Translate

Thursday, December 17, 2009

Phải chăng, pháp luật Việt Nam chỉ bảo vệ cái ác?

Trích danchimviet.com
Nguyễn Hoàng Quang
1. Từ sáng ngày 09/12/ 2009, bọn côn đồ cả trăm người ở bên ngoài đã bạo hành, ùa vào Chùa Phước Huệ quấy rối, đánh sư, phá chùa, xua đuổi tăng thân Làng Mai ra khỏi chùa Phước Huệ rồi gây sức ép buộc TT Thái Thuận ký vào biên bản đã được bọn chúng soạn sẵn trong khi phái đoàn EU Nhân Quyền Châu Âu đang đến làm việc với TT Thích Thái Thuận và thăm tăng thân- tu sỹ Phật giáo là người Việt Nam tu theo Pháp Môn Làng Mai đang tỵ nạn tại chùa Phước Huệ.

Những hành động quấy rối của bọn người nhân danh là “phật tử” nhưng có phải là phật tử? Là Phật tử ai cũng kính Phật trọng Tăng, không ai có hành động vô đạo như vậy. Chắc chắn họ không phải là phật tử. Thượng tọa Thích Thái Thuận đã nói- họ không phải là Phật tử. “Những người đó chính là những người mà họ giả Phật tử thôi “. Họ là ai? Kẻ quấy rồi, lưu manh, vô luật pháp, vô văn hóa ấy là ai? Chắc chắn không phải là người lương thiện nhưng vì sao nhà nước, những lực lượng bảo vệ pháp luật lại không có biện pháp nào để ngăn chặn khi chúng xâm phạm nơi tu hành, nơi thờ tự, chốn thiêng liêng của tôn giáo; xâm phạm nhân phẩm con người mà không bị trừng trị, thậm chí, còn được dung túng! Chùa là của thập phương chứ không phải riêng ai, vì sao chỉ một nhóm nhân danh Phật tử lại có quyền gây rối? Mỗi sự việc xảy ra, dù đúng hay sai thì pháp luật, công cụ pháp luật phải kịp thời ngăn chặn; đúng sai phải xử theo pháp luật chứ không thể để sự việc vô pháp, vô cương, rối loạn xã hội xảy ra như vậy. Nhà nước Việt Nam có luật pháp không? Nếu có vì sao lại không bảo vệ an ninh trật tự xã hội, bảo vệ người công dân sống theo pháp luật? Chẵng lẽ văn hóa, đạo đức, luật pháp, xã hội Việt Nam hiện nay xuống cấp đến thê thảm vậy sao?

2. Những kẻ bạo hành, quấy rối trên như là kẻ “chuyên nghiệp”, phải chăng đó là người “thực thi pháp luật” của nhà nước Việt Nam theo Văn thư 22t/PNV ngày 7/12/2009 của Phòng Nội Vụ Bảo Lộc bác Đơn xin gia hạn lưu trú đối với những tăng sinh tu theo Pháp Môn Làng Mai tại chùa Phước Huệ, Bảo Lộc, Lâm Đồng; Công văn số: 1185/TGCP-PG ngày 26.11.2009 do ông Nguyễn Thanh Xuân, Phó Trưởng Ban Thường Trực Điều Hành BTGCP ký bác bỏ nội dung Đơn bảo lãnh của Viện chủ Tu viện Toàn Giác và Thiền viện Vạn Hạnh thông qua 2 Công văn số 500/CV.HĐTS và 505/CV.HĐTS ngày 09 tháng 11 năm 2009 phê duyệt Đơn Bảo Lãnh của HĐTS-GHPGVN?

Việc luật pháp phải do luật pháp giải quyết. Kẻ thực thi pháp luật mang tính chất gây rối, hành động vi phạm pháp luật không thể là kẻ đại diện cho pháp luật. Chúng ngang nhiên lộng hành khi bọn chúng hai mà một.

Nhà nước bác đơn xin gia hạn lưu trú đối với những tăng sinh tu theo Pháp Môn Làng Mai tại chùa Phước Huệ lại với lý do cư trú, vì chính quyền các địa phương không chấp thuận việc những người tu theo pháp môn Làng Mai tập trung tu tập đông người tại một cơ sở Tôn giáo ở địa phương! Những lý do trên đều không chính đáng. Nước Việt Nam này là thống nhất chứ không phải mổi địa phương là một quốc gia riêng biệt. Kẻ cư trú bất hợp pháp trên đất nước này, có những người là công dân Việt Nam do cuộc sống vì mất đất, mất ruộng, mất nhà… nên đến các đô thị làm ăn nhưng còn những bọn lao động Tàu đang ở Bảo Lộc, Bảo Lâm, những kẻ da đen Châu Phi nhập lậu vào VN… gây nên những tệ nan xã hội, hiểm nguy về an ninh quốc gia nhưng sao chính quyền không có biện pháp, nhân dân “giả danh phật tử” quấy rối kia sao không “thực thi”, không có thái độ phản ứng gì để giữ gìn đất nước, bảo vệ cuộc sống an bình cho nhân dân?

Các Tu sinh Làng Mai là những công dân Việt Nam tu tại Tu viện Bát Nhã, đã bị đàn áp nay tạm trú tại Chùa Phước Huệ, họ là những người tu; họ không có hành động nào gây rối trật tự trị an, không làm chính trị; không chống đối nhà nước, thậm chí không chống lại những kẻ đàn áp mình. Họ tu theo Pháp Phật, học theo chánh pháp. Bằng hình ảnh của họ qua tu học, tu tập Phật tử các nơi đã đến với họ để dự những khóa tu. Những con người có tâm hướng thiện, tu theo chánh đạo, “tự độ, độ tha”; “cứu người, giúp đời”; họ là những người thiện tâm, là những nhân lành để xây dựng một xã hội Việt Nam sống hữu đạo, “tốt đạo, đẹp đời”, đúng ra nhà nước, địa phương cần phải trân trọng họ nhưng sao lại có hành động ngược lại, không chấp nhận họ với lý do tập trung tu tập đông người tại một cơ sở Tôn giáo ở địa phương, gây cho họ đủ mọi khó khăn mà những người dân lương thiện cảm thấy có một điều gì đó bất minh. Hay nhà nước sợ họ sẽ làm chính trị? Vụ trưởng Phật giáo Ban TGCP Bùi Hữu Dược đã nói “chưa có đủ cơ sở để kết luận Tu Sinh Làng Mai hoạt động chính trị…”(1). Chính nhà nước đã áp đắt chính trị vào tôn giáo, biến tôn giáo thành công cụ chính trị chứ tôn giáo không làm chính trị. Hoặc cho rằng HĐTS-GHPGVN không thừa nhận Làng Mai? - Không phải, vì HĐTS-GHPGVN đã phê duyệt đơn Bảo lãnh và đã gửi cho Ban tôn giáo chình phủ. HĐTS-GHPGVN đã thừa nhận Pháp môn Làng Mai là một pháp môn tu học của Phật giáo. Các Công văn của HĐTS-GHPGVN trước đây và vừa qua đã thể hiện và đã cho phép Pháp môn Làng Mai mở các khóa tu. Công văn 553/CV-HĐTS do Hòa thượng Thích Thiện Nhơn ký ngày 30.11.2009 chỉ là một công văn thực hiện sự chỉ đạo của BTGCP, thể hiện GHPGVN, nói riêng, tôn giáo, nói chung, đã bị chính trị hóa, phục vụ chính trị của đảng cộng sản ; tự do tôn giáo là tự do trong phục vụ các nhiệm vụ chính trị của kẻ nắm quyền lực. Pháp môn Làng Mai được phát triển khắp nơi trên thế giới nhưng vì sao tại VN lại không được chấp nhận? Họ đã làm gì gây “bất bình” trong nhân dân? Ai đã “bất bình”? Những kẻ quấy rối, vô văn hóa, vô trật tự, vô luật pháp, kẻ “giả danh phật tử” kia là “nhân dân bất bình” hay sao? Nhà nước và Luật pháp bảo vệ ai? Nhằm mục đích gì? Quyền tu học là quyền tự do tín ngưỡng của mỗi công dân trong xã hội; quyền ấy là nhân quyền, là những quyền tự do, dân chủ mà Hiến pháp, Luật pháp VN đã quy định vì sao lại ngăn cấm!? Hay nhà nước “sợ tăng thân, thù chính đạo”?(2)

Sự đàn áp tăng thân Làng Mai tại tu viện Bát Nhã và Chùa Phước Huệ vừa rồi chính nhà nước đã vi phạm Hiến pháp, Pháp luật; vi phạm quyền tự do tôn giáo. Nhà nước đã thể hiện là một nhà nước không có Luật pháp khi dung túng cho bọn côn đồ quấy rối, áp bức người tu, phá Chùa, hại Đạo. Chính bọn quấy rối ấy là kẻ vi phạm pháp luật cần phải trừng trị. Nếu những lực lượng bảo vệ trị an, bảo vệ Pháp luật dung túng bọn xã hội đen, bọn lưu manh, quấy rối an ninh trật tự xã hội thì chính nhà nước đã đứng về phía cái ác, là kẻ làm phân hóa, chia rẽ trong nội bộ nhân dân chứ không phải là ai khác. Nhân dân ngày càng cảm thấy nhiều nổi bất an, lo sợ vì xã hội không có kỷ cương, phép nước. Luật pháp không bảo vệ người ngay, không bảo vệ lẽ công chính….

3. Nếu nhà nước Việt Nam là nhà nước có luật pháp, không phải là luật pháp bảo vệ cái ác: *Nhà nước cần thực thi pháp luật công băng, nghiêm minh, bảo vệ mọi công dân việt Nam trong xã hội bình đẳng; tôn trọng các quyền tự do tôn giáo, bảo vệ các cơ sở tôn giáo cũng như bảo vệ cuộc sống mỗi gia đình, mổi công dân trong xã hội; phải trừng trị những kẻ gây rối, dù bất cứ nhân danh gì, bất cứ lý do gì như sự việc mới xảy ra tại chùa tại Phước Huệ, Bảo Lộc, Lâm Đồng những ngày vừa qua. Nếu Chùa Phước Huệ có vi phạm pháp luật thì đó là việc của pháp luật, của tòa án chứ không thể “thực thi” bằng quyền của bọn xã hội đen…Xã hội không bao giờ chấp nhận những bọn lưu manh, côn đồ ấy tự do tự do tác oai, tác quái trong xã hội. Những kẻ ấy là kẻ gây tội ác, gây sự bất an ninh cho mỗi người dân, cần phải nghiêm trị. Bất cứ kẻ nào, lực lượng nào dung túng cho những kẻ đó cũng phải loại trừ ra khỏi bộ máy nhà nước…thì khi đó pháp luật nhà nước mới công minh.

*Nhà nước cần tôn trọng ý nguyện của nhân dân, của các tu sinh Làng Mai - những người công dân trong xã hội chỉ có một hạnh nguyện tu; của các vị Viện chủ Tu viện Toàn Giác và Thiền viện Vạn Hạnh đã đệ đơn bảo lãnh tu sinh tăng thân Làng Mai theo những quy định và trình tự luật pháp. Pháp môn Làng Mai tu theo pháp phật với hình thức tăng thân, tăng đoàn, là một pháp môn của Phật giáo. Pháp môn Làng Mai không làm chính trị. Cơ sở tu học theo Pháp Môn Làng Mai trên thế giới đã thể hiện điều ấy. Nhà nước nắm chính quyền, pháp luật và mọi công cụ pháp luật trong tay tại sao lại sợ những người tu chỉ có một hạnh nguyện tu!?

*Nhà nước nên nghiêm khắc xem xét lại chính mình khi đã có một lực lượng bảo vệ pháp luật, bảo vệ an ninh cuộc sống nhân dân nhưng lại không bảo vệ nhân dân; dung túng cho những kẻ bất lương, hành động vi phạm pháp luật diễn ra trước cả con mắt của ngưới nước ngoài với những hành động, thái độ vô văn hóa. Chẵng lẽ đó là bản chất của nhà nước “của dân, do dân, vì dân”? Nhà nước không có kỷ cương, luật pháp? Nhân dân đã trả lương cho những người bảo vệ luật pháp, bảo vệ an ninh xã hội là cho những kẻ ấy sao, những kẻ không bảo vệ mà còn chống lại nhân dân, gây nên ngày càng nhiều nổi bất an cho nhân dân trong cuộc sống! Công cụ bảo vệ pháp luật hiện nay bảo vệ ai? Có tuân thủ, thực thi pháp luật, bảo vệ nhân dân, người lương thiện hay bảo vệ kẻ phạm pháp, đứng ngoài Luật Pháp? Nhân dân cũng rất không yên tâm về luật pháp, công cụ bảo vệ pháp luật Việt Nam, về tất cả những gì Việt Nam cam kết với thế giới. Mong tất cả những cam kết của Việt Nam với thế giới được thực thi chứ không phải chỉ cam kết trên giấy và mong thế giới buộc tất cả những quốc gia đã cam kết phải tôn trọng thực hiện. Thế giới ngày nay không thể là thế giới của những kẻ độc tài, của cái ác độc tôn!

Wednesday, December 16, 2009

Việt Nam yêu cầu Trung Quốc chấm dứt các vụ bắt giữ ngư dân

Trích RFI
Thanh Phương

Bài đăng ngày 16/12/2009 Cập nhật lần cuối ngày 16/12/2009 15:49 TU

Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Nguyễn Phương Nga

Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Nguyễn Phương Nga

Hôm qua, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trao công hàm cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, yêu cầu chính quyền Bắc Kinh trả lại toàn bộ các chiếc tàu cùng với trang thiết bị và tài sản cho ngư dân Việt Nam.

Bộ Ngoại giao Việt Nam xác nhận là trong hai ngày 7 và 8/12 vừa qua, phía Trung Quốc lại bắt giữ 3 tàu của 43 ngư dân tỉnh Quảng Ngãi đang đánh cá tại khu vực quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, tịch thu 2 chiếc tàu cùng thiết bị, tài sản của các ngư dân này, trước khi trả họ về Việt Nam trên chiếc tàu thứ ba.

Đối với phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga, hành động nói trên '' vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, không phù hợp vớI quan hệ hữu nghị giữa hai nước, gây nguy hại tới tính mạng và tài sản của ngư dân Việt Nam''.

Không những bị bắt và bị tịch thu tài sản, 43 ngư dân Quảng Ngãi còn bị buộc phải ký biên bản công nhận đã vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Trên trang thông tin VietnamNet hôm qua, một ngư dân cho biết họ phải nhận là đã dùng thuốc nổ để đánh cá, mặc dầu phía Trung Quốc không hề phát hiện thuốc nổ trên tàu của các ngư dân Việt Nam. Vì sợ bị đánh đập, nên tất cả đều ký tên vào biên bản. Khi được thả về trên chiếc tàu thứ ba, họ không có lương thực, nhiên liệu cũng như thiết bị lái tàu. Sau hơn một ngày đêm lênh đênh trên biển, họ mớI về được đảo Lý Sơn tối ngày 11/12.

