Translate

Tuesday, February 3, 2009

Cái chết của một dòng sông

Đọc bài Cái chết của một dòng sông của Đỗ Thái Nhiên, ta sẽ cảm thấy đau lòng và ngậm ngùi khi nghĩ đến nhân dân Việt Nam đang bị đè đầu cưỡi cổ bởi một nhóm người lãnh đạo đầu óc ngu muội, coi quyền lợi bản thân lớn hơn quyền lợi của tổ quốc và nhân dân.

Cái chết của một dòng sông

Nguyen Thai Hoc Organization

Đỗ Thái Nhiên


Từ hơn một thập niên qua, tại Việt Nam, dư luận quần chúng cũng như báo chí đã có những tranh cãi ồn ào về sự việc công ty Vedan ra đời năm 1991, chuyên sản xuất bột ngọt, tinh bột và các hóa chất khác… Vedan là công ty với vốn 100% của Đài Loan đã gây ô nhiễm môi trường, làm cho tôm, cá chết hàng loạt trên sông Thị Vải. Năm 1995, một cách gián tiếp nhận lỗi về phần mình, công ty Vedan chấp nhận tự nguyện đóng góp 15 tỷ đồng Việt Nam để trợ giúp những nơi xảy ra tai nạn cá tôm chết hàng loạt.

Ngày 12 tháng 09 năm 2008, công ty Vedan bị bắt quả tang là đã xả nước hóa chất phế thải chảy trực tiếp xuống sông Thị Vải. Bề ngoài công ty Vedan cho xây dựng một hệ thống giả xử lý nước thải. Dung tích của hồ chúa nước dành cho sản xuất là 60.000 thước khối. Tuy nhiên, đàng sau hệ thống giải quyết nước thải giả kia, Vedan lại bí mật thiết kế một hệ thống ngầm rất tinh vi (1) để xả thẳng nước thải độc hại xuống đáy sông Thị Vải. Trong trường hợp bị thanh tra, nhân viên Vedan chỉ cần một động tác gọn nhẹ là có thể làm cho hệ thống xử lý nước thải giả vận hành rầm rộ để dễ dàng qua mặt đoàn thanh tra. Công việc giải quyết chất thải theo đúng luật bảo vệ môi sinh rất tốn kém. Đó là lý do giải thích tại sao Vedan đã gian dối buộc sông Thị Vải mỗi ngày phải nhận khoảng 50 ngàn thước khối nước thải độc hại. Mười bốn năm qua sông Thị Vải hứng chịu hàng chục triệu thước khối chất độc. Ngày nay, hai bên bờ sông Thị Vải bốc mùi hôi thối, nước sông đen ngòm, tôm cá hoàn toàn vắng bóng. Sông Thị Vải đã chết. Tiến sĩ môi trường Nguyễn Hữu Ninh từ Hà Nội cho rằng khi xây dựng nhà máy, công ty Vedan đã khai gian ở phần đánh giá tác động của nhà máy đối với môi trường chung quanh. Đó là cốt lỏi của câu chuyện Vedan giết chết Thị Vải.

Ts. Lâm Minh Triết
Nguồn: thuonghieuviet.com
Ngày 08/10/2008 Bộ Tài Nguyên Môi Trường ra quyết định xử phạt công ty Vedan 267 triệu đồng Việt Nam tương đương với 17 ngàn mỹ Kim. Tiến sĩ Lâm Minh Triết, phó chủ tịch hội Bảo Vệ Thiên Nhiên và Môi Trường bảo rằng tiền phạt vừa nói đã được tính toán tới mức cao nhất. Mặt khác, bộ Tài Nguyên Môi Trường còn cho rằng vụ Vedan không có đủ bằng chứng cấu thành để khởi tố hình sự. Như vậy sinh mệnh của một dòng sông đi kèm với sức khẻo và quyền lợi kinh tế của nhiều triệu dân nghèo sinh sống ở ven sông Thị Vải chỉ đáng giá 17 ngàn Mỹ kim.

Ngày 02/11/2008, phóng viên Đỗ Hiếu của đài Á Châu Tự Do cho biết: Bộ Tài Nguyên và Môi Trường đã ra quyết định tạm đình chỉ hoạt động sản xuất của Vedan cho đến khi hoàn thành biện pháp xử lý nước thải theo đúng tiêu chuẩn bảo đảm an toàn về môi sinh. Thế nhưng mãi cho đến ngày 30/10/2008 Vedan vẫn chưa chấp hành nghiêm chỉnh các yêu cầu cấp thiết của Bộ Tài Nguyên Môi Trường.

Ngày 07/11/2008, Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CHXHCNVN nhấn mạnh cần phải duy trì việc sản xuất kinh doanh của Vedan để giải quyết việc làm, bảo đảm quyền lợi cho công nhân.

Ngày 19/12/2008, báo Người Lao Động ở Hà Nôi loan báo:

Người dân phải tự đi kiện để đòi công ty Vedan bồi thường thiệt hại chứ nhà nước không thể dứng ra kiện giùm. Người Lao Động còn nhấn mạnh: ai có quyền lợi bị xâm hại, chính người đó mới có quyền khởi kiện. Cơ quan nhà nước tức tỉnh Đồng Nai kiện giùm là sự việc bất bình thường.

Sự thiệt hại do Vedan gây ra cho sông Thị Vải và cho cư dân tỉnh Đồng Nai là hiển nhiên và vô cùng trầm trọng. Thế nhưng phản ứng của Hà Nội chỉ có tính chiếu lệ. Ngay cả số tiền phạt chỉ là 17.000 Mỹ kim, Vedan cũng lờ đi không nộp phạt. Những hành động bao che của CSVN dành cho Vedan được dựa vào hai lý lẽ căn bản một là Hà Nội cho rằng “ Vụ việc Vedan không có bằng chứng cấu thành để khởi tố hình sự”. Hai là Hà Nội yêu cầu người dân phải tự mình đi kiện Vedan, nhà nước CSVN không thể kiện giùm.

Mỗi quốc gia có hệ thống luật pháp riêng. Tuy nhiên thế giới có những nguyên tắc chung về luật pháp, gọi tắt là nguyên tắc pháp căn quốc tế. Đến chừng mực nào thì hành động của một người bị xem là có tính hình sự? Nguyên tắc pháp căn trả lời rằng tính hình sự được xác định bởi hai thành tố.

Thứ nhất: hành động của bị can có tính gian trá. Vedan thiết lập hai hệ thống thoát nước. Hệ thống giả chỉ dùng để dối gạt giới chức kiểm tra môi sinh. Hệ thống bí mật dùng để thường xuyên thải hóa chất độc hai vào lòng sông Thị Vải. Như vậy hành động của Vedan là một gian dối lớn. Một mưu tính rất hiểm ác.

Máy vận hành hệ thống xả nước thải lén của Công ty Vedan VN; Một đường ống xả chất thải không qua xử lý
Nguồn: baovietnam.vn/Ảnh: Cục CSMT
Thứ hai: hành động của bị can gây thiệt hai cho cá nhân hay cho xã hội. Nếu tuân thủ nguyên tắc bảo vệ môi sinh khi đào thải hóa chất, Vedan sẽ phải hao tốn tài chánh. Vì vậy Vedan quyết định bí mật giết chết sông Thị Vải, đồng thời tàn phá sức khỏe và đời sống kinh tế của hàng triệu lương dân. Đó là tất cả những thiệt hại Vedan đã gây ra cho con người và cho xã hội.

Có thể nói được rằng trên thế giới này, ngoài trừ CSVN, không ai không nhận ra tính hình sự trong vụ Vedan. Đối với những vụ án hình sự, cơ quan công tố (Viện Kiểm Sát) phải đứng khởi tố. Người bị thiệt hại chỉ đứng dân sự nguyên cáo để đòi bồi thường thiệt hại. Do đó lý luận cho rằng nhà nước CSVN không thể đi kiện Vedan giùm cho người dân hẳn nhiên là lý luận của nhà cầm quyền thiếu hẳn những hiểu biết sơ đẳng về luật pháp.

Vedan vi phạm luật hình sự, CSVN không dám truy tố. Ngược lại CSVN nhanh chóng giam tù tất cả những ngừoi đòi hỏi tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng, tự do báo chí... Mặc dầu những người này hành động ôn hòa, không hề gian dối, không hề gây thiệt hại cho xã hội. Tại sao CSVN có thái độ bên bảo vệ, bên đàn áp như vừa kể? Câu trả lời như sau.

Đài Loan là quốc gia gốc của công ty Vedan. Vedan chuyên sản xuất: bột ngọt, tinh bột nước đường, acid glutamic, hóa chất lysine (α-amino acid - DCVOnline) và các loại hóa chất khác. Sản phẩm do Vedan sản xuất được thị trường thế giới tiêu thụ rất mạnh. Tuy nhiên luật lệ bảo vệ môi sinh đòi hỏi công ty biến chế ra những sản phẩm kia phải trả một phí tổn rất cao. Nhằm giảm thiểu tối đa phí tổn bảo vệ môi sinh trên lãnh thổ Đài Loan năm 1991 Vedan khởi công xây dựng nhà máy trên khu đất diện tích 120 hecta, tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, Đông Nam Saigon. Website của Vedan Đài Loan (www.vedan.com) xác nhận:

“Hiện nay qui mô sản xuất bột ngọt và acid glutamic của công ty Vedan Việt Nam đã có thể thay thế cho Vedan Đài Loan, trở thành nhà máy sản xuất lớn nhất thế giới”.

Nói rõ hơn, thế giới có hai Vedan: Vedan chủ đóng ở Đài Loan và Vedan tớ đóng tại Việt Nam. Vedan chủ chỉ biết thu lợi nhuận. Vedan Việt Nam cung ứng cho Vedan chủ hai dịch vụ trọng yếu. Một là công nhân với tiền lương rẻ mạt đi kèm với luật cấm đình công. Hai là bãi rác chứa hóa chất độc hại. Chính vì các lợi ích to lớn vừa kể, ông chủ Đài Loan đã lên kế hoạch thiết lập thêm hai nhà máy tinh bột với qui mô lớn: một ở VeThái tỉnh Gia Lai và một ở Phước Long tỉnh Bình Phước.

Nhìn vào diễn trình bành trướng Vedan tại Việt Nam: Từ Đồng Nai qua Gia Lai đến Bình Phước, giới quan sát hiểu ngay rằng: CSVN và Vedan đang gắn bó với nhau thông qua trao đổi quyền lợi.

Một đàng là tư bản Đài Loan. Vedan có tiền vốn, có máy móc, có chuyên viên chế tạo ra sản phẩm. Vedan cần tiêu hủy rác hòa chất, nhưng không muốn trả chi phí bảo vệ môi sinh.

Đàng kia là tư bản đỏ Việt Nam. Nhờ vào bản chất của chế độ độc tài khắc nghiệt, tư bản đỏ Việt Nam có khả năng cung cấp cho Đài Loan giá lao động rẽ mạt và nhất là cung cấp cho Đài Loan quyền được tùy nghi sử dụng lãnh thổ Việt Nam làm bãi rác chứa hóa chất độc hại của Vedan. Dĩ nhiên bãi rác kiểu CSVN chỉ biết chứa rác, mọi kỹ thuật bảo vệ môi sinh đều bị CSVN dẹp bỏ. CSVN chỉ cần tiền cho thuê bãi rác.

So chiếu những cái có và những cái cần của hai đàng mọi người hiểu ngay là tại sao Đài Loan Vedan và CSVN gắn bó với nhau, tai sao CSVN chỉ phạt 17000 Mỹ Kim nhưng Đài Loan lại lờ đi, không nộp phạt, tại sao CSVN khúm núm trước Vedan , và sau cùng, tại sao dòng sông Thị Vải bị cưởng bách đi vào cõi chết.

