Translate

Sunday, January 17, 2010

Ý nghĩa lịch sử trận hải chiến Hoàng Sa

Trích danchimviet.com
Trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19-01-1974, đã được nói và viết đến nhiều. Nhân kỷ niệm 35 năm xảy ra trận hải chiến nầy, ở đây chỉ xin ôn lại vài ý nghĩa lịch sử của trận chiến anh dũng của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa.

1.- VIỆT NAM CỘNG HÒA

Trước hết, cần phải ghi nhận hoàn cảnh khó khăn của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) hay Nam Việt khi trận Hoàng Sa xảy ra: Hiệp định Paris (27-01-1973), cũng giống hiệp định Genève (20-7-1954) là hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, mà giải pháp chính trị không rõ ràng, chỉ để cho quân đội Hoa Kỳ đơn phương rút quân về nước trong danh dự mà thôi.

Trong khi quân đội Hoa Kỳ rút lui, Hoa Kỳ giảm, rồi ngưng viện trợ cho VNCH thì Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) hay Bắc Việt chẳng những không rút quân khỏi lãnh thổ VNCH, mà còn được Cộng sản Quốc tế (CSQT) tăng cường quân lực, liên tục tấn công VNCH.

Lợi dụng hoàn cảnh quân đội Hoa Kỳ rút lui và quân đội hai miền Nam và Bắc Việt Nam mải mê đánh nhau, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) hay Trung Quốc đưa hạm đội hùng hậu đánh chiếm Hoàng Sa ngày 19-01-1974.

Việt Nam Cộng Hòa ở thế lưỡng đầu thọ địch (hai đầu bị địch tấn công). Trong khi chiến đấu chống cộng sản Bắc Việt, Quân lực VNCH cương quyết chiến đấu bảo vệ tổ quốc, chống đánh tập đoàn bành trướng Bắc Kinh. Phải nhấn mạnh là toàn thể quân dân VNCH, từ trên đến dưới, một lòng cương quyết bảo vệ lãnh thổ của tổ quốc kính yêu.

Ngày 17-01-1974, trước những tin tức về việc các chiến hạm Trung Quốc hăm dọa quần đảo Hoàng Sa, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đến thăm Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng I Chiến Thuật, đã chỉ thị cho vị Tư lệnh HQ Vùng I là Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, chuẩn bị chiến đấu để bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ.

Trong trận chiến nầy, Hải quân VNCH đã gây thiệt hại nặng nề cho hạm đội Trung Quốc, nhưng ngược lại, hạm đội Trung Quốc cũng gây thiệt hại không ít cho Hải Quân VNCH. Chiếc tàu bị thiệt hại nặng nhất về phía chúng ta là Hộ tống hạm HQ10 do thiếu tá Ngụy Văn Thà chỉ huy.

Hộ tống hạm HQ10 bị trúng đạn ở phòng máy chánh và bị nghiêng về bên phải. Phòng chỉ huy cũng bị trúng đạn. Cả chỉ huy trưởng cùng chỉ huy phó đều bị thương. Biết tình trạng chiếc tàu không thể cứu vãn, chỉ huy trưởng Ngụy Văn Thà ra lệnh cho chỉ huy phó Nguyễn Thành Trí và thủy thủ đoàn còn lại phải đào thoát. Toàn bộ thủy thủ đoàn yêu cầu chỉ huy trưởng cùng rời tàu luôn, nhưng Ngụy Văn Thà từ chối Ông cương quyết ở lại chết theo tàu. Nguyễn Thành Trí xin ở lại với chỉ huy trưởng, cũng không được chấp thuận.

Ngụy Văn Thà ở lại biển Đông, hy sinh thân mạng đền nợ nước, là một anh hùng dân tộc, tiếp nối truyền thống hào hùng của Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản… Sự hy sinh của anh em Hải quân VNCH ở Hoàng Sa ngày 19-01-1974 càng ngày càng thêm sáng ngời, nổi bật trước sự hèn nhát của nhà cầm quyền và bộ đội CSVN, hiện đang để cho Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải, mà chẳng dám lên tiếng.

2.- VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Trước tin Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, nhà nước Bắc Việt, đảng Lao Động tức đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) và quân đội CSVN, thường tự mệnh danh là “quân đội nhân dân anh hùng, chiến thắng cùng một lúc hai đế quốc sừng sỏ là Pháp và Mỹ”, đã hoàn toàn im lặng mà không dám lên tiếng.

Sở dĩ CSVN không dám lên tiếng vì từ năm 1950, Hồ Chí Minh đã nhiều lần sang Trung Quốc cầu viện để chống Pháp. Đảng Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) đã hết sức giúp đỡ CSVN. Trung Quốc giúp đỡ CSVN không phải vì tình nghĩa quốc tế cộng sản, mà chính vì để bảo vệ nền an ninh biên giới phía nam của Trung Quốc. Đảng CSTQ ào ạt viện trợ cho CSVN từ 1950 đến 1954. Viện trợ nhiều mà không có điều kiện để trả, thì chỉ còn cách duy nhất là nhượng bộ về chính trị, về giao dịch, về lãnh thổ…

Hiệp định Genève ký kết ngày 20-7-1954, chia hai nước Việt Nam tại vĩ tuyến 17, CSVN ở phía bắc và Quốc Gia Việt Nam (QGVN) ở phía nam. (QGVN đổi thành VNCH sau cuộc trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955.) Vì chủ trương đánh chiếm miền Nam bằng võ lực, CSBV cương quyết từ chối đề nghị của Liên Xô năm 1957, theo đó cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam cùng vào Liên Hiệp Quốc như hai nước riêng biệt

Ở Bắc Việt, ngày 24-5-1958, Ban bí thư Trung ương đảng Lao Động chỉ thị tổ chức học tập chủ thuyết Mác-Lê để xây dựng miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa và tiến hành cách mạng ở miền Nam. Muốn tiến đánh miền Nam thì một lần nữa phải nhờ đến sự trợ giúp của Trung Quốc.

Vay nợ Trung Quốc từ năm 1950 chưa trả hết, nay CSVN một lần nữa lại muốn nhờ Trung Quốc tiếp tục giúp đỡ để tấn công VNCH, bành trướng thế lực cộng sản xuống phía Nam. Đây là hai lý do chính khiến thủ tướng CSVN là Phạm Văn Đồng đưa ra công hàm ngày 14-9-1958, tán thành quyết định về lãnh hải của Trung Quốc và triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Phạm Văn Đồng ký công hàm trên phải được sự đồng ý của Hồ Chí Minh và bộ chính trị đảng Lao Động lúc đó. Quyết định nầy sẽ tạo ra những hậu quả không lường trước được.

Điểm sai lầm chiến lược lớn lao nhất, trở thành tội phản quốc, rước voi về giày mộ tổ, là CSVN đã dựa vào Trung Quốc để đánh miền Nam, viện cớ “chống Mỹ cứu nước”. “Chống Mỹ cứu nước” chỉ là cái cớ để kích động lòng dân. Tuy nhiên, riêng cái cớ nầy cũng đã sai lầm. Trong lịch sử Việt Nam, Trung Quốc đã nhiều lần xâm lăng Việt Nam. Vào thế kỷ 15, nhà Minh chẳng những xâm lăng nước ta, mà còn muốn tiêu diệt toàn bộ nền văn hóa của chúng ta, đốt hoặc tịch thu sách vở, bắt bớ nhân tài, đập phá các bia đá… Ngược lại, trong lịch sử thế giới, sau thế chiến thứ hai, những nước bị bại trận trước Hoa Kỳ đều được Hoa Kỳ viện trợ, giúp đỡ tái thiết, và đều trở nên cường thịnh: Đức, Nhật Bản, Nam Hàn… Giữa tăm tối và ánh sáng, giữa đói nghèo và thịnh vượng, CSVN đã đi vào con đường tăm tối đói nghèo, như thi sĩ Nguyễn Du đã viết: “Ma đưa lối, quỷ đem đường, / Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.” (Kiều, câu 2665-2666).

Ngoài ra, cần chú ý rằng người Tây phương đến Việt Nam thường sẽ ra đi, vì văn hóa, phong thổ, khí hậu, đời sống người Tây phương khác hẳn với Việt Nam, nên rất ít người Tây phương chịu ở lại Việt Nam. Ngược lại, Trung Quốc ở sát nước ta, phong thổ, khí hậu, văn hóa, văn minh, đời sống gần giống người Việt Nam, nên một khi người Trung Quốc đến nước ta, thường sẵn sàng ở lại nước ta.

Nếu Bắc Việt và Nam Việt cùng vào Liên Hiệp Quốc theo đề nghị của Liên Xô năm 1957, thi đua xây dựng kinh tế, cùng nhau phát triển đất nước, thì không thể nào Trung Quốc tiến chiếm Hoàng Sa dễ dàng được. Đàng nầy, CSBV cố tình tiến đánh miền Nam, gây ra cuộc chiến, làm cho đất nước chia rẽ, điêu linh, yếu nghèo. Nam Việt bận chống lại Bắc Việt, bảo vệ nền tự do dân chủ ở miền Nam. Trung Quốc nhân cơ hội hai bên đánh nhau, và cơ hội Hoa Kỳ rút quân, liền bất ngờ đánh chiếm Hoàng Sa. Hoàng Sa tuy thuộc lãnh thổ của Nam Việt, nhưng cũng là lãnh thổ chung của Việt Nam, do cha ông người Việt để lại. Như thế, chính CSBV đã tạo điều kiện cho CSTQ tiến chiếm lãnh thổ Việt Nam. Có thể nói, đây là tội phản quốc hết sức lớn lao mà lịch sử không thể tha thứ được. Chính tội phản quốc nầy kéo theo những tội phản quốc về sau, khi CSVN ký các hiệp ước năm 1999 và 2000, nhượng đất (trong đó có thác Bản Giốc và ải Nam Quan) và nhượng biển trong vịnh Bắc Việt cho Trung Quốc.