Trước đó đã từng xảy ra nhiều vụ Trung Quốc bắt giữ tàu và ngư dân Việt Nam. Các ngư dân cho biết là ngày càng có nhiều tàu vũ trang của Trung Quốc tuần tra ở các khu vực biển đang tranh chấp.

Khi công bố sách trắng về quốc phòng vào tuần trước, thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh đã bày tỏ mối quan ngại của Hà NộI về những căng thẳng trên biển Đông, nhưng ông cho rằng vấn đề này sẽ không dẫn đến xung đột vì công pháp quốc tế có thể làm cơ sở cho một giải pháp.

Monday, December 14, 2009

Ngư dân Quảng Ngãi lại bị Trung Quốc bắt

Trích BBC News

Ngư dân Việt Nam

Tin cho hay Trung Quốc lại vừa bắt giữ ba tàu cá cùng hơn 40 ngư dân Lý Sơn, Quảng Ngãi, tại vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Báo Việt Nam cho hay ba tàu gồm QNg 96004 của ông Lê Tân; tàu QNg 96199 của ông Lê Văn Lộc và QNg 66398 của ông Dương Lúa, đều ở đảo Lý Sơn, bị tuần ngư của Trung Quốc bắt trong hai hôm 07/12-08/12 khi đang hoạt động ở vùng biển mà Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền.

Trên ba tàu vào thời điểm bị bắt có tổng cộng 43 ngư dân.

Hôm thứ Bảy 12/12, phía Trung Quốc đã trả về một tàu và toàn bộ số ngư dân này. Hai tàu còn lại, mới hơn, thì vẫn bị giữ. Được biết, hai chiếc tàu này có trị giá khoảng 2 tỷ đồng.

Các ngư dân bị buộc phải ký tên và điểm chỉ vào biên bản bằng tiếng Trung.

Hiện Bộ Ngoại giao Việt Nam chưa có tuyên bố gì về các vụ bắt giữ mới nhất này.

Giới chức địa phương tỉnh Quảng Ngãi thì được nói đang "hoàn thiện hồ sơ để làm văn bản chính thức" yêu cầu can thiệp.

Đây không phải lần đầu ngư dân Lý Sơn nói riêng và Quảng Ngãi nói chung bị nhà chức trách Trung Quốc làm khó khi ra khơi hoạt động đánh bắt.

Hồi tháng Sáu, gần 40 ngư dân bị bắt vì "vi phạm ngư trường Trung Quốc" và bị giữ trên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa cho tới tận tháng Tám.

Họ còn bị đòi tiền chuộc với tổng số tiền lên tới gần 30.000 đôla Mỹ.

Cuối tháng Chín, ngư dân Quảng Ngãi vào tránh bão tại Hoàng Sa còn bị lính Trung Quốc bắn súng xua đuổi và ngược đãi.

Việt Nam sau đó đã gửi công hàm phản đối.

Giữa năm 2009, nhiều ngư dân đã không dám ra biển vì sợ bị bắt phạt do lệnh cấm đánh bắt của Trung Quốc tại các khu vực ở Biển Đông mà Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền.

Việt Nam và Trung Quốc luôn nhấn mạnh chủ trương "giải quyết vấn đề Biển Đông và các vấn đề khác thông qua thương lượng hữu nghị để bảo vệ phát triển quan hệ song phương".

Friday, December 11, 2009

Nguyễn Đạt Thịnh: Giai đoạn chiến tranh dư luận

Trích NguoiViet Boston

Nguyễn Đạt Thịnh

Nếu chia cuộc khủng hoảng Biển Đông thành từng giai đoạn, thì giai đoạn một là giai đoạn cắn răng nuốt nhục, ngư dân chịu đấm, nhà nước ăn xôi, vẫn chưa qua và giai đoạn hai, giai đoạn chiến tranh dư luận đã vừa khởi diễn từ ngày 26.11.2009 ngày Việt Cộng mời trên 50 học giả từ 19 quốc gia đến Hà Nội tham gia cuộc thảo luận về Biển Đông.

Sở dĩ hai giai đoạn này chồng lên nhau, vì giai đoạn 1, không thể nào dứt được, Trung Cộng sẽ không buông nhả Biển Đông, không cho ngư dân Việt Nam đánh cá, không cho chính quyền Việt Cộng bán dầu, dù chiến tranh dư luận có biến thành chiến tranh bom đạn, nguy cơ này hiển nhiên, có thể kéo dài miên viễn, và cần được người Việt Nam phân tách, thấu hiểu và tìm cách thoát ra.

Cuộc hội thảo này đương nhiên là một cuộc quật khởi, dù lớn hay nhỏ, và dĩ nhiên Trung Cộng không vừa ý, vì hội thảo về Biển Đông là đi ngược lại chủ trương của chúng, chủ trương đối phó riêng rẽ với từng quốc gia chúng va chạm quyền lợi, chứ không muốn gặp sức mạnh “bó đũa” của toàn thể các quốc gia mất quyền lợi trên Biển Đông.
Thái độ Việt Cộng chấp nhận đối phó với sự thịnh nộ của Trung Cộng còn được thể hiện qua việc họ mời cả Đài Loan lẫn Trung Cộng tham gia hội nghị. Thái độ này mang ý nghĩa Việt Cộng coi Đài Loan như mọi quốc gia, chứ không như một tỉnh của Trung Hoa, và coi như Đài Loan có quyền lợi bị va chạm trên Biển Đông; hành động này coi thường nguyên tắc “chỉ có một nước Trung Hoa” của Trung Cộng.

Tại sao Việt Cộng lại thay đổi thái độ, không thần phục Trung Cộng nữa? Sử gia Nguyễn Nhã, một chuyên gia về luật Hoàng Việt giải thích là Việt Cộng đang chịu quá nhiều sức ép của dư luận trong nước đòi hỏi chính quyền phải có thái độ mạnh bạo, cứng rắn hơn trong quan hệ với Trung Cộng.

Chỉ được mời vào phút chót, nhưng ông Nhã vẫn phát biểu mạnh mẽ hơn những đại biểu khác của Việt Nam.
- “Tôi cho đây là cuộc giao lưu của những người quan tâm tới Biển Đông trên khắp thế giới,” ông nói.
- “Dần dần dư luận thế giới sẽ biết sự thật là như thế nào, và biết cách giải quyết hợp lý. Và như người ta thường nói: Cái gì của César thì phải trả lại cho César!”. Dĩ nhiên “cái gì́” là hai quần đảo Hoàng Sa và Truờng Sa, và “César” là nhân dân Việt Nam.
Sau hai nét đặc thù của cuộc thảo luận Biển Đông, nét đặc thù thứ 3 là việc Trung Cộng thản nhiên cử phái đoàn đến Hà Nội dự hội thảo, làm như không biết thái độ của Việt Cộng chống đối lại cả hai chính sách Biển Đông, và chính sách Đài Loan của chúng.
Hy vọng thái độ giả dại của Trung Cộng sẽ dạy được Việt Cộng cái kinh nghiệm là không nhất thiết phải làm mọi việc theo ư Trung Cộng.

Khai mạc phiên họp, ông Dương Văn Quảng, giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Cộng, nói:
- “Những tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ không hề thuyên giảm ở Biển Đông. Ngược lại, những diễn biến gần đây, nhất là các hành động khẳng định chủ quyền về mặt pháp lý, kèm theo các hành vi đơn phương nhằm tăng cường sự kiểm soát thực địa, tranh chấp các nguồn năng lượng và tài nguyên đã làm cho tình hình thêm phức tạp.”

Trên mặt khẳng định chủ quyền, hồi giữa năm nay cả 3 nước Việt Nam, Trung Hoa, và Mã Lai đã nộp văn phòng Liên Hiệp Quốc hồ sơ và bản đồ khẳng định vùng họ coi là thềm lục địa mở rộng của nước họ; theo bản đồ này thì thềm lục địa của Trung Hoa nằm chồng lên thềm lục địa của Việt Nam và của nhiều nước khác.
Hai chính phủ Việt Cộng và Trung Cộng cũng thành lập các đơn vị hành chính trên các hải đảo tranh chấp tạo mâu thuẫn quyền lợi giữa hai bên.

Trong khi đó, các nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á bày tỏ quan ngại trước sự gia tăng hoạt động quân sự với độ mạnh bạo “chưa từng thấy” của Trung Cộng tại Biển Đông, nơi được cho là có nhiều dầu khí và tài nguyên thiên nhiên.
Con đường tìm kiếm một nguyên tắc chung cho các quốc gia có liên quan đến Biển Đông đang bế tắc.

Lập trường của Trung Cộng trên bàn hội nghị

Trung Cộng gửi sáu chuyên gia và học giả đến tham dự hội nghị Biển Đông; họ đóng góp nhiều bài tham luận về an ninh hàng hải và hợp tác về an ninh.
Giáo sư Lý Quốc Cường, phó giám đốc trung tâm nghiên cứu “sử địa giới” thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Cộng, tỏ thái độ chủ nhà, ông nói với BBC:
- “Chúng tôi muốn sự hợp tác các học giả thuộc nhiều quốc gia khác nhau sẽ giúp tim ra cách hòa giải bất đồng giữa các nước tại Biển Đông. Muốn đạt được an ninh Biển Đông, các nước phải nỗ lực xây dựng lòng tin với nhau.”

BBC bỏ mất cơ hội hỏi ông Cường xem có phải Trung Cộng đang “xây dựng lòng tin” bằng cách đem chiến hạm ủi chìm ngư thuyền Việt Nam và cho phép thủy thủ đánh đập, cướp bóc ngư dân Việt Nam không?
Nếu phóng viên BBC nêu lên được câu hỏi này, thì cả câu hỏi của BBC lẫn câu trả lời của giáo sư Cường sẽ được truyền thông thế giới phổ biến rộng rãi, vì đó chính là lập trường của Trung Cộng sử dụng sức mạnh quân sự trên Biển Đông.
Không bị chất vấn, giáo sư Cường tiếp tục nói thao thao, trình bầy là lập trường muôn thủa của Trung Cộng là “giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng cách đàm phán song phương với những nước có quyền lợi bị va chạm. Tuyệt nhiên ông không nói đến những xung đột giữa hải quân Trung Cộng và ngư dân Việt Nam.

Ông còn cảnh cáo Việt Cộng là cuộc hội thảo này chỉ có giá trị “học thuật”, bàn thảo cho vui tai rồi bỏ qua, chứ đừng trông đợi một giá trị thực sự nào hết. Ông Cường cũng bảo mọi quốc gia tham dự hội thảo là đừng mong đợi chứng kiến mọi việc sớm được giải quyết, vì Trung Cộng chủ trương câu giờ hầu việc chiếm lãnh Biển Đông rơi vào trường hợp “để lâu c.. trâu hoá bùn.”

Xa gần ông nói là sẽ không có chiến tranh trên Biển Đông, vì lực lượng hải quân Trung Cộng là lực lượng hùng mạnh nhất, không nước nào trong vùng muốn chống lại. Trung Cộng sẽ tiếp tục cấm ngư dân Việt Nam ra biển, cấm nhà nước Việt Cộng không được khai thác dầu mà Việt Cộng không làm gì được chúng cả.
Ông Cường khuyến khích các quốc gia có quyền lợi bị va chạm hăy kiên nhẫn thương luợng tay đôi với Trung Cộng, và đừng trông đợi các cuộc thương lượng có kết quả sớm.

Giáo sư Carlyle Thayer, một trong các đại biểu tham dự hội thảo, nói:
- “Trước thái độ ngày càng mạnh bạo của Trung Quốc tại Biển Đông, Chính phủ Việt Nam đã quyết định tăng cường vận động ngoại giao và đây là một trong các sáng kiến của Hà Nội”.

- “Tôi nghĩ họ trông đợi hội thảo này sẽ đưa ra được những ý tưởng chung xem các hoạt động của Trung Quốc cần được kiềm chế như thế nào, hoặc chuyển thành cơ chế hợp tác như thế nào, bởi vậy chủ đề chính của hội thảo là hợp tác” (dù hợp tác để mất biển, mất đảo).

- “Đây là cách Việt Nam không gây áp lực trực tiếp mà thông qua người khác gây áp lực (với Trung Quốc).”

Quan điểm của Thayer là, tiếng nói Trung Cộng sẽ quyết định về số phận Biển Đông, vì họ nắm trong tay tất cả các lá bài: có hải quân hùng mạnh nhất, có quyền lực ngoại giao lớn nhất. Một mình Việt Nam không thể làm được gì”
Thayer cũng nhìn nhận là những hoạt động như hội thảo lần này là cơ hội để Việt Nam thu hút ủng hộ của quốc tế cho một giải pháp Biển Đông.
Ông Thayer hoàn toàn có lý khi ông nói số phận Biển Đông nằm trong tay Trung Cộng; chính Trung Cộng cũng chứng tỏ điều này: song song với việc gửi phái đoàn đến họp tại Hà Nội, Trung Cộng cho tầu “ngư chính” của chúng tuần hành, thị uy quanh Trường Sa, hòn đảo chúng chưa chiếm.

Trang web của Tân Hoa Xã (news.xinhuanet.com) đưa lên mạng hình tàu Ngư Chính 311 và Ngư Chính 303 đang diễu võ dương oai trên Biển Đông. Hãng tin Tầu này còn trơ trẽn nói rằng Trung Cộng có nhu cầu tuần tra vì “có hiện tượng nước ngoài lợi dụng việc tránh bão để vi phạm lãnh hải” của họ. Họ muốn nói về việc ngư dân Việt Nam tránh bão số 9 tại vùng Hoàng Sa và bị hải quân Tầu ngược đăi bằng tác phong của Giặc Cờ Đen ngày xưa.
Trong cuộc họp báo ngày 11/27, bà Nguyễn Phương Nga trả lời câu hỏi của phóng viên truyền thông về bản tin Tân Hoa Xă, đã nói:
- “Việc Trung Quốc cử tàu đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này.”

Thông tấn xã Việt Nam còn nói sau khi được tin về 2 tầu “ngư chính” của Trung Cộng phô diễn sức mạnh ngoài Biển Đông, ngày 11/27 bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam để phản đối và yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt các hoạt động này.
Tin tưởng vào sức mạnh quân sự của mình, Trung Cộng đang tiếp tục chính sách ngoại giao bằng chiến hạm dưới chiêu bài tuyên truyền, kêu gọi mọi quốc gia quanh Biển Đông “nỗ lực xây dựng lòng tin của họ vào Trung Cộng.”

Việt Cộng đă nhẫn nhục “xây dựng lòng tin của chúng vào Trung Cộng”, nhưng giờ này chúng phải thay đổi thái độ vì “đang chịu đựng quá nhiều sức ép của dư luận trong nước” như sử gia Nguyễn Nhã nói.
- “Việc chúng ta cần tìm hiểu là phản ứng của Trung Cộng đối với cuộc hội thảo Biển Đông; chúng sẽ làm gì để trả đũa Việt Cộng? Việc chúng có thể làm đã được một đại tá không quân Trung Cộng, đại tá Đới Hy, viết trong một bài đăng trên tờ Hoàn Cầu Thời Báo ngày 3/18, mang tựa đề “Quân đội của chúng ta cần thiết lập căn cứ quy mô lớn tại Nam Sa để bảo vệ việc phát triển nguồn tài nguyên Nam Hải.”

