Translate

Wednesday, April 21, 2010

Hội thảo ‘Việt Nam - 35 Năm Nhìn Lại’: Huế 1968, vẫn là ‘lỗ hổng’ của lịch sử

Hà Giang/Người Việt


WASHINGTON D.C.
- Buổi hội thảo qui tụ nhiều nhân vật có thẩm quyền trong chiến tranh Việt Nam (“Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại, Vietnam - a 35 Year Retrospective Conference”), được tổ chức tại Hoa Thịnh Ðốn cuối tuần qua, được nhiều người tham dự cho là “bước đầu tiên trong việc trả lại sự thật cho lịch sử” về cuộc chiến Việt Nam. Cuộc chiến, đã là đề tài tranh cãi trong 35 năm qua.




Thuyết trình về đề tài Cuộc Thảm Sát Mậu Thân 1968, Tiến Sĩ Erik Villard,
thuộc Trung Tâm Lịch Sử Quân Ðội Hoa Kỳ, nói rằng “...Kết cục, chính nỗ lực của quân lực VNCH
đã đẩy lui được cuộc tấn công quy mô và toan tính tỉ mỉ của quân đội Bắc Việt ra khỏi vòng đai Sài Gòn.”
(Hình: Hà Giang/Người Việt)



Hội thảo xoay quanh bốn đề tài chính: Cuộc thảm sát Tết Mậu Thân 1968, trận chiến An Lộc, trận tái chiếm cổ thành Quảng Trị, và vai trò của Hiệp Ðịnh Paris trong chiến tranh Việt Nam.

Ðiều hợp viên của phần thảo luận vế biến cố Mậu Thân là Tiến Sĩ John Carland, sử gia của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, chuyên viên nghiên cứu cuộc chiến Việt Nam, qua thời gian làm việc với Trung Tâm Lịch Sử Quân Ðội Hoa Kỳ trước đây.

Tiến Sĩ Carland còn là tác giả của cuốn “Combat Operations: Stemming the Tide, May 1965-October 1966,” được xem là tài liệu chính thức của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về lịch sử 18 tháng đầu tiên Hoa Kỳ có mặt trong cuộc chiến Việt Nam.




Thuyết trình đoàn của đề tài Cuộc Thảm Sát Mậu Thân tại cuộc hội thảo “Việt Nam, 35 Năm Nhìn Lại” -
Từ trái sang: Tiến Sĩ Erik Villard, học giả Nguyễn Ngọc Bích, Tiến Sĩ James Robbins (của tờ Washington Times),
và Ðại Tá Cảnh Sát VNCH Trần Minh Công. (Hình: Hà Giang/Người Việt)



Trong phần trình bày, Tiến Sĩ Erik Villard, một sử gia khác thuộc Trung Tâm Lịch Sử Quân Ðội Hoa Kỳ, và là người đảm nhiệm trọng trách soạn tài liệu về cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, phát biểu: “Mặc dù những trận đánh lớn nhất trong biến cố Mậu Thân xảy ra tại Quân Ðoàn 4, miền Nam Việt Nam, nhưng những trận đánh này lại ít được người ta chú ý đến.”

Dùng nhiều tài liệu và bản đồ hành quân, Tiến Sĩ Erik Villard cho cử tọa thấy Quân Ðoàn 4 là nơi duy nhất xảy ra những trận đánh hoàn toàn giữa quân lực VNCH và quân đội Bắc Việt.

“Ðây thực sự là một nội chiến!”

Tiến SErik Villard nói.

Ông kết luận: “Tại đây, cả hai phe đã tạo được những chiến công hiển hách nhất cũng như những thất bại ê chề nhất, nhưng kết cục thì chính nỗ lực của quân lực VNCH đã đẩy lui được cuộc tấn công quy mô và toan tính tỉ mỉ của quân đội Bắc Việt ra khỏi vòng đai Sài Gòn.”

Nếu lối trình bày chuyên nghiệp nhưng bình thản của các sử gia, nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, khiến cử tọa chăm chú theo dõi, thì xúc cảm mà những diễn giả gốc Việt tỏ lộ trong phần nói chuyện đã khiến cử tọa xúc động.

Ðại Tá Cảnh Sát VNCH Trần Minh Công cho rằng Biến Cố Mậu Thân là “bước ngoặt trong cuộc chiến Việt Nam.”

Với nhiều hình ảnh và tài liệu dẫn chứng, Ðại Tá Công khẳng định, vì “quyết tâm tiến chiếm miền Nam,” một mặt Bắc Việt giả vờ đề nghị một cuộc ngưng chiến kéo dài 48 tiếng đồng hồ vào dịp Tết, mặt khác đã âm thầm chuẩn bị một cuộc “Tổng Tấn Công, Tổng Nổi Dậy” trước đó hơn nửa năm.

“Trong cùng một ngày, Cộng Sản đồng loạt tấn công vào Dinh Ðộc Lập, Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ, đài phát thanh Sài Gòn, và nhiều căn cứ quân sự quan trọng, với hy vọng là sẽ chiếm giữ được những nơi này đủ lâu để chờ dân chúng nổi dậy.”

Ông nói.

“Bị bất chợt tấn công, giữa lúc hơn 50% quân nhân đã được cấp phép về ăn Tết với gia đình, thoạt đầu QLVNCH trở tay không kịp. Tình trạng ở Sài Gòn lúc đó nguy kịch đến nỗi lực lượng cảnh sát phải đương đầu với địch.”

Ông tóm tắt là “cho dù bất ngờ,” quân đội, và cảnh sát của VNCH đã “phản công kịp thời, và nhanh chóng đẩy lùi quân Bắc Việt.”

Ðề cập đến việc Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn đặc công Việc Cộng “Bẩy Lốp” đã được nhiếp ảnh gia Eddie Adams truyền đi khắp thế giới, Ðại Úy Trần Minh Công nói: “Bức hình của nhiếp ảnh gia Eddie Adams chỉ nói lên được một nửa sự thật về chiến tranh Việt Nam. Và một nửa sự thật thì không thể là sự thật!”

Vậy sự thật, theo ông là gì?

“Ðiều mà thế giới không nhìn thấy là đặc công ‘Bẩy Lốp’ đã ra lệnh tử hình biết bao nhiêu dân lành vô tội, và dùng người dân bị bắt làm áo giáp để đỡ đạn cho họ.”

Ðại Úy Trần Minh Công nói.

“Trước khi bị bắn, đặc công ‘Bẩy Lốp’ đã giết hết cả gia đình Trung Tá Nguyễn Tuấn gồm sáu người, kể cả một cụ già 80 tuổi. Nhưng đã không có ai chụp tấm hình này để ghi lại việc này.”

Ông nói tiếp: “Ngay sau khi bắn đặc công Việc Cộng ‘Bẩy Lốp’, chính Tướng Loan cũng ngã xuống và bị thương trước lằn đạn của quân đội Bắc Việt, nhưng đáng buồn thay, là tin này không được chú ý mấy!”

“Trong chiến tranh, thì cả hai bên cùng bắn nhau, nhưng việc Tướng Loan bắn tên đặc công khiến ông bị lên án, trong khi tội ác của đặc công ‘Bẩy Lốp’ thì không ai lên án.”

Trong phần thuyết trình của mình, tiến sĩ, học giả Nguyễn Ngọc Bích cũng đề cập đến sự thiếu quân bình, hay thiếu đa chiều của giới truyền thông trong việc tường thuật lại diễn tiến và bình luận về biến cố Tết Mậu Thân.

Ông nói: “Các sử gia tương lai sẽ ghi nhận rằng năm 1968 là năm bản lề trong chiến tranh Việt Nam. Và trong năm đó, trận chiến tại Huế sẽ nổi bật lên như là chiến trường đóng góp vào cái nhìn sai lạc mà lại được truyền bá cùng khắp thế giới, nhờ vào các hãng truyền thông Hoa Kỳ.”

Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Bích cho rằng phán đoán vội vàng của phóng viên Hoa Kỳ, Walter Cronkite, khi thăm Huế trong giai đoạn đầu của biến cố Mậu Thân, lúc quân đội Bắc Việt vẫn còn đang cố gắng cầm cự, đã gây ra những quyết định tai hại về cuộc chiến Việt Nam.

“Walter Cronkite, phóng viên Hoa Kỳ, khi thăm Huế trong giai đoạn này (giai đoạn đầu) đã gọi cuộc chiến là ‘không thể thắng được’. Tổng Thống Lyndon B. Johnson của Hoa Kỳ lúc bấy giờ than: ‘Nếu tôi mất [sự ủng hộ của] Cronkite rồi thì cũng coi như tôi đã mất sự ủng hộ của người dân bình thường tại Hoa Kỳ.’”

Tiến SNguyễn Ngọc Bích dẫn chứng một quyết định của Tổng Thống Johnson dựa vào phán đoán của Walter Cronkite: “Ðến Tháng Ba, 1968, Johnson quyết định không tái tranh cử tổng thống cho nhiệm kỳ hai; thay vào đó, ông ra lệnh ngưng oanh tạc Bắc Việt, một điều đưa đến việc sửa soạn cho ‘Hòa đàm’ Paris.”

Theo Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Bích, cuộc thảm sát Tết Mậu Thân năm 1968 không những đã bị giới truyền thông đưa tin sai lạc, mà tầm quan trọng của trận chiến này cũng không được sách sử tiêu chuẩn về chiến tranh Việt Nam thời đó lướt sơ qua.

Ông nói: “Duyệt qua các sách giáo khoa về cuộc chiến, người ta sẽ giật mình thấy một lỗ hổng lớn lao giữa tầm quan trọng của trận chiến quyết định này và sự xem thường cuộc chiến tại Huế trong các sách giáo khoa.”

Ông đơn cử một vài thí dụ:

“Huế 1968 không hề được nhắc đến trong tác phẩm của Tướng Bruce Palmer, Jr., The 25 Year War: America's Military Role in Vietnam (1984).”

“Huế 1968 chỉ chiếm 1 dòng trong sách của Tướng Phillip B. Davidson, Vietnam at War (trang 475).”

“Huế 1968 được nửa đoạn trong sách của Robert D. Schulzinger, A Time for War: The United States and Vietnam, 1941-1975 (trang 259).”

“Trong sách của Michael McClear, Vietnam, A Complete Photographic History, một đại tác phẩm dày 736 trang với trên 2,000 hình ảnh và bản đồ với những phụ đề chữ nhỏ li ti, đã không hề có một đề mục nào cho trận Mậu Thân tại Huế, trừ một chương với tiêu đề “Tìm hiểu về Tết” có nhắc đến trận này (để chỉ trích các thông tin sai lạc của đồng minh) trong ba đoạn rưỡi.”

