Translate

Wednesday, January 6, 2010

Vành khăn tang Đồng Chiêm – chứng kiến và ngẫm suy

Hãy đọc bài này và nhìn thấy sự đốn mạt của Cộng Sản Việt Nam

VietCatholic News (06 Jan 2010 15:03)
Cái lạnh đang dần rút lui, nhường bước cho Chúa Xuân viếng thăm trần thế. Đây đó đã thoang thoảng mùi hương trầm...tất cả dường như đang rất bình yên. Nhưng, phải chăng đó là cái bình yên giả tạo để che dấu trong nó là những cõi lòng đang trăn trở, hoang mang... Bởi vì, một vùng trời quê đang nhuốm màu tang thương, Đồng Chiêm!

Hai giờ sáng, ngày 06 tháng 1 năm 2010., hàng trăm cảnh sát ồ ạt kéo lên núi.

Canh cho dân ngủ ư? Hay bắt trộm?

Không, cảnh sát đi phá Thánh Giá!

Có mỗi việc phá Thánh Giá bằng xi măng mà cũng cần huy động lực lượng đông đến thế ư?

Phải đông chứ! Cảnh sát luôn biết Thánh Giá là biểu tượng thánh thiêng của người Công giáo. Xúc phạm Thánh Giá là xúc phạm đến hàng triệu con người mang trong mình niềm tin vào Chúa. Thì đó, hay tin Thánh Giá bị triệt hạ, hàng nghìn giáo dân Đồng Chiêm đứng lên bảo vệ. Nhưng, những người dân tay không làm sao có thể giữ được thứ mà họ cho là quý báu, họ tôn thờ khi mà người giành giật Thập Giá Chúa với họ là những police, CSCD(cảnh sát cơ động) có trang bị cả dùi cui, chó săn, súng, lựu đạn... Thế mới có cảnh những cụ già, những người phụ nữ bê bết máu, nằm còng queo trên đất, những gương mặt mếu máo của trẻ thơ, những ánh mắt thất thần, hoảng loạn...Bình yên ư?

Trước súng đạn của cảnh sát, những người dân hiền hành chỉ biết cầu nguyện, tín thác. Chúa có đang nghe họ khẩn xin? Người có đang đứng cạnh họ, nhìn họ? Đau thương thay khi nhìn cả một không gian rợp màu khăn tang. Họ để tang ai? Để tang Thánh Giá vừa bị đốn ngã? Hay một lần nữa, họ để tang Chúa Giê-su của họ? Thánh Giá xi măng vừa sụp đổ, Thánh Giá bằng tre được dưng lên. Thánh Giá trong lòng mỗi người có đang nghiêng ngã?

Cảnh sát làm gì cũng nhanh, gọn. Họ thi hành mệnh lệnh như người máy, như công cụ vô tri. Có chút xót thương nào không khi họ đang tay đánh đập người dân, những đồng loại của họ? Thánh Giá bị đốn ngã rồi, rút lui hết, không còn bóng dáng một ai. Chỉ còn đó những người dân ngơ ngác, tội nghiệp, có người còn chưa hiểu chuyện gì, chạy qua chạy lại hỏi “tại sao?”. Ừ, tại sao nhỉ? Có ai nói cho đâu mà biết.

Tất cả đều rất bất ngờ, chóng vánh. Mới đó thôi, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đích thân sang Vatican thăm Đức Thánh Cha. Niềm hi vọng, trông đợi lớn lao nơi triệu triệu con tim đặt vào cuộc gặp gỡ này. Bên cạnh đó là những lời giáo huấn của Đức Thánh Cha gởi Giáo hội Việt Nam. Rồi cả sự kiện khai mạc Năm thánh – năm hòa bình, hòa giải. Những sự kiện dường như hứa hẹn rất nhiều. Thế rồi, lúc bà con Đồng Chiêm dựng Thánh Giá, chính quyền chỉ đến xem. Tò mò chăng, hay đang suy tính điều gì? Bất thình lình đến phá, quả là trở tay không kịp.

Chứng kiến hành vi ấy, mấy ai không khỏi chua xót, thất vọng? Mỗi người dân có lương tri trước cảnh đau thương đều muốn sẻ chia, đồng cảm. Chia sẻ với bà con Đồng Chiêm sao đây? Phận nhỏ chỉ biết nguyện cầu, phó thác. Tin tưởng Chúa luôn nhìn xem chúng con, tin tưởng Chúa luôn bênh vực, nâng đỡ chúng con trong mọi cảnh huống. Xin Chúa cho đoàn con luôn khôn ngoan, mạnh sức để giữ vững đức tin của mình.
Têrêxa Hồng Xoan

Tuesday, January 5, 2010

VN muốn TQ không du lịch tới Hoàng Sa

Trích BBC Vietnamese

Bản đồ Biển Đông, nơi đang có các tranh chấp lãnh hải

Hà Nội đã lên tiếng đề nghị Trung Quốc ngưng các hoạt động du lịch tại đảo Hoàng Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền lãnh hải.

Tuyên bố được đưa ra theo sau việc quốc hội Trung Quốc công bố tài liệu về phát triển du lịch ở đảo Hải Nam bao gồm cả Hoàng Sa.

Hôm 4/1/2010, bà Nguyễn Phương Nga đã trả lời câu hỏi của phóng viên về vấn đề này và nói:

"Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

"Việc làm nêu trên của phía Trung Quốc là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, đi ngược lại nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, gây căng thẳng và làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Đông.

"Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay hoạt động này."

Việc làm nêu trên của phía Trung Quốc là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam

Bà Nguyễn Phương Nga

'Trước sau như một'

Trước đây Việt Nam cũng đã từng phản đối hoạt động du lịch của Trung Quốc ở Hoàng Sa.

Hồi tháng 3/2009, Công ty du lịch quốc tế Châu Giang của Trung Quốc đã mở tour du lịch ra đảo Vĩnh Hưng (Việt Nam gọi là Phú Lâm) thuộc quần đảo Tây Sa mà Việt Nam gọi là Hoàng Sa.

Hai đảo Phú Hưng và Đảo Cây (Triệu Thuật theo tiếng Trung) cũng là nơi Trung Quốc từng tạm giữ ngư dân Việt Nam bị họ bắt vì điều mà họ gọi là "vi phạm lãnh hải."

Dưới triều Nguyễn, Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi nhưng nay thuộc sự quản lý của thành phố Đà Nẵng.

Hồi tháng Tư năm 2009, Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng công bố quyết định bổ nhiệm trực tiếp chủ tịch của tám quận huyện, trong đó có huyện Hoàng Sa.

Ba ngày sau, Trung Quốc cực lực phản đối, gọi việc bổ nhiệm này là "bất hợp pháp và không có giá trị".

Trước đây chính phủ Việt Nam Cộng hòa đặt Hoàng Sa dưới sự quản lý của tỉnh Quảng Nam.

Trung Quốc đã chiếm hoàn toàn Hoàng Sa sau trận thủy chiến ngày 19/01/1974 với hải quân Việt Nam Cộng hòa và từ đó, vấn đề Hoàng Sa đối với Bắc Kinh đã "không còn tranh cãi".

Tuy nhiên Việt Nam vẫn duy trì tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này và khẳng định "trước sau như một, Việt Nam chủ trương giải quyết các bất đồng thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng Luật pháp quốc tế và thực tiễn quốc tế...nhằm giữ gìn hòa bình và ổn định trên Biển Đông và khu vực."

Bấm Bấm vào đây để xem ý kiến độc giả.

Monday, January 4, 2010

Câu chuyện cảm động

Nhân vào trang web Văn Tuyển và đọc được câu chuyện cảm động. Xin phép được đăng vào blog. Cám ơn.

MỘT CHUYỆN CÓ THẬT

» Tác giả: Phạm Tín An Ninh

1. MỘT CHUYỆN CÓ THẬT


Những năm "cải tạo"ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi,...nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đã có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi. Sau đó, tôi được chuyển về trại 6/ Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn. Ngày nhập trại, sau khi "biên chế" xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái láng lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ "đồng chí cán bộ quản giáo" đến tiếp nhận.Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào láng. Điều trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta chỉ còn một cánh tay. Môt nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ : - Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ ?.


Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi , miệng nở nụ cười. Nhìn khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu. Bằng một giọng đặt sệt Nghệ Tỉnh, anh quản giáo giới thiệu tên mình:


Nguyễn văn Thà, rồi "báo cáo" môt số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội trưởng một tập vở học trò, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm bản "lý lịch trích ngang". Tôi đang ngồi hý hoáy viết cái bản kê khai lý lịch ba đời với bao nhiêu thứ "tội" dưới biển trên trời mà tôi đã thuộc lòng từ lâu lắm - bởi đã phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm - bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:


- Trong này có anh nào thuộc Sư Đoàn 23?


Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng:


- Thưa cán bộ, có tôi ạ,.