Cuộc thảo luận về Biển Đông tại Hà Nội có thể giúp Trung Cộng nguyên cớ để thực hiện cuộc tấn công Truờng Sa, hòn đảo vẫn bị chúng khăng khăng nhận là của chúng.
Những kẻ đã coi ngư dân tránh bão là “… hiện tượng nước ngoài lợi dụng việc tránh bão để vi phạm lãnh hải” hầu biện minh cho hành động ngược đăi, đánh đập ngư dân, và cướp bóc tư sản của họ, thì chúng cũng sẽ dễ dàng lẻo lự gọi lực lượng trú phòng Trường Sa là đạo quân xâm lăng, cưỡng chiếm hải đảo của Trung Cộng, để dùng pháo hạm và oanh tạc cơ tiêu diệt.

Trước hành vi bạo lực đó, phản ứng của Việt Cộng, của khối Asean, và của Hoa Kỳ sẽ như thế nào?

Tôi không tin được là sẽ có một phản ứng quân sự, và Trung Cộng cũng biết điều này; chúng biết rất rõ là Hoa Kỳ, quốc gia duy nhất có khả năng quân sự khả dĩ đương đầu được với chúng lại quá bận rộn, quá mệt mỏi với 2 cuộc chiến tranh đang gánh vác tại Trung Đông; không có hy vọng nào về việc Hoa Kỳ dám gánh thêm một cuộc chiến tranh nữa, nhất là cuộc chiến tranh với Trung Cộng lại to lớn, với tầm cỡ không thua 2 trận thế chiến trong thế kỷ trước.

Dĩ nhiên tôi không muốn, nhưng tôi sợ giai đoạn 3 của cuộc tranh chấp Biển Đông sẽ là việc chúng ta mất Trường Sa.

Wednesday, December 9, 2009

Hội nghị Dzịt Kiều

Hội nghị Dzịt Kiều lũ nhố nhăng
Một bầy một đám hếch mõm nghe
Ngày nào trốn chạy trông lấm lét
Bây giờ trở lại tướng xênh xang
Lũ vượn trên đài đang bốc phét
Bầy khỉ ngồi nghe tướng phởn phơ
Cho hay khôn dại trong gang tấc
Sẽ có ngày khóc chẳng ai thương.

Phi Vũ
12/09/09

Tuesday, December 8, 2009

CSVN lần ra thủ phạm gây ra nghèo đói cho mình: Khí Hậu

VietCatholic News (08 Dec 2009 10:08)
Copenhagen - thứ hai, 07/12/2009 – Hôm nay tất cả dân cư thế giới nhìn về thủ đô Đan Mạch, thành phố Copenhagen với Cuộc Họp Thượng Đỉnh Thế Giới về Khí Hậu lần thứ 15 (COP 15) đã được khai mạc trọng thể trong khu triển lãm quốc tế.

Cuộc Họp Thượng Đỉnh của 192 quốc gia muốn gióng một tiếng chuông thật to để bảo vệ trái địa cầu. Đây là cuộc họp lớn nhất và nhiều nguyên thủ quốc gia cùng với các đại biểu tham dự đông nhất t ừtrước tới nay. Chỉ riêng các đại biểu đã lên đến con số 15.000 người. Thủ tướng Đan Mạch, ông Lars Lokke Rasmussen cho biết nước Đan Mạch sẽ tiếp đón 110 nguyên thủ quốc gia đến Copenhagen.

Thủ đô Đan Mạch, Copenhagen, một thành phố nhỏ trong Âu Châu, chỉ có vọn vẹn 518.574 dân cư, tuy nhiên là một thủ phủ quan trọng trong vùng Bắc Âu, nay được thế giới hướng về với một tia sáng hy vọng để cứu nguy trái đất.

Giới hay chơi chữ đã sửa đổi lại một mẫu tự trong danh gọi Copenhagen (theo nghĩa tiếng Đan là hải cảng của thương gia) thay vì chữ C thành chữ H = „Hopenhagen“ để nói lên niềm hy vọng lớn lao vfao cuộc họp COP 15. Điều này có thể liên quan đến một đánh giá của đại học Leicester (Anh quốc) về đời sống người Đan Mạch tại thủ đô Copenhagen là những dân cư hạnh phúc nhất trên địa cầu.

Thế giới ngày càng lo âu về biến đổi môi trường do khí hậu gây ra vì trái đất ngày càng „nóng“ lên. 14 cuộc họp đã qua người dân chỉ thấy các nhà nguyên thủ nói miệng chứ không hành động như qua 2 nghị quyết quan trọng tại Rio de Janeiro (Ba Tây) vào năm 1982 và tại Kyoto (Nhật) năm 1997. Từ kỳ họp thứ COP 15 này tất cả cư dân địa cầu trông chờ một kết quả cụ thể mà mọi quốc gia phải chung sức tải giảm khí độc là nguyên do chính làm cho trái đất gia tăng nhiệt độ.

Việt Nam chúng ta cũng có những đại biểu đến tham dự. Không biết có nguyên thủ Nguyễn Minh Triết đại diện cho csVN tại Copenhagen? Chỉ lo ngại bác Triết tuyên bố lung tung giống như khi thăm Cuba thì trái địa cầu chúng ta sẽ „nổ tung“ từng mảnh vụn (Cuba thức thì Việt Nam ngủ - Việt Nam gác thì Cuba nghỉ). Theo dòng tư tưởng lớn của bác Triết chúng ta có thể thêm vào câu trên vài chữ cho ý nghĩa phong phú để 2 tên nghèo đói nhất thế giới hiện nay thay nhau CANH GIỮ KHÔNG KHÍ cho thế giới: Cuba nín thì Việt Nam thở - Việt Nam xuống tấn thì Cuba xì...

Chưa cần Bác Triết vung đao chém không khí thì hôm nay một tin tức được báo chí đứng bên „lề phải“ đưa tin rất trang trọng: „Nông dân Phan Thị Ánh dự hội nghị Copenhagen“.

Bà Ánh tường thuật về kiến thức môi trường với báo Tuổi Trẻ: “Tôi là một nông dân mà gia đình đã nhiều đời làm muối. Cũng đôi lần tôi có nghe tivi nói về biến đổi khí hậu toàn cầu. Rồi bà con hàng xóm cũng nói ra nói vào, người nghe được ở đâu nói gì thì nói thế đó chứ thật ra cũng không biết chính xác là gì. Chỉ có một điều mà tôi chắc chắn là khí hậu những năm gần đây quá thất thường".

Để bồi bổ thêm ý tưởng sâu rộng nữ đồng chí Ánh lập luận:

"Trước đây, cứ đến ba tháng hè là đúng ba tháng trời nắng ráo, không một ngày mưa, còn giờ thì mưa nắng thất thường quá. Có hôm trời nắng ráo 37-38°C, mấy chị em trên đồng muối chúng tôi mồ hôi ướt cả áo rồi bỗng nhiên trời chuyển mưa, vậy là coi như mất trắng.“

Và bà Ánh tìm kết luận cho việc nghèo đói xảy ra từ việc thay đổi khí hậu bằng cách ngửa tay xin viện trợ:

„Hai vợ chồng phải chạy vạy khắp nơi để tìm việc mong kiếm thêm chút thu nhập, nhiều lúc chồng tôi phải vào tận Đà Nẵng, Huế để làm phụ hồ mới đủ nuôi ba đứa con ăn học. Ở quê tôi, nhiều gia đình buộc phải cho con nghỉ học vì thu nhập từ ruộng muối bây giờ quá thấp do thiên tai liên miên. Chồng tôi hay nói đùa: vợ chồng mình có bốn bàn tay, chỉ cần một trong số đó dừng lại là đói cả nhà.

Tôi muốn mang tiếng nói của người dân quê tôi cũng là tiếng nói của người nông dân Việt Nam đến với hội nghị, hi vọng ở đó người ta có những giải pháp để giúp cuộc sống của chúng tôi ổn định hơn”.

Mèn đất ơi! csVN có lẽ đang manh nha muốn hưởng phúc lộc từ quỹ dự định 30 tỉ đô la giúp các nước nghèo làm giảm nhiệt trái đất. Điều này đã được điều nghiên đi vào quỹ đạo „xin tiền“ muôn thuở của đỉnh cao trí tuệ csVN. Chẳng lạ gì các chuyên viên tại COP 15 đã đưa danh sách 11 quốc gia đang chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do tình trạng thay đổi khí hậu, trong đó có Việt Nam nghèo đói.

Nông dân Phan Thị Ánh được giao thi hành cho phi vụ kiếm tiền một cách quang minh chính đại này.

Các câu hỏi đặt ra về thiệt hại từ ảnh hưởng môi trường hoặc tự csVN làm cho người dân nghèo và đói.

- Tại sao nông dân đói? Tại ông khí hậu! Tại ông sân Gôn? Tại nhà nước khoanh vùng dự án lấy hết đất canh tác của nông dân?

- Tại sao dòng sông Thị Vải chết? Tại ông Vedan, kết quả mới được sở Tài nguyên và Môi trường kết luận hôm 07/12/2009! (Khoảng 2.600 ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản của 2 tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu bị ảnh hưởng).

- Tại sao hơn 100 nạn nhân bị chết vì lũ? Tại 50 thủy điện tại quảng Nam! Tại nạn phá rừng hỗn loạn? Chỉ nhìn vào bài toán kinh tế do báo „lề phải“ đưa ra, có lẽ cả thế giới phải chào thua cách phát triển của csVN: Dự kiến năm 2015 khi 50 nhà máy thủy điện (tại Quảng Nam) đi vào hoạt động sẽ tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách của tỉnh Quảng Nam hằng năm khoảng 800 tỉ đồng. Trong lúc đó chỉ tính trong cơn bão lũ số 9 vừa qua, Quảng Nam bị thiệt hại giá trị hơn 4.000 tỉ đồng, trong đó riêng huyện Đại Lộc là 650 tỉ đồng. Ông Mai Anh Súy, phó chủ tịch UBND huyện Đại Lộc, phản ứng gay gắt việc thủy điện A Vương xả lũ khiến cả huyện bị ngập nặng nề nhất trong 100 năm qua. Ông nói lúc đang mưa bão, lũ lên báo động 3, dân tình hoang mang. Đùng một cái thủy điện A Vương xả hơn 100 triệu m3 nước trong vài giờ lúc đêm khuya. Hàng vạn hộ dân trở tay không kịp, mất mát rất lớn. Ông Súy xót xa: “Lũ đã lớn còn xả nước thủy điện, lại chồng thêm lũ “nhân tạo” thì thiếu trách nhiệm quá. Quảng Nam đang đạt kỷ lục thế giới vì trong 1 tỉnh có đến 50 thủy điện. Người đọc không dám bình phẩm gì thêm nữa nếu không nói rằng đúng là bọn đại ác ôn đang giết hại dân lành!

- Tại sao hồ Linh Quang (P. Văn Chương, Q. Đống Đa, Hà Nội) biến thành bãi rác khi đã được đầu tư hơn 100 tỉ đồng để cải tạo? Tại ông tham nhũng!

- Tại sao hai bên đường An Dương Vương (đoạn từ cầu Mỹ Thuận đến tiếp giáp đại lộ Đông Tây) thuộc ranh giới giữa quận Bình Tân và Q.8, Sàigòn "biến" thành… sông bùn lầy lội từ nhiều tháng qua. Tại vì các tham quan vô cảm, vô tâm!

- Tại sao có việc sai trái nghiêm trọng tại bãi rác Đa Phước (Sàigòn)? Tại các túi tham không đáy của các quan lên đến 9 triệu đô la! Có phải các quan đem kinh phí môi trường gửi ngân hàng lấy lãi?

- Tại sao Bản án “treo” suốt 15 năm về khu vực đầm Sen, đầm Hồng (nay thuộc tổ 19 - phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội) không được giải quyết? Người dân lỡ tiền mua phải phần đất do chính quyền xã bán trái phép đã bấn lên khi TAND thành phố Hà Nội tuyên bản án số 757, tháng 9/1995 về vụ "vi phạm quản lý, sử dụng đất đai". Điểm chú ý quan trọng, sau hàng chục năm, do quá trình lấn chiếm, xáo trộn và buông lỏng trong quản lý… ngoài một phần nhỏ của hồ được giao làm dự án, đến nay diện tích đầm Hồng đã giảm gần một nửa. Tại vì các quan ở đây lắm quyền quá không ai dám đụng vào!

- Tại sao hồ Cầu Tình đang hấp hối? Hồ Cầu Tình, thuộc P. Gia Thụy, Q. Long Biên- Hà Nội đã bị ô nhiễm nặng tới mức người ta có thể đi lại trên rác giữa lòng hồ như đi trên đất bằng! Dân chủ động lấn chiếm hồ, xả thải ra hồ như một điều hết sức tự nhiên… Tại vì chính quyền bất lực!

Các câu hỏi trên được trích ra và giải đáp từ các nhật báo của csVN trong vài ngày nóng bỏng vừa qua.

Kết thúc bài viết này được trích dẫn lời ĐB Nguyễn Đăng Nghĩa nói về môi trường tại VN vào thứ hai, 07/12/2009 dịp họp cuối năm của HĐND TP.HCM:

„Về tình trạng ô nhiễm môi trường, tôi thấy năng lực quản lý không theo kịp tốc độ phát triển. Quản lý đất công và sử dụng đất công cũng còn nhiều bất cập. Để giải quyết, cần có sự phối hợp giữa Thành phố và các cơ quan Trung ương. Nguyên nhân chính là kỷ cương vẫn còn bị buông lỏng. Đất đai vẫn là "miếng bánh" béo bở nhất để tranh giành“.

Song song tại Hà Nội các cử tri Hà Nội còn nhiều bức xúc trước Kỳ họp thứ 19 HĐND thành phố Hà Nội khóa XIII từ ngày 8 đến 11/12 được VOV đưa tin: Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường… vẫn là những vấn đề bức xúc của cử tri. Ô nhiễm môi trường vẫn là chủ đề nóng ở nhiều địa phương trong thành phố. Cử tri nhiều quận, huyện nêu đích danh những địa chỉ đen gây ô nhiễm môi trường, nhất là ở một số làng nghề, bệnh viện, bãi rác… ảnh hưởng xấu tới đời sống người dân.

Đáng tiếc bài báo không nêu đích danh kẻ gây ra ô nhiễm môi trường trên mặt báo!

Bauxite Tây Nguyên và 2 nhà máy điện nguyên tử sẽ là những „dự án vĩ đại“ nằm xa ngoài tầm tay của kẻ quyết định về kỹ thuật lẫn môi trường. Dân nghèo sẽ là những nạn nhân khốn cùng gánh chịu hậu quả trầm trọng sau này.

