2010

Đài Trang ra mắt sách ở Laval, Quebec (12/06/2010)
Nguồn: OntheNet

Nguyễn Đài Trang, một giáo sư người Việt đang giảng dạy tại khoa Khoa học Chính trị của Đại học Toronto (Canada), vừa có buổi giới thiệu cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, mang tên Hồ Chí Minh – Tâm và Tài của một nhà yêu nước.

Buổi giới thiệu sách, diễn ra ngày 12/6 tại thành phố Laval gần Montreal, diễn ra rất đơn giản nhưng trang trọng với khoảng 40 khách mời, chủ yếu là kiều bào ở các khu vực lân cận và một số sinh viên Việt Nam. Một đoàn đại biểu của Đại sứ quán Việt Nam tại Canada do Tham tán Văn hóa Đào Ngọc Dinh dẫn đầu…


Úi dào! Giáo sư khoa Khoa học Chính trị của một trong những đại học nổi tiếng nhất Canada mà viết về ông Hồ thì hẳn không thua gì các ông William J. Duiker (“Ho Chi Minh: A Life”, Hyperion, September 2000) hay bà Sophie Quinn-Judge (“Ho Chi Minh: the missing years, 1919-1941”, C Hurst & Co Publishers Ltd., Jul 24 2003).

Lại nữa đây là giáo sư Việt kiều viết về Hồ Chủ tịch chứ không phải là loại sách cũ của Trần Dân Tiên viết “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” năm nào hay là sách của ban Tuyên giáo Trung Ương viết về ông Hồ thì cũng không có gì đáng chú ý lắm.

Một mẩu tin khác đăng ở vieclam.net.vn viết

Ra mắt cuốn sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Canada

Ngày 12/6/2010, tại thành phố Montréal (Canada) đã diễn ra buổi giới thiệu cuốn sách Hồ Chí Minh - Tâm và Tài của một nhà yêu nước của tác giả Nguyễn Đài Trang, một Việt kiều đang giảng dạy Khoa học Chính trị tại Đại học Toronto; giáo sư ngành Kinh tế Ngoại thương.



Mèng đéc ơi, giáo sư Việt kiều ngành kinh tế ngoại thương mà lại giảng dạy cả Khoa học Chính trị nữa thì thiệt là tình (nghi) luôn!

Truy cập internet hàng giờ, đọc vài chục trang thông tin về tác phẩm nhưng không bản tin nào cho hay cả hai cuốn sách bằng tiếng Anh và tiếng Việt do nhà xuất bản nào ở Canada phát hành.

Vào Amazon.ca tìm tâm và tài của Hồ Chí Minh ví như mò kim đáy biển. Và theo tin của báo đài của Đảng thì cũng không phải dễ vì có chỗ ghi tên sách là “Ho Chi Minh – The Heart and Talent of A Patriot”, chỗ khác lại viết “Ho Chi Minh – The Soul and Talent of A Great Patriot.”

Tìm không được tác phẩm để mua đọc thì phải đi tìm tác giả vậy. Tác giả thuộc giới hàn lâm Canada, một xã hội dân sự trong thể chế dân chủ, hẳn sẽ không thiếu thông tin. Tìm được tác giả thì việc được sách tặng có chữ ký hẳn hoi là điều có thể xẩy ra. Nghĩ thế nên người viết bám sát màn hình.

Ghé lại ĐH Toronto, vào phân khoa Khoa học Chính trị, người viết tìm được ban giảng huấn khoa này (họ vần N, M, O...) như sau:


Ban giảng huấn Khoa Khoa học Chính trị ĐH Toronto: Không có tên Nguyễn Đài Trang
Nguồn: UoT


À đây rồi. Xin được trình bày sơ lược về tiểu sử tác giả.

Tiểu sử tác giả Nguyễn Đài Trang (Tổng hợp theo tin của nhiều trang khác nhau)

Nguyễn Đài Trang có tên trên giấy khai sinh là Nguyễn Hoàng Đài Trang.

Tác giả sinh năm 1970 tại Huế. Đã theo học tại Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh.

Sang sinh sống tại Montreal, Quebec, Canada khi 20 tuổi (1990). Đi học loáng thoáng tại hai Đại học Cộng đồng (trường Cao đẳng, sau bậc trung học) tiếng Anh (Collège d'enseignement général et professionnel, CEGEP) Vanier và Dawson. CEGEP là những cơ sở giáo dục có học trình 2 năm để sinh viên tiếp tục vào học cử nhân ở đại học, hay học trình 3 năm để vào thị trường lao động. CEGEP chỉ trao chứng chỉ (diploma) tốt nghiệp chứ không có bằng cử nhân hay cao hơn (degree).

Là sinh viên khoa Thương mại của Đại học Concodia University (Montreal); tốt nghiệp Cử nhân Thương mại (BComm) tại đại học này vào năm 1995.

Tác giả rời Montreal, Quebec sang tỉnh bang miền cực Tây của Canada ghi danh theo học Thạc sĩ Kinh tế tại Đại học Bristish Columbia (UBC) ở Vancouver và tốt nghiệp Master of Arts in Economics (MA) – Thạc sĩ Kinh tế vào năm 1996.

Sau khi tốt nghiệp MA, tác giả ghi danh, cũng tại UBC, theo học ban Tiến sĩ khoa “Individual Interdisciplinary Graduate Studies Program And Asian Research”. Trình luận án tựa đề “Exploring indigenous approaches to women’s well-being in Viet Nam: negotiating gender” vào tháng 12, 2003 và tốt nghiệp Tiến sĩ năm 2004.

Bản quyền của luận án (279 trang khổ 8.5”x11”) ghi © Julie H.D.T. Nguyen 2003.

Trên đây là sơ lược tiểu sử của tác giả cuốn “Hồ Chí Minh - Tâm và Tài của một nhà yêu nước”

Lại xin được phá ngang ở đây một chốc để thắc mắc với chính mình về cái tựa đề cuốn sách này. Ngày xưa đi học Việt sử, thầy cô dạy Nguyễn Thái Học là một người yêu nước, hai bà Trưng, bà Triệu là những người yêu nước v.v… Đọc sách báo trong cũng như ngoài nước thời nay, cái văn hoá “nhà” dường như đang phát triển đại trà! Có lẽ “a patriot” là người yêu nước còn “a great patriot” là nhà yêu nước. Thế còn “Super Patriot” như của Erik Larsen chẳng lẽ là “lầu yêu nước”?

Xin quay về với tác gỉa Julie Nguyễn hay Nguyễn Đài Trang. Sau khi học xong Tiến sĩ tác giả làm gì? Thật ra Julie Nguyễn đã đi làm tại Đại học Toronto từ năm 2001 trong Chương trình Nghiên cứu Châu Á-Thái Bình Dương tại đây. Từ 2004 đến 2006, tác giả tiếp tục nghiên cứu Sau Tiến sĩ (post-doctoral research) tại Munk Centre for International Studies thuộc ĐH Toronto.