Viết về cái chết của Thị Vải, bài viết này muốn nêu bật thực tế rằng tại Việt Nam ngày nay có rất nhiều dòng sông, rất nhiều miền đất đã chết hay sẽ chết như Thị Vải đã chết. Trên quê hương Việt Nam mỗi lần một phần lãnh thổ, một vùng biển bị mang đi triều cống Bắc Phương, hoăc một dòng sông, một vùng đất gục chết trong môi sinh khắc nghiệt là mỗi lần CSVN có cơ hội chiếm giữ thêm lợi lộc tài chánh và quyền hành. Đó là nội dung tội ác phản quốc của CSVN.



Đường dây buôn lậu


Việt Nam hiện nay có một đường dây buôn lậu quốc tế. Đọc bài sau đây được trích từ BBCVietnamese.com để thấy rõ ràng hơn.

Báo Nhật nói về đường dây buôn lậu ở VNA
Đại lý hàng không
Báo Nhật nói có cả đường dây buôn lậu hàng từ Việt Nam sang Nhật

Cựu phi công Vietnam Airlines Đặng Xuân Hợp trong khi bị bắt đã khai với cảnh sát Nhật Bản về vai trò của 'người thủ trưởng' (boss), giới thiệu cho ông việc làm ăn của đường dây phi pháp.

Báo Nhật tờ Yomiuri Shimbun công bố các chi tiết về đường dây buôn lậu của cựu phi công Hàng không Quốc gia Việt Nam, ông Đặng Xuân Hợp vào Nhật Bản.

Theo bài trên báo ngày 3/02/2009, đường dây chuyển lậu hàng từ Việt Nam vào Nhật là một phần của hệ thống mua hàng ăn cắp từ Nhật để đem ra khỏi nước này.

Bài báo nói điều tra từ 14 địa phương của Nhật cho thấy ít nhất 10 cửa tiệm tại Gunma và Hyogo mua hàng của đường dây mà ông Hợp chỉ là một mắt xích.

Cảnh sát Nhật từ năm 2006 đã điều tra những người Việt mua bán hàng ăn cắp từ các siêu thị và tiệm bán đồ của Nhật.

Nhưng nối hai đoạn của đường dây này là dịch vụ như báo Yomiuri Shimbun gọi là 'ngân hàng ngầm', để tạo điều kiện cho cả việc thu mua hàng nhập lậu và tiêu thụ hàng đánh cắp.

Bắt giữ

Nhà chức trách Nhật đã bắt 84 người liên quan.

Nhưng vụ nổi bật nhất là việc bắt phi công Vietnam Airlines Đặng Xuân Hợp, 33 tuổi và hai người khác ở Tokyo, một nam, một nữ.

Người thứ tư mà cảnh sát Nhật tin là trưởng nhóm là một phụ nữ 34 tuổi ở TP Hồ Chí Minh.

Bài báo nói Nhật Bản đã có được trát bắt người này.

Người ta cũng cho hay ông Hợp trong khi bị bắt đã khai với cảnh sát Nhật Bản về vai trò của 'người thủ trưởng' của ông ta.

Theo đó, chính người lãnh đạo ông Hợp (his boss) đã giới thiệu ông cho người phụ nữ nọ ở TPHCM.

Cựu phi công Hợp cũng khai rằng ông nhận lời chuyển hàng để 'nhận thưởng'.

Nhưng báo Nhật không nêu tên người chỉ đạo ông Hợp là ai và có phải là một quan chức của chính Vietnam Airlines hay không.

Chệnh lệch giá

Bài báo cũng giải mã việc làm ăn của đường dây phi pháp mà phi công Hợp chỉ đóng vai trò vận chuyển.

Nhờ chênh lệch giá cả hàng hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản, nhóm làm ăn đã đưa vào Nhật các mặt hàng, như gia vị phở, thức ăn từ Việt Nam, và chuyển ngược lại mỹ phẩm, đồ video v.v.

Họ dùng phi công Vietnam Airlines vì không phải khai báo hải quan chặt chẽ mà nói là chuyển 'quà' cho ai đó.

Nhưng việc làm ăn lớn tới mức từ 2006 đã lên tới nhiều triệu yên Nhật tính theo trị giá hàng đánh cắp tại Nhật để mang về Việt Nam tiêu thụ.

Phi công Hợp đã bị bắt giữ vào tháng 12/2008 do bị nghi ngờ tiếp tay chuyển hàng ăn cắp của các nhóm tội phạm người Việt hoạt động tại Nhật Bản. Phi công này sau đó đã nhận được cáo buộc chính thức vì hành vi phạm pháp vào hôm 7/01/2009.

Theo cơ quan điều tra Nhật Bản, các phi công và các tiếp viên của Vietnam Airlines thường vận chuyển các khối lượng lớn bất thường hành lý mỗi khi tới Nhật Bản.


Maida, Hoa Kỳ
Đề nghị VTV 1 và báo Hà Nội Mới (đại diện truyền thông VN, vì vừa nhận giải thưởng cao quí về truyền thông năm 2008) nên đưa tin là đường dây buôn hàng ăn cắp nầy cũng chỉ là "cá nhân" chứ không liên quan gì đến bộ mặt VN Airline và đặc biệt hơn là việc "xấu hổ cầm hộ chiếu VN khi đi ra nước ngoài"! Đây là cơ hội rất cao để quí vị nhận tiếp giải trong năm 2009!

Bad
Phi công Hợp là trường hợp xui xẻo trong ngàn trường hợp bê bối nên bị tóm. Đường dây ăn cắp buôn lậu đã hình thành từ rất lâu trong ngành hàng không dân dụng VN. Bê bối trong ngành này nổi tiếng đến nỗi người ta bảo "Ai trong ngành này mà không buôn lậu mới là lạ!".

Không những mang tiếng về những tệ nạn đáng xấu hổ trên, mà ngành này từ lâu còn mang tiếng "chúa kỳ thị"! (Không phải là người miền Bắc, hay ít ra nói giọng Bắc thì đố ai cho anh vào. Đó là sự thật 100%, không dám nói ngoa, cứ vào các sân bay thì thấy hoặc hỏi ai đã từng đi thi vào ngành này thì rõ thôi!). Ngoài ra, muốn vào ngành này còn phải có kèm "bao thư" dày hay mỏng tùy theo chức vụ béo bở nhiều hay ít (?).

Có điều người ta thắc mắc hệ thống camera giám sát ở các cửa hàng bách hóa hay siêu thị bên Nhật sao "kém" quá vậy? Bị mất cắp "ồ ạt" như thế mà bây giờ mới biết kể cũng lạ? Hay là hiện tượng ăn cắp trong siêu thị là điều quá mới mẻ và lạ lùng "được" du nhập vào Nhật mà đối với một nước văn minh như họ không hề mảy may nghĩ đến? Làm đến nơi đến chốn, truy ra cho hết bọn ăn cắp buôn lậu trong ngành hàng không là một việc rất gay go, dễ đụng

Thamnhung everywhere
Có ai đã từng chứng kiến cảnh này tại Kobe chưa: 2 người Việt nói chuyện với nhau, khi biết là người VN, tất cả hành khách Nhật đều xuống xe tại trạm gần nhất, họ sợ Vietnamese mình lắm, vì họ biết người mình ăn trộm nhưng họ lịch sự không nói ra, nhục không?

Kha, Sài Gòn
Xấu hổ, đó là từ duy nhất để nói về hành vi trộm cắp này. Việc trộm cắp của các thành phần có thế lực đã trở thành "chuyện thường ngày ở huyện" đối với quan chức có quyền tại Việt Nam. Cảnh sát điều tra Nhật Bản nếu có tên của người chỉ đạo ông Hợp, thì cũng nên nêu lên mặt báo. Vì chắc chắn rằng, nếu ở Việt Nam thì sự việc sẽ chìm xuồng.

Cám ơn báo chí Nhật Bản và BBC đã đưa tin cho dân chúng Việt Nam cùng biết. Người Nhật họ điều tra rành rành thế, mà chính quyền Việt Nam vẫn che đậy việc này. Thật sự là điều khó hiểu.

Monday, February 2, 2009

Phái toàn lưng

Ở bên Tàu có rất nhều môn phái như Thiếu Lâm, Võ Đang, Hoa Sơn, Nga Mi, Không Động v...v... Ở Việt Nam vừa mới nổi lên một môn phái mới. Ta hãy xem Phái toàn lưng qua những hình ảnh của blogger Tạ Phong Tần ở Sài Gòn, Việt Nam.
Như vậy Việt Nam cũng "tiến bộ" có khi còn 'hơn" những nước láng giềng nữa. Không biết là "đáng mừng" hay là "đáng hổ thẹn".

San Francisco với khu Little Saigon

Người Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản đi đến đâu sau một thời gian thì cũng cố gằng quần tụ lại với nhau. Cũng vì lý do đó mà khu Little Saigon mọc ở khắp nơi như để nhớ lại Hòn Ngọc Viễn Đông một thời vang bóng. Bài viết San Francisco với khu Little Saigon của Nguyễn Minh Tâm tóm lược theo San Jose Mercury News với hình ảnh của người Việt ở San Francisco ăn Tết Nguyên Đán Kỷ Sửu.

Câu vè dân gian

Ngày xưa Đảng mượn công nông
Đánh tan địa chủ, phú nông, cường hào
Ngày nay con Đảng lên cao,
Thi nhau chấm mút xâu hào thỏa thuê!

Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đườngchính thức vào IYDU, vươn đến tuổi trẻ quốc nội

medium_NVHN-090130-PhanDinhQuoc.JPG


Hình bên: Anh Phan Ðình Quốc (phải), tổng thư ký Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Ðường, bên cạnh ông John Key, thủ tướng New Zealand, tại đại hội IYDU, diễn ra từ 14 đến 18 Tháng Giêng vừa qua. (Hình: MLTTVNLÐ cung cấp)

Trung Ðỗ/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) - Trong chuyến công du về Nam California, anh Phan Ðình Quốc, tổng thư ký Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Ðường, cho báo Người Việt hay tổ chức này đã chính thức gia nhập Hội Ðồng Tổng Hội Thanh Niên Dân Chủ Quốc Tế (IYDU) và sẽ cùng tổ chức nổi tiếng này thúc đẩy chiến dịch tự do cho Việt Nam.

IYDU là tập hợp, mạng lưới, bao gồm 82 tổ chức khác nhau khắp thế giới. Kể từ 15 Tháng Giêng vừa qua, họ đã có thêm Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Ðường là thành viên thứ 81.

Thành lập năm 1983, IYDU là tổ chức quốc tế quy tụ những người trẻ từ nhiều tổ chức, hội đoàn khác nhau, với chủ trương đấu tranh cho tự do, nhân quyền.

Anh Phan Ðình Quốc cho biết: “Tại đại hội IYDU vừa mới đây, từ 14 đến 18 Tháng Giêng ở New Zealand, các thành viên đại diện thuộc các tổ chức, thành phần trẻ của 12 nước khắp thế giới, đa phần là Âu Châu, đã nghe tôi trình bày những sinh hoạt và chủ trương của Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Ðường, nêu lên thực trạng đàn áp và thiếu tự do tại Việt Nam.”

Trước nay IYDU chưa có lịch trình đấu tranh nào dành cho người dân Việt Nam. Anh Quốc cho hay hiện nay tổ chức của anh đang tiếp tục đàm phán với mạng lưới quốc tế IYDU, để trong năm 2009, sẽ cùng nhau thúc đẩy các bước đấu tranh cho dân Việt trong nước.

Ngoài ra, trong lịch trình hoạt động năm 2009, tổng thư ký Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Ðường liệt kê rằng tổ chức này sẽ tiếp tục đưa thông tin về Việt Nam, chú trọng nhất là làm sao trao tận tay giới trẻ Việt Nam những thông tin bổ ích.

