Translate

Wednesday, August 18, 2010

Nhiều Db Mỹ Đòi Đưa Vn Vào Sổ Quan Ngại Tôn Giáo Cpc

Việt Báo Thứ Năm, 8/19/2010, 12:00:00 AM

Nhiều DB Mỹ Đòi Đưa VN Vào Sổ Quan Ngại Tôn Giáo CPC

WASHINGTON (VB) -- Nhiều vị dân cử Hoa Kỳ thúc giục TT Obama đưa VN vào lại sổ đen vi phạm quyền tự do tôn giáo, theo bản tin AP chiều Thứ Tư 18-8-2010.
Trong khi đó, bản tin trên Đài VOA đăng bài phỏng vấn dân biểu Cao Quang Anh, trong đó dân biểu họ Cao kêu gọi chính phủ Mỹ bênh vực giáo xứ Cồn Dầu đang bị công an Đà Nẵng truy bức gay gắt.
Bản tin AP nói rằng các dân biểu Frank Wolf và Chris Smith nói trong buổi điều trần rằng Bộ Ngoaị Giao Mỹ đừng kết thân với VN cho tới khi nào nhân quyền cải thiện.
Chính phủ Bush đã gỡ tên Việt Nam ra khỏi sổ đen vi phạm tự do tôn giaó từ năm 2006, và bây giờ chính phủ Obama tuyên bố kết thân chiến lược với VN, và được hiểu rằng VN sẽ khó đưa vào lại danh sách trừng phạt vì có đàn áp tôn giáo.
DB Smith nói trước ủy ban nhân quyền Tom Lantos Human Rights Commission về tình hình một tang lễ Công giáo ở Cồn Dầu bị công an dùng bạo lực giải tán vì tranh chấp đất.
Trong khi đó, dân biểu Cao Quang Anh trả lời phỏng vấn trên đài VOA chiều Thứ Tư, trích:
“...Nói chung, vụ Cồn Dầu là một trong những sự vi phạm của chính quyền Việt Nam. Chắc chắn chúng tôi cũng sẽ nêu ra những vụ việc như vụ Đồng Chiêm, Bát Nhã, và tại những khu vực khác. Buổi điều trần này không phải về Cồn Dầu không, nhưng vì tình trạng mới xảy ra ở Cồn Dầu nên đó là một trong những vấn đề hiện tại mà chúng tôi phải chú ý tới. Nói chung, mục đích chính là để chúng tôi có thể hiểu biết thêm về những hành động của chính quyền Việt Nam ảnh hưởng tới tự do tôn giáo tại Việt Nam trong 2, 3 năm qua...
...Hai, ba năm nay chúng tôi có theo dõi về các hành động của cộng sản Việt Nam, nhận thấy những sự vi phạm về tự do tôn giáo càng ngày càng tệ. Cho nên chúng tôi vẫn tiếp tục áp lực Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào lại danh sách CPC (Các nước cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo) để buộc Việt Nam phải cải tổ những việc làm của họ đối với tự do tôn giáo, tự do nhân quyền...
...Chúng tôi muốn qua buổi điều trần này thành lập những đường hướng cho những năm tới. Cho nên, đây là những bước mà chúng tôi cần phải tiếp tục tiến hành nếu chúng tôi có đủ những bằng chứng, có đủ những điều kiện để đẩy các đạo luật như Đạo luật Tự do-Nhân quyền cho Việt Nam và những đạo luật khác mà chúng tôi đang tiếp tục vận động trong Quốc hội Hoa Kỳ đối với Bộ Ngoại giao.”

Tuesday, August 17, 2010

Hoa Kỳ, Việt Nam mở các cuộc thảo luận đầu tiên về quốc phòng

Trích VOA News
Ông Robert Scher, Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đặc trách khu vực Ðông và Ðông Nam Á
Hình: DOD

Ông Robert Scher, Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đặc trách khu vực Ðông và Ðông Nam Á

Chia sẻ

Tin liên hệ

Hoa Kỳ hoan nghênh các cuộc thảo luận cấp cao về phòng thủ với Việt nam như là một dấu hiệu của một “quan hệ quốc phòng ngày càng lớn mạnh.”

Ông Robert Scher, Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng, giới chức cao cấp nhất của Ngũ giác Đài đặc trách khu vực đông và đông nam châu Á, đã có mặt tại Hà Nội vào thứ Ba để thảo luận với Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt nam, ông nguyễn Chí Vịnh.

Ông Scher nói rằng mối quan hệ quốc phòng này đặt trên căn bản “tin tưởng, hiểu biết và tôn trọng độc lập và chủ quyền của đôi bên.”

Các cuộc thảo luận diễn ra chỉ 1 tuần sau khi hai quốc gia bắt đầu các cuộc thao diễn hải quân đầu tiên chung và các giới chức cao cấp của Việt Nam đã được mời tới thăm hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ USS George Washington.

Tình hữu nghị giữa hai nước Mỹ-Việt đã làm Trung Quốc khó chịu. Trung Quốc là nước vẫn tranh chấp chủ quyền với Việt Nam trong khu vực biển Đông. Nhưng bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam vẫn đoan quyết rằng sự hợp tác này không nhắm đến bất kỳ một quốc gia nào.

Nhưng ngay cả như vậy, hôm thứ Hai Ngũ Giác Đài đã cho công bố một phúc trình nói rằng Trung Quốc đang tăng cường các khả năng mới về quân sự để họ có thể gây ảnh hưởng đến các cuộc tranh chấp trong vùng, mở rộng lãnh hải và không để cho các đối thủ tranh chấp được sử dụng các hải lộ.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton lên tiếng tại một diễn đàn an ninh tổ chức tại Việt Nam trong tháng trước rằng Hoa Kỳ có quyền lợi quốc gia trong việc duy trì quyền tự do thông thương trong vùng biển Đông.

Monday, August 16, 2010

Hoa Kỳ và Trung Quốc xác định thái độ tại Biển Đông

Trich Dan Chim Viet

Tác giả: Giáo sư Carl Thayer

(Trần Bình Nam phóng dịch)

Lời người dịch: Tháng 7/2010 có hai biến chuyển đáng quan tâm tại Á châu. Thứ nhất, hội nghị của Diễn Đàn An Ninh Á châu (Asean Regional Forum – ARF) họp thường niên tại Hà Nội. Tại hội nghị, Hoa Kỳ tuyên bố chính sách mới tại Biển Đông. Thứ hai, Hải quân Hoa Kỳ và Nam Hàn tập trận tại vùng biển chung quanh bán đảo Triều Tiên (1) .

Giáo sư Carl Thayer. Ảnh Google

Trước đó cũng trong tháng 7/2010, giáo sư Carlyle Thayer ở Úc viết bài “The United States and Chinese Assertiveness in the South China Sea” (Hoa Kỳ và Trung quốc xác định thái độ tại Biển Đông) với đầy đủ chi tiết về sự tranh chấp Biển Đông giữa Trung quốc, Việt Nam và Hoa Kỳ. Tài liệu ngắn gọn, nhưng súc tích giúp cho những ai muốn tìm hiểu về các vấn nạn của Biển Đông trong mấy chục năm qua.

Sau đây là bản lược dịch. Giáo sư Thayer bắt đầu bài viết bằng cách nói đến sự quan trọng của căn cứ Hải quân Trung quốc tại Hải Nam và vụ tàu Trung quốc chận đường chiến hạm Impeccable của Hải quân Hoa Kỳ và những lời tuyên bố chủ quyền của Trung quốc trên Biển Đông. Ba động tác này là một thách thức các nước chung quanh vùng Biển Đông và Hoa Kỳ. Gíao sư Thayer đưa ra 3 nguyên nhân gỉải thích tại sao Trung quốc lại có thái độ giành quyền kiểm sóat Biển Đông. Và sau cùng đưa ra 7 đề nghị giúp giải quyết căng thẳng tại đó .

———————————————————————-

Bối cảnh:

Với chính sách chính thức tuyên bố là “hòa bình, hợp tác và phát triển” (peace, cooperation and development) Trung quốc đã theo đuổi chủ thuyết tạo một thế giới “hài hòa” (harmonious world) qua đường phát triển kinh tế và góp phần duy trì hòa bình thế giới.

Trung quốc rất thành công trong chính sách kinh tế nhắm vào xuất cảng là chính, và việc này đòi hỏi năng lượng. Hai nhu cầu, phát triển kinh tế và đầy đủ năng lượng đòi hỏi Trung quốc lo bảo đảm sự lưu thông của các đường biển huyết mạch gần lục địa Trung quốc. (Sea Lines of Communications – SLOCs).

Mặc dù thế giới đang trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế, ảnh hưởng kinh tế của Trung quốc vẫn rất mạnh trong vùng. Trung quốc đặc biệt có vị thế quan trọng vì Trung quốc là chủ nợ 2 trillion mỹ kim mà con nợ là Hoa Kỳ.

Để giúp giải quyết khủng hoảng kinh tế thế giới Trung quốc giải tỏa ngân khoản kích thích kinh tế (stimulus package) trong nước, chính yếu trong ngành xây cất và ngoài nước bỏ nhiều tiền đầu tư làm cho Trung quốc càng có uy thế khi kinh tế thế giới vãn hồi dần.

Nhờ sức mạnh kinh tế, Trung quốc cải tiến trang bị quân đội như tăng cường hỏa tiễn đặt trên đất liền và trên biển đồng thời cải thiện kho vũ khi nguyên tử để đối đầu với kho vũ khí nguyên tử của Hoa Kỳ.

Trung quốc còn phát triển hỏa tiễn tầm ngắn và tầm trung dùng vào việc tấn công Đài Loan trường hợp Đài Loan tuyên bố độc lập. Đồng thời Trung quốc tăng cường sức mạnh của Hải quân để bảo vệ các đường giao thông trên biển và bảo đảm không ai có thể chận eo biển Malacca.

Hoa Kỳ, Nhật Bản và Úc châu từng nhận xét rằng sự phát triển quân lực Trung quốc vượt ngoài nhu cầu tự vệ, và ngân sách quốc phòng Trung quốc công bố chỉ là một phần của ngân sách thực chi . Từ năm 1997 đến nay ngân sách quốc phòng Trung quốc tăng 500%. Đô đốc Mike Mullen, Chủ tịch Bộ Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ nói rằng Trung quốc đặc biệt tăng cường lực lượng Hải quân nhằm có khả năng đối phó với các căn cứ Hải quân Hoa Kỳ trong vùng Á châu.

Các nhà nghiên cứu chiến lược cho rằng Trung quốc đang nới rộng vòng đai phòng thủ tại tây Thái Bình Dương ra vòng đảo ngoài Biển Nhật Bản, Biển Phi Luật Tân và Biển Nam Dương bao gồm cả quần đảo Marianas và Palau tiến sát đến đảo Guam của Hoa Kỳ. Tháng Ba & tháng Tư vừa qua (2010) Hải quân Trung quốc cho tập trận tại phía Nam đảo Okinawa.

Cuộc tập trận đầu tiên trong tháng Ba gồm 6 chiến hạm thuộc Hạm đội Bắc hải tập đánh nhau với Hạm đội Nam hải. Sau đó Hạm đội Bắc hải băng qua eo biển Bashi phía bắc Phi Luật Tân vào neo tại Fiery Cross Reef thuộc quần đảo Trường Sa trước khi tiếp tục tập trận tại phía đông eo biển Malacca.

Cuộc tập trận thứ hai gồm 10 chiến hạm thuộc Hạm đội Đông hải diễn tập tại phía đông bờ biển Đài Loan cùng với máy bay căn cứ trên đất liền tập tiếp tế nhiên liệu trên không, bay đêm, bay tránh radar và thực tập oanh tạc trên biển.

Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương nói sự phát triển lực lượng của Trung quốc làm thay đổi cán cân quân sự trong vùng Thái Bình Dương.

Quan hệ giữa Trung quốc và Hoa Kỳ là quan hệ vừa tranh đua vừa hợp tác, trong đó Đài Loan chiếm một vị trí quan trọng. Trong nhiệm kỳ thứ hai của tổng thống Bush, quan hệ giữa hai bên có chiều dịu xuống, nhưng trong những tháng 9 & 10/2008 Trung quốc ngưng các chương trình hợp tác quân sự khi Hoa Kỳ quyết định bán 6.5 tỉ mỹ kim vũ khí cho Đài Loan. Sau khi tổng thống Obama đắc cử, Trung quốc tiếp nối lại quan hệ quân sự. Bộ trưởng ngoại giao hai nước thăm viếng qua lại. Tổng thống Obama và Chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư đảng cộng sản Trung quốc Hồ Cẩm Đào gặp nhau không chính thức qua các buổi họp G-20 tại Luân Đôn và Pittsburgh. Cuối năm 2009 tổng thống Obama chính thức thăm viếng Bắc Kinh. Trước khi lên đường tổng thống Obama nói ông cho rằng sự vươn lên của Trung quốc không có tính đe dọa ai. Tuy nhiên đầu năm 2010, ông Obama chấp thuận một đợt bán vũ khí khác cho Đài Loan và Trung quốc lại ngưng các chương trình hợp tác quân sự.

Ý nghĩa chiến lược của căn cứ Hải quân Yulin

Năm 2007 vệ tinh dân sự của Anh khám phá Trung quốc xây cất gần xong một căn cứ Hải quân lớn tại Yulin gần thành phố Sanya nằm ở cực nam đảo Hải Nam. Khi hoàn tất căn cứ này có khả năng đưa Hải quân Trung quốc vào hoạt động tại Thái Bình Dương và Biển Đông.

Các hình chụp được cho thấy các hầm và cầu tàu tại Yulin có khả năng đồn trú nhiều chiến hạm và tàu ngầm. Các cầu đang xây có khả năng làm chỗ đậu cho các chiến hạm tấn công loại lớn và hàng không mẫu hạm.

Đồng thời Trung quốc cho cải tiến phi trường tại đảo Woody trong quần đảo Paracels và xây một đài radar tại Fiery Cross Reef trong quần đảo Trường Sa, và các đơn vị Hải quân khác hiện diện gần như thường trực tại Mischief Reef ở phía tây Phi Luật Tân. Các căn cứ và cơ sở này cho Trung quốc khả năng bảo vệ quyền “tự biên tự diễn” của mình trên Biển Đông, và sự giao thông qua lại của hai eo biển Malacca và Singapore.

Căn cứ Yulin giúp rút ngắn đường tiếp vận cho hạm đội Trung quốc hoạt động trong Biển Đông và gián tiếp đe dọa sự tự do lưu thông của thương thuyền các nước Nhật, Đài Loan và Nam Hàn.

Một phần căn cứ Yulin nằm dưới hầm không thể chụp hình bằng vệ tinh, nên không thể xác định được khả năng thật sự của nó. Phần chụp được cho thấy căn cứ Yulin đã có khả năng đồn trú tàu ngầm mang hỏa tiễn liên lục địa. Cuối năm 2007 người ta thấy tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ hai thuộc Loại Jin 095 tại căn cứ Yulin. Trước đây loại tàu ngầm này chỉ có mặt trong Hạm đội Bắc hải.

Khi Yulin hoàn tất căn cứ này sẽ là căn cứ tàu ngầm tấn công của Hải quân Trung quốc. Hiện nay Trung quốc chưa đóng xong các tàu ngầm tối tân, nhưng khi xong Trung quốc có tàu ngầm mang 12 hỏa tiễn có khả năng phóng ngoài biển. Và đây là lực lượng đáng quan ngại khi Trung quốc trang bị chúng với hỏa tiễn nhiều đầu đạn nguyên tử. Chung quanh đảo Hải Nam là vùng nước sâu nên tàu ngầm Trung quốc có thể ẩn náu để phóng hỏa tiển một cách kín đáo. Theo Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ Trung quốc sắp hoàn tất 5 tàu ngầm nguyên tử phóng hỏa tiễn (SSBN), một số sẽ được đồn trú tại Yulin.

Căn cứ Yulin như vậy có khả năng thay đổi cán cân lực lượng trên Biển Đông và là một trở ngại cho sự đi lại của Hải quân Hoa Kỳ (theo nhận xét của Đô đốc Willard) cũng như của Hải quân các nước chung quanh Biển Đông như Việt Nam và Phi Luật Tân.

Trung quốc quấy nhiễu tàu chiến của Hải quân Hoa Kỳ

Tháng Hai-Ba 2009 chiến hạm Hoa Kỳ USNS Impeccable đang làm công tác dò đáy biển tại một vùng cách mũi nam đảo Hải Nam 75 hải lý để đo lường khả năng hoạt động của tàu ngầm Trung quốc xuất phát từ căn cứ Yulin thì ngày 5/3 một chiến hạm nhỏ của Trung quốc chạy chận đầu không quá 100 mét mà không báo trước bằng vô tuyến. Hai giờ sau một máy bay quân sự Trung quốc lọai Y-12 bay thật thấp trên chiếc Impeccable, và chiến hạm Trung quốc trở lại chận đầu chiếc Impeccable lần này cách xa khỏang từ 400 đến 500 mét.

Ngày 7/3 một chiến hạm thu thập tin tức tình báo của Hải quân Trung quốc đến sát chiếc Impeccable dùng vô tuyến liên lạc với đài chỉ huy yêu cầu chiếc Impeccable rời vùng hoạt động nếu không “sẽ lãnh hậu quả”. Hôm sau 8/3 Trung quốc cho 5 chiếc tàu bám theo chếc Impeccablegiả cào (trawler) (2). Hai chiếc trawler tiến sát chiếc Impeccable 15 mét phất cờ Trung quốc bảo Impeccable rời khỏi khu vực tức khắc. Chiếc Impeccable dùng vòi phun nước đuổi tàu Trung quốc. Sau đó chiếc Impecable yêu cầu tàu Trung quốc tránh đường để rời khu vực an toàn tránh tạo khủng hoảng. Có lúc chiếc Impeccable phải ra lệnh lùi máy để tránh húc vào hai chiếc trawler. Khi Impeccable rời vị trí, ngư phủ các chiếc trawler dùng câu móc định cắt đứt dây kéo máy dò đáy biển (Sonar) của tàu Impeccable. (một chiếc thuộc sở kiểm ngư, một chiếc thuộc Viện hải học, một chiến hạm tuần duyên và hai chiếc

Ngày 11/6 Hải quân Trung quốc lại gây sự với Hải quân Hoa Kỳ khi cho tầu ngầm tìm cách cắt máy Sonar của chiếc USS John S. McCain khi chiếc tàu này đang thao dượt với hải quân Nam Dương và Phi Luật Tân .

Hai cuộc đụng chạm này cho thấy với thái độ của Trung quốc Biển Đông có thể là nơi bùng phát những sự cố bất ngờ.

Trung quốc xác định thái độ chủ quyền tại Biển Đông.

Từ năm 2007 Trung quốc đã làm một số hành động đụng chạm chủ quyền của Việt Nam.

Thứ nhất: Trung quốc áp lực các hãng dầu Hoa Kỳ ngưng tiến hành các giao kèo khai thác dầu khí ký với Việt Nam trong vùng “gọi là tranh chấp” trong Biển Đông.

Thứ hai: Trung quốc đơn phương cấm đánh cá trong Biển Đông.

Thứ ba: Trung quốc phản đối với Liên hiệp quốc khi Việt Nam và Mã Lai Á nộp hồ sơ xác định “vùng biển nối dài” chung của hai nước. Đồng thời Trung quốc đòi chủ quyền trên Biển Đông bằng cách đơn phương công bố một bản đồ gồm 9 đường chấm chấm (họp lại thành hình thù như một cái lưỡi bò) choán trọn 80% Biển Đông.

Năm 2007 Việt Nam vạch kế hoạch phát triển vùng biển, dự kiến đến năm 2020 vùng này sẽ đóng góp 55% GDP quốc gia và 55-60% hàng hóa, phẩm vật xuất cảng. Trung quốc âm thầm áp lực các công ty Hoa Kỳ đang tính toán đầu tư vào vùng biển Việt Nam, trong đó có công ty ExxonMobil, rằng nếu ký giao kèo với Việt Nam các công ty này sẽ mất quyền lợi làm ăn với Trung quốc.

Năm 2009 và 2010 Trung quốc đơn phương ra lệnh cấm đánh cá trên vĩ tuyến 12 từ 15-5 đến 1-8. Trung quốc nói mục đích cấm để cho cá sinh đẻ, để chận nạn đánh cá lậu và bảo vệ quyền lợi của ngư dân Trung quốc. Thời gian cấm là mùa đánh cá hằng năm của ngư dân Việt Nam.