Dựa trên những thông tin của chính tác giả công bố thì công việc chính hiện nay của tác giả là đi buôn hay nói chữ là kinh doanh.

Thứ nhất, bà Julie Nguyễn là 1 trong 2 thành viên Hội đồng Quản trị của “Hội Doanh Nghiệp Việt Nam-Canada” (Vietnam-Canada Chamber Of Commerce). Thứ hai Nguyễn Hoàng Đài Trang còn là Giám đốc của cơ sở có tên “Canada Education Support” (CES,Trung Tâm Hỗ Trợ Du Học Canada). Cả hai cơ sở này có cùng địa chỉ 1351 Dufferin Street, Toronto, Ontario M6H 4C7 Canada.

Tuy nhiên trên trang nhà của công ty “Canada Education Support” truy cập ngày 1 tháng 9, 2010, về bà Giám đốc, có ghi, Julie Nguyen, B.Comm., M.A., Ph.D., Director

…She is currently teaching in the Department of Humanities at the University of Toronto Scarborough and also in the School of Business at Centennial College…”


Tương tự, báo Quân đội Nhân dân (tiếng Anh) ngày Thứ Ba 31 tháng Tám, trong bài “An overseas Vietnamese’s insight into Uncle Ho’s humanism” (Nhận thức của một Việt kiều về tinh thần Nhân Bản của Bác Hồ) cũng ghi, “Dai Trang is now a lecturer at the Humanity Faculty under the University of Toronto. She also gives lectures on Business Management at the College of Centennial.”

Và trang báo mạng VOV News ngày 20/05/2010, trong bài “Canadian OV writes book about Uncle Ho” (Việt kiều Canada viết sách về Bác Hồ) ghi, “Dr. Trang graduated with a Masters and then a Doctorate from the University of British Columbia, she now gives lectures on political science with a particular focus on Asia-Pacific science at Toronto University.”

Đi tìm tác giả ở Đại học Toronto, người viết chỉ có được thông tin như sau về ban giảng huấn của Khoa Nhân Văn ĐH Toronto:

Ban Nhân Văn ĐH Toronto không có tên Julie Nguyen
Nguồn: UoT
Thông tin này không giống như những hàng quảng cáo trên trang mạng của công ty “Canada Education Support” của bà Giám đốc Julie Nguyễn và báo đài của Đảng CSVN.

Nguyễn Hoàng Đài Trang và sách vinh danh HCM (Kết)

20 Nam Mien Nam
Trà Mi


Tiếp theo phần I, Chào mừng ngày ông Hồ chết


Theo thông tin từ báo đài của Đảng CSVN và bài quảng cáo trên trang nhà của công ty “Trung Tâm Hỗ Trợ Du Học Canada” của Giám đốc Julie Nguyễn, người viết không tìm được tác giả Nguyễn Đài Trang ở cả khoa Khoa học Chính trị và ban Nhân Văn tại ĐH Toronto.

Không thấy ở đại học nổi danh thì tiếp tục tìm tác giả ở Đại học Cộng đồng. Cũng theo những thông tin truy cập được, người viết tìm đến Centennial College. Đây là một Đại học Cộng đồng (trường Cao đẳng, sau bậc trung học) mới thành lập từ năm 1966, hiện có khoảng 30 học trình – học kỳ từ hai 6 tháng đến 3 năm.


Trường Kinh doanh, Centennial College, Toronto
Nguồn: Centennial College
Một điểm ngoại lệ, trường Kinh doanh (School of Business) của Centennial College không phổ biến danh mục ban giảng huấn. Liên lạc với nhân viên trực của trường, có được điện thoại để tiếp xúc thẳng, người viết không may chỉ vào đến hộp nhắn tin đã quá tải của giáo sư Julie Nguyen và được biết bà chỉ có mặt tại trường trong tương lai gần.

Tìm hiểu thêm, người viết tình cờ gặp giáo sư Đài Trang trên một trang web rất phổ cập.

“RateMyProfessors.com” (Đánh giá giáo sư của tôi). Trang web này mới hoạt động từ 1999, đến nay đã có khoảng 11 triệu thẩm định của sinh viên với khoảng 1 triệu giáo sư của 6000 đại học các cấp ở Mỹ, Canada, England, Scotland và Wales.

Sinh viên khắp nơi tham khảo trang “RateMyProfessors.com” để chuẩn bị xếp đặt thời khoá biểu, chọn lựa khoá học và giáo sư phụ trách. Chính yếu, sinh viên mới sẽ biết được nhận định về từng giáo sư từ những sinh viên đã học trước để quyết định chọn theo khoá đó hay không. Sinh hoạt tự do tư duy này đã áp dụng từ lâu tại những đại học tại Bắc Mỹ dù chỉ công bố kết quả đánh giá ở phạm vi của riêng ở mỗi đại học, hay tại phân khoa.

Dưới đây là bảng đánh giá hồi tháng 5, 2010 của một sinh viên Centennial College về giáo sư Nguyễn Hoàng Đài Trang dạy môn kế toán (accounting).


Bảng đánh giá Giáo sư Đài Trang
Nguồn: http://ratemyprofessors.com
Giáo sư Trang được cho điểm 1/5 với lời phê, “Bà ấy là một thầy giáo kế toán rất tệ, … Bà còn dậy những môn không phải kế toán, và bà khá hơn ở những môn này. Đừng chọn khoá kế toán do bà này phụ trách.”

Tuy nhiên, đây chỉ là 1 đánh giá của một sinh viên.

Một ghi chú nhỏ, đọc qua trang quảng cáo dịch vụ của công ty “Canada Education Support” của Julie Nguyen, người thấy ngay đây là một người sanh sỏi trong việc kinh doanh với người trong nước. Ngoài những bảng hiệu đầy vai trò trong giới hàn lâm nửa thật nửa giả, tác giả còn phô trương hình ảnh chụp chung với chính giới Canada từ tỉnh bang đến liên bang, từ dân biểu đến Bộ trưởng, v.v…

Tóm lại, Julie Nguyễn Đài Trang có học vị Tiến sĩ, là giáo sư trường Kinh doanh của một Đại học cộng đồng, là người làm kinh doanh và bây giờ là tác giả sách ngoài phạm vi chuyên môn và sở học. Là một chuyên viên chú trọng đến việc nâng cao đời sống bình đẳng của phụ nữ nói chung (như việc đồng ký tên cổ suý chính sách chăm lo cho phụ nữ và trẻ em trong chiến dịch chống AIDS/HIV của The World Alliance for Breastfeeding Action (WABA) tại hội nghị vào tháng Năm 2006 tại Toronto) hay của phụ nữ Việt Nam như trong luận án tiến sĩ, động cơ nào thúc đẩy bà trở thành tác giả hai cuốn sách vinh danh Hồ Chí Minh, một nhân vật lịch sử đã và vẫn đang gây nhiều tranh cãi trong cộng đồng người Việt trong và ngoài nước?