Đói, nghèo tại VN do thiên tai khí hậu hay do nhân tai gây ra?
Hà Long

Monday, December 7, 2009

Đại nạn Trung Hoa thời nhà Minh

Trích Đàn Chim Việt

Bên Trung Hoa, năm 1368 (mậu thân), Chu Nguyên Chương (Zhu Yuan Zhang) lật đổ nhà Nguyên, lên ngôi hoàng đế tức Minh Thái Tổ (trị vì 1368-1398), lập ra nhà Minh (1368-1644). Đối với người Trung Hoa, nhà Nguyên là ngoại tộc, vì thuộc giống Mông Cổ; còn nhà Minh mới là chính tông người Hán. Minh Thái Tổ (Ming Tai Zu) từ trần năm 1398 (mậu dần), truyền ngôi lại cho cháu đích tôn là Minh Huệ Đế (trị vì 1399-1403), vì cha của Huệ Đế là hoàng thái tử Tiêu đã qua đời.

Minh Huệ Đế (Ming Hui Di) chủ trương tập trung quyền hành về trung ương, mưu trừ và giết hại các phiên vương. Phiên vương nước Yên tên là Lệ, ở phía bắc Trung Hoa, con trai thứ của Minh Thái Tổ và là chú của Minh Huệ Đế, tức giận nổi lên chống Huệ Đế. Yên Vương Lệ là một người có tài cầm quân, đánh thẳng vào kinh đô Kim Lăng (Jin Ling) (Nam Kinh ngày nay), lật đổ Huệ Đế, rồi tự mình lên làm vua tức Minh Thành Tổ (trị vì 1403-1424).

Minh Thành Tổ (Ming Cheng Zu) là một người rất tham vọng, mạnh mẽ chủ trương bành trướng thế lực ra nước ngoài. Ông thành lập một hạm đội hùng hậu do Trịnh Hòa (Zheng He) điều khiển. Trịnh Hòa (1371-1433) đã dẫn hạm đội xuống Bắc Úc, qua bán đảo Ả Rập, đến Đông Phi Châu, và có tài liệu cho rằng Trịnh Hòa qua tận Mỹ châu.

Chính Minh Thành Tổ đã cử hai tướng Trương Phụ (Zhang Fu) và Mộc Thạnh cầm quân sang đánh Đại Việt năm 1406. Quân Minh bắt được gia đình Hồ Quý Ly năm 1407. Con cháu nhà Trần là Giản Định Đế (trị vì 1407-1409) và Trùng Quang Đế (trị vì 1409-1413) nổi lên tiếp tục chống quân Minh, cũng lần lượt bị quân Minh dẹp yên. Nhà Minh đô hộ Đại Việt và cách thức thực hiện cuộc đô hộ của nhà Minh rất thâm độc, có thể sơ lược như sau.

I.- Sát nhập Địa Việt vào Trung Hoa

1. Nhà Minh đổi Đại việt thành quận Giao Chỉ

Trước khi bắt được gia đình Hồ Quý Ly, vua Minh Thành Tổ xuống chiếu tháng 4 năm đinh hợi (1407) nói là tìm kiếm con cháu nhà Trần để lập làm vua thay nhà Hồ, vì nhà Hồ đã cướp ngôi nhà Trần. Nói thế để lừa phỉnh dân Việt, chứ khi Trần Thúc Dao, con của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi Trần Quang Khải, ra hợp tác với quân Minh, quân Minh làm ngơ và không đưa lên ngôi. Vào tháng 6 năm đinh hợi (1407), nhà Minh quyết định đổi Đại Việt thành quận Giao Chỉ, sáp nhập vào Trung Hoa.

2. Tổ chức hành chính

Tổ chức hành chánh trung ương quận Giao Chỉ giống như một quận bên Trung Hoa, gồm ba ty là Giao Chỉ đô chỉ huy sứ ty, Thừa tuyên bố chánh ty và Đề hình án sát sứ ty. Nhà Minh đổi tên thủ đô Đông Đô (Thăng Long) thành Đông Quan, chia quận Giao Chỉ (Đại Việt) thành 15 phủ và 5 châu lớn như sau: phủ Giao Châu, Bắc Giang, Lạng Giang, Tam Giang, Kiến Bình, Tân Yên, Kiến Xương, Phụng Hóa, Thanh Hoa, Trấn Man, Lạng Sơn, Tân Bình, Diễn Châu, Nghệ An, Thuận Hóa; châu Thái Nguyên, Tuyên Hóa, Gia Hưng, Quy Hóa, Quảng Oai.(1)

Nhà Minh đưa người Trung Hoa sang nắm giữ những chức vụ then chốt quan trọng, và dùng một số người Việt chịu cộng tác với họ trong các chức vụ địa phương, nhắm chiêu dụ những người yêu nước đang tiếp tục chiến đấu chống quân Minh.

3. Sự bóc lột của nhà Minh

Về thuế má, năm 1414 nhà cầm quyền đô hộ của Minh triều quy định rằng mỗi mẫu ruộng chỉ có 3 sào. Đây là một điều hết sức gian manh. Thông thường, mỗi mẫu ruộng gồm 10 sào, nay chỉ còn 3 sào. Vậy một người có 3 sào ruộng phải chịu thuế một mẫu; hoặc ngược lại, một người có một mẫu ruộng (tức 10 sào), nay phải chịu thuế hơn 3 mẫu. Nói cách khác, dưới nền đô hộ của nhà Minh, thuế nông nghiệp tăng hơn gấp ba so với thuế cũ. Nông nghiệp là ngành sinh hoạt kinh tế chính của người Việt lúc bấy giờ. Đa số dân chúng nông thôn nghèo đói, mà tăng thuế nông nghiệp sẽ làm dân chúng Việt càng thêm bần cùng thiếu ăn..

Một năm, mỗi mẫu ruộng (tức chỉ 3 sào), nhà đô hộ Minh triều thu thuế 5 thăng lúa, đất bãi dâu mỗi mẫu thu thuế 1 lạng tơ, mỗi cân tơ thu thuế 1 tấm lụa. Năm 1415, nhà Minh lập các trường (ruộng) muối ven biển, kiểm soát việc sản xuất và đánh thuế muối. Ai buôn lậu hay sản xuất lậu đều bị phạt như nhau. Muối là thực phẩm căn bản quan trọng của người Việt, nhất là dân nghèo, hoàn toàn nằm trong quyền kiểm soát của quân Minh.

Về quân sự, vào đầu năm bính thân (1416), Trương Phụ ra lệnh xét duyệt danh số quân đội địa phương (thổ quân). Ba đinh (đàn ông) thì lấy một người làm lính. Số lính địa phương được tuyển, dùng để chia đi canh giữ các nơi.

Để kiểm soát chặt chẻ dân chúng như bên Trung Hoa, năm 1419 (kỷ hợi), Lý Bân cho thi hành biện pháp hoàng sách và hộ thiếp. Theo biện pháp nầy, ở hạ tầng tại thành phố gọi là phường, tại vùng chung quanh thành phố gọi là tương (hay sương), tại nông thôn gọi là lý. Mỗi lý có 110 hộ (gia đình) do một lý trưởng đứng đầu. Mười hộ là một giáp có một giáp thủ đứng đầu.

Mỗi hộ giữ một hộ thiếp ghi rõ tên tuổi, quê quán, số đinh trong hộ đúng theo sổ hộ khẩu do nhà cầm quyền giữ. Mỗi lý phải làm một quyển sổ gọi là sách, ghi rõ số đinh, số điền dựa trên căn bản hộ. Đầu sách có vẽ bản đồ, cuối sách liệt kê những người tàn tật cô quả. Sách viết làm bốn bản: một bản bìa vàng gọi là hoàng sách nạp lên bộ hộ, ba bản kia bìa xanh đặt ở ty bố chính sứ, phủ, huyện, mỗi nơi một bản.(2)

II.- Chính sách đồng hóa

Khi gởi quân sang đánh Đại Việt lần đầu năm 1406, Minh Thành Tổ đưa ra ba chỉ dụ liên tiếp đề ngày 21-8-1406, 16-6-1407 và 24-6-1407 căn dặn các tướng lãnh nhà Minh thi hành chính sách đồng hóa và tiêu diệt tận gốc nền văn hóa Đại Việt.

1. Bắt nhân tài Việt Nam

Việc đầu tiên là nhà Minh bắt hết nhân tài Đại Việt, đưa về Trung Hoa sử dụng tùy theo khả năng. Khi bắt được gia đình Hồ Quý Ly, người Minh không giết mà chỉ gởi về Trung Hoa. Lý do chính là vì con của Hồ Quý Ly là Hồ Nguyên Trừng có biệt tài về kỹ thuật. Nhà Minh chỉ đày Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương đi Quảng Châu, còn phong cho Hồ Nguyên Trừng làm quan ở triều đình để giúp nhà Minh chế tạo súng ống.(3) Người Minh lùng tìm những người thông minh, thông kinh, học rộng, quen thuộc việc quan, chữ đẹp, tính giỏi, nói năng hoạt bát, tướng mạo khôi ngô, khỏe mạnh, dũng cảm, quen nghề đi biển, khéo nghề sản xuất gạch, làm hương... đưa về Trung Hoa.

2. Tịch thu và tiêu hủy toàn bộ sách vở Đại Việt

Thi hành chỉ thị của Minh Thành Tổ, quân Minh tịch thu hoặc tiêu hủy toàn bộ tất cả các loại sách vở của nước Nam, kể cả các bia đá ghi lại sự nghiệp của tiền nhân. Sau đây là lệnh của Minh Thành Tổ gởi các tướng Minh ngày 21-8-1406: "... Trừ các sách kinh và bản in của đạo Phật, đạo Lão thì không tiêu hủy, ngoài ra hết thảy mọi sách vở, văn tự cho đến cả những loại [sách ghi chép] ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ ... một mãnh chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ chớ để còn."(4)

Quân Minh còn chở về Trung Hoa hầu như toàn bộ sách vở đã có từ thời Hồ Quý Ly trở về trước. Đó là sách của các tác giả sau đây: Lý Thái Tông (Hình thư), Trần Thái Tông (Hình luật, Quốc triều thông lễ, Kiến Trung thường lễ, Khóa hư tập, Ngự thi), Trần Thánh Tông (Di hậu lục, Cờ cừu lục, Thi tập), Trần Nhân Tông (Trung hưng thực lục, Thi tập), Trần Anh Tông (Thủy vân tùy bút), Trần Minh Tông (Thi tập), Trần Dụ Tông (Trần triều đại điển), Trần Nghệ Tông (Bảo hòa điện dư bút, Thi tập), Trần Hưng Đạo (Binh gia yếu lược, Vạn Kiếp bí truyền), Chu Văn Trinh tức Chu Văn An (Tứ thư thuyết ước, Tiều ẩn thi), Trần Quốc Toại (Sầm lâu tập), Trần Quang Khải (Lạc đạo tập), Trần Nguyên Đán (Băng Hồ ngọc hác tập), Nguyễn Trung Ngạn (Giới Hiên thi tập), Phạm Sư Mạnh (Giáp thạch tập), Trần Nguyên Đào (Cúc Đường di thảo), Hồ Tông Thốc tức Hồ Tông Vụ (Thảo nhàn hiệu tần, Việt nam thế chí, Việt sử cương mục), Lê Văn Hưu (Đại Việt sử ký), Nguyễn Phi Khanh (Nhị Khê thi tập), Hàn Thuyên (Phi sa tập), Lý Tế Xuyên (Việt điện u linh tập) ...(5)

3. Áp đặt văn hóa và phong tục Trung Hoa

Để đồng hóa người Việt, tháng 9 năm 1414 (giáp ngọ), người Minh ra lệnh lập Văn miếu (thờ Khổng Tử) , các đàn thờ thần xã tắc, núi, sông, gió, mưa ở các phủ châu huyện. Về phong tục, người Minh buộc thanh niên nam nữ không được cắt tóc mà phải để tóc dài;(6) phụ nữ phải bận áo ngắn quần dài như người Minh. Người Minh còn cấm người Việt không được ăn trầu.(7) Ăn trầu là một tục lệ lâu đời của người Việt.

Cũng trong năm 1414, nhà Minh mở trường học ở Thăng Long và các phủ, châu, huyện. Để thay thế sách vở người Việt đã bị quân Minh tịch thu và tiêu hủy, năm 1419 (kỷ hợi) nhà Minh cho phát hành rộng rãi sách vở Trung Hoa do vua Minh cho san định lại như Tứ thư [Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử], Ngũ kinh [Dịch, Thi, Thư, Lễ, Xuân thu], Tính lý đại toàn... (8)

III.- Chính sách khai thác tài nguyên

1. Nông nghiệp


Sau khi nhà Hồ sụp đổ, Trương Phụ ra lệnh đặt đồn điền năm 1410 (canh dần) ở các nơi gần thành Thăng Long, thu mua lúa ở các phủ Tuyên Hóa, Thái Nguyên, Tam Giang, để cung ứng thực phẩm cho đoàn quân viễn chinh,

Chiến thắng xong nhà Hậu Trần, người Minh ra lệnh cho các phủ, huyện, châu ở nước ta phải trồng hồ tiêu. Từ tháng 4 năm mậu tuất (1418), họ bắt đầu trưng thu hồ tiêu đem về Trung Hoa, nhắm cung cấp cho ngành xuất cảng qua tây phương theo “con đường hương liệu và gia vị”. Người Minh buộc các địa phương (phủ, huyện) phải nạp đặc sản để chuyển về Trung Hoa như: hương liệu, hươu trắng, chim vẹt, vượn bạc má, trăn ...

Người Minh còn bắt dân chúng vùng rừng núi tìm bắt voi, tê giác, và dân chúng làm nghề chài lưới ven biển đi mò ngọc trai. Tháng 7 năm mậu tuất (1418), người Minh thiết lập trường sở thu ngọc trai tại hai địa điểm có hải phận sinh sản nhiều ngọc trai. Đó là Vĩnh An (Tiên Yên, Vạn Ninh, Quảng Yên) và Vân Đồn (Vân Hải, Quảng Yên). Hằng ngày, hàng ngàn dân bị đưa đi mò ngọc trai cho người Minh.

2. Công nghệ

Người Minh thu mua vàng bạc quý hiếm chở về Trung Hoa. Tháng 8 năm ất mùi (1415), nhà Minh thiết lập các trường cục cai quản các vùng mỏ vàng bạc, đốc thúc dân đinh khai đào các kim loại quý, kiểm điểm sản lượng và niêm phong nạp lên thượng cấp

3. Giao thông thương mại

Để dễ vận chuyển, người Minh thiết lập một lộ trình mới từ Quảng Đông qua Đông Quan (Thăng Long), chia làm hai đoạn: từ Khâm Châu (thuộc Quảng Đông ngày nay) đi đường biển tới các cảng Vạn Ninh (thuộc Quảng Yên), Đông Triều, Chí Linh (Hải Dương). Các nơi nầy đều có đặt trạm liên lạc bằng thuyền. Từ Vạn Ninh, Đông Triều, Chí Linh đến Đông Quan (Thăng Long), người Minh đặt các trạm chạy bằng ngựa theo đường bộ.