Năm 2009 Trung quốc phái 9 chiếc tàu thuộc sở Bảo vệ Ngư nghiệp chạy tuần tra để thi hành lệnh cấm. Tàu Trung quốc chận bắt, lấy cá và đuổi thuyền bè ngư dân Việt Nam ra khỏi khu cấm. Có một lần tàu Trung quốc húc chìm một thuyền đánh cá Việt Nam. Ngày 16/7 Trung quốc bắt giữ 3 thuyền đánh cá của Việt Nam và 37 ngư dân gần đảo Paracels. Sau khi thả 2 thuyền, Trung quốc giữ lại thuyền thứ ba với 12 ngư dân đòi 31700 mỹ kim tiền phạt. Chính quyền tỉnh Quảng Ngãi (nơi xuất phát các thuyền đánh cá bị bắt) không chịu đóng tiền phạt. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối qua tòa đại sứ Trung quốc tại Hà Nội.

Lợi dụng hai bộ Thương Mãi Việt Nam và Trung quốc có chung một Trang Nhà, Trung quốc cho đăng một bản tin phản đối chính quyền Việt Nam (TBN: làm như Việt Nam tự chữi mình!). Khi nhận ra việc dối trá này của Trung quốc, Bộ Thương Mãi Việt Nam cho đóng trang nhà chung.

Chưa hết, tháng 8 khi hai thuyền đánh cá và 25 ngư dân Việt Nam chạy vào tránh bảo tại Paracels, Trung quốc giam thuyền và giam giữ các ngư dân. Lần này Việt Nam phản ứng mạnh mẽ đòi hủy bỏ các phiên họp chung để thảo luận về các vấn đề khai thác ngoài biển đã lên lịch. Trung quốc thả các ngư dân.

Tháng 4/2010 Trung quốc lại ban hành lệnh cấm như năm trước và hai chiếc tàu Yuzheng 311 và tàu tuần duyên 202 của Hải quân Trung quốc đã được phái đến bênh vực cho ngư dân Trung quốc nói là bị lực lượng Hải quân Việt Nam xách nhiễu. Các thuyền đánh cá Việt Nam dùng chiến thuật bao vây gây trở ngại vận chuyển cho tàu Yuzheng 311. Khi Trung quốc gởi thêm chiến hạm tới, các thuyền đánh cá Việt Nam rút đi.

Ủy ban Liên hiệp quốc về Thềm Lục Địa nối dài (Commission on the Limits of the Continental Shell –CLCS) đã định ngày 13/5/2009 là ngày cuối cùng để các quốc gia ven biển trên thế giới nộp bản khai Thềm Lục Địa Nối Dài theo một điều khoản của Luật Biển (UN Convention of Law of the Sea – UNCLOS). Ngày 6/5 Việt Nam và Mã Lai nộp một bản khai cho vùng chung phía Nam, và ngày 7/5 Việt Nam nộp một bản riêng trong vùng phiá Bắc (3).Trung quốc lập tức gởi một văn thư phản kháng đến Liên hiệp quốc (nhưng không nộp bản khai của mình theo tinh thần Luật Biển). Việt Nam gởi văn thư phản đối văn thư của Trung quốc.

Ngay sau đó Trung quốc (như đã nói ở trên) cho công bố một bản đồ gồm 9 đường chấm chấm mơ hồ họp thành một hình chữ U bao trọn Biển Đông nói là vùng biển chủ quyền. Trong 3 bản tuyên bố trước đây (9/1958 về lãnh hải, 1992 về lãnh hải và vùng lân cận, 1996 về đường chuẩn cho lãnh hải) và một bộ luật ban hành năm 1998 về thềm lục địa Trung quốc chưa bao giờ có một đòi hỏi có tính tự tác tự thọ như vậy.

Những hành động của Trung quốc làm Hoa Kỳ quan tâm và thấy cần điều chỉnh thái độ để bảo vệ quyền thương mãi và uy tín của mình. Thái độ của Hoa Kỳ trước đây là không can thiệp vào việc tranh chấp biển đảo giữa các nước trong vùng, và chỉ đặt quan tâm chính vào việc an toàn và tự do lưu thông trên biển.

Những tháng đầu của chính quyền Obama, Trung quốc và Phi Luật Tân bất hòa khi Phi vạch đường căn bản qua các hải đảo Trung quốc gởi chiến hạm tới có ý đe dọa, tổng thống Obama đã ủng hộ Phi bằng cách điện thoại cho bà tổng thống Phi Gloria Macapagal Arroyo xác định rằng Hoa Kỳ vẫn tôn trọng thỏa ước về tàu bè thăm viếng (Visiting Forces Agreement) giữa Hoa Kỳ và Phi.

Tháng 7/2009 Hoa Kỳ xác định quan điểm tại Biển Đông trước quốc hội. Chính phủ gởi hai ông Scot Marciel (Phụ tá bộ trưởng ngoại giao) và Robert Scher (Phụ tá bộ trưởng quốc phòng) đến điều trần trước Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương. Ông Marciel tuyên bố một cách dứt khoát rằng những tuyên bố về biển của Trung quốc tại Biển Đông không có một cơ sở quốc tế nào cả.

Ông Marciel nói với quốc hội rằng Hoa Kỳ có “lợi ích thiết yếu” (vital interest) khi duy trì sự ổn định, tự do lưu thông và bảo vệ quyền buôn bán của mình tại Đông Á. Ông Marciel sau khi tóm tắt cho quốc hội biết việc Trung quốc de dọa các công ty dầu khí của Hoa Kỳ định làm ăn với Việt Nam đã khẳng định: “Chúng ta cương quyết chống lại mọi de dọa các công ty Hoa Kỳ.”

Về việc tàu Trung quốc quấy nhiễu hoạt động của Hải quân Hoa Kỳ ngoài khơi đảo Hải Nam ông Scher xác định thái độ 4 điểm của Hoa Kỳ:

  1. Bằng lời và bằng hành động Hoa Kỳ duy trì sự hiện diện trong vùng.
  2. Hải quân Hoa Kỳ quả quyết duy trì quyền lưu thông trên biển.
  3. Quan hệ an ninh với các nước trong vùng qua các cuộc nói chuyện về chính sách và chiến lược và hợp tác bảo đảm an toàn trên biển.
  4. Tăng cường quan hệ ngoại giao – quân sự với Trung quốc để tránh đụng chạm do sự hiểu lầm.

Khi quan hệ giữa Việt Nam và Trung quốc căng thẳng Việt Nam trở nên gần gũi với Hoa Kỳ hơn. Tháng 6/2008 thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng viếng thăm Hoa Kỳ và hội kiến với tổng thống Bush. Thủ tướng Dũng là vị thủ tướng Việt Nam đầu tiên đến viếng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ sau năm 1975. Trong một thông cáo chung sau chuyến viếng thăm hai bên đồng ý duy trì các cuộc gặp gỡ cao cấp về an ninh và chiến lược. Ngoài ra tổng thống Bush còn tuyên bố Hoa Kỳ ủng hộ “chủ quyền, an ninh và sự tòan vẹn lãnh thổ của Việt Nam” (nguyên văn: the US supports “Vietnam’s national sovereignty, security and territorial integrity”.

Lời tuyên bố của tổng thống Bush không nói đến Biển Đông. Tuy nhiên người ta hiểu rằng đấy là một cách nói tiếp theo lời tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates trước đó vào đầu năm tại Singapore rằng: “Trong chuyến đi Á châu, tôi nghe nhiều quốc gia nói vê` tình trạng an ninh trong vùng do nhu cầu tài nguyên thiên nhiên và than phiền những chính sách ngoại giao có tính áp lực làm cho tình hình trong vùng trở nên phức tạp … Chúng ta nên tránh thái độ có tính áp lực mặc dù được che giấu dưới lớp vỏ hợp tác”. (TBN: Ai cũng biết bộ trưởng Robert Gates nói tới Biển Đông và thái độ đại hán của Trung quốc)

Các lời tuyên bố của Bộ trưởng Gates, của tổng thống Bush và của ông phụ tá ngoại giao Marciel là những lời nhắn nhủ Trung quốc rằng họ không nên đe dọa các công ty Hoa Kỳ định làm ăn với Việt Nam trên Biển Đông.

Quan hệ quốc phòng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ cũng được cải thiện hơn từ năm 2008. Tháng 10/2008 bộ Ngoại giao Việt Nam và Hoa Kỳ bắt đầu nói chuyện cấp cao về chính trị – quân sự. Tháng 4/2009 một số sĩ quan cao cấp Việt Nam được máy bay Hoa Kỳ chở đến mẫu hạm USS John Stennis để quan sát lực lượng Hải Không Quân thao dượt. Tháng 8/2009 và tháng 3/2010 cơ sở sửa tàu của Việt Nam sửa chữa các tàu hải quân Hoa Kỳ thuộc lực lượng vận tải đường biển (US Navy Military Sealift Command). Cuối năm 2009 bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh viếng thăm Hoa Thịnh Đốn và gặp bộ trưởng Gates tại Bộ quốc phòng. Trên đường đi tướng Thanh ghé Hawai thăm Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ tại Thái bình Dương. Theo chương trình, trong những tháng cuối năm 2010 này các giới chức quân sự cao cấp Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ gặp nhau. Tờ Quadrennial Defence Review năm 2010 viết rằng Hoa Kỳ xem Việt Nam và Indonesia là hai đối tác chiến lược quan trọng.

Những trở lực trong mối quan hệ Hoa Kỳ-Trung quốc

Sau khi nhậm chức chính quyền Obama mở đầu quan hệ với Trung quốc qua cuộc họp song phương bàn về Chiến lược và Kinh tế (Strategic and Economic Dialogue – SED) trong tháng 7/2009 tại Hoa Thịnh Đốn. Buổi họp sau đó tổ chức tại Bắc Kinh tháng 5/2010.

Tháng 8/2009 bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates tiếp tướng Xu Caihou, Phó chủ tịch Quân ủy trung ương của quân đội Trung quốc tại Pentagone. Tướng Xu Caihou còn gặp Cố vấn an ninh quốc gia James Jones, Tham mưu trưởng Liên quân Đô đốc Michael Mullen, thứ trưởng ngoại giao James Steinberg và thăm xã giao tổng thống Obama.

Ông Gates và tướng Xu đồng ý một chương trình 7 điểm:

  1. Thăm viếng cấp cao.
  2. Hợp tác nhân đạo và giúp đỡ nhau khi có thiên tai.
  3. Trao đổi hiểu biết y học quân sự.
  4. Trao đổi để hiểu nhau hơn giữa các sĩ quan cấp Tá và cấp Úy
  5. Trao đổi văn hóa và thể thao giữa hai quân đội.
  6. Tăng cường các cuộc thăm viếng ngoại giao.
  7. Trao đổi hiểu biết về cách thức tăng cường an toàn trên biển.

Tuy nhiên tướng Xu nêu ra 4 trở lực chính trong mối quan hệ Mỹ Trung gồm:

  1. Quan hệ quân sự giữa Hoa Kỳ và Đài Loan. Nếu Hoa Kỳ khắng khít quân sự với Đài Loan thì quan hệ quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung quốc khó được cải thiện.
  2. Tàu bè và máy bay của Hoa Kỳ không nên vào khu đặc quyền kinh tế của Trung quốc. Hoa Kỳ nên tôn trọng Luật Biển và các luật về biển của Trung quốc
  3. Một số luật của Hoa Kỳ làm trở ngại quan hệ Hoa Kỳ-Trung quốc như Luật “Defense Authorization Act” thông qua năm 1999
  4. Hoa Kỳ còn nghi ngờ thiện chí chiến lược của Trung quốc.

Tháng Ba/2010 Trung quốc nói với hai viên chức Hoa Kỳ thăm viếng Trung quốc rằng Trung quốc xem Biển Đông là vùng có “quyền lợi thiết yếu” (core interest) của Trung quốc. Đây là lần đầu tiên Trung quốc đưa Biển Đông lên hàng “quyền lợi thiết yếu” như Đài Loan và Tây Tạng với ý nghĩa nếu bị xâm phạm Trung quốc sẽ dùng vũ lực để bảo vệ.

Có nhiều lý do giải thích tại sao gần đây Trung quốc khẳng định lập trường đòi chủ quyền của mình trên Biển Đông.

T

hứ nhất, Trung quốc muốn áp lực Việt Nam cùng với Trung quốc khai thác dầu khí chung trong vùng biển ngoài khơi trên nguyên tắc thuộc Việt Nam. Nếu quả thật vậy thì Trung quốc khó đạt được ý đồ của mình vì Việt Nam kh

ông dễ gi để Trung quốc hưởng lợi những gì nằm trong (hay sát với) vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của mình. Trước đây Trung quốc áp lực các công ty nước ngòai không ký giao kèo khai thác dầu khí với Việt Nam cũng trong mục đích này (và tạm thời thành công). Hai công ty BP của Anh và ExxonMobil của Mỹ đã tạm ngưng khai thác theo giao kèo, nhưng gần đây cho biết sẽ tiếp tục tiến hành giao kèo đã ký. Hoa Kỳ đã cho Trung quốc biết Hoa Kỳ không chấp nhận ai làm áp lực với các công ty Hoa Kỳ làm ăn hợp luật lệ quốc tế .

Thứ hai, Trung quốc muốn cho Việt Nam thấy sự bất mãn khi biết Việt Nam hình như đang chuẩn bị mang việc xích lại với Hoa Kỳ ra bàn thảo trong đại hội 11 của đảng vào năm 2011. Từ năm 1995 sau khi thiết lập bang giao với Hoa Kỳ Việt Nam vẫn rất dè dặt trong quan hệ với Hoa Kỳ vì ngại làm mất lòng Trung quốc. Nhưng từ năm 2003 về sau áp lực trên Biển Đông của Trung quốc càng mạnh thì Việt Nam càng bớt dè dặt khi xích lại với Hoa Kỳ.

Cuối năm 2007 khi Trung quốc thành lập quận huyện bao gồm cả Trường Sa, sinh viên Việt Nam tại Sài Gòn và Hà Nội đã biểu tình phản đối và Trung quốc đã mạnh mẽ áp lực Việt Nam ngăn cấm các cuộc biểu tình. Qua năm 2008 sự chống đối của nhân dân trong nước trước ý đồ lấn chiếm của Trung quốc lên cao và cao điểm là năm 2009 khi tướng Võ Nguyên Giáp lên tiếng cho rằng vụ Trung quốc khai thác mỏ Bauxite ở cao nguyên Việt Nam là có hại cho an ninh quốc gia. Đảng cộng sản Việt Nam nhận ra rằng khuynh hướng chống Trung quốc trong nước là một đe đọa cho sự lãnh đạo của đảng cộng sản nếu họ không có chương trình đáp ứng.

Những nhà quan sát tình hình Việt Nam đồng ý rằng nội bộ lãnh đạo Việt Nam có hai khuynh hướng. Một muốn mở rộng quan hệ quốc tế để hội nhập rộng rãi. Một muốn thắt chặt quan hệ với Trung quốc. Và Trung quốc tỏ thái độ cứng rắn trên Biển Đông để cảnh cáo Việt Nam rằng theo họ thì có lợi hơn là chống họ. Nhưng hình như trước tình cảm chống Trung quốc của nhân dân nhóm thứ hai chủ trương thân Trung quốc cũng phải đồng ý cần tìm một con đường quốc phòng khác hơn là dựa vào Trung quốc.

Thứ ba, chính sách Biển Đông của Trung quốc có thể do nhu cầu năng lượng. Làm chủ được Biển Đông có nghĩa là làm chủ một kho dầu khổng lồ và bảo đảm một đường lưu thông quan trọng trên biển. Trung quốc đã cải tiến thiết bị Hải quân và thiết lập căn cứ ở Yulin trong mục đích này.

Năm 2002 khối Asean và Trung quốc ký bản “Tuyên bố về Cách ứng xử trên Biển Đông” (Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea) đồng ý “tự chế và thận trọng trong các hoạt động để tránh gây ra tranh chấp” (self restraint in the conduct of activities that would complicate or escalate disputes). Tuy nhiên tình hình an ninh trên Biển Đông càng căng thẳng và trở nên cấp bách trong ba năm qua. Sự đụng chạm giữa Hải quân Trung quốc và Hải quân Hoa Kỳ tại phía Nam đảo Hải nam cho thấy Biển Đông có thể là nơi “tóe ra lửa” nếu các bên liên hệ thiếu thận trọng.

Để kết thúc bản Tài liệu về tranh chấp Biển Đông, giáo sư Thayer đề nghị một giải pháp 7 điểm để giảm căng thẳng trên Biển Đông:

  1. Trung quốc cần thảo luận với các nước trong vùng về quyền đánh cá và chấm dứt việc đơn phương cấm đánh cá vùng này vùng khác hằng năm một cách tùy tiện.
  2. Cần chi tiết hóa việc thi hành bản “Tuyên bố về Cách ứng xử trên Biển Đông” ký năm 2002.
  3. Trung quốc và Hoa Kỳ cần có một bản văn Thỏa Thuận về đụng chạm trên biển (Incidents At Sea Agreement) để tránh đụng chạm trên biển ngoài ý muốn.
  4. Các nước có vũ khí nguyên tử, nhất là các nước trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc cần tham gia vào “Hiệp Định Xác lập vùng Phi nguyên tử Đông Nam Á” (Southeast Asia Nuclear Free Weapons Zone Treaty). Trung quốc hứa sẽ tham gia (nhưng chưa ký). Hiệp hội Asean cần xác định vùng nam đảo Hải Nam có nằm trong vùng địa lý áp dụng của Hiệp Định này không ?
  5. Các nước trong vùng chung quanh Biển Đông cần thảo luận ở cấp cao cách thi hành Luật Biển để tránh sự tranh chấp về nội dung các bản khai nộp Liên hiệp quốc liên quan đến thềm lục địa nối dài và xác định rõ ràng Hải quân các nước có quyên hoạt động gì trong vùng đặc quyền kinh tế của nước khác.
  6. Hội nghị các bộ trưởng quốc phòng khối Asean + tại Hà Nội sắp đến cần tạo sự tin cậy và đề ra các biện pháp đề phòng tại Biển Đông.
  7. Các nước trong vùng cần thảo luận để thành lập một cơ chế gặp nhau thường xuyên giữa các lãnh tụ quốc gia để thảo luận những vấn đề còn cấn cái giữa các nước liên quan đến an ninh trong vùng.

© Trần Bình Nam (Bản tiếng Việt)

August 15, 2010

——————————————————————

Ghi chú:

(1) Xem tài liệu số 360 trang Bình Luận TBN

(2) Giả cào là danh từ ngư dân vùng duyên hải miền Trung Việt Nam dùng để gọi thuyền đánh cá bằng lưới kéo lê sát đáy biển.

(3) Xem tài liệu số 311 trang Bình Luận TBN

Sunday, August 15, 2010

Blogger Mẹ Nấm: Tại sao lại phải từ bỏ quyền được nói điều mình suy nghĩ?

Trích VOA News

Cô Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, tức blogger Mẹ Nấm, người từng bị bắt tạm giam hồi tháng 9 năm 2009 vì đã có những bài blog viết về những chủ đề mà chính quyền coi là nhạy cảm như vấn đề bauxite Tây Nguyên hay vấn đề Trường Sa và Hoàng Sa, mới đây đã được tổ chức Human Rights Watch trao giải thưởng Hellman/Hammet, một giải thưởng để vinh danh những cây bút dũng cảm từng bị chính quyền trấn áp. Blogger Mẹ Nấm cũng đã từng bị giới hữu trách từ chối cấp hộ chiếu và không cho phép xuất cảnh, nhưng cô đã không ngừng khiếu nại để đòi lại quyền lợi chính đáng của một công dân.

Blogger Mẹ Nấm sẽ tiếp tục viết lên những điều trăn trở của một công dân vì cho rằng đó là trách nhiệm của một người Mẹ.

Chia sẻ

VOA: Xin chào chị Như Quỳnh, xin phép được hỏi chị từ khi bị tạm giam giữ rồi được thả đến nay cuộc sống của chị ra sao ạ?

Như Quỳnh: Sau khi bị tạm giữ thì cuộc sống gia đình nó cũng có chút xáo trộn, công việc nói chung cũng có xáo trộn. Những khó khăn thì không ai gọi tên hết được, nhưng nói chung là có thay đổi so với trước, thậm chí các mối quan hệ như bạn bè thì nhiều người cũng kiêng dè với mình hơn ngày xưa.