Ông Nguyễn Ngọc Bích kết luận: “Trên phương diện đạo đức, cuộc thảm sát tại Huế năm 1968 sẽ đi vào lịch sử như một hành động cực kỳ tàn ác, vô nhân, và vô nghĩa lý của Cộng Sản Việt Nam, nhắm vào người dân lành, mà chính Lê Minh, người chỉ huy quân Bắc Việt, cũng đã tự nhận có một phần trách nhiệm trong đó. Do vậy nên tất cả các chối bỏ tội ác bởi những đầu óc lệch lạc như Gareth Porter nhằm biện minh cho Cộng Sản là hoàn toàn không đứng vững.”

Ông nói thêm: “Keith Nolan cũng không có lý trong tác phẩm Battle for Hue khi chối bỏ vai trò của Quân Lực VNCH trong trận chiến đặc biệt này, và hạ vai trò của họ xuống như là chỉ đi ‘theo thu dọn chiến trường cho Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ.’”

Tóm tắt phần hội thảo, Tiến Sĩ James Robbins, một cây viết kỳ cựu cho tờ Washington Times, trước đây đã phục vụ 10 năm trong Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho biết nhiều sự thật về cuộc tấn công vào miền Nam Việt Nam năm 1968, cũng như chiến tranh Việt Nam, sẽ được phơi bày trong cuốn sách có tên “This Time We Win: Rethinking the Tet Offensive,” sẽ được nhà xuất bản “Encounter Books” phát hành vào năm 2010.


Monday, April 19, 2010

Ngày Quốc Hận

35 năm giải phóng miền Nam – 35 năm mất đất hương hỏa

Cù Huy Hà Vũ

Nhân kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam 30/4 nếu có ai hỏi bạn: “Giải phóng” là Được hay Mất hẳn bạn sẽ nghĩ ngay người đặt câu hỏi có vấn đề tâm thần, bởi Giải phóng chỉ có thể mang lại quyền lợi vật chất và tinh thần mà lẽ ra người dân được hưởng hoặc phục hồi cho họ tất thảy những gì mà chế độ cũ bất công tước đoạt. Nghĩa là với “Giải phóng” người dân chỉ có Được mà không Mất quyền lợi.

Vậy mà sắp tới cái ngày được lợi quyền ấy, Phái III Họ Trần tại thôn Nhì Tam Đông, xã Thủy An (nay là phường An Đông), thành phố Huế, lại có bộ mặt đưa đám, bởi 35 năm “được giải phóng” cũng là 35 năm họ “mất” đất hương hỏa mà thủ phạm, hỡi ôi, lại chính là thế lực mệnh danh “giải phóng”!

Phái III Họ Trần đã tạo lập được 02 thửa đất dùng vào việc thờ cúng của Họ và ngày 15/10/1936 được Đại Nam Trung Kỳ chính phủ công nhận quyền sở hữu bằng việc cấp trích lục địa bộ (số hiệu C252 và C253 – kèm theo). Đầu năS2m 1946, đáp ứng lời kêu gọi “Toàn dân tiêu thổ kháng chiến” của Hồ Chủ tịch, Phái III Họ Trần đã tháo dỡ Nhà thờ Họ trên khu đất đó. Các chính quyền kế tiếp của chế độ cũ luôn tôn trọng quyền sở hữu của Phái III Họ Trần đối với khu đất này nhưng do đất nước còn đạn bom, việc xây lại Nhà thờ Họ đã không được đặt ra.

Sau “Ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam”, khi Phái III Họ Trần tiến hành xây lại Nhà thờ Họ tại khu đất hương hỏa thì bị “chính quyền cách mạng” xã Thủy An buộc tháo dỡ, hơn thế nữa chiếm đoạt luôn khu đất này mà không hề đưa ra bất cứ văn bản pháp luật nào cho phép chính quyền này làm như vậy – một hành vi “ăn cướp” theo đúng nghĩa đen của từ này! Và thế là bắt đầu “Cuộc trường chinh đòi đất hương hỏa” của Phái III Họ Trần kéo dài suốt 35 năm qua và cuộc đấu tranh rộ lên gay gắt đặc biệt vào các năm 2002, 2004 và 2007 khi UBND thành phố Huế đưa người, máy ủi đến khu đất này để làm mặt bằng và đóng cọc bê tông, cọc tre hòng phân thành từng lô 200 m2 để chia cho các quan chức trong tỉnh.

Ngày 28/11/2003, Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên – Huế đã ủy quyền Chánh Thanh tra tỉnh ra Quyết định số 352/QĐ – TTr giải quyết Đơn khiếu nại của đại diện Phái III Họ Trần. Quyết định này kết luận: “từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay, phần đất mà đại diện Phái III Họ Trần đang khiếu nại đòi lại đã được các tổ chức kinh tế tập thể quản lý trong quá trình thực hiện chính sách hợp tác hóa nông nghiệp và sau đó đã được UBND xã Thủy An quản lý cho đến nay” để rồi căn cứ Khoản 2 Điều 2 Luật đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai (Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) quyết định “không thừa nhận nội dung đơn khiếu nại đòi lại đất của đại diện Phái III Họ Trần”.

Không chấp nhận giải quyết khiếu nại đầy bất công của chính quyền, đại diện của hơn 350 con cháu Phái III Họ Trần đã khăn gói ra Hà Nội để mời Văn phòng Luật sư Cù Huy Hà Vũ có trụ sở tại 24 Điện Biên Phủ – Hà Nội “vào cuộc”.

Tại buổi đối thoại sáng ngày 4/3/2010 do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế Nguyễn Thị Thúy Hòa thừa ủy quyền Chủ tịch tỉnh Nguyễn Ngọc Thiện tổ chức, đại diện Phái III Họ Trần và Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà, Trưởng VPLS Cù Huy Hà Vũ đã khẳng định việc UBND xã Thủy An (nay là phường An Đông) công nhiên chiếm đoạt khu đất hương hỏa của Phái III Họ Trần là hoàn toàn trái pháp luật về đất đai với những căn cứ sau:

Thứ nhất, các tổ chức kinh tế tập thể (hợp tác xã) chỉ có quyền quản lý đất đai trong trường hợp được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật. Thế nhưng, UBND xã Thủy An đã không đưa ra được bất kỳ văn bản nào của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc giao khu đất hương hỏa thuộc sở hữu của Phái III Họ Trần cho các tổ chức kinh tế tập thể quản lý, đồng nghĩa quyền sử dụng khu đất này vẫn luôn thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Phái III Họ Trần.

Thứ hai, đối chiếu với Quyết định số 188/CP ngày 25/9/1976 của Hội đồng Chính phủ về chính sách xóa bỏ triệt để tàn tích chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột ở miền Nam Việt Nam, khu đất hương hỏa thuộc sở hữu của Phái III Họ Trần không thuộc diện bị Nhà nước “quốc hữu hóa” hay “tịch thu”, tức không thuộc diện Nhà nước quản lý.

Quyết định số 188/CP quy định:

- “Quốc hữu hóa” các đồn điền và ruộng đất của tư sản người nước ngoài;

- “Tịch thu” ruộng đất của tư sản mại bản, của địa chủ phản quốc, của bọn cầm đầu ngụy quân, ngụy quyền, cầm đầu các tổ chức phản động, của bọn gián điệp tay sai đế quốc, ruộng đất do bọn sĩ quan và nhân viên ngụy quyền dựa vào quyền thế để chiếm đoạt hoặc cưỡng mua của nông dân, ruộng đất của địa chủ đã hiến cho cách mạng hoặc bị cách mạng tịch thu, song về sau bọn chúng đã dựa vào thế lực ngụy quyền cũ để chiếm đoạt lại, ruộng đất “công quản” của ngụy quyền trước đây từ ấp, xã trở lên, ruộng đất của địa chủ, phú nông, tư sản bán cho Mỹ, ngụy nhưng thực tế họ vẫn đang giữ để sử dụng.

Thế nhưng Quyết định số 352/QĐ – TTr ngày 28/11/2003 này đã không bác bỏ được hai căn cứ pháp luật mà Phái III Họ Trần đã nêu trên để đòi lại khu đất hương hỏa do UBND xã Thủy An chiếm giữ trái pháp luật về đất đai, đã không dẫn ra được bất kỳ quy định pháp luật nào cho phép Nhà nước quản lý hoặc giao cho các tổ chức kinh tế tập thể quản lý khu đất hương hỏa thuộc sở hữu của Phái III Họ Trần cũng như đã không dẫn ra được bất kỳ văn bản nào của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc giao cho các tổ chức kinh tế tập thể quản lý khu đất của Phái III Họ Trần, đồng nghĩa quyền sử dụng khu đất này vẫn luôn thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Phái III Họ Trần.

Như vậy, căn cứ Điểm đ Khoản 1 Điều 45 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (Người giải quyết khiếu nại các lần tiếp theo phải ra quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn bản. Quyết định giải quyết khiếu nại phải có căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại) thì Quyết định số 352/QĐ – TTr ngày 28/11/2003 của Chánh Thanh tra tỉnh Thừa Thiên – Huế (thừa ủy quyền Chủ tịch tỉnh ban hành) là trái Luật Khiếu nại, tố cáo.

Với lý do trên, đại diện Phái III Họ Trần và Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà yêu cầu Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên – Huế:

1. Căn cứ Khoản 2 Điều 45 Luật Khiếu nại, tố cáo (Trong trường hợp khiếu nại là đúng thì yêu cầu người có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại hủy bỏ toàn bộ quyết định hành chinh), Ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 2938/VPCP – VII ngày 31/5/2002 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ (nếu các quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng không sát, không đúng pháp luật thì phải sửa) (kèm theo) để hủy bỏ Quyết định số 352/QĐ – TTr ngày 28/11/2003 của Chánh Thanh tra tỉnh Thừa Thiên – Huế (thừa ủy quyền Chủ tịch tỉnh ban hành) trái Luật Khiếu nại, tố cáo (Điểm đ Khoản 1 Điều 45);

2. Căn cứ Điểm e Khoản 1 Điều 50 Luật đất đai 2003 (Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân có giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất) để chỉ đạo Ủy ban nhân dân thành phố Huế cấp cho Phái III Họ Trần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với khu đất hương hỏa (dùng vào việc thờ cúng) thuộc sở hữu của Phái III Họ Trần (số hiệu C252 và C253 – Trích lục địa bộ do Đại Nam Trung Kỳ chính phủ cấp ngày 15/10/1936) tại phường An Đông (nguyên là xã Thủy An), thành phố Huế.

Đối thoại để giải quyết khiếu nại thì không thể không bàn về nội dung khiếu nại, đó là điều mà ngay cả người ít học nhất cũng hiểu. Thế nhưng đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế Nguyễn Ngọc Thiện, Phó Chủ tịch tỉnh Nguyễn Thị Thúy Hòa lại nói bừa rằng không bàn về nội dung khiếu nại của Phái III Họ Trần mà chỉ bàn về hình thức giải quyết khiếu nại, cho rằng Quyết định số 352/QĐ-TTr là Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng nên Chủ tịch tỉnh Thừa thiên – Huế không giải quyết nữa, bất chấp ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 2938/VPCP – VII ngày 31/5/2002 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ theo đó “nếu các quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng không sát, không đúng pháp luật thì phải sửa”.