3.- CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA

Việc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa có nhiều ý nghĩa quan trọng:

Các triều đại quân chủ trước đảng CSTQ, đã nhiều lần đem quân xâm lăng Việt Nam, tìm đường xuống Đông Nam Á, đều bị người Việt Nam đẩy lui. Sau trận hải chiến ngày 19-01-1974, Trung Quốc đã chiếm được hải đảo chiến lược Hoàng Sa. Đây là một chiến công lớn lao của đảng CSTQ, vì CSTQ đã làm được việc mà tổ tiên họ không làm được.

Trung Quốc đã đầu tư dài hạn trong chiến tranh Việt Nam, tích cực giúp đỡ CSVN từ 1950 đến 1954. Sau năm 1954, tuy biết rằng CSVN chẳng có gì để trả nợ, nhưng vì âm thầm nuôi dưỡng ý đồ đen tối, CSTQ vẫn tiếp tục giúp đỡ Bắc Việt từ 1954 đến 1973, là năm ký hiệp định Paris. Theo đúng thời điểm Hoa Kỳ vừa rút quân khỏi Việt Nam, CSTQ liền xiết đất bù nợ mà CSVN đã thiếu Trung Quốc bấy lâu nay. Bắc Việt đành phải im tiếng cho kẻ thù truyền kiếp phương bắc cưỡng chiếm lãnh thổ do tổ tiên để lại.

Đây cũng là chiến công đầu tiên của Trung Quốc sau khi Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc (LHQ) ngày 25-10-1971, quyết định chấp nhận cho CHNDTH thay thế Trung Hoa Dân Quốc trong tổ chức nầy. Từ ngày nầy, Trung Quốc là hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ, một trong ngũ cường có quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo an LHQ. Như thế, không phải khi đứng ngoài LHQ, Trung Quốc mới hung hăng, mà cả khi đứng trong LHQ, Trung Quốc cũng cường bạo không kém.

Chiếm được Hoàng Sa, CSTQ đặt được một đầu cầu để tiến xuống phía nam và vào biển Đông. Có lẽ cần để ý đến cách đặt địa danh của Trung Quốc trong Thái Bình Dương. Biển phía đông Việt Nam, Trung Quốc đặt tên là Biển Trung Quốc (Mer de Chine = China Sea). Biển và quần đảo Indonesia, Trung Quốc đặt tên là Nam Dương Quần Đảo, tức là quần đảo trong biển phía nam của Trung Quốc. Như thế Trung Quốc muốn chứng tỏ rằng vùng biển nầy là của Trung Quốc. Từ lâu, Trung Quốc khao khát tìm đường xuống phía nam.

Vùng biển nầy lại hứa hẹn nhiều tiềm năng về dầu hỏa dưới lòng biển, mà nhiều nước trên thế giới và cả các nước Đông Nam Á đang dòm ngó, nhất là từ khi các hảng dầu khí của Hoa Kỳ tuyên bố tìm thấy nhiên liệu quý hiếm nầy ở thềm lục địa Việt Nam từ năm 1973. Dầu hỏa là nhiên liệu chiến lược mà tất cả các nước phát triển trên thế giới đều cần đến. Các nước Tây phương đã khai thác, mua bán dầu ở Trung Đông và Nam Mỹ, trong khi Trung Quốc phát triển sau các nước Tây phương, đang rất cần dầu hỏa cho nền kỹ nghệ của Trung Quốc.

Vì vậy, khi Hoa Kỳ quyết định rút lui khỏi Việt Nam, Trung Quốc liền chụp lấy cơ hội để đánh chiếm Hoàng Sa, mở đường vào biển Đông.

4.- HOA KỲ

Từ khi đảng CSTH thành công và thành lập chế độ CHNDTH năm 1949, người Hoa Kỳ rất lo ngại sự bành trướng của cộng sản. Từ tháng 1-1950, thượng nghị sĩ Joseph Raymond McCarthy (1908-1957), thuộc đảng Cộng Hòa, tiểu bang Wisconsin, phát động chiến dịch tố cộng, thịnh hành đến nỗi người ta gọi là chủ thuyết Carthyism.

Hoa Kỳ bắt đầu can thiệp vào Đông Dương để chận đứng làn sóng cộng sản, công nhận chính thể Quốc Gia Việt Nam (QGVN) do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu ngày 4-2-1950. Từ đó, Hoa Kỳ viện trợ càng ngày càng nhiều cho Đông Dương qua tay người Pháp.

Sau hiệp định Genève ngày 20-7-1954, Hoa Kỳ thay chân Pháp ở Việt Nam, giúp chính phủ QGVN rồi VNCH xây dựng miền Nam thành một quốc gia mạnh mẽ để chống cộng. Do sự hiện diện của đoàn cố vấn Hoa Kỳ, Bắc Việt đưa ra khẩu hiệu “chống Mỹ cứu nước”, tiến đánh miền Nam.

Từ thập niên 60, trong khi Bắc Việt mở cuộc chiến tranh xâm lăng miền Nam, Hoa Kỳ càng ngày càng tăng viện cho Nam Việt, nhưng đồng thời Hoa Kỳ bắt đầu nhận ra rằng CSQT không phải là một khối thống nhất, mà giữa Liên Xô và Trung Quốc có nhiều chia rẽ, tranh chấp. Nếu Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ cho Nam Việt, hai nước Liên Xô và Trung Quốc sẽ tạm thời bắt tay nhau để cùng giúp Bắc Việt. Muốn cho hai nước Liên Xô và Trung Quốc không xích lại gần nhau, Hoa Kỳ cần phải thay đổi chiến lược, rút ra khỏi Việt Nam, kiếm cách bắt tay với Trung Quốc để gây chia rẽ giữa hai cường quốc cộng sản Nga Hoa.

Sự giao thiệp giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc bắt đầu bằng cuộc giao đấu bóng bàn hữu nghị giữa hai đội bóng bàn Hoa Kỳ và Trung Quốc ngày 14-4-1971 tại Nhân Dân Đại Sảnh Đường Bắc Kinh do thủ tướng Trung Quốc là Chu Ân Lai chủ tọa. Ba tháng sau, Henry Kissinger, cố vấn An ninh quốc gia của tổng thống Richard Nixon, bất ngờ đến Bắc Kinh gặp Chu Ân Lai ngày 9-7-1971.

Sự liên lạc giữa hai bên đưa đến kết quả ngày 25-10-1971, Đại hội đồng lần thứ 26 của Liên Hiệp Quốc chấp nhận CHNDTH thay thế Trung Hoa Dân Quốc (THDQ) giữ ghế đại biểu của Trung Quốc, mà không gặp phản ứng phủ quyết của Hoa Kỳ. Như thế, vì quyền lợi của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh lâu năm là THDQ.

Tuy chưa chính thức công nhận CHNDTH, nhưng cuộc viếng thăm Bắc Kinh của tổng thống Richard Nixon bắt đầu từ ngày 21-2-1972, mặc nhiên chính thức hóa cuộc bang giao giữa hai nước. Từ đây, hai nước bắt đầu mở Văn phòng liên lạc tại thủ đô hai bên.

Sau đó, trong cuộc gặp gỡ tại Bắc Kinh ngày 22-6-1972, Henry Kissinger, cố vấn An ninh Quốc gia của tổng thống Nixon, đã nói với ngoại trưỏng Trung Quốc là Chu Ân Lai rằng Hoa Kỳ có thể sống với một chính quyền cộng sản tại Trung Quốc, thì Hoa Kỳ cũng chấp nhận điều đó ở Đông Dưong.

Hoa Kỳ thương thuyết với Bắc Việt và ký hiệp định Paris ngày 27-01-1973, đơn phương rút quân khỏi Việt Nam, mà lực lượng CSBV vẫn còn chiếm đóng lãnh thổ Nam Việt. Sau hiệp định Paris, Hoa Kỳ giảm viện trợ rồi cuối cùng cắt hẳn viện trợ cho Nam Việt (VNCH), trong khi CSQT tiếp tục tăng thêm viện trợ cho Bắc Việt để Bắc Việt tăng cường tấn công Nam Việt.

Đang lúc tình hình đang rất khó khăn cho Nam Việt, Trung Quốc đưa hạm đội đánh chiếm Hoàng Sa. Đương nhiên Hoa Kỳ, với những phương tiện thám thính khoa học không gian dư biết việc chuyển quân trên biển của Trung Quốc, nhưng Hoa Kỳ làm ngơ, hoàn toàn không giúp đỡ gì VNCH, để làm vui lòng người bạn mới giao thiệp là CHNDTH. Có tài liệu cho biết thêm rằng tàu chiến Hoa Kỳ đang di chuyển gần hải đảo Hoàng Sa, cũng không can thiệp giúp đỡ những binh sĩ VNCH đang lâm nạn trên biển cả.

Năm 1971, Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh Trung Hoa Dân Quốc tại LHQ. Sau năm 1973, Hoa Kỳ bỏ rơi tiếp đồng minh VNCH, mà một thời Hoa Kỳ đã từng ca ngợi là tiền đồn chống cộng của thế giới tự do.