“Một trong những phương cách làm việc của chúng tôi là tìm các kỹ thuật, ứng dụng mới giúp các bạn trẻ Việt Nam vượt qua được tường lửa ngăn chặn Internet của Cộng Sản Việt Nam, để thông tin giữa hải ngoại và trong nước luôn thông suốt, kịp thời,” anh Phan Ðình Quốc tiết lộ.

Năm qua, Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Ðường đã cung cấp, chia sẻ thông tin liên quan đến các vụ Thái Hà, Trường Sa-Hoàng Sa giữa các nhóm trẻ trong nước và các bạn đồng hành trên toàn thế giới, nhất là Úc Châu. Bên cạnh việc cung cấp thông tin liên tục về trong nước, MLTTVNLD cũng có tổ chức một số đợt gây quỹ giúp các nhân vật trẻ đấu tranh tại quê hương.

Ðại Hội Sinh Thanh Niên Sinh Viên Thế Giới kỳ 5 do MLTTVNLD chủ trì hồi Tháng Giêng năm qua tại Malaysia, lần đầu tiên có nhiều đại biểu từ trong nước tìm mọi cách qua dự bằng con đường du lịch. Có 10-15% đại diện tham dự đại hội tại đó là các bạn trẻ đang đấu tranh ngay dưới gọng kềm của chế độ.

Nói về điểm nổi bật của đại hội nói trên, đại diện MLTTVNLD tổng kết, “Tại đại hội 2008, giới trẻ hải ngoại lẫn trong nước đều có hoài bão chung là xây dựng một đất nước Việt Nam có tự do, nhân quyền. Hơn 30 năm xa cách nhau nhưng giữa người trong nước và đồng bào ở ngoại quốc vẫn thấy gần gũi nhau trong đường hướng đấu tranh. Ai nấy đều mong sẽ có những đại hội tiếp theo như đại hội kỳ 5 vừa qua, là kỳ họp mặt hữu ích cho đất nước lẫn giới trẻ Việt Nam.”

Anh Phan Ðình Quốc chia sẻ cảm nghĩ riêng với nhật báo Người Việt, “Rất vui vì đại hội kỳ 5 chứng tỏ giới trẻ gốc Việt ở ngoại quốc và người trẻ trong nước không có gì khác biệt. Sau đại hội nhiều bạn trẻ thuộc cả hai nhóm cho biết rất mong đến kỳ đại hội kỳ 6 để cùng gặp gỡ bàn bạc những phương cách đấu tranh mới cho quê hương.”

MLTTVNLD tổ chức đại hội toàn thế giới hai năm một lần. Năm 2003, nhật báo Người Việt là một trong các điểm dừng chân, tập trung sinh hoạt chính của đại hội tại Hoa Kỳ. (T.Ð.)


Trích Người Việt Online

Sunday, February 1, 2009

Mùa xuân và cô bé

Giọt sương đọng long lanh
Tan nhanh trong nắng ấm
Xuân như đang vẫy gọi
Lời chào mừng thiết tha

Cô bé tuổi trăng tròn
Ngây thơ và trong trắng
Tung tăng trong vườn hoa
Muôn sắc màu tươi thắm

Nụ hoa thầm thì bảo
Này cô bé kia ơi!
Hãy giữ lấy tuổi xuân
Đừng phí hoài năm tháng

Đôi bướm vàng ghé tai
Ôi cô bé xinh xinh!
Hãy cố gắng giữ lòng
Sợi tơ vương khắp lối

Cô bé vẫn ngây thơ
Hồn nhiên và trong sáng
Mùa xuân nhìn trìu mến
Sợi tơ nào vương mang?

PHP
02/01/09

Nguyễn Thanh Ty: Năm Sửu cà kê dê ngỗng về trâu!

By anlac • Jan 31st, 2009 • Category: Nguyễn Thanh Ty
Trích Người Việt Boston

Tết Kỷ Sửu năm nay, ngày Mồng Một Tết lại nhằm ngày thứ Hai, 26 tháng 01 năm 2009, vì là trâu ở xứ người nên phải đi cầy như thường chứ đâu có được như trâu ở xứ mình nằm nhà thảnh thơi nhơi cỏ ba ngày Tết như cái “thuở thanh bình” ba mươi lăm năm trước còn ở quê nhà, một quê hương miền Nam muôn ngàn yêu dấu.

Hóa ra cái kiếp trâu đi đâu, ở đâu cứ vẫn phải khổ. Có đấu tranh cách mấy cũng vẫn bị đánh trâu! Buồn thật! Sầu đời thật!

Dục phá thành sầu chi dụng tửu!
Thôi thì để phá nỗi buồn của ba ngày Tết tha phương, chúng ta hãy cùng nhau “ngày Xuân nâng chén” rồi đem cái năm Kỷ Sửu này ra tán chuyện trâu cho đỡ buồn. Biết đâu cũng có đôi điều thú vị!
Trước tiên là cái tuổi Sửu “di động”. Ngày mới qua Mỹ, bỗng dưng ai cũng tự mình đổi qua tuổi Sửu hết trơn, dù cho mình trước đó là tuổi Tý hay tuổi Dần, Ngọ, Mùi… Đi làm hùng hục một ngày 2 job, 16 tiếng đồng hồ liên tục, về đến nhà là lăn ra ngủ như chết không biết trời đất là gì. Thức dậy, ăn vội ba hột cơm, hay gói mì rồi lại hối hả đi làm. Chẳng khác gì con trâu đi cày. Được ngày nghỉ, hỏi muốn gì? - Muốn ngủ! Câu trả lời ngắn gọn, dứt khoát. Quả thật, cái xã hội thực dụng làm cho con người buộc phải quay cuồng theo nó để mà thích nghi và sinh tồn. Nếu không thì cái lũ giặc “bill” hè nhau đánh tới tấp, tối tăm mặt mũi, từ chết đến bị thương, không trốn tránh đi đâu được. Vậy chẳng phải “ô tô ma tích” đổi thành tuổi Sửu là gì?

Thế rồi chừng năm, bảy năm sau, thi đậu vào quốc tịch, trở thành công dân Mỹ, đã tậu được nhà, tậu được xe mới, trong “băng” có tí tiền “xe vin” thì lại đổi tuổi một lần nữa thành tuổi Dậu, làm con gà trống có cái đuôi cong vòng ngũ sắc, gáy vang trời.

Lúc này hăm hăm hở hở xênh xang áo gấm chuẩn bị về làng.

Cầu trời cho mấy con gà trống này đừng có dại mà nghe lời con cáo trong truyện ngụ ngôn của ông Tây Cà lồ Lã phụng Tiên, nhắm mắt lại mà gáy.

Con cáo của ông Lã phụng Tiện đem miếng phó mát ra dụ xem ra ít nguy hiểm. Còn con cáo của ông Hồ thì đem chùm khế ngọt với “em bé chân dài” ra dụ thì đáng sợ hơn nhiều. Nó rất “ép phê” đối với mấy con gà trống mới mọc lông đuôi, gọi là giầu nẫy, xưa nay chưa hưởng mùi đời, nên khi nghe con cáo Hồ ca bài ca con cá ngọt như đường phèn thì hai mắt cứ nhắm tít lại mà gáy. Lúc con cáo Hồ nhảy lên nhe hai hàm răng chơm chởm, nhọn hoắc ngoặm vào cổ, lúc đó mới mở mắt ra thì ô hô! ai tai! việc đã rồi.

Đó là chuyện giả tỉ thôi. Thực ra người Việt tị nạn cộng sản đã bỏ của chạy lấy người, mười phần cầm chắc chết hết chín thì không ai dại mậu gì mà nghe lời dụ dỗ của bầy cáo đã thành hồ ly tinh mà bị mắc bẫy một lần nữa.

Có chăng là chỉ mấy anh chị “Vịt kìu” yêu nước ham danh, ham lợi, kéo nhau về nhận bằng khen, nhận khăn quàng đỏ để rồi bị ngoạm cổ không kêu lên được một tiếng.
Cũng là đáng đời và đáng với cái giá phải trả cho sự tham lam và ngờ nghệch.

Bây giờ chúng ta hãy cùng nhau cà kê dê ngỗng về chuyện trâu để uống rượu thưởng Xuân chơi, cho nó dzui dzẻ cái cuộc đời!

Địa danh Trâu

Từ cái thời Đông Chu, ông Khổng Khâu người nước Lỗ, tức Đức Vạn thế sư biểu Khổng tử còn dẫn học trò đi lang thang khắp nơi để truyền bá tư tưởng thì đã đi qua nhiều nước trong đó có nước Trâu, nước Quắc, nước Đồ…

Ngày nay tra cứu không còn biết các nước đó nằm ở đâu trên cái xứ Trung Hoa rộng mênh mông.
Trong binh thư của Tôn Vũ tử có ghi chép mưu kế “Dĩ Đồ diệt Quắc” nghĩa là giả vờ mượn đường của nước Đồ để diệt nước Quắc. Khi quân binh lọt được vào nước Đồ rồi thì trở mặt cướp luôn nước Đồ. Tích này nhắc lại hai địa danh Quắc và Đồ, không thấy sách nào nhắc đến nước Trâu cả.
Đất nước Trung Hoa rộng vậy mà bọn vua chúa Tàu vẫn cứ còn tham, luôn có ý đồ xâm chiếm nước khác. Chúng đã chiếm một phần đất, mười mấy ngàn thước vuông sát biên giới và mấy quần đảo ngoài khơi của Việt Nam rồi, mà cái bọn cầm quyền Việt Nam hiện tại cứ ngậm miệng êm ru bà rù, lại còn cấm cản và bắt bớ tất cả những ai lên tiếng hay biểu tình chống đối sự xâm chiếm ấy. Người dân trong nước có ý ngờ rằng hình như bọn cầm quyền đã có ý đồng lõa bán, nhượng lãnh thổ cho giặc.
Ở Việt Nam, Hồ Tây, một thắng cảnh của Hà Nội, trước khi mang tên Dâm Đàm (hồ mù sương) ở thời Lý, Đoái hồ, Tây hồ dưới thời Lê, đã từng mang tên là hồ Trâu, hồ Trâu vàng. Một câu thơ cổ còn nhắc nhở:

Ngưu hồ dĩ biến tam triều cục
Long đỗ nhưng lưu bách chiến thành
(Hồ Trâu đã trãi ba triều đại
Thành (bách) chiến còn lưu đất Rốn Rồng)

Họ Trâu

Cái họ Trâu này người Việt chắc không ai có. Ngày xưa ở bên Tàu, cũng thời Đông Chu, chỉ có một người duy nhất. Đó là Trâu Kỵ. Ngoài ra xưa nay chưa nghe nói tới người thứ hai. Con cháu ông này cũng không thấy sách vở Tàu nói tới. Chuyện ông Trâu Kỵ này cũng lý thú lắm. Xin chép lại đây để làm mồi uống thêm đôi ba ly nữa cũng đậm đà. Truyện như sau:
“ Tề Uy vương từ khi lên làm vua, say đắm tửu sắc, lại ham mê âm nhạc, không nghĩ gì đế quốc chánh. Trong khoảng 9 năm, các nước Hàn, Ngụy, Lỗ, Triệu đều đem quân đến đánh. Quân Tề thua luôn. Một hôm có người thư sinh, xin vào yết kiến tự xưng họ là Trâu tên Kỵ, có biết gẩy đàn cầm, nghe nói vua Tề thích âm nhạc nên tìm đến. Tề Uy vương cho mời đến và đưa cho cây đàn cầm. Trâu Kỵ lên dây đàn mà không gẩy.

Uy vương hỏi:
- Tiên sinh đã là người khéo gẩy đàn cầm thì nên cho ta nghe một bài. Nay tiên sinh lên dây mà không gẩy dễ thường cây đàn không được tốt hay là chê ta không biết nghe đàn chăng?
Trâu Kỵ đặt cây đàn xuống rồi nghiêm nét mặt, đáp rằng:

- Tôi biết là biết cầm lý, còn như tiếng chỉ, đường tơ là của bọn nhạc công, tôi dẫu biết cũng không đáng gẩy hầu đại vương làm gì.
Uy vương nói:
- Cầm lý thế nào? Xin tiên sinh cho nghe!