VOA: Năm ngoái, chị đã đồng ý ngưng viết blog như một điều kiện để được trả tự do, sau đó chị viết trên blog của mình rằng chị hứa sẽ không viết blog nữa, nhưng gần đây chị lại tiếp tục viết blog, tại sao chị lại thay đổi quyết định của mình vậy?

Như Quỳnh: Thiệt ra sau khi mình trở về nhà 2 ngày thì mình đã đưa ra quyết định không viết blog nữa, vì trong cam kết mà phía an ninh buộc chồng mình phải ký có một đoạn cam kết “không để vợ tôi viết blog nói xấu nhà nước nữa”. Mình là phụ nữ mà, nên cái quan trọng nhất trong gia đình là phải giữ hòa khí, vì vậy mình chọn việc từ bỏ viết blog để giữ hòa khí trong gia đình là cái thứ nhất. Cái thứ hai, khi làm việc thì an ninh họ cũng gợi ý là mình dừng viết blog đi, đừng có viết blog nữa. Mình nghĩ thời điểm đó mình dừng viết blog là vì gia đình, vì một cuộc sống yên ổn như một người bình thường khác.

Cho đến khoảng tháng 2/2010 thì mình xin cấp hộ chiếu, khi nhận hồ sơ của mình thì giấy tờ bình thường thôi, nhưng đến chiều họ lại báo là do có thông báo yêu cầu từ phía cơ quan an ninh điều tra từ tỉnh Khánh Hòa thì mình chưa được phép xuất cảnh, cho nên họ không cấp hộ chiếu cho mình được. Cái điều đó nó làm mình cảm thấy khó chịu, bởi vì khi mà mình được trả tự do trở về nhà, mình cảm thấy mình không được tự do lắm vì cuộc sống vẫn bị dòm ngó và việc không cấp hộ chiếu cho mình thì giống như mình không có đủ quyền của một công dân bình thường. Cho nên mình nghĩ mình đã hứa là mình không viết blog nữa, nhưng họ vẫn chưa xem mình là một công dân bình thường, vì vậy tại sao mình lại phải từ bỏ cái quyền được nói điều mình suy nghĩ, cho nên mình viết blog lại.

VOA: Khi đó chị có sợ rằng việc không giữ lời hứa này sẽ gây thêm khó khăn cho mình không?

Như Quỳnh: Thật sự là cái cảm giác sợ hãi nhất của một con người có lẽ là cảnh tù tội, mất tự do, và khi mình đã trải qua cái cảm giác mất tự do rồi thì mình nghĩ là không có nỗi sợ hãi nào có thể lớn hơn được nỗi sợ hãi đó.

VOA: Còn bây giờ chị đã được cấp hộ chiếu rồi phải không ạ?

Như Quỳnh: Mình đã được cấp hộ chiếu hôm thứ Hai vừa qua.

VOA: Vậy là do giới hữu trách họ thay đổi quyết định, thay đổi thái độ hay là có lý do gì khác ạ?

Như Quỳnh: Mọi người nói có thể là nhiều lý do, đặc biệt là việc mình trả lời phỏng vấn đài CNN trong câu chuyện về một blogger Việt Nam. Nhưng thực sự thì mình vẫn muốn tin rằng cơ quan an ninh điều tra họ có người thực sự biết lắng nghe và biết sửa sai. Bởi vì thái độ làm việc sau này của họ đối với mình rất nhẹ nhàng. Cho nên dù có lý do A, B, C, D nào đó thì mình vẫn muốn tin là cơ quan an ninh điều tra họ đã biết lắng nghe, dù là muộn màng.

VOA: Ngoài ra, chị có làm đơn khiếu nại lên cơ quan nào khác không ạ?

Như Quỳnh: Có, sau khi không được cấp hộ chiếu thì mình có làm đơn gửi thẳng lên ông giám đốc công an tỉnh Khánh Hòa, tức là người chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ cơ quan an ninh ở Nha Trang, thì mình có nói về việc mình không được cấp hộ chiếu. Lúc đó mình nghĩ không phải mình đòi hộ chiếu mà là mình nghĩ phải có lý do chính đáng chứ không phải đề nghị chung chung, bởi vì mình có gửi cho ông ấy cả quyết định trao trả tự do nữa, thì mình muốn biết chính xác là tại sao mình không được cấp hộ chiếu, chứ không phải từ đơn vị cấp hộ chiếu là PA35 họ nói một lý do chung chung như vậy, mình thấy không thỏa đáng thì mình khiếu nại lần thứ nhất. Nhưng sau đó im lặng không có sự hồi đáp nào hết, khoảng hai tháng cho đến khi mình xuất hiện trên CNN, thì mình gửi tiếp đơn khiếu nại lần thứ hai, thì họ mời mình lên làm việc rất là nhẹ nhàng.

VOA: Sau vụ việc này chị rút ra được kinh nghiệm gì?

Như Quỳnh: Cái chuyện không được cấp hộ chiếu mình nghĩ là có thủ tục khiếu nại. Vì vậy những ai, những trường hợp nào không được cấp hộ chiếu hoặc bị tịch thu hộ chiếu một cách trái phép, mình gọi là trái phép tức là mình ra sân bay rồi bị tịch thu hộ chiếu, thì mình nghĩ nên kiên nhẫn và làm đơn khiếu nại, vì công an thì cũng phải theo luật pháp thôi. Mình có quyền phản đối và đừng có im lặng. Mình có gặp nhiều trường hợp rồi, họ hứa hẹn là sẽ cấp, để qua thời điểm này, thời điểm kia, thời điểm nhạy cảm, hoặc qua vụ này sẽ cấp hộ chiếu, nhưng mà đừng bao giờ thỏa hiệp với những lời hứa như vậy, bởi vì khi mà mình dễ dãi thỏa hiệp với một lời hứa mà không có văn bản, thì những người đai diện luật pháp, đơn giản ở đây là công an, thì họ sẽ có cơ hội để tạo ra tiền lệ xấu là tiếp tục giữ im lặng trước sự đòi hỏi quyền lợi công dân chính đáng của mình.

VOA: Khi không được cấp hộ chiếu chị đã viết blog lại, giống như một cách để bày tỏ sự phản đối, bây giờ đã được cấp hộ chiếu rồi, chị có định tiếp tục viết blog nữa không thưa chị?

Như Quỳnh: Thực sự cái mục đích của mình viết blog hay trả lời phỏng vấn thì nó không phải là vấn đề hộ chiếu, vì từ xưa đến giờ những điều mình viết nó là một cái trăn trở hay bức xúc rất bình thường của một công dân thôi. Xã hội mà, phải có phản biện thì nó mới tốt đẹp chứ! Cho nên mình nghĩ mình sẽ tiếp tục viết blog vì mong muốn một sự thay đổi tốt đẹp hơn cho xã hội Việt Nam hiện tại thôi.

VOA: Và chị sẽ tiếp tục viết về các đề tài được cho là nhạy cảm?

Như Quỳnh: Nếu như nhà nước vẫn tiếp tục bỏ qua các ý kiến của các chuyên gia, như vấn đề bauxite hay vấn đề chủ quyền, nếu như mà cứ để quyền lợi của người dân Việt Nam giống như ngư dân Việt Nam bị bắn, bị giết, mà nhà nước vẫn im lặng, không có động thái nào mạnh mẽ hơn, thì mình nghĩ là không chỉ mình mà tất cả các blogger Việt Nam sẽ tiếp tục viết những đề tài được cho là nhạy cảm.

VOA: Chị từng viết “nếu tôi có can đảm như những những nhà ái quốc đi trước, thì trang blog này sẽ còn tiếp tục”, và bây giờ trang blog đang được tiếp tục, phải chăng giờ đây chị đã lấy lại được can đảm?

Như Quỳnh: Mình thì mình không nghĩ như vậy, ở cái thời điểm mà người ta sợ hãi hoặc là để bảo toàn cái hạnh phúc gia đình mình thì người ta buộc phải đưa ra sự lựa chọn, tuy nhiên, khi những người thân trong gia đình có thể ngồi xuống lắng nghe nhau là một, cái thứ hai là vì tương lai của con cái nữa. Tương lai của chính mình thì có thể gần quá rồi, gần nửa đời người rồi, nhưng còn tương lai của con cái nữa, mình không nghĩ là mình can đảm đâu, đó là trách nhiệm của một người Mẹ thôi.

VOA: Chị là một trong 6 cây bút Việt Nam được Human Rights Watch trao giải thưởng Hellman/Hammett năm nay, chị có thể cho biết cảm tưởng của chị khi được nhận giải thưởng này được không ạ?

Như Quỳnh: Thực sự mình rất là bất ngờ khi mình được nhận giải thưởng, bởi vì từ xưa đến giờ giải thưởng này đều dành cho các nhà văn. Mình bất ngờ và vinh dự vì được là một trong hai blogger được nhận giải thưởng này.

VOA: Chị có sợ giải thưởng sẽ đem đến cho chị thêm rắc rối không?

Như Quỳnh: Thật sự là mình không nghĩ là nó sẽ rắc rối nhiều, nhưng những người xung quanh mình hàng ngày ai cũng nói là nó sẽ rắc rối, nên mình cũng hơi sợ. Tại vì mình nghĩ rằng giải thưởng này nó là vinh dự đối với cá nhân mình, nhưng mà đối với một đất nước mà có nhiều công dân nhận được giải thưởng của Human Rights Watch thì thực sự nó là điều đáng buồn, nếu không muốn nói là điều đáng xấu hổ cho sự tự do, dân chủ của nước đó. Mình thì mình ước là nếu có thể đổi được vinh dự của cá nhân mình thì mình muốn là năm sau và nhiều năm tới nữa Human Rights Watch không vinh danh bất kỳ người Việt Nam nào nữa tại vì Việt Nam đã có sự tiến bộ về tự do và dân chủ.

Saturday, August 14, 2010

CSVN ráo riết chuẩn bị các công cụ đàn áp người dân

Trích VietHerald
SÀI GÒN, Việt Nam: Một số tin tức mới nhất vừa được truyền đi trên mạng cho biết, công an CSVN đang ráo riết luyện tập, nhập thêm các chiến cụ nhằm chuẩn bị đối phó với tình hình của dân chúng Việt Nam đang ngày càng bất mãn và có khả năng bạo động lớn từ đây đến cuối năm. Các vụ bạo loạn bắt nguồn từ thái độ phẫn uất của dân chúng qua các vụ Tam Tòa, Thái Hà, Cồn Dầu.... và gần đây nhất là vụ Bắc Giang đang làm cho công an CSVN run sợ và suy tính phải áp dụng thêm các công cụ đàn áp khốc liệt hơn.

Dù đang trong tình trạng kinh tế khó khăn, nhưng ngành công an vẫn được ưu ái nhập khẩu thêm nhiều xe bọc thép, xe hummer để tạo thành các chiến cụ đàn áp dân chúng. Các đợt huấn luyện đặc biệt chống bạo động đang được luyện tập, ở Saigon, các lực lượng này đang ráo riết thực hành trong các sân của quân khu 7 và Thủ Đức.

Những chiếc xe Hummer H2 được xem là dòng xe rất đắt tiền, giới đại gia Việt Nam gọi là “hàng khủng” và mức tiêu phí nhiên liệu cũng kinh khủng (trên 40 lít xăng/100km). Dĩ nhiên để tậu được 1 chiếc xe này, ngoài giới tư bản đỏ thì có lẽ chỉ có tiền đóng thuế của toàn dân (nhà nước quản lý) mới kham nổi. Nhưng trong hình ảnh cho thấy, CSVN không ngại tiếc tiền để trang bị loại thiết bị hạng nhất này để làm công cụ trấn áp.

Dư luận hành lang “Cung đình” cũng xôn xao việc Công an chống bạo động được phép nhập thêm 10 chiếc Hummer H2 bọc thép chống đạn, được áp thuế 0%... dành cho xe tăng. Những chiếc xe xa xỉ này nay dành cho công an chống bạo động với súng gắn trên mui, cắm cờ đỏ (cột dây và cán tre), hiên ngang đi giữa phố thị uy.

Những chiếc xe tăng đắt tiền này rồi đây không biết có được dùng cho việc cán chết dân hay không? Và những họng súng đen ngòm trên mui xe có xả đạn vào người dân lành đói rách hay không?

Nhìn vào những hành động của chính quyền trong quá khứ, người ta dễ hình dung câu trả lời này ra sao!



Friday, August 13, 2010

Trung Quốc đánh thức Việt Nam và Ấn Độ

Trích Đàn Chim Việt

Tác giả: B.Raman (Srilanka), Ngọc Thu dịch

Năm nay đánh dấu kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hai nước đang tiến hành kỷ niệm Năm Hữu nghị Việt – Trung. Hồi tháng 11 năm ngoái, hai bên đã ký kết một số hiệp định về phân định ranh giới 1.300 km trên bộ và đồng ý bắt đầu các cuộc thảo luận, xây dựng các hướng dẫn để giải quyết các vấn đề chưa giải quyết, liên quan đến biển Đông.

Sau đó là các cuộc thảo luận thân mật trong cuộc họp của Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Việt – Trung lần thứ tư, được tổ chức tại Bắc Kinh vào ngày 1 tháng 7 năm 2010. Theo một bản tin trên Tân Hoa xã, trong cuộc họp, hai nước đã đồng ý “giải quyết một cách thích đáng các vấn đề lãnh hải ở biển Đông”. Theo hãng tin này, đây là một trong năm quyết định đạt được sự đồng thuận tại cuộc họp, do ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viên Trung Quốc đồng chủ trì, cùng với ông Phạm Gia Khiêm, phó Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Ngoại giao.

Theo Tân Hoa xã, ông Khiêm tái khẳng định rằng Việt Nam đã sẵn sàng làm việc với Trung Quốc để xử lý đúng đắn các vấn đề biển Đông theo quan điểm tình hình chung về quan hệ song phương và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, cũng như sự cần thiết duy trì ổn định. Trong cuộc họp này, Trung Quốc và Việt Nam cũng đồng ý tiếp tục tăng cường trao đổi chính trị, tăng cường hợp tác kinh tế thương mại, tăng cường trao đổi văn hoá và tăng cường phối hợp các vấn đề quốc tế quan trọng và các vấn đề trong khu vực.

Ông Đới nói rằng, quan hệ song phương ở trong thời kỳ quyết định trong việc kế thừa quá khứ và hướng tới tương lai. Ông nói thêm: “Lịch sử 60 năm quan hệ song phương đã chứng minh rằng, việc phát triển tình hữu nghị Việt – Trung là vì lợi ích căn bản của hai nước và hai dân tộc. Nó cũng có lợi cho hòa bình và thịnh vượng trong khu vực”.

Ông Đới cũng nói thêm rằng, kể từ cuộc họp thứ ba của Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác hồi năm ngoái, việc hợp tác trên thực tế giữa hai nước đã đạt được tiến bộ mới. Ông đã đề cập trong mối quan hệ này, trao đổi chính trị phát triển, hợp tác sản xuất mang lại lợi ích lẫn nhau, trao đổi văn hóa có hiệu quả, tiến triển trong việc giải quyết các vấn đề ranh giới, và phối hợp chặt chẽ hơn và hỗ trợ lẫn nhau về các vấn đề quốc tế quan trọng và các vấn đề trong khu vực. Ông nhấn mạnh rằng, vì lợi ích của sự phát triển trong tương lai của quan hệ song phương, hai bên nên luôn luôn ghi nhớ tình hình chung và có một cái nhìn dài hạn trong khi duy trì tình hữu nghị láng giềng tốt. Ông kêu gọi hai bên học hỏi lẫn nhau để đạt được sự phát triển chung, và để gia tăng sự tin cậy, hiểu biết lẫn nhau và để đối phó các vấn đề một cách thích hợp, thông qua đàm phán một cách thân thiện. Ông nói them rằng: “Trung Quốc sẵn sàng làm việc với Việt Nam để chỉ đạo sự phát triển quan hệ hai nước từ vị trí chiến lược và sử dụng Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Việt – Trung như là một nền tảng để thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện song phương”.

Ông Khiêm nói đó là lập trường không thay đổi của Đảng và Chính phủ Việt Nam, nhằm tiếp tục nâng cao quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung, đó cũng là ưu tiên trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Ông nói thêm: “Việt Nam luôn ghi nhớ sự hỗ trợ của Trung Quốc cũng như sự giúp đỡ cho cuộc cách mạng và xây dựng và cam kết phát triển tình hữu nghị lâu dài với Trung Quốc. Việt Nam sẵn sàng làm việc với Trung Quốc nâng cao sự hợp tác trong các lĩnh vực khác nhau”.

Như vậy, cho đến tuần đầu tiên của tháng 7 năm 2010, quan hệ giữa hai nước vẫn thân mật, mặc dù luôn luôn có sự khác biệt về việc đòi chủ quyền của họ trên biển Đông và đã có những dấu hiệu cho thấy họ đã đồng ý để thảo luận về sự khác biệt trong một nỗ lực để đạt được một thỏa thuận đôi bên cùng đồng ý, tương tự như các thỏa thuận của họ hồi năm ngoái về phân định biên giới trên bộ.

Ngoại trưởng Clinton tại cuộc họp với khối ASEAN tại Hà Nội 7/2010

Mọi chuyện bắt đầu đi lệch giữa hai nước sau khi bà Hillary Clinton, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, mạnh mẽ nói đến vấn đề biển Đông tại cuộc họp của các Bộ trưởng Ngoại giao ở Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) tại Hà Nội vào tuần thứ ba của tháng 7 năm 2010, và dự kiến Hoa Kỳ như là một bên liên quan trong việc bảo đảm quyền tự do đi lại. Trong khi Hoa Kỳ không đòi chủ quyền lãnh thổ ở biển Đông, họ có lợi ích quan trọng trong việc bảo vệ quyền tự do đi lại của tàu bè và máy bay. Một kết luận rõ ràng từ sự can thiệp của bà [Clinton] đó là, Hoa Kỳ đã quyết định thách thức việc đòi chủ quyền của Trung Quốc rằng Trung Quốc có chủ quyền trên toàn bộ biển Đông.

Trung Quốc đã đòi chủ quyền như thế này trong vài năm và họ đã lặp lại sau cuộc họp ARF. Tân Hoa xã đăng tin như sau vào ngày 30 tháng 7 năm 2010: “Một quan chức Bộ Quốc phòng Trung Quốc hôm thứ Sáu (ngày 30 tháng 7) cho biết, Trung Quốc có ‘chủ quyền không thể tranh cãi’ trên các đảo ở biển Đông và vùng biển xung quanh. Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng, ông Cảnh Nhạn Sinh nói trong một cuộc họp báo rằng, Trung Quốc sẽ thúc đẩy việc giải quyết những khác biệt về biển Đông với ‘các nước có liên quan’ thông qua đối thoại và đàm phán, và phản đối việc quốc tế hóa vấn đề. Trung Quốc sẽ tôn trọng các quyền tự do của tàu bè và máy bay của ‘các quốc gia có liên quan’ đi qua biển Đông theo quy định của luật pháp quốc tế, ông Cảnh nói”.

9 . Đó là ý kiến về biển Đông như là vùng biển quốc gia mà Trung Quốc thực hiện chủ quyền lịch sử mà bà Clinton tìm cách thách thức một cách mạnh mẽ, Hoa Kỳ đã và đang thách thức việc đòi chủ quyền của Trung Quốc ngay cả trước đó, nhưng một cách kín đáo để không ảnh hưởng đến quan hệ song phương Mỹ – Trung. Hội nghị ARF tại Hà Nội đã đánh dấu một bước ngoặt trong các tuyên bố của Mỹ về chủ đề này. Bà Clinton đã đưa ra lập trường của Hoa Kỳ một cách công khai và mạnh mẽ về các vấn đề nêu ra bởi lập trường của Trung Quốc đối với biển Đông mà không còn lo ngại tác động của nó lên quan hệ Trung – Mỹ. Đó là, như thể Hoa Kỳ đã quyết định rằng thời cơ đã đến để nói thẳng lập trường của Hoa Kỳ trước công chúng thay vì thể hiện mối nghi ngại với Bắc Kinh một cách kín đáo như họ đã làm trong quá khứ.