- Anh ở trung đoàn mấy


- Trung Đoàn 44


- Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?


- Vâng, có ạ.


Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ còn cái tay áo đong đưa, lên:


- Tôi bị mất cánh tay này trong trận đó. Nhìn qua anh em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi. Để lấy lại bình tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ động:


- Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào ?


- Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư 320.


Anh quản giáo rảo mắt nhìn quanh, rồi hạ giọng tiếp tục:


- Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn tăng của tôi còn có 2 chiếc.. Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài, nhưng bị các anh bắt làm tù binh.


- Sau đó cán bộ được trao trả? Tôi hỏi.


- Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị. Nhờ vậy mà tôi còn sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê.


Dạo đó, miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm. Mỗi láng được đào một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em nhặt ngoài rừng, sau giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng uống sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm tình những chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố gắng giữ gìn sức khỏe, đừng làm điều gì sai phạm để không phải nghemấy ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói:


- Tôi rất đau lòng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết các anh đều là những người có trình độ văn hóa và ai cũng đã từng chỉ huy.


Mùa đông, không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một nguòi tù chỉ có một miếng bánh mì đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt. Phần thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều người đứng không vững.


Một buổi chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả thung lũng trại tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong láng, cố nhai từng hạt bắp cứng như viên sỏi, nhìn ra cánh đồng phía trước, thấp thoáng một người mang áo tơi (loại áo mưa kết bắng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi trời tối.


Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng :


- Tôi để một giỏ cá đàng sau láng. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết.


Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động. Biết là anh em tùbị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân , quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn còn nguyên; đào mấy cái bếp "Hoàng Cầm" để luột sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luột sắn ăn cho no.


Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh "chuẩn bị đi về", anh em tức khắc dấu hết "tang vật" xuống một cái hố đã đào sẵn.


Dường như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no -dù chỉ là no sắn-


Không biết tối hôm ấy, trong giờ "giao ban", quản giáo Thà đã báo cáo với ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi đã phát được bao nhiêu hecta rừng?


Mỗi lần ra bãi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ :


- Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt thì ta nghỉ. Nhớ giữ gìn sức khỏe, vì thời gian cải tạo còn dài lắm.


Vào một dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà ở lại với anh em. Số tiền lương vừa lãnh được, anh mua mấy bánh thuốc lào, vài ký kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều với anh em:


- Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đã chết. Vết thương quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một mình, không có thức ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được một đơn vị của Sư 23 các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận tình săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa tôi về bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy vòng, thì vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng.. Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt cả đêm.


Người chỉ huy hôm ấy là một anh rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh còn cho tôi nửa bao thuốc lá còn lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau của vết thương. Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về quân y viện Pleiku. Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác sĩ các anh chăm sóc tận tình. Tất cả đã đối xử với tôi như người đồng đội. Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân tình.


Vết thương vừa lành, thì tôi được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện còn cho tôi nhiều thuốc men và một số đồ dùng. Lòng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi nghẹn ngào trước tình con người, tình dân tộc mà các anh đã dành cho tôi. Tình cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy lòng, không dám tâm sự cùng ai, vì lòng tôi lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm mong chờ tôi trở về.


Anh cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng rõ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.


- Khi về lại ngoài Bắc, người ta có còn tin cậy anh không? - một anh tù hỏi.


- Ngay sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ các anh cho. Tôi cố dấu mấy viên thuốc trụ sinh phòng nhiễm trùng, nhưng họ khám xét kỹ quá, tôi phải tìm cách vất đi. Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng thế, không thể làm khác hơn. Chính vì vậy mà lòng tôi cứ dằng vặt mãi cho đến hôm nay.


Thời gian vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6/ NghĩaLộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng.


Một buổi sang sớm, khi sương mù còn vương trên thung lũng trại tù, một người đạp chiếc xe đạp vội vã rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo một cái rương bằng gỗ và một túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới thức dậy, còn ngái ngủ, chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nhìn lại, đưa cánh tay chỉ còn một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng trước cổng trại.


Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 30 người vượt biển, trong đó có tôi và ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của vương quốc Na-uy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng đến anh thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết lòng săn sóc lo lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore , chúng tôi quá xúc động không ai cầm được nước mắt. Tất cả thủy thủ đoàn đều ra đứng thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm lấy từng người chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày sống trong trại, chúng tôi được thầy cô giáo và ông đại sứ Na-uy, thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi đau của một người vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại được những kẻ xa lạ không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết lòng đùm bọc yêu thương. Mang cái ân tình đó, chúng tôi chọn Nauy là nơi tạm gởi phần đời còn lại của mình.


Bốn anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một người không cùng chiến tuyến mà còn có được tấm lòng. Sau lần bị "hạ tầng công tác" ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.


Sau hai năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp còn trẻ tuổi,lại ở gần nhà, nên sau này trở nên thân tình. Anh ta là sinh viên đang theo học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ hoc. Làm chung gần một năm, thì anh bạn Nauy này lại được nhận vào một công ty lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn Độ.


Bẵng đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, vì cùng đến với anh là một người con gái Việt nam. Anh giới thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị hôn thê của anh.


Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi nhìn thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường, mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi cũng niềm nỡ , đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người còn đi học ở Hà Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại Ấn Độ. Chính tạiđây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Nauy này. Khi ấy cô đã có chồng và một đứa con trai. Người chồng trước cùng du học ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè và người thân cho biết là anh chồng đã cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đi.


Cô đem việc này nói phải trái với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp chương trình Tiến sĩ tại một đại học ở Đông Đức.


Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông Đức) bỗng chốc không còn nữa. Cô không về nước mà tìm cách trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc được với anh Kenneth Hansen, để được bảo lãnh sang Nauy. Biết cô thuộc gia đình một đảng viên cộng sản cao cấp, bởi cô được du học ở nhiều nước thuộc khối cộng sản trước đây, nhưng tôi không hỏi vì sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth Hansen, cho biết, bố của cô trước kia là đại sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn khối cộng sản Đông Âu, ông xót xa nhìn ra được một điều gì đó. Trở về Việt Nam, ông không còn được nhà nước Cộng sản trọng dụng, trở thành kẻ bất mãn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.


Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đình, đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai sang Nauy với cô.


Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ dến anh quản giáo Nguyễn văn Thà thưở trước. Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về Nghệ Tĩnh tìm và trao lại cho anh, như để tỏ chút lòng biết ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy nước đọng mà vẫn còn giữ sạch được tấm lòng. Việc tìm anh không phải dễ dàng, vì chúng tôi không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ: "ông Nguyễn văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn". Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ tìm đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm việc tại bộ quốc phòng. Cô sẽ nhờ ông ta tìm hộ.


Một tháng sau, cô Đoan trở lại Nauy, báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô không tìm thấy tên Nguyễn văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là anh ta đã bị phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đã đích thân vào Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số điện thoại của tôi. Cô còn cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh thì cô nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng gì, vì chỉ một ít người ở thành phố có báo đọc.


Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp hội nhập vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không còn ai nhắc đến chuyện anh Thà.


Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật mình tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ bên ngoài cửa sổ chỉ - 20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại thì phải có điều gì khẩn cấp ắm.. Tôi bốc ống nghe, Đầu giây bên kia là giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả, nhưng rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy đủ họ và tên.


- Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ ? tôi hỏi.


- Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ..


Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là mình đã quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng:


- Bác có còn nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?


- Ông Thà, Nguyễn văn Thà,Bác nhớ, nhưng cô là gì của ông Thà, và sao lại ở Ba-Lan ?


- Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm Bác ạ. Tiếng cô gái sụt sùi.


- Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi tốn tiền.


Tôi gọi lại, và nghe tâm sự não nề của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết những người được chính quyền Việt Nam gởi sang lao động, đã không về nước, trốn ở lại. Vì sống bất hợp pháp, nên không tìm được việc làm chính thức. Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những nguòi đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu.


Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của một người khác, mang đi bán. Nhưng mỗi lần dành dụm được một ít, chưa kịp gởi về giúp gia đình thì bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. Vì vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, còn cô Hà thì đang bị truy nã. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà gọi điện thoại cho tôi.


- Bây giờ cháu đang ở đâu ? Tôi hỏi.


- Cháu đang trốn ở nhà một nguòi bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết phải làm sao, thì bất ngờ nhớ đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường hợp rất cần thiết mới gọi cho bác.


- Ba cháu bây giờ làm gì?


- Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, nên chỉ nằm một chỗ. Vì vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây để kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ.


Tôi ghi số điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày rất gần ở Ba-Lan.


Tôi nhớ tới một người bạn Ba-lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai vừa mới đến Nauy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi. Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy môt không đoàn chiến đấu thuộc quân đội cộng sản Ba-Lan. Về sau. anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesalãnh đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đã lấy một chiếc trực thăng, chở gia đình, gồm người vợ và hai đứa con, bay sang Tây Đức. Theo sự thỉnh cầu của anh, gia đình anh được chính phủ Na-uy đặc biệt nhận cho tị nạn chính trị.


