Translate
Monday, December 7, 2009
Đại nạn Trung Hoa thời nhà Minh
Bên Trung Hoa, năm 1368 (mậu thân), Chu Nguyên Chương (Zhu Yuan Zhang) lật đổ nhà Nguyên, lên ngôi hoàng đế tức Minh Thái Tổ (trị vì 1368-1398), lập ra nhà Minh (1368-1644). Đối với người Trung Hoa, nhà Nguyên là ngoại tộc, vì thuộc giống Mông Cổ; còn nhà Minh mới là chính tông người Hán. Minh Thái Tổ (Ming Tai Zu) từ trần năm 1398 (mậu dần), truyền ngôi lại cho cháu đích tôn là Minh Huệ Đế (trị vì 1399-1403), vì cha của Huệ Đế là hoàng thái tử Tiêu đã qua đời.
Minh Huệ Đế (Ming Hui Di) chủ trương tập trung quyền hành về trung ương, mưu trừ và giết hại các phiên vương. Phiên vương nước Yên tên là Lệ, ở phía bắc Trung Hoa, con trai thứ của Minh Thái Tổ và là chú của Minh Huệ Đế, tức giận nổi lên chống Huệ Đế. Yên Vương Lệ là một người có tài cầm quân, đánh thẳng vào kinh đô Kim Lăng (Jin Ling) (Nam Kinh ngày nay), lật đổ Huệ Đế, rồi tự mình lên làm vua tức Minh Thành Tổ (trị vì 1403-1424).
Minh Thành Tổ (Ming Cheng Zu) là một người rất tham vọng, mạnh mẽ chủ trương bành trướng thế lực ra nước ngoài. Ông thành lập một hạm đội hùng hậu do Trịnh Hòa (Zheng He) điều khiển. Trịnh Hòa (1371-1433) đã dẫn hạm đội xuống Bắc Úc, qua bán đảo Ả Rập, đến Đông Phi Châu, và có tài liệu cho rằng Trịnh Hòa qua tận Mỹ châu.
Chính Minh Thành Tổ đã cử hai tướng Trương Phụ (Zhang Fu) và Mộc Thạnh cầm quân sang đánh Đại Việt năm 1406. Quân Minh bắt được gia đình Hồ Quý Ly năm 1407. Con cháu nhà Trần là Giản Định Đế (trị vì 1407-1409) và Trùng Quang Đế (trị vì 1409-1413) nổi lên tiếp tục chống quân Minh, cũng lần lượt bị quân Minh dẹp yên. Nhà Minh đô hộ Đại Việt và cách thức thực hiện cuộc đô hộ của nhà Minh rất thâm độc, có thể sơ lược như sau.
I.- Sát nhập Địa Việt vào Trung Hoa
1. Nhà Minh đổi Đại việt thành quận Giao Chỉ
Trước khi bắt được gia đình Hồ Quý Ly, vua Minh Thành Tổ xuống chiếu tháng 4 năm đinh hợi (1407) nói là tìm kiếm con cháu nhà Trần để lập làm vua thay nhà Hồ, vì nhà Hồ đã cướp ngôi nhà Trần. Nói thế để lừa phỉnh dân Việt, chứ khi Trần Thúc Dao, con của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi Trần Quang Khải, ra hợp tác với quân Minh, quân Minh làm ngơ và không đưa lên ngôi. Vào tháng 6 năm đinh hợi (1407), nhà Minh quyết định đổi Đại Việt thành quận Giao Chỉ, sáp nhập vào Trung Hoa.
2. Tổ chức hành chính
Tổ chức hành chánh trung ương quận Giao Chỉ giống như một quận bên Trung Hoa, gồm ba ty là Giao Chỉ đô chỉ huy sứ ty, Thừa tuyên bố chánh ty và Đề hình án sát sứ ty. Nhà Minh đổi tên thủ đô Đông Đô (Thăng Long) thành Đông Quan, chia quận Giao Chỉ (Đại Việt) thành 15 phủ và 5 châu lớn như sau: phủ Giao Châu, Bắc Giang, Lạng Giang, Tam Giang, Kiến Bình, Tân Yên, Kiến Xương, Phụng Hóa, Thanh Hoa, Trấn Man, Lạng Sơn, Tân Bình, Diễn Châu, Nghệ An, Thuận Hóa; châu Thái Nguyên, Tuyên Hóa, Gia Hưng, Quy Hóa, Quảng Oai.(1)
Nhà Minh đưa người Trung Hoa sang nắm giữ những chức vụ then chốt quan trọng, và dùng một số người Việt chịu cộng tác với họ trong các chức vụ địa phương, nhắm chiêu dụ những người yêu nước đang tiếp tục chiến đấu chống quân Minh.
3. Sự bóc lột của nhà Minh
Về thuế má, năm 1414 nhà cầm quyền đô hộ của Minh triều quy định rằng mỗi mẫu ruộng chỉ có 3 sào. Đây là một điều hết sức gian manh. Thông thường, mỗi mẫu ruộng gồm 10 sào, nay chỉ còn 3 sào. Vậy một người có 3 sào ruộng phải chịu thuế một mẫu; hoặc ngược lại, một người có một mẫu ruộng (tức 10 sào), nay phải chịu thuế hơn 3 mẫu. Nói cách khác, dưới nền đô hộ của nhà Minh, thuế nông nghiệp tăng hơn gấp ba so với thuế cũ. Nông nghiệp là ngành sinh hoạt kinh tế chính của người Việt lúc bấy giờ. Đa số dân chúng nông thôn nghèo đói, mà tăng thuế nông nghiệp sẽ làm dân chúng Việt càng thêm bần cùng thiếu ăn..
Một năm, mỗi mẫu ruộng (tức chỉ 3 sào), nhà đô hộ Minh triều thu thuế 5 thăng lúa, đất bãi dâu mỗi mẫu thu thuế 1 lạng tơ, mỗi cân tơ thu thuế 1 tấm lụa. Năm 1415, nhà Minh lập các trường (ruộng) muối ven biển, kiểm soát việc sản xuất và đánh thuế muối. Ai buôn lậu hay sản xuất lậu đều bị phạt như nhau. Muối là thực phẩm căn bản quan trọng của người Việt, nhất là dân nghèo, hoàn toàn nằm trong quyền kiểm soát của quân Minh.
Về quân sự, vào đầu năm bính thân (1416), Trương Phụ ra lệnh xét duyệt danh số quân đội địa phương (thổ quân). Ba đinh (đàn ông) thì lấy một người làm lính. Số lính địa phương được tuyển, dùng để chia đi canh giữ các nơi.
Để kiểm soát chặt chẻ dân chúng như bên Trung Hoa, năm 1419 (kỷ hợi), Lý Bân cho thi hành biện pháp hoàng sách và hộ thiếp. Theo biện pháp nầy, ở hạ tầng tại thành phố gọi là phường, tại vùng chung quanh thành phố gọi là tương (hay sương), tại nông thôn gọi là lý. Mỗi lý có 110 hộ (gia đình) do một lý trưởng đứng đầu. Mười hộ là một giáp có một giáp thủ đứng đầu.
Mỗi hộ giữ một hộ thiếp ghi rõ tên tuổi, quê quán, số đinh trong hộ đúng theo sổ hộ khẩu do nhà cầm quyền giữ. Mỗi lý phải làm một quyển sổ gọi là sách, ghi rõ số đinh, số điền dựa trên căn bản hộ. Đầu sách có vẽ bản đồ, cuối sách liệt kê những người tàn tật cô quả. Sách viết làm bốn bản: một bản bìa vàng gọi là hoàng sách nạp lên bộ hộ, ba bản kia bìa xanh đặt ở ty bố chính sứ, phủ, huyện, mỗi nơi một bản.(2)
II.- Chính sách đồng hóa
Khi gởi quân sang đánh Đại Việt lần đầu năm 1406, Minh Thành Tổ đưa ra ba chỉ dụ liên tiếp đề ngày 21-8-1406, 16-6-1407 và 24-6-1407 căn dặn các tướng lãnh nhà Minh thi hành chính sách đồng hóa và tiêu diệt tận gốc nền văn hóa Đại Việt.
1. Bắt nhân tài Việt Nam
Việc đầu tiên là nhà Minh bắt hết nhân tài Đại Việt, đưa về Trung Hoa sử dụng tùy theo khả năng. Khi bắt được gia đình Hồ Quý Ly, người Minh không giết mà chỉ gởi về Trung Hoa. Lý do chính là vì con của Hồ Quý Ly là Hồ Nguyên Trừng có biệt tài về kỹ thuật. Nhà Minh chỉ đày Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương đi Quảng Châu, còn phong cho Hồ Nguyên Trừng làm quan ở triều đình để giúp nhà Minh chế tạo súng ống.(3) Người Minh lùng tìm những người thông minh, thông kinh, học rộng, quen thuộc việc quan, chữ đẹp, tính giỏi, nói năng hoạt bát, tướng mạo khôi ngô, khỏe mạnh, dũng cảm, quen nghề đi biển, khéo nghề sản xuất gạch, làm hương... đưa về Trung Hoa.
2. Tịch thu và tiêu hủy toàn bộ sách vở Đại Việt
Thi hành chỉ thị của Minh Thành Tổ, quân Minh tịch thu hoặc tiêu hủy toàn bộ tất cả các loại sách vở của nước Nam, kể cả các bia đá ghi lại sự nghiệp của tiền nhân. Sau đây là lệnh của Minh Thành Tổ gởi các tướng Minh ngày 21-8-1406: "... Trừ các sách kinh và bản in của đạo Phật, đạo Lão thì không tiêu hủy, ngoài ra hết thảy mọi sách vở, văn tự cho đến cả những loại [sách ghi chép] ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ ... một mãnh chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ chớ để còn."(4)
Quân Minh còn chở về Trung Hoa hầu như toàn bộ sách vở đã có từ thời Hồ Quý Ly trở về trước. Đó là sách của các tác giả sau đây: Lý Thái Tông (Hình thư), Trần Thái Tông (Hình luật, Quốc triều thông lễ, Kiến Trung thường lễ, Khóa hư tập, Ngự thi), Trần Thánh Tông (Di hậu lục, Cờ cừu lục, Thi tập), Trần Nhân Tông (Trung hưng thực lục, Thi tập), Trần Anh Tông (Thủy vân tùy bút), Trần Minh Tông (Thi tập), Trần Dụ Tông (Trần triều đại điển), Trần Nghệ Tông (Bảo hòa điện dư bút, Thi tập), Trần Hưng Đạo (Binh gia yếu lược, Vạn Kiếp bí truyền), Chu Văn Trinh tức Chu Văn An (Tứ thư thuyết ước, Tiều ẩn thi), Trần Quốc Toại (Sầm lâu tập), Trần Quang Khải (Lạc đạo tập), Trần Nguyên Đán (Băng Hồ ngọc hác tập), Nguyễn Trung Ngạn (Giới Hiên thi tập), Phạm Sư Mạnh (Giáp thạch tập), Trần Nguyên Đào (Cúc Đường di thảo), Hồ Tông Thốc tức Hồ Tông Vụ (Thảo nhàn hiệu tần, Việt nam thế chí, Việt sử cương mục), Lê Văn Hưu (Đại Việt sử ký), Nguyễn Phi Khanh (Nhị Khê thi tập), Hàn Thuyên (Phi sa tập), Lý Tế Xuyên (Việt điện u linh tập) ...(5)
3. Áp đặt văn hóa và phong tục Trung Hoa
Để đồng hóa người Việt, tháng 9 năm 1414 (giáp ngọ), người Minh ra lệnh lập Văn miếu (thờ Khổng Tử) , các đàn thờ thần xã tắc, núi, sông, gió, mưa ở các phủ châu huyện. Về phong tục, người Minh buộc thanh niên nam nữ không được cắt tóc mà phải để tóc dài;(6) phụ nữ phải bận áo ngắn quần dài như người Minh. Người Minh còn cấm người Việt không được ăn trầu.(7) Ăn trầu là một tục lệ lâu đời của người Việt.
Cũng trong năm 1414, nhà Minh mở trường học ở Thăng Long và các phủ, châu, huyện. Để thay thế sách vở người Việt đã bị quân Minh tịch thu và tiêu hủy, năm 1419 (kỷ hợi) nhà Minh cho phát hành rộng rãi sách vở Trung Hoa do vua Minh cho san định lại như Tứ thư [Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử], Ngũ kinh [Dịch, Thi, Thư, Lễ, Xuân thu], Tính lý đại toàn... (8)
III.- Chính sách khai thác tài nguyên
1. Nông nghiệp
Sau khi nhà Hồ sụp đổ, Trương Phụ ra lệnh đặt đồn điền năm 1410 (canh dần) ở các nơi gần thành Thăng Long, thu mua lúa ở các phủ Tuyên Hóa, Thái Nguyên, Tam Giang, để cung ứng thực phẩm cho đoàn quân viễn chinh,
Chiến thắng xong nhà Hậu Trần, người Minh ra lệnh cho các phủ, huyện, châu ở nước ta phải trồng hồ tiêu. Từ tháng 4 năm mậu tuất (1418), họ bắt đầu trưng thu hồ tiêu đem về Trung Hoa, nhắm cung cấp cho ngành xuất cảng qua tây phương theo “con đường hương liệu và gia vị”. Người Minh buộc các địa phương (phủ, huyện) phải nạp đặc sản để chuyển về Trung Hoa như: hương liệu, hươu trắng, chim vẹt, vượn bạc má, trăn ...