Trâu Kỵ nói:
- Cầm tức là cấm, tức là cấm chỉ những sự dâm tà thì mới giữ được chính đạo. Vua Phục Hi đời xưa chế ra đàn cầm có năm dây. Dây lớn là vua, dây nhỏ là bề tôi. Đến đời Văn vương, Vũ vương mỗi ngài lại thêm một dây nữa, để hợp cái tình ý vua tôi. Xem thế đủ biết rằng vua tôi có tương đắc nhau thì chính lệnh mới hòa hợp, cái đạo trị nước chẳng qua như thế mà thôi.

Uy vương nói:
- Tiên sinh nói phải lắm! Nhưng tiên sinh đã biết cầm lý thì tất biết cầm âm, xin tiên sinh hãy gẩy chơi một khúc

Trâu Kỵ nói:
- Tôi học nghề đàn thì phải biết cái phép chơi đàn. Đại vương lo việc nước, há lại không biết cái đạo trị nước hay sao? Nay đại vương bỏ nước mà không trị có khác gì tôi ôm đàn mà không gẩy hay không? Tôi ôm đàn mà không gẩy thì đại vương không được thỏa lòng, thế thì đại vương bỏ nước mà không trị, chắc là muôn dân không được thỏa lòng vậy.

Uy vương ngạc nhiên nói rằng:
- Thế là tiên sinh mượn cây đàn cầm để can ta đó. Ta hiểu rồi.
Uy vương mời Trâu Kỵ lưu lại ở hữu thất. Ngày hôm sau, Tề Uy vương tắm gội sạch sẽ rồi triệu Trâu Kỵ vào bàn việc nước. Trâu Kỵ khuyên Tề Uy vương tiết bớt những sự tửu sắc, tin dùng người trung lương, trừ bỏ đứa gian nịnh, sai luyện tập binh mã. Tề Uy vương bằng lòng lắm. Tức khắc cho Trâu Kỵ làm tướng quốc. (Thủ tướng). Nhờ có tài của Trâu Kỵ mà nước Tề trở nên bá chủ. Các nước Sở, Ngụy, Hàn, Triệu, Yên đều chịu kém và hàng phục không còn dám đem quân xâm chiếm bờ cõi nữa.

Con trâu với nhà nông.

Việt Nam là nước nông nghiệp. Chín chục phần trăm người dân sống nhờ ruộng đồng. Con trâu là bạn thân thiết của nông dân. Thuở nhỏ học tiểu học, ai ai mà chẳng thuộc lòng bài học thuộc lòng: Trâu ơi!

Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây, trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ ngọn lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

Hoặc là:

Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cày, vợ cấy con trâu đi bừa

Hay gần gủi, thân thương như trai với gái như một câu thành ngữ của người Thái:

Nhinh chăm trai, quai nhăm cả
(Gái gần trai, trâu gần mạ)

Trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà.

Thuở xưa cái cảnh êm đềm giữa người và trâu giúp đỡ nhau trong công việc đồng án là vậy. Nhưng kể từ ngày “Bác Hồ” cõng rắn Cộng sản vào cắn gà nhà với chính sách “Cải cách ruộng đất” rồi tiến tới Hợp tác xã thì nhân dân miền Bắc đói khổ triền miên. Cái cảnh cha chung không ai khóc, gọi là “làm chủ tập thể”, người dân trắng tay, ruộng tư hữu của mình bỗng dưng bị trưng thu làm của chung nên chẳng ai tha thiết gì công việc một nắng hai sương trên đồng ruộng. Do đó, hồi xưa ruộng tư hữu, trồng lau ra lúa, bây giờ Hợp tác xã, trồng lúa lại ra lau, là do chẳng ai buồn làm cỏ lúa.
Vừa mất mùa do thiên tai, vừa mất mùa trên sân phơi. Người dân đói quá bèn làm ca dao để lâu lâu nhai lưỡi nuốt nước miếng cho đỡ đói:

Hợp tác rồi lại hợp te,
Không còn miếng vải để che “Bác Hồ”

Khi cưỡng chiếm được miền Nam, việc đầu tiên của kẻ thắng trận là cướp lấy hết máy cầy của dân chúng đồng bằng sông Cửu Long chở về Bắc, tuyên truyền rằng “dùng chiến lợi phẩm của địch để công nghiệp hóa nông thôn ta”. Rồi đặt tên cho máy cầy miền Nam là “Trâu đỏ” có lẽ vì màu sơn đỏ hay cái gì vào tay cộng sản phải đỏ như máu mới gọi là cách mạng chăng?
Khổ nỗi, máy cầy thì chất đống ở ngoài trời thi gan cùng mưa nắng ngày này qua tháng nọ, không ai biết xử dụng con trâu đỏ cày bừa ra làm sao. Phải năn nỉ mấy ông nông dân “ngụy” dạy cho biết cách điều khiển. Học xong rồi, cán bộ ta về Bắc lái máy cầy cứ vênh mặt lên trời, trổ mòi “cách mạng chuyên chính”. Hợp tác xã nào chịu đút lót thì mới chịu đến cầy, nơi nào không của đút thì đồng ruộng ta cứ nằm đó … chờ cho đến hết thời vụ.
Nông thôn miền Bắc lại xãy ra cảnh: Trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà”.
Khi nào trâu đỏ được ăn gà thì máy mới chạy được. Dầu cặn, dầu nhớt trâu đỏ ăn thiếu dinh dưỡng máy không chịu chạy.
Chỉ mấy năm sau, máy móc hỏng hóc, không ai biết sửa, không có phụ tùng thay thế, trâu đỏ biến thành đống sắt vụn bán đồng nát. Cốt khỉ vẫn hoàn cốt khỉ. Hợp tác xã thành tan tác xã. Nhà nước ta xấu hổ nhưng không dám công nhận đành len lén nhắm mắt cho “khoán chui”, tức là cho nông dân làm ruộng lại y như cũ. Rõ là “mèo lại hoàn mèo”.

Huyền thoại Trâu vàng và nguồn gốc dùng trâu cầy ruộng.

Hồ Trâu và dòng sông Kim Ngưu, một nhánh sông Tô chảy bao quanh phía Nam Hà Nội, từ Tây sang Đông, còn gợi lại một huyền tích của thời kỳ thần thoại Việt Nam:

Ở vùng đầm lầy chân núi Tiên Du (Bắc Ninh) có con trâu vàng náu mình. Một pháp sư dùng tích trượng yểm lên trán trâu. Trâu lồng chạy xuống phía nam, quần nát cả một vùng Khoái Châu lầy lội, vùng ấy sau gọi là Vũng trâu đầm. Chưa hết cơn giận giữ, trâu lại bơi qua sông Cái rồi chạy ngược lên phía bắc, đường do vết chân trâu dẫm lún thành sông Kim Ngưu. Rồi trâu chạy vòng vo làm sụt cả một vùng thành đầm hồ và ẩn kín dưới nơi ấy. Đó là hồ Trâu Vàng.

Những chỗ trâu quậy nát mọc lên một loài lúa dại. Người dân hái lúa dại để làm thực phẩm rồi dần tiến tới việc trồng lúa. Ban đầu, người dân chưa biết cách cầy bừa. Mãi đến khi thái thú Sĩ Nhiếp đem kỹ thuật làm cày, bừa và cách dùng trâu để vỡ đất, cày ruông dạy cho dân, lúc đó việc canh tác mới phát triễn rộng rãi.

Lúc đầu người dân sử dụng trâu vào việc dẫm nát cỏ, sục bùn trong ruộng để sửa soạn đất đai trồng lúa. Lề lối canh tác này sách cổ gọi là “thủy nậu”. Lối làm ruộng này kéo dài cho đến trước và sau cái gọi là Cách mạng mùa Thu vẫn còn phổ biến trong các thung lũng Thái, Mường miền Tây Bắc.

Chuyện ngụ ngôn: Cái khôn mày để ở đâu?

Câu chuyện này, người viết học từ cái thời còn để chỏm, lớp ba trường làng, cách đây hơn 60 năm nên quên gần hết nguyên bản, chỉ nhớ lỏm bỏm đại ý câu chuyện, vậy xin được kể theo cách viết hình sự của báo Công An Nhân Dân trong nước, như sau:

Cái thuở đất trời còn nguyên thủy cộng sản, người và vật sống chung hài hòa với nhau trong thế giới đại đồng, làm tùy sức, ăn tiêu tùy cầu, chẳng ai có máu lạnh hay khát máu. Duy chỉ trong cánh rừng kia có con cọp ỷ mình mạnh bạo, thường hay hiếp đáp kẻ yếu, làm điều xằng bậy, nên tự xưng là Hổ Mạnh Đại Vương, thỉnh thoảng mò ra làng trộm chó, bắt trâu ăn thịt, dân làng đã kịch liệt phản đối nhiều lần. Đại Vương Hổ Mạnh lần nào cũng đem luật rừng xanh có 4 điều ghi chép ra thề thốt, hứa hưu, hứa nai, xin khắc phục, nghiêm khắc kiểm điểm và rút kinh nghiệm. Nhưng chứng nào vẫn tật ấy.
Cạnh bìa rừng có một lực điền trai trẻ tên là Tấn Lực sống cùng với con trâu khoẻ mạnh, dễ bảo. Anh Lực đặt tên nó là Doãn. Mỗi lần đánh trâu ra ruộng, anh chỉ vỗ nhẹ lên đầu nó và nói: “Doãn ơi! Ta bảo Doãn này!” là trâu vâng lời anh Lực một cách ngoan ngoãn nên anh Lực chẳng cần dùng đến roi mây bao giờ. Trâu Doãn có đặc tính là luôn luôn đi lề bên phải. Có lúc anh Lực lơ đảng ngó lên trời xanh, lắng tai nghe chim họa mi hót trên đầu, quên bẵng việc lái lưỡi cày mà trâu Doãn cũng cứ theo quán tính “lề bên phải” mà đi đúng luật, nên đường cầy cứ thẳng băng y như ông sĩ phu họ Hà nhắm mắt “dắt tay nhau đi dưới tấm bảng chỉ đường…” vậy.

Một hôm, anh Lực cùng trâu Doãn đang mãi mê cầy ruộng nên không để ý đến Đại vương Hổ Mạnh đã ngồi rình trên bờ ruộng từ lâu. Khi cầy ngang qua chổ Đại vương Hổ Mạnh ngồi, trâu Doãn nhe răng ra cười cầu tài với Hổ Mạnh. Hổ Mạnh cất tiếng hỏi:

- Này đồng chí Doãn! Đồng chí to xác khoẻ mạnh như thế kia cớ sao lại cứ sợ thằng người nhỏ bé như thế? Tại sao cứ để cho nó bóc lột sức lao động của mình mà không chịu vùng lên theo cách mạng để cướp lại quyền làm chủ tập thể của mình hử?