Anh và tôi học tiếng Na-uy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, thì tình hình chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lãnh đạo đã thắng lợi vẻ vang . Ông được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ. Anh Piwko, người bạn tị nạn của tôi, được mời về nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát. Vào những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm vui và hy vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với gia đình anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong dân chủ.


Sáng hôm sau, tôi tìm lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo tin sang thăm . Vì đi vội, nên tôi chỉ đi một mình. Vợ chồng anh đón tôi ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh chị còn cho biết là rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Nauy để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia đình anh đã dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh những điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm tình cùng anh về chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết lòng giúp tôi về việc này.


Anh đưa tôi đến gặp hai chị em cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đình anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lãnh Tĩnh, emcủa Hà từ trại tù về.


Trước khi về lại Nauy, tôi đã thức trọn một đêm để tâm tình khuyên lơn hai chị em Hà, biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và chuyển về Việt nam biếu anh Thà, bố hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và sẽ tận tình lo lắng cho hai cháu.


Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà đã được Piwko bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, vì lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung học.


**** *


"Các Anh thân quí,


Khi ngồi viết những dòng nàycho các anh, thực tình tôi không còn nhớ mặt các anh, nhưng tôi còn nhớ rất rõ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh còn nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, lòng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đình xin muôn vàng cảm tạ. Các anh làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác: "Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước cảnh khốn khổ của đồng loại". Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác, những nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ cũng đã từ bỏ Mác, chỉ còn một vài nơi lấy Mác làm bức bình phong để che đậy những mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với tôi, vẫn mãi mãi là một lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời theo Mác đã luôn luôn làm ngược lại lời nói này của Mác.


Chúng tôi mừng cho các anh đã đưa được gia đình ra khỏi nước. Mặc dù tôibiết một người phải bỏ quê hương mà đi, còn đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may ra còn tìm được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp con người.


Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua biên giới .Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà, tiền phụ cấp không đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ còn một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để phụ giúp gia đình.


Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đình, tôi mới còn sống được đến hôm nay. Biết trốn lại BaLan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn còn hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết lòng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây.


Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian..."


* * *


Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh Thà. Anh đã qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấptrong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm thì: xin hãy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ? .

CSVN Mua Phi Cơ, Tàu Lặn

Trích Vietbao.com

Vi Anh
Rất nhiều dư luận báo chí về việc VNCS mua máy bay, tàu lặn "hiện đại" của Nga. Thủ Tướng VNCS đi Nga. Tin của thông tấn Nga Ria Novosti, VN đã mua 8 chiếc phản lực cơ loại tiêm kích Sukhoi SU 30MK2, dự đỊnh mua thêm 12 chiếc nữa. Tin cũng của Nga từ hãng tin Interfax, VN đã mua 6 chiếc tiềm thủy đỉnh loại Kilo, chạy bằng động cơ diesel, loại chạy êm nhất thế giới, chuyên chống chiến hạm và chống tàu ngầm tại những vùng biển nông. Sơ sơ mất ngót trên 3 tỷ Đô la.
Chưa hết đâu, tin AFP của Pháp, Tướng Phùng Quang Thanh, Bộ Trưởng Quốc Phòng của VNCS đi Mỹ và Pháp. Sau chuyến công du Mỹ và đã có cuộc hội đàm với bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates, Ong bay sang Pháp, bàn bạc "chương trình mua bán máy bay trực thăng, máy bay vận tải và một số loại trang thiết bị khác thuộc lĩnh vực công nghệ quốc phòng." Bộ trưởng hai nước Pháp và Việt đã ký thỏa thuận về hợp tác quốc phòng Pháp - Việt.
Theo giới phân tích Tây Phương duy lý, Hà nội buộc phải đầu tư, mua các thiết bị quân sự hiện đại để đối phó với những âm mưu bành trướng của Trung Quốc tại biển Đông.
Nhưng không thể loại bỏ lối suy nghĩ, hành động mắc nghéo của người Đông Phương như trong truyện Tàu Tam Quốc Chí. Vấn đề đặt ra, là liệu việc mua sắm vũ khí hàng tỷ Đô la đó có phải là cách Đảng CSVN "đánh gió", dùng "hư chiêu" để giảm sự bất mãn của dân chúng VN đối với Đảng Nhà Nước bị dân xem là nhu nhược, mãi quốc cầu vinh và để giảm bớt áp lực của Quân Đội Nhân Dân bị Đảng Nhà Nước bó tay bất động khiến người dân chê Quân Đội một thời được phong là "anh hùng" nay thành "anh hèn" trong nhiệm vụ bảo vệ bờ cõi nước non.
Tin đài RFA của Mỹ ngày 22.12.2009, báo Tuổi Trẻ số phát hành lớn nhứt ở VN cho biết VN sẽ "tìm mọi cách để giải quyết vấn đề biển Đông", qua lời tuyên bố của Đại tướng Lê Văn Dũng, Ủy viên thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân nhơn kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân VN. Thách thức lớn hiện nay của quân đội VN là "xây dựng quân đội chính quy, có trình độ hiện đại...", không phải cho mục tiêu chiến tranh mà "để đánh bại quân xâm lược, để bảo vệ tổ quốc". Khi đề cập tới vấn đề biển Đông có liên quan VN và Trung Quốc, tướng Lê Văn Dũng cho biết phía VN "tìm mọi cách để giải quyết", và trong thời gian sắp tới, hai bên "cùng bàn bạc, đàm phán, phân định biên giới trên biển".
Tin phân tích đài BBC của Anh ngày 23-12-2009, Diễn đàn Trung Hoa võng (China.com) ở Trung Cộng ngày 11/12/2009. Rằng "Việt Nam điều chỉnh gấp chính sách - chuẩn bị dùng vũ lực chiếm Nam Hải. Bài viết trên báo điện tử này liệt kê những chuẩn bị của VN: công bố Sách Trắng quốc phòng, trong đó nêu bật trọng tâm vấn đề chủ quyền ở Nam Hải; thông qua Luật dân quân tự vệ, quy định 86 triệu dân toàn quốc, nam từ 18-45 tuổi, nữ từ 18-40 tuổi phải tham gia nghĩa vụ dân quân; vùng 2 hải quân Việt Nam và 7 tỉnh thành phía Nam ký hiệp ước bảo vệ biển đảo và khu vực phụ cận Nam Sa; truyền thông Việt Nam gần đây cho biết, Việt Nam đã động viên toàn dân tham gia xây dựng quốc phòng, phát huy tính tích cực của vùng biển rộng lớn đặc biệt là của dân chúng vùng phụ cận Tây Sa và Nam Sa (Hoàng Sa và Trường Sa); VN mua của Nga 12 chiếc SU-30MK2 và 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo, xây sân bay ở Nam Sa và bố trí thêm 1 trung đoàn tăng cường, đồng thời điều 4 binh đoàn chiến lược tới biên giới Trung-Việt. Bài báo còn nhận định nhân dân Việt Nam, kinh qua mấy chục năm chiến tranh, là "một lực lượng không thể xem thường". Trong thời gian ngắn VN có thể động viên được 40 triệu dân quân và nhân viên dự bị chiến đấu, đồng thời có thể tổ chức được 1 triệu bộ đội tác chiến chính quy và 500 nghìn quân dã chiến. VN luôn theo đường lối quốc phòng toàn dân. Các đảo ở Nam Hải của TQ, đối với TQ "dễ công, khó giữ". VN được địa lợi có thể liên tục quấy rối "quân ta". Bài báo này chủ trương TQ "chỉ có tiến hành cuộc chiến tranh đồng thời trên cả đất liền và trên biển, thì mới có thể chiếm giữ vĩnh viễn toàn bộ Nam Hải và khống chế được Việt Nam."
Khi có Chiến tranh Việt Hoa trên Biển Đông, bài báo này quan niệm "Thương lái chiến tranh sẽ dây máu ăn phần". "Mỹ, Ấn Độ, thậm chí Nga đều ngầm ủng hộ VN phát động chiến tranh trên Nam Hải. Và một số nước phương Tây như Anh, Pháp cũng muốn được chia phần ở Nam Hải." "Thậm chí, Việt Nam và Mỹ còn câu kết với nhau, mỗi nước dựa vào nhu cầu của mình mà tuyên chiến với Trung Quốc." "Trung Quốc đã ở vào ranh giới chiến tranh, đánh hay không đánh đều có khả năng. Vấn đề là đã lâu Trung Quốc không có chiến tranh. "Kết luận trên trang mạng bán chính thức của Trung Quốc là: "Việt Nam điều chỉnh gấp chính sách, Trung Quốc phải đối phó".
Báo Thái Lan lo việc Việt Nam mua thêm nhiều vũ khí và trang thiết bị quốc phòng, nhất là tàu ngầm và chiến đấu cơ hiện đại từ Nga, có thể kích dộng cuộc chạy đua võ trang trong vùng của khối ASEAN. Báo tiếng Anh Bangkok Post xã luận kêu gọi VN tựa đề "Hãy nghĩ lại việc tăng cường vũ khí (Rethink this arms buildup)". Than phiền vì muốn nhấn mạnh chủ quyền ở các vùng biển và hải đảo đang tranh chấp. Báo này nhận định VN "Không có lý do gì cho Việt Nam bắt đầu một chương trình tái vũ trang, cả về mặt kinh tế lẫn chính trị."
Hãng thông tấn của Pháp AFP (Agence France-Presse), trong bài bình luận phát đi từ Hà Nội, nhận xét các hợp đồng này là nhằm "củng cố tuyên bố chủ quyền chống lại Trung Quốc trong vùng Biển Đông". Trích dẫn ý kiến của nhiều nhà phân tích nói rằng, phần lớn trang thiết bị quốc phòng của Việt Nam đã quá cũ kỹ nên nước này quyết định bỏ ra ngân sách lớn để phát triển hạm đội ngầm của mình, trong khi quan ngại gia tăng về căng thẳng với nước láng giềng khổng lồ trong khu vực có Hoàng Sa và Trường Sa.
Tờ nhật báo tiếng Anh có uy tín nhận xét: "Với việc mua sáu tàu ngầm hạng Kilo, Việt Nam còn kiến thiết quan hệ quân sự mới với Moscow, đồng minh chính thời kỳ Chiến tranh lạnh".
Chủ trương đa phương hóa quan hệ quốc phòng của Việt Nam cũng được thể hiện trong kế hoạch hình thành quan hệ quốc phòng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, quốc gia đang tăng cường hiện diện hải quân tại Biển Đông.
Tướng Xu của TC cho rằng cạnh tranh ở đâu cũng có, nhưng không nên thổi phồng tầm mức cạnh tranh. "Hải quân Trung Quốc đang được hiện đại hóa nhanh chóng. Các nước láng giềng không đe dọa được chúng tôi."
Cuối cùng có lẽ lấy kinh nghiệm chống CS ở VN ra để suy đoán, thì hợp tình hợp lý VN hơn. "Đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn những gì CS làm". Hiện tình cho thấy thời gian đang đứng về phía TC. Đất, biển, đảo của VN, TC đã chiếm được nhiều rồi. TC quanh co, âm thầm gậm nhấm, đâu cần phải đánh đấm VN làm chi cho quốc tế nhảy vào. Cứ nhờ "sinh tử phù" của TC đã cấy vào một số lãnh đạo chóp bu của CS Hà nội thân TC phát tác để gậm nhấm thêm nữa. Còn CS Hà nội thành phần thân Tây Phương cố gắng âm thầm năn nỉ ỉ ôi TC để cái gì mất cho mất luôn, cái gì còn rán giữ để dân chúng VN bớt bất mãn hầu tiếp tực cầm quyền "thu vén cuối đời". Những việc mua máy bay, tàu lặn, lăn xăn lít xít đi Nga, đi Mỹ, đi Pháp có giá trị "đánh gió, hư chiêu" trên phương diện công luận còn trên phương diện riêng tư có thể kiếm chát tiền cò khi hợp đồng mua bán và hưởng lạc khi công du nữa.