Người Minh còn bắt dân chúng vùng rừng núi tìm bắt voi, tê giác, và dân chúng làm nghề chài lưới ven biển đi mò ngọc trai. Tháng 7 năm mậu tuất (1418), người Minh thiết lập trường sở thu ngọc trai tại hai địa điểm có hải phận sinh sản nhiều ngọc trai. Đó là Vĩnh An (Tiên Yên, Vạn Ninh, Quảng Yên) và Vân Đồn (Vân Hải, Quảng Yên). Hằng ngày, hàng ngàn dân bị đưa đi mò ngọc trai cho người Minh.
2. Công nghệ
Người Minh thu mua vàng bạc quý hiếm chở về Trung Hoa. Tháng 8 năm ất mùi (1415), nhà Minh thiết lập các trường cục cai quản các vùng mỏ vàng bạc, đốc thúc dân đinh khai đào các kim loại quý, kiểm điểm sản lượng và niêm phong nạp lên thượng cấp
3. Giao thông thương mại
Để dễ vận chuyển, người Minh thiết lập một lộ trình mới từ Quảng Đông qua Đông Quan (Thăng Long), chia làm hai đoạn: từ Khâm Châu (thuộc Quảng Đông ngày nay) đi đường biển tới các cảng Vạn Ninh (thuộc Quảng Yên), Đông Triều, Chí Linh (Hải Dương). Các nơi nầy đều có đặt trạm liên lạc bằng thuyền. Từ Vạn Ninh, Đông Triều, Chí Linh đến Đông Quan (Thăng Long), người Minh đặt các trạm chạy bằng ngựa theo đường bộ.
Kết luận
Chính sách tận lực khai thác tài nguyên nước ta của quân Minh được Nguyễn Trãi ghi lại hết sức rõ ràng trong bài "Bình Ngô đại cáo": "Quân cuồng Minh thừa cơ tứ ngược,[9] bọn gian tà bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Chước dối đủ muôn nghìn khóe, ác chứa ngót hai mươi năm. Bại nhân nghĩa, nát cả càn khôn, nặng khoa liễm [10] vét không sơn trạch. Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống bể mò châu, nào hố bẫy hươu đen, nào lưới dò chim sả. Tàn hại cả côn trùng thảo mộc, nheo nhóc thay! quan quả điên liên.[11] Kẻ há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán. Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa. Nặng nề về những nỗi phu phen, bắt bớ mất cả nghề canh cửi. Độc ác thay! trúc rừng không ghi hết tội; dơ bẩn thay! nước bể không rửa sạch mùi. Lẽ nào trời đất tha cho, ai bảo thần nhân nhịn được."(12)
Cuộc đô hộ của nhà Minh tuy ngắn ngủi, chỉ trong vòng hơn 20 năm (1407-1428), nhưng ảnh hưởng lâu dài về nhiều mặt, do chính sách khai thác thuộc địa rất tàn nhẫn, và chính sách tận diệt nền văn hóa Đại Việt, nhằm đồng hóa người Việt của nhà Minh.
Năm 1975, khi cưỡng chiếm miền Nam, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam (CSVN) đã tập trung và đốt hết sách vở miền Nam nhằm tiêu diệt văn hóa miền Nam, truyền bá văn hóa Mác-xít, không khác gì nhà Minh đã tiêu diệt văn hóa Đại Việt, truyền bá văn hóa Trung Hoa. Nhà Minh không thực hiện được mưu đồ thâm độc của nhà Minh. Cộng sản Việt Nam cũng không thực hiện được mưu đồ thâm độc của CSVN. Chẳng những thế, CSVN lại còn bị ảnh hưởng ngược lại của nền văn hóa miền Nam, vì căn bản nền văn hóa miền Nam vốn là nền văn hóa dân tộc cổ truyền, được bảo lưu ở miền Nam Việt Nam sau khi đất nước bị chia hai năm 1954.
Về phía Trung Hoa, từ cuối năm 1924, đảng CSTH đã bảo trợ cho tay điệp viên Đệ tam Quốc tế Nguyễn Ái Quốc, giúp huấn luyện cán bộ để cài người vào Việt Nam. Sau đó, từ năm 1950, đảng CSTH đã đầu tư dài hạn vào công cuộc chiến tranh của Hồ Chí Minh, thao túng nhà cầm quyền CSVN. Từ đầu thế kỷ 21, CSTH đòi lại vốn và lời đã đầu tư, thực hiện kế hoạch tằm ăn dâu của nhà Minh, kiếm cách từ từ khai thác tài nguyên trên biển cũng như trên đất liền của Việt Nam, tiến hành từng bước âm thầm, chậm chạp, và chắc chắn.
Với đà thâm nhập nầy, rồi đây CSTH sẽ dùng CSVN để Hán hóa người Việt và sẽ sáp nhập Việt Nam vào Trung Hoa, biến Việt Nam thành một tỉnh hay một quận Trung Hoa, không khác gì nhà Minh vào thế kỷ 15.
Trước tình hình nầy, ngày nay người Việt Nam chỉ còn cách duy nhất là phải tự mình cứu lấy mình thoát ra khỏi đảng CSVN. Thoát ra khỏi đảng CSVN, người Việt mới thoát ra khỏi sự đô hộ của CSTH. Tuy khó khăn nhưng không còn con đường nào khác.
© Đàn Chim Việt Online
Chú thích
1. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, in lần thứ hai, Huế: Nxb. Thuận Hóa, 1997, tr. tr. 163. [Đào Duy Anh căn cứ trên tài liệu Thiên hạ quận quốc của Trung Hoa.] Ngoài 15 phủ trên đây, năm 1414, quân Minh đặt thêm phủ thứ 16 là phủ Thăng Hoa, nhưng chưa tổ chức đưọc nền cai trị tại phủ nầy thì bị quân Chiêm Thành chiếm.
2. Chính sách nầy do nhà Minh áp dụng ở Trung Hoa từ năm 1381. (Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chữ Nho), Hà Nội: bản dịch của Nxb. Giáo Dục, 1998, tập 1, tt. 767-768.)
3. Theo Lê Quí Đôn trong Vân đài loại ngữ, mục "Vựng điển loại", trích dẫn sách Cô thụ biều đàm, Lê Trừng tức Hồ Nguyên Trừng được nhà Minh phong làm hộ bộ thượng thư. Lê Quí Đôn cũng trích dẫn Minh sử nói rằng "trong niên biểu của thất khanh (bảy vị quan to), có nói đến Lê Trừng làm binh bộ thượng thư". Minh sử còn chép rằng: "Năm Vĩnh Lạc [1403-1424], vua Minh thân chinh Mạc bắc. Khi giặc kéo ào đến, bèn đem thần sang của nước An-Nam ra đánh..." (Vân đài loại ngữ, bản dịch của Phạm Vũ và Lê Hiền, Tự Lực tái bản, Hoa Kỳ, tt. 238-239). Thần sang An Nam ở đây là súng thần công do Hồ Nguyên Trừng chế tạo. Hồ Nguyên Trừng có soạn sách Nam ông mộng lục, viết về 31 nhân vật nổi tiếng trong lịch sử nước nhà. Có lẽ nhờ Hồ Nguyên Trừng mà Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương không bị giết, mà chỉ bị đày đi Quảng Châu.
4. Phạm Cao Dương "Từ nạn trộm cắp các cổ vật tại Việt Nam đến tham vọng bá quyền về văn hóa của Trung Quốc", nguyệt san Thế Kỷ 21, số 130-131, tháng 2 & 3-2000, tr. 54.
5. Cương mục, sđd. tr. 765, "Lời chua". Khi chua như trên, các soạn giả bộ Cương mục dựa vào "Văn tịch chí" trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú. Tuy Phan Huy Chú đề tên tác giả các sách về hình luật, điển lễ trên đây là các vua, thật ra là do các quan soạn dưới triều các vua đó. Ngoài ra, vài tác phẩm hiện đã tìm thấy lại được như Khóa hư tập của vua Trần Thái Tông, Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên, hoặc còn sót lại vài bài thơ như của Trần Thái Tông, Trần Quang Khải...
6. Đời nhà Trần trở về trước, dân Việt theo tục xâm mình và cắt tóc.
7. Stanley Karnov, Viet Nam a History, New York: The Viking Press, 1983, tr. 103.
8. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư [chữ Nho], Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội, bản dịch tập 2, 1998, tt. 236, 242. Tính lý đại toàn: Bộ sách do Hồ Quảng vâng lệnh vua Minh soạn ra, nội dung dựa vào học thuyết của các Nho sĩ đời Tống.
9. Tứ ngược: hết sức tàn ngược. [Chú thích 10, 11 và 12 theo Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược.]
10. Khoa liễm: thuế má.
11. Quan quả điên liên: Quan: người không vợ; quả: người góa chồng; điên liên: những kẻ không có nhà ở, không trông cậy vào đâu được.
12. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Sài Gòn: Nxb. Tân Việt tái bản, 1964, tr. 229.
Saturday, December 5, 2009
Ðà Lạt, thành phố hoa không còn thơ mộng
Wednesday, December 2, 2009
Việt Nam cần tách biệt vấn đề đảo và biển trong phương cách đối phó với yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông
Trọng Nghĩa
(Ảnh : DR)
Tình hình căng thẳng tại Biển Đông do hành động lấn áp của Trung Quốc đối với các nước không chấp nhận chủ quyền tự tuyên bố của Bắc Kinh ngày càng đánh động dư luận quốc tế. Các mối quan ngại này vừa được các nhà nghiên cứu Việt Nam và quốc tế nêu bật trong hai ngày hội thảo ở Hà Nội hôm 26 và 27/11/2009. Trước đó không lâu, ngày 18/11, một nhóm học giả Mỹ Việt cũng đã lên tiếng cảnh báo về các diễn biến đáng lo ngại nói trên nhân một cuộc hội thảo do Đại học Yale nổi tiếng tại Hoa Kỳ tổ chức với chủ đề ”Biển Đông trong bối cảnh Việt Nam” (South China Sea in the Vietnamese Context).
Cuộc họp đã tập hợp được nhiều chuyên gia về Châu Á và Việt Nam, nhất là những người thường xuyên theo dõi tình hình Biển Đông đang làm việc tại Mỹ như nhà báo tên tuổi Nayan Chanda, thuộc Đại học Yale, giáo sư Ken MacLean, Đại học Clark, học giả Nguyễn Trung, nguyên thành viên ban cố vấn chính phủ Việt Nam, giáo sư Ngô Vĩnh Long, Đại học Maine, Tiến sĩ Vũ Quang Việt, nguyên chuyên gia thống kê cao cấp tại Liên Hiệp Quốc.
Có ba bài tham luận đã được dùng làm cơ sở cho ngày hội thảo tại Đại Học Yale: Trước hết là bản báo cáo của Giáo sư Ken MacLean: ”Tranh chấp trên vùng Biển Đông mở rộng” (Dispute over the Greater South China Sea); kế đến là bài tường trình của học giả Nguyễn Trung: ”Biển Đông và các vấn đề an ninh tại Đông Nam Á” (South China Sea and Security Issues in Southeast Asia); sau cùng là tham luận của tiến sĩ Vũ Quang Việt về đề tài: ”Tìm kiếm một giải pháp đúng đắn và hoà bình cho vùng Biển Đông Nam Á” (In Search of a Just and Peaceful Solution to the Southeast Asian Sea).
Bài tham luận của ông Vũ Quang Việt đã thu hút sự chú ý của cử tọa do một số đề nghị khá độc đáo ít được nêu lên từ trước đến nay: cần phải tách biệt hai loại tranh chấp đang diễn ra trong vùng Biển Đông để tìm ra một giải pháp thích ứng, một bên là tranh chấp về các hòn đảo trong vùng Trường Sa và Hoàng Sa, và bên kia là tranh chấp các vùng biển trong khu vực.
Theo ông Vũ Quang Việt, căn cứ vào Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, các nước như Việt Nam có thể nêu bật những điểm vô lý trong các yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh, đồng thời vận động quốc tế để tạo ra sức ép trên Trung Quốc.
(Ảnh: DR)
Đối với ông Vũ Quang Việt, duy trì nguyên trạng như hiện nay là điều không tưởng vì lợi dụng sức mạnh về quân sự và kinh tế, Trung Quốc sẽ ngày càng lấn lướt, để áp đặt chủ quyền của họ trên hầu như toàn bộ vùng Biển Đông mà lần đầu tiên họ đã nêu rõ trong tấm bản đồ hình chữ U công bố tháng năm vừa qua.
Theo ông Việt, Việt Nam và ASEAN cần phải khai thác những cái vô lý trong tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông, đặc biệt là những điểm nhập nhằng giữa vấn đề đảo đá, đảo thực thụ và vùng biển lịch sử, vùng đặc quyền kinh tế, để tìm kiếm những phương cách ngăn chặn ý đồ của Trung Quốc muốn biến Biển Đông thành ”cái hồ” của họ.
Đối với ông Vũ Quang Việt, ASEAN, các nước Châu Á khác, thậm chí Hoa Kỳ cũng vậy, cần đưa vấn đề này ra Tòa án quốc tế vì tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông đe dọa nghiêm trọng quyền tự do lưu thông hàng hải.