KẾT LUẬN

Ca dao Việt Nam có câu: “Khôn ngoan đối đáp người ngoài,/ Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.”. Chính vì CSVN khôn nhà dại chợ, vì tham vọng quyền lực, quyết chí tấn công miền Nam, làm tiêu hao tổng lực dân tộc, nên Trung Quốc mới thừa cơ chiếm được hải đảo Hoàng Sa, làm bàn đạp để tiến xuống phía Nam.

Thứ đến là các thế lực bên ngoài, dầu Cộng sản Quốc tế hay Tư bản Quốc tế, đến Việt Nam đều vì quyền lợi của nước họ, chứ chẳng có chuyện tình nghĩa xã hội chủ nghĩa và cũng chẳng có chuyện thương yêu gì dân tộc Việt Nam. Cũng cần lưu ý thêm rằng tư bản và cộng sản là hai thế lực tương khắc nhưng tương sinh. Vì có cộng sản, tư bản Hoa Kỳ mới đến Việt Nam. Vì có tư bản Hoa Kỳ đến Việt Nam, cộng sản Bắc Việt mới nhờ cộng sản Trung Quốc đánh miền Nam. Khi tư bản Hoa Kỳ vừa quay lưng đi thì CSTQ nhào vào, chiếm liền hải đảo của chúng ta. Chẳng có người nước ngoài nào thương yêu dân tộc chúng ta. Nếu người Việt Nam mà cũng không thương yêu dân tộc mình thì càng tệ hại hơn nữa.

Ngày 19-01-1974, CSTQ đặt chân đến Hoàng Sa. Đây mới chỉ là bước đầu để CSTQ tiến vào biển Đông. Chắc chắn CSTQ sẽ còn tiến xa hơn nữa. Nếu một ngày kia, CSTQ trang bị thêm nhiều hàng không mẫu hạm, nhất là hàng không mẫu hạm chạy bằng nguyên tử lực, thì chắc chắn biển Đông sẽ dậy sóng, làm chấn động chẳng những các nước Đông Nam Á mà cả các nước trên thế giới.

Cuối cùng, sau khi “chống Mỹ cứu nước”, tiêu hao hàng triệu sinh mệnh của thanh niên và đồng bào toàn quốc, lại mất đất mất biển vào tay Trung Quốc, chắc chắn CSVN đã ngộ ra được hai điều: Thứ nhất CSTQ hành động hoàn toàn theo quyền lợi Trung Quốc, không có chuyện tình nghĩa xã hội chủ nghĩa anh em, và sẵn sàng chiếm đất chiếm biển của nước ta. Thứ hai, nếu muốn Việt Nam tiến bộ thì phải hướng về Mỹ, nên sau năm 1975, CSVN tìm tất cả các cách để được Mỹ thừa nhận và giúp đỡ. Khi rước Mỹ “cứu nước”, đảng CSVN xem như tự thú nhận là đã sai lầm trong quá khứ, một sai lầm đã giết hại hàng triệu sinh linh vô tội. Một đảng cầm quyền sai lầm trầm trọng như thế, không đáng tin cậy để tiếp tục cầm quyền.

Trở về với trận hải chiến Hoàng Sa, nhân kỷ niệm ngày 19-01-1974, xin tất cả người Việt Nam hãy cùng nhau thắp nén hương lòng, tưởng nhớ sự hy sinh cao cả của cố trung tá Ngụy Văn Thà và các đồng đội của ông, đã anh dũng chiến đấu chống quân Trung Quốc xâm lược, bảo vệ non sông gấm vóc do tổ tiên để lại. Sự hy sinh của Ngụy Văn Thà và đồng đội trong trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19-01-1974 là thiên anh hùng ca bất tử, mãi mãi vang vọng như nhạc hồn đất nước trong lịch sử hào hùng bất khuất của dân tộc Việt Nam.

Toronto, 19-01-2009


© Trần Gia Phụng

Wednesday, January 13, 2010

Thêm một hy vọng hòa giải đã qua

VietCatholic News (13 Jan 2010 12:03)
Lại một lần nữa những người con Đất Việt, ít nhất là những người Công giáo Việt Nam, đau nhói trong tim vì câu chuyện Đồng Chiêm không đáng có vừa được viết trên mảnh đất Quê hương khi mà thế giới vừa bước sang năm 2010 với biết bao niềm hy vọng về một thế giới tốt đẹp hơn. Mọi người mơ về một thế giới tốt đẹp hơn trong đó tình liên đới, tình huynh đệ, tình yêu thăng tiến; mọi người mơ về một thế giới trong đó mọi người biết tôn trọng nhau. Thật cay đắng khi phải nghe lời nhận định của linh mục Pascal Nguyễn Ngọc Tĩnh: Những chuyện đã và đang xảy ra tại Việt Nam (đàn áp, dối trá, lừa đảo của nhà cầm quyền) là chuyện bình thường!

Phải chăng những chiến dịch đánh úp, áp bức, dùng người vô tội đánh người vô tội (thực ra nhóm « dân quân tự phát » cũng chỉ là những nạn nhân) thuộc bản chất của chế độ chính trị hiện nay tại Việt Nam?

Chúng ta vừa trải qua một năm 2009 đầy đen tối với những cách hành xử của các «chính trị gia» Việt Nam qua các sự kiện: Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, Tam Tòa, Loan Lý, Bát Nhã. Ngoài ra chúng ta còn phải kể tới sự thờ ơ của các nhà chức trách đối với những ngư dân khốn khổ bị những « người anh em » Trung cộng bắt ở Biển Đông và đòi tiền chuộc… ! Những ai hay biết về những gì đã xảy ra không thể không phẩn nộ! Nhiều nhà đấu tranh vì quyền con người đã lên tiếng cảnh tỉnh lương tâm mọi người, đặc biệt là lương tâm của các nhà cầm quyền, trên các diễn đàn khác nhau. Đây là hành động mạo hiểm cao quý của những con người dám sống cho người khác và xem người khác cũng là chính mình (Paul Ricoeur).

Lẽ ra năm 2010 phải là một năm khác, một năm tơi sáng hơn trong lãnh vực kinh tế cũng như nhân văn. Chắc chắn tất cả chúng ta đều đã hy vọng như vậy. Nhưng chúng ta đã sai ? Những gì đang xảy ra ở Đồng Chiêm làm chúng ta thất vọng! Lại phải chờ thêm hy vọng mới ? Hy vọng cho tới bao giờ ? Có lẽ chúng ta sẽ còn phải chờ mãi cho tới khi những lương tâm con người thức tỉnh; chúng ta còn phải chờ đến khi con người nhận ra rằng người thân cận của ta không phải chỉ là những người ruột thịt, người đồng đảng. Nếu như chúng ta chỉ xem những người ruột thịt, đồng đảng mới là người lân cận của mình thì những người khác xem mình và con cháu mình là ai?

Chúng ta cũng còn phải đặt câu hỏi: lương tâm nào? Lương tâm thức tỉnh phải là lương tâm ngay thẳng, lương tâm biết phân biệt phải trái. Nhà tư tưởng người Đức, Dietrich Bonhoeffer viết: «Những người theo Đức quốc xã nói: lương tâm tôi là Hít-le». Bi kịch là những người này đã hành động theo lương tâm được đặt trên nền tảng tư tưởng Phát-xít. Thế giới hôm nay nói chung và những người Âu châu nói riêng hổ thẹn đối với vết đen không thể tẩy xóa do Đức quốc xã gây ra trong lịch sử của nhân loại. Hy vọng lịch sử không lặp lại trên bất cứ miền đất nào của thế giới chúng ta!
Trần Khuê

Monday, January 11, 2010

60 năm quan hệ Việt- Trung : Việt Nam vẫn phải cảnh giác với âm mưu bành trướng của Bắc Kinh

Trích RFI
Thanh Phương

Ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ (DR)

Ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ (DR)

Trong năm 2010 hai nước Việt Nam và Trung Quốc sẽ kỷ niệm 60 năm ngày thiết lập bang giao với nhiều hoạt động, trong đó có những chuyến viếng thăm cấp cao, trao đổi các đoàn quân đội.

Quan hệ Việt Trung đã được tổng bí thư Giang Trạch Dân đề nghị là nên theo tinh thần '' 4 tốt '': láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt. Mối quan hệ này đã được tổng bí thư của hai Đảng nâng lên thành ''quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện''.

Lãnh đạo của hai bên còn thường xuyên nhắc đến phương châm 16 chữ vàng: '' láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai''.

Nhưng trên thực tế, quan hệ Việt Trung vẫn là quan hệ giữa kẻ lớn ăn hiếp kẻ nhỏ và trước thái độ này, giới lãnh đạo Việt Nam cho tới nay vẫn chưa tìm được một cách ứng xử sao cho không gây hiềm khích với láng giềng phương Bắc, nhưng vẫn bảo vệ được chủ quyền của đất nước, đặc biệt là trên vùng biển Đông.

Ngay trong những ngày cuối năm 2009, từ phía Trung Quốc đã có những hành động nhằm khẳng định chủ quyền trên biển Đông ( mà họ gọi là biển Hoa Nam ).

Ngày 26/12, Uỷ ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc thông qua Luật bảo vệ hải đảo, có giá trị pháp đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tiếp đến, ngày 31/12, Quốc vụ Viện của Trung Quốc đã công bố những ý kiến về việc xây dựng đảo du lịch quốc tế Hải Nam, trong đó có việc thúc đẩy phát triển du lịch tại quần đảo Hoàng Sa. Cả hai lần, qua lời phát ngôn viên Bộ Ngoại giao, Việt Nam đều lên tiếng phản đối.