Trâu Doãn lại nhe hàm răng trắng nhỡn lớn quá khổ ra cười cười trả lời rằng:
- Báo cáo đồng chí Đại vương nắm! Thằng người tuy nhỏ mà nó có trí khôn!
- Trí khôn là cái gì vậy, đồng chí Doãn!
- Hãy hỏi thằng người thì khắc biết.
Đại vương Hổ Mạnh tò mò muốn biết trí khôn là cái củ gì mà thằng người lại có thể sai khiến được con vật to lớn hơn nó đến mấy lần mà không cần đến điều 4 luật rừng xanh và móng vuốt sắc bén của mình nên quay sang hỏi nông dân Tấn Lực:
- Này thằng nông dân kia! Cái khôn của mày để ở đâu đưa cho tao coi thử!
- Thưa Đại vương, trí khôn tôi để ở nhà! Anh Lực trả lời.
- Vậy hãy về nhà lấy ra đây cho ta xem mau!
- Tôi về, ở đây Đại vương ăn thịt con trâu của tôi sao?
- Ta xin thề trên điều 4 là không ăn thịt con trâu của ngươi!
- Xin lỗi Đại vương nghe! Đại vượng thề nhiều lần quá nên lời thề hết linh rồi!
- Vậy, mày muốn ta làm sao để cho mầy tin?
- Nếu Đại vương chịu để cho tôi trói vào gốc cây kia tôi mới yên tâm về nhà.
- Được! Mầy cứ trói ta lại.
Sau khi trói chắc Hổ Mạnh vào gốc cây trên bờ ruộng xong, Tấn Lực xuống ruộng tháo quải ra cho trâu Doãn đi ăn cỏ, anh lấy cái bắp cầy đến quất túi bụi vào lưng Hổ Mạnh. Vừa quất, anh vừa quát:
- Trí khôn của tao đây này!
Đại vương Hổ Mạnh đau đớn vô cùng, vừa khóc vừa van xin tha mạng rối rít.

Người viết không nhớ đoạn kết anh Lực này đánh chết Hổ Mạnh hay vì lòng nhân đạo mà tha cho Hổ Mạnh về rừng. Nhưng sau gần một thế kỷ, người viết đoán chừng rằng, có lẽ anh Lực vì lòng nhân (đàn bà) đã tha cho Hổ Mạnh nên con cháu đời sau mới bị cái hậu quả khôn lường “thả hổ về rừng”, khiến cho 80 triệu dân phải điêu linh đồ thán vì nạn hổ vồ.

Công lao của trâu.

Trong truyện “Lục súc tranh công” của tác giả “Vô danh”, trâu đã kể công như sau:
Trâu mỏi nhọc trâu liền năn nỉ
“Một mình trâu ghe nỗi gian nan
Lóng canh gà vừa mới gáy tan
Chủ đã gọi thằng chăn vội vã
Dạy rằng: đuổi trâu ra thảo dã
Cho nó ăn ba miếng đỡ lòng
Chưa bao lâu thoắt đã rạng đông
Vừa đến buổi cày bừa bua việc
Trước cổ đã mang hai cái niệt
Sau đuôi thêm kéo một cái cầy
Miệng đã dàm, mũi lại dòng dây
Trên lưng ruồi bâu, dưới chân đĩa cắn…

Làm không kịp thở
Ăn không kịp nhai
Tắm mưa trãi gió chi nài
Đạp tuyết dày sương chi sá…

Từ đồng cạn đến đồng sâu, trâu bao thầu hết mọi việc cày bừa. Đến mùa gặt, xe trâu lại lo chuyên chở lúa về nhà. Hết vụ mùa, trâu lên rừng kéo gỗ, kéo củi, kéo tranh tre lá về cất nhà, cất trại…Quả thật thân trâu vất vả một đời chẳng có lúc nghỉ ngơi, làm quần quật cho đến ngày sức tàn, lực mỏi. Rồi bị đem đi xẻ thịt.
Về công trận, trâu ngày xưa được xử dụng như đoàn chiến xa bây giờ. Trâu được buộc gươm nhọn trên sừng và cho uống rượu say sau đó lùa xô vào húc, chém phá đội hình quân địch. Trâu cũng dùng trong trận hỏa công bằng cách buộc mồi lửa sau đuôi rồi lùa vào dinh trại của giặc.
Trong thời Chiến quốc bên Tàu, quân Yên đã hạ hơn 70 thành của Tề, chỉ còn sót lại mỗi thành Cừ Tức Mặc. Tướng nước Yên là Điền Đan dùng mưu bắt 1000 con trâu đực khỏe mạnh, mình khoác áo đỏ vẻ nhiều màu sặc sỡ, sừng buộc gươm nhọn sắc. Đuôi buộc sẵn một bó cỏ khô tẩm dầu. Khi xuất trận quân Tề xua đàn trâu đi trước rồi đốt những bó cỏ khô buộc đuôi. Trâu bị nóng cuống cuồng chạy xông vào trận địch, khiến quân Yên hoảng sợ, rối loạn hàng ngũ, hoảng loạn xéo lên nhau mà chạy, chết rất nhiều. Thừa thắng Điền Đan chiếm lại được những thành trì đã mất.
Tác giả Khuyết danh có làm bài thơ nhắc đến tích này:

Con trâu già
Một nắm xương khô một nắm da
Bao nhiêu cái ách đã từng qua
Đuôi kia biếng vẫy Điền Đan hỏa
Tai nọ buồn nghe Ninh tử ca
Sớm thả đồng đào ăn đủng đỉnh
Tối về chuồng quế thở nghi nga
Có người đem dắt tô chuông mới
Ơn đức vua Tề lại được tha.

Bài thơ có nhắc thêm mấy sự tích như Ninh tử tức Ninh Thích lúc chưa gặp thời, đi chăn trâu thường nghêu ngao gõ sừng trâu mà ca lên chí lớn của mình. Sau gặp được vua Tề Hoàn công biết đến và trọng dụng. Sự tích tô chuông, ngày xưa khi đúc xong một quả chuông thì phải giết một con trâu làm lễ Hấn Chung tức Bôi Chuông. Lấy máu trâu bôi vào chuông, tiếng chuông đánh lên mới ngân nga và vang xa. Bài thơ trên nhắc đến việc vua Tề Tuyên công thấy người ta dắt trâu đi để giết lấy máu tô chuông, liền tỏ lòng thương và ra lệnh tha cho con trâu này khỏi bị giết.
Trong Việt sử có ghi chép chuyện Đinh Bộ Lĩnh cùng trẻ mục đồng cưỡi trâu tập trận trong thung lũng Hoa Lư. Lê Đại Hành lùa trâu cùng quân sĩ dàn dày đặc ở bờ sông Hoàng Long để chào đón và dọa dẫm tinh thần sứ thần nhà Tống.

Công dụng của trâu

Trâu là con vật rất quí đối với nhà nông nên ít ai đem ngã thịt để làm thức ăn, trừ khi trâu đã già yếu, mắt mờ, chân chậm, chưa ra sức đã “thở hồng hộc như… trâu” thì mới đành lòng đem đi mổ.
Thịt trâu màu hơi tái, không thơm ngon bằng thịt bò nhưng có vị mát rất tốt cho những người vượng hỏa. Da trâu dùng bịt trống. Bong bóng trâu sau khi tẩy mùi dùng làm bình đựng nước hay rượu rất tốt trong việc đi xa. Xương trâu dùng để nấu…xì dầu.

Sừng trâu có thể làm tù và và các vật trang sức như lược, hoa tai, tiện con cờ, mõ, cái hộp, tỉa cán quạt, cán dao.

Sừng trâu cũng có thể thay sừng tê giác làm thuốc. Hiện nay tê giác là loài động vật quí hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng, đã đưa vào danh sách đỏ và cấm săn bắt. Y học hiện đại đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng chữa bệnh của sừng trâu và kết quả cho thấy sừng trâu và sừng tê giác thành phần các chất hữu cơ và vô cơ tương đồng. Theo Đông y, sừng trâu vị đắng có tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc lương huyết dùng chữa ôn bệnh sốt cao, hôn mê nói nhảm, kinh phong điên cuồng, các chứng xuất huyết như thổ huyết, nục huyết, ban xuất huyết…

Cũng vì sự quí hiếm của sừng tê giác nhất là đặc tính kỳ lạ của nó, người ta đồn nhau rằng con tê giác có khả năng giao cấu từ 2 đến 4 giờ đồng hồ và khả năng ấy đều dồn lên cái sừng của nó. Một ít bột mài từ sừng của nó cũng đủ khiến cho người nhược dương trở thành người đàn ông phi trường trong việc “phòng sự”, Viagra phải chào thua!

Giá một ký sừng tê giác giao động từ 50.000USD đến 20.000USD.
Các đại gia kháo nhau “ lúc trẻ bỏ sức kiếm tiền về già dùng tiền mua sức”, để vớt vát lại tuổi thanh xuân, các đại gia đua nhau lùng mua “thần dược” này để dùng cho bản thân và dành để chiêu đãi các quan lớn trong triều.

Chính vì vậy mà các ông bà trong các tòa đại sứ của Nhà nước ta ở Nam Phi ham làm giàu mau chóng bằng cách buôn lậu sừng tê giác mang về nước bán cho các quan lớn. Vừa mới đây, bà Vũ mộc Anh, Bí thư Thứ Nhất tại Nam phi bị bắt quả tang lúc mua bán sừng tê giác ngay trước Tòa đại sứ mới gọi là gan cóc tía coi pháp luật Nam Phi không ra cái thá gì. Khi bị giới truyền thông Nam Phi lên tiếng chỉ trích, bà Mộc Anh liền thi thố ngón võ gia truyền của bà Thúy Thanh và ông Lê Dũng là dài lưỡi ra chối lia, chối lịa rằng thì là em chả. Và luôn thề rằng: “Em mà có buôn lậu thì cho Bác Nông vật ngữa em ra đi! Mỗi tháng em bị hộc máu một lần!”. Cả một đống người trong tòa đại sứ cũng hùa nhau chối phăng, chối phắt rằng nhân viên chúng tôi đã được học tập rất kỹ đạo đức của “Bác” là thật thà, dũng cảm, không bao giờ làm chuyện xấu hổ nhục nhã như thế đâu. Đề nghị các ông chớ hồ đồ loan tin “trước khi mọi việc được điều tra rõ” mà làm mất đi sự hợp tác thân thiện đẹp đẽ của hai nước.
Đến khi truyền hình Nam phi chiếu trên ti vi cái mặt bèn bẹt của bà Mộc Anh hai năm rõ mười thì, theo tờ Tuổi Trẻ tường thuật, Ông đại sứ CSViệt Nam mới “lấy làm hối tiếc” dù “đã nhắc nhở nhiều lần” nhưng “vẫn xãy ra” và cho rằng hành vi của bà Mộc Anh là “hám lợi”. Về phần bà Mộc Anh thì cứ cương quyết không chịu nhận mình là buôn lậu và không chịu viết bản kiểm điểm nhận tội, cứ một mực nói là chỉ cầm dùm cho “người khác” thôi. Đến đây thì báo Tuổi Trẻ không dám nói rõ “người khác” đó là ai mà có quyền to có thể sai khiến bà Mộc Anh Bí thư Thứ nhất của Tòa đại sứ cầm dùm?

Cái gương bị mất chức và đi tù của PV Chiến cứ lù lù trước mặt.

Đây không phải là lần đầu nhân viên toà đại sứ CSVN bị bắt. Hai năm trước một nhân viên thương mại của toà đại sứ CSVN tên là Khánh Toàn cũng bị bắt về vụ buôn lậu sừng tê giác và bị “xử lý”.
Hiện nay bà Mộc Anh đã bị triệu hồi về nước để điều tra làm rõ để tìm cách… ngừa đẻ.
Thật là đẹp mặt cho cái chế độ ưu việt.

Con trâu trong ca dao tục ngữ

Trong hàng gia súc, có lẽ con trâu là được người nông dân thương yêu trìu mến nhất, ngay cả loài chó vốn được yêu quí vì đức tính trung thành cũng chưa được bằng. Trâu được nhắc nhở nhiều qua ca dao, thành ngữ.

Trong cách chọn lựa mua trâu phải chọn loại: Sừng cánh ná, dạ bình vôi, mắt ốc nhồi, Mồm gàu dai, tai lá mít, đít lồng bàn.