Một cách cụ thể chuyên gia Vũ Quang Việt cho rằng không nên đánh đồng các mỏm đá, bãi đá ở Biển Đông với hải đảo thực thụ, cần xác định rõ quy chế các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo đúng tinh thần Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển và đấu tranh chống đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc trên tinh thần đó.
Nhà nghiên cứu Vũ Quang Việt tại Hoa Kỳ
Ba yêu sách nhằm biến Biển Đông thành cái hồ của Trung Quốc
Trung Quốc cho đến bây giờ có thể nói rằng họ có 3 yêu sách. Một là yêu sách về chủ quyền trên toàn bộ các đảo trên Biển Đông. Ngoài ra, họ còn yêu sách về vùng biển bên trong đường chữ U, nghiã là tất cả biển nằm trong vùng chữ U đó là thuộc về họ. Tức là như vậy, ngoài tất cả các hòn đảo, thì cả biển lẫn nguyên vật liệu dưới đáy biển, như dầu hỏa, đều phải thuộc về họ. Yêu sách thứ ba là Trung Quốc cũng muốn có cái đặc quyền kinh tế trong khu vực đảo mà họ coi là quần đảo.
Hai yêu sách đó không phù hợp với nhau, vì khi có một yêu sách này thì không thể đòi yêu sách kia. Nhưng Trung Quốc sẽ làm đủ mọi cách, dù là hợp lý hay không hợp lý, để vừa đòi chủ quyền đảo vừa đòi chủ quyền biển. Và nếu không được chủ quyền biển, thì họ sẽ khoanh vùng biển chung quanh những hòn đảo đó để đòi hỏi chủ quyền về khu đặc quyền kinh tế.
Và chỉ riêng vấn đề khu đặc quyền kinh tế, thì Trung Quốc cũng đã vi phạm luật pháp quốc tế. Họ nói đây là khu vực mà các nước khác khi qua lại phải xin phép Trung Quốc. Họ đã cấm tàu Mỹ, đuổi tàu Mỹ ra khỏi khu vực mà từ xưa đến giờ các nước có quyền đi lại, mà luật biển quốc tế cho phép các nước có quyền đi lại.
(Ảnh : DR)
Nói chung là họ muốn biến toàn bộ khu vực Biển Đông thành một cái hồ của Trung Quốc, để rồi tất cả các nước, nếu muốn qua lại thì phải có phép của Trung Quốc, còn nếu không, thì phải đi đường vòng rất xa. Chiến lược dài lâu của Trung Quốc là kiểm soát toàn bộ Biển Đông, và họ cũng đã nói thẳng với Mỹ là muốn chia Thái Bình Dương làm hai khu vực: vùng Biển Đông là của họ, còn khu vực ngoài Hawaii là của Mỹ.
Tôi không hy vọng là Trung Quốc sẽ tham khảo hay nghe lời mình nói để thay đổi thái độ, nhưng vấn đề chính nằm ở chỗ là bây giờ vấn đề tranh chấp không chỉ giữa Việt Nam và Trung Quốc, hoặc thêm một vài nước khác như Philippines hay Malaysia, mà đây là một cuộc tranh chấp mang tính quốc tế.
Giải quyết tranh chấp theo hướng tách biệt giữa đảo và biển
Dựa trên cơ sở luật biển của Liên Hiệp Quốc, cần phải phân ra giải quyết biển riêng và đảo riêng. Về đảo, thứ nhất phải phân tách rõ là những cái gọi là đảo bây giờ nó có phải là đảo thực thụ hay là chỉ là đá. Luật biển Liên Hiệp Quốc có viết rõ là đảo phải luôn luôn là nằm phiá trên mặt nước khi thủy triều lên, phải là có cái đời sống kinh tế đủ để nuôi sống con người, giúp con ngườI tự tồn tại được.
Bây giờ trong vùng, những hòn đảo có thể nói là quá nhỏ không có thể nào làm nông nghiệp hay là có thể tự nuôi cư dân. Đảo lớn nhất bây giờ chủ yếu chỉ có 600 lính, và được cung cấp thực phẩm các nơi khác đem tới. Các hòn đảo bây giờ có to hơn vì người ta tự xây dựng thêm trên đó. Nhưng theo luật biển quốc tế, những cái do con người tự tạo lên trên những cái đảo đá đó, thì không được kể tới.
Tình trạng là có rất nhiều mỏm đá mà hầu hết trước đây chìm dưới biển, hiện giờ trồi lên và biến thành hòn đảo: nhiều nước xây dựng trên đó những công trình giống như là pháo đài, có nước xây dựng cả phi trường để biến nó thành đảo, dùng cái đó để mà cho rằng mình có chủ quyền trên những ”hòn đảo” đó. Ngay cả Việt Nam cũng làm, tức là biến những hòn đá thành đảo.
(Ảnh : DR)
Và khi đá trở thành đảo, thì luật quốc tế cho cái gì? Trên nguyên tắc, người ta có thể có 200 dặm kể từ đường biên của nó ra ngoài khơi, thậm chí có thể có nhiều hơn nếu có thêm thềm lục điạ, đến trên 300 dặm. Như vậy làm vấn đề phức tạp thêm lên.
Theo đúng luật quốc tế, theo tôi, tất cả các hòn đảo ở trong vùng chỉ là đá mà thôi thôi. Có nghiã là các nước nếu có chủ quyền trên những hòn đá đó, thì cũng chỉ được 12 dặm chung quanh mà thôi. Như vậy, phần còn lại của Biển Đông sẽ là biển quốc tế, nơi mọi người có quyền tự do đi lại. và nếu khai thác tài sản dưới đáy biển, thì phải chia sẻ với nhau, thay vì tranh giành, dùng quyền lực để mà chiếm đoạt như hiện nay.
Đây là điểm quan trọng trong luật biển của Liên Hiệp Quốc, mà cho đến bây giờ ít có nhà nghiên cứu để ý tới, và nếu muốn giải quyết hoà bình, thì tôi nghĩ đây cũng là việc cũng cần thảo luận để giảm thiểu phần đấu tranh, tranh giành nhau quyền lợi chung quanh các hòn đảo, vì nếu được hòn đảo, thì cũng chỉ được 12 dặm chung quanh mà thôi, phần còn lại là biển.
Tính chất vô lý trong yêu sách về đường chữ U của Trung Quốc
Trung Quốc chỉ vẽ ra tấm bản đồ này từ năm 1947. Mà trong lịch sử, từ xưa đến giờ họ có bao giờ kiểm soát được Biển Đông hay là cố gắng kiểm soát Biển Đông đâu! Muốn gọi là biển lịch sử thì phải có sự kiểm soát từ xưa đến giờ, có nghiã là mọi người đi qua Biển Đông thì phải nộp thuế cho Trung Quốc, phải xin phép Trung Quốc, v.v.
Cũng giống như là nếu có một con sông nối liền từ Việt Nam sang Kampuchea, nếu Kampuchea muốn đem hàng hóa ra biển qua con sông Việt Nam, thì phải nộp thuế, phải xin phép. Điều này Trung Quốc chưa bao giờ làm được đối với Biển Đông. Do đó từ xưa đến giờ, chưa bao giờ đó là hải phận của Trung Quốc.
Dĩ nhiên ta có thể đem hồ sơ ra toà án quốc tế. Từ xưa đến giờ sau nhiều lần tranh chấp với Pháp, thời họ còn cai trị Việt Nam, Pháp đã hai lần yêu cầu cùng với Trung Quốc ra toà án quốc tế để giải quyết vấn đề tranh chấp thì Trung Quốc đều từ chối. Điều này có nghiã là trong tương lai, Trung Quốc cũng sẽ từ chối thôi. Vì nếu mà đưa thì chắc chắn là họ thua. Thế thì về cơ bản là họ sẽ dùng quyền lực về quân sự và trong tương lai là cả sức mạnh về kinh tế, để có thể đòi hỏi chủ quyền ở khu vực này.
Trước tình trạng đó, một nước như Việt Nam, hay là một số nước chung quanh, hay là Mỹ, có thể yêu cầu toà án quốc tế, không phải là xử lý mà là cho ý kiến về vấn đề Trung Quốc gọI Biển Đông là biển lịch sử của họ, xem điều đó có hợp lý hay không. Thì phải cần có một cuộc vận động trên thế giới để người ta hiểu biết rõ vấn đề này. Các nhà luật học, các nhà nghiên cứu cũng phải nghiên cứu kỹ xem coi vấn đề được xử lý như thế nào. Tôi thấy rằng là đây là vấn đề quốc tế chứ không phải là vấn đề song phương.
Không nên bó khuôn trong các giải pháp song phương
Vấn đề tranh chấp Biển Đông là tranh chấp đa phương. Mọi nước đi qua khu vực đó chứ không phải chỉ có Việt Nam hay là Philippines… 50% hàng hóa trên thế giới, thương mại thế giới là đi qua Biển Đông, hàng hóa của Mỹ, của các nước Đông Nam Á, của Nhật, của Đài Loan v.v. ngay cả của Trung Quốc cũng đi qua khu vực đó.
Nếu mà kiểm soát được khu vực đó, cấm mọi người đi qua, tức là có thể kiểm soát được vấn đề thương mại của toàn khu vực. Do đó mọi người đều có cái quyền lợi ở vùng Biển Đông, chứ không phải chỉ có người Đông Nam Á mà thôi. Đây là vấn đề liên quan đến biển.
Thế còn những vấn đề khác, nếu mà có cái gọi là song phương, thì tôi nghĩ là Việt Nam cùng lúc phải giải quyết vấn đề song phương với lại Philippines. Vấn đề không phải là biển nữa mà là liên quan đến một số hòn đảo, hoặc liên quan đến việc phân chia như thế nào khu đặc quyền kinh tế. Đó là vấn đề tôi nghĩ Việt Nam phải làm.
Trên vấn đề này, tôi nghĩ là Việt Nam cũng phải thay đổi quan điểm. Hồi xưa, mình có cảm tưởng rằng Việt Nam cũng muốn là cả Biển Đông là của mình… Bây giờ tôi có cảm tưởng họ đã thay đổi và họ chỉ nói về đảo. Có nghiã là Việt Nam đòi hỏi chủ quyền trên đảo.
Ngoài ra thì Việt Nam cũng rất giống Trung Quốc ở chỗ là Việt Nam đòi hỏi là trong phạm 200 dặm trong khu vực đặc quyền kinh tế, tàu bè nước ngoài không được đi qua, mà tàu quân sự thì phải xin phép. Đấy cũng là quan điểm của Trung Quốc. Theo tôi, khu vực Biển Đông chỉ có một vài người nước có khả năng theo dõi vấn đề an ninh: Mỹ, Trung Quốc, và cùng lắm là Nhật Bản.
Do đó, nếu đi theo quan điểm của Trung Quốc mà cấm không cho tàu Mỹ đi qua đó thì tôi nghĩ là làm như vậy sẽ giúp cho Trung Quốc hoàn toàn làm chủ cái Biển Đông rồi. Thành ra, quan điểm của Việt Nam cho rằng tàu quân sự không được đi qua khu vực chỉ có lợi cho Trung Quốc. Tôi cho rằng Việt Nam nên thay đổi quan điểm này.
Nguồn: http://www.rfi.fr/actuvi/articles/119/article_5889.asp
Monday, November 30, 2009
Tìm kiếm giải pháp Biển Đông
BBCVietnamese.com
Cuộc hội thảo quốc tế về Biển Đông do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia tổ chức được nhiều người xem như một cử chỉ mạnh bạo của Việt Nam về ngoại giao nhằm thúc đẩy khuynh hướng đa phương hóa và quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông.
Tuy nhiên, Hà Nội còn cả núi việc phải làm để có thể huy động trợ giúp quốc tế, biến cử chỉ này thành hành động khẳng định chủ quyền, nhất là khi Việt Nam nhận ghế Chủ tịch khối Asean vào năm tới.
Quá trình chuẩn bị đi đến Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần thứ nhất (26/11/2009-27/11/2009) cho thấy một sự dè dặt bớt dần trong cách hành xử của Hà Nội: từ chỗ cho tới tận mấy ngày trước khi sự kiện diễn ra báo chí trong nước vẫn không được đưa tin, đến việc bật đèn xanh để ngay sau ngày thứ nhất của hội thảo, hàng chục bài báo xuất hiện trên các đài báo chính phủ; rồi đến bài tham luận của diễn giả Hoàng Việt từ TP Hồ Chí Minh trong ngày hội thảo thứ hai chỉ trích thẳng tham vọng bành trướng của Trung Quốc khiến học giả nước này phải lên tiếng phản bác ...
Giáo sư Carlyle Thayer, chuyên gia Việt Nam nổi tiếng từ Học viện Quốc phòng Úc châu, nói bằng những hành động như cuộc hội thảo này, Việt Nam đã tiến tới vai trò thứ chính trong tiến trình xem xét các bất đồng và tranh chấp ở Biển Đông.
Và như vậy, Hà Nội đã đặt mình ở thế mặt đối mặt với Trung Quốc, nước chủ bài trong thế cờ vô cùng phức tạp tại khu vực giàu tài nguyên và cơ hội nhưng cũng tiềm ẩn những nguy cơ to lớn này.
Bàn tay sắt ở Biển Đông
Cách ứng xử của Trung Quốc mang tính quyết định trong tranh chấp Biển Đông.
Ngoài một thời gian vào cuối những năm 1990, khi Bắc Kinh có chính sách tạm gọi là mềm dẻo hơn và các nước liên quan tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông có thể ký với nhau một Tuyên bố chung về Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (DOC) vào năm 2002; Trung Quốc đã quay lại đường lối ngày càng cứng rắn.