Những bài báo, bản tin của Đảng CSVN phần nào trả lời câu hỏi trên đây. Theo trang của đài VOV News (30/08/2010) thì cuốn sách “Hồ Chí Minh - Tâm và tài của một nhà yêu nước” là kết quả “dày công nghiên cứu suốt 15 năm” của tác giả Đài Trang.

Như thế có nghĩa là tác giả khởi sự thâm cứu về Hồ Chí Minh từ năm 25 tuổi, sau 5 năm định cư và vừa học xong Cử nhân Thương mại ở Montréal cho đến nay. Tuy nhiên, mới hơn 3 tháng trước, trong bài “Việt kiều Canada viết sách về Bác Hồ” cũng đăng tải trên trang VOV News, để trong ngoặc kép, VOV News ghi “It took me almost ten years to write this book. My first draft was in English…” Trong vòng 3 tháng từ kỷ niệm lần thứ 120 ngày sinh ông Hồ đến ngày ông Hồ sắp “Chuyển sang từ trần” thì công trình nghiên cứu của tác giả bỗng dưng tăng thêm 5 năm. Đến đây thì buộc lòng người viết ngờ rằng ông bà nhà báo viết tiếng Anh ở những tờ báo Đảng có lẽ học cùng trường với nhà kẻ băng rôn “Hanoi Well Come” trước đây.


Chụp hình với Bob Rae, cựu Thủ tướng tỉnh bang Ontario, nay là dân biểu Liên Bang và một du học sinh
Nguồn: CES
Theo báo Quân đội Nhân dân trên mạng trong bài “Nhận thức của một Việt kiều về tinh thần Nhân Bản của Bác Hồ” đăng ngày 31/08/2010 tác giả cho hay dù đã có nhiều sách viết về Hồ Chí Minh và về Chiến tranh Việt Nam ở thế kỷ thứ 20 ở phương Tây nhưng đa số những cuốn sách đó, do tác giả nước ngoài viết, đã hoàn toàn thiếu vắng nhận thức về tinh thần nhân bản của Hồ Chí Minh. Vì thế bà thấy cần phải viết cuốn sách vinh danh Hồ Chí Minh này.

Khi viết cuốn “Hồ Chí Minh - Tâm và tài của một nhà yêu nước”, tác giả đã tham khảo những quan điểm và khái niệm về Hồ Chí Minh của các học giả trong nước và ngoại quốc.

Học giả trong ước là những ai đã được tác giả tham khảo? Trong bài “Giáo sư Việt tại Canada viết sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh” , đăng ngày 17-06-2010 tại trang biethet.com, cho biết tác giả Đài Trang đã dùng tài liệu của ông Đăng Xuân Kỳ, Nguyễn Đức Đạt, Trân Dật Tiên…

Nguyễn Đức Đạt là ai? Học giả chuyên đề gì? Hỏi mãi, Gú gồ mới nói đó là tác giả cuốn “Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh”, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành năm 2007. Đọc qua bài “Tiên đoán biện chứng Hồ Chí Minh và những ‘dấu ấn đầu tiên’ của Người” thấy ông Nguyễn Đức Đạt liệt Thư chúc mừng năm mới - Xuân Kỷ Dậu (năm 1969) của Hồ Chí Minh vào một trong 10 ‘dấu ấn đầu tiên’ để lý luận và chứng minh HCM là thánh, biết trước sự việc sẽ xảy ra. Lúc đó, 1969, HCM viết, “Vì độc lập, vì tự do / Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.” Và sự việc xảy ra y như thế, 1973 (Mỹ cút) và đến năm 1975 (thì Nguỵ nhào)!

Theo lý luận trên đây và lời tự giới thiệu (…trong quá trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh… - NĐĐ) Nguyễn Đức Đạt quả đúng là một nhà nghiên cứu cỡ lớn về tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thế còn Đặng Xuân Kỳ? Đây là con cả của Trường Chinh Đặng Xuân Khu. Kỳ nguyên là Ủy viên T.Ư. Đảng khóa VI và VII, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận T.Ư. Tóm lại, đây là một đảng viên Cộng sản nặng cân. Vì chưa được đọc sách của Đài Trang nên người viết tự hỏi, trong phần tham khảo và trích lục tác giả có tìm thêm tư liệu quý báu nào thêm về những vụ thảm sát dân miền Bắc trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất mà Hồ Chí Minh đã đổ lỗi cả vào đầu Bố của Đặng Xuân Kỳ.

Trần Dật Tiên? Có lẽ chỉ là lỗi typo chứ Việt Nam cận đại làm gì có học giả nào tên Trần Dật Tiên. Nếu thật sự thế thì đúng là chuyện ly kỳ vì ở thế kỷ thứ 21, một người làm việc khoa học như tác giả Julie Nguyễn, lại tham khảo ông Trần Dân Tiên để viết sách vinh danh Bác Hồ của mình!

Về mặt học giả ngoại quốc tác giả Đài Trang đã chọ tham khảo các ông Walden Bello, một tác giả người Philippines, người vận động xã hội và đáng kể hơn cả là người khuyến khích những người chống thực dân cần đọc lại tư tưởng Hồ Chí Minh. Kế đến là Alice Walker, tác giả của cuốn “The Color Purple” một người Mỹ viết rất nhiều về bình đẳng sắc tộc và giới tính. Một tác giả ngưỡi Mỹ khác mà tác giả Đài Trang tham khảo là McNamara, cựu Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ thời TT Kennedy và TT Johnson.

Tác giả Đài Trang còn cho tờ QĐND biết bà viết quyển sách bằng Anh ngữ (“Ho Chi Minh – The soul and talent of a great patriot”) bằng những lý lẽ bình thường dựa trên kinh nghiệm và kiến thức học hỏi ở phương Tây. Một cách khác tác giả Đài Trang viết cuốn sách vinh danh Hồ Chí Minh bằng tiếng Anh bằng lý trí. Trong khi đó, khi viết cuốn “Hồ Chí Minh - Tâm và tài của một nhà yêu nước” thì tác giả viết bằng cả con tim, bằng lòng yêu nước nồng nàn, bằng khát vọng cháy bỏng muốn tìm hiểu cội nguồn và bằng tiếng kêu gọi đoàn kết vì sự nghiệp phát triển và sức mạnh của xứ sở.