10. Điều gì đã gây ra sự thay đổi quan trọng trong lập trường của Hoa Kỳ? Phải chăng chính phủ của Tổng thống Barack Obama đã không hài lòng về những gì họ cảm nhận khi quan điểm không hợp tác của Trung Quốc tại hội nghị khí hậu ở Copenhagen hồi cuối năm ngoái? Hay sự quan ngại của Washington qua việc Trung Quốc miễn cưỡng lên án Bắc Hàn trong việc tấn công tàu Nam Hàn hồi tháng 3 vừa qua? Hoặc là sự giận dữ của Washington vì bị làm nhục khi Bắc Kinh từ chối chuyến viếng thăm đã thoả thuận của ông Robet Gates, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đến Bắc Kinh, để phản đối việc Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan? Hoặc là có bất kỳ thể hiện sự quan ngại kín đáo nào của một số thành viên ASEAN gửi tới Hoa Kỳ qua việc quyết đoán ngày càng gia tăng của Hải quân Trung Quốc ở biển Đông và qua những gì mà họ xem hai chuẩn mực khác nhau của Trung Quốc trong về vấn đề này.

Trung Quốc tìm cách ngăn chặn bất kỳ nỗ lực nào của các nước như Việt Nam để khai thác trong khu vực và vùng biển mà họ đòi chủ quyền về dầu hỏa và khí đốt, rằng tất cả các vấn đề liên quan đến quyền thăm dò, quyền đánh cá v.v… nên để dành để giải quyết trong tương lai, trong khi chính Bắc Kinh đã không tuân theo thỏa thuận này về cả chữ lẫn ý. Thật khó có thể nói chính xác những gì gây ra sự can thiệp của Hoa Kỳ một cách mạnh mẽ, ủng hộ các nước ASEAN tại Hà Nội. Có thể đây là sự tổng hợp của tất cả các yếu tố nói trên.

Theo báo Washington Post ngày 31 tháng 7 năm 2010, ông Đới Bỉnh Quốc đã nói với bà Hillary Clinton hồi tháng 5 năm 2010, trong một trao đổi căng thẳng trên khu vực mà Trung Quốc đã xem tuyên bố của mình trên biển Đông là sự “quan tâm cốt lõi của quốc gia”. Đại sứ quán Trung Quốc ở Washington cũng yêu cầu Bộ Ngoại Giao không đưa vấn đề ra trước cuộc họp tại Hà Nội và dường như [Trung Quốc] nghĩ rằng Washington sẽ làm theo các mong muốn của Trung Quốc. Trung Quốc đã bất ngờ khi bà [Clinton] nêu ra vấn đề, mặc dù theo yêu cầu của Trung Quốc không nên làm như vậy tại cuộc họp ARF hôm 23 tháng 7 năm 2010.

Báo Wasington Post cho biết: “Hoa Kỳ tiếp tục vấn đề này dường như làm ngạc nhiên các lãnh đạo Trung Quốc, mặc dù các quan chức Mỹ đã nói với Trung Quốc về vấn đề này hàng tháng. Các viên chức Hoa Kỳ và châu Á cho biết rằng, Việt Nam và Hoa Kỳ là những nước dẫn đầu đưa ra phần nào các mối lo ngại rằng, lực lượng hải quân Trung Quốc ngày càng hiếu chiến trên biển, giữ tàu đánh cá và bắt các thủy thủ của các nước khác. Một số vụ nổ súng cũng đã xảy ra trong những tháng gần đây, các viên chức châu Á nói”.

Mức độ phiền toái của Hà Nội đối với Bắc Kinh là hiển nhiên, thực tế là họ đã áp dụng các biện pháp chắc chắn làm Bắc Kinh bực mình khi tăng cường quan hệ với Mỹ. Có hai sự tiến triển có ý nghĩa đáng kể trong mối quan hệ này. Thứ nhất là báo cáo rằng Hoa Kỳ và Việt Nam đang đàm phán thỏa thuận hợp tác hạt nhân dân sự, tương tự như thỏa thuận đã được ký kết giữa Hoa Kỳ với Ấn Độ hồi tháng 7 năm 2005. Kế đến là chuyến viếng thăm, rõ ràng là với sự tán thành của Hà Nội, tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân, tàu USS Washington (*) đến vùng biển Việt Nam hôm 8 tháng 8 để đánh dấu kỷ niệm 15 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

Trước đó, tàu này đã tham gia diễn tập chung với Hải quân Nam Hàn Quốc ở biển Nhật Bản. Nó đã đến Hoàng Hải trong thời gian diễn tập, nhưng Hoa Kỳ đã quyết định thực hiện cuộc tập trận ở ngoài Hoàng Hải để đáp ứng các phản đối của Trung Quốc. Cùng lúc, Hoa Kỳ đã nói rõ ràng rằng, họ dành quyền được gửi tàu này đến Hoàng Hải, có thể trong tháng 9, như một phần trong cuộc diễn tập chung với Hải quân Nam Hàn. Đối với Việt Nam đã nhận con tàu này, đó là quan tâm đến Trung Quốc vẫn chưa có tàu sân bay riêng, là một bước đi táo bạo để nhấn mạnh sự phiền toái của họ với Bắc Kinh bằng cách tìm kiếm sự áp đặt nguyện vọng của mình trên các nước ASEAN có các tuyên bố hợp pháp ở vùng biển Đông. Một số nhà phân tích Trung Quốc đã mô tả những dấu hiệu này của Hoa Kỳ và Việt Nam đến gần với nhau hơn, như là gây bất ổn. Điều này đã không ngăn cản Việt Nam thực hiện các cuộc thương lượng với Hoa Kỳ.

Bà Nguyễn Phương Nga, phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết, hôm 5 tháng 8 năm 2010, rằng các tàu Trung Quốc đã tiến hành thăm dò địa chấn từ cuối tháng 5, gần quần đảo Hoàng Sa. Bà cáo buộc Trung Quốc “vi phạm chủ quyền của Việt Nam và quyền chủ quyền trên biển Đông”. Trong lời đáp lại rõ ràng, bà Khương Du, phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói trong một thông cáo báo chí đăng trên website của Bộ ngày 6 tháng 8 rằng, Trung Quốc kiên quyết phản đối bất kỳ lời bình luận và hành động nào vi phạm chủ quyền trên quần đảo Tây Sa (tức Hoàng Sa) và vùng biển lân cận ở biển Đông. Bà nói thêm rằng: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và vùng biển lân cận”.

Ông Su Hao, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quản lý Xung đột và Chiến lược, thuộc Đại học Ngoại giao Trung Quốc, đã nói với “China Daily” rằng, luật pháp quốc tế và lịch sử đã cho Trung Quốc chủ quyền đối với khu vực. “Trung Quốc là nước đầu tiên đã phát hiện và đặt tên quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) ở biển Nam Trung Hoa (biển Đông) và cũng là nước đầu tiên đã chính thức đặt các đảo ở biển Nam Trung Hoa (biển Đông) dưới một chính quyền. Thật ra, các tàu Trung Quốc đã và đang làm nghiên cứu ở khu vực Tây Sa (Hoàng Sa) trong một thời gian dài. Không phải là lần đầu tiên. Bây giờ Việt Nam đang thách thức hiện trạng, nhưng hoàn toàn không chứng cứ lịch sử và pháp lý hỗ trợ và các nhận xét của họ trùng hợp với quan điểm của Hoa Kỳ. Việt Nam đã cố ý đưa vấn đề biển Nam Trung Hoa, nhằm quốc tế hóa vấn đề, để nó có thể hành động như một đối trọng mạnh mẽ hơn đối với Trung Quốc, đã được Hoa Kỳ ủng hộ”.

Ông Xu Liping thuộc Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc đã tuyên bố rằng, Việt Nam chưa hề đặt ra bất kỳ câu hỏi nào về chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và vùng biển lân cận khi Việt Nam và Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao. Ông nói thêm: “Mỹ cần Việt Nam như một trong những công cụ của họ để đối trọng với sự phát triển của Trung Quốc, nhưng theo ý tôi, hai nước sẽ không xích lại quá gần nhau, mà họ chỉ lợi dụng lẫn nhau trong lúc này mà thôi”.

Phản ứng của Trung Quốc về những tiến triển trong quan hệ Việt – Mỹ cần theo được dõi chặt chẽ. Liệu cuối cùng họ sẽ tránh bất kỳ hành động nào chống lại Việt Nam và giảm sự quyết đoán của họ ở biển Đông? Hoặc họ sẽ gia tăng sự quyết đoán hơn nữa để dạy cho Việt Nam một bài học ngay cả khi có nguy cơ về một cuộc xung đột hải quân có thể có trong vùng biển giữa hai nước?

Tin tức về sự quyết đoán của Trung Quốc chống lại Việt Nam ở biển Đông trùng khớp với các tin tức về việc Trung Quốc tăng cường hơn nữa các nối kết cơ sở hạ tầng của họ với Tây Tạng để tăng cường khả năng vận chuyển nhanh Lực lượng Quân đội và Không quân. Một số dự án như xây dựng sân bay mới ở Tây Tạng và gia tăng khả năng vận chuyển hàng hóa trên tuyến đường sắt tới Tây Tạng đã được xúc tiến và tìm cách được thực hiện trước thời hạn. Tại sao lại vội vàng như thế này? Các hoạt động ngày càng tăng của các nhà xây dựng cơ sở hạ tầng ở Tây Tạng cho thấy chính nó có sự chuẩn bị cho một cuộc xung đột quân sự với Ấn Độ nếu họ quyết định đã đến lúc buộc Ấn Độ ngưng các dự án cơ sở hạ tầng tại Arunachal Pradesh, nơi Trung Quốc tuyên bố là miền Nam Tây Tạng.

Những sự phát triển liên quan đến quân sự của Trung Quốc có có liên quan đến mối quan hệ với Việt Nam và Ấn Độ cần được quan sát kỹ hơn.

Tác giả là Bộ trưởng đã về hưu, thuộc Ban Thư ký Nội các của chính phủ Ấn Độ, New Delhi, và hiện là Giám đốc Viện Nghiên cứu các đề tài thời sự, Chennai, ông cũng hợp tác với Trung tâm Chennai về Nghiên cứu Trung Quốc.

———

(*) Tàu USS John McCain đến thăm Việt Nam hôm 10 tháng 8, không phải tàu USS George Washington.

© Đàn Chim Việt

Thursday, August 12, 2010

Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước

VietCatholic News (11 Aug 2010 11:45)
Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước
Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý” (K.Marx)

Tham luận của Trần Mạnh Hảo trong đại hội Hội Nhà Văn Việt Nam lần thứ XIII
Soạn theo thư “mời viết tham luận” của nhà văn Hữu Thỉnh- chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam – nhờ nhà thơ Trần Đăng Khoa đọc dùm – cám ơn !


Kính thưa quý đồng nghiệp cầm bút
Thưa quý vị quan khách và quý vị lãnh đạo,

Thói thường, con người sợ món gì nhất? Sợ ma quỷ ư? Không! Sợ vợ ư? Không! Sợ công an ư? Không! Sợ kẻ cầm quyền ư? Không! Sợ chết ư? Không!

Theo chúng tôi, con người trên mặt đất này sợ nhất sự thật! Vì vậy, ngạn ngữ Việt Nam từng nói: “Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng”. Người Trung Hoa từ thượng cổ đã nói: “Trung ngôn nghịch nhĩ”. Người Ba Tư cổ khuyên: “Nếu nói ra sự thật, anh sẽ chết”. Người Ai Cập xưa cảnh cáo: “Khi sự thật bị bỏ quên quá lâu, một hôm nó thức dậy thành ngày tận thế”. Ngạn ngữ Tây Tạng tiền Phật giáo khuyên: “Mày chỉ được phép nói ra sự thật, nếu mày làm vua”. Thổ dân Úc bảo: “Ai nhìn thẳng vào sự thật sẽ bị mù mắt”. Lịch sử nhân loại đã ghi nhận hàng triệu con người từng dám cả gan nói lên sự thật mà bị mất mạng, bị tù tội hay bị quản thúc tại gia.

Đã có bao nhiêu lý thuyết chính trị thề bồi giải phóng con người, bao nhiêu cuộc lật đổ, cuộc cách mạng tuyên thệ giải phóng con người, giúp con người hoàn toàn tự do, sau khi đã giết hàng triệu triệu sinh mạng. Rút cuộc, con người hình như vẫn chưa được hoàn toàn giải phóng, chưa hoàn toàn được tự do, con người vẫn còn sợ hãi vì bị sự dối trá thống trị? Một số đất nước, một số dân tộc trên hành tinh vẫn còn bị nhốt trong nhà ngục có tên là dối trá. Cần phải làm một cuộc cách mạng của sự thật mới mong giải thoát cho nhân dân khỏi ngục tù kia.

Chìa khóa cuối cùng giúp con người được giải phóng, được hoàn toàn tự do, chính là sự thật, một sự thật không còn bị giấu như loài mèo giấu của quý. Karl Marx đã tôn vinh sự thật lên tột cùng của nhận thức luận và phương pháp luận: “ Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý”: không có sự thật đi kèm, mọi kết luận, mọi lý thuyết, mọi khế ước, mọi hội kín, mọi cuộc cách mạng đều chỉ là ngụy lý, ngụy tạo, là lừa bịp. Cố thổng thống Ba Lan Lech Kaczynxki ( 1949-2010) người vừa bị tử nạn trong vụ rơi máy bay trên đường bay đến rừng Katyń tham dự lễ kỷ niệm 22.440 người con ưu tú của dân tộc Ba Lan bị Hồng quân Liên Xô chôn sống hồi đầu chiến tranh thế giới thứ hai; trong bài diễn văn viết sẵn mà ông không còn cơ hội để đọc, có đoạn viết như sau: “Sự thật, kể cả sự thật đau đớn nhất luôn luôn giải phóng cho con người. Sự thật gắn kết. Sự thật mang lại sự công bằng. Sự thật chỉ ra con đường hòa hợp”.

Lấy ý tưởng từ câu cách ngôn kinh điển của K. Marx và lời trăn trối thiêng liêng thống thiết lớn lao của ngài cố tổng thống Ba Lan trên, chúng tôi viết bản tham luận theo yêu cầu của Hội Nhà Văn Việt Nam này.

Đoxtoiepxki (Dostojewski), nhà văn vĩ đại nhất của chủ nghĩa hiện thực Nga và thế giới, từng tuyên ngôn rất hoa mỹ, rằng: “Cái đẹp sẽ cứu chuộc thế giới”. Chúng tôi thêm: “Sự thật sẽ cứu chuộc thế giới”. Sự thật sẽ cứu chuộc nền văn học của chúng ta, cứu chuộc Tổ Quốc ta, nếu chúng ta cả gan một lần cùng nhau: “ Gọi sự vật bằng tên của nó” theo cách ngôn của phương Tây.

Nếu đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam thử một lần hợp tác với đất nước, với dân tộc Việt Nam mở “HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG CHỐNG GIẶC NÓI DỐI” để tìm ra con đường cứu nguy dân tộc đang trên đà suy vong, thì công này của quý vị rất lớn. Ông cha chúng ta đã đánh thắng giặc Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh…để bảo tồn đất nước. Tất cả các thứ giặc trên cộng lại cũng không ghê gớm bằng giặc nói dối đang tàn phá Tổ Quốc ta, giống nòi ta. Lần này, nếu nhân dân ta không vùng lên đáng tan BỌN GIẶC CÓ TÊN LÀ DỐI TRÁ, chắc chắn đất nước ta sẽ bị kẻ thù phương Bắc nuốt chửng, như mấy nghìn năm trước chúng đã nuốt chửng toàn bộ các dân tộc Bách Việt từng định cư lâu dài phía nam sông Dương Tử.

Chúng tôi viết bản tham luận này cũng để nhằm hưởng ứng cuộc hội thảo: ”Văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay” do Ban Tuyên giáo Trung Ương vừa tổ chức tại Đà Lạt trong hai ngày 12-13/7/2010 với hơn hai trăm văn nghệ sĩ và các nhà lý luận phê bình hàng đầu Việt Nam tham dự. Cuộc hội thảo dũng cảm kêu gọi văn nghệ sĩ từ trên mây tỉnh giấc, quay về với hiện tình đất nước do GS.TS. Phùng Hữu Phú (Ủy viên trung ương đảng, phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo trung ương, chủ tịch Hội đồng lý luận phê bình trung ương, trưởng ban chỉ đạo hội thảo). Theo “Đại từ điển Tiếng Việt” trang 803, từ “hiện thực” có nghĩa như sau: “Cái có thật, tồn tại trong thực tế” (Bộ Giáo dục & Đào tạo – Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam-NXB Văn hóa thông tin xuất bản 1998). Như vậy, khái niệm “hiện thực” chính là sự thật đã và đang xảy ra trong thực tại trên đất nước ta. Cuộc hội thảo của Ban tuyên giáo trung ương vừa qua có thể được gọi bằng một cách khác: “ Văn học nghệ thuật phản ánh sự thật của đất nước hôm nay”. Muốn phản ánh được sự thật của đất nước hôm nay, việc trước tiên của chúng ta là phải nhìn ra sự thật, gọi đúng tên sự vật, không phải sự thật tô hồng hay sự thật bôi đen, mà sự thật đúng như nó đang tồn tại khách quan quanh ta.

Lâu nay, vẫn nghe dân gian xì xào nửa hư nửa thực rằng: “Các thế lực thù địch (xin lỗi, tiên sư nó) nói cái gì hình như cũng đung sắc đúng, ban tuyên giáo trung ương (xin lỗi ) nói cái gì hình như cũng sờ ai sai…” thì quả là chưa chắc; bằng chứng là trong hoàn cảnh đất nước mà sự thật trốn biệt như hôm nay, thì việc ban tuyên giáo trung ương kêu gọi nhà văn chúng ta hãy mở mắt, từ bỏ giấc nam kha vô tích sự quá dài để nhìn vào sự thật, nói lên sự thật đất nước, là một việc làm quá đúng.

Tất nhiên, sự thật mà Ban Tuyên giáo trung ương kêu gọi nhà văn nhìn nhận được nhìn bằng mắt thường, chứ không phải sự thật bịt mắt bắt dê, hay sự thật được nhìn bằng mắt kẻ khác, nhìn bằng những thấu kính ảo, kính lồi, kính lõm, hay chiếc gương chiếu yêu, chiếu bong …Thâm ý của ban tuyên giáo trung ương hình như muốn chúng ta tìm lại phong trào: “nói thẳng, nói thật” thời kỳ đối mới năm 1986 -1987 do Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh phát động?

Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, trong cuộc gặp mặt văn nghệ sĩ năm 1987, đã làm gương nói thẳng nói thật, khi ông đặt vấn đề rốt ráo cho văn học nghệ thuật là nhà nghệ sĩ phải có tự do sáng tác; ông nói: “ Cởi trói như thế nào, cởi trói nói ở đây trước hết là Đảng phải cởi trói cho các đồng chí…Tôi cho rằng khi những sợi dây ràng buộc được cắt đi, sẽ làm cho văn học nghệ thuật như con chim tung cánh bay lên trời xanh…”.

Rõ ràng, qua lời Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Đảng đã thừa nhận từng trói văn nghệ sĩ và trí thức rất nhiều năm. Lần này, Ban tuyên giáo trung ương, thông qua cuộc hội thảo cấp nhà nước: “Văn học nghệ thuật hướng vào sự thật của đất nước” đã khuyến khích kẻ hèn này là chúng tôi nói lên sự thật, toàn là những sự thật chết người, sự thật mà chính quyền cố tình giấu diếm vì món lợi của quyền lực, với sự ngụy biện chống lại lẽ phải, chống lại chân lý: “Nói ra sự thật lúc này không có lợi”. Chả lẽ vì cái lợi, vì miếng ăn mà chúng ta đành phải nói dối hết đời ông đến đời cha, hết đời con đến đời cháu hay sao? Vậy chừng nào nhà nước Việt Nam mới cho người dân chúng tôi công khai nói ra sự thật đây? Chúng tôi đành lấy lời dạy của K. Marx làm bùa hộ mệnh: “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý” để một lần cuối cùng nói ra sự thật của đất nước chúng ta, dẫu có bị bị làm phiền, thậm chí bị tù đầy cũng mặc. Một kẻ nói dối, một dân tộc nói dối: ” lộng giả thành chân”, là một kẻ, một dân tộc không có tự do, không có độc lập, không có dân chủ, không có chân lý và lẽ phải…Khi một kẻ, một dân tộc phải núp vào sự dối trá để tồn tại, kẻ đó, dân tộc đó là một kẻ yếu, một dân tộc yếu đang trên đường suy vong. Chỉ có kẻ mạnh, kẻ tự tin, kẻ có liêm sỉ, có đạo đức mới không sợ sự thật, dù là sự thật đau đớn nhất, khủng khiếp nhất mà thôi.