VI ANH

Sunday, January 3, 2010

Tin nóng hổi: Vạn lý địa đạo của Trung Quốc

Trích Bauxit VietNam

Nguyễn Hoàng Hà

Trên các trang báo Pháp ngày 19 tháng 12 và nhiều báo châu Âu, châu Mỹ hiện nay thì sự kiện Hội nghị Copenhagen về biến đổi khí hậu đang không còn hấp dẫn người ta nữa, tin trên trang nhất của các tờ báo đập mạnh vào mắt của độc giả là «Trung Quốc đã đào một con đường hầm dài 5 ngàn cây số để giấu vũ khí hạt nhân».

Theo thông tín viên của Le Figaro tại Bắc Kinh, các lãnh đạo Trung Quốc đã cho xây xong một Vạn Lý Trường Thành khác nhưng lại nằm sâu đến 1 km dưới lòng đất, được gọi tên là “Vạn lý địa đạo”. Người nước ngoài chưa ai được đặt chân đến đó để nhìn thấy cái vĩ đại của nó, mà chính báo chí Trung Quốc đã loan tin này.

Một tờ báo Hồng Kông cho rằng sự kiện báo chí Trung Quốc tiết lộ một địa điểm khổng lồ để cất giấu vũ khí là dấu hiệu cho thấy quyết tâm của Bắc Kinh muốn khẳng định sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Chính tờ báo này cũng đã nêu lên khái niệm khá táo bạo về «một Vạn lý Trường Thành dưới mặt đất hay gọi là Vạn Lý Địa Đạo», vì nếu đem so sánh hai công trình này thì chiều dài của chúng gần bằng nhau, nhưng chắc chắn Vạn Lý Địa Đạo vĩ đại hơn rất trăm ngàn lần Vạn Lý Trường Thành.

Dư luận các báo quốc tế lại nhắc lại những sai lầm chết người của Mỹ từ sau cuộc chiến tranh tại Việt nam năm 1975, nước Mỹ lúc đó vì quá sân hận và cay cú sau sự thua trận nên đã ra lệnh cấm vận Việt nam trong một thời gian quá dài, khiến người có thể kìm chân Trung quốc này kinh tế không phát triển lên được, công nghiệp hầu như bị kiệt quệ, trong khi đó Mỹ lại liên kết với Trung quốc qua chuyến đi thăm của tổng thống Nixon, đã ký với Trung Quốc thông cáo chung Thượng Hải để sau đó, Trung Quốc kích động Polpot tấn công phía Tây Nam Việt Nam, còn mình thì trực tiếp tấn công biên giới phía Bắc, đổi lại Mỹ đã dành cho Trung Quốc quyền ưu đãi buôn bán vào Mỹ.

Cả một thời gian dài sau đó, từ một nước nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp hạn chế, Trung Quốc đã nhanh chóng phát triển kinh tế như “diều gặp gió”, thực hiện được sự đại nhẩy vọt - khẩu hiệu mà ông Mao đề ra bao năm không làm được. Trong khi Mỹ ngập chân vào Afghanistan, Iraq, Trung đông và các nước cộng hòa của thời hậu Xô viết v.v… thì đây là thời gian vàng để Trung Quốc vươn lên vị trí nước mạnh có tiềm năng lớn chẳng những về kinh tế và nhất là về quân sự.

Người ta nghĩ lại, khi đem quân đánh Việt Nam, Trung Quốc quân sự lúc đó không đủ sức buộc Việt Nam phải đầu đầu hàng mình mà trái lại Việt Nam với vũ khí được Liên xô ủng hộ và một phần lấy được qua chiến tranh với Mỹ đã đánh bại người tự cho mình có nhiệm vụ dạy cho Việt Nam một bài học. Kết quả, người anh lớn đã phải ngậm ngùi rút quân. Ngay sau đó Trung quốc tập trung vào phát triển kinh tế như vũ bão và Vạn Lý Địa Đạo đã được khởi công năm 1995 sau rất nhiều năm chuẩn bị công phu về các loại bom hạt nhân và các tên lửa đạn đạo tầm xa thành công.

Trung Quốc đã đào một con đường hầm dài 5 ngàn cây số để giấu vũ khí hạt nhân tại vùng núi ở phía bắc, đường hầm được xây cất với sức huy động của mấy chục ngàn binh lính. Mục tiêu của con đường hầm vĩ đại này là để duy trì khả năng "tấn công lần thứ nhì" nếu như Trung Quốc có cuộc va chạm về một cuộc tấn công hạt nhân.

Ngoài Vạn Lý Địa Đạo kể trên người ta cho rằng nay Trung quốc đang tiến hành cho liên hoàn nối kết tới một thành phố quân sự hải quân khổng lồ nằm tại đảo Hải Nam nơi có các chiến hạn tàu ngầm và các tàu khu trục, các hạm đội hùng mạnh trên biển. Sự kiện hôm Chủ nhật xảy ra tại hải phận quốc tế thuộc khu vực mà Việt Nam gọi là biển Đông cách đảo Hải Nam 75 dặm (120 km). Hải Nam là nơi Trung Quốc đặt căn cứ hải quân lớn nhất của họ hiện nay với cả các khu trục hạm và tàu ngầm hiện đại nhất. Giới quan sát nói động thái mới nhất của Trung Quốc cho thấy Bắc Kinh đang muốn tái khẳng định quyền được quyết định có cho tàu nước ngoài vào bên trong khu vực kinh tế (EEZ) 200 hải lý của mình hay không.Người ta cho rằng Mỹ không thể đủ sức lập lại một sự kiện Vịnh Bắc bộ như đối với Việt Nam xưa để lấy cái cớ phát động một cuộc chiến tranh.