Và nên tránh những con: Xa rừng mắt lại nhỏ con, Vụng đàn chậm chạp ai còn mua chi
Áp dụng trong đời sống hàng ngày: Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi - Muốn giàu nuôi trâu cái, muốn lụn bại nuôi chim bồ câu – Trâu năm sáu tuổi còn nhanh, Bò năm sáu tuổi đã tranh cõi già. – Trâu quá sá (quá tuổi) mạ quá thì – Trâu trắng đi đâu, mất mùa đến đấy. – Trâu he (gầy) cũng bằng bò khỏe. - Con trâu là đầu cơ nghiệp - Tậu trâu, lấy vợ cất nhà, trong ba việc ấy thật là khó thay…
Có những thành ngữ dùng trâu để ám chỉ về người như: Trâu chậm uống nước đục dùng để chế diễu những người chậm chạp nên thường bị thiệt thòi. Những người hiềm khích hay ghen ghét nhau thì có câu trâu cột ghét trâu ăn. Câu trâu lấm vấy quanh dành để chỉ những người làm sai nhưng hay đổ lỗi cho người khác. Những ai hay mơ làm chuyện hảo thì bị chế diễu là dắt trâu qua ống. Ngày xưa mấy anh lái trâu ưa có thói lường gạt theo kiểu mua trâu vẻ bóng. Vì vậy, cảnh mẹ chồng nàng dâu luôn xích mích thì câu thật thà như thể lái trâu, thương nhau như thể nàng dâu mẹ chồng thiệt thích hợp.

Ca dao tục ngữ về con trâu rất nhiều kể không xuể. Chừng nào hết cảnh trâu tìm cột chứ có bao giờ cột lại tìm trâu thì lúc ấy họa may dân gian mới hết nói về trâu.

Một chuyện tiếu lâm về trâu

Để độc giả xả hơi, thư giãn đôi chút vì từ nãy tới giờ theo dõi ba cái chuyện khô khan nhức đầu, người viết xin kể một chuyện tiếu lâm dân gian nơi chốn đồng quê có con trâu đi cầy để quí vị nghe chơi cho vui tí chút.

Một hôm nọ, anh sui trai góa vợ băng đồng sang làng kế cạnh để thăm đứa con gái đang làm dâu cho bà sui cũng đang góa chồng. Nhằm lúc hai vợ chồng đứa con còn đang ở ngoài đồng cấy lúa chưa về, bà sui đem rượu ra mời anh sui vừa nhâm nhi vừa nói chuyện để chờ bọn trẻ về rồi ăn cơm luôn thể.
Hai anh chị sui nói chuyện râm ran hồi lâu, tâm tình coi bộ vui vẻ lắm. Bỗng chị sui cao hứng đố anh sui:

- Nè anh sui! Đang lúc vui tui đố anh một câu để anh đoán thử nó là cái gì nghen!
- Ừa! Chị cứ đố để tui ráng đoán để trả lời chị. Anh sui cũng vui vẻ đáp lại.
- Vậy chớ đố anh, cái gì bằng bàn tay, xung quanh có lông, chính giữa có cái lỗ. Chị sui vừa nói vừa ra điệu bộ, dơ bàn tay khum khum, dứ dứ trước mặt anh sui. Anh sui nghe thấy vậy mới miệng cười chúm chím, trong bụng nghĩ thầm:
- Chà! Đố cái điệu này chắc chị sui có ý thả câu thòng mở đường sẵn cho mình trổ mòi “dê” đây.
Nghĩ xong, anh sui tằng hắng một cái để lấy giọng, rồi nói:
- Tui biết ý chị muốn đố cái gì rùi. Nhưng trước khi trả lời câu đố của chị, tui đố lại một câu trước đã, chị chịu hôn?
- Cũng được, anh đố đại đi.
- Ừa hén, chị nghe đây. Đố chị cái gì bằng cườm tay, nằm ngay cái của chị.
Anh sui cũng vừa đố vừa ra điệu bộ như chị sui lúc nãy. Anh đưa cánh tay mặt lên rồi co lại hình thước thợ, dứ dứ về phía chị sui. Miệng thì cười cười ra vẻ đắc ý. Không ngờ nghe xong, chị sui nổi giận đùng đùng, mắng như tát nước vô mặt:
- Nè anh sui! Tui tưởng anh là người đứng đắn đàng hoàng tui mới đố giởn với anh cho vui. Dè đâu anh là người mất nết, ba trợn, anh lại ăn nói bậy bạ với tui như vậy. Anh có muốn ăn chổi chà lên đầu không?

Anh sui đang hí hửng trong bụng dè đâu bị bà sui trở mặt mắng nhiếc tàn tê như vậy, đưa tay bợ miệng không kịp, mặt mày xụi lơ, cố chống chế mà không biết nói năng ra sao. Đúng lúc ông Lý trưởng trong làng đi ngang qua nghe hai người đang lớn tiếng bèn ghe vô coi thử chuyện gì. Được dịp, bà sui nhờ ông Lý phân xử dùm ai phải, ai quấy. Hai người theo ông Lý trưởng về đình làng để xử kiện.
Khi yên vị, Lý trưởng kêu bà sui kể lại đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong, ông Lý cũng tức cười, bèn hỏi:
- Vậy chớ cái mà bà đố ông ấy là cái gì?
- Dạ thưa nó là cái lỗ tai trâu!
- À há! Phải! Bằng cái bàn tay, xung quanh có lông, chính giữa có lỗ. Đúng là cái lỗ tai trâu. Ông Lý gật gù thích chí, quay sang hỏi anh sui:
- Còn anh kia! Cái anh đố nó là cái gì?
- Dạ thưa ông Lý, cái tui đố là cái sừng trâu ạ.
- Phải! Phải! Bằng cái cườm tay, nằm ngay cái của chị! Đúng là cái sừng trâu rồi chứ là cái gì nữa mà chị lại đi thưa ảnh? Thôi, tui xử huề. Hai người làm hòa với nhau, về nhà đi. Lấy câu “dĩ hoà vi quí” cho nó vui vẻ , đừng để mất tình sui gia.
Chi sui có vẻ chưa bằng lòng, vùng vằng bỏ đi te te một nước. Anh sui lật đật chạy theo, vừa thở hổn hển vừa gọi với:
- Chị sui ơi! Chờ tui với! Cám ơn chị nghen! Cám ơn chị lắm lắm!
Chị sui quay lại sắc mặt hãy còn giận, nói lẫy:
- Anh ngon rùi mà! Còn bày đặt nói mỉa, cám ơn tui làm chi cho má nó khi.
- Không phải như vậy đâu chị sui ơi! Tui cám ơn thiệt lòng mà. Hồi nãy mà chị nói cái lỗ tai ngựa thì chết tiá tui rùi!!!

Đầu trâu mặt ngựa

Cái loài thú có cái đầu trâu mà cái mặt lại giống ngựa này chúng ta chỉ nghe nói trong chuyện Mục Kiền Liên đi tìm mẹ ở dưới chín tầng địa ngục Âm phủ. Đó là thứ ngạ quĩ, lính của Diêm Vương, chuyên canh gác hỏa ngục và tra tấn trừng phạt những kẻ làm ác, làm bậy hại người lương thiện, ăn hiền ở lành lúc còn sống ở trần gian.

Mặt mày lũ đầu trâu mặt ngựa đều lộ vẻ hung quang, tay cầm đủ thứ binh khí nào là chỉa ba, cào cỏ, gươm giáo…

Thực tế, từ xưa đến giờ, chưa có một ai thấy chúng.

Nhưng kể từ ngày “Bác Hồ” đem cái “bàng môn tả đạo” của mấy lão phù thủy bên Nga La Sát về thì cái đám âm binh đầu trâu mặt ngựa này “ăn theo” kéo về đông đảo. Nhờ môi trường “máu và đầu lâu” của mấy trăm ngàn người vô tội chết oan ức trong vụ “Bác” thi triển đạo bùa “Cải cách ruộng đất”, sái đậu thành binh, để cào bằng xã hội theo phép bá đạo của hai lão đạo sĩ Giáo Mác và Ăn Ghen mà chỉ trong có mấy chục năm đã sinh sôi nẫy nở lên đông đảo vô cùng. Thường thường, bọn âm binh đầu trâu mặt ngựa này sống lén lút trong bóng tối vì chúng rất sợ ánh sáng mặt trời. Nhưng dạo sau này, chúng ngang nhiên xuất hiện nghênh ngang khắp nơi, tha hồ tác yêu tác quái, nhũng nhiễu dân lành, coi phép nước như cái củ thìu biu của chúng. Đó là do chúng được nuôi dưỡng và đặc biệt o bế của cái Tổng cục 2 hay 3 gì đó, có quyền “tiền trảm hậu tấu” rất ghê gớm. Nhà nước cộng sản Việt Nam sở dĩ còn tồn tại đến ngày hôm nay đều do cái đám âm bình này phò (độ) và hộ (trì).
Đặc điểm của loài đầu trâu mặt ngựa này là cái đầu không có óc để suy nghĩ phân biệt đúng sai, tốt xấu. Chúng chỉ biết nhắm mắt, cúi đầu triệt để thi hành mệnh lệnh của chủ. Loài này còn có đặc điếm nữa là trước mặt chủ thì đi bốn chân. Khi ra ngoài thì đi bằng hai chân, mặt thì cứ nghếch lên trời.
Quí độc giả muốn biết rõ mặt mũi và hành động của đám âm binh đầu trâu mặt ngựa này ra sao cứ xem mấy đoạn phim quay cảnh Nhà nước cộng sản Việt Nam dàn binh bố trận đánh cướp đất đai của ấp Thái Hà và Tòa Khâm Sứ Hà Nội trong mấy tháng vừa qua, hoặc cảnh dàn chào thanh niên, học sinh, sinh viên đi biểu tình chống giặc Tàu ô cướp nước hay cảnh dân oan kéo nhau đi khiếu kiện đất đai, sẽ được mãn nhãn.

Sấm ký của Học Lạc

Chúng ta thường nghe nói tới Sấm Trạng Trình lưu truyền trong dân gian. Lời sấm tiên đoán nhiều biến cố lịch sử mà có khi cả chục năm, trăm năm sau người dân mới thấy ứng nghiệm.
Chẳng hạn như câu:

Bao giờ lúa mọc trên chì, voi đi trên giấy tây thì về tây.
Lúc đương thời không một ai có thể hiểu và lý giải được vì sao lúa lại có thể mọc được trên chì và voi đi trên giấy. Còn tây về tây là nghĩa gì. Câu sấm này ám chỉ việc gì? Thật là bí ẩn.
Sau khi nước ta bị thực dân Pháp đô hộ suốt gần 100 năm, nhiều phong trào yêu nước nổi lên khắp nơi để đánh đuổi giặc Pháp, trường kỳ kháng chiến, mãi cho đến năm 1945 (?) Ngân hàng Đông dương chung của ba nước Việt, Miên, Lào cho phát hành đồng bạc bằng chì, mẫu tròn, một mặt có in hình nổi bụi lúa và tờ giấy bạc mệnh giá một trăm đồng, trên in hình con voi thì Pháp thua trận Điện Biên phủ, buộc phải rút quân về nước.

Lúc đó người ta mới vỡ ra cái ý nghĩa của câu sấm Trạng Trình.

Nhắc qua câu sấm của Trạng Trình, người viết muốn giới thiệu với quí độc giả một người khác cũng có tài tiên tri mà lâu nay ít người lưu ý. Người này cũng có sấm ký lưu lại gần cả trăm năm, tiên đoán rằng nước ta sẽ dần dà suy thoái về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế nhất là về văn hóa bị biến thành một nền văn hóa nhai lại, giống như trâu, nhai 70 năm một chủ thuyết lỗi thời bị vất bỏ vào giỏ rác lịch sử, không biết mệt và chán, kéo lùi cả dân tộc trở về thời sơ khai.
Đó là Học Lạc. Học Lạc là ai vậy?