Không những thế, khi đại diện Phái III Họ Trần và Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà đã yêu cầu lập Biên bản buổi đối thoại thì Phó chủ tịch Nguyễn Thị Thúy Hòa khăng khăng từ chối. Như vậy Phó Chủ tịch Hòa đã vi phạm Trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan hành chính Nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại quy định tại Khoản 4 Điều 9 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại tố cáo (Việc gặp gỡ, đối thoại phải được lập thành biên bản).

Tóm lại, việc Phó chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế Nguyễn Thị Thúy Hòa, đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Ngọc Thiện cố ý làm trái pháp luật về khiếu nại, tố cáo chỉ có thể nhằm bao che hành vi của UBND xã Thủy An (nay là phường An Đông) công nhiên chiếm đoạt đất hương hỏa của Phái III Họ Trần để chia chác cho các quan chức trong tỉnh, một hành vi phạm tội theo Điều 137 Bộ Luật hình sự (Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản).

Với lý do trên, tại Công văn số 20/2010/CV-VPLS ngày 05 tháng 03 năm 2010, VPLS Cù Huy Hà Vũ đã đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế Nguyễn Ngọc Thiện 3 điểm:

Một là, căn cứ Khoản 2 Điều 45 Luật Khiếu nại, tố cáo (Trong trường hợp khiếu nại là đúng thì yêu cầu người có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại hủy bỏ toàn bộ quyết định hành chinh) để hủy bỏ Quyết định số 352/QĐ – TTr ngày 28/11/2003 của Chánh Thanh tra tỉnh Thừa Thiên – Huế do trái Luật Khiếu nại, tố cáo (Điểm đ Khoản 1 Điều 45);

Hai là, căn cứ Điểm e Khoản 1 Điều 50 Luật đất đai 2003 (Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân có giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất) để chỉ đạo Ủy ban nhân dân thành phố Huế cấp cho Phái III Họ Trần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất hương hỏa (dùng vào việc thờ cúng) thuộc sở hữu của Phái III Họ Trần tại phường An Đông (số hiệu C252 và C253 theo trích lục địa bộ do Đại Nam Trung Kỳ chính phủ cấp ngày 15/10/1936).

Ba là, căn cứ Khoản 9 Điều 96 Luật Khiếu nại, tố cáo đã được sửa đổi bổ sung năm 2004 và năm 2005 (vi phạm các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo) để xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự Phó Chủ tịch tỉnh Nguyễn Thị Thúy Hòa.

Việc các bên đối thoại có quan điểm khác biệt là chuyện bình thường. Thế nhưng tại Công văn số 941/UBND-KNTC ngày 15/3/2010 phúc đáp các Công văn của Văn phòng Luật sư Cù Huy Hà Vũ Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Ngọc Thiện khẳng định: “Bà Nguyễn Thị Dương Hà là một Luật sư, vừa là Trưởng Văn phòng Luật sư Cù Huy Hà Vũ, là người am hiểu, tư vấn và thực thi về pháp luật nhưng đã cố tình vu khống Lãnh đạo UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế bao che hành vi chiếm đoạt đất của Phái III Họ Trần để chia chác cho các quan chức trong tỉnh. UBND tỉnh đề nghị Văn phòng Luật sư Cù Huy Hà Vũ… không nên cố ý hiểu và vận dụng sai pháp luật, không được kích động người khiếu nại sai sự thật hoặc lợi dụng quyền khiếu nại để xuyên tạc, vu khống cơ quan, tổ chức, cá nhân… làm phương hại đến nguyên tắc đạo đức, nghề nghiệp của Luật sư” nhưng lại không đưa ra được bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà và Văn phòng Luật sư Cù Huy Hà Vũ đã có những hành vi như vậy. Và hẳn nhằm mục đích “răn đe”, Chủ tịch Thiện gửi công văn này khắp chốn, từ Thanh tra Chính phủ cho đến Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội.

Trước hành vi “vừa ăn cướp, vừa la làng” này của Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế Nguyễn Ngọc Thiện, ngày 10/4/2010, VPLS Cù Huy Hà Vũ đã có Công văn số 26/2010/CV-VPLS gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, một mặt khẳng định: “Đã 35 năm người dân Huế được giải phóng thì cũng 35 năm Phái III Họ Trần bị chính quyền địa phương công nhiên chiếm đoạt khu đất hương hỏa” và trên cơ sở đó đề nghị Thủ tướng yêu cầu chính quyền địa phương khẩn trương cấp cho Phái III Họ Trần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với khu đất hương hỏa, mặt khác, đề nghị Thủ tướng Yêu cầu Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao khởi tố Chủ tịch Thiện về hành vi vu khống Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà, Trưởng Văn phòng Luật sư Cù Huy Hà Vũ theo Điều 122 Bộ Luật Hình sự (Tội vu khống) song song với việc yêu cầu Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao khởi tố vụ án “UBND phường An Đông (xã Thủy An trước đây) và đồng phạm công nhiên chiếm đoạt đất hương hỏa của Phái III Họ Trần tại phường An Đông (xã Thủy An trước đây) theo Điều 137 Bộ Luật hình sự (Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản)” cũng như kỷ luật Phó chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế Nguyễn Thị Thúy Hòa về hành vi cố ý làm trái Ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 2938/VPCP – VII ngày 31/5/2002 và về hành vi cố ý làm trái pháp luật về Khiếu nại tố cáo.

Vậy là trong cuộc chiến chống cường quyền nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, VPLS Cù Huy Hà Vũ và cá nhân Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà đã trở thành Văn phòng Luật sư và Luật sư đầu tiên ở Việt Nam không ngần ngại đưa người đứng đầu chính quyền cấp tỉnh vào vòng tố tụng hình sự.

Vấn đề còn lại là liệu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng quá nổi tiếng với phát ngôn: “Làm Thủ tướng tôi chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào” có dám vượt qua chính mình để những Âm hồn và Liệt sĩ của Phái III Họ Trần bị Chính quyền Thừa Thiên – Huế xua đuổi suốt hơn 1/3 thế kỷ rốt cuộc có nơi thờ tự, để chốn Cố Đô ngày 30 tháng 4 thôi ảm đạm lời ru “Con ơi nhớ lấy câu này/ Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan”?!

Nguồn: Bauxite

Wednesday, April 14, 2010

Bám biển Hoàng Sa

Câu chuyện về "Bám biển Hoàng Sa" của những người trong nước đọc thật cảm động. Bỏ qua những định kiến về ngôn ngữ mà Cộng Sản quen dùng, ta cảm nhận được tấm lòng của những người con dân đất nước vẫn có tấm lòng yêu nước nồng nàn. Đây là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, rất tiếc là Cộng Sản Việt Nam đã sử dụng vào ý đồ đen tối của một đảng chỉ biết phản bội lại đất nước và nhân dân. Bài được trích đăng từ trang web Vietnamnet ở trong nước.

Hoàng Sa, nơi cuộc sống không có chỗ cho sự yếu hèn

Cập nhật lúc 07:39, Thứ Tư, 14/04/2010 (GMT+7)
,

- Trong những ngày lênh đênh trên các tàu cá, tận mắt nhìn những ngư dân can trường bám biển, đối mặt với bao hiểm nguy suốt mấy chục năm nay nơi vùng biển Hoàng Sa. Đối với tôi, họ là những “chiến binh” dũng cảm cưỡi sóng đạp gió, không hề run sợ và khuất phục dưới bất kỳ thế lực hung bạo nào…

>>
Kỳ 1: 10 ngày nghẹt thở trên vùng biển Hoàng Sa
>> Kỳ 2: Nín thở đi qua vùng biển "tử thần"
>> Kỳ 3: Hiểm nguy giữa biển Hoàng Sa
>> Kỳ 4: Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông
>> Kỳ 5:Đêm dưới lòng biển Hoàng Sa

“Chiến binh” của biển

Hạnh phúc của tôi trong những ngày sống ở biển Hoàng Sa là được nhìn thấy lá cờ Tổ quốc tung bay trong gió trên nóc ca bin của những chiếc tàu đánh cá đang ngày đêm bám vùng biển Hoàng Sa để mưu sinh.

Mỗi lần nhìn lá cờ Tổ quốc phần phật bay, tim tôi như nghẹn lại cùng với lòng tự hào. Tổ quốc vẫn hiển hiện trên bầu trời biển đảo giữa trùng khơi.

Những "chiến binh" trẻ giữa biển Hoàng Sa.

Trước biển bao la, những ngư dân mặt sạm đen vì nắng gió biển khơi luôn rạng rỡ nụ cười lạc quan. Nhiều ngư dân trẻ tôi từng gặp, giữa trùng khơi họ đều khẳng định với tôi rằng: Họ chỉ có hai bàn tay trắng nhưng đất trời Hoàng Sa mãi mãi trong trái tim và luôn gợi nhắc quá khứ hào hùng của cha ông suốt mấy trăm năm cưỡi sóng đạp gió chinh phục vùng biển đảo này.

Trung Quốc ỷ thế tàu to, trang bị súng ống, còn bà con ngư dân tàu nhỏ lại tay trắng, giữa biển mênh mông nên họ ăn hiếp. Thực lòng mà nói, nếu được cho phép, bà con ngư dân tụi tui sẵn sàng đối mặt để bảo vệ chủ quyền…” - thuyền viên Trương Văn Công khẳng định.

Những "chiến binh" trẻ đang ngày đêm bám biển Hoàng Sa, đối mặt với bao hiểm nguy nhưng gương mặt luôn rạng rỡ nụ cười.

Không riêng gì ông Công, mà tất cả những thuyền viên tôi gặp giữa biển Hoàng Sa đều bảo rằng họ không hề biết run sợ cho dù có bị bắt, bị đánh đập.

Nhiều lần bị bắt, đánh đập, rồi cướp toàn bộ máy móc, kể cả cá đánh được, tức lắm, nhưng chỉ có hai bàn tay trắng không biết làm chi hơn, đành phải chấp nhận. Cái mà anh em tụi tui lo sợ nhất là bị cướp tàu, hoặc bị tàu lớn bất ngờ đâm chìm tàu giữa biển như trường hợp tàu Qng-96516-TS của anh Dương Thanh Phú ở Lý Sơn hôm 9/3. Còn những hiểm nguy khác không nghĩa lý gì…” - thuyền trưởng Nguyễn Thanh Tuấn tâm sự.