Đó là những động cơ thúc đẩy tác giả viết sách vinh danh Hồ Chí Minh bằng tiếng Anh trước và sau đó mới viết bằng tiếng Việt. Xin được mở một dấu ngoặc ở đoạn này. Trong phần tiểu sử tác giả truy cập được, báo đài của Đảng nói bà sang sống ở Montreal vào năm 1990. Julie Nguyễn Hoàng Đài Trang nhập cảnh Canada ở dạng nào? Thời đó không còn người vượt biển, vượt biên đến Canada tìm tự do. Tác giả sang Canada theo dạng đoàn tụ gia đình? Gia đình của tác giả cớ gì lại đang là dân ở cố đô bỗng dưng “chuyển sang” thành dân di cư sống ở Montreal? Viết đến đây người viết lại hình dung ra ông Vũ Ngọc Nhạ trong tấm ảnh chụp hồi “di cư” từ Bắc vào Nam tìm tự do.

Rất sơ sài, thông tin và báo đài của Đảng cho biết về nội dung quyển sách (150 trang, bản tiếng Anh, gần 200 trang tiếng Việt) có nhiều hình ảnh, tư liệu hiếm quý về ông Hồ. Cuốn sách chia làm 5 chương: Những cách để hiểu Hồ Chí Minh, Chiến lược Tuyên truyền; Hồ Chí Minh – thời thơ ấu, Hồ Chí Minh và sự bình đẳng, sau cùng là Tầm quan trọng của Tư tưởng Hồ Chí Minh.


Ảnh quý: Hồ Chí Minh giơ ngón giữa
Nguồn: OntheNet
Để kết thúc và cũng là một lời tự hỏi, một người con của kinh thành Huế, dù sinh sau đẻ muộn, lại chọn đúng ngày giờ để xuất bản sách vinh danh ông Hồ là một điểm cần suy nghĩ. Lại nữa, tác giả tên Nguyễn Hoàng Đài Trang. Chỉ là một sự tình cờ hay có thể nào bà là con của ông Nguyễn Đắc Xuân và cháu của các ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan không? Đây chỉ là một câu hỏi rất … tình cờ thôi.

Người địa phương có câu “đi như vịt, kêu như vịt, nhìn giống vịt, ắt phải là con vịt.”



© DCVOnline

Thursday, September 2, 2010

Lá thư gởi các chiến hữu đã nằm xuống, nhân ngày tưởng niệm Đông Tiến (có âm thanh)

Tuệ Vân
tamthucviet.com
September 2, 2010
Nghe
Tải xuống để lưu giữ




Các chiến hữu kính mến,

Ngày giỗ của các anh năm nay, như mọi năm, các anh chị em đồng chí hướng có một buổi quây quần tụ họp, tưởng nhớ về các anh, những người anh hùng dân tộc đã nằm xuống cho tổ quốc. Buổi lễ đơn giản, chỉ có tình người và những nén hương lòng thành kính, thắp lên trên toàn thế giới.

Các chiến hữu kính mến,

Đã hai mươi ba năm trôi qua, kể từ ngày các anh vĩnh viễn đi vào lòng đất mẹ nhưng tình cảm của các anh chị em dành cho các anh vẫn còn đó, thiết tha, kính trọng, và yêu mến. Không một ai có thể lấy đi tình cảm thiêng liêng giữa những con người cùng chung lý tưởng, tâm ý tương thông, chung một lời thề giải phóng dân tộc khỏi độc tài bạo nghịch, khỏi lạc hậu dốt nát, khỏi nô lệ vong thân. Không ai có thể phủ nhận được sự hy sinh cao cả của các anh. Đường Đông tiến không thông, nhưng đường đấu tranh lấy sức mình làm chính đã rộng mở để ngày nay có trận thế đa dạng đa diện ở hải ngoại, khiến VC biến thái với phương tiện dồi dào và mánh khoé không thiếu, đã phải thúc thủ không thể lấn chiếm được hải ngoại. Chính vì thế mà những kẻ mặc cảm, đố kỵ, vì đã đứng ngoài cuộc đấu tranh từ khi miền Nam sụp đổ nên không có chỗ đứng nào trong trận thế này, cùng với bọn VC và tay sai, đã phải tiếp tục phun nọc độc bôi xấu, dầu các anh đã vắng mặt hơn hai thập niên.

Giặc bội nghĩa phi nhân, anh quyết tử
Diệt cộng thù thề “Giải Phóng - Việt Nam”
Độc Lập - Tự Do – No Ấm – Thanh Bình
Của dân Việt phải trở về trên đất Việt

Hoài bão ấy luyện Anh thành gang thép
Càng khó khăn càng gắng sức xuyên qua
Dù đường dài dù gió táp mưa sa
Dù phải chết, Anh không hề lui bước
(Trích từ bài thơ Anh Hùng Đông Tiến của KCQ Hà Dân)

Các chiến hữu kính mến,

Nhắc tới các anh mà sao lòng rung động lạ thường như tình cảm mới ngày qua. Các anh đã nằm xuống, hiên ngang, hào hùng như lời khẳng định khi ra đi: Giải phóng đất nước hay Hy sinh vì tổ quốc. Lời tưởng còn ấm môi mà người đã thành thiên cổ. Đau đớn siết bao, lệ trào dâng trong niềm tưởng nhớ. Các anh đi bỏ lại sau lưng những lợi danh, tuổi trẻ, sức sống và hạnh phúc gia đình. Chỉ có những trái tim hực lửa tình dân tộc mới có thể có những quyết định quật cường, dứt khoát, hy sinh thân mình cho đại cuộc. Các anh nằm xuống là một sự mất mát to lớn cho công cuộc đấu tranh của dân tộc. Vận nước ta vẫn còn lao đao vất vả, nên những kẻ biến tâm thời cơ, đã bước trên những sự hy sinh của các anh mà toa rập thỏa hiệp cùng ngoại bang và kẻ thù để buôn dân bán nước, hầu mong mũ áo xênh sang. Nhưng những ý đồ đen tối của bọn họ sẽ không bao giờ thành tựu, bởi vì các anh đã khơi thức dậy tinh thần độc lập dân tộc, tự mình giải quyết lấy vấn để của mình. Các anh nằm xuống nhưng tinh thần của các anh vẫn còn đây, bên cạnh các anh chị em mình trong cuộc đấu tranh đang tiếp diễn và vẫn còn gay go. Nhưng con đường gian khó không làm nhụt chí những người mà tâm nguyện chỉ là muốn góp một bàn tay với dân tộc, xoá sạch tà quyền ác đảng cho đất nước.

Các chiến hữu kính mến,
Nói sao cho hết những chất chứa trong tim. Ngày giỗ các anh, nén hương lòng xin khấn nguyện: Các anh hãy ngủ yên, các anh chị em mình còn đây, trung thành với lời thề đấu tranh, sẽ tiếp nối con đường các anh đi dở. Xin các anh phù hộ cho các anh chị em mình nhiều sức khỏe, đủ nghị lực để vượt qua mọi chông gai thử thách của cuộc đời. Phù hộ cho dân tộc Việt Nam mình sớm có một ngày dân chủ, tự do, và hạnh phúc sẽ trở lại trên quê hương, các anh nhé.