Kết luận

Chính sách tận lực khai thác tài nguyên nước ta của quân Minh được Nguyễn Trãi ghi lại hết sức rõ ràng trong bài "Bình Ngô đại cáo": "Quân cuồng Minh thừa cơ tứ ngược,[9] bọn gian tà bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Chước dối đủ muôn nghìn khóe, ác chứa ngót hai mươi năm. Bại nhân nghĩa, nát cả càn khôn, nặng khoa liễm [10] vét không sơn trạch. Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống bể mò châu, nào hố bẫy hươu đen, nào lưới dò chim sả. Tàn hại cả côn trùng thảo mộc, nheo nhóc thay! quan quả điên liên.[11] Kẻ há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán. Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa. Nặng nề về những nỗi phu phen, bắt bớ mất cả nghề canh cửi. Độc ác thay! trúc rừng không ghi hết tội; dơ bẩn thay! nước bể không rửa sạch mùi. Lẽ nào trời đất tha cho, ai bảo thần nhân nhịn được."(12)

Cuộc đô hộ của nhà Minh tuy ngắn ngủi, chỉ trong vòng hơn 20 năm (1407-1428), nhưng ảnh hưởng lâu dài về nhiều mặt, do chính sách khai thác thuộc địa rất tàn nhẫn, và chính sách tận diệt nền văn hóa Đại Việt, nhằm đồng hóa người Việt của nhà Minh.

Năm 1975, khi cưỡng chiếm miền Nam, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam (CSVN) đã tập trung và đốt hết sách vở miền Nam nhằm tiêu diệt văn hóa miền Nam, truyền bá văn hóa Mác-xít, không khác gì nhà Minh đã tiêu diệt văn hóa Đại Việt, truyền bá văn hóa Trung Hoa. Nhà Minh không thực hiện được mưu đồ thâm độc của nhà Minh. Cộng sản Việt Nam cũng không thực hiện được mưu đồ thâm độc của CSVN. Chẳng những thế, CSVN lại còn bị ảnh hưởng ngược lại của nền văn hóa miền Nam, vì căn bản nền văn hóa miền Nam vốn là nền văn hóa dân tộc cổ truyền, được bảo lưu ở miền Nam Việt Nam sau khi đất nước bị chia hai năm 1954.

Về phía Trung Hoa, từ cuối năm 1924, đảng CSTH đã bảo trợ cho tay điệp viên Đệ tam Quốc tế Nguyễn Ái Quốc, giúp huấn luyện cán bộ để cài người vào Việt Nam. Sau đó, từ năm 1950, đảng CSTH đã đầu tư dài hạn vào công cuộc chiến tranh của Hồ Chí Minh, thao túng nhà cầm quyền CSVN. Từ đầu thế kỷ 21, CSTH đòi lại vốn và lời đã đầu tư, thực hiện kế hoạch tằm ăn dâu của nhà Minh, kiếm cách từ từ khai thác tài nguyên trên biển cũng như trên đất liền của Việt Nam, tiến hành từng bước âm thầm, chậm chạp, và chắc chắn.

Với đà thâm nhập nầy, rồi đây CSTH sẽ dùng CSVN để Hán hóa người Việt và sẽ sáp nhập Việt Nam vào Trung Hoa, biến Việt Nam thành một tỉnh hay một quận Trung Hoa, không khác gì nhà Minh vào thế kỷ 15.

Trước tình hình nầy, ngày nay người Việt Nam chỉ còn cách duy nhất là phải tự mình cứu lấy mình thoát ra khỏi đảng CSVN. Thoát ra khỏi đảng CSVN, người Việt mới thoát ra khỏi sự đô hộ của CSTH. Tuy khó khăn nhưng không còn con đường nào khác.

© Đàn Chim Việt Online

Chú thích

1. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, in lần thứ hai, Huế: Nxb. Thuận Hóa, 1997, tr. tr. 163. [Đào Duy Anh căn cứ trên tài liệu Thiên hạ quận quốc của Trung Hoa.] Ngoài 15 phủ trên đây, năm 1414, quân Minh đặt thêm phủ thứ 16 là phủ Thăng Hoa, nhưng chưa tổ chức đưọc nền cai trị tại phủ nầy thì bị quân Chiêm Thành chiếm.
2. Chính sách nầy do nhà Minh áp dụng ở Trung Hoa từ năm 1381. (Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chữ Nho), Hà Nội: bản dịch của Nxb. Giáo Dục, 1998, tập 1, tt. 767-768.)
3. Theo Lê Quí Đôn trong Vân đài loại ngữ, mục "Vựng điển loại", trích dẫn sách Cô thụ biều đàm, Lê Trừng tức Hồ Nguyên Trừng được nhà Minh phong làm hộ bộ thượng thư. Lê Quí Đôn cũng trích dẫn Minh sử nói rằng "trong niên biểu của thất khanh (bảy vị quan to), có nói đến Lê Trừng làm binh bộ thượng thư". Minh sử còn chép rằng: "Năm Vĩnh Lạc [1403-1424], vua Minh thân chinh Mạc bắc. Khi giặc kéo ào đến, bèn đem thần sang của nước An-Nam ra đánh..." (Vân đài loại ngữ, bản dịch của Phạm Vũ và Lê Hiền, Tự Lực tái bản, Hoa Kỳ, tt. 238-239). Thần sang An Nam ở đây là súng thần công do Hồ Nguyên Trừng chế tạo. Hồ Nguyên Trừng có soạn sách Nam ông mộng lục, viết về 31 nhân vật nổi tiếng trong lịch sử nước nhà. Có lẽ nhờ Hồ Nguyên Trừng mà Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương không bị giết, mà chỉ bị đày đi Quảng Châu.
4. Phạm Cao Dương "Từ nạn trộm cắp các cổ vật tại Việt Nam đến tham vọng bá quyền về văn hóa của Trung Quốc", nguyệt san Thế Kỷ 21, số 130-131, tháng 2 & 3-2000, tr. 54.
5. Cương mục, sđd. tr. 765, "Lời chua". Khi chua như trên, các soạn giả bộ Cương mục dựa vào "Văn tịch chí" trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú. Tuy Phan Huy Chú đề tên tác giả các sách về hình luật, điển lễ trên đây là các vua, thật ra là do các quan soạn dưới triều các vua đó. Ngoài ra, vài tác phẩm hiện đã tìm thấy lại được như Khóa hư tập của vua Trần Thái Tông, Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên, hoặc còn sót lại vài bài thơ như của Trần Thái Tông, Trần Quang Khải...
6. Đời nhà Trần trở về trước, dân Việt theo tục xâm mình và cắt tóc.
7. Stanley Karnov, Viet Nam a History, New York: The Viking Press, 1983, tr. 103.
8. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư [chữ Nho], Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội, bản dịch tập 2, 1998, tt. 236, 242. Tính lý đại toàn: Bộ sách do Hồ Quảng vâng lệnh vua Minh soạn ra, nội dung dựa vào học thuyết của các Nho sĩ đời Tống.
9. Tứ ngược: hết sức tàn ngược. [Chú thích 10, 11 và 12 theo Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược.]
10. Khoa liễm: thuế má.
11. Quan quả điên liên: Quan: người không vợ; quả: người góa chồng; điên liên: những kẻ không có nhà ở, không trông cậy vào đâu được.
12. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Sài Gòn: Nxb. Tân Việt tái bản, 1964, tr. 229.

Saturday, December 5, 2009

Lê Trần Luật

Lê Trần Luật – Điều 79 Bộ Luật Hình sự, sự thay đổi luật sư và một vài nhận định

Posted using ShareThis

Ðà Lạt, thành phố hoa không còn thơ mộng

Trích NguoiViet Online




medium_VN-Dalat-01.JPG

Nhiều ngôi nhà mọc lên đã lấn dần diện tích trồng thông ở Ðà Lạt. (Hình: Phương Thảo/Người Việt)

medium_VN-Dalat-02.JPG

Khẩu hiệu “Thực hiện văn minh - Không nói thách” ở chợ Ðà Lạt. (Hình: Phương Thảo/Người Việt)

medium_VN-Dalat-03.JPG

Ðà lạt đô thị hóa khiến người sắc tộc phải xuống chợ để làm ăn mày. (Hình: Phương Thảo/Người Việt)



Phương Thảo/Người Việt

Chúng tôi đến Ðà Lạt sau khi cơn bão số 9 tràn vào Việt Nam. Thành phố tuy không có những ngôi nhà bị tốc mái, không có gia đình nào bị cơn bão quái ác gây ra cảnh màn trời chiếu đất, nhưng đâu đó trên đường thuộc khu Hòa Bình vẫn thấp thoáng một vài người sắc tộc thiểu số co ro trong chiếc mền dầy đang ngửa tay chờ mong lòng thương của người qua đường. Trên đường Trần Hưng Ðạo, vài ba cây thông bị đổ như cho thấy sự tàn khốc của bão. Buổi tối, thành phố này thật thanh bình với những quán café ven bờ hồ, đối diện với chợ Ðà Lạt thấp thoáng trên đường vài ba đôi tình nhân khoác vai nhau trong không khí se lạnh.

Ðã từ lâu, sương mù đã trở thành thứ gì đó hơi quý hiếm của Ðà Lạt, người dân ở đây không còn được đón nhận nó thường xuyên như trước đây, họ chỉ nhìn thấy nó vào những lúc nửa đêm về sáng nhưng chỉ vào những ngày trời vào Ðông.

Sự huyền ảo của thành phố trong sương đã nhạt dần trong suy nghĩ của ngay cả những người dân bản địa. Nhà cửa của người dân từ nơi khác đến sau năm 1975 đã chiếm dần những đồi thông, họ chặt thông để làm nhà, xây khách sạn, đất canh tác...

Ngay mới đây thôi, một vài khách sạn còn trang bị cả máy lạnh trong phòng vì nhiệt độ vùng này đã tăng lên quá cao. Tuy thế, thành phố này vẫn còn thu hút được những du khách thập phương vì dẫu sao nơi đây vẫn còn lạnh hơn những nơi khác như Sài Gòn và khu vực Nam Trung Bộ vào những tháng nóng. Bên cạnh đó, hoa quả, danh tiếng của Ðà Lạt vẫn còn thu hút được du khách qua những bài hát, câu thơ mà họ đã được nghe.

Sự xuống cấp của Ðà Lạt đã không còn là sự cảnh báo mà nó đang từng ngày bị hủy hoại. Trước đây, khi nói đến Ðà Lạt người ta lại nghĩ ngay đến thác Camly như là một nơi mà ai đã đến Ðà Lạt cũng cần phái ghé thăm. Nhưng giờ đây, địa danh này đã không còn nằm trong danh mục tham quan của tất cả các công ty kinh doanh lữ hành vì độ ô nhiễm kinh khủng của nó.

Ðạo đức kinh doanh của người dân Ðà Lạt cũng là một đề tài làm cho nhiều du khách ngao ngán. Một món hàng thường được nâng giá cao đến gấp 2-3 lần. Phải chăng vì thế mà trong chợ Ðà Lạt có những tấm biển “Thực hiện văn minh thương mại - Không nói thách” treo đầy khắp ngõ đi vào các gian hành kinh doanh trong chợ Ðà Lạt. Trong những mùa du lịch ở Ðà Lạt, giá phòng cao gấp 2-3 có khi cao đến gấp 4 lần ngày thường. Họ đang cố muốn tận thu triệt để từ những con bò sữa béo tốt là du khách nhưng họ có biết đâu cứ với lối kinh doanh như thế sẽ có một ngày chẳng còn con bò nào để cho họ làm thịt.

Du khách sau khi đã tham quan Ðà Lạt khi trở về đều mang cho những bịch hồng giòn, dâu, mứt, rượu... đó là những thứ đặc sản của Ðà Lạt để về làm quà cho bạn bè, người thân ở quê, nếu không tỉnh táo để cảnh giác thì du khách dễ bị lừa bởi những người bán hàng, họ tráo những hộp dâu hư, hoặc phủ trên hộp dâu là những trái ngon, còn phía dưới thì hỏng cả.

Ðến Ðà Lạt, có một thứ bình dân nhưng lại được khá nhiều du khách muốn thưởng thức đó là đi uống sữa đậu nành ở bờ hồ Xuân Hương, khu chợ Hòa Bình. Cái cảm giác lành lạnh của vùng đất cao nguyên, trên tay cầm ly sữa đậu nành xoa qua xoa lại cho bớt lạnh tạo cho nhiều du khách cảm giác thích thú.

Thế nhưng, ngay cả những người bán sữa cũng đang dần dần thay đổi phương thức kinh doanh hoặc họ dùng việc bán sữa để ngụy trang cho một chiêu thức kinh doanh mới: Tiếp thị gái cho những quý ông ham vui tìm của lạ bằng những câu mời chào rất hấp dẫn từ những người bán sữa hay từ những người chạy xe ôm mà loại này có nhan nhản khắp bờ hồ như: “Chỉ cần ngồi uống café giá mười ngàn là có mấy em sinh viên Ðà Lạt xinh đẹp hay đến Ðà Lạt mà không thưởng thức gái Ðà Lạt thì coi như chưa đến.”

Nhiều du khách bị làm phiền bởi những tên ma cô, cò mồi này. Chúng hoạt động khắp khu Hòa Bình nhưng chủ yếu là xung quanh khu vực hồ Xuân Hương, chúng chạy theo chèo kéo, mời mọc làm cho nhiều du khách muốn cuốc bộ thong thả quanh bờ hồ buổi tối nhưng chẳng dám.

Ðối với những ai yêu Ðà Lạt, đã từng sống ở Ðà Lạt khi quay lại thành phố này chỉ còn biết lắc đầu ngao ngán vì sự thơ mộng, nét đáng yêu, quyến rũ chỉ còn lại trong thi ca mà thôi. Ðà Lạt đang từng giờ, từng ngày chết dần chính bởi sự quản lý yếu kém thiếu trình độ của các quan chức địa phương. Họ chỉ muốn tận dụng, khai thác triệt để nhưng chẳng màng đến việc tôn tạo, tu bổ cho nó. Lối suy nghĩ ăn xổi ở thì không chỉ có ở trong đám quan chức mà còn đến cả những người dân. Nếu một ngày, Ðà Lạt không còn là điểm đến lý tưởng của du khách thập phương nữa thì đó cũng là điều không lạ.

Wednesday, December 2, 2009

Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú – An ninh Mỹ, công an Việt

Posted using ShareThis

Việt Nam cần tách biệt vấn đề đảo và biển trong phương cách đối phó với yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông

Tri1ch RFI

Trọng Nghĩa

Từ trên xuống dưới và từ trái sang phải: Đảo Phú Lâm (Hoàng Sa), đảo Hoa Lau và Vành Khăn (Trường Sa)(Ảnh: DR)
Từ trên xuống dưới và từ trái sang phải: Đảo Phú Lâm (Hoàng Sa), đảo Hoa Lau và Vành Khăn (Trường Sa)
(Ảnh : DR)
Yêu sách của Trung Quốc đòi chủ quyền trên đảo, vùng biển và vùng đặc khu kinh tế tại Biển Đông căn cứ vào bản đồ hình chữ U mà họ công bố rất phi lý. Theo tiến sĩ Vũ Quang Việt, căn cứ vào Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, các nước như Việt Nam có thể nêu bật những điểm vô lý trong các yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh và đưa vấn đề ra trước quốc tế.