Mỗi một chiếc tàu cưỡi sóng đạp gió ra Hoàng Sa mang theo những đứa con đất Việt dũng cảm, can trường. Tôi vẫn còn nhớ như in lời tâm tình của thuyền viên Nguyễn Thanh Tích trên tàu Qng-95821: “Cuộc sống ở Hoàng Sa là nơi không dành cho những người run sợ, yếu hèn. Nếu sợ chết thì chỉ ra một lần rồi mãi mãi không quay trở lại...

Tôi hỏi Tích: Trong số những thuyền viên mà Tích quen biết, có ai không trở lại Hoàng Sa?". Tích lắc đầu: “Nói là vậy, nhưng tất cả những người ra Hoàng Sa mưu sinh, chẳng ai bỏ biển bao giờ cho dù họ có bị Trung Quốc bắt giữ, đánh đập. Thậm chí nhiều chủ tàu bị giữ tàu, trắng tay trở về nhưng một thời gian sau họ cũng tìm cách quay trở lại biển Hoàng Sa…”

Những đêm trắng cùng thức với ngư dân giữa Hoàng Sa, tôi được nghe những câu chuyện kinh hoàng nơi biển cả, từ chuyện giông tố nổi lên bất ngờ, đến chuyện tàu Trung Quốc rượt đuổi bắt giữ.

Hơn 40 thuyền viên tôi gặp giữa biển Hoàng Sa, người ít nhất cũng 2 lần thoát chết và 1 lần bị Trung Quốc bắt giữ. Nhiều chủ tàu trắng tay lên bờ, họ lại tiếp tục vay mượn để đóng tàu mới ra khơi.

"Chiến binh" can trường giữa biển Hoàng Sa.

Ngay như thuyền trưởng kiêm chủ tàu Dương Lúa, Lê Văn Lộc ở An Hải, huyện đảo Lý Sơn, bị Trung Quốc bắt giữ thu tàu hồi cuối tháng 9/2009. Không còn phương tiện, cả hai chủ tàu đều lên tàu bạn tiếp tục bám biển Hoàng Sa mưu sinh.

“Nếu được nhà nước hỗ trợ, tụi tui sẽ vay vốn đóng mới tàu tiếp tục ra bám biển Hoàng Sa...” - Lão ngư Dương Lúa khẳng định

Ngồi trò chuyện cùng ngư dân, tôi gọi họ là những “chiến binh” của biển. Thuyền trưởng Nguyễn Thanh Tuấn, Tiêu Viết Hồng đều bảo: Tụi tui là những “chiến binh” của biển nhưng là những “chiến binh” tay trắng. Mấy chục năm nay dẫu đối mặt với bao hiểm nguy, chúng tôi không bao giờ biết run sợ. Cho dù những kẻ cậy tàu to, súng lớn, nhưng khó lòng mà khuất phục được ý chí kiên cường của những người con đất Việt.

Hào khí Hoàng Sa

Lấy mốc từ ngày Phạm Quang Ảnh, người con của đất đảo Lý Sơn dưới thời triều Nguyễn đã “vâng mệnh vua ban” đóng thuyền buồm ra Hoàng Sa để đo đạc, đóng cột mốc trên đảo đã hơn 400 năm.

Kể từ ngày đó, những con dân đất Việt cứ thế hết đời này đến đời khác tiếp nối bước chân ra chinh phục vùng biển đảo Hoàng Sa bất chấp những hiểm nguy rập rình.

Tượng đài Hoàng Sa, niềm kiêu hãnh của con dân đất đảo Lý Sơn đã tạo nên hào khí Hoàng Sa cho con cháu mai sau.

Ông Võ Hiển Đạt, một người con được sinh ra trên đất đảo Lý Sơn, không nối gót cha anh xuống tàu ra Hoàng Sa mà ở nhà chăm chỉ học hành để làm phận sự truyền cái chữ cho con dân xứ đảo và chú tâm nghiên cứu lịch sử của vùng đất.

Ông khẳng định rằng, từ thuở Phạm Quang Ảnh “vâng mệnh vua ban” thống lĩnh đội Hoàng Sa giong thuyền buồm ra đo đạc, cắm cột mốc chủ quyền nơi đảo Hoàng Sa, những bước chân nối tiếp rầm rập xuống thuyền vượt biển tạo nên hào khí Hoàng Sa nơi vùng đất đảo này.

Ông Đạt nói rằng: "Cái hào khí Hoàng Sa được hun đúc từ nhiều thế hệ cha ông truyền trong dòng máu của mỗi con dân xứ biển lòng quả cảm, ý chí kiên cường không hề biết sợ run trước thế lực hung bạo nào…

Trước khi ra biển Hoàng Sa, tôi đã có những ngày sống ở đảo Lý Sơn, tận mắt chứng kiến cảnh ngư dân nơi huyện đảo sắm lễ vật lũ lượt đến Âm Linh Tự làm lễ cầu nguyện trước mỗi chuyến ra Hoàng Sa.

Bất kể sớm, trưa, chiều tối, trong khói hương nghi ngút cùng tiếng chuông ngân lên nơi Âm Linh Tự như nhắc nhở cháu con nơi vùng đất đảo này ghi nhớ công khai phá của tiền nhân.

Trong cái không khí trầm hùng của nghi lễ những ngày đầu năm nơi làng biển của huyện đảo này, tôi như nghe vang vọng những bước chân rầm rập xuống thuyền và tiếng mái chèo khua nước của đội hùng binh mấy trăm năm trước.

Còn bây giờ, nơi cảng cá Lý Sơn hay cảng biển Sa Kỳ, hàng trăm tàu thuyền chen chúc vào ra. Ngư dân trên những chiếc tàu đầy tôm cá từ Hoàng Sa trở về, hay những chiếc tàu rẽ sóng ngược ra Hoàng Sa với bao kỳ vọng cho cuộc sống no cơm ấm áo.

Nhiều lão ngư tôi gặp giữa biển Hoàng Sa bảo rằng: Có ra Hoàng Sa mới thấy cái hào khí của con dân đất Việt bao đời bám biển. Bất chấp mọi hiểm nguy, những đứa con biển vẫn can trường không hề biết sợ...

Bất chấp mọi hiểm nguy, những con tàu ngày đêm rẽ sóng ngược ra Hoàng Sa.

Tôi vẫn còn nhớ như in lời của lão kình ngư Nguyễn Thanh Tuấn trong cái đêm trắng nơi đảo Bom Bay: “Không có sức mạnh nào có thể khuất phục được những đứa con đất Việt đang ngày đêm bám biển Hoàng Sa. Bây giờ và mãi mãi về sau, chúng tôi và cháu con đã, và đang tiếp tục tiếp nối bước chân của tiền nhân ra vùng biển đảo Hoàng Sa để khẳng định chủ quyền…

Giữa những ngày biển lặng, đi qua vùng biển Lý Sơn, hay dọc các vùng ven biển Quảng Nam, Quảng Ngãi, thanh niên trai tráng của các làng chài lần lượt kéo nhau xuống tàu ra Hoàng Sa.

Họ ra đi trong tâm thế của người con nước Việt ra vùng biển đảo chủ quyền của Tổ quốc để mưu sinh. Tôi đã gặp hàng đoàn trai tráng xuống tàu ra Hoàng Sa bám biển với những chuyến đánh bắt dài ngày và những chuyến tàu rời Hoàng Sa trở về khi tàu đã đầy tôm cá.

Hoàng Sa trong tâm trí của những chàng trai ra đi với lời hò hẹn của bao thiếu nữ trên bờ mong ngày trở về như những sợi dây vô hình nối chặt đất liền với biển đảo Hoàng Sa như là máu thịt.

Vũ Trung

Tuesday, April 13, 2010

Mỹ nói nhân quyền ảnh hưởng thương mại

Trích BBC News

Thứ trưởng Robert Hormats

Thứ trưởng Robert Hormats đã nói chuyện với sinh viên đại học Ngoại thương

Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Robert Hormats cảnh báo thực trạng nhân quyền có thể ảnh hưởng quan hệ kinh tế Việt-Mỹ.

Ông Hormats đã có cuộc gặp gỡ báo chí sau buổi tiếp xúc với sinh viên trường đại học Ngoại thương tại Hà Nội hôm thứ Hai 12/04.

Ông là quan chức phụ trách các lĩnh vực kinh tế, năng lượng và nông nghiệp thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Thứ trưởng Hormats được thông tấn nước ngoài trích lời nói với các nhà báo: "Chúng tôi có quan ngại về các vấn đề nhân quyền ở Việt Nam".

"Một số nhân vật tại Hạ viện Hoa Kỳ, và không chỉ tại đó, lo ngại về các vấn đề nhân quyền, lao động (ở Việt Nam); và nếu như các vấn đề này không được giải quyết thì tôi nghĩ chúng sẽ gây ảnh hưởng tới quan hệ thương mại giữa hai nước."

"Một số nhân vật ở Mỹ cho rằng đây là chủ đề quan trọng và do vậy nó có thể ảnh hưởng tới quan hệ kinh tế với Việt Nam về lâu về dài, thế nhưng tôi không dám nói trước là như thế nào."

Tuy nhiên, ông thứ trưởng nhấn mạnh rằng ông không muốn gây căng thẳng quanh chủ đề nhân quyền.

Ông nói: "Phê bình không có nghĩa là chúng tôi muốn cãi cọ, và phê bình nhằm mục đích xây dựng hơn là gây căng thẳng."

Hoa Kỳ năm ngoái đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất vào Việt Nam, và cũng là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các doanh nghiệp trong nước.

Báo Việt Nam khi viết về chuyến thăm của ông Robert Hormats chỉ nói "Mỹ muốn thúc đẩy quan hệ với Việt Nam" để hai bên có thể trở thành "đối tác thiết thực".

Báo trong nước cũng nói ông Hormats "bày tỏ tin tưởng rằng Việt Nam sẽ ngày càng nâng cao vị thế tại khu vực và trên trường quốc tế".

Sunday, April 11, 2010

Vận động đổi tên Biển Nam Trung Hoa

Trích NguoiViet Boston


Pham Cao Dương

Ông Phạm Cao Dương lấy bằng tiến sĩ sử học ở Đại học Paris, và dạy ở nhiều đại học tại Sài Gòn trước 1975. Sau khi sang Mỹ, ông dạy về lịch sử, ngôn ngữ Việt Nam ở một số trường tại Nam California trước khi về hưu.