Nguyên do có thể là vì một loạt yếu tố, như nhu cầu năng lượng trong nước ngày càng gay gắt; lợi ích về dầu lửa và về các tuyến hàng hải; và cả tinh thần dân tộc chủ nghĩa đang bùng cháy ở trong nước.
GS Thayer cho rằng Việt Nam đang lãnh vai thứ chính trong cuộc chơi mới
Nghiên cứu mới ra mang tựa đề "Tranh cãi Biển Đông: thêm nguy cơ, tăng căng thẳng" (The South China Sea dispute: increasing stakes and rising tension), của Clive Schofield và Ian Storey thuộc Quỹ Jamestown (Tiến sỹ Storey cũng có mặt trong cuộc hội thảo ở Hà Nội), phân tích rất rõ rằng bàn tay của Trung Quốc tại Biển Đông càng trở nên mạnh mẽ hơn với quá trình hiện đại hóa hải quân.
Từ giữa những năm 1990, quân đội Trung Quốc đã có thêm 12 tàu ngầm hạng Kilo mà Việt Nam vẫn còn đang cân nhắc mua từ Nga với số lượng ít hơn và Trung Quốc cũng đang tự mình đóng mới bốn tàu ngầm khác kể cả tàu hạng Kim và hạng Thương có sử dụng năng lượng hạt nhân; đồng thời loan báo tham vọng đóng hàng không mẫu hạm.
Bắc Kinh còn cho thiết lập căn cứ tàu ngầm tại đảo Hải Nam trấn ngữ Biển Đông, mà quân đội Việt Nam đã được tổ chức tham quan để chứng kiến sự hùng mạnh của nước láng giềng.
Các động thái như thiết lập đơn vị hành chính, sách nhiễu, hành hung ngư dân nước ngoài hay xua đuổi công ty dầu mỏ ngoại quốc muốn làm ăn với Việt Nam trong vùng tranh chấp chỉ chứng tỏ lập trường của Bắc Kinh, rằng Trung Quốc giữ "chủ quyền không thể chối cãi" trong phần lớn khu vực Biển Đông.
Một điều đáng chú ý là Trung Quốc dường như cố tình giảm nhẹ tầm quan trọng của cuộc hội thảo mà Việt Nam mất công của để dàn xếp.
Hãng thông tấn hàng đầu của nước này, Tân Hoa Xã, vốn nhanh nhạy trong việc thu thập các tin liên quan tới Trung Quốc, không có dòng nào nói về hội thảo. Báo chí Trung Quốc cũng im tiếng.
Trong số sáu học giả Hoa lục được cử tham gia hội thảo, không có ai từ Quảng Tây là trung tâm hàng đầu nghiên cứu thời sự chính sách liên quan tới Việt Nam.
Xem ra nước lớn này không mấy hào hứng với các cuộc chơi do người khác khởi xướng.
Dựa vào ai?
Thời gian gần đây, Việt Nam không che dấu một số mục tiêu mà Hà Nội mong muốn cùng các nước khác phấn đấu vươn tới, như đạt được Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC) để thay cho DOC và mang các tranh chấp ra trước Tòa án Công lý Quốc tế, Tòa án Luật biển Quốc tế và Cơ chế trọng tài quốc tế để xem xét.
Quy tắc Ứng xử COC chỉ là một quyết định chính trị, chứ không phải là một khung luật pháp. Tuân thủ nó hay không lại là một câu chuyện khác.
Tiến sỹ Yann-Huei Song, Đại học Quốc gia Chung Hsing, Đài Loan
Để làm được việc đó, không thể thiếu cam kết của các nước liên quan.
Các học giả tham gia hội thảo quốc tế về Biển Đông đã đề cập khá nhiều tới vai trò của khối Asean và sự tham gia của các quốc gia quan tâm, như Hoa Kỳ và Ấn Độ.
Phản ứng của các nước Asean trong tranh chấp Biển Đông từ trước tới nay phải nói là yếu ớt và càng cho thấy sự bất lực của khối này trong nhiều lĩnh vực, trong có giải quyết các xung đột.
Ngoại trừ văn bản DOC ký năm 2002 mà thoạt tiên giúp giảm căng thẳng ít nhiều, quá trình tìm kiếm giải pháp Biển Đông của Asean nhanh chóng rơi vào bế tắc. Dưới áp lực của Trung Quốc, chủ đề Biển Đông thậm chí còn không được nhắc tới trong nhiều cuộc hội họp khu vực, như hội nghị thượng đỉnh gần đây nhất, tháng 10/2009.
Sở dĩ Bắc Kinh có thể gây áp lực như vậy là vì các nước Asean, vốn rời rạc trong liên hệ, còn bị chi phối của quan hệ kinh tế với Trung Quốc.
Một số học giả nhắc tới vai trò của Hoa Kỳ và cho rằng Mỹ đang ngày càng quan tâm tới an ninh khu vực.
Luôn khẳng định "không đứng về bên nào", nhưng Mỹ đã nhiều lần bày tỏ quan ngại trước tình hình căng thẳng gia tăng tại Biển Đông và ủng hộ giải pháp thương lượng cho các tranh chấp.
Cuộc hội thảo được tổ chức trong hai ngày 26/11-27/11
Tuy nhiên số đông các nhà nghiên cứu thống nhất rằng quả bóng nằm trong sân của Asean và Trung Quốc. Họ cho rằng các nước liên quan đều nghiêng về giải pháp hòa bình, ngoại giao.
Tiến sỹ Storey nói: "Điều cần nhất là Asean với tư cách của một khối phải thẳng thắn đề cập vấn đề này với Trung Quốc."
Tiến sỹ Yann-Huei Song từ Đai học Quốc gia Chung Hsing, Đài Loan, nói với BBC rằng nhìn chung thì không thể nói là các nước riêng lẻ thuộc Asean không có "ý chí chính trị" để giải quyết vấn đề Biển Đông, nhưng mức độ cam kết thì khá khác nhau.
Ông nói: "Cứ đặt ra thang bậc từ một đến năm, thì có nước được hai-ba, có nước chỉ được một."
Chính vì cam kết lỏng lẻo như vậy, theo Tiến sỹ Song, ngay cả khi một bộ quy tắc COC có đạt được, thì hiệu quả của nó cũng sẽ hạn chế.
"COC chỉ là một quyết định chính trị, chứ không phải là một khung luật pháp. Tuân thủ nó hay không lại là một câu chuyện khác."
Saturday, November 28, 2009
Phân tích vấn đề Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt từ chức
Phân tích vấn đề Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt từ chức.
Trong thời gian gần đây, trên các phương tiện truyền thông, có nhiều bài viết về các vấn đề đất đai của Giáo Hội, Công Lý và Sự Thật. Những bài viết này ít nhiều gây được sự chú ý đặc biệt nơi người Việt Nam nói chung và giáo dân Việt Nam nói riêng vì đã đề cập trực tiếp đến lập trường của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt và của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đối với chính quyền cộng sản. Nhưng vấn đề gây xúc động nhất hiện nay là tin Đức TGM Ngô Quang Kiệt có thể sẽ từ chức. Ngài đã loan báo cho các Linh Mục thuộc giáo phận Hà Nội biết về tiến trình từ chức vì lý do sức khỏe. Tin này gây ra nhiều thắc mắc vì người ta không biết Ngài đã chính thức đệ đơn xin từ chức chưa? Hoặc đó chỉ là lời "xin miệng" với Đức Thánh Cha? Và nếu thế, thì lời “xin miệng”có hợp thủ tục, có được Toà Thánh chấp nhận không? Tất cả đều chưa có câu trả lời.
Chúng tôi đi kiểm chứng và biết rằng một cách chính thức Bộ Ngoại Giao Tòa Thánh Vatican hoàn toàn im lặng về vấn đề này. Tuy nhiên, nguồn tin thân cận từ Vatican mà VietCatholic có được cho biết là "ngay sau khi Đức TGM Ngô Quang Kiệt nói đến ý định từ chức thì Đức ông Parolin đã có nhận định với Đức Tổng là không nên làm thế trong hoàn cảnh hôm nay". Thêm vào đó, tin hành lang ở Vatican cho biết là Đức TGM Ngô Quang Kiệt vẫn được Tòa Thánh hoàn toàn tín nhiệm trong việc cai quản Tổng Giáo Phận Hà Nội.
Với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, không thấy văn bản nào nói về tin Đức TGM Ngô Quang Kiệt từ chức, chỉ có Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn thay thế Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, trả lời điện thư cuả cha Trần Công Nghị, Giám Đốc cơ quan thông tấn ViệtCatholic, về câu hỏi Đức TGM Ngô Quang Kiệt có từ chức hay không. Đức Hồng Y trả lời cha Trần Công Nghị môt số điểm chính như sau:
1. Vào cuối tháng 6, tại Roma, Đức Tổng Kiệt cho biết, thật sự vì lý do sức khoẻ, Ngài đã trình bày cho các Giám mục Việt Nam đang họp ở Roma biết về ý định xin từ chức của Ngài với Đức Thánh Cha. Như vầy lý do là vì bệnh trạng của Ngài.
2. Đức Hồng Y góp ý với Đức TGM Hà nội là Đức Thánh Cha có cho từ chức hay không, sớm hay muộn, là việc của Đức Thánh Cha; còn phần Đức TGM Hà nội, Ngài có trách nhiệm dành thời gian điều trị, tĩnh dưỡng để có thể tiếp tục công việc mục vụ lâu dài.
3. Đức TGM Ngô Quang Kiệt cho Đức Hồng Y biết là Roma cũng đã có đề nghị hướng điều trị, còn thời điểm thì để ngài định liệu."
Cứ theo nội dung mà Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn trả lời trên đây, người ta thấy việc Đức TGM Ngô Quang Kiệt ngỏ ý xin từ chức rõ ràng là do vấn đề cá nhân, vấn đề sức khoẻ, hoàn toàn không phải là do áp lực của chính quyền cộng sản Việt Nam, cũng không phải do áp lực của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.
Nhưng lời giải đáp của Đức Hồng Y dù rất chính xác, nhưng dư luận vẫn không tin là chính đáng, và có được dư luận bên ngoài chấp nhận không? Hay là còn nhiều uẩn khúc trong vấn đề này? Để trả lời các câu hỏi trên, chúng ta hãy xem các bài viết bên ngoài phân tích thế nào về việc Đức TGM Ngô Quang Kiệt xin từ chức.
Dư Luận Nghĩ Gì Về Việc Đức TGM Ngô Quang Kiệt Từ Chức
Viết về đức TGM Hà Nội trong thời gian gần đây các bài viết cũng như các câu chuyện giữa người Công Giáo đều nêu bật ba sự kiện: Thứ nhất, sau khi triều yết Đức Thánh Cha về, Đức TGM Ngô Quang Kiệt đã đi nghỉ hai lần tại tu viện Châu Sơn, Ninh Bình vì lý do sức khoẻ. Thứ hai, Đức TGM đã vắng mặt trong dịp Hội Nghị Thường Niên của các Giám Mục Việt Nam họp tại Xuân Lộc với lý do được viện dẫn là vì sức khỏe yêu kém. Thứ ba, trong dịp lễ tấn phong Linh Mục Nguyễn Năng làm Giám Mục Phát Diệm, giới quan sát thấy vai trò và vị thế của một vị TGM Hà Nội được sắp xếp cách nào đó mà đã có một số người dị nghị và bình luận, và vô tình lại càng làm nhiều người hiểu lầm thêm.
Từ ba sự kiện này, các bài viết và dư luận bên ngoài, căn cứ vào các diễn biến chính trị xã hội và nội tình Giáo Hội Việt Nam, đã đi đến kết luận rằng Đức TGM sẽ từ chức, nhưng không phải vì lý do sức khoẻ mà là do (1) áp lực của chính quyền Việt Nam, (2) do áp lực của HĐGMVN và (3) cuối cùng cũng do Tòa Thánh nữa.
Áp lực từ phía chính quyền Việt Nam:
Vụ Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt đứng lên đòi hỏi công lý và sự thật trong vụ Tòa Khâm Sứ và Thái Hà là một điều hoàn toàn đúng. Các Giám Mục, giáo dân cũng thấy đúng, nhưng không dám mạnh mẽ nói ra. Còn đối với chính quyền cộng sản Việt Nam, việc làm của Đức Tổng bị coi là nguy hiểm vì làm lung lay vị thế độc tôn cai trị của họ, gây nguy hại cho an ninh chính trị vì Ngài đã tố cáo cho thế giới biết chính quyền cộng sản Việt Nam là chính quyền, không tôn trọng công lý, vi phạm nhân quyền. Đối với người dân bình thường, ai đứng lên phản đối chính quyền, chắc chắn họ sẽ bị cộng sản bắt giam, tù tội. Nhưng với người đứng đầu một tổng giáo phận thủ đô Hà Nội như Đức TGM Kiệt, việc bắt giam Ngài vào thời buổi này là việc cộng sản không thể làm được vì sợ dư luận quốc tế. Họ bị bó tay nên ông Nguyễn Thế Thảo, Chủ Tịch Uỷ Ban Nhân Dân thành phố Hà Nội đã lên tiếng đòi HĐGMVN xử lý và đưa Đức TGM Ngô Quang Kiệt đi nơi khác. Như vậy ai cũng thấy căn nguyên ban đầu là Nhà nước cộng sản không ưa gì đức TGM Kiệt và chỉ muốn bứng ngài đi khỏi Hà nội thôi! Nhưng áp lực đó có ảnh hưởng đến lập trường của Tòa Thánh Vatican, đến HĐGMVN, và đến chính Đức TGM Ngô Quang Kiệt, thì chúng ta không được biết, vì không có tài liệu nào chứng minh cho vấn đề này. Tuy nhiên, ta hãy quan sát hiện tượng để tìm ra bản chất.