Các nguồn tin cho hay Hoa Kỳ quyết định điều tàu chiến có trang bị vũ khí tới hộ tống tàu thăm dò của nước này tại khu vực biển Đông sau khi có sự cố với tàu Trung Quốc hồi cuối tuần, và Tổng thống Obama đã không chịu được sự trịch thượng của Trung Quốc khi họ coi gần như toàn bộ khu vực biển Đông là chủ quyền của riêng họ.

Phóng viên của tờ Times có mặt tại Washington nói trong ngày (thứ Năm 12/3 tại Mỹ) ông Obama đã có cuộc gặp Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì, nhưng cả phía Bắc Kinh cũng không tỏ vẻ nhún nhường.

Người ta cho rằng dù quân đội Trung Quốc đã được trang bị hiện đại, đặc biệt là hải quân, dù việc đầu tư tiền của là rất lớn, nhưng với tốc độ này phải 5 đến 10 năm tới họ mới có thể ngang bằng với Mỹ về tiềm năng quân sự. Hiện họ liên tục hung hăng coi biển Đông là của mình, thường xuyên truy bắt tàu thuyền đánh các của ngư dân Việt Nam ngay tại khu vực thuộc chủ quyền biển Việt Nam, bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của Bộ Ngoại giao Việt Nam. Tình trạng này càng ngày càng trầm trọng thêm và đang gây lo ngại cho không chỉ Việt Nam mà cả các quốc gia trong khu vực. Đây là biểu hiện rõ nét nhất về việc Trung Quốc quyết tâm tỏ rõ ý chí biển Đông thành biển nhà mình, bất chấp công ước quốc tế.

Theo nhận định của báo chí Trung Quốc, mục tiêu của con đường hầm vĩ đại này là để duy trì khả năng «tấn công lần thứ nhì» nếu như Trung Quốc là nạn nhân của một cuộc tấn công hạt nhân.

Tờ Le Figaro đưa tin: cho đến nay luận điểm của Trung Quốc về vũ khí hạt nhân là không sử dụng một kho vũ khí, vừa đủ để phòng vệ, để tấn công trước tiên. Đồng thời Bắc Kinh cũng cam kết là sẽ không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại các nước không có loại vũ khí này. Tuy nhiên, trong ngân sách quốc phòng của Trung Quốc, nhiều phương tiện tài chính đã được dành cho «binh chủng pháo binh thứ nhì». Và Trung Quốc đã chế tạo nhiều tàu ngầm hạt nhân phóng hoả tiễn để tiến hành những cuộc tuần tra răn đe, cho dù các tàu ngầm này chưa đi vào hoạt động. Chắc chắn tin này đang gây choáng váng cho Washington và NATO khi họ đã quá lâu lao sâu vào chiến tranh vùng Vịnh và Trung Đông và nay lại kẹt ở Iraq và Afghanistan trong khi kinh tế đang bị suy thoái, lại phải chi phí khoản tài chính khổng lồ vào cuộc chiến tranh mà phần thắng sẽ không bao giờ thuộc về mình. Giờ phải làm gì? Đó là câu trả lời đang dành cho vị Tổng thống trẻ Obama và các nhà quân sự NATO.

Ngày 19 tháng 12 năm 2009

N.H.H

Friday, January 1, 2010

Việt Nam, 10 sự kiện nổi bật trong năm 2009

Trích NguoiViet Online

Việt Nam, 10 sự kiện nổi bật trong năm 2009



medium_VN-BatNha-30-12.jpg

Tượng đài Mẹ tại công trường Bông Hồng Cài Áo, tu viện Bát Nhã, Lâm Ðồng, bị đập phá cuối Tháng Sáu, 2009. (Hình: phapnanbatnha.net)

medium_VN-TamToa-30-12.JPG

Hàng ngàn giáo dân Giáo Phận Vinh hiệp thông với Tam Tòa. (Hình: huongvedaihoidanchua.net)

medium_VN-Bauxite.jpg

Trang mạng “Bauxite Việt Nam” bị tin tặc đánh sập trong Tháng Mười Hai, 2009. (Hình: Người Việt)

medium_VN-NguDan-30-12.jpg

Cha con ông Lê Ðủ ở Quảng Ngãi, hai trong số nhiều ngư dân bị Trung Quốc bắt và đánh đập. (Hình: SGTT)

medium_VN-PhungQuangThanh-30-12.jpg

Bộ Trưởng Quốc Phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh thăm Mỹ làm Bắc Kinh khó chịu. (Hình: Getty Images)

medium_VN-LeCongDinh.jpg

Luật Sư Lê Công Ðịnh. (Hình: Getty Images)

medium_VN-NguyenTienTrung.jpg

Thạc sĩ tin học Nguyễn Tiến Trung. (Hình: Blog Nguyen Tien Trung)

medium_VN-LuongNgocAnh-30-12.jpg

Lương Ngọc Anh, tổng giám đốc công ty CFTD, bị báo Úc The Age tố đứng làm bình phong nhận tiền hối lộ cho quan chức VN để công ty Securency (Úc) trúng thầu in tiền giấy nhựa polymer. (Hình: báo ÐCSVN)

medium_VN-LeBaHung-30-12.jpg

Hạm Trưởng Lê Bá Hùng tại cảng Tiên Sa, Ðà Nẵng. (Hình: Getty Images)

medium_Vn-PhaGiaTien-3012.jpg

Việt Nam đã ra lệnh phá giá đồng tiền 5% vào đầu Tháng Mười Hai, 2009. (Hình: HoanDinhNam/Getty Images)

medium_VN-BienDong-30-12.jpg

Biển Ðông giàu tài nguyên của Việt Nam luôn bị láng giềng phương Bắc dòm ngó. (Hình: Getty Images)

medium_VN-BaoLut-3012.jpg

Hàng trăm ngàn người dân miền Trung mất nhà cửa sau 3 cơn bão liên tiếp, số 9, 10 và 11. (Hình: Getty Images)





1. Gia tăng đàn áp tôn giáo

Nhà cầm quyền Việt Nam trong năm 2009 gia tăng các đợt đàn áp tôn giáo mà nổi bật nhất là vụ Giáo xứ Tam Tòa và Tu viện Bát Nhã Lâm Ðồng

* Giáo phận Vinh biểu tình

Ngày mùng 2 Tháng Tám, 2009 có ít nhất nửa triệu giáo dân thuộc 178 giáo xứ của giáo phận Vinh đã biểu tình tại nhiều nơi khác nhau, tố cáo nhà cầm quyền Ðồng Hới đánh đập các linh mục tu sĩ nam nữ và giáo dân.

Họ mang theo cờ Tòa Thánh và nhiều biểu ngữ yêu cầu nhà nước cộng sản Việt Nam chấm dứt các cuộc bách hại Kitô hữu giáo xứ Tam Tòa và trả lại nơi thờ phượng cho tín hữu cũng như chấm dứt chiến dịch vu khống Giáo Hội Công Giáo qua các phương tiện truyền thông.

Ðây là cuộc biểu tình lớn thứ hai sau cuộc biểu tình ngày 26 Tháng Bảy, 2009 với gần 250,000 tín hữu thuộc 18 trên tổng số 19 hạt tham dự.

Các cuộc biểu tình này được tổ chức để phản đối vụ đánh đập, bắt giữ một số tín đồ Công Giáo khi họ dựng một nhà tạm che mưa nắng (ngày 20 Tháng Bảy, 2009) trên nền nhà thờ Tam Tòa, thành phố Ðồng Hới, tỉnh Quảng Bình, bị bỏ hoang suốt từ thời chiến tranh đến nay.

Nhà cầm quyền địa phương đàn áp vì cho đó là một di tích chiến tranh “tội ác đế quốc Mỹ” cần phải duy trì trong khi phía Công Giáo thì muốn đòi lại tài sản để xây dựng nhà thờ như cũ.

Các cuộc biểu tình này với số lượng người tham gia một cách kỷ luật và đông đảo nhất từ trước tới nay ở Việt Nam mà không do nhà nước tổ chức.

* 400 Tăng sinh Bát Nhã phải ra đi

Cuối Tháng Sáu, 2009, tu viện Bát Nhã, thuộc xã Dambri, thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Ðồng, rơi vào hỗn loạn, khi, gần 200 người kéo vào đập phá và đòi đuổi gần 400 tăng sĩ đang tu tập theo pháp môn Làng Mai ra khỏi tu viện.

Ðêm Thứ Bảy, 27 Tháng Sáu, kéo dài cho đến khuya 28, rạng sáng 29, khoảng 200 “thanh niên xã hội đen” kéo vào tấn công tu viện, đập phá bếp ăn, quăng đồ đạc của giới tu sĩ, và yêu cầu gần 400 tăng sinh, giáo thọ tại đây phải rời tu viện.