Được lời như cởi tấm lòng, chúng tôi xin kể ra “SỰ THẬT ĐẤT NƯỚC” qua mắt mình, cái mà nền văn học của chúng ta lâu nay lảng tránh, làm ngơ, mặc “quốc gia hưng vong”, “ thất phu” thay vì “ hữu trách” thì hầu như cánh “thất phu” nhà văn thảy đều “ tắc trách”…Chúng tôi mong 700 tờ báo của lề phải, tức báo của đảng và nhà nước, hãy hạ cố chỉ ra những sự thật mà chúng tôi gọi tên trong bài tham luận này đúng hay sai. Còn nếu quý vị dùng công an hay nhà tù để đối thoại với chúng tôi thì quý vị đã mặc nhiên thừa nhận chúng tôi nói đúng; chỉ vì đuối lý mà quý vị mới phải dùng hạ sách là làm phiền chúng tôi, đe dọa chúng tôi thì quý vị đã không chính danh quân tử, dùng nền chính trị bá đạo ứng xử với người dân, khi người dân dám nói lên sự thật để hi vọng trên đất nước đau thương và cam chịu này le lói một nền chính trị vương đạo, dựa vào sự thật, lương tri và lẽ phải. Trong hàng trăm sự thật nhãn tiền của đất nước, chúng tôi chỉ xin kể ra ba sự thật mà thôi:

SỰ THẬT MỘT: chưa bao giờ, số phận dân tộc ta, đất nước ta có nguy cơ tiêu vong như hôm nay: nước nhà đang bị giặc ngoại bang xâm lấn bằng cuộc chiến tranh ngọt ngào, chiến tranh ôm hôn thắm thiết và tặng hoa, tặng quà anh anh chú chú, bằng cách chiếm dần hai quần đảo chiến lược Hoàng Sa và Trường Sa, lấn chiếm dần dần biên giới đất liền và hải đảo, khiến nguồn lợi biển vô cùng tận của ta rồi sẽ mất hết, dân tộc ta không còn đường ra đại dương, coi như tiêu. Ngoại bang dùng chiêu bài “ý thức hệ” và “16 chữ vàng” làm dây trói vô hình, trói buộc đảng cầm quyền và nhà nước Việt Nam phải nhân nhượng kẻ xâm lược hết điều này đến điều khác. Trên đất liền, ngoại bang dùng con bài khai thác bauxite, mua đất thời hạn 100 năm của 18 tỉnh lấy cớ trồng rừng, thực chất là công cuộc chiếm đất di dân theo kiểu vết dầu loang, theo kiểu “nở hoa trong lòng địch”. Đến nỗi, khi giặc chiếm Hoàng Sa rồi đặt tên quận huyện cho quần đảo này, sinh viên thanh niên biểu tình chống giặc lại bị nhà nước Việt Nam bắt. Vậy, nhà nước chúng ta hiện nay đứng về phía ngoại bang xâm lược hay đứng về phía nhân dân ta? Cũng chưa bao giờ như hôm nay, thiên nhiên và môi trường sống trên nước ta lại bị phá hoại khủng khiếp như thế: rừng bị triệt phá gần hết, sông ngòi đồng ruộng cạn kiệt nguồn nước, lụt lội kinh hoàng, khí trời bị ô nhiễm tới mức cuối cùng, nước mặn xâm hại phá hủy các đồng bằng. Chỉ cần một trận mưa lớn là Hà Nội, Sài Gòn biến thành sông do quy hoạch xây dựng phản khoa học. Hạt lúa, củ khoai, mớ rau, tôm cá, thịt gia súc, gia cầm cũng đang bị các chất hóa học độc hại chứa trong thức ăn, các chất tăng trưởng, chất bảo quản độc hại ám sát, khiến sinh tồn của giống nòi có cơ biến dạng…

Đạo đức xã hội tha hóa tới mức cuối cùng, con người hầu như không còn biết tới liêm sỉ và lẽ phải…Một ông chủ tịch tỉnh Nguyễn Trường Tô và rất nhiều quan chức cao cấp trong tỉnh Hà Giang chơi gái vị thành niên do ông hiệu trưởng trường trung học Sầm Đức Xương bắt các cháu nữ sinh là học sinh trong trường làm điếm, nhằm cống nạp cho các quan đầu tỉnh. Nghe nói ông Nguyễn Trường Tô, ông Sầm Đức Xương từng là những người nhiều năm liền được bằng khen vì thành tích học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh. Một sinh viên Nguyễn Đức Nghĩa từng là đoàn viên thanh niên cộng sản ưu tú, đã ra tay giết và cướp của chính người yêu cũ của mình một cách man rợ không phải là cá biệt trong một xã hội con giết cha, vợ giết chồng, anh em giết nhau được đưa tin đầy tràn trên các trang báo lề phải. Lối sống vô đạo đức, hành vi vô luân, con người ứng xử với con người man rợ hơn dã thú đang là vấn nạn quốc gia, có thể đưa một dân tộc vốn có văn hóa, văn hiến bốn nghìn năm tới chỗ diệt vong…Không nhìn ra những nguy cơ chết người này, liệu 100 năm nữa Tổ Quốc Việt Nam chúng ta còn tồn tại không? Dòng giống con Lạc cháu Hồng còn tồn tại không ?

Nền giáo dục Việt Nam hôm nay là một nền giáo dục thiếu trung thực, đúng như ý kiến của ông phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã công nhận. Đạo đức trong giáo dục Việt Nam hôm nay đồng nghĩa với dối trá: thày dối trá thày, trò dối trá trò, quản lý giáo dục báo cáo láo cốt lấy thành tích, nạn mua bán bằng, bán đề thi, mua quan bán tước đang là đại họa của nền giáo dục. Hầu hết sách giáo trình, sách giáo khoa…là sách đạo văn. Cán bộ có chức có quyền đua nhau làm thạc sĩ, tiến sĩ…lấy bằng thật nhưng học giả. Nạn dùng tiền mua bằng cấp, mua học hàm học vị đang diễn ra công khai trong cái chợ trời giáo dục Việt Nam. Việc Hà Nội vừa qua đưa chỉ tiêu “xóa mù tiến sĩ” cho cán bộ công nhân viên nhà nước đã nói lên học vị tiến sĩ chẳng còn giá trị gì cả. Có lẽ trong vài năm tới, sau việc Bộ Giáo Dục ra chỉ tiêu đào tạo thêm 23.000 tiến sĩ, sẽ dẫn tới chiến dịch xóa mù tiến sĩ trên phạm vi toàn dân. Nhiều ông cán bộ cấp cao có học vị tiến sĩ nhưng chưa có bằng tốt nghiệp đại học, thậm chí có vị chưa có bằng tốt nghiệp cấp 2 vẫn lấy được học vị tiến sĩ. Việc chính trị hóa môn văn, môn lịch sử, môn triết học, chính trị hóa nền giáo dục…đã tạo cơ sở cho sự dối trá làm bá chủ đất nước. Giáo dục như thế sao có thể đào tạo ra những công dân chân chính? Đây là dấu hiệu suy vong lớn nhất của dân tộc do nền giáo dục thiếu tính nhân văn, thiếu tính chân thật gây ra. Những quả bom B 52 tinh thần là nền giáo dục đi chệch hướng chân thiện mỹ đang rải thảm lên tinh thần dân tộc, thì ai là người phải chịu trách nhiệm trước lịch sử đây ?

Than ôi, sau những quả bom tinh thần có tên là giáo dục chế độ tự ném vào mình, chỉ cần ngoại bang ném bồi thêm mấy quả bom thật vào hai đập thủy điện Sơn La và Hòa Bình là đồng bằng Bắc Bộ và cả Hà Nội sẽ biến mất, dân tộc sẽ biến mất…Hai đập thủy điện khổng lồ trên nghe đâu lại nằm trên vết nứt động đất…mới hãi hùng làm sao ? Đầu nguồn sông Hồng, đầu nguồn sông Mê Kông, Trung Quốc đã và đang xây hàng trăm đập thủy điện, khiến hai con sông chính của đất nước khô cạn dần, không còn đủ nguồn nước tưới cho hai đồng bằng chính nuôi sống dân tộc. Cách Móng Cái 60 km, tại Phòng Thành, Trung Quốc đang xây nhà máy điện hạt nhân rất lớn; nếu có sự cố kiểu Chec-nư-bin vào mùa gió bấc, Hà Nội và dân đồng bằng Bắc Bộ có thể sẽ chết hết vì nhiễm phóng xạ hạt nhân…

SỰ THẬT HAI: Chưa bao giờ như hôm nay, trên đất nước ta, giặc nội xâm có tên là tham nhũng lại hoành hành ngang nhiên, kinh hãi như dịch hạch đến thế. Dân có tham nhũng không Không ! Thế thì ai là giặc nội xâm, là giặc tham nhũng? Thưa, chính quyền! Chỉ kẻ có chức có quyền mới tham nhũng được mà thôi. Vụ tham nhũng mới nhất như một đòn hiểm ác đánh một cú chí tử vào đất nước là tập đoàn Vinasihn – một nấm đấm thép của chính phủ – đã cướp đi của nhân dân số tiền khổng lồ là 80.000 tỷ đồng. Cứ thử làm tròn dân số nước ta là 90 triệu người (thực ra dân số Việt Nam mới chỉ trên 85 triệu dân), vị chi mỗi người dân vừa bị tập đoàn quốc doanh Vinasihn cướp đi gần 9.000.000 đ. Chín triệu đồng với người nông dân là một nguồn vốn lớn: một gia đình nông dân có bốn nhân khẩu chẳng hạn, đã vừa bị Vinasihn cướp đi nhãn tiền 36.000.000 đ. Đã có bao nhiêu tập đoàn Vinasihn cướp hết tiền của nhân dân trong quá khứ, trong hiện tại chưa bị phát hiện? Những nấm đấm thép của chính phủ như các tập đoàn kinh tế: tập đoàn Than, tập đoàn Điện, tập đoàn khoáng sản… đã và đang đấm chí tử vào hầu bao dân nghèo Việt Nam. Theo kiểm toán nhà nước, năm 2008, các tập đoàn kinh tế – nắm đấp thép – đã làm thất thoát 10 tỷ đô la. Năm 2009, số thất thoát ( đổ tội cho lỗ vốn) cũng không nhỏ hơn số 10 tỷ đô la năm trước. Các tập đoàn kinh tế quốc doanh, các công ty quốc doanh đang là đại họa cho quốc gia; chứng tỏ thành phần kinh tế rường cột của mô hình xã hội chủ nghĩa này đã hoàn toàn thất bại. Về quốc nạn tham nhũng, bà Phạm Chi Lan, chuyên viên kinh tế cao cấp của chính phủ đã phải cay đắng thừa nhận “ bọn nắm đấm thép – chúng nó ăn hết tiền của dân rồi” như sau: “Một khi vẫn còn các ông lớn chủ đạo vẫn ngốn hết nguồn lực của đất nước và thâu tóm hết quyền thiết kế chính sách có lợi cho mình, thì làm sao thằng nhỏ động lực kinh tế tăng tốc được” (tuần Việt Nam Nét 22/07/2010)

Tại sao nhà nước ta hiện nay vốn có hai chính quyền cồng kềnh, chồng chéo nhau, dẵm đạp lên nhau: một chính quyền theo hệ Đảng và một chính quyền theo hệ nhà nước với hàng vạn ban thanh tra, hàng vạn chi bộ bốn năm sáu tốt, với hầu hết mấy triệu đảng viên gương mẫu đều đã học tập tốt đạo đức Bác Hồ mà sao giặc tham nhũng lại ngang nhiên hoành hành trắng trợn từ vi mô đến vĩ mô đến như vậy? Quan tham nhìn từ xã trở lên không thấy lao động chân tay, không thấy lao động trí óc, chỉ sử dụng một thứ lao động có tên là LAO ĐỘNG LÃNH ĐẠO mà ai ai cũng giàu có hơn dân thường hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn, hàng triệu, hàng tỉ lần là sao? Chung quy lại, có phải là do thể chế sai, mô hình chính trị sai: VỪA ĐÁ BÓNG VỪA THỔI CÒI, VỪA ĐI THI, CHẤM GIẢI VỪA PHÁT GIẢI VỪA ĐƯỢC LÃNH GIẢI. NHÀ NƯỚC – ĐẢNG MỘT MÌNH MỘT CHỢ: VỪA THAM NHŨNG VỪA CHỐNG THAM NHŨNG? Xin hỏi: tay phải tham nhũng, liệu tay trái có dám cầm dao chặt được tay phải hay không?

Linh hồn triết học duy vật biện chứng Marxism nằm ở câu kinh mà đảng viên cộng sản nào cũng phải thuộc làu làu: “Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất”. Chỉ trừ nền chính trị của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không hề nằm trong quy luật vận động này của Marx, vì nó triệt tiêu đối lập chính trị (!)

Nền chính trị độc đảng, độc quyền của nước ta hôm nay đang chống lại biện chứng pháp Marxism. Trong phép biện chứng do Hegel sáng tạo, Marx tiếp thu, có ba nhịp như sau: xuất đề, phản đề và tổng đề. Phản đề hay đối lập chính là linh hồn của biện chứng pháp Marxism. Chối bỏ đối lập, triệt để cấm phản đề, cấm đối lập chính trị, nền chính trị của nước ta ngày nay đang chống lại chính cái lý thuyết chủ nghĩa cộng sản mà nó thề nguyền đi theo, thành ra một nền chính trị thoái bộ, rất giống với các nền chính trị thần quyền thời trung cổ bên châu Âu.

Hãy xem khẩu hiện rất duy tâm, hoàn toàn chống lại thuyết Marxism của đảng cầm quyền: “Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh MUÔN NĂM”. Marx từng giải thích tại sao loài người thống khổ: vì loài người còn phân chia giai cấp. Mục đích của Marx là làm cho nhân loại tiến đến đại đồng, tức tiến đến thiên đường cộng sản. Muốn đến thế giới cộng sản, phải xóa bỏ các giai cấp: xóa bỏ giai cấp tư sản, xóa bỏ giai cấp vô sản, xóa bỏ nhà nước, xóa bỏ công an, quân đội, tất nhiên phải xóa bỏ cả đảng cộng sản, vì đảng cộng sản là đảng của giai cấp vô sản. Mà khi xóa bỏ giai cấp, thì đảng của giai cấp cũng không còn. Hô “ đảng cộng sản Việt Nam MUÔN NĂM” cầm bằng như hô: “Xã hội loài người có giai cấp muôn năm”! Rõ ràng hô như vậy là treo cổ chủ nghĩa Marx, là không chính danh, là tự xóa bỏ tính mục đích của đảng cộng sản.

SỰ THẬT THỨ BA: NÓI MỘT ĐÀNG, LÀM MỘT NẺO, HAY LÀ DANH KHÔNG CHÍNH THÌ NGÔN KHÔNG THUẬN

Đảng, Nhà Nước Việt Nam nói thì rất hay, nhưng làm thường ngược lại. Những nguyên tắc, nguyên lý, luật pháp, chính sách, đường lối của đảng cầm quyền và nhà nước Việt Nam hiện nay hầu hết đều không chính danh.

Xin chứng minh:

Trong hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam người dân được hưởng tất cả các quyền: quyền sống, quyền làm người, quyền hoạt động chính trị, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội lập đảng phái, quyền biểu tình, tự do tôn giáo, tự do cư trú, tự do đi lại, tự do đủ thứ …

Chính sách hộ khẩu đã cấm tự do cư trú.

Quyền được biểu tình của dân bị cấm chỉ bởi một nghị định (do thủ tướng Phan Văn Khải ký): cấm từ năm người trở lên tụ tập hay đi hàng dọc ngoài đường, ngoài phố. Anh bạn chúng tôi có 5 đứa con, cộng hai vợ chồng là 7 người, mỗi sáng chủ nhật anh chị dẫn bầy con đi tập thể dục tại công viên cách nhà hơn cây số. Đoàn rồng rắn tí hon của anh chị không thể đi thành một hàng, mà phải bí mật xé lẻ thành hai tốp, anh dẫn 3 đứa con, chị dẫn 2 đứa con giả vờ không quen biết nhau, đi vào hai lề đường khác nhau, sợ đi chung sẽ bị công an bắt… Anh bạn này tâm sự: ra quốc lộ số một, qua một số đường phố ở các thành phố nhỏ, thấy trâu bò được ung dung đi thành bầy đàn hàng mấy chục con trên đường mà không bị công an bắt? Sao kiếp người ở Việt Nam lại tủi hổ hơn kiếp bò: con bò còn được tự do tụ tập, tự do nghênh ngang rồng rắn trên đường, được đảng và nhà nước đối xử tử tế hơn hẳn con người…là sao hở các ông trời con?

Tự do tôn giáo bị cái rọ tôn giáo quốc doanh cấm cản. Hàng trăm sư sãi, chùa chiền vốn theo một hệ phái Phật giáo riêng từ trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam đã bị cấm hoạt động, bắt phải vào Phật giáo quốc doanh, nếu không chịu quốc doanh hóa Phật giáo sẽ bị bắt. Công giáo cũng phải thành công giáo quốc doanh. Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành… cũng phải vào quốc doanh thì sao gọi là tự do tôn giáo? Ở một đất nước không có TÔN GIÁO TƯ NHÂN, chỉ có TÔN GIÁO QUỐC DOANH mà cứ xưng xưng toe toét: Việt Nam có tự do tôn giáo.

Điều bốn trong hiến pháp cho phép chỉ mình đảng cộng sản được nắm quyền lãnh đạo mãi mãi, đã cấm mọi công dân tự do hoạt động chính trị, trong khi quyền người dân được tự do hoạt động chính trị ghi rõ ràng trong hiến pháp. Điều 4 của hiến pháp là điều không chính danh.

Đảng và Nhà nước có trên 700 tờ báo giấy báo viết báo hình. Xã hội tự xưng là “nhân dân làm chủ: của dân, do dân, vì dân”, “cán bộ là đày tớ nhân dân”. Tai ngược thay, chính anh đầy tớ này được độc quyền ra báo, lại cấm ông chủ ra báo là sao? Marx – sinh thời từng ca ngợi nền tự do báo chí của chủ nghĩa tư bản. Marx lên án cay độc nhà vua Phổ kiểm duyệt báo chí theo kiểu nhà nước Việt Nam hôm nay lùa tất cả nền báo chí nước nhà vào cái rọ lề phải, đánh sập hơn ba trăm blog và website cá nhân trên Internet như lời khoe khoang của ông tổng cục phó tổng cục an ninh Bộ công an trung tướng Vũ Hải Triều… Không có nền tự do báo chí tư sản, nền xuất bản tự do tư sản, không thể xuất hiện chủ nghĩa Marx. Nếu Karl Marx tái sinh xuất hiện giữa lòng Hà Nội hay Sài Gòn hôm nay, chắc chắn cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản sẽ bị lính của ông Vũ Hải Triều bắt ngay tập lự.

Khi người dân không có quyền ra báo tư, lập nhà xuất bản tư…cũng có nghĩa người dân Việt Nam hiện nay không có quyền tự do ngôn luận.

Khi hiến pháp đã cho công dân cái quyền thì người dân không phải đi xin. Hiến pháp bảo công dân có quyền sống, quyền làm người thì chả lẽ khi sống là phải thở, phải ăn, phải mặc, phải yêu vợ…thì cứ mỗi lần thở, mỗi lần ăn, mỗi lần mặc, mỗi lần yêu vợ…lại phải làm đơn xin phép công an à?

Hiến pháp của các nước dân chủ văn minh sinh ra để bảo vệ người dân, đảm bảo nhân quyền, dân quyền và mọi quyền tự do của dân, cốt yếu để ràng buộc kẻ cầm quyền. Sao hiến pháp nước ta hiện nay sinh ra hầu như để chỉ trói buộc người dân và tạo hàng nghìn kẽ hở cỡ lỗ thủng con voi chui lọt cho kẻ cầm quyền tự do đánh tráo hiến pháp, tự tung tự tác, làm ngược lại hiến pháp mà không bị luật pháp ràng buộc là sao?