Tranh chấp Biển Đông đang được chú ý

Bài này được viết sau khi vụ Hội Địa Lý Quốc Gia (National Geographic Society) của người Mỹ ghi chú không đúng về quần đảo Hoàng Sa đã tạm thời được giải quyết với sự đồng ý sửa lại của tổ chức này.
Đây là một thành công quan trọng mà người Việt Nam nói chung đã đạt nhờ sự lên tiếng và tranh đấu của các giáo sư, học giả, các cơ quan hay tổ chức nghiên cứu chuyên môn và của những người Việt yêu nước bình thường cả trong lẫn ngoài nước. Có điều đây mới chỉ là bước mở đầu vì National Geogaphic Society không phải là cơ quan hay nhà xuất bản duy nhất sản xuất và phát hành bản đồ ở Hoa Kỳ và trên thế giới. Còn rất nhiều cơ quan và nhà xuất bản khác cũng làm những công việc tương tự. Việc làm sáng tỏ và tranh đấu để có sự điều chỉnh cho đúng sự thực do đó cần phải được tiếp nối.
Trong bài này người viết xin được đưa ra hai gợi ý cần phải làm vào lúc này. Thứ nhất là người Việt ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước lớn như Pháp, Anh, Úc, Nhật, Đức, Canada và các nước Bắc Âu… cần phải duyệt lại tất cả những tài liệu đã được phổ biến liên hệ tới không riêng Quần Đảo Hoàng Sa mà luôn cả Quần Đảo Trường Sa và nếu cần, phải vận động để điều chỉnh. Thứ hai là phải xét lại danh xưng South China Sea (Biển Nam Trung Hoa) hay Mer de Chine (Biển Trung Hoa) và đổi thành Southeat Asia Sea hay Mer de l’Asie du Sud-Est (Biển Đông Nam Á). Cả hai gợi ý này đều có những lý do riêng và đều có thể thực hiện được nếu mọi người Việt Nam nhất là nhà cầm quyền ở trong nước đều muốn làm vì chúng ta đang ở vào những vị thế và thời điểm vô cùng thuận lợi, có thể làm được.

Duyệt xét lại bản đồ

Lý do của việc làm này là bản đồ có thể được phổ biến dưới nhiều hình thức khác nhau: trên mạng, in rời từng bản để treo tường hay in trong sách hay thành tập gọi là atlas dưới nhiều khổ lớn nhỏ, dầy mỏng khác nhau, có tỷ lệ khác nhau, từ đó chi tiết được trình bày hay ghi chú khác nhau, đồng thời cũng có thể là những cầu đồ (globes). Gợi ý để mọi người cùng làm ở đây là người Việt ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước lớn như Mỷ, Pháp, Anh, Úc, Nhật, Đức và các nước Bắc Âu… cần phải duyệt lại tất cả những tài liệu đã được phổ biến này và nếu cần, có thể vận động để điều chỉnh. Hoa Kỳ là một trường hợp điển hình. Chúng ta thử bắt đầu một chút bằng quốc gia có nhiều liên hệ với Việt Nam này. Điều nên nhớ là công việc duyệt xét này, với một kiến thức không cần thật cao về các ngôn ngữ liên hệ, ai cũng có thể làm được, nhất là các thanh thiếu niên thuộc thế hệ trẻ ở các học đường, chưa nói tới các người làm ở các thư viện.

Ở Hoa Kỳ, ngoài National Geographic, còn có những nhà xuất bản khác không kém quen thuộc đối với học giới nói chung, các nhà địa lý học hay các thầy dạy sử địa nói riêng, như Hammond, Rand McNally, DK, Oxford University Press, Merriam-Webster, Random House, Snithsonian, Harper Collins… Các tài liệu này vì được ấn hành bằng tiếng Anh nên cùng lúc được xuất bản và phổ biến ở các nước nói tiếng Anh như Canada, Úc, Anh… Các bản đồ của các nhà xuất bản này phần lớn dùng các tên Paracel hay Spratly, những tên quốc tế, rồi đã hoặc là để trống (Oxford Atlas of the World, 2005; Oxford New Concise World Atlas, 2009; Random House Compact World Atlas, 2006; Smithsonian Handy World Atlas, 2004) hoặc đề sovereignty disputed hay disputed – chủ quyển tranh chấp hay tranh chấp (Hammond World Atlas,2009; Hammond Concise World Atlas, (?); DK World Atlas, Digital Mapping for the 21th Century, 2007, DK Concise Atlas of the World, 2007) hoặc đề là claimed by (đòi chủ quyền bởi) rồi kể tên các quốc gia (Rand Mcnally, Answer Atlas , the Geography Resource for Students, 2006). Riêng cuốn Merriam-Webster, Geographic Dictionary, 2007, vì là từ điển nên ngoài tên quốc tế lại ghi thêm các tên Xi-shaQndao (Trung Hoa), Quần Đảo Hoàng Sa (Việt Nam) và Hi-ra-ta gun-tô (Nhật Bản) trước khi ghi các chi tiết khác.
National Geographic có lẽ là một trường hợp cá biệt. Các bản đồ in của hội này cũng đã ghi chú y như họ đã ghi chú trên mạng (National Geographic Family Reference Atlas of the World, 2010; National Geographic Visual of the World Atlas,2009; National Geographic Collegiate Atlas of the World (?). Cần để ý là trong thời gian chiến tranh Việt Nam, ngay từ những ngày đầu, National Geographic Society đã chú ý rất nhiều đến cuộc chiến đấu chống Cộng của người Việt. Họ đã viết và đã phổ biến rất nhiều bài về đề tài này một cách có cảm tình với phía ngưòi Việt Quốc Gia. Vậy tại sao với tư cách là một hội khoa học họ lại thay đổi thái độ một cách vội vã, thiếu vô tư và thiếu thận trọng so với những nhà xuất bản khác nặng về kinh doanh thương mại hơn như vậy?

Việt Nam (miền Bắc) cũng dùng các danh xưng Tây Sa và Nam Sa

Trở về với Việt Nam, việc dùng các danh xưng Tây Sa và Nam Sa, gốc của người Tàu, thay vì Hoàng Sa và Trường Sa trong tiếng Việt, không phải là không có.
Bài viết nhan đề “Xisha and Nansha Islands belong to China” (Tây Sa và Nam Sa thuộc Trung Quốc) đăng trên tờ Beijing Review, cơ quan ngôn luậnchính thức của chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh bằng Anh ngữ, số 21, ra ngày 25 tháng 5 năm 1979 cho người ta thấy điều đó. Bài này không ghi tên tác giả mà chỉ ghi là một bài bình luận của ký giả Tân Hoa Xã, có lẽ để tránh không bị coi là chính thức, nhưng ai cũng biết Tân Hoa Xã là cơ quan thông tấn chính thức của nhà nước Trung Hoa Cộng Sản. Trong bài bình luận này, ngoài những lập luận và chứng cớ bằng ngôn từ, tác giả đã viện dẫn tới các bản đồ chính thức của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (miền Bắc) ấn hành trước năm 1975. Các bản đồ này đã gọi các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng tên Trung Hoa đọc theo tiếng Việt là Tây Sa và Nam Sa của chúng kèm theo những ghi chú chứng tỏ các quần đảo này là thuộc Trung Hoa. Tác giả bài báo đã nêu lên một số trường hợp làm thí dụ:

Thí dụ thứ nhất: Bản đồ thế giới vẽ và ấn hành bởi Cục Bản Đồ (?) của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Nhân Dân Việt Nam năm 1960 đã ghi rõ bằng tiếng Việt “Quần Đảo Tây Sa (Trung Hoa)” và “Quần Đảo Nam Sa (Trung Hoa)”. Nguyên bản tiếng Anh để chữ China (Trung Hoa) trong ngoặc đơn rồi tất cả trong ngoặc kép “ the Xisha Islands (China)”, “the Nansha Islands (China)” thành người viết bài này (PCD) không rõ chữ China này là ghi đúng như trên bản đồ của Việt Nam hay do tác giả bài viết trên tờ Beijing Review thêm vô.

Thí dụ thứ hai: Những bản đồ Việt Nam xuất bản bởi Cục Địa Đồ vào tháng 5 năm 1964 và những bản đồ thế giới ấn hành tháng 5 năm 1972 cùng những bản đồ chính trị thế giới do Cục Đo Đạc và Bản Đồ Quốc Gia ấn hành tháng 3 năm 1974 ghi các quần đảo này bằng tên Trung hoa viết bằng tiếng Việt Nam. Không bao giờ các quần đảo này được ghi bằng tên tiếng Việt là “Quần Đảo Hoàng Sa” và “Quần Đảo Trường Sa” như sau này, theo tác giả bài báo.

Thí dụ thứ ba: Một bài học về Trung Quốc dành cho lớp 9 trong một cuốn sách giáo khoa về địa lý do Nhà Xuất Bản Giáo Dục ấn hành năm 1974 có câu “ Vòng cung hợp bởi các quần đảo Nam Sa và Tây Sa, đảo Hải Nam, Đài Loan, Quần Đảo Bành Hồ… tạo thành một bức “trường thành” che chở cho Trung Hoa Lục Địa.” Có nhiều diễn tả tương tự đã được thấy trong các sách giáo khoa của Việt Nam.

Thí dụ thứ tư: Kinh độ phía đông của Việt Nam. Ngày 15 tháng 5 năm 1975, non một tháng sau ngày quân đội Việt Nam (Cộng Sản) tiến chiếm sáu đảo của Quần Đảo Trường Sa, tờ Quân Đội Nhân Dân cho đăng một bản đồ Việt Nam bao gồm cả Quần Đảo Trường Sa và khẳng định là địa điểm cực đông của lãnh thổ Việt Nam nằm ở 109 độ 29 phút Đông. Điều này (theo bài báo) chứng tỏ Việt Nam đã chiếm đóng lãnh thổ của Trung Quốc.
Mặt khác, một tài liệu nhan đề Địa Lý Thiên Nhiên Việt Nam và Các Vùng Thiên Nhiên của Lãnh Thổ Việt Nam (?) do Nhà Xuất Bản Giáo Dục Việt Nam và Nhà Xuất Bản Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam ấn hành năm 1970 lại xác định điểm cực đông của lãnh thổ Việt Nam nằm ở 109 độ 21 phút Đông thay vì 109 độ 29 Đông, chênh nhau 8 phút. Tác giả bài báo cho rằng dù có tăng thêm 8 phút cho lãnh thổ Việt Nam, Nam Sa vẫn không thuộc Việt Nam vì Nam Sa nằm ở 109 độ 30 phút đông của lãnh thổ Việt Nam (cũng theo bài báo).