Kính thư,
Tuệ Vân

Wednesday, September 1, 2010

Với Trung Quốc Hung Hăng Việt Nam Nên Làm Gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa - Viet Tribune

Vài ba câu hỏi nhức đầu…

Ngày 24/8 vừa qua, Bắc Kinh đã ký thỏa ước viện trợ tám triệu Mỹ kim cho xứ Đông Timor để xây dựng trụ sở bộ tổng tham mưu quân đội. Cho một quốc gia nhỏ xíu chỉ có hơn triệu dân, nằm chơi vơi giữa Nam Dương quần đảo và xứ Úc Đại Lợi, thì dự án viện trợ chưa đầy mười triệu đô la quả là chẳng có gì đáng kể. Trừ một sự kiện. Bắc Kinh đã thực hiện nhiều dự án xây dựng hạ tầng cơ sở và công ốc, lại cũng vừa bán cho xứ này hai pháo hạm tuần duyên loại Thượng Hải – chừng 125 tấn có hai đại bác 57 ly – trị giá 28 triệu đô la.

Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton trong buổi họp của diễn đàn khu vực ASIAN lần 17 tại Hà Nội tháng 7, 2010. Hoàng Đình Nam/Getty Images

Trong lễ ký kết với Bắc Kinh, Thủ tướng Xanaxa Gusmao mong muốn tăng cường quan hệ quân sự song phương với các quốc gia ủng hộ Đông Timor một cách vô điều kiện. Việc ấy quả là đáng chú ý.

Và Chính quyền Úc Đại Lợi càng chú ý khi mà ông Gusmao tuyên bố tiếp rằng việc các quốc gia khác muốn ngăn cản chuyện này là một việc không chính đáng. Sở dĩ đáng chú ý vì xưa nay, Úc vẫn yểm trợ quốc gia hải đảo ở mạn Bắc về kinh tế lẫn quân sự và coi Đông Timor là nằm trong vùng ảnh hưởng của mình để bảo vệ an ninh vùng biển miền Bắc. Nội loạn tại Indonesia, làn sóng thuyền nhân hoặc nạn di dân từ Á châu nhập lậu vào lãnh thổ bát ngát của Úc là một mối quan tâm thường xuyên của Chính quyền Canberra. Bây giờ, Trung Quốc lại tiến sâu xuống vùng biển miền Nam Thái bình dương, và vào tới Úc châu, thì quả là một vấn đề cho nước Úc.

Nhưng, chuyện này không là mới lạ vì Trung Quốc đã từng yểm trợ phong trào độc lập Đông Timor. Năm 2002, khi xứ này giành lại độc lập từ Indonesia, Bắc Kinh lập tức bang giao với Chính quyền Dili và tìm cách khai thác mâu thuẫn giữa Đông Timor với Canberra. Lùi xa hơn một chút mà nhìn vào sự thể, ta lại nhớ đến bài… “Tiền xuất sư biểu” của Gia Cát Lượng: Bắc Kinh không từ nan những chuyện nhỏ nhặt nhất, ở nơi xa xôi nhất. Huống hồ khu vực này lại có khí đốt…

Nhưng, nhìn từ Việt Nam thì đấy là... một tin vui.

Trung Quốc không chỉ bành trướng xuống Đông hải mà họ gọi là Trung Nam Hải, không chỉ xiết vòng kiềm toả tại bán đảo Đông Dương và các quốc gia trong lưu vực sông Mekong, hoặc không chỉ chi phối từng nước trong Hiệp hội ASEAN của 10 quốc gia Đông Nam Á để phá vỡ nỗ lực tập thể của câu lạc bộ kinh tế này. Bắc Kinh còn muốn tiến xa hơn và trở thành mối quan tâm cho rất nhiều quốc gia trong khu vực Đông Á, từ bán đảo Triều Tiên tới eo biển Đài Loan, đến eo biển Malacca qua tới Ấn Độ Dương…

Khi ấy, vấn đề Trung Quốc của Việt Nam cũng là vấn đề Trung Quốc của Á châu – và của thế giới… Bài toán Trung Quốc của Việt Nam trở thành bài toán chung của các nước và vì quyền lợi của các nước mà việc giải quyết bài toán này có thể đem lại lợi thế cho Việt Nam. Nếu như Việt Nam muốn….

Nhưng cái “Việt Nam” đây là ai? Là lãnh đạo Hà Nội? Là người dân Việt, trong đó có cả cộng đồng người Việt ở hải ngoại?

Nói đến lãnh đạo tại Hà Nội, ta có thể tin là nhiều đảng viên cộng sản cũng biết rằng Trung Quốc nuôi tham vọng bành trướng, rằng tham vọng này đe dọa chủ quyền và an ninh của Việt Nam, và họ không chấp nhận được sự kiện ấy. Nhưng, họ có thể làm được gì? Và trước hết, có muốn làm gì không?

Ngoài một số phát biểu của những người đã hết quyền lực, chúng ta chưa thấy một cuộc tranh luận rộng lớn và tương đối công khai về bài toán này. Từ bên ngoài, người ta chỉ có thể đoán là trong nội bộ Trung ương đảng và bộ Chính trị cũng có những cân nhắc và thảo luận.

Nếu lạc quan thì mình có thể suy ra một hậu quả: bài toán của Trung Quốc cho Việt Nam cũng là bài toán của đảng Cộng sản Việt Nam. Lạc quan vì hàm ý là nội bộ cũng có nhiều thành phần tin rằng đảng không thể mãi mãi nhượng bộ mà phải có lập trường cứng rắn hơn và tìm cách thoát hiểm cho đất nước. Nếu thực tế hơn thì phải suy rằng đã có sự cân nhắc giữa hai ưu tiên, là cứu đảng hay cứu nước. Có thể là đa số đảng viên vẫn coi việc cứu đảng là ưu tiên. Trong giả thuyết ấy, vấn đề Trung Quốc của Việt Nam nằm trong đảng Cộng sản, nằm tại Hà Nội. Nói cách khác, đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là một – trong nhiều – công cụ bành trướng của Bắc Kinh.

Khi lãnh đạo cộng sản là vấn đề, muốn giải quyết bài toán Trung Quốc của Việt Nam thì phải giải quyết vấn đề đảng Cộng sản. Ngày nào mà đảng này còn giữ độc quyền lãnh đạo thì ngày ấy Việt Nam không thể bảo vệ được độc lập. Giải thể chế độ cộng sản là điều kiện tiên quyết cho việc giải quyết bài toán Trung Quốc.