Quốc hiệu nước ta hiện nay xưng là: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực ra có đúng không? Thưa không! Vì nền kinh tế nước ta từ năm 1986 đến nay là nền kinh tế thị trường, tức nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, một chủ nghĩa tư bản hoang dã. Vậy quốc hiệu nước ta muốn sát với “sự thật của đất nước” như gợi ý của Ban Tuyên giáo, phải đặt lại là: “Cộng hòa tư bản chủ nghĩa Việt Nam” mới chính danh.

Chủ nghĩa xã hội nói cho cùng là một mô hình ảo, hoàn toàn không có thật. Hồi chúng tôi theo học tại học viện Goocki bên Liên Xô năm 1988, thường nghe dân Liên Xô định nghĩa về chủ nghĩa xã hội theo mô hình Lenin-Stalin như sau: “Chủ nghĩa xã hội là con đường vòng vèo nhất, đầy máu và nước mắt nhất, khốn nạn nhất để đi lên tư bản chủ nghĩa”.Liên xô, với mô hình xã hội chủ nghĩa trại lính(hay trại tập trung) đã phải mất 74 năm đi vòng vèo trong máu xương, ngục tù, trong đày đọa của những quần đảo Gulắc hắc ám, man rợ…để năm 1991mới tới được nền kinh tế tự do tư bản chủ nghĩa. Quốc hiệu của nước ta như vậy là không chính danh.

Cái đuôi “Định hướng xã hội chủ nghĩa” được gắn vào đít khái niệm kinh tế thị trường của nhà nước ta hiện nay là một cái đuôi giả, một cái đuôi nhựa chạy bằng cục pin sắp thối của Trung Quốc. Theo nghĩa từ điển: ”định hướng” có nghĩa là xác định phương hướng, mà điểm tới đã được xác định cụ thể. Ví dụ ông A hẹn ông B qua điện thoại, rằng mai ta gặp nhau ở Hồ Con rùa, tập kết tại đó ăn sáng, uống café, định hướng Buôn ma thuật mà tới Plây-ku nhé! “Xã hội chủ nghĩa” là khái niệm ảo trên giấy, chưa có thật trên đời và sẽ không thể có thật vì nó dựa trên những nguyên lý ảo tưởng, bịa đặt, phi khoa học.

Đưa đất nước đi vào chỗ không có thật, định hướng tới cõi không có thật mà đến thì than ôi, thà giết đất nước đi còn hơn! Nên khẩu hiệu: “Vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội” in trên đầu tờ Văn Nghệ của Hội Nhà Văn Việt Nam, nếu theo tiêu chí “hướng về sự thật” của Ban tuyên giáo chỉ dẫn, phải đặt tên lại cho đúng với thực chất ngữ nghĩa của từ điển là: “Vì Tồ quốc, vì chủ nghĩa không có thật” mới đúng. Không có sự thật đi kèm, mọi lý thuyết, mọi mô hình xã hội, mọi lời hứa đều là sai trái, ảo tưởng, hứa hão, đúng như K. Marx đã nói.

Đồng nghĩa đảng cộng sản là đất nước, đồng nghĩa chủ nghĩa xã hội là Tổ quốc là không chính danh. Đảng cộng sản mới chỉ có 5 triệu đảng viên, còn nhân dân Việt Nam ngoài đảng chiếm đa số tới hơn 80 triệu dân, có phù phép kiểu gì, đảng cộng sản cũng không thể biến thành đất nước Việt Nam được. Đảng nghĩa là phe phái, là một nhóm người. Một nhóm người sao có thể biến thành tất cả được, nên danh từ ĐẢNG TA dùng để gọi đảng cộng sản là không chính danh. Liên xô đã bỏ ra 74 năm để tìm mà không thấy chủ nghĩa xã hội đâu, chỉ thấy trại tập trung, thấy nhà tù nhiều hơn trường học. Lênin-Stalin-Mao…đã biến nhân dân các nước Nga, Tàu, Cuba, Bắc Triều Tiên, Việt Nam, Cămphuchia, hàng chục nước Đông Âu …thành hàng tỉ con chuột bạch cho cuộc thí nghiệm máu cộng sản chủ nghĩa bằng bạo lực, bằng cải tạo áp đặt, bằng thuyết đấu tranh giai cấp tàn bạo nhưng đã thất bại hoàn toàn. Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, Đông Âu giờ đã đi theo tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội là một khái niệm ảo, nên khẩu hiện: “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” là rất buồn cười, giống như nói: “ Yêu nước là yêu cái không có thật”…vậy…

Quốc hội nước CHXHCN VN được đảng cộng sản và nhà nước phong cho là cơ quan lập pháp cao nhất của nhân dân Việt Nam là không chính danh. Vì thực tế, quốc hội này chỉ là cơ quan ngoại vi của đảng, do đảng lãnh đạo; quốc hội mà 98% dân biểu là đảng viên của một đảng duy nhất thì việc gọi quốc hội này của dân là một trò hề, là không chính danh; quốc hội này của đảng, dân nào có quyền bính gì trong quốc hội giả hiệu này?

Việc một nhóm người không ai khiến, tự nhiên nhảy phóc ra đấu trường xã hội ngót trăm năm nay, hung hãn cầm mác cầm lê cầm búa cầm liềm cấm cản những nhóm người khác lập phe đảng là không chính danh, không logic, không công bằng, không có luật hay chỉ là luật rừng?

Đảng cộng sản Việt Nam không do nhân dân Việt Nam bầu ra, nên sự tồn tại của đảng để tuyệt đối cầm quyền là không chính danh. Đúng như Mao nói rằng chế độ chuyên chính vô sản của ông ta là do súng đẻ ra: “ Súng đẻ ra chính quyền”, tức là SÚNG BẦU RA CHÍNH QUYỀN m…Mấy chục năm nay, người ta đã cố tình gọi nhầm SÚNG là DÂN: “súng bầu lên chính quyền thì lại nói dối là dân bầu”…Cũng giống như ( giả dụ thôi, hi vọng đừng biến thành sự thật!) sau bài viết này, công an gọi tên Trần Mạnh Hảo lên… dọa bắn; Hảo ta vốn là một con cáy 64 tuổi biết cầm bút, thấy súng há mồm sắp đối thoại với mình, sợ vãi đái, nghĩ mình miệng hùm gan sứa: tránh voi không xấu mặt nào, sức đâu cãi lại miệng súng, đành phải ký vào giấy cung khai rằng: báo cáo các anh, em đã nói sai, đã nói dối, vì đảng ta và nhà nước ta từ xưa tới nay thật thà hơn đếm, có biết nói dối là gì đâu. Thế rồi báo An Ninh hôm sau hí hửng: trước lý lẽ sắc bén và thực tế sáng ngời chính nghĩa của nhân dân, tên Hảo đã không đủ lý lẽ đối thoại, đã ăn năn hối lỗi vì dám vu cáo cho đảng ta nói dối…

Việc đảng cộng sản Đông Dương ra đời năm 1930 theo thuyết Marxism là không chính danh.

Marx bảo: chủ nghĩa tư bản xuất hiện với đại công nghiệp. Marx lại bảo phuơng thức kinh tế châu Á không nằm trong chủ nghĩa Marx. Marx phán: giai cấp vô sản là hệ quả của giai cấp tư bản. Nghĩa là Tư bản đẻ ra vô sản. Trung Hoa, Việt Nam và cả châu Á, thế giới Ả rập, Ấn độ, Mỹ La tinh, Phi Châu…trong thế kỷ thứ 19, đầu thế kỷ thứ 20 chưa hề có chủ nghĩa tư bản. Năm 1930, Việt Nam chưa có ông bố tư bản, sao lại có đứa con tên là vô sản ra đời? Bịa ra một giai cấp vô sản ảo để thành lập ra đảng của giai cấp vô sản là đảng cộng sản Đông Dương là không chính danh, là trái với thuyết Marxism, là xây nhà trước, xây nền nhà sau.

Sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Đông Dương nêu khẩu hiệu: “Trí, Phú, Địa, Hào đào tận gốc trốc tận rễ” là không chính danh. Diệt trí thức là diệt đi hai ông đại trí thức Marx-Engels ư? Trí thức là linh hồn của xã hội, diệt trí thức cũng có nghĩa là diệt luôn xã hội loài người.

Năm 1958 – 1960 Bắc Việt Nam (năm 1975 là cả nước) tuyên bố tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội với “mo cơm và quả cà”, không thông qua con đường tư bản chủ nghĩa theo sự xúi dại của Lênin là không chính danh. Theo Marx, linh hồn của xã hội chủ nghĩa là đại công nghiệp; chỉ có nền nông nghiệp lạc hậu mà dám thí mạng cùi tiến lên xã hội chủ nghĩa là tiến lên toàn dân cùng chết đói, hay tiến lên công xã kiểu diệt chủng như Khơ me đỏ, tiến lên “đại nhảy vọt” kiểu Mao khiến mấy chục triệu người chết đói, dân chúng phải ăn thịt cả con mình như cuốn: “Mao Trạch Đông công và tội” do nhà xuất bản Thông Tấn xã Hà Nội vừa in và phát hành đã kể.

Năm 1986, theo gương Trung Quốc, đảng cộng sản Việt Nam thay vì chôn chủ nghĩa tư bản (như Marx-Engels dạy) đã quay ngược lại chôn chính học thuyết cộng sản, bằng cách xây dựng nền kinh tế tự do đa thành phần tư bản chủ nghĩa, đưa nhân dân Việt Nam thoát khỏi chết đói. Theo Marx dạy: kinh tế nào, chính trị ấy: hạ tầng cơ sở kinh tế quyết định thượng tầng kiến trúc chính trị. Nay, kinh tế Việt Nam là tư bản tự do mà chính trị vẫn giữ nền chính trị độc tài xã hội chủ nghĩa là sai quy luật, là không chính danh, là đầu chuột đuôi voi, là ông nói gà bà nói thóc lép, là hồn Trương Ba, da hàng thịt…

Marx –Engels từng công khai tuyên bố trong trước tác của mình: “Chúng tôi không có ý định đoán định tương lai một cách giáo điều mà mong muốn dùng phương pháp phê phán thế giới cũ để tìm được một thế giới mới…Việc kiến tạo và tuyên bố một lần và mãi mãi những giải đáp cho các vấn đề của mai sau không phải là việc của chúng tôi…”. Rõ ràng, chính Marx và Engels đã coi học thuyết của mình chỉ là những giả thuyết, những phép thử, những phỏng định về tương lai, tuyệt nhiên không giáo điều cho lý thuyết của mình là chân lý vĩnh hằng. Những ai đã, đang coi học thuyết Marx là chân lý bất biến là đang chống Marx, là muốn dùng Marx giả, Marx dỏm bịt mắt trí thức và nhân dân để quyết câu giờ giữ quyền lực là không chính danh.

Theo định đề: “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý” của Marx, chúng ta thấy thực tế đã không chấp nhận cuộc thí nghiệm “XÓA TƯ HỮU” hãi hùng nhất trong lịch sử loài người của Marx-Engels-Lenin với tham vọng: “ XÓA TƯ HỮU, XÓA CÁ NHÂN, XÓA NHÀ NƯỚC, XÓA MÂU THUẪN, XÓA ĐẢNG CỘNG SẢN, XÓA CÁC GIAI CẤP VÀ ĐẢNG CỦA NÓ, XÓA CHÍNH BIỆN CHỨNG PHÁP ĐỂ XÂY DỰNG MỘT XÃ HỘI CỘNG SẢN ÁO TƯỞNG PHI BIỆN CHỨNG – NƠI KHÔNG CÓ CÁI DỐI TRÁ, KHÔNG CÓ CÁI ÁC ĐỘC VÀ CÁI XẤU XA, NƠI TUYỆT ĐỐI TỰ GIÁC, TUYỆT ĐỐI TỰ DO, TUYỆT ĐỐI GIÀU CÓ, TUYỆT ĐỐI KHÔNG CÓ NGOẠI TÌNH, KHÔNG CÒN HÔN NHÂN, KHÔNG CÒN GIA ĐÌNH KIỂU CŨ, KHÔNG CÒN NGÂN HÀNG, KHÔNG CÒN TIỀN TỆ …”. Đó là một xã hội bịa đặt không có thật: vì không có cái ác thì cái thiện cũng bị triệt tiêu, không có cái ngụy thì cái chân cũng biến mất, không có cái xấu thì cái đẹp cũng chẳng còn…

Một trăm sáu mươi hai năm từ khi “Tuyên ngôn đảng cộng sản” của Marx –Engels ra đời đến nay, hàng trăm triệu sinh mạng đã bị giết, hàng tỉ người bị tù đầy, bị ngược đãi để “các vị lãnh tụ kính yêu” làm cuộc thí nghiệm đẫm máu cải tạo thế giới từ TƯ HỮU sang CÔNG HỮU, từ TƯ BẢN sang VÔ SẢN, từ CÁ NHÂN sang TẬP THỂ, XÓA QUỐC GIA chỉ còn QUỐC TẾ, XÓA HOÀN TOÀN THẾ GIỚI CŨ, NHÂN LOẠI CŨ chỉ còn MỘT THẾ GIỚI MỚI TINH, NHÂN LOẠI MỚI TINH KHÔNG CÒN TRUYỀN THỐNG, KHÔNG CÒN LỊCH SỬ, KHÔNG CÒN QUÁ KHỨ, KHÔNG CÒN TÔN GIÁO…Chao ôi, khi một con người không còn quá khứ, một dân tộc không còn lịch sử, con người ấy, dân tộc ấy sẽ biến thành tinh tinh, xã hội tinh tinh hay thành những cục bột biết ca hát ?…Rút cục, cuộc thí nghiệm cộng sản kinh hồn trên phạm vi toàn thế giới đã hoàn toàn thất bại. Những nước cộng sản cứng đầu nhất như Bắc Triều Tiên, Cu Ba hiện nay cũng đang rục rịch thí nghiệm mô hình kinh tế tư bản chủ nghĩa, tập tẹ học lại những bước đi làm giàu vỡ lòng nhân loại đã có từ trước khi Marx ra đời. Đây là sự thật không thể nào chối cãi, dù cãi cối cãi chày bằng còng số tám hay nhà tù, họng sung v.v…

Cám ơn Marx, đã cho chúng tôi đề bài: “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý” để làm một bài tập làm văn về sự thật này. Cám ơn ngài cố tổng thống nước Ba Lan tự do Lech Kaczynxki đã cho chúng tôi ý tưởng rất hay: chỉ có sự thật mới giải phóng con người, làm chủ đề bài tham luận. Chúng tôi cũng xin cám ơn tiêu đề của cuộc hội thảo: “ Văn học nghệ thuật hướng về sự thật đất nước” của Ban Tuyên giáo trung ương đã gợi ý, khích lệ chúng tôi dám liều mạng nói lên những sự thật cay đắng nhất, khủng khiếp nhất của đất nước chúng ta hiện nay, những sự thật chết người, ai ai cũng biết mà vì sợ tù tội nên không ai dám nói ra.

Viết đến đây, chúng tôi chợt nhớ đến chuyện “ Bộ long bào của vị hoàng đế” của văn hào Andecxen. Thằng bé trong thiên truyện đã liều mạng xé toang bộ long bào hoang tưởng của vị hoàng đế kia bằng cách hét thật to: ông vua cởi truồng ! Tiếng kêu thất thanh của chân lý ấy có làm đám đông đang bị quyền lực hôn mê, luôn miệng tung hô vị hoàng đế mặc bộ long bào đẹp nhất tỉnh ra hay không ? Nhưng hình như ngay sau khi gọi sự vật bằng tên của nó, thằng bé do sự thật, do tự do phái đến đã biến mất. Do đó, mới còn biết bao nhiêu ông vua triết học cởi truồng, vua chính trị cởi truồng, vua cách mạng cởi truồng, vua chủ nghĩa cởi truồng… đang đi nhông nhông ngoài xã hội, ngoài phố xá, đã và đang được những đám đông giả vờ cuồng tín hòng trục lợi xúm vào vạn tuế, ca ngợi các ngài khoác những bộ long bào tuyệt vời của trần gian…

Sự thật giản dị nhường ấy, sao bị cả đám đông lờ đi ? Mới hay sự cám dỗ của dối trá có bùa ngải quỷ sứ, mê hoặc con người trong bóng tối, trong đe dọa, trong hấp lực của củ cà rốt treo trước miệng con lừa… Sự thật chỉ có thể tồn tại công khai dưới ánh sáng mặt trời. Xã hội của những hội kín vây bủa con người trong lừa mị, trong sợ hãi u u minh minh, luôn xua đuổi và cầm tù sự thật. Chối bỏ sự thật, những xã hội do băng đảng hội kín cầm quyền hầu như không bao giờ đi cùng đường với lẽ phải và công lý.

Chúng tôi không dám làm thằng bé trong thiên truyện kia của Andecxen; làm vị thiên sứ của sự thật này, coi chừng khả năng biến mất là điều có thể xảy ra. Hãi qúa !

Chúng tôi chỉ xin kể ra ba vị nhà văn Việt Nam hình như cũng đang thử đóng vai trò của thằng bé ấy, vai trò thiên sứ của sự thật, của tự do.

Đây là lời của nhà văn Đỗ Chu bùi ngùi, chua xót, khi ông nói về sự lãnh đạo của đảng với nhà văn; sao nhà văn giống chú cún con ve vảy đuôi theo ông chủ trong sân nhà thế: “Tớ yêu đảng như yêu vợ. Vợ còn sống thì tớ nghe vợ. Vợ chết thì tớ lập bàn thờ khấn vái cho đến chết.. Đảng cũng là vợ của tớ. Đảng bẩn thì tớ mua xà phòng cho đảng tắm. Mua nước hoa cho đảng thơm. Đảng nói thì không được cãi. Đảng bảo ăn là ăn. Đảng bảo uống là uống. Đảng bảo nằm là nằm. Đảng bảo lên giường là lên gường. Đảng bảo ra đường là ra đường…” ( Trích bài: “ Nhà văn Đỗ Chu yêu đảng như yêu vợ” của Nguyễn Trọng Tạo in trên website Trần Nhương ngày 14/7/2010). Về việc này, mới thấy Nguyện Vĩ xưa thánh thật, khi ông viết: “nhà văn An Nam khổ như chó !”

Đây là mấy câu thơ của nhà văn, nhà thơ Nguyễn Đình Chính ( con trai cố nhà văn Nguyễn Đình Thi, người từng rất nhiều năm trước và sau 1975 làm tổng thư ký ( ngày nay gọi là chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam): “Mấy thằng bạn văn nghệ chửi đổng hát hay / Cổ họng rắn hổ mang trơn tuột liếm mồi trong các HỘI ĐOÀN / hót hít chính trị như chó hít hóng cứt…”(Trích trong bài thơ “Đêm Sài Gòn” in trong tập thơ “Chẹc chẹc” của Nguyễn Đình Chính, do tân hình thức Publishing Club ấn hành trên mạng 2010)

Đây là nhà văn đại tá công an Mai Vũ, trước đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ XIII, đã lên tiếng đòi tự do sáng tác, mặc dù từ năm 1987, tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã cởi trói cho các nhà văn: “Đây là vấn đề nhạy cảm mà không phải ai cũng có dũng khí dám nói thật. Nhằm thiết lập một trật tự xã hội tư duy đồng chiều, chúng ta đã chính trị hóa mọi đời sống xã hội. Điều đó thật tai hại, nó làm khô héo tinh thần dân tộc. Chính trị hóa khoa học đã dẫn đến phủ nhận chân lý khách quan, làm méo mó khoa học. Trong lịch sử Xô Viết trước kia, đã có thời người làm vườn Lưxenkô – Mitsurin được tôn vinh như những nhà cải cách vĩ đại, còn Mooc găng, Menđen là những kẻ phục vụ chủ nghĩa tư bản vì thuyết gen di truyền. Kết quả, nhà di truyền học thiên tài Vavilôp đã phải tự sát, còn nền di truyền học nước Nga thì lụn bại, để lại một vết nhơ đau đớn trong đời sống khoa học xã hội Xô Viết. Đó là vụ ngụy khoa học lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Chính trị hóa giáo dục cũng chỉ đẻ ra những chiến binh đánh bom tự sát, chứ không đẻ ra những công dân xây dựng tương lai.

Hội Nhà văn không phải là dàn hợp xướng để hát theo cái gậy chỉ huy của người nhạc trưởng. Nó là lãnh địa của những tư duy và sáng tạo cá nhân, nó là một tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nguyện của các nhà văn lấy sứ mạng phục vụ Tổ quốc và nhân dân trên hết.