Qua những thí dụ kể trên, người ta thấy lập luận của phía Trung Hoa có những điều bất ổn.
Ba thí dụ đầu căn cứ vào những tài liệu được ấn hành từ trước năm 1975, khi Việt Nam còn bị chia đôi và có xuất xứ từ miền Bắc Việt Nam trong khi các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo Hiệp Định Geneva mà Trung Quốc có tham dự và đóng vai trò tích cực, là do miền Nam quản trị. Lập luận của Trung Quốc trong trường hợp này không có giá trị vì nó cũng giống như lập luận của họ đối với văn thư Phạm Văn Đồng gửi cho Châu Ân Lai. Nói cách khác, những gì miền Bắc làm đối với Hoàng Sa và Trường Sa là không có giá trị pháp lý căn cứ vào Hiệp Định Geneva.
Một câu hỏi được nêu lên là tại sao các nhà làm sách và làm bản đồ ở miền Bắc thời trước năm 1975 lại dùng những danh xưng của người Tàu thay vì các danh xưng của người Việt để gọi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa? Câu trả lời có thể là vì thời gian đó là thời gian Việt Nam và Trung Hoa là hai nước Cộng Sản “anh em”, em không giữ được thì đưa cho anh thay vì để người ngoài chiếm mất, đồng thời đó cũng là thời gian chiến tranh, Cộng Sản Việt Nam cần sự giúp đỡ của Cộng Sản Trung Quốc và vai trò của Trung Quốc nói chung và của các cố vấn Trung Quốc nói riêng rất mạnh, không ai có thể chống lại. Do đó, việc dùng ngôn từ của Trung Quốc hay việc chép nguyên văn từ các tài liệu do các cố vấn Trung Quốc đưa cho ở đây cũng chỉ là một điều bình thường giống hệt như trong các cuộc chỉnh huấn trong quân đội hay Cải cách Ruộng đất và việc dùng danh xưng Quân Đội Nhân Dân thay thế cho danh xưng Vệ Quốc Đoàn mang nặng tinh thần quốc gia chủ nghĩa. Khó ai có thể ngờ Trung Quốc trước sau như một khiến cho những gì các nhà làm bàn đồ hay sách giáo khoa về địa lý ở miền Bắc đã làm ở thời đó sau này đã gây ra bất lợi cho cả đất nước Việt Nam.
Ngoài ra người ta cũng phải để ý là tháng 5 năm 1975 miền Bắc mới chiếm được miền Nam và tự coi là có trách nhiệm trên toàn thể lãnh thổ của miền Nam trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa. Thời gian quá ngắn nên những tài liệu tờ Quân Đội Nhân Dân dùng cho bài viết của họ vẫn là tài liệu cũ của miền Bắc. Họ chưa có đủ thì giờ để cập nhật hóa những gì phải làm.
Tác giả nói hội nghị Asean là cơ hội để Việt Nam lên tiếng

Tên South China Sea cần phải được thay

Thứ nhất: Tên South China Sea (Biển Nam Trung Hoa) trong tiếng Anh và tên Mer de Chine (Biển Trung Hoa) trong tiếng Pháp không thích hợp với thực tại địa lý nói chung của biển này. Chúng đã được đặt ra và được chấp nhận từ nhiều thế kỷ trước, khi người Âu Châu mới tới vùng này. Lúc đó họ đã biết hay đã quen với Trung Quốc nhiều hơn là với các xứ Đông Nam Á đương thời, trong khi trên thực tế biển này ba mặt phía nam, phía tây, phía đông được vây quanh bởi các nước Đông Nam Á, chỉ một phần phía bắc là tiếp giáp với Trung Quốc. Khi một danh xưng do người ngoài đặt cho và không hợp lý với thực tại dịa phương, người ta cần phải đổi đi cho hợp lý hơn thay vì để nguyên một cách thụ động và cứ thế mà dùng từ đó gây ra những hiểu lầm lẽ ra có thể tránh được. Nên để ý là Indonesia xưa kia bị gọi là Nam Dương quần đảo. Sau khi độc lập nước này đã được đổi tên là Indonesia.
Đổi tên từ South China Sea hay Mer de Chine thành Biển Đông Nam Á không có nghĩa là ta từ bỏ danh xưng Biển Đông hay Đông Hải của Việt Nam vì Biển Đông hay Đông Hải là những tên riêng của người Việt để dùng trong nội bộ mình.

Thứ hai: Biển này nằm ở giữa các quốc gia Đông Nam Á, trong tương lai, với đà phát triển trên nhiều mặt của Hiệp Hội ASEAN, sẽ là một cái hồ, một thứ Địa Trung Hải của toàn vùng. Nó sẽ giúp cho mọi sự tiếp xúc, trao đổi và hợp tác, nói chung, từ kinh tế, tài chánh, thương mại đến văn hóa, giáo dục… được dễ dàng vì giao thông bằng đường thủy luôn luôn dễ dàng với những số lượng lớn hơn gấp bội so với đường bộ hay đường hàng không nếu người ta biết tổ chức và khai thác.

Thứ ba: Đổi tên từ South China Sea hay Mer de Chine thành Biển Đông Nam Á không có nghĩa là ta từ bỏ danh xưng Biển Đông hay Đông Hải của Việt Nam vì Biển Đông hay Đông Hải là những tên riêng của người Việt để dùng trong nội bộ mình. Các nước khác chắc chắn cũng có những tên riêng của để gọi biển này của họ. Vì là của riêng người ta vẫn có thể tiếp tục dùng những danh xưng này như những danh xưng truyền thống với những ý nghĩa vừa đúng với vị trí của biển này đối với người dân địa phương, vừa tình cảm của chúng. Southeast Asia Sea hay Mer de l’Asie du Sud-Est sẽ chỉ là những danh xưng quốc tế thích hợp hơn để dùng trên các văn kiện hay trong các buổi họp quốc tế, trên các địa đồ thế giới và cho các nước không nằm trong vùng.

Thứ tư: Dùng danh xưng Biển Đông Nam Á hay Southeast Asia Sea hay Mer de l’Asie dư Sud-Est sẽ giúp cho các học giả, các nhà ngoại giao, các chính khách Việt Nam, mỗi khi phải tiếp xúc với thế giới bên ngoài, tránh được sự khó chịu khi phải dùng những tên vừa không do mình đặt ra vừa không đúng với thực tại địa lý mà còn hàm chứa ảnh hưởng và sức mạnh quá lớn của Trung Quốc. Không những thế chúng còn mang các quốc gia Đông Nam Á lại gần với nhau hơn, đồng thời có thể tạo ra cho người dân của các quốc gia này một ý thức mới, ý thức thuộc về một khối người có nhiều điểm tương đồng, có những quyền lợi chung cần được khai thác với nhau trong hòa bình và cùng nhau bảo vệ nhất là trong phạm vi môi trường thiên nhiên vào lúc Trung Quốc đang nỗ lực kỹ nghệ hóa các tỉnh đông nam của họ.

Kết luận

Các quốc gia Đông Nam Á đã có một tổ chức chung; đã đến lúc các quốc gia này phải có một cái gì cụ thể chung. Một vùng biển chung mang danh Biển Đông Nam Á ít ra qua danh xưng của nó là biểu tượng cho cái gì chung đó vậy.
Năm nay Việt Nam sẽ là chủ tịch luân phiên của Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á và tháng Tư này Hội Nghị Thượng Đỉnh của hiệp hội này được tổ chức ở Hà Nội. Đây là dịp hiếm có để nước chủ nhà đưa ra sang kiến này. Cần phải được nhắc lại là tên Biển Đông Nam Á nếu được chấp nhận chỉ là tên gọi một vùng biển nằm giữa khu vực Đông Nam Á cho hợp lý mà thôi. Nó không có nghĩa là một sự quốc tế hóa biển này và nhất là không có liên hệ gì tới các chủ quyền lãnh thổ hay lãnh hải gì hết vì chủ quyền về lãnh thổ hay lãnh hải là do quốc tế công pháp, những luật về mặt biển, về thềm lục địa qui định dựa trên các yếu tố địa lý, lịch sử…
Vì chủ đề của bài này là Trường Sa và Hoàng Sa nên người viết thấy cần phải nêu lên một gợi ý khác để các nhà cầm quyền ở trong nước hiện tại chứng tỏ sự ghi nhận công ơn của các chiến sĩ, bất kể là từ miền Nam hay miền Bắc trước kia, đã hy sinh bảo vệ lãnh thổ nước nhà. Gợi ý đó là: Hãy dùng tên của Hải Quân Trung Tá Việt Nam Cộng Hoà Ngụy Văn Thà để đặt cho một trong hai chiếm hạm tối tân nhất mà Việt Nam mới đặt mua của nước Nga để bảo vệ vùng biển của nuớc nhà. Sự đặt tên này cũng gống như sự dựng tượng đài kỷ niệm chắc chắn sẽ được mọi người hoan nghênh kể cả các chiến sĩ hải quân của nước Việt Nam hiện tại vì Trung Tá Thà khi chiến đấu chống hải quân Trung Cộng ở Trận Chiến Hoàng Sa chỉ hướng tới một mục tiêu duy nhất là bảo vệ lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam trước sự xâm lăng của ngoại bang. Ông và thủy thủ đoàn của ông đã thuần túy chiến đấu vì lòng ái quốc của mình.

Friday, April 9, 2010

Tranh chấp chủ quyền

Vấn đề chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam vẫn là vấn đề vô cùng nhức nhối đối với nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam mà cũng là điều làm cho người Việt trong nước cũng như hải ngoại quan tâm. Nhân cuộc họp Asean lần thứ 16 tổ chức tại Hà Nội, Việt Nam, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam sẽ làm gì để giải quyết vấn đề này? Chúng ta hãy chờ xem Việt Nam sẽ nêu vấn đề này ra nhân cuộc họp Asean như thế nào? Vấn đề đặt ra là nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam có đủ khôn ngoan để giải quyết vấn nạn hóc búa này ra làm sao?

Wednesday, April 7, 2010

Lòng tham không đáy của Trung Cộng

Hiện tại, trong vùng Nam Á bao gồm các nước Asean, Trung Cộng, Philippine, Nhật Bàn, Ấn Độ, Nam Dương thì Trung Cộng là nước có tranh chấp về biên giới, lãnh hải với tất cả các quốc gia Nam Á còn lại. Ở biển Đông, chúng tranh chấp với Nhật Bản, Philippine, Việt Nam, nhất klà sau khi nuốt trọn quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, lấn một phần quần đảo Trường Sa. Phía Tây, chúng có tranh chấp về biên giới với Ấn Độ và đã xảy ra cuộc chiến tranh về biên giới giữa hai nước. Mới đây, chúng đòi chủ quyền trên đảo Bạch Long Vĩ, một hòn đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam và đã từ lâu do nhà cầm quyền Việt Nam kiểm soát. Đây là một hình thức tham lam của một túi tham không đáy. Từ xưa đến nay, bản chất của người Trung Hoa là tham lam, luôn luôn muốn tranh chiếm đất đai của Việt Nam. Lịch sử Đại Việt đã minh chứng hùng hồn: mỗi lần chúng đụng đến dân tộc Việt Nam là đều bị thất bại thảm hại và phải ôm đầu máu chạy bán sống bán chết để trở về Tàu. Trung Cộng nên đọc lại lịch sử và nên từ bỏ lòng tham không đáy của mình kẻo không khéo cũng sẽ giống như tiền nhân của chúng, chỉ chuốt lấy thất bại thảm hại mà thôi!