Những người tu tập, là môn đồ của Thiền Sư Nhất Hạnh, từ chối lời yêu cầu.

Tình thế giằng co kéo dài cho đến ngày 13 Tháng Tám, khi truyền thông quốc tế đưa tin, lần đầu tiên phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao CSVN nói rằng: môn đồ của Thiền Sư Nhất Hạnh chỉ được phép ở lại tu viện Bát Nhã đến ngày 2 Tháng Chín, 2009.

Ngay sau đó hàng ngàn người đã ký thỉnh nguyện thư yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam ngưng đàn áp các Tăng sinh Bát Nhã.

Sáng ngày 27 Tháng Chín, một lần nữa tu viện Bát Nhã bị công an tấn công.

Ngày 30 Tháng Chín, Thiền Sư Nhất Hạnh, bằng bút danh Nguyễn Lang, lần đầu tiên lên tiếng về vụ Bát Nhã trong hai bức thư, một gởi cho Chủ Tịch Việt Nam Nguyễn Minh Triết, một gởi cho nhân sĩ, trí thức trong và ngoài nước.

Sau đó, nhà cầm quyền và công an tiếp tục quấy phá khiến các tăng sinh phải rời tu viện Bát Nhã sang ẩn náu tại chùa Phước Huệ. Lúc này số tăng sinh chỉ còn 200 người.

Sau 3 ngày liên tiếp (9, 10, 11 Tháng Mười Hai) bị nhà cầm quyền và công an gây áp lực, “Thượng Tọa trụ trì chùa Phước Huệ - Thích Thái Thuận - đã phải ký vào biên bản cam kết với chính quyền sẽ yêu cầu các Tăng sinh Làng Mai rời khỏi chùa trước thời hạn chót là ngày 31 Tháng Mười Hai.

Ngày 29 Tháng Mười Hai, theo Thượng Tọa Thích Thái Thuận, hầu hết các tăng sinh Làng Mai đã rời chùa Phước Huệ, vụ Bát Nhã coi như đã chấm dứt.

Hiện nay, Làng Mai đang vận động chính phủ Pháp cho những tăng sinh Làng Mai sang Pháp tị nạn nhưng chưa rõ kết quả ra sao.

2. Chống khai thác Bauxite Tây Nguyên

Sự kiện Việt Nam đồng ý cho các nhà thầu Trung Quốc khai thác bauxite tại Tây Nguyên đã dấy lên làn sóng phản đối của người Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước, trong đó có hàng ngàn tiếng nói lương thức của các nhà khoa học, văn hóa, trí thức...

Ðiều đặc biệt nhất là sự xuất hiện trang mạng “Bauxite Việt Nam.” Ngày 19 Tháng Tư, 2009, blog bauxite Vietnam xuất hiện. Báo điện tử cá nhân (blog) này ra đời sau khi các ông Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn và Nguyễn Thế Hùng và 132 người nữa, hầu hết là trí thức các ngành chuyên môn ký tên trên bản kiến nghị ngày 12 Tháng Tư, 2009 gửi nhà nước Việt Nam khuyến cáo ngừng khai thác bauxite, nghiên cứu cho kỹ lưỡng trước khi tiến hành. Lúc đầu họ chỉ có hộp thư (e-mail) rồi chuyển sang blog. Nhưng vì sự hưởng ứng quá nhiều và quá nhanh, họ chuyển sang thành trang mạng (website) lấy tên bauxitevn.info. Từ đó đến nay đã có hơn 17.5 triệu lượt người vào đọc các bài viết, đọc tin và phản hồi, góp ý hoặc gửi bài viết.

Số người ký tên vào kiến nghị gửi nhà nước phổ biến trên mạng ngừng ở con số gần 3,000 người. Nhưng trang báo này không còn ngừng ở dự tính ban đầu là phản biện về chương trình khai thác bauxite, mà đã trở thành một diễn đàn thông tin đa chiều, khách quan về mọi mặt liên quan đến tình hình đất nước.

Nhóm chủ trương bauxitevn đã gửi 3 bức thư ngỏ đến lãnh đạo nhà nước và Quốc Hội về chương trình khai thác bauxite nhưng đều không có hồi âm cho đến nay. Trước sự lớn mạnh của nó, kẻ xấu giấu mặt đã đánh sập bauxitevn.info ít nhất 5 lần mà lần cuối cùng xảy ra trong Tháng Mười Hai.

Ðây là báo điện tử có tầm ảnh hưởng vượt lên tất cả hệ thống báo đảng và nhà nước dù chỉ xuất hiện mới một thời gian ngắn. Nhóm chủ trương khẳng định “Bauxite Việt Nam không phải là một trang chính trị đối lập mà chỉ là một trang mạng của trí thức lên tiếng góp ý xây dựng đối với đất nước,” nhưng độc giả có thể tìm thấy ở đây những thông tin thuộc loại “nhạy cảm” mà không một tờ báo chính thức nào ở Việt Nam dám đăng tải.

3. Trung Quốc cấm ngư dân Việt Nam đánh cá trên biển Ðông - Ðâm chìm tàu đánh cá, bắt giữ ngư dân Việt, tập trận ở Hoàng Sa Trường Sa

Cuối Tháng Sáu, 2009, Trung Quốc loan báo cấm đánh cá trên biển Ðông trên vùng biển họ đánh dấu hình “lưỡi bò” mà họ ngang ngược xác định chủ quyền, từ ngày 15 Tháng Sáu đến ngày 1 Tháng Tám, 2009. Nằm trong “lưỡi bò” chiếm đến 80% biển Ðông này là các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Trong thời gian này, ngư dân Việt Nam đánh cá gần quần đảo Hoàng Sa đã bị đâm chìm tàu hoặc bị kéo tàu về đảo Phú Lâm đòi tiền chuộc. Thậm chí chạy đến trú bão cũng bị đánh đập và cướp hết tài sản.

Vừa dứt hạn cấm đánh cá là Trung Quốc, ngày 16 Tháng Tám, 2009 tổ chức tập trận qui mô phối hợp nhiều lực lượng khác nhau ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ cấm đánh cá, đâm chìm tàu, bắt ngư dân Việt đến tổ chức tập trận qui mô, báo bán chính thức của Trung Quốc bắn tiếng là muốn thử ý chí của người Việt Nam xem có dám phản ứng gì trước sự khiêu khích của họ trong sự tranh chấp chủ quyền biển đảo.

4. Công bố Sách Trắng Quốc Phòng, mua tàu ngầm, chiến đấu cơ

Ngày 08 Tháng Mười Hai, 2009 Bộ Quốc Phòng Việt Nam họp báo công bố “Sách Trắng Quốc Phòng.” Ðây chỉ là lần thứ ba kể từ năm 1998 đến nay có chuyện công khai hóa chi tiêu quốc phòng.

Sách Trắng Quốc Phòng Việt Nam cho hay ngân sách hàng năm 27 ngàn tỉ đồng hay khoảng $1.4 tỉ USD, chiếm 1.8% ngân sách nhà nước. Sự công bố diễn ra ít ngày trước khi ba phái đoàn ra ngoại quốc hoặc ký hợp đồng mua tàu ngầm, chiến đấu cơ, hoặc hỏi mua võ khí trang bị.

Sách Trắng Quốc Phòng của Việt Nam cho biết quân đội khoảng 450 ngàn người và khoảng 5 triệu quân dự bị.

Ngày 15 Tháng Mười Hai, 2009, Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng, cầm đầu một phái đoàn đến Nga ký hợp đồng mua 6 tàu ngầm hạng Kilo và có thể cả một số võ khí khác, gồm cả chiến đấu cơ đa năng SU-30MK2, tàu tuần, trực thăng võ trang.

Các chi tiết của hợp đồng từ trị giá đến số lượng không được tiết lộ ngoài điều ông Dũng xác nhận với báo Nga là có chuyện mua tàu ngầm.

Nhưng báo chí Nga dựa vào nguồn tin kỹ nghệ nói Việt Nam mua của Nga 6 tàu ngầm hạng kilo và điều đình mua thêm 12 SU-30MK2. Trị giá 6 tàu ngầm khoảng $1.8 tỉ USD bao gồm cả việc thiết trí căn cứ tàu ngầm ở Cam Ranh. Tàu ngầm hạng Kilo được coi là hiện đại trang bị hỏa tiễn, khó phát hiện, có khả năng tác chiến chống hạm và tàu ngầm ở trong các vùng biển nước nông như quanh Việt Nam.

Vụ mua bán này được báo chí Nga xác định là vụ bán võ khí quan trọng, nâng việt Nam lên số 3 nước khách hàng quan trọng nhất của họ.