Đối Với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
Do áp lực từ phía chính quyền, các bài viết hay dư luận bên ngoài nhận định rằng chính quyền Hà Nội không muốn có sự hiện diện của Đức TGM Ngô Quang Kiệt tại bất cứ nơi đâu tại VN nên đã kín đáo liên lạc với các vị GM để các Ngài gây áp lực với Đức TGM. Sự kiện được các bài báo viện dẫn là sự im lặng của HĐGMVN nói chung và đa số các Giám mục khác nói riêng trước lập trường của Đức TGM trong các vụ tòa Khâm Sứ, Thái Hà v.v... Các bài viết đó cũng suy diễn HĐGMVN đã gây áp lực mạnh đối với Đức TGM Hà Nội. Bằng chứng là Đức Tổng đã không có mặt trong Hội Nghị Thường Niên của các Giám Mục họp tại Xuân Lộc, cho dù lý do sự vắng mặt được Ngài giải thích là vì tình trạng sức khoẻ. Bằng chứng thứ hai là vị thế của Đức Tổng trong lễ tấn phong Giám Mục ở nhà thờ chính tòa Phát Diệm vào ngày 8 tháng 9 năm 2009. Như đã nói trên, các lập luận trên chỉ là những suy diễn nhưng khó lòng bác bỏ vì đa số rất dễ tin vào những gì mình đễ thấy và dễ cảm nhận.
Người ta cũng lập luận rằng: trong thâm tâm, vị Linh Mục nào, Giám Mục nào cũng không ưa gì cộng sản. Nhưng qua kinh nghiệm, các Ngài thấy từ khi VN tuyên bố mở cửa vào năm 1986, và từ khi HĐGMVN chuyển hướng chính sách từ đối đầu thời ĐGM Nguyễn Minh Nhật đến chính sách hòa hoãn với chính quyền dưới thời ĐGM Nguyễn Văn Hòa làm Chủ Tịch HĐGM Việt Nam, thì Giáo Hội Việt Nam được dễ thở hơn, sinh hoạt sống đạo khởi sắc hơn, việc truyền chức Giám Mục, Linh Mục cũng dễ dàng hơn. Từ đó, người ta suy diễn và nghi ngờ rằng biết đâu một vài Giám Mục trẻ có chân trong HĐGM chưa dầy dạn kinh nghiệm, nên có thể muốn phương cách tiếp tục đối thoại với chính quyền và chờ đợi và hy vọng một ngày mai tươi sáng. Thêm vào đó, nếu ngoại giao khéo léo với chính quyền, thì có thể sẽ lợi ích hơn cho Giáo hội. Tỏ thái độ với chính quyền lúc này là không đúng lúc, không phải là giải pháp khôn ngoan, phải bảo vệ lực lượng. Vì chính quyền vẫn dùng bạo lực khi cần để trấn áp các người đòi hỏi dân chủ, nhân quyền, công lý. Hơn nữa, lật đổ chính quyền không phải là nhiệm vụ của Giáo Hội mà nhiệm vụ chính là rao giảng tin mừng cho mọi người, kể cả người cộng sản từng bức hại Giáo Hội.
Về Phía Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt:
Tình trạng sức khỏe hiện nay của Ngài không được khả quan là điều có thật bằng chứng là trước đây mấy năm, Ngài đã cho nhiều vị Giám Mục, Linh Mục biết vì tình trạng sức khoẻ nên việc điều hành tổng giáo phận của Ngài gặp rất nhiều trở ngại. Nhiều người lầm tưởng rằng trong những ngày chuẩn bị khai mạc Năm Thánh 2009-2010 tại Sở Kiện, Ngài đã hoạt động rất năng nổ và sinh hoạt rất nhiều và cho rằng: "không thấy có dấu hiệu nào là Ngài bị suy yếu về mặt tinh thần lẫn thể xác".
Tuy nhiên, xét cho công bằng nếu vì vấn đề sức khoẻ mà đức Tổng không điều hành được công việc của Tổng Giáo Phận, thì việc xin từ chức của Ngài là điều rất chính đáng. Nhưng chúng ta phải lưu ý là theo giáo luật, việc bổ nhiệm hay để cho một vị Giám Mục nào từ chức, hoàn toàn thuộc thẩm quyền của Tòa Thánh Vatican. Một vị Giám Mục muốn từ chức vì lý do sức khoẻ hay đến tuổi về hưu, cũng phải đệ đơn lên Tòa Thánh. Sau khi cứu xét và thấy có lý do chính đáng Tòa Thánh sẽ công bố sắc lệnh, lúc đó vị Giám Mục mới được từ chức.
Về trường hợp đức TGM Ngô Quang Kiệt, nếu thực sự một cách nào đó mà phải rời chức vụ Tổng giáo phận Hà Nội thì người hưởng lợi nhiều nhất là chính quyền Việt Nam. Họ không còn phải đối phó với một người có tiếng nói được nhiều người nghe, được thế giới chú ý, lại có tư thế “bất khả xâm phạm”. Họ sẽ lợi dụng lúc Tòa Giám Mục Hà Nội trống ngôi để đặt điều kiện khắt khe với Tòa Thánh Vatican. Bằng chứng cụ thể là chính quyền VN đã từng bắt bí Tòa Thánh trong vụ tòa tổng Giám Mục thành phố Sài Gòn bị trống ngôi khi Đức TGM Nguyễn Văn Bình tạ thế. Ba bốn năm sau, họ mới chấp nhận để đức Giám Mục Phạm Minh Mẫn về nhận chức TGM Sàigòn.
Trong khi đó, một sự thật hiển nhiên không cần kiểm chứng là giáo dân cũng như nhiều ngưòi Việt Nam khác đang rất qúy trọng tư cách và lập trường của Đức TGM Ngô Quang Kiệt, Đức Cha Cao Đình Thuyên của giáo phận Vinh và Đức Cha Nguyễn Văn Tân của giáo phận Vĩnh Long. Các vị này được coi là những người đặt quyền lợi Giáo Hội, Công Lý và Sự thật trên quyền lợi cá nhân. Việc Đức TGM xin từ chức hay bị buộc từ chức lúc này chắc chắn gây thiệt hại nghiêm trọng đến uy tín Hội Đồng Giám Mục VN.
Vai Trò Toà Thánh Vatican:
Khi có tin Đức TGM Ngô Quang Kiệt sẽ từ chức, VietCatholic đã kiểm chứng tin này với một số giới chức có thẩm quyền và thạo tin tại Vatican. Chúng tôi được biết tin đức TGM Ngô Quang Kiệt tự ý ngỏ lời với Đức Thánh cha xin từ chức vì lý do sức khoẻ là có thật. Sau đó một số giới chức Vatican cũng đã có đề nghị hướng điều trị, còn thời điểm thì để Đức Tổng định liệu. Trong khi đó, cũng từ nguồn tin từ Vatican, chúng tôi được biết Tòa Thánh vẫn tuyệt đối tin tưởng Đức TGM Ngô Quang Kiệt và không muốn cho Ngài từ chức. Vì thế, trong thư Đức Hồng Y trả lời LM Trần Công Nghi mới có câu “còn thời điểm thì để tùy Ngài định liệu". Nhưng có việc từ chức hay không, Toà Thánh để tùy đức Tổng quyết định. Bằng chứng nữa là Đức Hồng Y Marie Etchegaray, một giới chức cao cấp của Toà Thánh, là Phó Niên Trưởng Hồng Y Đoàn, sang VN trong dịp Khai Mạc Năm Thánh, cùng đồng tế với Đức TGM Ngô Quang Kiệt tại nhà thờ chính tòa Hà Nội, là một dấu chỉ nói lên một điều gì tích cực mà ta phải suy nghĩ, nhất là khi Ngài nói Ngài không muốn đưa cây gậy Giám Mục, một biểu tượng quyền bính, của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt về Roma.
Tuy nhiên, tin Ngài từ chức vẫn được loan truyền trong giới Công Giáo, kể cả trong hàng giáo sĩ cao cấp tại Việt Nam. Do vậy chúng tôi muốn xem xét vấn đề này như thế nào.
Người ta vẫn còn nhớ vào lúc giáo dân Hà Nội đang đứng lên đòi công lý tại Tòa Khâm Sứ thì một văn thư của Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh khuyến cáo đức TGM phải chấm dứt cuộc tranh đấu. Từ đó, mọi người Việt Nam đều nghĩ rằng Tòa Thánh muốn áp dụng chính sách hòa hoãn, không muốn đối đầu với nhà nước cộng sản Việt Nam. Nhưng thực ra, nếu nhìn lại chúng ta thấy lúc đó Tòa Thánh và Đức TGM Hà Nội làm một việc rất nhân đạo và kịp thời: vì thời thiết giá lạnh mùa đông bất thường nên những giáo dân đến cầu nguyện ngày đêm ở trước Tòa Khâm Sứ có thể bị thế giới hiểu lầm cho rằng đó là một hành động thiếu nhân bản, nhất là đối với giáo dân nghèo khó như vậy, không có chăn mền, cơm no áo ấm...
Mọi người thừa biết rằng với kinh nghiệm ngoại giao tích lũy trên 2000 năm, Tòa Thánh không bao giờ hy sinh quyền bính của mình để đánh đối lấy việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Trường hợp Trung Quốc là một ví dụ cụ thể. Tòa thánh đã không chịu nhượng bộ mọi chuyện để đổi lấy việc thiết lập ngoại giao với Bắc Kinh. Trường hợp Việt Nam cũng vậy, Vatican đâu có được hưởng thêm quyền lợi gì. Việc bổ nhiệm Giám Mục tại VN cũng như tại Trung Quốc vẫn phải có sự đồng ý của chính quyền.
Kết Luận:
Tóm lại nếu tin Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt từ chức được chính thức công bố thì hậu quả ai cũng thấy nạn nhân chính là khối người Việt, bất kể lương giáo, ở hải ngoại hay trong nước, không chấp nhận chế độ Cộng Sản. Đối tượng thứ hai bị thiệt hại danh dự một cách nghiêm trọng là Tòa Thánh Vatican và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Đã có nhiều bình luận cho rằng nếu Đức TGM Kiệt bị từ chức thì HĐGMVN và Tòa Thánh Vatican đã phải khuất phục trước chính quyền cộng sản Việt Nam. Người được hưởng lợi nhiều nhất là chính quyền cộng sản Việt Nam. Mọi người hy vọng Hội Đồng Giám Mục Việt Nam sẽ có một khuyến cáo cụ thể nào đó về trường hợp Đức TGM Ngô Quang Kiệt để Tòa Thánh đưa ra được quyết định có lợi nhất cho Giáo Hội Việt Nam trong giai đoạn này.
Đồng bào Việt Nam đang trông đợi vào những quyết định thật sáng suốt nơi HĐGMVN, Tòa Thánh Vatican, và cá nhân Đức TGM. Xin các đấng và đặc biệt Đức TGM Ngô Quang Kiệt nên cân nhắc rất kỹ lưỡng vấn đề từ chức, vì sự kiện từ chức lúc này chỉ gây ra những hậu quả vô cùng tai hại cho Giáo Hội Việt Nam. Lịch sử Giáo Hội Việt Nam chắc chắn sẽ ghi lại biến cố lịch sử này và các sử gia sẽ lượng giá tích cực hay nghiêm khắc lên án là tuỳ theo quyết định của Đức TGM Ngô Quang Kiệt, của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và của Tòa Thánh Vatican.
Qua câu trả lời “còn thời điểm thì để tùy Ngài định liệu”, như vậy xét cho cùng, tất cả vấn đề đều nằm trong quyết định của Đức TGM. Nếu vì điều kiện sức khoẻ, vì gặp khó khăn với chính quyền, không làm việc được trong lúc này, chúng tôi cũng xin Đức Tổng cứ giữ tình trạng hiện giờ. Mọi việc đã có Đức Giám Mục phụ tá Giáo Phận Hà Nội đảm trách. Rồi sau 3 hay 5 năm, Đức TGM có muốn từ chức vì bất cứ lý do gì thì dư luận sẽ xét đoán vấn đề duới một góc cạnh hoàn toàn khác.
Thành khẩn cầu xin cho các đấng bản quyền được ơn soi sáng trong vấn đề này.
Nguyễn Long Thao
Thursday, November 26, 2009
LỄ TẠ ƠN THANKSGIVING
Trích NguoiViet Boston
Nguyễn Quý Đại
Hơn bốn trăm năm trước vùng Bắc Mỹ là nơi mà những người cùng khổ khắp năm Châu đến tìm vàng, hy vọng thoát khỏi những khó khăn về kinh tế hay chạy trốn vì lý do tôn giáo. Miền đất hứa của những người lao động nhọc nhằn, đầy dẫy những hiểm nguy, bất công, bóc lột, kỳ thị… Họ phải chiến đấu để bảo vệ sự sống còn và vượt qua nhiều khó khăn để thành lập Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, một quốc gia độc lập, dân chủ và giàu mạnh nhất thế giới. Hàng năm Canada và Hoa Kỳ có lễ tạ ơn Thanksgiving để nhớ lại nguồn gốc tổ tiên.