Tuesday, April 6, 2010

Nhà cầm quyền ăn cướp.

Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt nam thường hay rêu rao là "chính quyền của nhân dân, của người lao động", nhưng thực tế lại hoàn toàn khác hẳn. Đối với người dân vùng nông thôn, họ đã "cưỡng chiếm đất đai" nhưng thực chất chính là đã "ăn cướp" đất đai của người dân, khiến những người dân bị ăn cướp bởi nhà cầm quyền trở thành "dân oan khiếu kiện". Người dân ở thành phố và các thị xã thì lại khác. Chúng đã tiếp tay với những nhà đầu tư ngoại quốc như Hàn quốc, Đài Loan...bóc lột người công nhân thậm tệ. Cũng vì thế mà thời gian gần đây, những vụ đình công của công nhân ở các nhà máy do ngoại quốc đầu tư đã thường xuyên và liên tiếp nổ ra. Thật cay đắng và chua xót cho người dân của cái nước Việt Nam khoác mỹ danh "Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam", thực chất đây chỉ là cái đảng ăn cướp , bóc lột thậm tệ người dân mà thôi!

Monday, April 5, 2010

VN bắt đầu siết giấy phép tàu cá nước ngoài

Trích BBC Vietnamese

Ngư dân Việt Nam

Chính phủ Việt Nam vừa ra nghị định mới nhằm siết chặt quản lý hoạt động của tàu cá nước ngoài trong các vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, bao gồm cả các vùng đang tranh chấp.

Nghị định số 32/2010/NĐ-CP ra ngày 30/03/2010 về Quản lý hoạt động thủy sản của tàu cá nước ngoài trong vùng biển Việt Nam ghi rõ: "Tàu cá nước ngoài chỉ được hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam khi có Giấy phép hoạt động thủy sản do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp".

Vùng biển Việt Nam, theo văn bản này, là "các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của nước CHXHCN Việt Nam", được quy định theo Luật Biên giới Quốc gia 2003 và theo Điều ước Quốc tế giữa Việt Nam và các quốc gia khác.

Điều đó có nghĩa, tàu thuyền nước ngoài hoạt động trong các vùng biển như tại Hoàng Sa, Trường Sa mà Việt Nam coi là của mình, mà không có giấy phép của Việt Nam sẽ là phạm luật.

Chưa rõ điều này có dẫn tới đối đầu giữa các tàu đánh cá của nước ngoài, nhất là Trung Quốc, vẫn hoạt động tự do trong các vùng biển mà Trung Quốc cũng nọ́i là của mình, và giới chức trách Việt Nam hay không.

Nghị định mới cũng đòi hỏi tàu cá nước ngoài hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam "phải tuân thủ quy định của Nghị định này và các quy định khác có liên quan của Việt Nam".

Văn bản mới ra tương đương các văn bản hiện hành của một số nước trong khu vực, vốn đã được áp dụng để bắt giữ và phạt tiền tàu cá của Việt Nam mỗi khi ngư dân Việt Nam vào đánh bắt.

Trung Quốc còn có lệnh cấm đánh bắt hàng năm tại các vùng biển mà Trung Quốc nhận chủ quyền. Năm ngoái lực lượng ngư chính nước này bắt giữ hàng chục thuyền cá của Việt Nam.

Vùng biển Việt Nam là các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của nước CHXHCN Việt Nam, được quy định theo Luật Biên giới Quốc gia 2003 và theo Điều ước Quốc tế giữa Việt Nam và các quốc gia khác.

Nghị định 32/2010/NĐ-CP

Trong khi đó, tàu thuyền Trung Quốc vẫn thường xuyên vào các vùng biển Việt Nam.

Lực lượng biên phòng cho hay tàu cá Trung Quốc với số lượng lớn liên tục xâm nhập lãnh hải Việt Nam, từ cuối tháng 1 tới tháng 2 cơ quan chức năng phát hiện tới 130 tàu cá Trung Quốc trong vùng biển của Việt Nam.

Có lúc, tàu Trung Quốc vào sâu chỉ cách bờ biển Đà Nẵng, Thừa Thiên-Huế khoảng 45 hải lý.

Siết giấy phép

Giấy phép hoạt động thủy sản của Việt Nam được cấp cho tàu cá theo từng trường hợp một sau khi chủ tàu làm đơn xin.

Thời hạn của Giấy phép "không quá 12 tháng đối với hoạt động khai thác thủy sản và không quá 24 tháng đối với các hoạt động thủy sản khác".

Nghị định 32/2010/NĐ-CP viết Giấy phép được gia hạn không quá 3 lần, thời gian gia hạn mỗi lần không quá 12 tháng.

Giấy phép đầu tư do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan có thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi, dựa trên bảy điều kiện như tàu cá nước ngoài có tham gia các dự án hợp tác với Việt Nam, có giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật, có danh sách thuyền viên đầy đủ và có ít nhất một người thông thạo tiếng Việt hoặc tiếng Anh.

Tuy nhiên, dù đã có khung luật định, việc thực hiện còn nhiều khó khăn do lực lượng tuần ngư của Việt Nam còn mỏng và yếu.

Nước láng giềng Trung Quốc, ngược lại, gần đây đã củng cố hoạt động tuần tra ngư chính của họ.

Hôm 01/04, Bộ Nông nghiệp Trung Quốc đã điều hai tàu khá hiện đại đi tuần tra tại khu vực quần đảo Trường Sa.


Sunday, April 4, 2010

Làm sao ta quên đươc


Mỗi năm vào tháng tư
Lại nhớ ngày đen tối
Ngày đất nước chìm sâu
Vào chín tầng địa ngục

Ngày súc vật làm người
Ngày cay đắng trầm luân
Ngày uất hận thiên thu
Lệ trào tuôn bất tận

Ta như kẻ lạc loài
Ngay giữa chính quê hương
Bao triệu người đau xót
Đành bỏ nước ra đi

Bao nhiêu người đến được?
Bến bờ của tự do
Bao nhiêu người bỏ xác?
Giữa giông tố trùng khơi

Làm sao ta quên được
Những tháng ngày đau thương
Ba lăm năm trôi qua
Ba lăm năm quốc hận

Mỗi năm mỗi ghi khắc
Để nhớ mãi không quên
Để thế hệ tiếp nối
Sẽ quang phục quê hương

Phi Vũ
04/04/10

Kẻ thù của giới kiểm duyệt internet

Vừa rồi, Google đã có quyết định không làm ăn ở Trung Cộng nữa mà chuyển bản doanh sang Hong Kong để phản đối Trung Cộng trong vấn đề kiểm sóat internet. Việc làm này của Google đã được cả thế giới ủng hộ, và là một cái tát vào mặt những kẻ đang cầm quyền tại Trung Nam Hải. Thế nhưng, tại thung lũng Silicon Valley, một chuyên viên về software đã viết nên một software để giúp những người ở Việt Nam, Trung Quốc, Iran...vượt bức tường lửa để có thể dễ dàng lướt sóng trên internet. Điều này đã gây thích thú không ít cho những người sử dụng internet tại các quốc gia thiếu tự do này, đồng thời cũng đã làm cho nhà cầm quyền các quốc gia đó cảm thấy vô cùng bực tức. Và có người đã gọi ông là "Kẻ thù của giới kiểm duyệt internet". Đọc bài viết thấy cảm khái làm sao!

Wednesday, March 31, 2010

Tin tặc Việt Nam (Cộng Sản)

Mới đây, công ty Google, một đại công ty chuyên về search engine có trụ sở tại California, Hoa Kỳ sau khi rút lui khỏi Trung Cộng lại lên tiếng khuyến cáo về nạn tin tặc Việt Cộng (mặc dù chưa được tinh vi bằng Trung Cộng). Bên cạnh đó, hãng nhu liệu MCAfee cũng cùng đưa ra những khuyến cáo tương tự. McAfee sau một thời gian điều tra đã quyết đoán như trên. Cũng không có gì là ngạc nhiên cả! Trung Cộng và Việt Cộng là những nước trên thế giới còn sót lại sau khi chủ nghĩa Cộng Sản ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã cáo chung. Bây giờ chúng tìm mọi cách bóp nghẹt tự do dân chủ bởi lẽ nếu người dân được tự do vế mọi mặt và nhất là tự do về chính trị thì chắc chắn là chúng sẽ bị diệt vong như ở Nga và các nước Đông Âu. Và internet là phương tiện thông tin hiện đại nhất để nối kết và phổ biến thông tin nhanh chóng nhất hiện nay.
Bên cạnh đó, vấn đề ngư dân Việt Nam ra biển đánh cá luôn luôn bị Trung Cộng bắt giữ và đòi tiền chuộc mặc dù họ đang đánh cá trong hải phận Việt Nam. Đây là điều vô cùng đau lòng và nhức nhối cho những người ngư dân lam lũ vất vả để mưu sinh. Làm gì để bảo vệ ngư dân? Đây là câu hỏi quan thiết cần được nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam phải trả lời trước nhân dân Việt Nam nếu họ còn có dòng máu Việt chảy trong dòng huyết quản.

Tuesday, March 30, 2010

Lại chuyện khủng bố

Vào ngày 28 tháng 3năm 2010, tại thủ đô Mátxcơva của Cộng Hòa Liên bang Nga, bọn khủng bố đã cho hai người quyết tử đánh bom tại trạm xe điện ngầm làm nhiều người chết và bị thương. Đây thật sự là một cuộc tấn công khủng bố, tuy tầm mức có nhẹ hơn những vụ khủng bố trước đây. Vậy thì tổ chức nào đứng đàng sau vụ khủng bố này? Thật tế mà nói ở nước Nga tổ chức những người Hồi Giáo ly khai Chechnya từ lâu đã có những trận đụng độ cùng với chính quyền của nước Nga. Họ muốn ly khai và thành lập quốc gia riêng. Cuộc chiến trước đây đã xảy ra giữa người Nga và người Chechnya. Và họ đã dùng chiến thuật khủng bố để tấn công người Nga. Đây quả là chiến thuật tàn bạo và mất nhân tính.
Nói đến khủng bố, tôi lại liên tưởng đến Việt Cộng trước năm 1975. Lúc đó, chúng cũng dùng chiến thuật khủng bố, tấn công vô tội vạ vào chính quyền và nhân dân miền Nam. Pháo kích, đặt mìn, tung lựu đạn...là những thủ thuật tàn bạo và mất nhân tính của bè lũ khủng bố Việt Cộng. Sau ngày miền Nam hoàn toàn bị sụp đổ, một chiến dịch khủng bố khủng khiếp đã được chúng sử dụng để nhắm vào quân, dân, cán chính Việt Nam Cộng Hòa. Thật là một bè lũ man rợ và lưu manh.