Nhưng sự đời vốn không đơn giản theo kiểu hắc bạch phân minh như vậy. Cho nên trong cuộc tranh luận hiện nay về lập trường – và tranh chấp về quyền lợi của các đảng viên – người ta cần hiểu rõ hơn các động lực thực và giả ở bên trong. Khai thác được các động lực này cho sự thoát xác và tiêu vong của đảng Cộng sản là một nhu cầu chiến lược.

Một thí dụ giả tưởng mà cụ thể, nếu Trung Quốc trực tiếp tấn công Việt Nam và đảng Cộng sản lên tiếng kêu gọi “toàn quốc kháng chiến”, người ta phải xử trí ra sao? Do kinh nghiệm “đoàn kết toàn dân” thời 1945, những ai muốn bảo vệ nền độc lập quốc gia nên… tham gia kháng chiến. Nhưng trong nỗ lực kháng chiến, ưu tiên chiến lược phải là giải trừ các đảng viên cộng sản theo khuynh hướng cưu đảng hơn cứu nước. Chính thành phần này mới tạo điều kiện thắng lợi cho Trung Quốc. Chúng ta có thể làm được như vậy không?

Nhiều người có thể nghĩ rằng không, vì “chúng ta” đây chỉ là một số tổ chức đấu tranh rất ồn ào ở hải ngoại mà không có thực lực ở bên trong. Sự thật lại không đơn giản như vậy, nếu ta minh định lại thế nào là “Trung Quốc trực tiếp tấn công Việt Nam”. Việc trực tiếp tấn công ấy đã và đang xảy ra dưới nhiều hình thái khác nhau. Và dù rằng đảng Cộng sản chưa hề công khai kêu gọi “toàn quốc kháng chiến”, nhiều thành phần dân chúng vẫn mong đợi một nỗ lực đoàn kết toàn dân và sự kết hợp trong ngoài. Người ta nên phát động nỗ lực ấy, và tiến hành theo kiểu giải quyết vấn đề cộng sản trước, vấn đề Trung Quốc sau. Hòn đá thử vàng là sự chọn lựa giữa chủ nghĩ cộng sản và quyền lợi quốc gia.

Một chuyện cụ thể là khi đang vận động quốc tế cùng tham gia giải quyết vấn đề Trung Quốc mà người cộng sản tiếp tục đàn áp tôn giáo và diệt trừ dân chủ thì họ mặc nhiên cô lập Việt Nam trong cộng đồng văn minh của nhân loại. Và giúp cho Bắc Kinh.

Thí dụ ấy dẫn ta ra khỏi khuôn khổ Việt Nam.

Vì vấn đề Trung Quốc là của thế giới, thế giới sẽ có nhiệm vụ giải quyết và vì quyền lợi của họ, các quốc gia liên hệ càng phải giải quyết. Trong hoàn cảnh ấy, Việt Nam sẵn sàng tham gia giải quyết cùng thế giới trong tinh thần ôn hòa, bình đẳng, v.v… Nhưng, người Việt Nam thì phải giải quyết vấn đề Trung Quốc ở tại Hà Nội vì thực ra, trở lực cho giải pháp quốc tế nằm ngay tại Hà Nội. Chứng minh được điều ấy là một việc cần thiết trong lãnh vực quốc tế vận.

Điều ấy được minh diễn rõ ràng khi Hoa Kỳ đang có chiều hướng hợp tác với Hà Nội trong viêệ vận động các nước Đông Á vào một trận tuyến chung để bảo vệ tự do thông thương ngoài Đông hải.

Như với Miến Điện từ năm ngoái, một số chánh khách Mỹ muốn giải tỏa áp lực trừng phạt chế độ quân phiệt tại Ngưỡng Quang hầu kéo xứ này ra khỏi quỹ đạo Trung Quốc. Lý luận hàm chứa bên dưới là hãy kiên nhân hơn với nhu cầu chuyển hóa dân chủ mà nhìn vào ưu tiên về an ninh. Thực chất có thể chỉ là một toan tính kinh doanh nhằm khai thác tài nguyên khoáng sản của xứ này mà khéo được ngụy trang dưới khẩu hiệu cao đẹp và lớn lao hơn. Chuyện ấy không thành và nhiều nhà làm chánh sách Hoa Kỳ lại bày keo khác, với mục tiêu vẫn nhuốm màu mờ ám! Trường hợp Việt Nam có thể cũng không khác….

Trong giả thuyết bi quan mà rất thực tế ấy, người Việt Nam nên nghĩ gì và làm gì?

Nhiều người cho rằng nay Hoa Kỳ đã sẵn sàng hợp tác và yểm trợ chế độ Cộng sản tại Hà Nội vì nhu cầu an ninh tại Đông Á. Cho nên nếu khôn ngoan thì đừng chống cộng nữa và nương theo trò chơi hợp tác này. Hấp dẫn và béo bở lắm. Nhưng khi ấy, vấn đề không phải là Trung Quốc hay quyền tự chủ của Việt Nam mà là một nhu cầu của Mỹ, cho quyền lợi của Hoa Kỳ. Người ta có thể vì đỉnh chung mà đi vào trò chơi này không? Và bao giờ thì sẽ hát khúc bẽ bàng?

Cho đến nay, chưa thấy các tổ chức đấu tranh hay những người ưu thời mẫn thế nêu ra vài câu hỏi thiết thực. Như Việt Nam có thể làm gì trước sự bành trướng của Trung Quốc? Hoặc có nên theo Mỹ mà hợp tác với chế độ Hà Nội để nhờ Mỹ mà xây dựng được một lực đối trọng trước sức ép của Bắc Kinh hay không?

Đã đến lúc ta cần nêu ra các câu hỏi này…[NXN]

Tuesday, August 31, 2010

Lana Huyền Chi – Lại “cố đấm ăn xôi” đường sắt cao tốc

Theo Dân Luận
Ngỡ rằng việc đường sắt cao tốc sẽ lắng dịu đi khi mà đất nước còn bao việc quan trọng hơn cần phải làm, như nhà ở và quyền lợi công nhân, qui hoạch ruộng đất của nông dân, lạm quyền gây thương vong cho dân trong khi thi hành công vụ, nền giáo dục lạc hậu, điện năng thiếu trầm trọng, nhà máy xí nghiệp dùng đồ Trung Quốc – do nhà thầu Trung Quốc xây dựng lắp đặt bị trục trặc khó sửa lành lặn, doanh nghiệp nhà nước trước những nguy cơ phá sản vỡ nợ .v.v… Nhưng không, nó (việc xây dựng đường sắt cao tốc) lại được khởi động lại sau khi bị quốc hội bác bỏ chưa lâu.