Học Lạc tên thật là Nguyễn văn Lạc (1842-1915) biệt hiệu là Sầm Giang, người làng Mỹ Chánh, thuộc tỉnh Mỹ Tho, nay là tỉnh Tiền Giang. Học Lạc tuy nhà nghèo, nhưng nhờ có trí thông minh nên được tuyển thẳng vào ngạch học sinh, ngạch do triều đình nhà Nguyễn đặt ra, được cấp lương và được học tại trường của quan đốc học địa phương. Do đó, người ta mới gọi là “học sinh Lạc”, dần dần bỏ mất chữ “sinh”, còn lại hai chữ “Học Lạc”. Học Lạc học giỏi nhưng thi mãi vẫn không đậu, sau đó triều đình Huế phải ký hòa ước 1862 nhường đứt ba tỉnh miền Đông cho Pháp, nên Học Lạc bỏ thi luôn, bỏ làng Mỹ Chánh, dời nhà về chợ Thuộc Nhiêu (Mỹ Tho) chọn nghề dạy học và bốc thuốc để sinh sống cho hết đời.

Ông thường làm thơ trào phúng, châm biếm như Chu Mạnh Trinh, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến..
Ví dụ như bài “Thằng Lạc”, khi bị các quan viên đình làng bắt phạt chỉ vì không có danh thiếp gắn trên các phẩm vật của mình mang tới cúng đình. Ai ai cũng có tấm danh thiếp đề tên như: Đại Hương Cả, Hương Trưởng, Hương Chủ, Hương Thân… còn trên mâm xôi của ông chỉ có mảnh giấy ghi hai chữ “Thằng Lạc”. Làng bắt vạ, phải làm bài thơ tạ lỗi, lấy ngay hai chữ “Thằng Lạc” làm đề tài. Ông ứng khẩu đọc ngay:

Vành mâm xôi tên đề Thằng Lạc
Nghĩ mình ti tiểu không đài các
Văn chương chẳng phải bọn mèo quào
Danh phận không ra cái cốc rác
Đã chẳng bơ phờ thẹn núi sông
Dám đâu vút vắt ngạo cô bác
Sự tình ai có thấu cùng chăng
Trong có ông Thần, ngoài cặp hạc.

Hội đồng Hương ai cũng chịu là bài thơ hay lại gieo vần trắc rất ác nên bằng lòng tha tội.
Hiện nay ở Sài Gòn vẫn còn có con đường mang tên ông: Học Lạc.
Trở lại với tài tiên tri của Học Lạc, người viết xin đan cử ba bài sấm ký sau đây để làm đề tài “Đố vui có thưởng” gửi đến quí vị ngẫm chơi trong ba ngày Tết tha phương, nhớ nhà buồn thúi cái “khúc ruột ngàn dặm”.

Bài 1.

Con Tôm
Chẳng phải vương công chẳng phải hầu
Học đòi đái kiếm lại mang râu
Khoe khoang mắt đỏ trong dòng bích
Chẳng biết mình va cứt lộn đầu…

Bài 2.

Chó chết trôi
Sống thời bắt thỏ, thỏ kêu rêu
Thác thả dòng sông xác nổi phều
Vằn vện sắc còn phơi lẩn dẩn
Thốt tha danh hỡi nổi lêu bêu
Tới lui bịn rin bầy tôm tép
Đưa đón lao xao, lũ quạ diều
Một trận sóng dồi cùng gió dập
Tan tành xương thịt biết bao nhiêu!

Bài 3.

Con trâu
Mài sừng cho lắm cũng là Trâu
Ngẫm lại mà coi thật lớn đầu
Trong bụng lam nham ba lá sách
Ngoài cằm lém đém một chòm râu
Mắc mưu đốt đít tơi bời chạy
Làm lễ bôi chuông nhớn nhác sầu
Nghé ngọ già đời quen nghé ngọ
Năm dây đàn gẩy biết chi đâu.

Câu đố là: Ba bài sấm ký trên nhà tiên tri Học Lạc đã tiên đoán về giai đoạn lịch sử nào? Ba con vật được nhân cách hóa ám chỉ ai?
Ai đoán và giải tương đối trúng nhất sẽ được thưởng một cái sừng tê giác “o ri gin” vừa mới đem từ Nam Phi về và sẽ do bà Vũ Mộc Anh Bí thư Thứ nhất của Tòa đại sứ Nam Phi trao tặng với sự chứng kiến của toàn bộ ban bệ Bắc Bộ phủ. Buổi lễ trao giải sẽ được tổ chức long trọng y như lễ trao huy hiệu “60 năm tuổi đảng” cho bà Nguyễn thị Bình vậy.

Tử vi Kỷ Sửu

Cuối cùng cuộc cà kê dê ngỗng về con trâu mà không có mục coi bói, xem tử vi tuổi Kỷ Sửu thì cũng kém phần vui nhộn. Người viết xin lượt chép lại vài hàng tử vi sưu tầm được cho những ai thuộc tuổi con trâu:

1.- Nam mạng:
Tuổi Kỷ Sửu thuộc mạng Hỏa. Tánh nóng nảy hay có những hờn dỗi vô lý làm cho cuộc sống thiếu cả tình cảm bạn bè. Lúc còn nhỏ không được may mắn lắm nhưng về sau có tương lai đẹp. Số có phú quí nhưng lại đau khổ về tình duyên, gia đạo.
Tình duyên:
Tuổi Kỷ Sửu có số đào hoa nhưng có nhiều lúc thăng trầm. Tình duyên long đong ở tuổi 21, 22, 23. Nếu ai sanh trong những tháng 2, 3 và 9 Âm lịch sẽ có đến đời vợ thứ ba mới có hạnh phúc.
Gia đạo và công danh:
Công danh và cơ hội phát triển lên cao vào những năm 20 đến 25 tuổi. Hy vọng sẽ hoàn toàn thành công ở tuổi 27. 28. Về gia đạo, số phải sống cô độc nhiều hơn là sống êm ấm trong gia đình.
Sự nghiệp tiền tài.
Tuổi Kỷ Sửu hoàn thành sự nghiệp vào tuổi 29, 30 nhưng qua 31 và 33 lại bị đổ võ hoàn toàn vì quá tin bạn nhất là thất bại vì đàn bà.
Những tuổi hạp cho làm ăn: Canh Dần. Quý Tỵ,Giáp Ngọ, Bính Thân, Mậu Tý, Đinh Hợi giúp bạn thành công hơn.
Những tuổi đại kỵ: Tân Mão, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Quý Mão, Bính Tuất, Ất Dậu.

2.- Nữ mạng:
Cuộc đời: Cuộc đời nhiều cay đắng lúc nhỏ nhưng cuộc sống có nhiều triễn vọng tốt đẹp ở hậu vận. Cuộc sống lên cao bắt đầu từ 24 trở đi.
Tình duyên: Tuổi Kỷ Sử tình duyên đối với nữ mạng là vấn đề nan giải, gặp rất nhiều trở lực trong cuộc đời. Những ai sinh trong tháng 3,6,8 và 10 Âm lịch phải ba lần thay đổi mới có hạnh phúc. Sanh vào những tháng 2,4,7,9 và 11 Âm lịch thay đổi 2 lần. Nếu may mắn sanh trong tháng 1, 5 và 12 Âm lịch thì cuộc đời hoàn toàn hạnh phúc.
Gia đạo công danh:Gia đạo được đầy đủ và nhiều thương yêu. Công danh có nhiều tốt đẹp trong tương lai. Rất hạp với sự buôn bán./.


Nguyễn Thanh Ty

Trích Người Việt Boston


Saturday, January 31, 2009

Những hình ảnh cuộc diễn hành Xuân Kỷ Sửu Của Cộng đồng Việt Nam Nam California




























































































































































Trong những hình ảnh này, có hình của dân biểu Liên bang Joseph Cao cùng tham dự với đoàn diễn hành



















Ra về mà lòng còn ở lại

Tối nay nhậu về mà chẳng say
Vợ hỏi có điều chi khác thường ?
Có gì đâu đời như toán học
Âm cộng với âm bất thành dương

!Một lẽ say là say tình bạn
Gặp đầu năm, tay bắt mặt mừng
Ôn lại chuyện xưa thời đi học
Tuổi ngũ tuần - xuân vẫn còn xuân

Nửa vòng trái đất có Hương heo
Điện về chúc Tết gặp từng người
Cám ơn chân tình người xa xứ
Vẫn góp tình tạo dịp bạn bè vui

!Uống bia bạn mời năm nay dư
Không biết bao nhiêu mà say lâu
Điểm danh lại thấy sao còn thiếu
Có năm nào bạn đến đủ đâu !!

Thôi kệ còn bia ta cứ say
Chúc bạn thơ càng làm càng hay
Chúc con cái ta luôn thành đạt
Phúc nhà cháu nội ngoại bồng ngay !

Ta nhớ đến ta một tấm lòng
Mà sao có người đến, người không ?
Ta ra về lòng ta ở lại
Mong sao năm tới bạn đến đông

!Mồng bốn Tết Kỷ Sửu 2009
Họp mặt lớp tại nhà Mèo

HẢI LÊ

Tín hiệu tốt

Tờ báo Xuân Kỷ Sửu đã có bài báo nói về cuộc xuống đường của thanh niên, sinh viên Việt Nam chống Trung Quốc. Đây là tín hiệu tốt mà chúng ta cần phải trân trọng. Ngoài ra tờ báo này còn đăng bài thơ Hận Nam Quan của nhà thơ Hoàng Cầm. Nhà báo Ngô Nhân Dụng có bài Hận Nam Quan nói về vấn đề này.

Diễn hành Tết Kỷ Sửu năm 2009 tại Little Saigon với sự tham dự của Dân biểu Liên bang Joseph Cao

Vào ngày thứ bảy 01/31/09 tại Little Saigon, dân biểu Liên bang Joseph Cao sẽ dẫn đầu cuộc diễn hành đầu năm. Đây là lần đầu tiên một dân biểu liên bang gốc Việt tham dự cuộc diễn hành Tết của cộng đồng Việt Nam

Wednesday, January 28, 2009

Chuyến đò định mệnh ngày cuối năm

Con thuyền chở gần 80 người đi sắm Tết đã chìm xuống dòng sông Gianh vào ngày 30 Tết, khiến hơn 40 người bị chết và mất tích.

Người dân đến bờ sông, mong tìm thấy xác người thân. Ảnh: Xuân Hưng

Tại bến sông xã Quảng Hải (Quảng Trạch, Quảng Bình), gần 7h ngày 25/1 (30 Tết) hàng trăm người già, trẻ, gái, trai háo hức, chen chúc để được lên thuyền qua sông đi chợ Tết (chợ Điền bên kia sông thuộc xã Quảng Thanh). Và gần 80 người đã lên con thuyền "định mệnh" của anh Nguyễn Tứ Quý.

Một khách đi trên thuyền cho biết, thuyền của anh Quý chở khoảng 80 người, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em. Khi cách bờ khoảng 20 m, nhiều người chen chúc nhau để được lên trước nên đứng trước mũi, cộng với sóng, to gió lớn, nước tràn vào mũi thuyền. Con thuyền bị tắt máy và chìm dần xuống dòng nước.

Sau khi thuyền chìm, hàng chục người may mắn chống chọi được với dòng nước chảy xiết, cùng với sự ứng cứu kịp thời của các thuyền gần đó nên đã thoát nạn. Anh Mai Thanh Phong (19 tuổi) kể lại: “Nghe bà con hô hoán, tôi và hai người bạn lao thẳng thuyền của mình về hướng chiếc thuyền bị đắm và nhào sông xuống cứu sống hàng chục người".

Nhận được tin dữ, hàng nghìn người đổ ra hai bên bờ sông than khóc. Họ hướng về những con thuyền sắp cập bến đi từ chợ Điền, hy vọng trong số hành khách kia có người thân của họ sống sót trở về. Nhưng tất cả đều vô vọng.