Nhà văn viết theo mệnh lệnh của trái tim, mà trái tim nhà văn thuộc về Tổ quốc và nhân dân. Anh ta là tội đồ và đáng nguyền rủa nếu thóa mạ Tổ quốc và dân tộc. Còn khuynh hướng chính trị tùy thuộc quyền lựa chọn của mỗi nhà văn.

Hãy để con ngựa Văn tung vó trên cánh đồng bát ngát của tự do”. (“Về Hội nhà văn của chúng ta” của Mai Vũ, in trên website Trần Nhương ngày 11-7-2010)

Tiếp nối ba nhà văn trên, chúng tôi xin mời quý vị đọc lại bào thơ: “ Bài ca sự thật” của chúng tôi (Trần Mạnh Hảo) đã in trên báo “Tuổi Trẻ” số tất niên ngày 24- 01-1987

BÀI CA SỰ THẬT

Sự thật của tôi
Sự thật của anh
Sự thật của chúng ta
Sự thật của mọi người?

Nhân loại có bao thời
Sự dối trá làm quan toà phán xử
Bru-nô ơi trái đất vẫn tròn
Mà chân lý nghìn sau còn trả giá

Nhưng đất nước vẫn đi tìm sự thật
Trong câu hát có mồ hôi nước mắt
Có con nghê đá đầu đình cười cợt các triều vua
Có thằng Bờm chẳng tin lời hứa hão
Cái quạt mo không để phú ông lừa
Vua Hùng ơi Người đi tìm sự thật
Bằng cách ngày đầu năm xuống ruộng cày bừa.

Bao triều đại xưa đổ vì ưa nói dối
“Muốn nói gian làm quan mà nói”
Sự thật giấu trong nhà dân đen
Sự thật từng vật vờ đi như ăn mày đầu đường xó chợ
Sự thật làm anh hề, chú mõ
Sự thật như nàng Thị Kính oan khiên
Sự thật trốn vào ngụ ngôn, ngạn ngữ sấm truyền
Sự thật có khi mượn Xuý Vân mà giả dại
Sự thật chiếc lá đa bay qua bao thời đại
Bay về đây trời nổi can qua
Con vua thất thế quét chùa sãi ơi !

Vĩnh biệt chú Cuội
Vĩnh biệt thành tích ma, báo cáo láo thành thần
Bệnh hình thức gọi sai tên sự vật
Người đói phải nói lời no
Vị đắng sao lại kêu là mật?
Ngục tù mang nhãn hiệu tự do!

Vĩnh biệt khái niệm quét vôi và từ ngữ nước sơn
Đạo đức dính trên đầu môi chót lưỡi
Vĩnh biệt những bóng ma cơ hội
Những cái đầu già cỗi tự bên trong
Những con mắt nhìn người bằng bóng tối
Có nhận ra tia nắng mới trong lòng?

Tôi là người tập yêu sự thật
Tập nghe nên có lúc ù tai
Tập nhìn nên chói mắt
Đất nước đổi thay
Cơn đau đẻ những dòng sông quằn quại!

Hạt thóc và hạt máu có bao giờ nói dối?
Bốn nghìn năm dân tộc tôi
Đi từ bờ bên kia
Đến bờ bên này của sự thật
Để mỗi con người hôm nay trên mặt đất
Được cầm trong tay một tia nắng mặt trời …

Sài Gòn ngày 15-1-1987
Trần Mạnh Hảo

Để kết thúc bản tham luận, xin kính mời quý vị cùng chúng tôi hô 3 khẩu hiệu sau:

Khẩu hiệu một:
KHÔNG CÓ SỰ THẬT, KHÔNG CÓ LẼ PHẢI VÀ CHÂN LÝ
(xin hô ba lần: không có, không có, không có)

Khẩu hiệu hai:
CHỈ CÓ SỰ THẬT MỚI GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI
(xin hô ba lần: chỉ có, chỉ có, chỉ có )

Khẩu hiện thứ ba:
SỰ THẬT LÀ TIÊU CHUẨN CỦA CHÂN LÝ
(xin hô ba lần: tiêu chuẩn, tiêu chuẩn, tiêu chuẩn)

Xin cám ơn quý vị

Viết tại Sài Gòn 6-08-2010
Trần Mạnh Hảo


Tâm tình với nhà văn Trần Mạnh Hảo
(Hà Sĩ Phu)

Ông Trần Mạnh Hảo thân,

Mặc cho thiên hạ đang mổ bò nhân sự. Còn chưa đi họp, ông quá bộ vào xó Đà Lạt này tâm tình với tôi một lúc.

Mấy hôm trước, tôi đã định viết một bài nhan đề “Một dân tộc bắt đầu tập nói”, mô tả một dân tộc lâu ngày nói dối đã quen, sắp bị diệt vong vì tật nói dối, bỗng hoảng hồn bừng tỉnh bên bờ vực thẳm, vội bảo nhau học lại ngôn ngữ nói thật của cha ông để tự cứu, nhưng vất vả mãi cũng chỉ mới bập bẹ phát ra được mấy câu nói thật vỡ lòng thôi.

Dự định ấy của tôi bị cắt ngang vì bài tham luận vừa rồi của ông. Vì nói thật như ông cỡ này thì coi như “tốt nghiệp phổ thông” rồi, ý nghĩ bi quan kia của tôi e có phần lạc hậu trước tiến triển của thực tế (chắc ông không tự ái, vì Đại học nói thật của nước mình bây giờ chắc gì đã bằng Trung cấp nói thật của người ta!). Cái đoạn ông vạch trần một cách toàn diện sự thật rằng “Chưa bao giờ số phận dân tộc ta, đất nước ta có nguy cơ tiêu vong như hôm nay” (để đừng có suốt ngày vui cười hơn hớn) thì nhiều người cũng đã làm được, và dù có nhắc đi nhắc lại mãi cũng chưa chắc đã vào được tai những anh ù lì. Ông đã nói được nhiều, nhất là vạch ra cái đại bản doanh của những kẻ đã gây “nguy cơ tiêu vong dân tộc” ấy nằm ở đâu, nó lớn cỡ nào, khiến ta “phải làm một cuộc cách mạng của sự thật mới mong giải thoát cho nhân dân khỏi ngục tù”, đây cũng là một nét mới so với mấy vị trước kia.

Thật vậy, trung tâm ấy phải lớn cỡ nào mới có thể làm cho “một DÂN TỘC nói dối “lộng giả thành chân”, làm nên một HIẾN PHÁP “sinh ra hầu như để chỉ trói buộc người dân và tạo hàng nghìn kẽ hở cỡ lỗ thủng con voi chui lọt cho kẻ cầm quyền tự do đánh tráo Hiến pháp”, lập nên một “QUỐC HỘI giả hiệu”, làm cho “kiếp người ở Việt Nam lại tủi hổ hơn kiếp bò”…

Giặc nội xâm phải ở tầm cỡ nào mới tạo được một “nhà ngục có tên là dối trá”, nó làm cho “người dân Việt Nam hiện nay không có quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo”, khiến cho “những sự thật chết người, ai ai cũng biết mà vì sợ tù tội nên không ai dám nói ra”, nó đã “ném những quả bom B52” vào chính dân tộc mình, nó đã “tung những quả đấm thép đấm chí tử vào hầu bao dân nghèo Việt Nam”, đã “tạo cơ sở cho sự dối trá làm bá chủ đất nước”…?

Và TMH đã chỉ đích danh: “Thế thì ai là giặc nội xâm, là giặc tham nhũng? Thưa, Chính quyền”! Ấy chính là “một nền chính trị thoái bộ, rất giống với các nền chính trị thần quyền thời Trung cổ bên Châu Âu”, là một “chế độ” với những quả bom tự ném vào mình, là một đảng đã “bịa ra một giai cấp vô sản ảo để thành lập ra đảng của giai cấp…” nên tổng quát lại mọi mặt đều “không chính danh”, làm hại cả một dân tộc…

Nhưng tất cả những luận điểm dẫu đanh thép ấy đều là chuyện nhỏ trước cảnh tượng xã hội ta đang có một vị “Hoàng đế cởi truồng” đi giữa bàn dân thiên hạ, như trong câu chuyện thiếu nhi của Andersen. Bởi vì, khi trước mặt mọi người đã là một gã vua cởi truồng ràng rành, mà những kẻ chẳng biết mù thật hay thong manh giả cứ nhắm mắt khen bộ y phục của Hoàng đế là đẹp nhất thế gian, thì mọi ngôn ngữ trở thành thừa hết! Chẳng lẽ lại phải vận dụng thiên kinh vạn quyển, triết học nọ triết học kia để tìm xem định nghĩa của thời đại thế nào là “cởi truồng” à? Lại cãi nhau về một môn “cởi truồng học” đậm đà màu sắc nước Vệ ư? Càng lý luận dài dòng là càng sa vào bẫy của hai tên bợm, kẻ đã tạo ra bộ quần áo bằng không khí cho Hoàng đế, với cái “khóa” rất đểu là: chỉ ai có khối óc và trái tim chân chính mới nhìn thấy, ai nói khác đều là bọn thù địch mù quáng, phản dân hại nước, tất nhiên phải cho vào tù!

Bộ “y phục đểu” kia sở dĩ không bị xé toang vì nó đã khoác được lên vai một Hoàng đế. Hoàng đế trót mặc vào thì phải dối trá để tự vệ. Hắn tự vệ được nhờ có binh quyền. Lý lẽ dối trá một khi gắn được vào quyền lực tuyệt đối lập tức biến thành liên minh ma quỷ, không trị được nữa. Chiến công của Sự thánh thiện (mà biểu tượng là đứa trẻ, một nhân tố chưa mắc vào vòng trầm luân) tuy có làm thỏa lòng giới nhân sĩ đang bị câm miệng nơi nghị trường, nhưng “thiên sứ” ấy cũng phải biến đi ngay. Làm thế nào để chân lý được lan tỏa thành sức mạnh xã hội vẫn còn nguyên là chặng đường rất xa trước mặt.

Từ 1988 tới nay, tôi cũng từng là một người đã lý luận đến tận gốc. Việc lấy hình ảnh ông vua cởi truồng trong “bộ quần áo của Hoàng đế” tượng trưng cho xã hội ta cũng đã từng xuất hiện trên một vài trang Blog cá nhân. Mặc dù vậy, tiếng nói của nhà văn TMH khét tiếng bộc trực hôm nay giữa nơi văn đàn quốc nội vẫn có nét riêng và có tác dụng riêng rất đặc biệt. Tôi chia sẻ với ông điều này. Cuộc chạy tiếp sức còn dài.

Nhưng nước mình có điều lạ: Chuyện nhỏ thì cãi nhau đến cùng, mà việc đại sự, khi cần tìm cho đến ngọn nguồn lạch sông thì cứ nửa đường dừng lại. Định tìm con vi trùng để diệt mà chỉ đi nửa chừng, sắp chạm trán với vi trùng là cài số lùi để dĩ hòa vi quý.

Thú thật, khi đọc đến đoạn “Bao nhiêu ông vua triết học cởi truồng, vua chính trị cởi truồng, vua cách mạng cởi truồng, vua chủ nghĩa cởi truồng… đang đi nhông nhông ngoài xã hội, ngoài phố xá, đã và đang được những đám đông giả vờ cuồng tín hòng trục lợi xúm vào vạn tuế…” là tôi không nín được cười, bỗng thương cho “đồng chí” Nguyễn Trường Tô, chỉ mặc “áo Hoàng đế “ với các cháu gái nhỏ một lúc trong phòng thôi mà bị thiên hạ xỉa xói, bất công quá xá. Còn “Cả đàn đang lông nhông ngoài phố” thì sao để “đồng chí” ấy chịu riêng oan một mình?

Cuối cùng, trước khi ông lên đường phó hội với các nhà văn tôi tiễn đưa bằng mấy dòng thơ viết từ năm 1987, và lúc ấy còn đăng được trên báo Tư pháp Lâm Đồng:

Tìm con Quỷ sứ
Con Quỷ nằm giữa đống rơm
Một đoàn đốt đuốc lom khom đi tìm
Đuốc soi sáng cả lỗ kim
Mà con Quỷ sứ vẫn tìm chẳng ra?!
Miệng người lớn tiếng hò la
Tay người như chớp nhặt quà Quỷ ban
Con Quỷ hở một ngón chân
Chục anh xúm lại rút rơm che liền
Thính tai, nghe Đống Rơm truyền:
-“Để rơm bén lửa thì phiền với ông!”

Hà Sĩ Phu

(Đã đăng báo Tư pháp LĐ tháng 10-1987 và báo Doanh nghiệp tháng 11-1993 bvnpost on 02/08/2010 http://www.hasiphu.com/images/SangTrang1.pdf)

Goodbye Đại hội bịp [bịt?] mồm

Nhà văn Trần Mạnh Hảo gửi đến BVN Lời tuyên bố quyết liệt dưới đây, đúng với phong cách ngôn từ thường thấy của ông. Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1975, ông vừa trải qua một Đại hội bề ngoài có vẻ êm đềm hào nhoáng nhưng quả thật sâu bên trong là cả một trời “dâu bể”, mở đầu bằng sự kiện 12 người kiên quyết xin rút tên trong danh sách đề cử làm cho BCH cuối cùng trơ khấc lại chỉ toàn là những cụ già (ngoại trừ một nhân vật dưới tuổi ngũ thập và bốn nhân vật khác cũng đã ở nửa cuối chặng đường ngũ thập), và kết thúc bằng lời phát biểu ứng khẩu của một nhà văn thuộc cơ quan an ninh “phản đối Đại hội lên tiếng bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam không đúng chỗ”, thế là đủ để thấy hình ảnh một Đại hội đánh dấu một bước ngoặt “não nùng và bi tráng” dẫu “rằng hay thì thật là hay…”.

Một Đại hội mà người chủ trì lo dành trọng tâm cho việc bầu cử và kiểm phiếu đến mức quên bẵng cả việc kiểm điểm Ban chấp hành cũ hoạt động ra sao sau một nhiệm kỳ, cũng như chỉ lướt qua mục góp ý bổ sung vào điều lệ, nhất là bàn bạc cho sáng tỏ về tôn chỉ hàng đầu của Hội Nhà văn, đích đến cao đẹp của việc cầm bút sáng tạo nghệ thuật. Cũng vì thế hầu như ai phát biểu trong Đại hội cũng bị vỗ tay đuổi xuống, vỗ tay để khỏi cần nghe nhau khi thấy có gì như trái ý mình.

Xen vào giữa những tấn kịch bi hài có lúc làm nóng bỏng hội trường lại có cái kỹ thuật tuyệt xảo của chuyên viên điều khiển micro mà ai cũng bảo được đào tạo từ “nước lạ” về, muốn tắt giọng ai lập tức tắt ngay cái rụp sau một tín hiệu tinh vi nào đấy, còn trường hợp không tiện tắt nhưng muốn làm cho “lạc giọng” thì cũng sau một tín hiệu đã quy định, giọng nói người phát biểu bỗng trở nên méo mó hoặc xen vào đủ tạp âm không còn nghe được ra gì nữa. Theo những nguồn tin “rỉ tai” người này sang người kia mà chẳng ai biết độ chính xác đến đâu thì đây là một ngón tiểu xảo, một ngành nhỏ trong cái hệ thống kỹ thuật hiện đại nhằm đối phó với internet và audio, video… đang phát triển ồ ạt trên thế giới và cả ở nước ta mà ta vừa học được ở nước anh em. Không may cho ông Trần Mạnh Hảo tự nhiên lại trở thành nạn nhân đầu tiên của những “thể nghiệm kỹ thuật” được đem ra dùng trong Đại hội, và vì thế cách thể nghiệm có hơi “vỗ mặt” so với những người khác (có lẽ về sau đã được “kịp thời rút kinh nghiệm” chăng).

BVN tôn trọng quyền được phát ngôn của mọi công dân, nên đối với sự cố không may này tự mình không đủ thông tin chính xác để đánh giá, đành trân trọng công bố nguyên văn ý kiến của nhà văn Trần Mạnh Hảo và cũng xin nói rõ, đây là bản quyền của riêng tác giả.
Bauxite Việt Nam 9.8.2010


Trước Đại Hội Hội Nhà Văn Việt Nam lần thứ VIII, chúng tôi đã viết bản tham luận: ”Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước” gửi cho blog Talawas, website Đàn chim Việt… Lập tức hàng chục website nối mạng, đặc biệt có hai trang mạng trong nước là website của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và trang Bauxite Việt Nam của GS Nguyễn Huệ Chi cũng post bài tham luận của chúng tôi cho mọi người cùng đọc.

Sáng 05-8-2010, khi tới Học viện Chính trị quốc gia để dự đại hội, đa số các nhà văn đều bắt tay chúng tôi chia sẻ và động viên, rằng bản tham luận ông viết rất được… xin chúc mừng. Một số nhà văn nổi tiếng “yêu Đảng vượt chỉ tiêu trên giao” như N.Đ.X., T.T.Đ… cũng bắt tay chúc mừng chúng tôi đã cả gan nói ra những sự thật chết người, mà nói có lý luận, có sự thật bảo chứng …

Có nhà văn động viên chúng tôi hết lời, đoạn dặn rằng: chớ kể ra tên tớ đã ủng hộ cậu nhá, có thể “nó” không bắt cậu nhưng “nó” bắt thằng ủng hộ cậu đấy, tớ hãi lắm; “nó” muốn để cho SỰ THẬT ĐƯỢC MỒ YÊN MẢ ĐẸP”, cậu lại cả gan bốc nấm mộ này lên, mất mạng như chơi…

Các nhà văn đều tin rằng, “nó” đếch cho cậu đọc tham luận này đâu. Nhiều nhà văn còn rỉ tai dặn: tuyệt đối ông không được uống nước có sẵn (chai nước lọc) trong Khách sạn Kim Liên nhá, không được một mình đi vào các con phố vắng nhá, ai không thân mời đi ăn uống là tuyệt đối không nhá, đi đâu nên rủ hai ba thằng nhà văn bạn bè đi cùng nhá; rằng ông nhớ vụ cụ Dương Bạch Mai người Nam Kỳ trong cuộc họp Quốc hội ngày nào chứ, cụ này mới lên diễn đàn nói thật một tí teo thôi, đoạn xuống uống một ly nước (hay bia gì đó) liền lăn đùng ra chết… Ở đầt nước “tự do gấp triệu lần tư bản”, toàn “đỉnh cao trí tuệ” cầm quyền với chủ nghĩa bách chiến bách thắng… đã bao người mới hé mồm ra nói sự thật như cụ Dương Bạch Mai liền lăn đùng ra chết bất đắc kỳ tử, thì thằng phá trời như mày liều mạng nói toẹt ra sự thật, coi chừng thí mạng cùi đó nghe con!

Nghe bạn bè lo lắng cho tính mạng của mình như vậy, tôi hãi lắm, nếu có làm sao thì cha già ngoài quê Nam Định, vợ con trong Sài Gòn biết cậy vào ai?

Nghe anh bạn thân tái mặt bảo: chỉ có thằng điên như mày mới dám viết tham luận như vậy, mày đang là số phận của con cá nằm trên thớt mà dám cãi nhau với cả dao liền thớt thì coi chừng đi họp chi bộ với hà bá đó! Bước vào hội trường, tôi tự dặn mình: im mồm nhé, tuyệt đối câm nhé, đồng chí Hảo ngu như lợn ơi, mua băng keo dán miệng lại nhé… Trước khi ra Hà Nội, vợ con và bạn bè dặn: tịnh khẩu là thượng sách, đóng vai thằng đần là ăn chắc sống, thề đi, xin thề!