Bên cạnh chuyện ký hợp đồng ở Nga, Bộ Trưởng Quốc Phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh, cùng thời gian trên, xin Mỹ bỏ lệnh cấm bán võ khí sát thương và hỏi mua trực thăng võ trang, máy bay vận tải quân sự của Pháp. Ngoài ra, Thứ Trưởng Quốc Phòng Nguyễn Huy Hiệu, cùng thời gian, đi xem xưởng đóng tàu chiến của Hàn Quốc và một công ty sản xuất phần mềm điều khiển các loại trang bị và võ khí điều khiển điện tử.

Ba phái đoàn Việt Nam đi ngoại quốc cùng một lúc và mua võ khí được báo chí nhà nước hô hoán ầm ỹ chứ không che giấu như suốt nhiều chục năm qua. Tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc có rất nhiều căng thẳng trong năm 2009.

5. Hàng loạt các nhà đầu tranh dân chủ bị bắt và bỏ tù

Ngày 13 Tháng Sáu, 2009, nhà cầm quyền Việt Nam bắt giam luật sư nhân quyền Lê Công Ðịnh ở Sài Gòn. Ít ngày trước đó đã bắt ông Trần Huỳnh Duy Thức và ông Lê Thăng Long.

Ðến ngày 7 Tháng Bảy, 2009 thì bắt thêm ông Trần Anh Kim ở Hải Phòng và Nguyễn Tiến Trung ở Sài Gòn.

Hai ông Kim và Trung đều công khai xác nhận mình là các đảng viên đảng Dân Chủ Việt Nam. Khi chế độ Hà Nội mở họp báo về các cuộc bắt giữ này, người ta thấy các ông Ðịnh, Duy Thức và Long cũng bị cột vào đảng nói trên và thêm nhiều hoạt động chống đối chế độ với những tổ chức khác, bị cáo buộc là “phản động” hay “khủng bố.”

Bốn ông Ðịnh, Trung, Kim, Duy Thức được thấy nhìn nhận tội lỗi qua đoạn video phổ biến trên truyền hình Việt Nam ngày 19 Tháng Tám, 2009 giống như đọc thuộc lòng bài viết sẵn của công an. Lúc đầu họ chỉ bị vu cho tội “tuyên truyền chống nhà nước” theo điều 88 Luật Hình Sự mà bản án cao nhất đến 20 năm tù. Nhưng gần đây, họ bị đổi tội danh sang thành “Âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 79 của Luật Hình Sự mà bản án tối đa lên đến tử hình.

Ông Trần Anh Kim bị lôi ra tòa đầu tiên, ngày 28 Tháng Mười Hai, 2009 và bị kết án 5 năm rưỡi tù. Các người còn lại sẽ bị ra tòa ngày 20 Tháng Giêng, 2010.

Song song đó, 9 người ở vận động dân chủ ở Hà Nội, Hải Phòng bị bỏ tù. Ðầu Tháng Mười, từ ngày mùng 6 đến ngày 9 Tháng Mười, 2009 nhà cầm quyền Việt Nam đã mở các phiên tòa tại Hà Nội và Hải Phòng bỏ tù 9 người tham gia đấu tranh dân chủ.

Sáu trong số 9 người đó bị cáo buộc tham gia treo các biểu ngữ chống tham nhũng, đòi đa nguyên đa đảng và tuyên bố các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Các ông Trần Ðức Thạch, Vũ Hùng và Phạm Văn Trội bị xử riêng ở Hà Nội từng người một. Nhưng 6 ông bị xử chung ở Hải Phòng gồm Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Mạnh Sơn, Ngô Quỳnh, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Kim Nhàn, Nguyễn Văn Túc.

Ông Nghĩa bị kêu án nặng nhất với 6 năm tù và 3 năm quản chế. Dù báo chí của chế độ gọi là “vụ án xâm phạm an ninh quốc gia rất nghiêm trọng” nhưng họ lại không bị khép vào điều 79 mà chỉ bị vu cho tội “tuyên truyền chống nhà nước” theo điều 88 của Luật Hình Sự.

Chính phủ, Quốc Hội Hoa Kỳ và Âu Châu cũng như các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế đều lên án các phiên tòa này là xâm phạm quyền tự do phát biểu và quyền tự do chính trị của người dân đã được ghi trên Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị mà CSVN đã đặt bút ký cam kết tuân hành.

6. Hạm trưởng USS Lassen Lê Bá Hùng thăm Việt Nam

Chiến hạm USS Lassen, một trong những chiến hạm tối tân nhất của Hải Quân Hoa Kỳ trang bị hỏa tiễn điều khiển, ghé thăm cảng Tiên Sa, Ðà Nẵng, ngày 7 Tháng Mười Một, 2009. Ðây là chuyến thăm viếng bình thường của Hải Quân Mỹ trong khu vực được xếp đặt giữa nhà cầm quyền Việt Nam với chính phủ Hoa Kỳ sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Nhưng sự việc được dư luận quan tâm theo dõi là người chỉ huy chiến hạm nói trên lại là một người gốc Việt Nam, Hải Quân Trung Tá Lê Bá Hùng.

Cha của ông, cũng là một sĩ quan cao cấp của Hải Quân VNCH, Hải Quân Trung Tá Lê Bá Thông, mang các con chạy trốn cộng sản khi miền Nam sụp đổ và khi đó ông Hùng mới 5 tuổi.

Ông Thông đưa gia đình định cư ở Bắc Virginia, làm người phụ thâu ngân đứng xếp đồ cho khách (bagger) ở siêu thị leo dần đến chức quản lý, nuôi các con ăn học. Ông Hùng đã theo gương cha, ghi tên học ở Học Viện Hải Quân, ra trường năm 1992 hạng danh dự. Mười bảy năm sau, trở thành hạm trưởng và trở lại quê cũ ở vị trí mà chính ông cũng không thể nào hình dung ra khi còn nhỏ.

Khi chạy trốn, gia đình ông Thông được một tàu Hải Quân Mỹ vớt. Khi trở lại Việt Nam, người con của ông là một hạm trưởng Hoa Kỳ, một câu chuyện được mô tả như chuyện huyền thoại.

Một số người cho đây là một tín hiệu chính trị trong mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vào lúc có nhiều căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc về các vấn đề chủ quyền biển đảo.

7. Báo chí Úc tiếp tục phanh phui vụ hối lộ 10 triệu đô la Úc in tiền Polymer cho Việt Nam

Ngày 30 Tháng Mười, 2009, báo The Age ở Úc lại tiếp tục khui vụ hối lộ cho quan chức Việt Nam để in tiền giấy nhựa cho nước này từ năm 2001. Ðiểm chính của bài viết này nói nhiều về cá nhân ông Lương Ngọc Anh, tổng giám đốc công ty Phát Triển Công Nghệ (viết tắt là CFTD) ở Hà Nội.

Vụ này đã từng khiến cho Lê Ðức Thúy, thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam mất chức.

Người ta biết muốn có các hợp đồng béo bở, các công ty ngoại quốc phải thương thuyết và ký hợp đồng với các công ty bình phong, cơ sở kinh doanh có cái vỏ tư nhân nhưng thật sự là nhận tiền của hối lộ của các công ty nước ngoài rồi chuyển lại cho những kẻ thụ hưởng thật sự (tức quan chức cao cấp trong hệ thống đảng và nhà nước CSVN).

Bài báo của The Age cho rằng nếu không có mối quan hệ chặt chẽ với hệ thống quyền lực và công an, Lương Ngọc Anh không thể có được các hợp đồng mua sắm vừa lớn vừa “nhậy cảm” từ in tiền đến trang bị kỹ thuật cho công an, trang bị quốc phòng.

Trong một cuộc hội thảo về phòng chống tham nhũng ở Việt Nam, ngày 28 Tháng Mười Một, 2008 tham vụ Tòa Ðại Sứ Hòa Lan tại Việt Nam, Beng Van Loosdlecht, phát biểu, “Chúng tôi đang có cảm nhận là thế cờ chống tham nhũng đã đảo ngược, bị sai lệch. Con cá bé bị bắt, con cá to lại lọt lưới.”

Bình luận về vụ này, Tổng Thanh Tra Chính phủ Việt Nam Trần Văn Truyền nói các tin do báo Úc khui ra chỉ dùng để “tham khảo” trong khi ông Phó Tổng Thanh Tra Mai Quốc Bình có vẻ thành thật hơn nên nói vụ việc này “khó nói lắm.”

8. Phá giá đồng bạc Việt Nam 5%

Thị trường tài chính tại Việt Nam đã chao đảo sau ngày 26 Tháng Mười Một, khi ngân hàng nhà nước ban hành lệnh phá giá đồng tiền 5% bên cạnh việc tăng lãi suất ngân hàng, thu hẹp biên độ tỉ giá hối suất và ép các công ty xuất cảng có nhiều ngoại tệ phải bán bớt lại cho nhà nước.

Ðây là những biện pháp đưa ra nhằm chống đỡ cho đồng nội tệ đang gặp cơn khốn đốn và dự trữ ngoại tệ xuống rất thấp. Tỉ giá chính thức liên ngân hàng từ 17,034 đồng/USD được nâng lên thành 17,961 đồng/USD, mất giá 5.4%.