* * *

Thời gian qua, nhiều đại biểu quốc hội, các nhà chuyên môn, báo chí và hàng nghìn blogger đã đưa ra những luận cứ đầy đủ tính khoa học và kinh tế. Kết luận chung có thể tóm lại là: “Hãy tạm quên đường sắt cao tốc đi. Khi nào dân giàu nước mạnh, có nhu cầu thực sự thì sẽ tính đến sau”. Ngoài những ý kiến phân tích sắc bén ấy, gần đây, đã có thêm những sự kiện thực tế, cho thấy rất cần phải kiên quyết ngăn chặn cái “đường sắt cao tốc điên khùng” này lại.

Đó là việc Vinashin đứng trước nguy cơ phá sản, vỡ nợ khiến chính phủ phải bơm thêm tiền, phải chỉ đạo các doanh nghiệp nhà nước khác xúm vào gánh chịu hậu quả thay. Một câu hỏi không thể không đặt ra là: Vì giá vé không phù hợp với thu nhập của đa số dân Việt Nam, tàu hỏa cao tốc cũng nằm đắp chiếu như những con tàu to đoành hoành tráng của Vinashin thì sao? Món nợ Vinashin hơn 4 tỷ USD đã điêu dứng rồi, thế món nợ đường sắt cao tốc những gần 100 tỷ USD không hoàn lại được thì làm thế nào? Giải tán chính phủ, hay tuyên bố nhà nước phá sản?

Đó là việc ngày càng thêm nhiều những vụ tai nạn đường sắt xảy ra. Đường sắt thấp tốc đã không khắc phục ngăn chặn được thì sao đảm bảo an toàn cho tuyến đường sắt cao tốc? Có người “ní nuận” rằng “đường sắt cao tốc có đường riêng”. Vâng, đúng là đường riêng, nhưng có cấm được dân và trâu bò qua lại không? Có cấm được trẻ em (và có khi cả người lớn) ném đá “thử xem cái tàu cao tốc nó bền cỡ nào (!)”? Dải phân cách bằng thép trên các tuyến đường lớn, gần đô thi, đông người qua lại người dân còn dỡ đi, ngay dưới hành lang an toàn đường dây điện 500KV người dân còn liều ở, thử hỏi làm sao ngăn chặn được việc xâm phạm hành lang an toàn đường sắt cao tốc?

Đó là việc dân Bắc Giang biểu tình phá cổng tỉnh, dân Thái Bình phơi nắng cán bộ nghành điện, dân Nghệ An khuân cột điện chắn tỉnh lộ vì mất điện dài ngày, dân Bồng Miêu -
Quảng Nam tập trung phản đối công an tra tấn dã man người dân mót quặng, phấn khích đến độ cao trào, họ đã xông vào nhà máy, đập phá cơ sở vật chất, truy đuổi cán bộ và lấy đi những năm tấn quặng vàng … cho thấy tinh thần đấu tranh của người dân ngày càng dâng cao. Làm đường sắt cao tốc, lấy đi hàng trăm nghìn hecta đất, ảnh hưởng cuộc sống của hàng vạn hộ dân, chắc hẳn sẽ có nhiều cán bộ bị phơi nắng, nhiều cổng tỉnh bị phá sập, nhiều con đường bị tắc nghẽn (vì dân biểu tình).

Những dự án kiểu “Đường sắt cao tốc” hay “trục Hồ Tây -
Ba Vì” là không khoa học, không kinh tế, không có lợi về mặt chính trị – xã hội. Vì thế chúng mới bị phản đối rầm rầm. So sánh với những dự án khác, như mua vũ khí của Nga, làm đường sắt đô thị một ray, xây nhà chung cư cho người thu nhập thấp … nào có mấy ai ý kiến ý cò, vì nó sát thực tế, hợp lòng người.

* * *

Có những việc (như buôn lậu ma túy) người ta biết rõ là hại cho cộng đồng, nhưng vì lợi ích cá nhân nên vẫn cứ liều chết lao vào. Đường sắt cao tốc, đường hướng tây Thủ Đô – Ba Vị dù bị chỉ trích, ngăn chặn nhưng người ta vẫn không chịu dừng lại, phải chăng cũng là vì lợi ích cá nhân, phe nhóm? Đã đến lúc người Việt Nam cần phải xếp những kẻ thích vay tiền làm dự án, thích thu đất của dân bán lấy tiền, bất chấp hậu quả xấu đứng cùng loại tương đương như những kẻ buôn bán ma túy.

Đảng TA thường hay kêu gào đề phòng, ngăn chặn và triệt phá “bọn phản động lợi dụng dân chủ nhân quyền gây bạo loạn lật đổ”. Nhưng có lẽ những “bọn phản động” ấy chưa thể lật đổ chế độ TA được, vì tổ chức của chúng còn chệch choạc lắm, non yếu lắm, chả có tí quyền lực đáng kể nào. Trong khi ấy, giặc ngay chính trong lòng đảng TA thì mạnh khỏe, nhiều quyền lực, tổ chức gắn kết quyền lợi bè nhóm chặt chẽ, già dặn kinh nghiệm hơn nhiều. Những dự án tốn kém không mang lại lợi ích thiết thực cho dân sẽ làm mất lòng dân. Ruộng đất bị thu hồi, tiền đền bù ít và tiêu hết, không nghề nghiệp nuôi thân, dân sẽ nổi loạn. Cộng thêm những bất bình về khoảng cách giàu nghèo, bất bình vì quyền lợi công nhân không được đảm bảo, “cha anh thiên triều” bị khó khăn không chống lưng cho được nữa, đảng TA sẽ về đâu? Mất quyền lãnh đạo là ở chỗ ấy và tan đảng cũng là ở chỗ ấy.

Có người bảo rằng “lũ lãnh đạo mặt dày chúng biết tỏng tòng tong là đảng sắp tèo, thời của chúng sắp hết, nên cố sức vơ vét rồi chuồn, chỉ khổ cho dân ta phải è cổ ra trả nợ và gánh chịu tất tần tật mọi hậu quả tai hại”. Nghe khủng khiếp quá, có thật thế không, đảng TA ơi!

************************************

Entry này được tự động gửi lên từ Dân Luận, một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây hoặc ở đây hoặc ở đây.

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPressBlogspot, mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp trục trặc… Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để gửi bài viết cho Dân Luận!