Tạ ơn là truyền thống của mỗi dân tộc, từ thời xa xưa người ta tin các vị thần linh đã làm cho mùa màng được tươi tốt, gia súc sinh sản nhiều đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Dân tộc Việt Nam ở vùng nông thôn cũng thường tổ chức ngày hội tế lễ Kỳ Yên, cúng Thần Hoàng, đầu vụ mùa gặt có cúng cơm lúa mới… “lạy trời mưa xuống lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày“.
Các đời Vua có tục tế lễ Nam Giao để tạ ơn trời đất, nhờ mưa thuận gió hòa đem lại no cơm, ấm áo cho toàn dân. Thanksgiving là ngày tạ ơn Trời vừa tạ ơn Đời, ơn Người. Tục ngữ, ca dao VN nói lên lòng biết ơn người:
- Ơn ai một chút chớ quên
- Một miếng khi đói bằng một gói khi no
- Uống nước, nhớ nguồn
- Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,
- Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng…
Năm 1879 Quốc Hội Canada chọn ngày 06 tháng 11 làm Thanksgiving. Tới 1957 Canada căn cứ vào lịch sử ấn định ngày Thứ Hai thứ nhì của tháng 10 là ngày lễ Thanksgiving. Người Mỹ nghỉ lễ vào thứ Năm cuối của tháng 11 để họp mặt đại gia đình, quây quần trong bữa tiệc Lễ Tạ Ơn .
Nguồn gốc lễ Tạ ơn gắn liền với các lễ hội ngày mùa được tổ chức ở Âu Châu từ hai ngàn năm trước. Theo tài liệu thì những người Âu Châu di cư đầu tiên tại Bắc Mỹ được tổ chức ở Newfoundland và nhóm Thám hiểm Frobisher năm 1578. Một lễ hội khác được tổ chức vào ngày 4.12.1619 khi 38 người khai hoang từ giáo khu Berkeley xuống thuyền tại Virginia và làm lễ tạ ơn. Trước đó, cũng có một buổi tiệc Tạ ơn tổ chức bởi Francisco Vásquez de Coronado cùng với nhóm người da đỏ Teya, ngày 23.5.1541 tại Texas ăn mừng việc họ tìm ra lương thực. Một sự kiện tương tự xảy ra một phần tư thế kỷ sau vào ngày 8.9.1565 tại St. Augustine, Florida khi Pedro Menéndez de Avilés gặp đất liền, ông và những người trên thuyền đã tổ chức một bữa tiệc Tạ ơn có gà Tây nướng trộn đậu que, bí đỏ với người bản xứ.
Ngày 16 Tháng 9 năm 1620 tàu buồm Mayflower khởi hành từ Plymouth với 101 người Anh di cư do thuyền trưởng Christopher Jones (1570-1622) cùng với thuỷ thủ đoàn 34 người đàn ông, 31 trẻ em. Trong đoàn có 35 người đã bị vua Jacques đệ nhất đuổi ra khỏi xứ. Họ đặt tên là nhóm Cha hành hương Pilgrim (Pilgrim Fathers hay Pères Pèlerins) theo đạo Tin Lành cải cách ly khai / Puritan separatists đã rời Anh quốc sống ở Leyden Hòa Lan, thuê tàu để vượt Đại Tây Đương tìm vùng đất hứa. Thời gian đó có bão mùa thu, tàu buồm có đầy đủ ánh sáng, phòng chứa hàng hóa dài 9,15 m. Nơi trú ẩn dành cho hành khách vào ban đêm và lúc biển động thời tiết xấu, trần rất thấp, người lớn không thể đứng. Thời tiết tốt hành khách ở trên boong tàu và nấu ăn với chảo than nhỏ được để trong hộp cát. Cuộc hành trình lênh đênh 65 ngày dài trên biển qua 2750 hải lý, Mayflower đã trải qua nhiều cơn bão nặng, thành tàu bị vỡ nước tràn vô tàu khiến mọi người sợ hãi, hành khách phải ở dưới hầm tàu ói mửa, say sóng… Một hành khách và một thủy thủ chết vì bệnh, bà Elizabeth Hopkins sinh con trai đặt tên là Oceanus.
(Theo tài liệu hãng tàu ‘Mayflower’ năm 1588 đã tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại Armada Tây Ban Nha. Các loại tàu có kích thước tương tự và hình dạng của một Galleon. Một Dreimastschiff với một đài cao, khoảng 180 tấn, chiều dài 28m, chiều rộng 8m (90 ‘x 24′), sâu 3,5 đến 4m, vũ khí trang bị 10 khẩu súng, hải hành đoàn 40 người tàu có hai buồm vuông trên cột buồm mui và cột chính. Các ‘Mayflower’ thương mãi sử dụng trong việc vận chuyển rượu vang từ vùng Địa Trung Hải đến Anh, vải và lông thú đi đến nước Pháp. Năm 1620 một chiếc tàu “Mayflower chở một nhóm ly khai tôn giáo Anh. Năm 1607-1608 đã bỏ chạy sang sống lưu vong tại Hòa Lan. Những người nầy được gọi là Pilgrims fathers không trở về Anh, họ muốn di cư đến một vùng đất mới).
Lúc đầu họ muốn đến Jamestown, Virgina nơi đã có người di dân từ trước, nhưng tàu Mayflower bị bão giạt lên phía Bắc và đến Cape Cod Bay ngày 21.11.1620 là một bờ biển chưa ai đặt chân tới (sau này là Massachusetts). Họ xuống tàu qùy gối tạ ơn Thiên Chúa, nhưng trên vùng đất cằn cỗi này bắt đầu giá lạnh và tuyết rơi. Dưới sự lãnh đạo của Capt. Miles Standish họ phải tiếp tục thực hiện những cuộc thám sát để tìm đến vùng đất mà trên đó họ có thể trồng trọt, sinh sống. Ngày 15 Tháng 12 ‘Mayflower’ đến Plymouth Rock.
Trong suốt mùa đông hành khách vẫn ở trên Mayflower. bị bệnh viêm phổi, bệnh lao, rất nhiều người chết vì bệnh truyền nhiễm, chỉ 53 người còn sống. Trước hoàn cảnh khốn cùng, như một phép lạ họ gặp thổ dân da Đỏ láng giềng (Narranganset và Wampanoag) đã cho họ bí rợ, thịt gà, giúp họ sống qua mùa đông, họ tự xây dựng những ngôi lều vào mùa xuân. May mắn thay, họ đã gặp thổ dân Squanto/Tisquanto một người tốt bụng nói tiếng Anh, hết lòng giúp đỡ họ làm thế nào để săn thú rừng, bắt cá ở sông và chỉ cách trồng ngô, gieo hạt giống do chính ông mang lại. Trong mùa thu, những người di dân thu hoạch được thực phẩm. Nhóm dân di cư Pilgrim mở tiệc ăn mừng, tạ ơn Thượng Đế “uống nước nhớ nguồn” với người bản xứ (thổ dân da Đỏ) đã giúp họ những ngày đầu khó khăn trên đất Mỹ. Từ đó trở đi Thanksgiving thành một tập quán của Hoa Kỳ. Thanksgiving mang ý nghĩa đặc biệt là một truyền thống từ những nhà lập quốc cho đến các người định cư lập nghiệp trên đất nước này. Thanksgiving vừa bày tỏ tinh thần tín ngưỡng, cảm tạ Thượng Đế, vừa thể hiện tinh thần hợp tác giữa các dân tộc chung sống hòa bình.
Tổng thống George Washington (1732-†1799) chọn ngày 26.11.1789. Thời Nam Bắc phân tranh các tiểu bang miền Bắc chọn ngày lễ Thanksgiving riêng. Năm 1830 bà Sarah Josepha Buell Hale (1788-†1879) là nhà văn tác giả của cuốn “Mary Had a Little Lamb.” Bà viết trên Boston Ladies’ Magazine và Godey’s Lady’s Book và đi vận động khắp các tiểu bang để có chung một ngày lễ trọng đại nầy. Mãi cho đến năm 1863 Tổng thống Abraham Lincoln (1809-†1865) thống nhất chọn ngày thứ Năm cuối của tháng 11 làm lễ thanksgiving để nhắc đến công ơn của các di dân đầu tiên đã dựng nên nước Mỹ. Đến đời T.T. Frank Delano Roosevelt năm 1940 đã biểu quyết ngày thứ Năm tuần lễ thứ 4 của tháng 11 chung cho Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ cho đến ngày nay. Mọi người được nghỉ bốn ngày cuối tuần vào ngày thứ Năm và thứ Sáu của tuần đó.
Thanksgiving thể hiện truyền thống sinh hoạt của Pilgrims các cư dân đầu tiên trên đất Mỹ, người lớn, trẻ con mặc y phục kiểu Pilgrim trong lễ hội hay diễn hành. Ngoài ra còn có các hình thức khác xuất xứ từ những cổ tục lâu đời hơn của các dân tộc về lễ hội ngày mùa như cornucopia, chiếc mỏ hình cái sừng cong tràn đầy trái cây, rau quả, một biểu trưng đặc biệt về Thanksgiving. Những hình ảnh đẹp trang trí trong dịp lễ cũng là trái củ, hoa lá, bông lúa mì..
Tiệc tùng thường có gà Tây quay vàng, bí rợ (thức ăn chính mà người da Đỏ đã mang tới cho di dân) với những thứ rau như đậu que, khoai lang, bắp, nấu nướng theo lối cổ truyền, rau xà lách và bánh nhân bí ngô hoặc nhân hạt pecan và mứt dâu cranberry loại bánh cổ truyền đặc thù của Mỹ là bánh nhân bí đỏ và bánh nhân hạt pecan.
Người di cư Pilgrim khởi đầu của những cuộc hải hành nối tiếp đến vùng đất mới bao la, trù phú với nhiều hứa hẹn cho một tương lai rực rỡ … Năm 1630 có thêm 17 tàu chở người di dân đến với ‘Thế giới mới/ Neuen Welt’. Trong 250 năm sau các thuyền buồm tiếp tục vượt Đại Tây Dương, đó là những cuộc di dân lớn nhất trong lịch sử thế giới. Đến cuối Thế kỷ 19 có khoảng 11.000.000 người đã đến đất Mỹ. Nay dân số của Hiệp Chủ Quốc Hoa Kỳ hơn 300 triệu người.
Sau biến cố ngày 30.4.1975 người VN phải từ bỏ quê hương giống như những người di dân đầu tiên đến nước Mỹ. Trong những thập niên qua hơn 1.267.510 người Việt cùng đón mừng Thanksgiving trọng đại nầy, tạ ơn Thượng Đế đã ban cho đời sống hội nhập tốt đẹp sung trúc trên đất nước tự do dân chủ, phú cường ….
Tài liệu
The Mayflower and the Passengers (Caleb H. Johnson)
The History of thanksgiving & hình trên Internet
Tuesday, November 24, 2009
Tự do tôn giáo tại Việt Nam và phúc trình của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ
2009-11-24
Bộ ngoại giao Hoa Kỳ vừa công bố báo cáo thường niên về tình hình tôn giáo trên thế giới, theo đó Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ. Tuy nhiên nhiều tổ chức bênh vực nhân quyền cho rằng bản báo cáo đã không phản ảnh đúng tình hình tại VN.
RFA PHOTO
Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tổ chức họp báo tại Washington hôm thứ Hai 26-10-2009, công bố phúc trình về tình hình tự do tôn giáo trên thế giới.
Theo một số tổ chức quốc tế về quyền con người thì báo cáo này vẫn chưa nêu đầy đủ những hành động đàn áp tôn giáo tại Việt Nam hiện nay, đặc biệt là đối với người Thượng ở Tây nguyên.
Từ phúc trình của Bộ ngoại giao Mỹ
Việt Hà phỏng vấn ông Scott Johnson, một nhà họat động về quyền con người và là người tư vấn cho tổ chức Người Thượng. Trước hết, ông Scott Johnson nhận xét về bản báo cáo như sau:
Scott Johnson: Bản báo cáo này được viết theo một cách hết sức tế nhị kiểu ngoại giao mà nó gần như không nêu được đúng sự thật. Sau rất nhiều năm thì quyền con người ở Việt Nam vẫn không được tôn trọng.
Sau nhiều năm các nhóm tôn giáo vẫn bị đàn áp như công giáo, các nhóm công giáo tại gia, rồi Khmer Krom, Phật giáo. Vậy mà Bộ ngoại giao lại đưa ra một báo cáo như vậy thì tôi thấy là nó chỉ là một dạng ngoại giao giả dối, được ngụy trang.
Chúng tôi giờ đây đã có những bằng chứng trực tiếp về việc những người theo đạo Tin lành ở các giáo hội độc lập bị đàn áp ra sao, đánh đập, tra tấn ra sao và thậm chí bị bỏ tù. Nhưng những trường hợp đó đã không được nói đến trong bản báo cáo.
"
Bản báo cáo này được viết theo một cách hết sức tế nhị kiểu ngoại giao mà nó gần như không nêu được đúng sự thật. Sau rất nhiều năm thì quyền con người ở Việt Nam vẫn không được tôn trọng.