Nhưng trong năm qua, điều làm cho dư luận Việt Nam trong và ngoài nước phẩn nộ nhất, đó là các vụ Trung Quốc bắt giữ ngư dân Việt Nam, tịch thu tài sản, hải sản và thậm chí còn đánh đập họ, đặc biệt là vụ xảy ra trong hai ngày 7 và 8/12.

Những vụ này đã được báo chí Việt Nam loan tải rộng rãi. Vài ngày sau đó, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trao công hàm cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội yêu cầu phía Bắc Kinh chấm dứt bắt giữ ngư dân.

Trả lời báo chí Việt Nam ngày 6/1 vừa qua, đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội Tôn Quốc Tường đã bác bỏ những thông tin của báo chí Việt Nam về những vụ bắt giữ và ngược đãi ngư dân, khẳng định là Trung Quốc đã '' đối xử nhân đạo, trách nhiệm '' với ngư dân Việt Nam. Trong cuộc họp báo này, đại sứ Trung Quốc còn đề nghị tạm gác tranh chấp chủ quyền trên biển Đông, chờ đến khi '' điều kiện chín mùi '' mới giải quyết.

Những tuyên bố nói trên đã gây nhiều phản ứng trong nước, trong đó có giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.

Trả lời phỏng vấn RFI, giáo sư Tương Lai đặc biệt nhấn mạnh là 60 năm sau khi hai nước thiết lập bang giao, Việt Nam vẫn phải cảnh giác với mưu đồ bành trướng của Bắc Kinh.


Sunday, January 10, 2010

Độ nóng vụ thánh giá Đồng Chiêm

Trích BBC Vietnamse

Hình của dcctvn.net

Giáo dân trước cảnh sát cơ động vào hạ thánh giá ở Đồng Chiêm

Văn phòng Tòa Tổng Giám mục Hà Nội ra thông báo lên án vụ "triệt hạ Thánh Giá" ở Đồng Chiêm trong khi một báo nhà nước phản bác điều họ cho là "luận điệu xấu độc".

Vụ xô xát sáng 6/1 vừa qua tại Mỹ Đức, Hà Nội đã được báo chí nước ngoài chú ý trong khi một số trang web Công giáo tiếng Việt nhắc lại chuyến thăm Vatican của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết để cho rằng không có hy vọng gì cho quan hệ tốt đẹp với chính quyền vào Năm Thánh.

Thông báo của Văn phòng Tòa Tổng Giám mục Hà Nội do Linh mục Gioan Lê Trọng Cung ký và đăng trên các trang mạng 7/1 gọi vụ phá cây thánh giá trên Núi Thờ (còn gọi là Núi Chẽ) hôm trước đó là "xúc phạm đến biểu tượng thánh thiêng nhất của Giáo Hội".

Tranh chấp về lý lẽ

"Đánh đập tàn nhẫn những người dân vô tội và vô phương tự vệ là một hành động dã man vô nhân đạo xúc phạm trầm trọng đến phẩm giá con ngưòi. Đây là hành vi thô bạo đáng bị lên án!"

Tại sao, để phá cây Thánh Giá được làm nên chỉ tốn mươi triệu đồng và một số công sức giáo dân...nhà cầm quyền Hà Nội đã phải huy động đến cả tiểu đoàn Cảnh sát Cơ động từ cách sáu bảy chục km?

JB Nguyễn Hữu Vinh

Đáp lại, báo Hà Nội Mới bản điện tử có bài "Đừng trượt sâu vào con đường sai lầm" hôm nay 8/1 phê phán trực diện Linh mục chính xứ Đồng Chiêm Nguyễn Văn Hữu.

Bằng lời lẽ rất mạnh, báo này tấn công cả các luận điểm đăng trên trang web Chúa Cứu Thế (chuacuuthe) của Công giáo và kết nối vụ Đồng Chiêm với những vụ tranh chấp, xô xát trước:

"Cho dù có bịa đặt, bóp méo như thế nào thì những luận điệu đó cũng không thể đánh lừa được dư luận, bởi chân tướng của những kẻ tung ra các luận điệu xấu độc này đã tự phơi bày từ lâu qua những vụ việc như ở Nhà Chung, Thái Hà, Tam Tòa..."

Đặc biệt, đây là lần thứ ba trên địa bàn Hà Nội mấy năm qua đã nổi lên với các vụ tranh chấp giữa chính quyền địa phương và khối giáo dân Công giáo, liên quan đến đất đai và những vị trí mang tính biểu tượng của đạo này.

Sau các vụ Nhà Chung và Thái Hà cũng tại Hà Nội không khí tưởng đã giảm độ căng thẳng, nhất là sau khi Vatican có những cử chỉ ngoại giao và Chủ tịch Việt Nam, ông Nguyễn Minh Triết đến thăm và được Đức Giáo hoàng Benedict XVI tiếp tháng 12 vừa qua.

Nhưng với vụ Đồng Chiêm, độ nóng cả ở thực địa và trên các trang mạng hai bên đột ngột lên cao.

Phía Công giáo tố cáo chính quyền cửa lực lượng an ninh hùng hậu vào dỡ đi một cây thánh giá họ dựng trên ngọn núi vốn là một nghĩa trang trẻ em mà người Công giáo nói là của họ từ nhiều thập niên.

Các bức hình và video đăng trên những mạng Công giáo cho thấy một số giáo dân bị đánh đập tàn bạo, máu me đầy mặt, và có một hai người bị cho là "thương nặng".

Chủ tịch Nguyễn Minh Triết thăm Vatican và được Đức Giáo hoàng Benedict XVI tiếp

Ngược lại, vẫn theo Hà Nội Mới thì "Sáng 6-1, khi chính quyền xã An Phú và thôn Đồng Chiêm tổ chức cho công nhân tháo dỡ an toàn công trình xây dựng trái phép trên đỉnh núi Chẽ, linh mục Nguyễn Văn Hữu đã kích động một số giáo dân ra hiện trường chửi bới, lăng mạ, ném gạch đá vào lực lượng bảo vệ."

Vẫn tờ báo thuộc thành phố Hà Nội này cho rằng:

"Sau đó, do được các lực lượng chức năng vận động, thuyết phục, những giáo dân này đã giải tán. Vậy thì, làm gì có cảnh "đang tay đánh đập các giáo dân" như Chuacuuthe đã bịa đặt, vu cáo."

Còn trên trang VietCatholic từ Hoa Kỳ có bài của JB. Nguyễn Hữu Vinh từ Hà Nội đặt câu hỏi:

"Người ta không hiểu tại sao, một cây Thánh Giá trên nghĩa địa của giáo dân ở một vùng xa xôi hẻo lánh, sống ngâm da chết ngâm xương như ở Đồng Chiêm lại được nhà cầm quyền Hà Nội quan tâm đến thế?"

Các bài trên trang này cho rằng ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội đã có động tác trái ngược với những gì Chủ tịch Nguyễn Minh Triết nói với Giáo hội tại Vatican.

Hà Tây, trước khi về Hà Nội cũng là địa phương có ông Nguyễn Đức Nhanh, phụ trách ngành công an, người sau đã đóng vai trò quan trọng trong việc xử lý vụ Nhà Chung và Thái Hà khi lên chức Giám đốc Công an Hà Nội.

Nhìn rộng ra, sự việc xảy ra ngay đầu Bấm Năm Thánh 2010 đặt câu hỏi về chuyện còn nữa hay không hy vọng từng cao tới mức giới bình luận quốc tế từng nghĩ Việt Nam sẽ sớm bình thường hóa quan hệ ngoại giáo với Tòa Thánh.

Cho tới chiều 8/1 giờ Việt Nam chưa thấy các cấp lãnh đạo Hà Nội hoặc trung ương tại Việt Nam chính thức phát biểu gì về vụ việc.

Hiện nay ngoài các báo của Công giáo bằng nhiều ngôn ngữ trên thế giới, các đài nước ngoài bằng tiếng Việt và các trang tin tiếng Anh của Hoa Kỳ (AP), Úc (Sydney Herald Tribune) cũng đã đưa tin về vụ Đồng Chiêm.

Máu của đồng bào tôi đã đổ

Máu của đồng bào tôi đã đổ
Cường quyền dùng bạo lực đàn áp giáo dân
Những nỗi đắng cay, những oan trái nhọc nhằn
Đã đổ xuống vùng Đồng Chiêm, Hà Nội

Người giáo dân hiền hòa không tấc sắt
Đứng dàn hàng trước bạo lực dã man
Bọn đầu trâu công an dùng gậy gộc, roi điện, dùi cui...
Tấn công đồng bào như một bầy quỷ dữ

Ôi tội ác của bè lũ bất nhân đốn mạt
Là không thể nào chấp nhận, thứ tha
Những giọt máu người dân đổ xuống hôm nay
Sẽ bùng lên ngọn lửa để đốt thiêu cường quyền tàn bạo

Phi Vũ
01/06/10

Wednesday, January 6, 2010

Vành khăn tang Đồng Chiêm – chứng kiến và ngẫm suy

Hãy đọc bài này và nhìn thấy sự đốn mạt của Cộng Sản Việt Nam

VietCatholic News (06 Jan 2010 15:03)
Cái lạnh đang dần rút lui, nhường bước cho Chúa Xuân viếng thăm trần thế. Đây đó đã thoang thoảng mùi hương trầm...tất cả dường như đang rất bình yên. Nhưng, phải chăng đó là cái bình yên giả tạo để che dấu trong nó là những cõi lòng đang trăn trở, hoang mang... Bởi vì, một vùng trời quê đang nhuốm màu tang thương, Đồng Chiêm!