Anh Hoàng Văn Đồng (25 tuổi, huyện Bố Trạch) khi nghe tin bạn gái bị chết đuối đã có mặt tại hiện trường. Anh thổ lộ: “Cô ấy cùng với chị, mẹ và cháu đi chợ. Mấy người kia được cứu sống… còn người yêu em thì đến nay vẫn chưa tìm được xác”.

Còn ông Cao Ngọc Xinh (65 tuổi) vật vã bên người vợ đã trên 40 gắn bó cùng nhau. Ông nói trong nước mắt: “Sáng nay, trước khi đi chợ bà còn dặn tôi ở nhà chuẩn bị bàn thờ để mua đồ về thắp hương cho ông bà, thế là giờ phải thắp hương cho bà, bà ơi”.

Thương tâm nhất là gia đình bà Cao Thị Hoạt (80 tuổi) có tới 4 người tử nạn. Ngoài bà Hoạt còn có hai con gái và một đứa cháu.

Ông Ngô Xuân Cư (Bí thư Huyện ủy Quảng Trạch) cho biết: "Sau khi nhận được thông tin, chúng tôi ngay huy động mọi lực lượng đến tại hiện trường, cùng với người dân địa phương phối hợp để cứu vớt những người không may mắn".

Theo thượng tá Trịnh Trung Hợi (Huyện đội Quảng Trạch), trên 30 cán bộ, chiến sĩ, cùng với gần 30 người của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Bình đi tìm kiếm, cứu vớt và giúp đỡ mai táng cùng với bà con.

UBND xã Quảng Hải cho biết, sau một ngày tìm kiếm đã xác định được 42 người chết và mất tích. Hiện đã vớt xác được của 40 người.

Không khí tang tóc bao trùm xã Quảng Hải. Khắp nơi trên các đường làng ngõ xóm, các đám tang hàng nối hàng, người này đến người khác. Do số lượng người chết quá đông, chính quyền địa phương phối hợp với các lực lượng, chủ yếu là lực lượng bộ đội đến giúp đỡ bà con khâm liệm, đưa tang.

Lau mồ hôi chảy dài trên má, một quân nhân thổ lộ: “Tận mắt chứng kiến những hoàn cảnh quá thương tâm khiến sự mệt nhọc của bọn em tan biến, phải giúp đỡ bà con thôi… chứ không thì tội nghiệp lắm”.

Xuân Hưng

Trích từ VnExpress

Xuân này mẹ ngồi mong con

Ở Việt Nam, nhất là ở miền Bắc cuộc sống củ người dân vẫn còn rất nhiều vất vả. Đa số gia đình nào cũng phải để những đứa con đã lớn vào Sài Gòn kiếm sống hầu kiếm tiền gởi về phụ giúp gia đình. Có những người mẹ ngày tết trông mong con mình trở về ăn Tết, để sum họp gia đình trong những ngày xuân, nhưng chỉ` là những chờ đợi mỏi mòn. Đọc bài báo Xuân này mẹ ngồi mong con, ta không khỏi mủi lòng rơi lệ cho hoàn cảnh thương tâm của những người mẹ trông ngóng chờ con, nhưng đứa con vẫn biền biệt mấy năm không về ăn Tết.

Cảm đề xuân

Thương tặng Mạ


Xuân năm nay con nghĩ nhiều về mạ
Càng nghĩ nhiều con lại càng thương
Đời của mạ vất vả sau ngày quê hương mất vào tay giặc
Ba bị vào tù nơi núi thẳm rừng sâu

Mẹ con ta chúng đâu để yên nơi thành phố
Chúng đày vào nơi rừng núi âm u
Ban đêm nghe tiếng chim kêu, vượn hú
Gió thẳm mưa ngàn bao vất vả điêu linh.

Bàn tay mạ phải chặt từng bụi cây, đám cỏ
Tuổi xuân thì trông mạ đã héo hon
Còn đâu nữa những tháng ngày xưa cũ
Chỉ còn đây những cay đắng trầm luân

Bao nhiêu năm rồi gia đình rời xa quê hương đất nước
Mạ quyết không về khi kẻ thù vẫn còn ngự trị ở quê hương
Mạ ơi mạ! con thương mạ không kể xiết
Khi mạ không về dù mạ vẫn còn rất nhớ quê hương.

PHP
01/28/09

Tuesday, January 27, 2009

Cộng Sản sẽ chết như thế nào trong năm 2009?

Trong năm 2009, tình hình kinh tế của thế giới vẫn còn nhiều khó khăn. Điều này dĩ nhiên sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinh tế của Việt Nam Cộng Sản. Bài viết Cộng Sản sẽ chết như thế nào trong năm 2009 của tác giả Xuân Khuê đã tổng hợp báo chí, đài phát thanh trên thế giới, ngay cả truyền thông báo chí trong nước của Cộng Sản Việt Nam để cho chúng ta thấy được sự tụt dốc thê thảm của nền kinh tế của Cộng Sản Việt Nam.

Đại sứ Việt Cộng

Mới đây, đài BBC có phỏng vấn tên Lê Công Phụng là đại sứ Cộng Sản Việt Nam ở Washington DC. Hắn ta đã dùng lời chỉ trích dân biểu liên bang gốc Việt Joseph Cao. Hắn đâu có biết đây là niềm tự hào của người Việt hải ngoại không Cộng Sản. Đọc bài viết Đại sứ Việt Cộng chỉ trích dân biểu Mỹ gốc Việt của Nguyễn Đạt Thịnh dể thấy rõ hơn bộ mặt ngu xuẩn của tên đại sứ đốn mạt va đần độn này.

Ta chỉ mong

Có bao giò ta ngồi nhìn lại
Những dấu chân xưa ta đã bước qua
Những con đường xưa đã một thời kỷ niệm
Những người bạn xưa và cả những người tình

Có bao giờ ta nhớ lại quê hương
Là nơi ta đãcất tiếng khóc chào đời
Là nơi ta đã trưởng thành khôn lớn
Là nơi ta đã gánh chịu những đau thương

Kể từ khi quỷ dữ biến thành người
Cũng là khi đất trời đảo điên, điên đảo
Cũng là khi nhân dân gánh quá nhiều tai họa
Cũng là khi đất nước hết mùa xuân.

Ta chỉ mong một ngày mai tươi sáng
Là ngày đất nước rực sáng mùa xuân
Để bé thơ thôi không còn tức tưởi
Để mọi người luôn nở nụ cười tươi.

PHP
1/26/2009
·

Monday, January 26, 2009

Mùa xuân Hân

mày gởi email tao nói đi thăm hết phố
thăm giùm đi thằng bạn nhỏ hồi xưa
tao nhớ lắm con đường thừa bóng mát
tuổi nhỏ bọn mình lâu vẫn nín thinh

trong trí nhớ con đường nhìn quá khứ
mày sẽ gởi tao đầy ứ nự đổi thay
chỉ có bạn bè là không thay đổi
từ thuở lớp sáu ngồi cho đến lúc nổi trôi

sáng đầu năm nhận vài lời thăm hỏi
tao vui như hồi phá phách tuổi thơ
cứ thế trừ đi năm nay một tuổi
như lì xì tao to tát ơn đời

ê bạn cũ, gọi quen rồi hân ngọng
mấy mươi năm bè bạn vẫn lòng vòng
rớt chụp lại như từ sông ra biển
từ biển lại về mưa rớt xuống sông

tao viết gởi mày ở đà nẵng ngóng
như tao, bọn tao lòng vẫn không xa
phan chu trinh mỗi ngày là hạnh phúc
như tao vẫn tin từ lạc quê nhà./.

nna
26 tháng 1, 2009

Cám ơn Hân

Cám ơn mày đã đi thăm hộ tao
Kiệt Tám Hoàng Diệu là nơi tuổi thơ tao sinh sống
Chùa Tịnh Xá Ngọc Cơ vẫn còn nguyên vẹn
Góc ngã tư vẫn còn cây mận yêu thương

Đường Bạch Đằng với nhiều ghế đá
Tha hồ ngồi khi tao về thăm lại quê hương
Vẫn còn đó những con đường xưa cũ
Của tuổi học trò chợt bừng sống lại trong tao.

Và còn đó biết bao nhiêu kỷ niệm
Của những yêu thương, của những buổi hẹn hò
Đà Nẵng của tao giờ đã xa tầm tay với
Mỗi mùa xuân về lại nhớ nhớ thương thương

PHP
01/26/09

Gần giao thừa

mày dzô tủ lạnh lấy luôn
bia gì cũng được cụng buồn sẽ trôi
từ trên xuống dưới xong rồi
đón con Trâu tới giữa đời rong chơi
tao cũng chạy kiếm bia rồi
dzô dzô xỉn đợi Giao Thừa về vui ./.

nna
25 tháng 1, 2009

Chúc bạn đầu xuân

Tặng Mùi.



Bạn học nơi đây chỉ có mày
Đầu năm tao biết chúc gì đây?
Ly rượu trên tay vừa uống cạn
Thay lời chúc Phúc, Lôc, An Khang

Quên đi những lo toan, phiền não
Những trái ngang, ngang trái đời thường
Tình bạn vẫn luôn luôn bền vững
Dù thời gian thay đổi, đổi thay.

PHP
Đêm Giao Thừa 01/25/09

Sunday, January 25, 2009

Vùng trời kỷ niệm

Nhớ những tàng cây thơ mộng dọc bến sông Hàn
Những ghế đá thân thương mang bao nhiêu kỷ niệm
Đà Nẵng đó giờ đã xa lơ xa lắc
Bao nhiêu xuân về lòng thương nhớ khôn nguôi

Đường Độc`Lập xưa giờ đã thay tên đổi họ
Nào Paster, Lê Lợi nay còn đâu
Hoàng Diệu, Phan Chu Trinh là vùng trời thương nhớ
ÔI Đà Nẵng buồn ta thương nhớ suốt ngày dêm

Bao nhiêu năm xa quê là bấy nhiêu năm buồn áo nảo
Mỗi độ xuân về lòng chạnh nhớ khôn nguôi
Kiệt tám của ta giớ đâu còn nữa
Chỉ còn trong ta lòng thương tiếc ngậm ngùi...

PHP
Mùa xuân Kỷ Sửu

Mùa xuân và tình yêu

Đất trời vùng rung chuyển
Đón nắng vàng dịu êm
Gió nhẹ nhàng lưu luyến
Mùa xuân về bên em.

Qua rồi hạ nắng gắt
Đốt cháy rụi vườn hồn
Khô cằn từng giọt thở
Nứt nẻ gót chân son.

Qua rồi thu tàn úa
Tâm hoang vắng thê lương
Vàng vọt từng ý niệm
Chết lịm ngọn tơ vương.

Qua rồi đông băng giá
Rét buốt mạch tâm can
Hồn run theo mưa lạnh
Sụt sùi tiếng than van

Ôi đã bao ngày tháng
Trôi dạt giữa dòng đời
Bới tìm trong vô vọng
Hạnh phúc hồ ma trơi.

Mãi vật vờ trôi nổi
Lúc sống vội điên cuồng
Khi hững hờ hoang lạnh
Mặc bóng chiều dần buông.

Chân lý nào toả sáng
Xua đuổi bóng đêm đen?
Trầm hùng chuông tỉnh thức,
Nhẹ nhàng mõ ru êm!

Học niệm từng hơi thở,
Học sống bởi muôn loài,
Học yêu trùm vũ trụ,
Pháp Phật - Ánh sáng soi!

"Chúng sanh xin nguyện độ!
Não phiền xin nguyện đoạn!
Pháp Phật xin nguyện học!
Quả Phật xin nguyện thành!"

Đất trời vùng rung chuyển
Đón nắng vàng dịu êm
Gió nhẹ nhàng lưu luyến
Mùa xuân về trong em.

Quang Viên - Julie Phan
California, December 31, 2008