Ô. Scott Johnson
Và đó là lý do mà tôi nói rằng bản báo cáo này thực sự chỉ là một bản tuyên bố của sự phản bội. Thật đáng tiếc là Bộ ngoại giao đã để cho vấn đề ngoại giao xóa đi hiện trạng về quyền con người ở đây.
Việt Hà: Thưa ông, theo ông thì lý do gì khiến Bộ ngoại giao lại đưa ra một bản báo cáo như vậy, có phải vì do những yếu tố kinh tế và thương mại Việt Nam Hoa kỳ đang rất tốt đẹp, và cũng vì Hoa Kỳ cần Việt Nam để tạo thế cân bằng trong khu vực?
Scott Johnson: Đúng thế. Lý do là bởi vì vấn đề quyền con người luôn phải ngồi ghế sau. Mối quan tâm lớn nhất vẫn là địa lý chính trị, là Hoa kỳ muốn có quan hệ thương mại với Việt nam, và tất nhiên, muốn Việt nam là một vùng đệm với Trung Quốc.
Hàng trăm giáo dân thuộc nhiều giáo phận ở miền Bắc Trung Phần xuống đường biểu tình hôm 27-7-2009, phản đối việc công an bắt giữ và đánh đập các giáo dân và giáo sĩ Tam Tòa.
Điều này hoàn toàn dễ hiểu, bởi vì khi một nước muốn có một mối quan hệ với nước khác, thì họ phải có những mối lợi riêng cho họ. Nhưng khi bước ra ngoài đường vạch đó, thì chúng ta phải nhớ là người Thượng chính là những đồng minh của Hoa Kỳ trong suốt chiến tranh Việt Nam.
Và làm như vậy thì như là việc lờ họ đi vì mối lợi của mình. Hoa kỳ vẫn có thể có quan hệ với Việt nam nhưng họ không thể gạt người Thượng hoàn toàn ra bên ngoài, thậm chí không có lấy một từ trong đó về họ.
Tôi nói ví dụ, có một trường hợp mà tôi nghiên cứu, tên là Puih Hbat. Bà ta là một người theo đạo Tin lành. Sau khi bà ta thực hiện lễ tại nhà vào năm 2008, thì vào giữa đêm bà bị bắt và bỏ tù. Và sau đó chúng tôi không còn nghe tin tức gì về bà. Trường hợp này đã được Ủy ban Châu Âu khẳng định là có và họ nói là họ lấy thông tin từ Đại sứ quán Mỹ.
Chắp nối các thông tin này lại với nhau thì chúng tôi biết được là việc đàn áp các giáo hội tại gia vẫn đang tiếp tục trong nhiều năm. Chính phủ Việt Nam hầu như không thay đổi sách lược.
Nhiều năm trước khi Việt nam và Hoa Kỳ ký thỏa thuận ngoại giao thì Hoa Kỳ có quan ngại vấn đề đàn áp tôn giáo ở Việt Nam. Việt Nam đáp ứng bằng cách nói là họ sẽ chấm dứt việc ép buộc người dân cải giáo, họ hứa một số điều nhưng họ không bao giờ từ bỏ việc điều khiển. Ở khắp các nơi họ có các công an tôn giáo được đào tạo. Chính phủ thực hiện việc đàn áp trên Tây nguyên.
Ở đó thậm chí việc dùng điện thoại di động cũng bị kiểm soát. Và họ vẫn bắt những người Tin lành nào không theo các giáo hội được nhà nước công nhận. Chính phủ coi đó là những tội phạm ghê gớm mà họ phải bắt giữ những người đó, tra tấn họ và giết họ.
Đến thực tế tại VN
Việt Hà: Vậy ông có con số thống kê hiện có bao nhiêu người Thượng đang bị chính phủ bắt giữ, bỏ tù, mất tích và bị giết không?
"
Chính phủ Việt Nam có thể làm một vài điều tốt gì đó một đôi lúc, và họ có thể làm một vài sự ồn ào ngoại giao về việc họ cải thiện cuộc sống của người thiểu số. Nhưng họ quay lại tấn công các giáo hội tại gia, họ tấn công Phật giáo, các nhà bất đồng chính kiến.
Ô. Scott Johnson
Scott Johnson: Vài năm trước thì Tổ chức theo dõi nhân quyền thế giới đã có một bản báo cáo là khoảng 350 người Thượng bị bỏ tù. Bây giờ vào năm 2009, chúng ta có thể tìm thấy các báo cáo này của Tổ chức nhân quyền thế giới hay Ủy ban quốc tế về tự do tôn giáo của Hoa Kỳ.
Những báo cáo này đều khẳng định là có hàng trăm người Thượng đang bị bỏ tù. Chỉ vài tháng trước thì chính phủ Việt Nam bỏ tù một số người lên đến 10 năm. Họ bị kết án vì những hoạt động không bạo lực. Đây là những hoạt động mà ở các nước có tự do thì không bao giờ bị xử phạt. Chúng tôi biết là có hàng trăm người.
Thế nhưng do thực tế ở Việt Nam chính phủ vẫn thực hiện chính sách che dấu thông tin toàn bộ. Họ không thông báo đầy đủ và họ có những buổi xử án bí mật một ngày đối với rất nhiều người bất đồng chính kiến. Vì thế rất khó để lấy được các thông tin từ Tây nguyên.
Vì thế chúng tôi không có con số cụ thể nhưng chúng tôi biết là có hàng trăm người. Và điều đáng buồn là chúng ta không thể biết được đầy đủ điều gì đang xảy ra ở đó. Và thực trạng quyền con người ở đó đang rất khủng khiếp.
Việt Hà: Chính phủ Việt nam thì vẫn nói là họ đã có những cải thiện nhất định về quyền con người, về đời sống cho người dân ở Tây nguyên. Ông có nhận xét gì về điều này?
Scott Johnson: Tôi có thể tóm lại tình hình ở Việt Nam theo lối nói so sánh thế này. Chính phủ Việt Nam đưa cho các bạn một nắm tay đầy gạo, và tay kia họ cầm dao đâm bạn. Như thế là họ làm một điều gì đó tốt và bước tiếp theo là họ đâm bạn.
Trong bản báo cáo này, bản báo cáo được gọi là báo cáo về tự do tôn giáo, chỉ thừa nhận cái nắm tay đầy gạo mà chính phủ Việt Nam đưa ra cho người dân mà lờ đi hoàn toàn việc họ quay lại đâm các bạn.
Chính phủ Việt Nam có thể làm một vài điều tốt gì đó một đôi lúc, và họ có thể làm một vài sự ồn ào ngoại giao về việc họ cải thiện cuộc sống của người thiểu số. Nhưng họ quay lại tấn công các giáo hội tại gia, họ tấn công Phật giáo, các nhà bất đồng chính kiến.
Việt Hà: Thưa ông, cộng đồng quốc tế, cũng như Hoa Kỳ từ lâu đã lên án Việt Nam về những vi phạm về quyền con người. Thậm chí Hoa Kỳ còn đặt Việt nam vào danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt, thế nhưng dường như tất cả những cái đó không mang lại một kết quả đáng kể nào cả. Vậy theo ông cộng đồng quốc tế còn cần phải là gì để có thể mang lại thay đổi thực chất ở Việt nam?
Scott Johnson: Đây là vấn đề phức tạp. Chúng tôi biết là chúng tôi kêu gọi sự thay đổi ở Việt Nam. Chúng tôi kêu gọi sự tôn trọng những quyền căn bản của con người được quốc tế thừa nhận. Nhưng Việt nam lại từ chối. Họ kiếm cách đi đường vòng.
"
Tất cả những gì mà tôi có thể nói là Việt nam đã tiến những bước rất nhỏ và họ không có lòng tin. Những người bị đàn áp là những phật tử, những người công giáo, thiểu số ít người.
Ô. Scott Johnson
Ví dụ họ nói là họ sẽ bỏ việc cưỡng bức cải giáo, từ bỏ giáo hội của người Tin lành, mà họ đã để vào trong chính sách của họ vài năm trước. Bây giờ họ bảo họ sẽ bỏ điều đó ra nhưng họ vẫn điều khiển. Nếu người dân không tham gia vào các giáo hội được đăng ký hoặc không nghe lời họ, thì người dân sẽ bị đánh đập, giết hại.
Tất cả những gì mà tôi có thể nói là Việt nam đã tiến những bước rất nhỏ và họ không có lòng tin. Những người bị đàn áp là những phật tử, những người công giáo, thiểu số ít người. Họ là những người dân bình thường nhưng họ bị kìm kẹp trong một chế độ độc tài không chịu từ bỏ quyền lực. Làm thế nào để bạn có thể thay đổi được chế độ đó, đó là một câu hỏi khó.
Chúng ta đã có nhiều năm có quan hệ ngoại giao với Việt nam, và chúng ta vẫn chưa nhìn thấy một kết quả lớn cụ thể nào cả. Vẫn có sự đàn áp đối với người thiểu số. Họ vẫn bị đàn áp dã man tại Tây nguyên. Vậy có câu trả lời nào không cho câu hỏi này?
Tôi chỉ có ở đây một bản báo cáo mang tính ngoại giao nói rằng Việt nam tuyệt vời và làm những điều tuyệt vời. Và điều này chắc chắn là không giúp ích được gì, nó chỉ làm cho chế độ hà khắc thêm vững mạnh để tiếp tục làm điều mà họ vẫn làm. Vì vậy cần phải có thêm áp lực lên chính phủ Việt nam, bắt họ phải tôn trọng quyền con người.
Việt Hà: Xin cảm ơn ông đã dành cho đài chúng tôi buổi phỏng vấn này.
Monday, November 23, 2009
Sunday, November 22, 2009
S á m h ố i
Trích DCV Online
Minh Võ
Lời ngỏ: Những lời kêu gọi hoà giải dân tộc thường bị hiểu lầm và đả kích. Cho nêntrước khi nhập đề, chúng tôi xin xác nhận đây chỉ là ý kiến về sự sám hối là điều kiện tiên quyết và là bước đầu để đi đến hoà giải thực sự. Không có sám hối từ cả hai phía thì sẽ không thể có hoà giải.
Sám hối, ôi hai chữ dể thương làm sao! Nhưng cũng dễ sợ thế nào ấy. Dễ thương vì khi nghe cô em gái nhận lỗi mà xin tôi tha thứ thì tôi chỉ muốn ôm chằm lấy mà tha mấy lần cũng được. Nhưng dễ sợ vì khi mẹ tôi bảo tôi nhận lỗi và ăn năn vì đã xích mích với em hay đánh trả em gái, thì y như rằng tôi phụng phịu. Lỗi nó chứ lỗi gì ở con?
Hai chữ sám hối mà tôi muốn nhắc đến ở đây tôi nghe đã 10 năm rồi. Tôi đâm ra có cảm tình ngay với người nói hai tiếng đó, mặc dầu hãy còn nhiều điều tôi chưa đồng ý với ông ta. Có người còn bảo ông ta chỉ là cò mồi, hay đặc công của Cộng Sản. Kể ra cũng oan. Cũng có người coi ông ấy là người của tướng nổi tiếng sát quân Võ Nguyên Giáp được phái ra nước ngoài dọn đường cho ông tướng này lên nắm quyền, v.v... Hư thực ra sao không cần biết. Nhưng dícch thực ông ta đã hoàn toàn thất vọng về ông tướng này rồi.
Sở dĩ tôi cứ rồi rắng mãi đến nay mới dám nhắc lại hay chữ gây cảm tình này, là vì tôi sợ, rằng tôi cũng phải sám hối, chứ chẳng chạy đâu khỏi. Xin thưa toạc ra rằng thì là...
Năm ấy, cách nay đúng một thập niên, trong khi nghiền ngẫm gần một trăm cuốn sách lớn nhỏ và hàng ngàn trang tài liệu đang gây tranh cãi, để biên soạn cuốn Phản Tỉnh Phản Kháng... (1) tôi đã chú ý đặc biệt tới thái độ sám hối của một nhân vật. Tôi đã đếm trong 4 tác phẩm (2) của ông ta được đúng 3 lần hai chữ sám hối. Nhiều lần ông ta đã viết, hay nói: “Tôi nhìn nhận là tôi đã đóng góp vào những phần tội lỗi của đảng Cộng Sản khi tôi có chức có quyền.” Thì ra đấy là lý do sám hối.
Năm nay, tôi nhớ lại thái độ của một người từng “ở bên kia”, và đâm hổ thẹn và cũng cố lấy can đảm để nói lên hai chữ sám hối, dầu đã quá muộn. Tôi chẳng nhân danh ai, nhân danh cái gì, mà chỉ vì một chút lòng tự trọng còn rơi rớt lại trong một con người, từ trước chỉ nghĩ mình có công chứ không bao giờ có tội để phải sám hối.
Tôi có tội đối với việc để mất Đệ Nhất Cộng Hoà, rồi Đệ Nhị Cộng Hoà. Tuy lúc ấy chức vụ quyền hạn của tôi rất nhỏ hẹp, chỉ là những phó và phụ tá. Nhưng nếu tôi cố gắng hơn, yêu nước hơn, hiểu rõ CS hơn, chắc tôi đã góp được phần nhỏ vào việc giữ được nền Đệ Nhất Cộng Hoà, hay ít ra cũng không để mất nước vào ngày 30 tháng tư. Tôi rất ân hận.