Hai giờ sáng, ngày 06 tháng 1 năm 2010., hàng trăm cảnh sát ồ ạt kéo lên núi.

Canh cho dân ngủ ư? Hay bắt trộm?

Không, cảnh sát đi phá Thánh Giá!

Có mỗi việc phá Thánh Giá bằng xi măng mà cũng cần huy động lực lượng đông đến thế ư?

Phải đông chứ! Cảnh sát luôn biết Thánh Giá là biểu tượng thánh thiêng của người Công giáo. Xúc phạm Thánh Giá là xúc phạm đến hàng triệu con người mang trong mình niềm tin vào Chúa. Thì đó, hay tin Thánh Giá bị triệt hạ, hàng nghìn giáo dân Đồng Chiêm đứng lên bảo vệ. Nhưng, những người dân tay không làm sao có thể giữ được thứ mà họ cho là quý báu, họ tôn thờ khi mà người giành giật Thập Giá Chúa với họ là những police, CSCD(cảnh sát cơ động) có trang bị cả dùi cui, chó săn, súng, lựu đạn... Thế mới có cảnh những cụ già, những người phụ nữ bê bết máu, nằm còng queo trên đất, những gương mặt mếu máo của trẻ thơ, những ánh mắt thất thần, hoảng loạn...Bình yên ư?

Trước súng đạn của cảnh sát, những người dân hiền hành chỉ biết cầu nguyện, tín thác. Chúa có đang nghe họ khẩn xin? Người có đang đứng cạnh họ, nhìn họ? Đau thương thay khi nhìn cả một không gian rợp màu khăn tang. Họ để tang ai? Để tang Thánh Giá vừa bị đốn ngã? Hay một lần nữa, họ để tang Chúa Giê-su của họ? Thánh Giá xi măng vừa sụp đổ, Thánh Giá bằng tre được dưng lên. Thánh Giá trong lòng mỗi người có đang nghiêng ngã?

Cảnh sát làm gì cũng nhanh, gọn. Họ thi hành mệnh lệnh như người máy, như công cụ vô tri. Có chút xót thương nào không khi họ đang tay đánh đập người dân, những đồng loại của họ? Thánh Giá bị đốn ngã rồi, rút lui hết, không còn bóng dáng một ai. Chỉ còn đó những người dân ngơ ngác, tội nghiệp, có người còn chưa hiểu chuyện gì, chạy qua chạy lại hỏi “tại sao?”. Ừ, tại sao nhỉ? Có ai nói cho đâu mà biết.

Tất cả đều rất bất ngờ, chóng vánh. Mới đó thôi, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đích thân sang Vatican thăm Đức Thánh Cha. Niềm hi vọng, trông đợi lớn lao nơi triệu triệu con tim đặt vào cuộc gặp gỡ này. Bên cạnh đó là những lời giáo huấn của Đức Thánh Cha gởi Giáo hội Việt Nam. Rồi cả sự kiện khai mạc Năm thánh – năm hòa bình, hòa giải. Những sự kiện dường như hứa hẹn rất nhiều. Thế rồi, lúc bà con Đồng Chiêm dựng Thánh Giá, chính quyền chỉ đến xem. Tò mò chăng, hay đang suy tính điều gì? Bất thình lình đến phá, quả là trở tay không kịp.

Chứng kiến hành vi ấy, mấy ai không khỏi chua xót, thất vọng? Mỗi người dân có lương tri trước cảnh đau thương đều muốn sẻ chia, đồng cảm. Chia sẻ với bà con Đồng Chiêm sao đây? Phận nhỏ chỉ biết nguyện cầu, phó thác. Tin tưởng Chúa luôn nhìn xem chúng con, tin tưởng Chúa luôn bênh vực, nâng đỡ chúng con trong mọi cảnh huống. Xin Chúa cho đoàn con luôn khôn ngoan, mạnh sức để giữ vững đức tin của mình.
Têrêxa Hồng Xoan

Tuesday, January 5, 2010

VN muốn TQ không du lịch tới Hoàng Sa

Trích BBC Vietnamese

Bản đồ Biển Đông, nơi đang có các tranh chấp lãnh hải

Hà Nội đã lên tiếng đề nghị Trung Quốc ngưng các hoạt động du lịch tại đảo Hoàng Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền lãnh hải.

Tuyên bố được đưa ra theo sau việc quốc hội Trung Quốc công bố tài liệu về phát triển du lịch ở đảo Hải Nam bao gồm cả Hoàng Sa.

Hôm 4/1/2010, bà Nguyễn Phương Nga đã trả lời câu hỏi của phóng viên về vấn đề này và nói:

"Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

"Việc làm nêu trên của phía Trung Quốc là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, đi ngược lại nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, gây căng thẳng và làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Đông.

"Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay hoạt động này."

Việc làm nêu trên của phía Trung Quốc là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam

Bà Nguyễn Phương Nga

'Trước sau như một'

Trước đây Việt Nam cũng đã từng phản đối hoạt động du lịch của Trung Quốc ở Hoàng Sa.

Hồi tháng 3/2009, Công ty du lịch quốc tế Châu Giang của Trung Quốc đã mở tour du lịch ra đảo Vĩnh Hưng (Việt Nam gọi là Phú Lâm) thuộc quần đảo Tây Sa mà Việt Nam gọi là Hoàng Sa.

Hai đảo Phú Hưng và Đảo Cây (Triệu Thuật theo tiếng Trung) cũng là nơi Trung Quốc từng tạm giữ ngư dân Việt Nam bị họ bắt vì điều mà họ gọi là "vi phạm lãnh hải."

Dưới triều Nguyễn, Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi nhưng nay thuộc sự quản lý của thành phố Đà Nẵng.

Hồi tháng Tư năm 2009, Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng công bố quyết định bổ nhiệm trực tiếp chủ tịch của tám quận huyện, trong đó có huyện Hoàng Sa.

Ba ngày sau, Trung Quốc cực lực phản đối, gọi việc bổ nhiệm này là "bất hợp pháp và không có giá trị".

Trước đây chính phủ Việt Nam Cộng hòa đặt Hoàng Sa dưới sự quản lý của tỉnh Quảng Nam.

Trung Quốc đã chiếm hoàn toàn Hoàng Sa sau trận thủy chiến ngày 19/01/1974 với hải quân Việt Nam Cộng hòa và từ đó, vấn đề Hoàng Sa đối với Bắc Kinh đã "không còn tranh cãi".

Tuy nhiên Việt Nam vẫn duy trì tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này và khẳng định "trước sau như một, Việt Nam chủ trương giải quyết các bất đồng thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng Luật pháp quốc tế và thực tiễn quốc tế...nhằm giữ gìn hòa bình và ổn định trên Biển Đông và khu vực."

Bấm Bấm vào đây để xem ý kiến độc giả.

Monday, January 4, 2010

Câu chuyện cảm động

Nhân vào trang web Văn Tuyển và đọc được câu chuyện cảm động. Xin phép được đăng vào blog. Cám ơn.

MỘT CHUYỆN CÓ THẬT

» Tác giả: Phạm Tín An Ninh

1. MỘT CHUYỆN CÓ THẬT


Những năm "cải tạo"ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi,...nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đã có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi. Sau đó, tôi được chuyển về trại 6/ Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn. Ngày nhập trại, sau khi "biên chế" xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái láng lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ "đồng chí cán bộ quản giáo" đến tiếp nhận.Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào láng. Điều trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta chỉ còn một cánh tay. Môt nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ : - Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ ?.


Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi , miệng nở nụ cười. Nhìn khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu. Bằng một giọng đặt sệt Nghệ Tỉnh, anh quản giáo giới thiệu tên mình:


Nguyễn văn Thà, rồi "báo cáo" môt số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội trưởng một tập vở học trò, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm bản "lý lịch trích ngang". Tôi đang ngồi hý hoáy viết cái bản kê khai lý lịch ba đời với bao nhiêu thứ "tội" dưới biển trên trời mà tôi đã thuộc lòng từ lâu lắm - bởi đã phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm - bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:


- Trong này có anh nào thuộc Sư Đoàn 23?


Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng:


- Thưa cán bộ, có tôi ạ,.


- Anh ở trung đoàn mấy


- Trung Đoàn 44


- Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?


- Vâng, có ạ.


Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ còn cái tay áo đong đưa, lên:


- Tôi bị mất cánh tay này trong trận đó. Nhìn qua anh em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi. Để lấy lại bình tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ động:


- Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào ?


- Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư 320.


Anh quản giáo rảo mắt nhìn quanh, rồi hạ giọng tiếp tục:


- Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn tăng của tôi còn có 2 chiếc.. Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài, nhưng bị các anh bắt làm tù binh.


- Sau đó cán bộ được trao trả? Tôi hỏi.


- Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị. Nhờ vậy mà tôi còn sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê.


Dạo đó, miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm. Mỗi láng được đào một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em nhặt ngoài rừng, sau giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng uống sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm tình những chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố gắng giữ gìn sức khỏe, đừng làm điều gì sai phạm để không phải nghemấy ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói:


- Tôi rất đau lòng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết các anh đều là những người có trình độ văn hóa và ai cũng đã từng chỉ huy.


Mùa đông, không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một nguòi tù chỉ có một miếng bánh mì đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt. Phần thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều người đứng không vững.


Một buổi chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả thung lũng trại tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong láng, cố nhai từng hạt bắp cứng như viên sỏi, nhìn ra cánh đồng phía trước, thấp thoáng một người mang áo tơi (loại áo mưa kết bắng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi trời tối.


Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng :


- Tôi để một giỏ cá đàng sau láng. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết.


Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động. Biết là anh em tùbị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân , quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn còn nguyên; đào mấy cái bếp "Hoàng Cầm" để luột sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luột sắn ăn cho no.


Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh "chuẩn bị đi về", anh em tức khắc dấu hết "tang vật" xuống một cái hố đã đào sẵn.


Dường như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no -dù chỉ là no sắn-


Không biết tối hôm ấy, trong giờ "giao ban", quản giáo Thà đã báo cáo với ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi đã phát được bao nhiêu hecta rừng?


Mỗi lần ra bãi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ :


- Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt thì ta nghỉ. Nhớ giữ gìn sức khỏe, vì thời gian cải tạo còn dài lắm.


Vào một dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà ở lại với anh em. Số tiền lương vừa lãnh được, anh mua mấy bánh thuốc lào, vài ký kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều với anh em:


- Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đã chết. Vết thương quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một mình, không có thức ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được một đơn vị của Sư 23 các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận tình săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa tôi về bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy vòng, thì vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng.. Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt cả đêm.


Người chỉ huy hôm ấy là một anh rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh còn cho tôi nửa bao thuốc lá còn lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau của vết thương. Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về quân y viện Pleiku. Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác sĩ các anh chăm sóc tận tình. Tất cả đã đối xử với tôi như người đồng đội. Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân tình.


Vết thương vừa lành, thì tôi được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện còn cho tôi nhiều thuốc men và một số đồ dùng. Lòng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi nghẹn ngào trước tình con người, tình dân tộc mà các anh đã dành cho tôi. Tình cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy lòng, không dám tâm sự cùng ai, vì lòng tôi lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm mong chờ tôi trở về.


Anh cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng rõ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.


- Khi về lại ngoài Bắc, người ta có còn tin cậy anh không? - một anh tù hỏi.


- Ngay sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ các anh cho. Tôi cố dấu mấy viên thuốc trụ sinh phòng nhiễm trùng, nhưng họ khám xét kỹ quá, tôi phải tìm cách vất đi. Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng thế, không thể làm khác hơn. Chính vì vậy mà lòng tôi cứ dằng vặt mãi cho đến hôm nay.


Thời gian vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6/ NghĩaLộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng.


Một buổi sang sớm, khi sương mù còn vương trên thung lũng trại tù, một người đạp chiếc xe đạp vội vã rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo một cái rương bằng gỗ và một túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới thức dậy, còn ngái ngủ, chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nhìn lại, đưa cánh tay chỉ còn một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng trước cổng trại.


Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 30 người vượt biển, trong đó có tôi và ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của vương quốc Na-uy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng đến anh thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết lòng săn sóc lo lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore , chúng tôi quá xúc động không ai cầm được nước mắt. Tất cả thủy thủ đoàn đều ra đứng thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm lấy từng người chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày sống trong trại, chúng tôi được thầy cô giáo và ông đại sứ Na-uy, thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi đau của một người vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại được những kẻ xa lạ không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết lòng đùm bọc yêu thương. Mang cái ân tình đó, chúng tôi chọn Nauy là nơi tạm gởi phần đời còn lại của mình.


Bốn anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một người không cùng chiến tuyến mà còn có được tấm lòng. Sau lần bị "hạ tầng công tác" ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.


Sau hai năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp còn trẻ tuổi,lại ở gần nhà, nên sau này trở nên thân tình. Anh ta là sinh viên đang theo học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ hoc. Làm chung gần một năm, thì anh bạn Nauy này lại được nhận vào một công ty lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn Độ.


Bẵng đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, vì cùng đến với anh là một người con gái Việt nam. Anh giới thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị hôn thê của anh.


Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi nhìn thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường, mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi cũng niềm nỡ , đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người còn đi học ở Hà Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại Ấn Độ. Chính tạiđây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Nauy này. Khi ấy cô đã có chồng và một đứa con trai. Người chồng trước cùng du học ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè và người thân cho biết là anh chồng đã cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đi.


Cô đem việc này nói phải trái với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp chương trình Tiến sĩ tại một đại học ở Đông Đức.


Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông Đức) bỗng chốc không còn nữa. Cô không về nước mà tìm cách trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc được với anh Kenneth Hansen, để được bảo lãnh sang Nauy. Biết cô thuộc gia đình một đảng viên cộng sản cao cấp, bởi cô được du học ở nhiều nước thuộc khối cộng sản trước đây, nhưng tôi không hỏi vì sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth Hansen, cho biết, bố của cô trước kia là đại sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn khối cộng sản Đông Âu, ông xót xa nhìn ra được một điều gì đó. Trở về Việt Nam, ông không còn được nhà nước Cộng sản trọng dụng, trở thành kẻ bất mãn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.


Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đình, đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai sang Nauy với cô.


Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ dến anh quản giáo Nguyễn văn Thà thưở trước. Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về Nghệ Tĩnh tìm và trao lại cho anh, như để tỏ chút lòng biết ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy nước đọng mà vẫn còn giữ sạch được tấm lòng. Việc tìm anh không phải dễ dàng, vì chúng tôi không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ: "ông Nguyễn văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn". Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ tìm đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm việc tại bộ quốc phòng. Cô sẽ nhờ ông ta tìm hộ.


Một tháng sau, cô Đoan trở lại Nauy, báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô không tìm thấy tên Nguyễn văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là anh ta đã bị phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đã đích thân vào Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số điện thoại của tôi. Cô còn cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh thì cô nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng gì, vì chỉ một ít người ở thành phố có báo đọc.


Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp hội nhập vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không còn ai nhắc đến chuyện anh Thà.


Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật mình tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ bên ngoài cửa sổ chỉ - 20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại thì phải có điều gì khẩn cấp ắm.. Tôi bốc ống nghe, Đầu giây bên kia là giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả, nhưng rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy đủ họ và tên.


- Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ ? tôi hỏi.


- Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ..


Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là mình đã quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng:


- Bác có còn nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?


- Ông Thà, Nguyễn văn Thà,Bác nhớ, nhưng cô là gì của ông Thà, và sao lại ở Ba-Lan ?


- Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm Bác ạ. Tiếng cô gái sụt sùi.


- Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi tốn tiền.


Tôi gọi lại, và nghe tâm sự não nề của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết những người được chính quyền Việt Nam gởi sang lao động, đã không về nước, trốn ở lại. Vì sống bất hợp pháp, nên không tìm được việc làm chính thức. Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những nguòi đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu.


Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của một người khác, mang đi bán. Nhưng mỗi lần dành dụm được một ít, chưa kịp gởi về giúp gia đình thì bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. Vì vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, còn cô Hà thì đang bị truy nã. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà gọi điện thoại cho tôi.


- Bây giờ cháu đang ở đâu ? Tôi hỏi.


- Cháu đang trốn ở nhà một nguòi bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết phải làm sao, thì bất ngờ nhớ đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường hợp rất cần thiết mới gọi cho bác.


- Ba cháu bây giờ làm gì?


- Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, nên chỉ nằm một chỗ. Vì vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây để kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ.


Tôi ghi số điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày rất gần ở Ba-Lan.


Tôi nhớ tới một người bạn Ba-lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai vừa mới đến Nauy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi. Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy môt không đoàn chiến đấu thuộc quân đội cộng sản Ba-Lan. Về sau. anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesalãnh đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đã lấy một chiếc trực thăng, chở gia đình, gồm người vợ và hai đứa con, bay sang Tây Đức. Theo sự thỉnh cầu của anh, gia đình anh được chính phủ Na-uy đặc biệt nhận cho tị nạn chính trị.


Anh và tôi học tiếng Na-uy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, thì tình hình chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lãnh đạo đã thắng lợi vẻ vang . Ông được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ. Anh Piwko, người bạn tị nạn của tôi, được mời về nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát. Vào những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm vui và hy vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với gia đình anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong dân chủ.


Sáng hôm sau, tôi tìm lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo tin sang thăm . Vì đi vội, nên tôi chỉ đi một mình. Vợ chồng anh đón tôi ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh chị còn cho biết là rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Nauy để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia đình anh đã dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh những điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm tình cùng anh về chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết lòng giúp tôi về việc này.


Anh đưa tôi đến gặp hai chị em cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đình anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lãnh Tĩnh, emcủa Hà từ trại tù về.


Trước khi về lại Nauy, tôi đã thức trọn một đêm để tâm tình khuyên lơn hai chị em Hà, biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và chuyển về Việt nam biếu anh Thà, bố hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và sẽ tận tình lo lắng cho hai cháu.


Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà đã được Piwko bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, vì lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung học.


**** *


"Các Anh thân quí,


Khi ngồi viết những dòng nàycho các anh, thực tình tôi không còn nhớ mặt các anh, nhưng tôi còn nhớ rất rõ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh còn nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, lòng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đình xin muôn vàng cảm tạ. Các anh làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác: "Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước cảnh khốn khổ của đồng loại". Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác, những nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ cũng đã từ bỏ Mác, chỉ còn một vài nơi lấy Mác làm bức bình phong để che đậy những mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với tôi, vẫn mãi mãi là một lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời theo Mác đã luôn luôn làm ngược lại lời nói này của Mác.


Chúng tôi mừng cho các anh đã đưa được gia đình ra khỏi nước. Mặc dù tôibiết một người phải bỏ quê hương mà đi, còn đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may ra còn tìm được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp con người.


Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua biên giới .Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà, tiền phụ cấp không đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ còn một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để phụ giúp gia đình.


Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đình, tôi mới còn sống được đến hôm nay. Biết trốn lại BaLan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn còn hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết lòng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây.


Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian..."


* * *


Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh Thà. Anh đã qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấptrong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm thì: xin hãy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ? .

CSVN Mua Phi Cơ, Tàu Lặn

Trích Vietbao.com

Vi Anh
Rất nhiều dư luận báo chí về việc VNCS mua máy bay, tàu lặn "hiện đại" của Nga. Thủ Tướng VNCS đi Nga. Tin của thông tấn Nga Ria Novosti, VN đã mua 8 chiếc phản lực cơ loại tiêm kích Sukhoi SU 30MK2, dự đỊnh mua thêm 12 chiếc nữa. Tin cũng của Nga từ hãng tin Interfax, VN đã mua 6 chiếc tiềm thủy đỉnh loại Kilo, chạy bằng động cơ diesel, loại chạy êm nhất thế giới, chuyên chống chiến hạm và chống tàu ngầm tại những vùng biển nông. Sơ sơ mất ngót trên 3 tỷ Đô la.
Chưa hết đâu, tin AFP của Pháp, Tướng Phùng Quang Thanh, Bộ Trưởng Quốc Phòng của VNCS đi Mỹ và Pháp. Sau chuyến công du Mỹ và đã có cuộc hội đàm với bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates, Ong bay sang Pháp, bàn bạc "chương trình mua bán máy bay trực thăng, máy bay vận tải và một số loại trang thiết bị khác thuộc lĩnh vực công nghệ quốc phòng." Bộ trưởng hai nước Pháp và Việt đã ký thỏa thuận về hợp tác quốc phòng Pháp - Việt.
Theo giới phân tích Tây Phương duy lý, Hà nội buộc phải đầu tư, mua các thiết bị quân sự hiện đại để đối phó với những âm mưu bành trướng của Trung Quốc tại biển Đông.
Nhưng không thể loại bỏ lối suy nghĩ, hành động mắc nghéo của người Đông Phương như trong truyện Tàu Tam Quốc Chí. Vấn đề đặt ra, là liệu việc mua sắm vũ khí hàng tỷ Đô la đó có phải là cách Đảng CSVN "đánh gió", dùng "hư chiêu" để giảm sự bất mãn của dân chúng VN đối với Đảng Nhà Nước bị dân xem là nhu nhược, mãi quốc cầu vinh và để giảm bớt áp lực của Quân Đội Nhân Dân bị Đảng Nhà Nước bó tay bất động khiến người dân chê Quân Đội một thời được phong là "anh hùng" nay thành "anh hèn" trong nhiệm vụ bảo vệ bờ cõi nước non.
Tin đài RFA của Mỹ ngày 22.12.2009, báo Tuổi Trẻ số phát hành lớn nhứt ở VN cho biết VN sẽ "tìm mọi cách để giải quyết vấn đề biển Đông", qua lời tuyên bố của Đại tướng Lê Văn Dũng, Ủy viên thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân nhơn kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân VN. Thách thức lớn hiện nay của quân đội VN là "xây dựng quân đội chính quy, có trình độ hiện đại...", không phải cho mục tiêu chiến tranh mà "để đánh bại quân xâm lược, để bảo vệ tổ quốc". Khi đề cập tới vấn đề biển Đông có liên quan VN và Trung Quốc, tướng Lê Văn Dũng cho biết phía VN "tìm mọi cách để giải quyết", và trong thời gian sắp tới, hai bên "cùng bàn bạc, đàm phán, phân định biên giới trên biển".
Tin phân tích đài BBC của Anh ngày 23-12-2009, Diễn đàn Trung Hoa võng (China.com) ở Trung Cộng ngày 11/12/2009. Rằng "Việt Nam điều chỉnh gấp chính sách - chuẩn bị dùng vũ lực chiếm Nam Hải. Bài viết trên báo điện tử này liệt kê những chuẩn bị của VN: công bố Sách Trắng quốc phòng, trong đó nêu bật trọng tâm vấn đề chủ quyền ở Nam Hải; thông qua Luật dân quân tự vệ, quy định 86 triệu dân toàn quốc, nam từ 18-45 tuổi, nữ từ 18-40 tuổi phải tham gia nghĩa vụ dân quân; vùng 2 hải quân Việt Nam và 7 tỉnh thành phía Nam ký hiệp ước bảo vệ biển đảo và khu vực phụ cận Nam Sa; truyền thông Việt Nam gần đây cho biết, Việt Nam đã động viên toàn dân tham gia xây dựng quốc phòng, phát huy tính tích cực của vùng biển rộng lớn đặc biệt là của dân chúng vùng phụ cận Tây Sa và Nam Sa (Hoàng Sa và Trường Sa); VN mua của Nga 12 chiếc SU-30MK2 và 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo, xây sân bay ở Nam Sa và bố trí thêm 1 trung đoàn tăng cường, đồng thời điều 4 binh đoàn chiến lược tới biên giới Trung-Việt. Bài báo còn nhận định nhân dân Việt Nam, kinh qua mấy chục năm chiến tranh, là "một lực lượng không thể xem thường". Trong thời gian ngắn VN có thể động viên được 40 triệu dân quân và nhân viên dự bị chiến đấu, đồng thời có thể tổ chức được 1 triệu bộ đội tác chiến chính quy và 500 nghìn quân dã chiến. VN luôn theo đường lối quốc phòng toàn dân. Các đảo ở Nam Hải của TQ, đối với TQ "dễ công, khó giữ". VN được địa lợi có thể liên tục quấy rối "quân ta". Bài báo này chủ trương TQ "chỉ có tiến hành cuộc chiến tranh đồng thời trên cả đất liền và trên biển, thì mới có thể chiếm giữ vĩnh viễn toàn bộ Nam Hải và khống chế được Việt Nam."
Khi có Chiến tranh Việt Hoa trên Biển Đông, bài báo này quan niệm "Thương lái chiến tranh sẽ dây máu ăn phần". "Mỹ, Ấn Độ, thậm chí Nga đều ngầm ủng hộ VN phát động chiến tranh trên Nam Hải. Và một số nước phương Tây như Anh, Pháp cũng muốn được chia phần ở Nam Hải." "Thậm chí, Việt Nam và Mỹ còn câu kết với nhau, mỗi nước dựa vào nhu cầu của mình mà tuyên chiến với Trung Quốc." "Trung Quốc đã ở vào ranh giới chiến tranh, đánh hay không đánh đều có khả năng. Vấn đề là đã lâu Trung Quốc không có chiến tranh. "Kết luận trên trang mạng bán chính thức của Trung Quốc là: "Việt Nam điều chỉnh gấp chính sách, Trung Quốc phải đối phó".
Báo Thái Lan lo việc Việt Nam mua thêm nhiều vũ khí và trang thiết bị quốc phòng, nhất là tàu ngầm và chiến đấu cơ hiện đại từ Nga, có thể kích dộng cuộc chạy đua võ trang trong vùng của khối ASEAN. Báo tiếng Anh Bangkok Post xã luận kêu gọi VN tựa đề "Hãy nghĩ lại việc tăng cường vũ khí (Rethink this arms buildup)". Than phiền vì muốn nhấn mạnh chủ quyền ở các vùng biển và hải đảo đang tranh chấp. Báo này nhận định VN "Không có lý do gì cho Việt Nam bắt đầu một chương trình tái vũ trang, cả về mặt kinh tế lẫn chính trị."
Hãng thông tấn của Pháp AFP (Agence France-Presse), trong bài bình luận phát đi từ Hà Nội, nhận xét các hợp đồng này là nhằm "củng cố tuyên bố chủ quyền chống lại Trung Quốc trong vùng Biển Đông". Trích dẫn ý kiến của nhiều nhà phân tích nói rằng, phần lớn trang thiết bị quốc phòng của Việt Nam đã quá cũ kỹ nên nước này quyết định bỏ ra ngân sách lớn để phát triển hạm đội ngầm của mình, trong khi quan ngại gia tăng về căng thẳng với nước láng giềng khổng lồ trong khu vực có Hoàng Sa và Trường Sa.
Tờ nhật báo tiếng Anh có uy tín nhận xét: "Với việc mua sáu tàu ngầm hạng Kilo, Việt Nam còn kiến thiết quan hệ quân sự mới với Moscow, đồng minh chính thời kỳ Chiến tranh lạnh".
Chủ trương đa phương hóa quan hệ quốc phòng của Việt Nam cũng được thể hiện trong kế hoạch hình thành quan hệ quốc phòng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, quốc gia đang tăng cường hiện diện hải quân tại Biển Đông.
Tướng Xu của TC cho rằng cạnh tranh ở đâu cũng có, nhưng không nên thổi phồng tầm mức cạnh tranh. "Hải quân Trung Quốc đang được hiện đại hóa nhanh chóng. Các nước láng giềng không đe dọa được chúng tôi."
Cuối cùng có lẽ lấy kinh nghiệm chống CS ở VN ra để suy đoán, thì hợp tình hợp lý VN hơn. "Đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn những gì CS làm". Hiện tình cho thấy thời gian đang đứng về phía TC. Đất, biển, đảo của VN, TC đã chiếm được nhiều rồi. TC quanh co, âm thầm gậm nhấm, đâu cần phải đánh đấm VN làm chi cho quốc tế nhảy vào. Cứ nhờ "sinh tử phù" của TC đã cấy vào một số lãnh đạo chóp bu của CS Hà nội thân TC phát tác để gậm nhấm thêm nữa. Còn CS Hà nội thành phần thân Tây Phương cố gắng âm thầm năn nỉ ỉ ôi TC để cái gì mất cho mất luôn, cái gì còn rán giữ để dân chúng VN bớt bất mãn hầu tiếp tực cầm quyền "thu vén cuối đời". Những việc mua máy bay, tàu lặn, lăn xăn lít xít đi Nga, đi Mỹ, đi Pháp có giá trị "đánh gió, hư chiêu" trên phương diện công luận còn trên phương diện riêng tư có thể kiếm chát tiền cò khi hợp đồng mua bán và hưởng lạc khi công du nữa.