Sunday, March 28, 2010

Hội thảo Biển Đông

Biển Đông hiện nay là vùng biển mà Trung Cộng muốn nuốt chửng. Chúng đã vẽ nên hình lưỡi bò hòng chiếm trọn vùng biển giàu tài nguyên của Tổ Quốc. Mới đây, tại Philadelphia đã có cuộc hội thảo tranh chấp biển Đông do Hoa Kỳ tổ chức với sự tham gia của Hoa Kỳ, Pháp, Canada và Việt Nam. Đây là một cuộc hội thảo mang tính quốc tế, đã vạch trần ra những toan tính tham lam, bá quyền của nhà cầm quyền Ttung Cộng. Đây cũng là cơ hội để nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam cung cấp cho thế giới những chứng cớ lịch sử về chủ quyền của mình tại Biển Đông và nhất là tại hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Wednesday, March 24, 2010

Phỏng vấn Giáo Sư Carlyle Thayer (Sau cuộc vận động ký tên yêu cầu Hội Địa Lý Quốc Gia Hoa Kỳ xóa bỏ tên China tại Hoàng Sa)

Trích NguoiViet Boston

ed7b44a2f16fa68cedb6223b43aac007Cũng trong ngày kết thúc chiến dịch ký Thư Yêu Cầu, Nhã Trân, trưởng ban báo chí của Quỹ Nguyễn Thái Học (NTHF), phỏng vấn một chuyên gia về khu vực Đông Nam Á, Giáo sư Carlyle A. Thayer, Giám đốc Diễn đàn Nghiên cứu quốc phòng Đại học New South Wales – Australia, theo dõi và quan tâm đến các vấn đề liên quan đến Việt Nam.

Nhã Trân: Xin được nghe quan điểm của GS trước sự kiện Hội Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ (NGS) ghi quần đảo Hoàng Sa thuộc Trung Hoa trong một bản đồ mới đây của họ?

GS Thayer: NGS năm nay đã sai phạm khi ghi là quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Trung Hoa. Ít ra NGS nên chú thích rằng chủ quyền khu vực này đang trong tình trạng tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Hoa.

Nhã Trân: GS khẳng định việc ghi Hoàng Sa thuộc Trung Hoa là sai phạm. Có phải đó là vì quần đảo này thuộc chủ quyền của Việt Nam mãi cho đến khi bị Trung Hoa dành lấy sau lần xâm lược năm 1974?

GS Thayer: Đúng vậy. Quần đảo Hoàng Sa chia thành hai nhóm, nhóm đảo Amphrite ở phía bắc và nhóm đảo Crescent ở phía nam. Kể từ khi thời kỳ thuộc địa Pháp kết thúc ở Việt Nam, chính phủ miền Nam, sau này là chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, được chiếm lĩnh nhóm đảo Crescent. Tháng Giêng 1974, một năm sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Hải quân Trung Hoa đã tấn công Hải quân VNCH và chiếm cứ phía nam Hoàng Sa.

Nhã Trân: Nói đến lịch sử của Hoàng Sa, theo chúng tôi được biết thì khi đó phía chính phủ miền Nam Việt Nam đã mạnh mẽ phản đối hành vi xâm lược của Trung Hoa ?

GS Thayer: Khi Trung Hoa cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã phản đối, tuy nhiên không thay đổi được tình thế là mấy. Hoa Kỳ khi ấy đã rút quân khỏi Việt Nam, và không có ý định hỗ trợ một cuộc chiến chống lực lượng quân đội Trung Hoa. Ngược lại với miền Nam, miền Bắc cộng sản khi đó không phản đối hành động của Trung Hoa. Bộ Ngoại Giao miền Bắc sau này viện lẽ rằng kẻ thù chính của họ là chủ nghĩa đế quốc của Mỹ, và họ không muốn Hoa Kỳ thiết lập căn cứ trên Hoàng Sa. Nói một cách khác là chính quyền Hà Nội đã không hề phản đối.
Nhã Trân : Là một chuyên gia về Đông Nam Á và về quốc phòng, GS nhận định ra sao về cơ sở mà Trung Hoa thời gian sau này dựa vào để tuyên bố chủ quyền của họ ở Hoàng Sa?

GS Thayer: Căn bản là Trung Hoa tuyên bố chủ quyền trên toàn thể Biển Đông, trong đó bao gồm Hoàng Sa, viện lý do họ là người khám phá vùng biển này. Chiếu theo luật quốc tế, khi hai xứ sở tranh cãi chủ quyền về lãnh thổ, trong trường hợp này là chủ quyền đối với các quần đảo trong vùng Biển Đông, lợi thế nghiêng về quốc gia chứng minh được sự sở hữu và quản trị.
Nhã Trân: Như GS vừa nói thì Việt Nam có thể ở vào thế bất lợi vì Hoàng Sa đã bị Trung Hoa chiếm đóng từ năm 1974 và chính thức lập đơn vị hành chính thời gian gần đây ?

GS Thayer: Trường hợp Việt Nam có thể được biện luận là chủ quyền [đối với Hoàng Sa] được chính quyền Pháp chuyển giao cho chính quyền Việt Nam lúc chế độ thuộc địa cáo chung vào năm 1954, vùng phía nam của Hoàng Sa được sở hữu và cai quản bởi Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong suốt hai thập niên liên tục.

Nhã Trân: Tranh chấp về chủ quyền Biển Đông, trong đó bao gồm Hoàng Sa, ngày càng căng thẳng. Các nước liên quan, tất nhiên kể cả Việt Nam, đang nỗ lực quốc tế hóa vấn đề, nhưng Trung Hoa một mực phản kháng. Ý kiến GS ra sao về khả năng Trung Hoa không từ bỏ ý định làm bá chủ Biển Đông, và Hoàng Sa nói riêng?

GS Thayer: Lịch sử đã chứng minh rõ rằng Trung Hoa xưa nay vừa cương quyết vừa hung hăng trong việc khẳng định chủ quyền đối với Biển Đông. Trước tháng Giêng 1974 Trung Hoa chỉ kiểm soát được phía bắc quần đảo Hoàng Sa. Kể từ khi đó Trung Hoa đã sử dụng lực lượng quân đội trong hai trường hợp để chiếm hữu các đảo này. Trường hợp đầu xảy ra tháng Giêng 1974 ở phía nam Hoàng sa. Trường hợp thứ nhì vào tháng Ba 1988 khi các chiến hạm của Trung Hoa tấn công lực lượng Hải quân cộng sản Việt Nam gần khu vực đá ngầm Johnston trong quần đảo Trường Sa. Trung Hoa sau đó tiếp tục chiếm thêm nhiều nơi trong vùng. Năm 1992, Trung Hoa lại gia tăng sự chiếm đóng của họ tại Trường Sa bằng cách cưỡng chiếm thêm nhiều vùng hơn. Năm 1995, trong một bành trướng mới, Trung Hoa chiếm vùng đá ngầm Mischief tại biên giới phía đông quần đảo Trường Sa, vùng mà trước kia Phillipines tuyên bố chủ quyền. Kế đó Trung Hoa xây dựng căn cứ quân sự trên Mischief. Cả Việt Nam lẫn Trung Hoa đều quân sự hóa những quần đảo và khu vực mà họ chiếm giữ. Việt Nam hiện đang ở vào vị trí không mấy lạc quan vì đòi chủ quyền mà không có phương cách để yểm trợ đòi hỏi này. Trung Hoa từ chối thảo luận về vấn đề Hoàng Sa, và điều đó làm hỏng mọi ý định đưa vấn đề này ra tòa án quốc tế. Cả hai chính quyền đang bất đồng về vấn đề chủ quyền phải cùng đồng ý để vấn đề được phân xử. Việt Nam hiện không có biện pháp ngoại giao hoặc quân đội để khẳng định, hỗ trợ cho việc đòi chủ quyền của mình. Lấy ví dụ, trong những năm cuối thập niên 1990 khi Khối Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã cùng Trung Hoa đàm phán về luật lệ hành xử cho vùng Biển Đông, Việt Nam muốn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được bao gồm vào khu vực này thì Trung Hoa đã phản đối, và các nước láng giềng của VN đã nhượng bộ. Hoàng Sa [vì vậy] không được đề cập đến; luật hành xử trong khu vực Biển Đông sau đó phai nhạt, tan biến vào Bản Tuyên Ngôn năm 2002 về Luật của các chính quyền vùng Biển Đông.

Nhã Trân: Trở lại chuyện Hội Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ sai phạm trong phán đoán của họ, GS có nghĩ sửa sai là điều cần thực hiện ?

GS Thayer: Hội Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ lẽ ra có thể chính xác hơn nếu ghi rõ là các đảo thuộc phía nam của Hoàng Sa đang bị Trung Hoa chiếm đóng.

Nhã Trân: Phản ứng của người dân Việt trước sự kiện này có chính đáng, họ có quyền yêu cầu NGS đáp ứng yêu cầu đòi sửa lại chú thích về quần đảo Hoàng Sa để duy trì sự thật và công lý ?

GS Thayer: Có thể hiểu được sự phẫn nộ của những người Việt hải ngoại yêu nước trước sự sai lạc trong phán đoán của Hội Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ. Sự sai sót, lầm lẫn này nếu được để yên có thể trở thành một thí dụ cho thấy sự đồng ý [của người Việt] đối với sự xâm lược của Trung Hoa. Người Việt hải ngoại phải tiếp tục áp lực, nêu quan điểm bằng cách không cho phép kỷ niệm cuộc xâm lăng của Trung Hoa hồi tháng Giêng 1974 trôi qua trong câm lặng. Họ cũng có thể nêu vấn đề này lên với các đại diện quốc hội, các định chế quốc tế thẩm quyền, và nhà cầm quyền Hà Nội.

Nhã Trân: Là một người nghiên cứu chính trị và quan tâm đến tình hình Việt Nam xưa nay, GS có điều gì muốn nhắn nhủ người dân và chính quyền Việt Nam ?

GS Thayer: Luật quốc tế đứng về phía những quốc gia có cơ sở trong việc tuyên bố chủ quyền. Sự yên lặng của Việt Nam có thể phương hại đến việc khẳng định chủ quyền của mình. Ngạn ngữ Anh có câu “sự sở hữu là chín phần mười của luật pháp.” Để ngăn ngừa điều này, trong trường hợp của Hoàng Sa, Viêt Nam phải tiếp tục thúc đẩy việc khẳng định chủ quyền của mình, phải phản đối tất cả mọi hành động mà Bắc Kinh sử dụng để xác nhận, khẳng định chủ quyền của họ. Thất bại trong việc duy trì vấn đề này sẽ đưa đến kết quả là Việt Nam đã chối bỏ chủ quyền của đất nước mình.

Nhã Trân: Cám ơn GS đã dành cho Nguyễn Thái Học Foundation cuộc phỏng vấn đặc biệt này.