Tình hình căng thẳng tại Biển Đông do hành động lấn áp của Trung Quốc đối với các nước không chấp nhận chủ quyền tự tuyên bố của Bắc Kinh ngày càng đánh động dư luận quốc tế. Các mối quan ngại này vừa được các nhà nghiên cứu Việt Nam và quốc tế nêu bật trong hai ngày hội thảo ở Hà Nội hôm 26 và 27/11/2009. Trước đó không lâu, ngày 18/11, một nhóm học giả Mỹ Việt cũng đã lên tiếng cảnh báo về các diễn biến đáng lo ngại nói trên nhân một cuộc hội thảo do Đại học Yale nổi tiếng tại Hoa Kỳ tổ chức với chủ đề ”Biển Đông trong bối cảnh Việt Nam” (South China Sea in the Vietnamese Context).

Cuộc họp đã tập hợp được nhiều chuyên gia về Châu Á và Việt Nam, nhất là những người thường xuyên theo dõi tình hình Biển Đông đang làm việc tại Mỹ như nhà báo tên tuổi Nayan Chanda, thuộc Đại học Yale, giáo sư Ken MacLean, Đại học Clark, học giả Nguyễn Trung, nguyên thành viên ban cố vấn chính phủ Việt Nam, giáo sư Ngô Vĩnh Long, Đại học Maine, Tiến sĩ Vũ Quang Việt, nguyên chuyên gia thống kê cao cấp tại Liên Hiệp Quốc.

Có ba bài tham luận đã được dùng làm cơ sở cho ngày hội thảo tại Đại Học Yale: Trước hết là bản báo cáo của Giáo sư Ken MacLean: ”Tranh chấp trên vùng Biển Đông mở rộng” (Dispute over the Greater South China Sea); kế đến là bài tường trình của học giả Nguyễn Trung: ”Biển Đông và các vấn đề an ninh tại Đông Nam Á” (South China Sea and Security Issues in Southeast Asia); sau cùng là tham luận của tiến sĩ Vũ Quang Việt về đề tài: ”Tìm kiếm một giải pháp đúng đắn và hoà bình cho vùng Biển Đông Nam Á” (In Search of a Just and Peaceful Solution to the Southeast Asian Sea).

Bài tham luận của ông Vũ Quang Việt đã thu hút sự chú ý của cử tọa do một số đề nghị khá độc đáo ít được nêu lên từ trước đến nay: cần phải tách biệt hai loại tranh chấp đang diễn ra trong vùng Biển Đông để tìm ra một giải pháp thích ứng, một bên là tranh chấp về các hòn đảo trong vùng Trường Sa và Hoàng Sa, và bên kia là tranh chấp các vùng biển trong khu vực.

Theo ông Vũ Quang Việt, căn cứ vào Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, các nước như Việt Nam có thể nêu bật những điểm vô lý trong các yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh, đồng thời vận động quốc tế để tạo ra sức ép trên Trung Quốc.

Phi đạo dài 2.600 mét mà Trung Quốc đã xây dựng trên đảo Phú Lâm, hòn đảo lớn nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa (Ảnh: DR)Phi đạo dài 2.600 mét mà Trung Quốc đã xây dựng trên đảo Phú Lâm, hòn đảo lớn nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa.
(Ảnh: DR)

Đối với ông Vũ Quang Việt, duy trì nguyên trạng như hiện nay là điều không tưởng vì lợi dụng sức mạnh về quân sự và kinh tế, Trung Quốc sẽ ngày càng lấn lướt, để áp đặt chủ quyền của họ trên hầu như toàn bộ vùng Biển Đông mà lần đầu tiên họ đã nêu rõ trong tấm bản đồ hình chữ U công bố tháng năm vừa qua.

Theo ông Việt, Việt Nam và ASEAN cần phải khai thác những cái vô lý trong tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông, đặc biệt là những điểm nhập nhằng giữa vấn đề đảo đá, đảo thực thụ và vùng biển lịch sử, vùng đặc quyền kinh tế, để tìm kiếm những phương cách ngăn chặn ý đồ của Trung Quốc muốn biến Biển Đông thành ”cái hồ” của họ.

Đối với ông Vũ Quang Việt, ASEAN, các nước Châu Á khác, thậm chí Hoa Kỳ cũng vậy, cần đưa vấn đề này ra Tòa án quốc tế vì tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông đe dọa nghiêm trọng quyền tự do lưu thông hàng hải.

Một cách cụ thể chuyên gia Vũ Quang Việt cho rằng không nên đánh đồng các mỏm đá, bãi đá ở Biển Đông với hải đảo thực thụ, cần xác định rõ quy chế các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo đúng tinh thần Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển và đấu tranh chống đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc trên tinh thần đó.

Nhà nghiên cứu Vũ Quang Việt tại Hoa Kỳ

Ba yêu sách nhằm biến Biển Đông thành cái hồ của Trung Quốc

Trung Quốc cho đến bây giờ có thể nói rằng họ có 3 yêu sách. Một là yêu sách về chủ quyền trên toàn bộ các đảo trên Biển Đông. Ngoài ra, họ còn yêu sách về vùng biển bên trong đường chữ U, nghiã là tất cả biển nằm trong vùng chữ U đó là thuộc về họ. Tức là như vậy, ngoài tất cả các hòn đảo, thì cả biển lẫn nguyên vật liệu dưới đáy biển, như dầu hỏa, đều phải thuộc về họ. Yêu sách thứ ba là Trung Quốc cũng muốn có cái đặc quyền kinh tế trong khu vực đảo mà họ coi là quần đảo.

Hai yêu sách đó không phù hợp với nhau, vì khi có một yêu sách này thì không thể đòi yêu sách kia. Nhưng Trung Quốc sẽ làm đủ mọi cách, dù là hợp lý hay không hợp lý, để vừa đòi chủ quyền đảo vừa đòi chủ quyền biển. Và nếu không được chủ quyền biển, thì họ sẽ khoanh vùng biển chung quanh những hòn đảo đó để đòi hỏi chủ quyền về khu đặc quyền kinh tế.

Và chỉ riêng vấn đề khu đặc quyền kinh tế, thì Trung Quốc cũng đã vi phạm luật pháp quốc tế. Họ nói đây là khu vực mà các nước khác khi qua lại phải xin phép Trung Quốc. Họ đã cấm tàu Mỹ, đuổi tàu Mỹ ra khỏi khu vực mà từ xưa đến giờ các nước có quyền đi lại, mà luật biển quốc tế cho phép các nước có quyền đi lại.

Nếu Biển Đông bị Trung Quốc kiểm soát, tàu bè không được phép đi qua sẽ phải đánh một đường vòng rất xa(Ảnh: DR)Nếu Biển Đông bị Trung Quốc kiểm soát, tàu bè không được phép đi qua sẽ phải đánh một đường vòng rất xa.
(Ảnh : DR)

Nói chung là họ muốn biến toàn bộ khu vực Biển Đông thành một cái hồ của Trung Quốc, để rồi tất cả các nước, nếu muốn qua lại thì phải có phép của Trung Quốc, còn nếu không, thì phải đi đường vòng rất xa. Chiến lược dài lâu của Trung Quốc là kiểm soát toàn bộ Biển Đông, và họ cũng đã nói thẳng với Mỹ là muốn chia Thái Bình Dương làm hai khu vực: vùng Biển Đông là của họ, còn khu vực ngoài Hawaii là của Mỹ.

Tôi không hy vọng là Trung Quốc sẽ tham khảo hay nghe lời mình nói để thay đổi thái độ, nhưng vấn đề chính nằm ở chỗ là bây giờ vấn đề tranh chấp không chỉ giữa Việt Nam và Trung Quốc, hoặc thêm một vài nước khác như Philippines hay Malaysia, mà đây là một cuộc tranh chấp mang tính quốc tế.

Giải quyết tranh chấp theo hướng tách biệt giữa đảo và biển

Dựa trên cơ sở luật biển của Liên Hiệp Quốc, cần phải phân ra giải quyết biển riêng và đảo riêng. Về đảo, thứ nhất phải phân tách rõ là những cái gọi là đảo bây giờ nó có phải là đảo thực thụ hay là chỉ là đá. Luật biển Liên Hiệp Quốc có viết rõ là đảo phải luôn luôn là nằm phiá trên mặt nước khi thủy triều lên, phải là có cái đời sống kinh tế đủ để nuôi sống con người, giúp con ngườI tự tồn tại được.

Bây giờ trong vùng, những hòn đảo có thể nói là quá nhỏ không có thể nào làm nông nghiệp hay là có thể tự nuôi cư dân. Đảo lớn nhất bây giờ chủ yếu chỉ có 600 lính, và được cung cấp thực phẩm các nơi khác đem tới. Các hòn đảo bây giờ có to hơn vì người ta tự xây dựng thêm trên đó. Nhưng theo luật biển quốc tế, những cái do con người tự tạo lên trên những cái đảo đá đó, thì không được kể tới.

Tình trạng là có rất nhiều mỏm đá mà hầu hết trước đây chìm dưới biển, hiện giờ trồi lên và biến thành hòn đảo: nhiều nước xây dựng trên đó những công trình giống như là pháo đài, có nước xây dựng cả phi trường để biến nó thành đảo, dùng cái đó để mà cho rằng mình có chủ quyền trên những ”hòn đảo” đó. Ngay cả Việt Nam cũng làm, tức là biến những hòn đá thành đảo.

Malaysia đã xây dựng cơ sở kiên cố trên đảo Hoa Lau (Swallow) :  ảnh chụp vào giai đoạn trước (T) và hiện nay (P)(Ảnh : DR)Malaysia đã xây dựng cơ sở kiên cố trên đảo Hoa Lau (Swallow): ảnh chụp vào giai đoạn trước (T) và hiện nay (P)
(Ảnh : DR)

Và khi đá trở thành đảo, thì luật quốc tế cho cái gì? Trên nguyên tắc, người ta có thể có 200 dặm kể từ đường biên của nó ra ngoài khơi, thậm chí có thể có nhiều hơn nếu có thêm thềm lục điạ, đến trên 300 dặm. Như vậy làm vấn đề phức tạp thêm lên.

Theo đúng luật quốc tế, theo tôi, tất cả các hòn đảo ở trong vùng chỉ là đá mà thôi thôi. Có nghiã là các nước nếu có chủ quyền trên những hòn đá đó, thì cũng chỉ được 12 dặm chung quanh mà thôi. Như vậy, phần còn lại của Biển Đông sẽ là biển quốc tế, nơi mọi người có quyền tự do đi lại. và nếu khai thác tài sản dưới đáy biển, thì phải chia sẻ với nhau, thay vì tranh giành, dùng quyền lực để mà chiếm đoạt như hiện nay.

Đây là điểm quan trọng trong luật biển của Liên Hiệp Quốc, mà cho đến bây giờ ít có nhà nghiên cứu để ý tới, và nếu muốn giải quyết hoà bình, thì tôi nghĩ đây cũng là việc cũng cần thảo luận để giảm thiểu phần đấu tranh, tranh giành nhau quyền lợi chung quanh các hòn đảo, vì nếu được hòn đảo, thì cũng chỉ được 12 dặm chung quanh mà thôi, phần còn lại là biển.

Tính chất vô lý trong yêu sách về đường chữ U của Trung Quốc

Trung Quốc chỉ vẽ ra tấm bản đồ này từ năm 1947. Mà trong lịch sử, từ xưa đến giờ họ có bao giờ kiểm soát được Biển Đông hay là cố gắng kiểm soát Biển Đông đâu! Muốn gọi là biển lịch sử thì phải có sự kiểm soát từ xưa đến giờ, có nghiã là mọi người đi qua Biển Đông thì phải nộp thuế cho Trung Quốc, phải xin phép Trung Quốc, v.v.

Cũng giống như là nếu có một con sông nối liền từ Việt Nam sang Kampuchea, nếu Kampuchea muốn đem hàng hóa ra biển qua con sông Việt Nam, thì phải nộp thuế, phải xin phép. Điều này Trung Quốc chưa bao giờ làm được đối với Biển Đông. Do đó từ xưa đến giờ, chưa bao giờ đó là hải phận của Trung Quốc.

Dĩ nhiên ta có thể đem hồ sơ ra toà án quốc tế. Từ xưa đến giờ sau nhiều lần tranh chấp với Pháp, thời họ còn cai trị Việt Nam, Pháp đã hai lần yêu cầu cùng với Trung Quốc ra toà án quốc tế để giải quyết vấn đề tranh chấp thì Trung Quốc đều từ chối. Điều này có nghiã là trong tương lai, Trung Quốc cũng sẽ từ chối thôi. Vì nếu mà đưa thì chắc chắn là họ thua. Thế thì về cơ bản là họ sẽ dùng quyền lực về quân sự và trong tương lai là cả sức mạnh về kinh tế, để có thể đòi hỏi chủ quyền ở khu vực này.

Trước tình trạng đó, một nước như Việt Nam, hay là một số nước chung quanh, hay là Mỹ, có thể yêu cầu toà án quốc tế, không phải là xử lý mà là cho ý kiến về vấn đề Trung Quốc gọI Biển Đông là biển lịch sử của họ, xem điều đó có hợp lý hay không. Thì phải cần có một cuộc vận động trên thế giới để người ta hiểu biết rõ vấn đề này. Các nhà luật học, các nhà nghiên cứu cũng phải nghiên cứu kỹ xem coi vấn đề được xử lý như thế nào. Tôi thấy rằng là đây là vấn đề quốc tế chứ không phải là vấn đề song phương.

Không nên bó khuôn trong các giải pháp song phương

Vấn đề tranh chấp Biển Đông là tranh chấp đa phương. Mọi nước đi qua khu vực đó chứ không phải chỉ có Việt Nam hay là Philippines… 50% hàng hóa trên thế giới, thương mại thế giới là đi qua Biển Đông, hàng hóa của Mỹ, của các nước Đông Nam Á, của Nhật, của Đài Loan v.v. ngay cả của Trung Quốc cũng đi qua khu vực đó.

Nếu mà kiểm soát được khu vực đó, cấm mọi người đi qua, tức là có thể kiểm soát được vấn đề thương mại của toàn khu vực. Do đó mọi người đều có cái quyền lợi ở vùng Biển Đông, chứ không phải chỉ có người Đông Nam Á mà thôi. Đây là vấn đề liên quan đến biển.

Thế còn những vấn đề khác, nếu mà có cái gọi là song phương, thì tôi nghĩ là Việt Nam cùng lúc phải giải quyết vấn đề song phương với lại Philippines. Vấn đề không phải là biển nữa mà là liên quan đến một số hòn đảo, hoặc liên quan đến việc phân chia như thế nào khu đặc quyền kinh tế. Đó là vấn đề tôi nghĩ Việt Nam phải làm.