Ông Nguyễn Văn Giàu, thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, loan báo hôm 25 Tháng Mười Một, là các biện pháp nói trên nhằm “can thiệp nhanh và mạnh nhằm bình ổn thị trường ngoại hối đang hết sức căng thẳng hiện nay.”

Ðồng bạc đã mất giá trị nhanh vì một số yếu tố, gồm cả tình trạng thiếu đô la. Bởi vậy, Ngân Hàng Nhà Nước đã phải buộc hệ thống ngân hàng kìm giữ ngoại tệ vì nguồn ngoại hối dự trữ xuống thấp do hậu quả giảm sút của xuất cảng, đầu tư ngoại quốc và tiền kiều hối. Những lời đồn đãi đồng bạc sắp bị đánh sụt giá làm người ta lo tích trữ, đầu cơ cả đô la và vàng làm cho thị trường nhốn nháo những ngày gần đây. Ngân Hàng Nhà Nước đã phải vội vàng cho nhập cảng 10 tấn vàng để đối phó với tình thế.

Sự kiện Việt Nam phá giá đồng bạc 5% đã được hầu hết các tờ báo chuyên về tài chính trên thế giới quan tâm.

9. Việt Nam đăng ký Thềm Lục Ðịa Mở Rộng tại LHQ

Ngày 6 Tháng Năm, 2009, Việt Nam nộp hồ sơ đăng ký thềm lục địa mở rộng chung với Malaysia ở phần biển phía Nam mà hai nước có những phần giao tiếp, chồng lấn. Ngày 7 Tháng Năm, 2009, Việt Nam nộp riêng hồ sơ đăng ký thềm lục địa mở rộng ở phía Bắc.

Trung Quốc tức thì phản đối và lại còn đưa ra một tấm bản đồ biển Ðông đánh dấu bằng 9 đoạn đứt khúc, theo đó phần giữa và chiếm đến 80% biển Ðông là của Trung quốc.

Theo Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), mà theo công ước này, các quốc gia ven biển được quyền mở rộng thềm lục địa của mình đến tối đa là 350 hải lý căn cứ vào điều kiện địa chất, địa mạo của từng khu vực để xác định.

Trung Quốc chống các bản đăng ký của Việt Nam vì đang chiếm của Việt Nam quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa. Trong năm qua, Trung Quốc đã tổ chức nhiều cuộc tập trận qui mô quanh các quần đảo này để đe dọa Việt Nam và các nước khác liên quan đến tranh chấp chỉ quyền biển đảo.

10. Bão lụt gây thiệt hại nặng nề

Ba cơn bão số 9, 10 và 11 liên tiếp đánh vào miền Trung Việt Nam gây ra những thiệt hại nặng nề về người và vật chất. Trong đó có tiếp tay của sự tắc trách của các giới chức phụ trách việc xả lũ

Như vụ thủy điện A Vương xả lũ làm ngập Quảng Nam hồi bão số 9, tổng giám đốc công ty cổ phần thủy điện Sông Ba Hạ cũng thừa nhận đã xả lũ từ ngày 2 Tháng Mười Một, 2009. Ðiều đó đã góp phần nhấn chìm thành phố Tuy Hòa và một số vùng ở Phú Yên mà trong vụ này có tới 70 người bị thiệt mạng vì lũ.

Cuối Tháng Chín đầu Tháng Mười, nhà máy thủy điện A Vương ở Quảng Nam hối hả xả lũ đã góp phần nhấn chìm hàng trăm ngàn dân ở hạ lưu hai con sông Vu Gia và Thu Bồn. Hậu quả là 35 người chết.

Cũng dịp này, nhà máy thủy điện Bình Ðiền trên thượng nguồn sông Hương cũng xả lũ không thấy tiết lộ số người chết nhưng thành phố Huế và các khu vực phụ cận ngập lụt, tài sản vật chất, ruộng nương hư hại trầm trọng.

Từ đây, theo những tiết lộ trên báo chí, người ta được biết chỉ trên 200 km của hai con sông Vu Gia và Thu Bồn có tới 110 dự án thủy điện chồng chất lên nhau. Nhiều con sông khác ở miền Trung và Tây nguyên cũng có rất nhiều dự án thủy điện với những hậu quả không thể lường hết. Chúng trở thành dự án vì người ta chỉ nhìn thấy thủy điện đẻ ra tiền mà không kể tới các hậu quả tai hại có thể nhiều hơn lợi nhuận của điện.

Wednesday, December 30, 2009

Giáng sinh năm nay ở Saigon có phần nhạt hơn.

VietCatholic News (25 Dec 2009 15:34)
Ở Việt Nam, người dân vui chơi Giáng sinh đông đủ và náo nhiệt, thường là đêm 24, ngày 25 sẽ là một chút níu kéo không gian còn lại và cũng là cách đưa tiễn một Giáng sinh đi qua.

Sau đêm 24, nhiều nhận xét từ người dân cũng như từ báo chí, cho thấy dù vẫn ồn ào như mọi khi nhưng Giáng sinh năm nay ở Saigon có phần nhạt hơn.

Nền kinh tế khó khăn, thất nghiệp tràn lan, thiên tai còn để lại nhiều nỗi cơ cực ở khắp nơi nên Giáng sinh Việt Nam mất đi phần ngọt ngào trong cảm giác của mọi người.

Ngay trên bài chính luận nhận định của báo Thanh Niên, cũng có viết rằng “Cũng phải nói thật là Giáng sinh năm nay không thật vui với các tỉnh miền Trung vừa chịu bão lụt. Vẫn có các hoạt động mừng đón Giáng sinh, nhưng không khí ngoài đường, trong lòng người dân vẫn hơi trầm lắng”.

Từ lâu, lễ Giáng sinh là ngày hội mà chính quyền CSVN không mấy ưa chuộng, vì nói một cách nào đó, lễ Giáng Sinh tập hợp được một đám đông khổng lồ, nhưng hoàn toàn không chịu sự điều khiển của ý thức hệ Cộng sản.

Vào thập niên 90, sau 12g đêm lễ Giáng sinh, người dân đã từng chứng kiến các toán công an, xe tuần tiểu đi dẹp dân chúng đang vui chơi trên đường phố, ngăn không cho tụ tập đông người.

Nhưng dần dần số đông của người hưởng ứng ngày lễ này đã là một áp lực ôn hòa khiến việc giải tán dân chúng phải chấm dứt.

Tin sốt dẻo mà mọi người truyền tai nhau trong Giáng Sinh năm nay là chuyện Đức Giáo Hoàng bị một người lạ mặt xô ngã khi đang làm lễ Misa. Hầu như ngay trong ngày Giáng Sinh, rất nhiều người Công giáo nói với nhau câu chuyện này như những điềm báo chuyện chẳng lành sắp tới.

Ngay sau ngày lễ Giáng Sinh, nỗi lo đời sống khó khăn lại ập đến. Điều mỉa mai nhất là trong cùng một ngày, người ta tìm thấy thông tin lượng người thất nghiệp tại Việt Nam tăng vọt, trong khi công nhân Trung Quốc thì tràn ngập Việt Nam, đặc biệt là không giống như mọi năm, lễ Giáng Sinh năm nay họ xuất hiện vui chơi ở nhiều nơi một cách công khai, không còn giấu mặt như mọi năm.

Tình trạng thất nghiệp của người Việt tràn lan đến mức ngay tại Saigon, chính quyền đã phải mở 5 điểm tiếp nhận, ghi danh người thất nghiệp. Đây là chuyện hết sức bất thường chưa từng có. Cũng theo thống kê nói trên báo Tuổi Trẻ, thì trong năm 2010 này sẽ có khoảng 240.000 người thất nghiệp nhưng ngay tại Saigon, cơ quan có trách nhiệm chỉ mới đủ sức trợ cấp thất nghiệp cho 20.000 người.

Trong khi đó, dù Nhà nước VN có gắng bao che, nhưng sự thật lại phơi bày một cách tàn nhẫn trên tờ New York Times hôm 21-12-2009. Tờ báo dẫn lời cảnh báo của bà Phạm Chi Lan, cựu Phó Giám Đốc Phòng Thương Mại và Kỹ Nghệ VN thì, tình hình công nhân Trung Quốc tại Việt Nam đã tới mức đáng ngại: có nhiều làng bây giờ toàn là công nhân Trung Quốc cư ngụ. Báo New York Times còn kể lời ông Nguyễn Thái Bằng, một thợ điện Việt Nam 29 tuổi, nói rằng “Công nhân Trung Quốc đông tràn ngập so với công nhân VN ở đây”.

Và như vậy, sau Giáng Sinh, người dân VN đang đối mặt với những gì, câu trà lời có lẽ không mấy đẹp đẽ và vui mừng như hình ảnh lễ Giáng Sinh vừa mới đi qua trên đất nước mình.
Tuấn Khanh