VI ANH

Sunday, January 3, 2010

Tin nóng hổi: Vạn lý địa đạo của Trung Quốc

Trích Bauxit VietNam

Nguyễn Hoàng Hà

Trên các trang báo Pháp ngày 19 tháng 12 và nhiều báo châu Âu, châu Mỹ hiện nay thì sự kiện Hội nghị Copenhagen về biến đổi khí hậu đang không còn hấp dẫn người ta nữa, tin trên trang nhất của các tờ báo đập mạnh vào mắt của độc giả là «Trung Quốc đã đào một con đường hầm dài 5 ngàn cây số để giấu vũ khí hạt nhân».

Theo thông tín viên của Le Figaro tại Bắc Kinh, các lãnh đạo Trung Quốc đã cho xây xong một Vạn Lý Trường Thành khác nhưng lại nằm sâu đến 1 km dưới lòng đất, được gọi tên là “Vạn lý địa đạo”. Người nước ngoài chưa ai được đặt chân đến đó để nhìn thấy cái vĩ đại của nó, mà chính báo chí Trung Quốc đã loan tin này.

Một tờ báo Hồng Kông cho rằng sự kiện báo chí Trung Quốc tiết lộ một địa điểm khổng lồ để cất giấu vũ khí là dấu hiệu cho thấy quyết tâm của Bắc Kinh muốn khẳng định sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Chính tờ báo này cũng đã nêu lên khái niệm khá táo bạo về «một Vạn lý Trường Thành dưới mặt đất hay gọi là Vạn Lý Địa Đạo», vì nếu đem so sánh hai công trình này thì chiều dài của chúng gần bằng nhau, nhưng chắc chắn Vạn Lý Địa Đạo vĩ đại hơn rất trăm ngàn lần Vạn Lý Trường Thành.

Dư luận các báo quốc tế lại nhắc lại những sai lầm chết người của Mỹ từ sau cuộc chiến tranh tại Việt nam năm 1975, nước Mỹ lúc đó vì quá sân hận và cay cú sau sự thua trận nên đã ra lệnh cấm vận Việt nam trong một thời gian quá dài, khiến người có thể kìm chân Trung quốc này kinh tế không phát triển lên được, công nghiệp hầu như bị kiệt quệ, trong khi đó Mỹ lại liên kết với Trung quốc qua chuyến đi thăm của tổng thống Nixon, đã ký với Trung Quốc thông cáo chung Thượng Hải để sau đó, Trung Quốc kích động Polpot tấn công phía Tây Nam Việt Nam, còn mình thì trực tiếp tấn công biên giới phía Bắc, đổi lại Mỹ đã dành cho Trung Quốc quyền ưu đãi buôn bán vào Mỹ.

Cả một thời gian dài sau đó, từ một nước nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp hạn chế, Trung Quốc đã nhanh chóng phát triển kinh tế như “diều gặp gió”, thực hiện được sự đại nhẩy vọt - khẩu hiệu mà ông Mao đề ra bao năm không làm được. Trong khi Mỹ ngập chân vào Afghanistan, Iraq, Trung đông và các nước cộng hòa của thời hậu Xô viết v.v… thì đây là thời gian vàng để Trung Quốc vươn lên vị trí nước mạnh có tiềm năng lớn chẳng những về kinh tế và nhất là về quân sự.

Người ta nghĩ lại, khi đem quân đánh Việt Nam, Trung Quốc quân sự lúc đó không đủ sức buộc Việt Nam phải đầu đầu hàng mình mà trái lại Việt Nam với vũ khí được Liên xô ủng hộ và một phần lấy được qua chiến tranh với Mỹ đã đánh bại người tự cho mình có nhiệm vụ dạy cho Việt Nam một bài học. Kết quả, người anh lớn đã phải ngậm ngùi rút quân. Ngay sau đó Trung quốc tập trung vào phát triển kinh tế như vũ bão và Vạn Lý Địa Đạo đã được khởi công năm 1995 sau rất nhiều năm chuẩn bị công phu về các loại bom hạt nhân và các tên lửa đạn đạo tầm xa thành công.

Trung Quốc đã đào một con đường hầm dài 5 ngàn cây số để giấu vũ khí hạt nhân tại vùng núi ở phía bắc, đường hầm được xây cất với sức huy động của mấy chục ngàn binh lính. Mục tiêu của con đường hầm vĩ đại này là để duy trì khả năng "tấn công lần thứ nhì" nếu như Trung Quốc có cuộc va chạm về một cuộc tấn công hạt nhân.

Ngoài Vạn Lý Địa Đạo kể trên người ta cho rằng nay Trung quốc đang tiến hành cho liên hoàn nối kết tới một thành phố quân sự hải quân khổng lồ nằm tại đảo Hải Nam nơi có các chiến hạn tàu ngầm và các tàu khu trục, các hạm đội hùng mạnh trên biển. Sự kiện hôm Chủ nhật xảy ra tại hải phận quốc tế thuộc khu vực mà Việt Nam gọi là biển Đông cách đảo Hải Nam 75 dặm (120 km). Hải Nam là nơi Trung Quốc đặt căn cứ hải quân lớn nhất của họ hiện nay với cả các khu trục hạm và tàu ngầm hiện đại nhất. Giới quan sát nói động thái mới nhất của Trung Quốc cho thấy Bắc Kinh đang muốn tái khẳng định quyền được quyết định có cho tàu nước ngoài vào bên trong khu vực kinh tế (EEZ) 200 hải lý của mình hay không.Người ta cho rằng Mỹ không thể đủ sức lập lại một sự kiện Vịnh Bắc bộ như đối với Việt Nam xưa để lấy cái cớ phát động một cuộc chiến tranh.

Các nguồn tin cho hay Hoa Kỳ quyết định điều tàu chiến có trang bị vũ khí tới hộ tống tàu thăm dò của nước này tại khu vực biển Đông sau khi có sự cố với tàu Trung Quốc hồi cuối tuần, và Tổng thống Obama đã không chịu được sự trịch thượng của Trung Quốc khi họ coi gần như toàn bộ khu vực biển Đông là chủ quyền của riêng họ.

Phóng viên của tờ Times có mặt tại Washington nói trong ngày (thứ Năm 12/3 tại Mỹ) ông Obama đã có cuộc gặp Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì, nhưng cả phía Bắc Kinh cũng không tỏ vẻ nhún nhường.

Người ta cho rằng dù quân đội Trung Quốc đã được trang bị hiện đại, đặc biệt là hải quân, dù việc đầu tư tiền của là rất lớn, nhưng với tốc độ này phải 5 đến 10 năm tới họ mới có thể ngang bằng với Mỹ về tiềm năng quân sự. Hiện họ liên tục hung hăng coi biển Đông là của mình, thường xuyên truy bắt tàu thuyền đánh các của ngư dân Việt Nam ngay tại khu vực thuộc chủ quyền biển Việt Nam, bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của Bộ Ngoại giao Việt Nam. Tình trạng này càng ngày càng trầm trọng thêm và đang gây lo ngại cho không chỉ Việt Nam mà cả các quốc gia trong khu vực. Đây là biểu hiện rõ nét nhất về việc Trung Quốc quyết tâm tỏ rõ ý chí biển Đông thành biển nhà mình, bất chấp công ước quốc tế.

Theo nhận định của báo chí Trung Quốc, mục tiêu của con đường hầm vĩ đại này là để duy trì khả năng «tấn công lần thứ nhì» nếu như Trung Quốc là nạn nhân của một cuộc tấn công hạt nhân.

Tờ Le Figaro đưa tin: cho đến nay luận điểm của Trung Quốc về vũ khí hạt nhân là không sử dụng một kho vũ khí, vừa đủ để phòng vệ, để tấn công trước tiên. Đồng thời Bắc Kinh cũng cam kết là sẽ không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại các nước không có loại vũ khí này. Tuy nhiên, trong ngân sách quốc phòng của Trung Quốc, nhiều phương tiện tài chính đã được dành cho «binh chủng pháo binh thứ nhì». Và Trung Quốc đã chế tạo nhiều tàu ngầm hạt nhân phóng hoả tiễn để tiến hành những cuộc tuần tra răn đe, cho dù các tàu ngầm này chưa đi vào hoạt động. Chắc chắn tin này đang gây choáng váng cho Washington và NATO khi họ đã quá lâu lao sâu vào chiến tranh vùng Vịnh và Trung Đông và nay lại kẹt ở Iraq và Afghanistan trong khi kinh tế đang bị suy thoái, lại phải chi phí khoản tài chính khổng lồ vào cuộc chiến tranh mà phần thắng sẽ không bao giờ thuộc về mình. Giờ phải làm gì? Đó là câu trả lời đang dành cho vị Tổng thống trẻ Obama và các nhà quân sự NATO.

Ngày 19 tháng 12 năm 2009

N.H.H