Trên vấn đề này, tôi nghĩ là Việt Nam cũng phải thay đổi quan điểm. Hồi xưa, mình có cảm tưởng rằng Việt Nam cũng muốn là cả Biển Đông là của mình… Bây giờ tôi có cảm tưởng họ đã thay đổi và họ chỉ nói về đảo. Có nghiã là Việt Nam đòi hỏi chủ quyền trên đảo.

Ngoài ra thì Việt Nam cũng rất giống Trung Quốc ở chỗ là Việt Nam đòi hỏi là trong phạm 200 dặm trong khu vực đặc quyền kinh tế, tàu bè nước ngoài không được đi qua, mà tàu quân sự thì phải xin phép. Đấy cũng là quan điểm của Trung Quốc. Theo tôi, khu vực Biển Đông chỉ có một vài người nước có khả năng theo dõi vấn đề an ninh: Mỹ, Trung Quốc, và cùng lắm là Nhật Bản.

Do đó, nếu đi theo quan điểm của Trung Quốc mà cấm không cho tàu Mỹ đi qua đó thì tôi nghĩ là làm như vậy sẽ giúp cho Trung Quốc hoàn toàn làm chủ cái Biển Đông rồi. Thành ra, quan điểm của Việt Nam cho rằng tàu quân sự không được đi qua khu vực chỉ có lợi cho Trung Quốc. Tôi cho rằng Việt Nam nên thay đổi quan điểm này.

Nguồn: http://www.rfi.fr/actuvi/articles/119/article_5889.asp


Monday, November 30, 2009

Tìm kiếm giải pháp Biển Đông

Hồng Nga

BBCVietnamese.com



Cuộc hội thảo quốc tế về Biển Đông do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia tổ chức được nhiều người xem như một cử chỉ mạnh bạo của Việt Nam về ngoại giao nhằm thúc đẩy khuynh hướng đa phương hóa và quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông.

Tuy nhiên, Hà Nội còn cả núi việc phải làm để có thể huy động trợ giúp quốc tế, biến cử chỉ này thành hành động khẳng định chủ quyền, nhất là khi Việt Nam nhận ghế Chủ tịch khối Asean vào năm tới.

Quá trình chuẩn bị đi đến Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần thứ nhất (26/11/2009-27/11/2009) cho thấy một sự dè dặt bớt dần trong cách hành xử của Hà Nội: từ chỗ cho tới tận mấy ngày trước khi sự kiện diễn ra báo chí trong nước vẫn không được đưa tin, đến việc bật đèn xanh để ngay sau ngày thứ nhất của hội thảo, hàng chục bài báo xuất hiện trên các đài báo chính phủ; rồi đến bài tham luận của diễn giả Hoàng Việt từ TP Hồ Chí Minh trong ngày hội thảo thứ hai chỉ trích thẳng tham vọng bành trướng của Trung Quốc khiến học giả nước này phải lên tiếng phản bác ...

Giáo sư Carlyle Thayer, chuyên gia Việt Nam nổi tiếng từ Học viện Quốc phòng Úc châu, nói bằng những hành động như cuộc hội thảo này, Việt Nam đã tiến tới vai trò thứ chính trong tiến trình xem xét các bất đồng và tranh chấp ở Biển Đông.

Và như vậy, Hà Nội đã đặt mình ở thế mặt đối mặt với Trung Quốc, nước chủ bài trong thế cờ vô cùng phức tạp tại khu vực giàu tài nguyên và cơ hội nhưng cũng tiềm ẩn những nguy cơ to lớn này.
Bàn tay sắt ở Biển Đông

Cách ứng xử của Trung Quốc mang tính quyết định trong tranh chấp Biển Đông.

Ngoài một thời gian vào cuối những năm 1990, khi Bắc Kinh có chính sách tạm gọi là mềm dẻo hơn và các nước liên quan tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông có thể ký với nhau một Tuyên bố chung về Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (DOC) vào năm 2002; Trung Quốc đã quay lại đường lối ngày càng cứng rắn.

Nguyên do có thể là vì một loạt yếu tố, như nhu cầu năng lượng trong nước ngày càng gay gắt; lợi ích về dầu lửa và về các tuyến hàng hải; và cả tinh thần dân tộc chủ nghĩa đang bùng cháy ở trong nước.


GS Thayer cho rằng Việt Nam đang lãnh vai thứ chính trong cuộc chơi mới

Nghiên cứu mới ra mang tựa đề "Tranh cãi Biển Đông: thêm nguy cơ, tăng căng thẳng" (The South China Sea dispute: increasing stakes and rising tension), của Clive Schofield và Ian Storey thuộc Quỹ Jamestown (Tiến sỹ Storey cũng có mặt trong cuộc hội thảo ở Hà Nội), phân tích rất rõ rằng bàn tay của Trung Quốc tại Biển Đông càng trở nên mạnh mẽ hơn với quá trình hiện đại hóa hải quân.

Từ giữa những năm 1990, quân đội Trung Quốc đã có thêm 12 tàu ngầm hạng Kilo mà Việt Nam vẫn còn đang cân nhắc mua từ Nga với số lượng ít hơn và Trung Quốc cũng đang tự mình đóng mới bốn tàu ngầm khác kể cả tàu hạng Kim và hạng Thương có sử dụng năng lượng hạt nhân; đồng thời loan báo tham vọng đóng hàng không mẫu hạm.

Bắc Kinh còn cho thiết lập căn cứ tàu ngầm tại đảo Hải Nam trấn ngữ Biển Đông, mà quân đội Việt Nam đã được tổ chức tham quan để chứng kiến sự hùng mạnh của nước láng giềng.

Các động thái như thiết lập đơn vị hành chính, sách nhiễu, hành hung ngư dân nước ngoài hay xua đuổi công ty dầu mỏ ngoại quốc muốn làm ăn với Việt Nam trong vùng tranh chấp chỉ chứng tỏ lập trường của Bắc Kinh, rằng Trung Quốc giữ "chủ quyền không thể chối cãi" trong phần lớn khu vực Biển Đông.

Một điều đáng chú ý là Trung Quốc dường như cố tình giảm nhẹ tầm quan trọng của cuộc hội thảo mà Việt Nam mất công của để dàn xếp.

Hãng thông tấn hàng đầu của nước này, Tân Hoa Xã, vốn nhanh nhạy trong việc thu thập các tin liên quan tới Trung Quốc, không có dòng nào nói về hội thảo. Báo chí Trung Quốc cũng im tiếng.

Trong số sáu học giả Hoa lục được cử tham gia hội thảo, không có ai từ Quảng Tây là trung tâm hàng đầu nghiên cứu thời sự chính sách liên quan tới Việt Nam.

Xem ra nước lớn này không mấy hào hứng với các cuộc chơi do người khác khởi xướng.
Dựa vào ai?

Thời gian gần đây, Việt Nam không che dấu một số mục tiêu mà Hà Nội mong muốn cùng các nước khác phấn đấu vươn tới, như đạt được Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC) để thay cho DOC và mang các tranh chấp ra trước Tòa án Công lý Quốc tế, Tòa án Luật biển Quốc tế và Cơ chế trọng tài quốc tế để xem xét.

Quy tắc Ứng xử COC chỉ là một quyết định chính trị, chứ không phải là một khung luật pháp. Tuân thủ nó hay không lại là một câu chuyện khác.

Tiến sỹ Yann-Huei Song, Đại học Quốc gia Chung Hsing, Đài Loan

Để làm được việc đó, không thể thiếu cam kết của các nước liên quan.

Các học giả tham gia hội thảo quốc tế về Biển Đông đã đề cập khá nhiều tới vai trò của khối Asean và sự tham gia của các quốc gia quan tâm, như Hoa Kỳ và Ấn Độ.

Phản ứng của các nước Asean trong tranh chấp Biển Đông từ trước tới nay phải nói là yếu ớt và càng cho thấy sự bất lực của khối này trong nhiều lĩnh vực, trong có giải quyết các xung đột.

Ngoại trừ văn bản DOC ký năm 2002 mà thoạt tiên giúp giảm căng thẳng ít nhiều, quá trình tìm kiếm giải pháp Biển Đông của Asean nhanh chóng rơi vào bế tắc. Dưới áp lực của Trung Quốc, chủ đề Biển Đông thậm chí còn không được nhắc tới trong nhiều cuộc hội họp khu vực, như hội nghị thượng đỉnh gần đây nhất, tháng 10/2009.

Sở dĩ Bắc Kinh có thể gây áp lực như vậy là vì các nước Asean, vốn rời rạc trong liên hệ, còn bị chi phối của quan hệ kinh tế với Trung Quốc.

Một số học giả nhắc tới vai trò của Hoa Kỳ và cho rằng Mỹ đang ngày càng quan tâm tới an ninh khu vực.

Luôn khẳng định "không đứng về bên nào", nhưng Mỹ đã nhiều lần bày tỏ quan ngại trước tình hình căng thẳng gia tăng tại Biển Đông và ủng hộ giải pháp thương lượng cho các tranh chấp.


Cuộc hội thảo được tổ chức trong hai ngày 26/11-27/11

Tuy nhiên số đông các nhà nghiên cứu thống nhất rằng quả bóng nằm trong sân của Asean và Trung Quốc. Họ cho rằng các nước liên quan đều nghiêng về giải pháp hòa bình, ngoại giao.

Tiến sỹ Storey nói: "Điều cần nhất là Asean với tư cách của một khối phải thẳng thắn đề cập vấn đề này với Trung Quốc."

Tiến sỹ Yann-Huei Song từ Đai học Quốc gia Chung Hsing, Đài Loan, nói với BBC rằng nhìn chung thì không thể nói là các nước riêng lẻ thuộc Asean không có "ý chí chính trị" để giải quyết vấn đề Biển Đông, nhưng mức độ cam kết thì khá khác nhau.

Ông nói: "Cứ đặt ra thang bậc từ một đến năm, thì có nước được hai-ba, có nước chỉ được một."

Chính vì cam kết lỏng lẻo như vậy, theo Tiến sỹ Song, ngay cả khi một bộ quy tắc COC có đạt được, thì hiệu quả của nó cũng sẽ hạn chế.

"COC chỉ là một quyết định chính trị, chứ không phải là một khung luật pháp. Tuân thủ nó hay không lại là một câu
chuyện khác."

Saturday, November 28, 2009

Phân tích vấn đề Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt từ chức

VietCatholic News (28 Nov 2009 09:07)

Phân tích vấn đề Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt từ chức.

Trong thời gian gần đây, trên các phương tiện truyền thông, có nhiều bài viết về các vấn đề đất đai của Giáo Hội, Công Lý và Sự Thật. Những bài viết này ít nhiều gây được sự chú ý đặc biệt nơi người Việt Nam nói chung và giáo dân Việt Nam nói riêng vì đã đề cập trực tiếp đến lập trường của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt và của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đối với chính quyền cộng sản. Nhưng vấn đề gây xúc động nhất hiện nay là tin Đức TGM Ngô Quang Kiệt có thể sẽ từ chức. Ngài đã loan báo cho các Linh Mục thuộc giáo phận Hà Nội biết về tiến trình từ chức vì lý do sức khỏe. Tin này gây ra nhiều thắc mắc vì người ta không biết Ngài đã chính thức đệ đơn xin từ chức chưa? Hoặc đó chỉ là lời "xin miệng" với Đức Thánh Cha? Và nếu thế, thì lời “xin miệng”có hợp thủ tục, có được Toà Thánh chấp nhận không? Tất cả đều chưa có câu trả lời.

Chúng tôi đi kiểm chứng và biết rằng một cách chính thức Bộ Ngoại Giao Tòa Thánh Vatican hoàn toàn im lặng về vấn đề này. Tuy nhiên, nguồn tin thân cận từ Vatican mà VietCatholic có được cho biết là "ngay sau khi Đức TGM Ngô Quang Kiệt nói đến ý định từ chức thì Đức ông Parolin đã có nhận định với Đức Tổng là không nên làm thế trong hoàn cảnh hôm nay". Thêm vào đó, tin hành lang ở Vatican cho biết là Đức TGM Ngô Quang Kiệt vẫn được Tòa Thánh hoàn toàn tín nhiệm trong việc cai quản Tổng Giáo Phận Hà Nội.

Với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, không thấy văn bản nào nói về tin Đức TGM Ngô Quang Kiệt từ chức, chỉ có Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn thay thế Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, trả lời điện thư cuả cha Trần Công Nghị, Giám Đốc cơ quan thông tấn ViệtCatholic, về câu hỏi Đức TGM Ngô Quang Kiệt có từ chức hay không. Đức Hồng Y trả lời cha Trần Công Nghị môt số điểm chính như sau:

1. Vào cuối tháng 6, tại Roma, Đức Tổng Kiệt cho biết, thật sự vì lý do sức khoẻ, Ngài đã trình bày cho các Giám mục Việt Nam đang họp ở Roma biết về ý định xin từ chức của Ngài với Đức Thánh Cha. Như vầy lý do là vì bệnh trạng của Ngài.

2. Đức Hồng Y góp ý với Đức TGM Hà nội là Đức Thánh Cha có cho từ chức hay không, sớm hay muộn, là việc của Đức Thánh Cha; còn phần Đức TGM Hà nội, Ngài có trách nhiệm dành thời gian điều trị, tĩnh dưỡng để có thể tiếp tục công việc mục vụ lâu dài.

3. Đức TGM Ngô Quang Kiệt cho Đức Hồng Y biết là Roma cũng đã có đề nghị hướng điều trị, còn thời điểm thì để ngài định liệu."

Cứ theo nội dung mà Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn trả lời trên đây, người ta thấy việc Đức TGM Ngô Quang Kiệt ngỏ ý xin từ chức rõ ràng là do vấn đề cá nhân, vấn đề sức khoẻ, hoàn toàn không phải là do áp lực của chính quyền cộng sản Việt Nam, cũng không phải do áp lực của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Nhưng lời giải đáp của Đức Hồng Y dù rất chính xác, nhưng dư luận vẫn không tin là chính đáng, và có được dư luận bên ngoài chấp nhận không? Hay là còn nhiều uẩn khúc trong vấn đề này? Để trả lời các câu hỏi trên, chúng ta hãy xem các bài viết bên ngoài phân tích thế nào về việc Đức TGM Ngô Quang Kiệt xin từ chức.

Dư Luận Nghĩ Gì Về Việc Đức TGM Ngô Quang Kiệt Từ Chức

Viết về đức TGM Hà Nội trong thời gian gần đây các bài viết cũng như các câu chuyện giữa người Công Giáo đều nêu bật ba sự kiện: Thứ nhất, sau khi triều yết Đức Thánh Cha về, Đức TGM Ngô Quang Kiệt đã đi nghỉ hai lần tại tu viện Châu Sơn, Ninh Bình vì lý do sức khoẻ. Thứ hai, Đức TGM đã vắng mặt trong dịp Hội Nghị Thường Niên của các Giám Mục Việt Nam họp tại Xuân Lộc với lý do được viện dẫn là vì sức khỏe yêu kém. Thứ ba, trong dịp lễ tấn phong Linh Mục Nguyễn Năng làm Giám Mục Phát Diệm, giới quan sát thấy vai trò và vị thế của một vị TGM Hà Nội được sắp xếp cách nào đó mà đã có một số người dị nghị và bình luận, và vô tình lại càng làm nhiều người hiểu lầm thêm.