Monday, August 30, 2010

Nhìn từ Nhật Bản : Phải buộc Trung Quốc đàm phán đa phương về Biển Đông

Theo RFI

Khu trục hạm Nhật Bản JS Atago trên đường về cảng Pearl Harbor (Hawaii) ngày 30/07/2010 sau cuộc tập trận RIMPAC 2010 với Hoa Kỳ và nhiều nước khác.
Khu trục hạm Nhật Bản JS Atago trên đường về cảng Pearl Harbor (Hawaii) ngày 30/07/2010 sau cuộc tập trận RIMPAC 2010 với Hoa Kỳ và nhiều nước khác.
US NAVY/N. Brett Morton
Trọng Nghĩa

Các hành động của Trung Quốc phô trương sức mạnh để khẳng định chủ quyền tại Biển Đông đã làm tình hình căng thằng và gây lo ngại nơi các láng giềng, trong đó có Nhật Bản. Trong bài xã luận ngày 18/08/2010 tựa đề “Hợp tác quốc tế quan trọng ở biển Nam Trung Hoa - Biển Đông)" (Intl cooperation vital in South China Sea), tờ báo Nhật Bản Yomiuri Shimbun, đã kêu gọi các nước có quan ngại hợp tác với nhau để buộc Trung Quốc ngồi vào bàn hội nghị đa phương nhằm giảm căng thẳng tại Biển Đông.

Yomiuri Shimbun là tờ báo lớn nhất tại Nhật Bản, rất có uy tín, với lượng phát hành hơn 10 triệu bản mỗi ngày, cho nên ý kiến được nêu lên rất đáng quan tâm. Sau đây là nguyên văn bài xã luận.

Trung Quốc đang sử dụng lực lượng hải quân hùng mạnh của mình để hung hăng tiến vào Biển Đông, đầu mối quan trọng của các tuyến đường biển quốc tế. Hoa Kỳ và các nước châu Á ngày càng cảnh giác trước động thái của Trung Quốc.

Thứ Hai 16/08/2010, trong báo cáo hàng năm cho Quốc hội, Bộ Quốc phòng Mỹ cho rằng "xu hướng hiện nay trong khả năng quân sự của Trung Quốc là một nhân tố chủ yếu làm thay đổi cán cân quân sự trong vùng Đông Á", đề cập đến các động thái của Trung Quốc tại Biển Đông.

Nhật Bản cũng không thể xem nhẹ các hành động của Trung Quốc vì lẽ 90% năng lượng và 60% lương thực của Nhật phải nhập khẩu bằng đường biển. Do vậy, chính phủ Nhật phải tăng cường hợp tác với Hoa Kỳ, Việt Nam, Ấn Độ và các nước khác có liên quan để giải quyết vấn đề.

Trung Quốc kiểm soát Biển Đông để chiếm hữu tài nguyên và ngăn chặn hải quân Mỹ

Biển Đông có hơn 200 hòn đảo và đá ngầm rải rác, bao gồm cả quần đảo Trường Sa, là sân khấu cho một số tranh chấp lãnh thổ liên quan đến Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia và các nước khác.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã gây ra hiềm khích với các nước khác khi phái chiến hạm vào khu vực trên, viện cớ bảo vệ tàu thuyền đánh cá của họ. Trung Quốc hiện đang xây dựng một căn cứ tàu ngầm lớn trên đảo Hải Nam ở vùng Biển Đông.

Một loạt hành động như trên trong thời gian gần đây có thể được hiểu là nỗ lực của Bắc Kinh nhằm đặt toàn bộ Biển Ðông dưới quyền kiểm soát của Trung Quốc, không chỉ để bảo vệ quyền lợi về dầu hỏa và tài nguyên biển của họ, mà còn vì lý do quân sự, chẳng hạn như để ngăn chặn bất kỳ hành động can thiệp nào của lực lượng Mỹ trong trường hợp khẩn cấp liên quan đến Đài Loan.

Biển Đông là nơi quốc tế sử dụng, không thuộc độc quyền của ai

Trung Quốc đã sử dụng khái niệm “quyền lợi cốt lõi" liên quan đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của họ khi đề cập đến Đài Loan và Tây Tạng. Gần đây, họ nói rằng cũng coi Biển Đông thuộc phạm vi “lợi ích cốt lõi" của họ, một động thái càng làm tăng những mối lo ngại về ý đồ có thể có của Trung Quốc đằng sau các hành động gần đây nhất.

Biển Đông là nơi đi qua của các tuyến đường biển quốc tế quan trọng, nối liền Trung Đông với Đông Bắc Á. Không một nước nào được phép độc quyền di chuyển trong khu vực. Chúng tôi mạnh mẽ yêu cầu Trung Quốc tự kiềm chế.

Việt Nam và các nước châu Á khác đang kêu gọi Trung Quốc giải quyết tranh chấp lãnh thổ thông qua thương lượng đa quốc gia. Nhưng Trung Quốc không muốn buông lỏng lập trường theo đó các nước có tranh chấp chủ quyền phải đàm phán song phương một cách riêng lẻ.

Tuy nhiên, nếu tranh chấp lãnh thổ phát triển thành xung đột quân sự, thì chiến sự sẽ ảnh hưởng đáng kể đến tất cả các nước sử dụng tuyến đường biển của khu vực.

Các nước cùng quan ngại về tình hình Biển Đông cần hợp sức kéo Trung Quốc vào bàn hội nghị

Trên cơ sở đó, sẽ là điều hợp lý khi tổ chức các cuộc đàm phán đa quốc gia giữa các nước có quyền lợi trong khu vực để thảo luận về phương cách giảm bớt căng thẳng và các biện pháp xây dựng lòng tin.

Cũng có thể là một ý tưởng tốt khi đưa vấn đề này ra xem xét tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á EAS, mà Hoa Kỳ cũng đã có kế hoạch tham gia.

Để thuyết phục Trung Quốc ngồi vào bàn đàm phán đa quốc gia, điều thiết yếu là các nước cùng chung một mối quan tâm phải hợp tác với nhau.

Chính phủ Nhật Bản đã khởi động các cuộc đối thoại về một quan hệ đối tác chiến lược với Ấn Độ vào cuối năm ngoái và với Việt Nam trong tháng qua, với sự tham gia của các giới chức có thẩm quyền trong cả ngành ngoại giao lẫn quốc phòng.

Chúng tôi yêu cầu chính phủ Nhật Bản chủ động tận dụng lợi thế của các cuộc đối thoại đó để phát huy những hành động chung nhằm giảm bớt căng thẳng ở Biển Đông.

Sunday, August 29, 2010

Việt Cộng và Trung Cộng

Việt Cộng là Việt Cộng
Trung Cộng là Trung Cộng
Phải phân định rạch ròi
Không Trung Quốc, Việt Nam

Lũ gian tà Cộng Sản
Hay nấp vào mỹ từ
Như tắc kè đổi sắc
Khi ẩn vào bụi cây

Kẻ thù luôn nham hiểm
Phải tỉnh táo mọi đường
Đã một lần sa sẩy
Mất nước bao đớn đau

Chúng vẽ thiên đường mù
Bao nhiêu kẻ lao theo
Chỉ là phường gian tặc
Đất nước họa diệt vong

Sẽ có ngày dân Việt
Vùng lên diệt bạo tàn
Đập tan phường phản trắc
Đất nước lại an vui

Đ.M. lũ chúng bay!

Phi Vũ
08/28/10