Thế mà trong không khí bầu bán “quần ngư tranh thực” rất vô văn hóa của Đại hội, nhất là không thể chịu được cách điều hành đại hội rất xách mé và trịch thượng của ông Trung tướng công an Hữu Ước (nhạc sĩ mù nhạc, họa sĩ mù màu, nhà văn ít chữ…) chúng tôi đã quên béng lời dặn dò tịnh khẩu của người thân, quên béng mình đã hứa với mình: quyết tâm làm con lợn chỉ ủn ỉn chơi với bạn bè trong Đại hội thôi, nghĩa là ngu vĩnh viễn đi là yên… lại ngứa tay, ngứa mồm giơ tay xin phát biểu ý kiến…

Chúng tôi đã giơ tay mấy lần, giơ tay rất lâu mà các vị Chủ tịch đoàn tuyệt đối không cho lên, không cho nói. Hàng chục nhà văn ngồi quanh chúng tôi nói lớn: ông Hảo cứ lên đi, cứ lên đi, sao lại không cho một nhà văn hàng đầu của Hội phát biểu… Rồi có mấy tiếng quát cô cầm micro: đưa micro cho ông Hảo. Không khí sôi sục làm chúng tôi thêm dũng khí, đứng lên nói: xin cô cho tôi mượn micro. Cô gái cầm micro quyết không đưa; có ai đứng bên cạnh giật được micro giúi vào tay tôi. Cô gái giữ trận địa an ninh của Đảng giật lại micro như giật súng, nhưng không giật lại được. Tôi nói vào micro: kính thưa quý vị nhưng micro câm tiếng. Có ai nói: nó cúp điện micro này rồi, nó là micro đểu. Mấy ông nhà văn to tiếng: ông Hảo lên bục Đoàn Chủ tịch ngay, trên đó có hai cái micro tốt nhất nước đấy…

Tôi hùng dũng lên bục cao Chủ tịch đoàn, giúi mồm vào hai chiếc micro như hai miệng súng chĩa vào tôi, đoạn kính thưa, rồi nói. Tôi mừng thầm, micro này vẫn còn chưa bị cúp: kính thưa quý vị, có cảm tưởng tôi đã đến nhầm địa chỉ, hình như đây không phải là Đại hội nhà văn, đây là một đại hội chính trị tranh giành quyền lực. Ở đây văn học không có chỗ tồn tại. Hội Nhà văn thì phải lịch lãm lịch sự, phải có văn hóa chứ, các vị đang đánh tráo khái niệm chính trị và văn học… Lập tức micro bị cúp… Tôi vẫn nói rất to hy vọng một số nhà văn ngồi hàng đầu nghe được: rằng ông Trung tướng nhà văn Hữu Ước không biết viết văn, sao ngồi Chủ tịch đoàn điều hành Đại hội rất xách mé, trịch thượng, xin ông xuống cho… So với một số nhà văn bậc thầy ngồi dưới, ông Ước chỉ là thằng bé con tập tành viết lách lăng nhăng…

Nhà thơ Hữu Việt đứng lên hét to: không được đối xử với nhà văn như thế, sao lại cúp micro anh Hảo. Rất nhiều nhà văn đứng lên quát: không nghe thấy gì, để cho người ta nói, nối lại micro đi… vô văn hóa, vô văn hóa, toàn micro đểu…

Không có micro, tôi đi đi lại lại trước mặt Chủ tịch đoàn một lúc rồi đành đi xuống…
Lập tức micro lại vang lên trong miệng người điều hành Đại hội: xin mời nhà văn Tô Nhuận Vĩ nói…

Chúng tôi bước xuống, bạn bè đỡ lấy tôi, bắt tay rối rít. Ai cũng bảo “nó” coi nhà văn như súc vật, bịp mồm người ta, không cho người ta nói là khinh bỉ toàn Đại hội. Tôi ngồi cạnh nhà thơ hàng đầu Việt Nam Bằng Việt, anh bảo tôi phản đối trò cúp micro vô văn hóa này, đây là vết nhơ không thể xóa nổi của Đại hội. Nhà thơ Anh Chi bắt tay tôi bảo: chúng nó thua ông rồi, chưa giao chiến mà nó đã thua một không, bọn khốn nạn, bọn vô văn hóa chứ đâu phải nhà văn, tao sẽ lên Chủ tịch đoàn chửi thẳng vào mặt chúng nó: chúng mày cúp micro của thằng Hảo là chúng mày ném bùn vào Đại hội đấy, chúng mày đã làm Đại hội thất bại vì đây là Đại hội bịt mồm… Phạm Đình Trọng bắt tay tôi: chúng nó đã biến ông thành Linh mục Nguyễn Văn Lý, ông bị một Đại hội lớn bịt mồm.

Giờ giải lao các nhà văn xúm đến bắt tay tôi, chửi bọn bịt mồm. Thanh Thảo cười ngặt nghẽo: chúng nó cho chú Hảo rơi vào cõi im lặng đáng sợ, Hảo ta câm hoàn toàn, dán giấy vào miệng mày, sướng chưa con… Nguyễn Quang Lập chống gậy ra cửa bảo: em vừa quát vào mặt thằng Phó ban Tuyên giáo: chúng mày súng ống đầy mình sao lại sợ Trần Mạnh Hảo tay không đến thế? Mỹ chúng mày không sợ mà sợ Hảo à, đồ ngu!

Chiều 5-8-2010, sau khi đài RFA gọi điện thoại phỏng vấn chúng tôi về sự kiện bịp mồm, ông Hữu Thỉnh xin lỗi Đại hội về sự cố kỹ thuật bị mất điện micro của anh Hảo rất đáng tiếc, chúng tôi xin lỗi và sẽ kiểm điểm sâu sắc những người phụ trách kỹ thuật âm thanh. Cả hội trường ồ lên: cắt micro, bịt mồm người ta rồi sao còn đổ lỗi cho kỹ thuật, dấu đầu lòi đuôi [cũng giống hệt như ông Đào Duy Quát mà chúng tôi đã đề nghị cách chức ngay lúc bấy giờ, khi ông ta hào hứng đưa trên mạng Điện tử Chính phủ Việt Nam tin Hải quân TQ diễu hành hoành tráng tại quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa... “của Trung Quốc”, bị công luận dồn dập lên án ông đã đổ lỗi cho người đánh máy “đánh nhầm”. Một giuộc cả thôi mà – BVN chú thêm].

Các nhà văn bảo tôi: xin lỗi vì trục trặc kỹ thuật nên ông Hảo không nói được vì micro mất điện, nếu quang minh chính đại thì phải mời anh Hảo lên nói lại chứ, bắn không nên đền đạn chứ. Nói dối lòi mẹ cái đuôi định hướng micro, micro đểu rồi còn xoen xoét cái miệng gian trá, bịp bợm. Đúng bọn này là bọn không lương thiện, không tử tế, còn lâu mới thành người mà dám khoác áo nhà văn, khoác áo Chủ tịch đoàn, thế giới nó khinh như mẻ, đám ma bùn chứ nhà văn gì chúng nó…

Một số nhà văn đã đi tìm hiểu, hỏi cán bộ công nhân viên Học viện Chính trị quốc gia rằng hệ thống âm thanh ở đây có bao giờ trục trặc chưa? Họ trả lời, đây là trường đảng của Bộ chính trị, trục trặc âm thanh có mà chết, không bao giờ bị trục trặc âm thanh, dàn âm thanh tốt nhất nước đấy… Với lại, hội trường này không bao giờ bị mất điện, tuyệt đối không bao giờ micro bị tắt tiếng như sự cố hôm nay đâu…

Sau hai ngày ngồi trong hội trường Đại hội, chúng tôi và rất nhiều anh em nhà văn phát hiện ra sự thật này: âm thanh micro của Đại hội là âm thanh đểu, micro đểu. Vì mỗi lần ông Hữu Thỉnh nói hay các ông trong Chủ tịch đoàn nói, hay những ông đọc tham luận y hệt xã luận báo Nhân dân thì âm thanh rất tốt, rất vang, rất rõ. Rõ đến nỗi tôi ngồi bên ngoài, đi trong sân của hội trường còn nghe rõ mồn một. Thế mà khi nhà văn lên nói hay lên tham luận mà họ không nắm được, họ bèn vặn rất nhỏ âm thanh micro. Tham luận của GS Phong Lê có nhắc đền Hoàng Sa, Trường Sa, nhắc đến nỗi nguy mất nước thì micro bị nhiễu, rè như kẻ khản đặc tiếng, nghe câu được câu chăng… Các tham luận hay phát biểu của Bùi Minh Quốc, Phạm Đình Trọng… đều bị micro đểu làm méo hết giọng. Đúng là quân đểu, micro đểu, Đại hội đểu…

Các nhà văn giờ giải lao xúm vào hỏi tôi, rằng ông định nói gì lúc đó, nạn nhân của micro đểu, tự do đểu, dân chủ đểu định nói gì mà “nó” sợ ông hơn sợ đế quốc Mỹ vậy? Tôi bảo, tôi đâu có cầm trong tay bản tham luận đâu mà “nó” cắt micro của tôi, tôi chỉ xin nói ba đến bốn phút mấy cảm nghĩ như sau:

Thứ nhất, tôi thấy sự thật và đất nước không có mặt tại hội trường này. Dân tộc ta, đất nước ta đang bị bọn giặc phương Bắc xâm lược; chiếm các quần đảo của ta, giết dân ta ngoài biển như giết ngóe, chiếm đất liền ta bằng kế hoạch bauxite thậm độc, trồng rừng đểu, khai quặng đểu để chiếm đất, chiếm rừng rồi ồ ạt di dân Tàu sang đất ta… Họa mất nước đang đến gần sát sạt. Vậy mà ông Hữu Thỉnh lờ đi, Chủ tịch đoàn lờ đi, đa số nhà văn lờ đi, tham luận chúng ta lờ đi… Làm như Đại hội Hội Nhà văn lần thứ VIII này đang diễn ra bên Trung Quốc chứ không diễn ra trên đất nước ta. Điều lo lắng quan tâm nhất của 85 triệu đồng bào không hiện diện trong hội trường này; thế thì chúng ta câm mồm để Trung Quốc bóp cổ đất nước, chúng ta đồng lòng với kẻ xâm lược à?

Thứ hai, tôi muốn cải chính giùm cho ông Hữu Thỉnh. Sau khi bài báo động trời của nhà văn Trang Hạ: “Em không phải nhà văn đâu” tung lên các trang mạng trong và ngoài nước, nhiều nhà văn hỏi chúng tôi; rằng có phải nhà thơ Hữu Thỉnh là người của Trung Quốc, do Trung Quốc cài cắm vào từ lâu để nắm Hội Nhà văn, sao thấy cách hành xử quốc tế của ông Thỉnh yêu nước Tàu hơn yêu nước Việt, làm cái gì cũng cốt để đẹp lòng thiên triều phương Bắc? Tôi bèn trả lời rằng, không nên kết luận sớm quá như vậy, chẳng lẽ ông Hữu Thỉnh lại đang tâm làm gian tế cho giặc hay sao?

Xin googbye Chủ tịch Hội Nhà văn Hữu Thỉnh,
Kính xin ông Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII Hữu Thỉnh (ông Thỉnh đã làm Chủ tịch Hội ba khóa rưỡi) hãy rủ lòng thương, ban cho tôi ân đức, xin ngài hạ cố gạch tên chúng tôi trong danh sách hội viên. Xin cảm ơn ông trước. Chúng tôi không làm đơn xin ra khỏi Hội, vì khi vào Hội Nhà văn năm 1975, chúng tôi không phải làm đơn, được Hội Nhà văn tự động đưa vào Hội cùng mấy chục nhà văn trong văn nghệ giải phóng từ chiến khu về.

Qua Đại hội này, chúng tôi kết luận: Hội Nhà văn Việt Nam sinh ra không phải để phụng sự Tổ quốc và nhân dân Việt Nam, mà chỉ cốt phục vụ Đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi. Mà Đảng Cộng sản Việt Nam thì không phải là dân tộc hay Tổ quốc Việt Nam.

Xin goodbye Đại hội bịp mồm!
Sài Gòn, ngày 07-8-2010
Trần Mạnh Hảo bvnpost on 09/08/2010


LÁ THƯ NGỎ
GỬI TRUNG TƯỚNG CÔNG AN HỮU ƯỚC
KÍNH GỬI TRUNG TƯỚNG CÔNG AN
NHÀ VĂN -HỌA SĨ - NHẠC SĨ -THI SĨ – KỊCH SĨ
NHIẾP ẢNH GIA - ĐIỆN ẢNH GIA HỮU ƯỚC


Thưa trung tướng công an Hữu Ước,

Lời đầu thư, tôi xin thay mặt ba mạng sống đang thoi thóp trong sợ hãi của gia đình tôi, kính chúc ông sức khỏe và vui tươi, phấn khởi để phụng sự ngành an ninh nước nhà tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, dẹp tan cái chế độ tư bản dỏm đang thực thi trên quê hương ta mà chôn sống chúng nó như Marx, Engel dạy.

Thưa ông trung tướng,

Sau khi ông trung tướng ngồi chủ tịch đoàn lên diễn đàn Đại Hội Nhà Văn Việt Nam chiều 06-08-2010, lúc kết thúc đại hội, lớn tiếng kết án tôi (TMH) và nhà thơ Bùi Minh Quốc là Lý Tống quậy phá đại hội, khiến tôi đã sợ hãi đến co dúm người lại như một miếng giẻ rách.

Bởi ông Lý Tống, người đã dám cướp máy bay rải truyền đơn trên bầu trời Sài Gòn rồi nhảy dù xuống đất bị bắt…được tha do quốc tế bảo lãnh, ông anh hùng này lại cướp máy bay Thái Lan bay vào vùng trời Sài Gòn rải truyền đơn chống cộng… vốn dĩ là kẻ tử thù của chế độ cộng sản Việt Nam. Lần này, nếu Đảng ta tóm được ông Lý Tống, chắc sẽ xử ông tùng xẻo không tha…

Thế mà ông lại đứng giữa đại hội nhà văn vu cho tôi là Lý Tống, thì cầm bằng như ông đã thay mặt đảng ta, an ninh ta tuyên án tử hình tên Trần Mạnh Hảo ngỗ ngược dám chê ông không biết viết văn giữa đại hội vừa rồi.

Than ôi! tôi vốn là một kẻ sợ công an nhất nước Việt Nam. Hồi bé, công an đã bắt bố tôi là Trần Văn Hiền tới 12 lần, chỉ vì bố tôi hay làm thơ ca hò vè diễu cợt cán bộ xã huyện ức hiếp dân lành và tham ô lãng phí. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi lần đi học phải qua trụ sở công an xã, tôi đã co chân chạy như biến, đến nỗi nhiều bận ngã thâm tím mặt, lại còn sợ quá són cả ra quần không biết là bao nhiêu lần.

Cho đến hôm nay, nỗi sợ công an cộng sản Việt Nam của tôi còn tăng lên gấp bội. Đến nỗi giờ này, sau mấy chục năm lấy nhau, tôi vẫn chưa hết nghi ngờ vợ tôi có thể do công an gài vào giả vờ lấy tôi, cốt theo dõi tư tưởng tâm hồn tôi, điều tra xem tôi có phải là CIA cài vào chờ cơ hội xông ra lật đổ đảng ta hay không ? Bởi vì tôi thấy bà vợ tôi hay theo dõi tôi viết lách, rất đáng ngờ; có thể do tôi sợ công an quá xá mà nghi oan cho bà vợ suốt đời kiểm soát mình còn hơn cả công an chăng ? Tôi đã sống hèn hạ như kiếp con giun cái kiến của thân phận người dân Việt Nam để cốt yên thân. Đến nỗi, mỗi lần mở máy vi tính, cái tôi nhìn thấy trước nhất là một câu “ranh ngôn” tự viết: “ Kẻ mạnh là kẻ biết sợ !”

Sau khi ông trung tướng tuyên án tử hình tôi, tôi đã rét run lên mặc dù Hà Nội hôm ấy nóng trên 38 độ. Tôi bỏ cuộc đi thăm thú Hà thành, tranh thủ mua ít vải màn về để may áo tang cho cả nhà vì đảng ta đâu có thể để tên Lý Tống thứ hai này sống thêm mấy tháng…Tôi chuồn lẹ về Sài Gòn, hi vọng tìm cách giấu biến tin khủng khiếp này không cho vợ con biết.

Chiều 07-08-2010, từ Hà Nội bay về nhà, tôi đã thấy vợ con khóc như ri, khóc khản cả tiếng rằng sao ông dám cả gan bóp dái ngựa thế, chết là phải rồi ông ơi là ông ơi. Chỉ cần một ông công an phường bảo ông là Lý Tống, ông đã chết mất ngáp, đằng này chính mồm ông trung tướng công an phán như thế, chắc vài tuần nữa họ sẽ bắn ông ngay.

Mấy hôm nay, cả nhà tôi sợ quá không dám ngủ, không dám ăn, chỉ uống nước lã cầm hơi, ngồi chờ lính ông đến trói mang tôi đi. Cứ tình hình này, cả nhà tôi có thể chết vì quá sức sợ hãi mà đứt hết ruột gan.

Tôi xin cắn rơm cắn cỏ, van ông trung tướng quyền uy ngang trời hãy thương xót chúng tôi mà mở lượng hải hà, ban cho vợ con tôi một con đường sống, dù ông có bắn tôi ngay bây giờ.

Xin ông hãy tuyên bố trên báo công an của ông rằng: tên Trần Mạnh Hảo lúc trong đại hội đích thị là Lý Tống, nhưng ra ngoài nó sợ quá co vòi lại nên đã biến thành một tên Lê Công Định thứ hai. Đảng sẽ cho nó mươi năm tù để nó nếm đòn tự do dân chủ, tha mạng chó cho nó khỏi dựa cột, đặng để vợ con tên phản động này khỏi chết vì quá sợ hãi.

Nếu ông làm được vậy, là ông nhân đức nhất nước rồi, trời phật sẽ cho ông sống lâu trăm tuổi để ông bắt hết bọn Lý Tống đang có cơ mọc lên rào rào như mầm măng đầu mùa gặp mưa.

Tôi xin ông thêm một ân huệ nữa. Nếu ông có sai các cây bút công an hay các giáo sư tiến sĩ Mác –Lê dùng tên giả để “đánh” các bài báo phản động của tôi thì các ông hãy đánh một cách quân tử, đừng dùng lối tiểu nhân như các ông vẫn làm. Phê phán các bài viết của người ta mà không in bài viết ấy lên để người đọc kiểm chứng, lại cắt xén, xuyên tạc, bịa ra đời tư của người ta…như các ông vẫn làm với các nhà đối kháng thì quả là các ông không chính danh, không quân tử, không đàng hoàng tử tế.

Các ông có sức mạnh vô song của súng, của nhà tù, của chuyên chế vô sản, có sợ con ma nào mà phải phê bình phê bèo kiểu học phiệt, kiểu xiên xẹo, mèo mả gà đồng không xứng danh “ phương diện quốc gia” như thế ?

Một điều nhỏ nữa tôi xin góp ý với ông là sau khi ông kết án hai chúng tôi là Lý Tống, là ông đã nói một câu rất hớ, rất không xứng tầm lon trung tướng và không xứng tầm với một người đa tài “ bằng vạn Nguyễn Đình Thi”; ấy là khi ông phán: “ Tôi trung tướng công an nhà văn Hữu Uớc phê phán Hội nhà văn dám để mấy tên Lý Tống này lên diễn đàn đòi chủ quyền quốc gia, bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa không đúng chỗ, đòi tự do dân chủ không đúng chỗ !”

Chính ra các ông nên đề một bảng cấm ở hội trường đại hội: ‘CẤM YÊU NƯỚC, CẤM ĐÒI CHỦ QUYỀN HOÀNG SA, TRƯỜNG SA” và thêm khẩu hiệu: “CẤM NÓI ĐẾN DÂN CHỦ TỰ DO” thì có phải là đẹp lòng đảng ta lắm lắm ru?

Tuyên bố như thế, có khác gì ông vu cho đảng cộng sản cầm quyền bán đất bán biển cho Trung Quốc ? Như vậy, liệu đảng ta còn khoái ông không? Tuy rằng thực chất vấn đề có thể đúng như ông nói, nhưng tuyên truyền thì phải nói ngược lại là đảng ta yêu nước ta, yêu tự do dân chủ nhất thế giới chứ ?

Mấy lời thô thiển của kẻ dân đen mạt hạng đang run sợ như cầy sấy, cắn rơm cắn cỏ van ông rủ lòng từ bi hải hà mà tha cho vợ con tôi khỏi phải chết vì quá sợ hãi, bằng cách ông “ hô biến”, biến chúng tôi từ Lý Tống thành Lê Công Định…

Cầu cho ông được khỏe mạnh để có thể vào trung ương khóa này mà nắm chức bộ trưởng công an như ông hằng mong ước..

Kính thư,
Kẻ hèn mọn tên là Trần Mạnh Hảo
Sài Gòn ngày 10-08-2010
Trần Mạnh Hảo