Từ ba sự kiện này, các bài viết và dư luận bên ngoài, căn cứ vào các diễn biến chính trị xã hội và nội tình Giáo Hội Việt Nam, đã đi đến kết luận rằng Đức TGM sẽ từ chức, nhưng không phải vì lý do sức khoẻ mà là do (1) áp lực của chính quyền Việt Nam, (2) do áp lực của HĐGMVN và (3) cuối cùng cũng do Tòa Thánh nữa.

Áp lực từ phía chính quyền Việt Nam:

Vụ Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt đứng lên đòi hỏi công lý và sự thật trong vụ Tòa Khâm Sứ và Thái Hà là một điều hoàn toàn đúng. Các Giám Mục, giáo dân cũng thấy đúng, nhưng không dám mạnh mẽ nói ra. Còn đối với chính quyền cộng sản Việt Nam, việc làm của Đức Tổng bị coi là nguy hiểm vì làm lung lay vị thế độc tôn cai trị của họ, gây nguy hại cho an ninh chính trị vì Ngài đã tố cáo cho thế giới biết chính quyền cộng sản Việt Nam là chính quyền, không tôn trọng công lý, vi phạm nhân quyền. Đối với người dân bình thường, ai đứng lên phản đối chính quyền, chắc chắn họ sẽ bị cộng sản bắt giam, tù tội. Nhưng với người đứng đầu một tổng giáo phận thủ đô Hà Nội như Đức TGM Kiệt, việc bắt giam Ngài vào thời buổi này là việc cộng sản không thể làm được vì sợ dư luận quốc tế. Họ bị bó tay nên ông Nguyễn Thế Thảo, Chủ Tịch Uỷ Ban Nhân Dân thành phố Hà Nội đã lên tiếng đòi HĐGMVN xử lý và đưa Đức TGM Ngô Quang Kiệt đi nơi khác. Như vậy ai cũng thấy căn nguyên ban đầu là Nhà nước cộng sản không ưa gì đức TGM Kiệt và chỉ muốn bứng ngài đi khỏi Hà nội thôi! Nhưng áp lực đó có ảnh hưởng đến lập trường của Tòa Thánh Vatican, đến HĐGMVN, và đến chính Đức TGM Ngô Quang Kiệt, thì chúng ta không được biết, vì không có tài liệu nào chứng minh cho vấn đề này. Tuy nhiên, ta hãy quan sát hiện tượng để tìm ra bản chất.

Đối Với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

Do áp lực từ phía chính quyền, các bài viết hay dư luận bên ngoài nhận định rằng chính quyền Hà Nội không muốn có sự hiện diện của Đức TGM Ngô Quang Kiệt tại bất cứ nơi đâu tại VN nên đã kín đáo liên lạc với các vị GM để các Ngài gây áp lực với Đức TGM. Sự kiện được các bài báo viện dẫn là sự im lặng của HĐGMVN nói chung và đa số các Giám mục khác nói riêng trước lập trường của Đức TGM trong các vụ tòa Khâm Sứ, Thái Hà v.v... Các bài viết đó cũng suy diễn HĐGMVN đã gây áp lực mạnh đối với Đức TGM Hà Nội. Bằng chứng là Đức Tổng đã không có mặt trong Hội Nghị Thường Niên của các Giám Mục họp tại Xuân Lộc, cho dù lý do sự vắng mặt được Ngài giải thích là vì tình trạng sức khoẻ. Bằng chứng thứ hai là vị thế của Đức Tổng trong lễ tấn phong Giám Mục ở nhà thờ chính tòa Phát Diệm vào ngày 8 tháng 9 năm 2009. Như đã nói trên, các lập luận trên chỉ là những suy diễn nhưng khó lòng bác bỏ vì đa số rất dễ tin vào những gì mình đễ thấy và dễ cảm nhận.

Người ta cũng lập luận rằng: trong thâm tâm, vị Linh Mục nào, Giám Mục nào cũng không ưa gì cộng sản. Nhưng qua kinh nghiệm, các Ngài thấy từ khi VN tuyên bố mở cửa vào năm 1986, và từ khi HĐGMVN chuyển hướng chính sách từ đối đầu thời ĐGM Nguyễn Minh Nhật đến chính sách hòa hoãn với chính quyền dưới thời ĐGM Nguyễn Văn Hòa làm Chủ Tịch HĐGM Việt Nam, thì Giáo Hội Việt Nam được dễ thở hơn, sinh hoạt sống đạo khởi sắc hơn, việc truyền chức Giám Mục, Linh Mục cũng dễ dàng hơn. Từ đó, người ta suy diễn và nghi ngờ rằng biết đâu một vài Giám Mục trẻ có chân trong HĐGM chưa dầy dạn kinh nghiệm, nên có thể muốn phương cách tiếp tục đối thoại với chính quyền và chờ đợi và hy vọng một ngày mai tươi sáng. Thêm vào đó, nếu ngoại giao khéo léo với chính quyền, thì có thể sẽ lợi ích hơn cho Giáo hội. Tỏ thái độ với chính quyền lúc này là không đúng lúc, không phải là giải pháp khôn ngoan, phải bảo vệ lực lượng. Vì chính quyền vẫn dùng bạo lực khi cần để trấn áp các người đòi hỏi dân chủ, nhân quyền, công lý. Hơn nữa, lật đổ chính quyền không phải là nhiệm vụ của Giáo Hội mà nhiệm vụ chính là rao giảng tin mừng cho mọi người, kể cả người cộng sản từng bức hại Giáo Hội.

Về Phía Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt:

Tình trạng sức khỏe hiện nay của Ngài không được khả quan là điều có thật bằng chứng là trước đây mấy năm, Ngài đã cho nhiều vị Giám Mục, Linh Mục biết vì tình trạng sức khoẻ nên việc điều hành tổng giáo phận của Ngài gặp rất nhiều trở ngại. Nhiều người lầm tưởng rằng trong những ngày chuẩn bị khai mạc Năm Thánh 2009-2010 tại Sở Kiện, Ngài đã hoạt động rất năng nổ và sinh hoạt rất nhiều và cho rằng: "không thấy có dấu hiệu nào là Ngài bị suy yếu về mặt tinh thần lẫn thể xác".

Tuy nhiên, xét cho công bằng nếu vì vấn đề sức khoẻ mà đức Tổng không điều hành được công việc của Tổng Giáo Phận, thì việc xin từ chức của Ngài là điều rất chính đáng. Nhưng chúng ta phải lưu ý là theo giáo luật, việc bổ nhiệm hay để cho một vị Giám Mục nào từ chức, hoàn toàn thuộc thẩm quyền của Tòa Thánh Vatican. Một vị Giám Mục muốn từ chức vì lý do sức khoẻ hay đến tuổi về hưu, cũng phải đệ đơn lên Tòa Thánh. Sau khi cứu xét và thấy có lý do chính đáng Tòa Thánh sẽ công bố sắc lệnh, lúc đó vị Giám Mục mới được từ chức.

Về trường hợp đức TGM Ngô Quang Kiệt, nếu thực sự một cách nào đó mà phải rời chức vụ Tổng giáo phận Hà Nội thì người hưởng lợi nhiều nhất là chính quyền Việt Nam. Họ không còn phải đối phó với một người có tiếng nói được nhiều người nghe, được thế giới chú ý, lại có tư thế “bất khả xâm phạm”. Họ sẽ lợi dụng lúc Tòa Giám Mục Hà Nội trống ngôi để đặt điều kiện khắt khe với Tòa Thánh Vatican. Bằng chứng cụ thể là chính quyền VN đã từng bắt bí Tòa Thánh trong vụ tòa tổng Giám Mục thành phố Sài Gòn bị trống ngôi khi Đức TGM Nguyễn Văn Bình tạ thế. Ba bốn năm sau, họ mới chấp nhận để đức Giám Mục Phạm Minh Mẫn về nhận chức TGM Sàigòn.

Trong khi đó, một sự thật hiển nhiên không cần kiểm chứng là giáo dân cũng như nhiều ngưòi Việt Nam khác đang rất qúy trọng tư cách và lập trường của Đức TGM Ngô Quang Kiệt, Đức Cha Cao Đình Thuyên của giáo phận Vinh và Đức Cha Nguyễn Văn Tân của giáo phận Vĩnh Long. Các vị này được coi là những người đặt quyền lợi Giáo Hội, Công Lý và Sự thật trên quyền lợi cá nhân. Việc Đức TGM xin từ chức hay bị buộc từ chức lúc này chắc chắn gây thiệt hại nghiêm trọng đến uy tín Hội Đồng Giám Mục VN.

Vai Trò Toà Thánh Vatican:

Khi có tin Đức TGM Ngô Quang Kiệt sẽ từ chức, VietCatholic đã kiểm chứng tin này với một số giới chức có thẩm quyền và thạo tin tại Vatican. Chúng tôi được biết tin đức TGM Ngô Quang Kiệt tự ý ngỏ lời với Đức Thánh cha xin từ chức vì lý do sức khoẻ là có thật. Sau đó một số giới chức Vatican cũng đã có đề nghị hướng điều trị, còn thời điểm thì để Đức Tổng định liệu. Trong khi đó, cũng từ nguồn tin từ Vatican, chúng tôi được biết Tòa Thánh vẫn tuyệt đối tin tưởng Đức TGM Ngô Quang Kiệt và không muốn cho Ngài từ chức. Vì thế, trong thư Đức Hồng Y trả lời LM Trần Công Nghi mới có câu “còn thời điểm thì để tùy Ngài định liệu". Nhưng có việc từ chức hay không, Toà Thánh để tùy đức Tổng quyết định. Bằng chứng nữa là Đức Hồng Y Marie Etchegaray, một giới chức cao cấp của Toà Thánh, là Phó Niên Trưởng Hồng Y Đoàn, sang VN trong dịp Khai Mạc Năm Thánh, cùng đồng tế với Đức TGM Ngô Quang Kiệt tại nhà thờ chính tòa Hà Nội, là một dấu chỉ nói lên một điều gì tích cực mà ta phải suy nghĩ, nhất là khi Ngài nói Ngài không muốn đưa cây gậy Giám Mục, một biểu tượng quyền bính, của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt về Roma.

Tuy nhiên, tin Ngài từ chức vẫn được loan truyền trong giới Công Giáo, kể cả trong hàng giáo sĩ cao cấp tại Việt Nam. Do vậy chúng tôi muốn xem xét vấn đề này như thế nào.

Người ta vẫn còn nhớ vào lúc giáo dân Hà Nội đang đứng lên đòi công lý tại Tòa Khâm Sứ thì một văn thư của Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh khuyến cáo đức TGM phải chấm dứt cuộc tranh đấu. Từ đó, mọi người Việt Nam đều nghĩ rằng Tòa Thánh muốn áp dụng chính sách hòa hoãn, không muốn đối đầu với nhà nước cộng sản Việt Nam. Nhưng thực ra, nếu nhìn lại chúng ta thấy lúc đó Tòa Thánh và Đức TGM Hà Nội làm một việc rất nhân đạo và kịp thời: vì thời thiết giá lạnh mùa đông bất thường nên những giáo dân đến cầu nguyện ngày đêm ở trước Tòa Khâm Sứ có thể bị thế giới hiểu lầm cho rằng đó là một hành động thiếu nhân bản, nhất là đối với giáo dân nghèo khó như vậy, không có chăn mền, cơm no áo ấm...

Mọi người thừa biết rằng với kinh nghiệm ngoại giao tích lũy trên 2000 năm, Tòa Thánh không bao giờ hy sinh quyền bính của mình để đánh đối lấy việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Trường hợp Trung Quốc là một ví dụ cụ thể. Tòa thánh đã không chịu nhượng bộ mọi chuyện để đổi lấy việc thiết lập ngoại giao với Bắc Kinh. Trường hợp Việt Nam cũng vậy, Vatican đâu có được hưởng thêm quyền lợi gì. Việc bổ nhiệm Giám Mục tại VN cũng như tại Trung Quốc vẫn phải có sự đồng ý của chính quyền.

Kết Luận:

Tóm lại nếu tin Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt từ chức được chính thức công bố thì hậu quả ai cũng thấy nạn nhân chính là khối người Việt, bất kể lương giáo, ở hải ngoại hay trong nước, không chấp nhận chế độ Cộng Sản. Đối tượng thứ hai bị thiệt hại danh dự một cách nghiêm trọng là Tòa Thánh Vatican và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Đã có nhiều bình luận cho rằng nếu Đức TGM Kiệt bị từ chức thì HĐGMVN và Tòa Thánh Vatican đã phải khuất phục trước chính quyền cộng sản Việt Nam. Người được hưởng lợi nhiều nhất là chính quyền cộng sản Việt Nam. Mọi người hy vọng Hội Đồng Giám Mục Việt Nam sẽ có một khuyến cáo cụ thể nào đó về trường hợp Đức TGM Ngô Quang Kiệt để Tòa Thánh đưa ra được quyết định có lợi nhất cho Giáo Hội Việt Nam trong giai đoạn này.

Đồng bào Việt Nam đang trông đợi vào những quyết định thật sáng suốt nơi HĐGMVN, Tòa Thánh Vatican, và cá nhân Đức TGM. Xin các đấng và đặc biệt Đức TGM Ngô Quang Kiệt nên cân nhắc rất kỹ lưỡng vấn đề từ chức, vì sự kiện từ chức lúc này chỉ gây ra những hậu quả vô cùng tai hại cho Giáo Hội Việt Nam. Lịch sử Giáo Hội Việt Nam chắc chắn sẽ ghi lại biến cố lịch sử này và các sử gia sẽ lượng giá tích cực hay nghiêm khắc lên án là tuỳ theo quyết định của Đức TGM Ngô Quang Kiệt, của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và của Tòa Thánh Vatican.

Qua câu trả lời “còn thời điểm thì để tùy Ngài định liệu”, như vậy xét cho cùng, tất cả vấn đề đều nằm trong quyết định của Đức TGM. Nếu vì điều kiện sức khoẻ, vì gặp khó khăn với chính quyền, không làm việc được trong lúc này, chúng tôi cũng xin Đức Tổng cứ giữ tình trạng hiện giờ. Mọi việc đã có Đức Giám Mục phụ tá Giáo Phận Hà Nội đảm trách. Rồi sau 3 hay 5 năm, Đức TGM có muốn từ chức vì bất cứ lý do gì thì dư luận sẽ xét đoán vấn đề duới một góc cạnh hoàn toàn khác.

Thành khẩn cầu xin cho các đấng bản quyền được ơn soi sáng trong vấn đề này.
Nguyễn Long Thao