Và tôi biết ở cả hai phía, đều có những người như tôi, hoặc ngay cả những thanh niên sinh ra sau chiến tranh chẳng dính líu gì đến các tội ác chiến tranh, hay ngay cả những dân lành vô tội, suốt đời chỉ chịu sự chỉ huy điều khiển của kẻ khác. Nhũng người đó, trong lúc vận nước không may, nguy biến xảy ra, họ cũng ân hận mình đã chẳng làm được gì hơn để cứu nước. Họ ăn năn hối tiếc vì nghĩ tới lời người xưa, Quốc Gia Hưng
Vong Thất Phu Hữu Trách.
Như vậy thì những bậc lãnh đạo quốc gia trong những giai đoạn nước nhà có biến, những bâc lãnh tụ các đảng phái, cộng đồng, có thể nào không ăn năn hối lỗi vì những hành vi sơ sót của mình hay không?
Chuyện xét xử công minh thuộc về trách nhiệm của lịch sử, hoặc theo ý tôi, tuỳ vào sự khoan hồng độ lượng của Tổ Tiên, Trời Phật, hay Thượng Đế. Ở đây chúng tôi không dám lạm bàn.
Đã không giữ được nước là một cái tội. Nhưng mất nước đã gần 35 năm rồi, vẫn chưa làm được gì cứu nước. Tội còn nặng hơn. Trong khi đó mình lại cứ ôm dĩ vãng mà sống. Chỉ biết tự hào là phe mình có chính nghĩa, phe mình đã tạo nên hàng trăm hàng nghìn chiến công oanh liệt.
Ngoài điều đó ra tôi còn phải ân hận, và tự trách mình vì đã chẳng đóng góp được gì vào những kỳ công của cộng đồng người Việt hải ngoại nhằm tố cáo tội ác Cộng Sản, hay can thiệp với Liên Hiệp Quốc, với các cường quốc trên thế giới, hay với các tổ chức Ân Xá Quốc Tế, Văn Bút Quốc Tế, hội phóng viên không biên giới, v.v... Tôi đã chẳng mấy khi có mặt trong các cuộc biểu tình chống triển lãm tranh ảnh HCM, chống các cuộc xuất hiện của các lãnh tụ Việt Cộng, chống các cuộc trình diễn văn nghệ do CS tổ chức để quảng cáo cho chế độ phi nhân ở trong nứoc. Tôi đã không có công gì trong việc dựng được cờ vàng trên cả trăm thành phố và nhiều tiểu bang ở Mỹ và các nơi khác.
Tôi cũng chẳng làm được gì tiếp tay cho những cá nhận hay đoàn thể can thiệp với các nhà lập pháp nơi quê hương thứ hai để họ làm áp lực với nhà cầm quyề CS trong nước bớt bắt bớ giam cầm những người đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền trong nước.
Đã thế, nhiều lúc tôi còn tự coi mình mới là kẻ thắng, còn việt Cộng mới là kẻ bại. Chỉ vì những lời khen xã giao hay lời an ủi của một số người. Cho nên tôi cứ tự hào, tự mãn về những tự do no ấm và tiện nghi vật chất mà mình được hửong nhờ sự hảo tâm và bố thí của các nước bạn giầu lòng từ thiện. Rồi đem so sánh với những đảng viên CS xấu số không nằm trong bộ chính trị hay Trung Ương Đảng.
Nhưng than ôi, tôi đã quên bẵng đi rằng vì mình không giữ được nước, để nhân dân rơi vào vòng oan khiên cho nên ngày nay những thảm cảnh xảy ra khắp nước chính là trách nhiệm của tôi. Hàng trăm, hàng ngàn nạn nhân như Nguyễn Văn Lý, Lê Thị Công Nhân,... Hàng ngàn hàng vạn những dân oan vì mất đất mất nhà. Hàng vạn dân nghèo bệnh không có thuốc. Hàng triệu trẻ em 6, 7 tuổi không được đến trường phải đi bới rác kiếm ăn. Và kinh khủng nhất là hàng trăm, hàng ngàn bé gái 8, 9 tuổi phải bán thân nuôi miệng ở xứ Chùa Tháp.
Những thảm cảnh trên không do tôi gây ra trực tiếp. Nhưng vì chúng tôi thất trận nên đã gián tiếp gây ra. Ăn năn hối lỗi đến bao giờ mới đủ? Ai có chút lòng trắc ẩn hay một tâm hồn của con người bình thường có thể còn nói rằng mình không thua, chỉ bị bỏ rơi cho nên chẳng có trách nhiệm gì về những tội ác và thảm cảnh đang diễn ra trong đất mẹ không?
Vì vậy càng nghĩ tôi càng thẹn và càng thấy mình sám hối bao nhiêu cũng chưa đủ.
Suy bụng ta ra bụng người. Tôi dám chắc nhiều người trong quý vị đang đọc hàng chữ này, cũng có lúc suy nghĩ và hối hận như tôi. Vậy thì xin phép quý vị, chúng ta thử cùng nhau kiểm điểm lại tình tinh trong nước.
Chúng tôi xin trình bày một số sự kiện lịch sử của nước nhà bắt đầu từ những thập niên 20, 30 thế kỷ trước chứng tỏ cả hai phía Cộng sản và Quốc Gia chúng ta đều cần phải can đảm nhận lấy trách nhiệm và hối lỗi.
Vào lúc ấy kẻ viết những hàng chữ này, hoặc là chưa sinh ra, hoặc còn là hài nhi, thiếu nhi. Cho nên xin thưa trước là chúng tôi không dám hỗn láo phê bình chỉ trích các bậc tiền bối như các cụ Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, Huỳnh Thúc Kháng vân vân.... Cũng không dám trách vua Bảo Đại, thủ tướng Trần Trọng Kim và các vị bộ trưởng trong chính phủ của ông.
Nhưng đọc lại lịch sử thì chúng tôi phải ghi nhận rằng các vị đó đã không hiểu Cộng Sản, và những mưu mô mánh lới của lãnh tụ Cộng Đảng Hồ Chí Minh. Mặc dù, xin thú thật, nếu ở vào địa vị các vị tiền bối đó, chắc chắn chúng tôi cũng không rõ mình phải làm gì cho đúng, vì chắc gì vào thời gian đó chúng tôi đã hiểu CS hơn ai. Chỉ gần đây cái quái thai của lịch sử là chủ nghĩa CS mới được nhân loại thấu hiểu. Cho nên trong dĩ vãng không hiểu rõ về CS là điều có thể thông cảm.
Trong năm 2009 này nhiều sự việc hệ trọng xảy ra trong nước khiến nhiều nhà trí thức, đặc biệt là thuộc Viện Nghiên Cứu Phát Triển, đã phải kêu toáng lên, mất nước đến nơi rồi. Mặc dầu đối với nhiều người Việt ở Hải Ngoại, thực sự nước đã mất từ ngày 30 tháng tư năm 1975 kia.
Sở dĩ trong năm nay hiểm hoạ mất nước một lần nữa vào tay Tầu Cộng mới hiện ra rõ rệt đối với đại đa số trí thức là vì có dự án khai thác mỏ bôxít ở Trung Nguyên chỉ xảy ra ít lâu sau vụ Trung Cộng lập huyện Tam Sa thuộc đảo Hải Nam. Người ta nhớ lại và liên kết hai sự kiện trên với những sự kiện xảy ra trong dĩ vãng và thấy càng ngày âm mưu thôn tính từ phương Bắc càng rõ rệt.
Từ công hàm của Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958, đến bài học quân sự mà Đặng Tiểu Bình “dậy” cho Việt Cộng tại biên giới Việt Trung năm 1979. Nhất là vụ Trung Cộng và Việt Cộng công khai tổ chức lễ khánh thành cột mốc biên giới trên bộ tượng trưng mang số 1369, dưới sự chứng kiến của thứ trưởng Ngoại Giao Trung Cộng Vương Nghị và thứ trưởng Ngoại Giao Việt Cộng Lê Công Phụng (nay là đại sứ VC tại Mỹ). Sự kiện này xảy ra ngày 27-12-2001. Chưa kể những trận hải chiến do Trung Cộng tung ra vào những năm 1974 và 1988 nhằm xâm lấn và chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa. Cũng chưa kể việc nhiều ngư dân Việt Nam khi hành nghề trong hải phận Việt Nam đã bị tầu của Trung Cộng bắt giữ và giam cầm trái phép.
Với những hiệp định về biên giới (30-12-1999) và về lãnh hải (25-12-2000) ký kết giữa Trung Cộng và VC phía Việt Nam đã bị thiệt khỏang gần 1000 CS trên bộ trong đó bị mất thác Bản Giốc, Suối Phi Khanh và Ải Nam Quan, và khỏang 10,000 cây số vuông trên biển, coi như Trung Cộng cũng chỉ mới trắc nghiệm những điểm ven biên. Nhưng với dự án khai thác Bô-xít ở Trung Nguyên thì Trung Cộng đã đánh thẳng vào trái tim tổ quốc Việt Nam. Vì ai cũng rõ đây chính là địa điểm chiến lược quan trọng, coi như yết hầu của Việt Nam. Ông Ngô Đình Diệm từ những năm 1947 đến 1953 nhiều lần nhắc đến phần đất có tính chiến lược về mặt quân sự cũng như kinh tế này. Và sau khi lên cầm quyền ông đã luôn nhắc nhở, phải giữ cho bằng được Trung Nguyên, và ông đã chết hụt tại hội chợ Ban Mê Thuột năm 1957 cũng vì muốn tạo bức tường thành bằng người ở đó..
Vì thấy “yết hầu” bị đe doạ, các nhà trí thức nói trên đã “kiến nghị”, “thỉnh nguyện”, “phản biện”... hầu nhắc nhở hay làm áp lực với nhà cầm quyền CS phải cứng rắn hơn với Trung Cộng, phải hủy bỏ kế hoạch khai thác bô xít. Nhưng không có kết quả.
Tại hải ngoại trong vài năm nay, nhiều luật gia, chính khách đã lên tiếng đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa cho Việt Nam. Tuy rằng ai cũng biết đất nước ngày nay nằm trong tay Việt Cộng, đồng chí, đồng đảng với Trung Cộng. Cho nên nếu đòi được hai quần đảo đó cũng chỉ là đòi hộ cho VC mà thôi và đã dễ gì mà đòi được. Trước hết người đòi là cá nhân hay tập thể một cộng đồng, hay chính đảng người Việt ở hải ngỏai lấy tư cách pháp nhân gì theo quốc tế công pháp để đứng tên đòi, khi mình chưa đoàn kết được để thành một pháp nhân có uy tín và thẩm quyền. Liên Hiệp Quốc, hay một toà án quốc tế nào đó có coi một ông cựu bộ trưởng hay cựu thủ tướng VNCH trước đây còn uy tín hay thẩm quyền không?
Tuy nhiên làm là cứ phải làm để chứng tỏ lòng yêu nước, và ít nhất cũng cho người dân trong nước biết đến và so sánh: Tại sao kẻ quản lý đất nước lại không làm việc đó mà lại để cho kẻ đã mất nước phải đứng ra làm thay.
Trong năm nay nhiều tổ chức đảng phái quốc gia ở hải ngoại đã tích cực vận động các tổ chức nhân quyền, ân xá quốc tế, văn bút quốc tế, phóng viên không biên giới v.v... để họ can thiệp hay làm áp lực với VC trong nước hầu bênh vực cho các người đấu tranh cho dân chủ trong nước bị VC bắt giam, kết án, bỏ tù, hay cho những dân oan đi khiếu kiện vì bị cướp nhà, cướp đất. Nhưng kết quả chẳng được là bao. Ngay Linh mục Nguyễn Văn Lý hay nữ luật sư trẻ tuổi Lê Thị Công Nhân là những từ nhân lương tâm được cả thế giới biết đến, cũng không được VC phóng thích hay giảm án. Chẳng những thế, khi lâm trọng bệnh không được điều trị hay cung cấp thuốc men, cho nên đang sống dở chết dở. 37 nghị sĩ (tức trên một phần ba thượng viện) thuộc lưỡng đảng Mỹ đã chính thực can thiệp cho linh mục Lý. Vậy mà khi VC ân xá hàng ngàn tù nhân vào dịp “quốc khánh” mồng 2 tháng 9 vừa qua ông cũng không được thả.
Xem ra chính sách ngoại giao của những nước lớn như Hoa Kỳ không hứa hẹn gì cho cuộc vận động quốc tế cho nhân quyền tại Việt Nam nữa.
Những sự việc xảy ra tại Việt Nam ngày nay trước những vụ bắt bớ giam cần hàng loạt những nhà phản kháng đấu tranh cho dân chủ tự do khiến nhiều người không khỏi nhớ lại những vụ Cộng Sản đàn áp dã man các cuộc vùng dậy của nhân dân Ba Lan (Poznan 1956), Hung Gia Lợi (Budapest 1956) và Tiệp Khắc (Praha 1968) vào những thập niên 50, 60 thế kỷ trứoc. Và cả vụ Trung Cộng đàn áp dã man cuộc biểu tình đòi tự do của thanh niên sinh viên Trung Quốc tại quảng trường Thiên An Môn giữa năm 1989. Những cuộc đàn áp vô cùng dã man đó, khiến hàng vạn dân vô tội bị hy sinh, đã làm rung chuyển dư luận thế giới. Nhưng lúc ấy cũng chẳng có cường quốc nào trong thế giới tự do dám can thiệp để cứu các nạn nhân.
Cho nên mấy năm vừa qua phần đông các nhà lãnh đạo tinh thần các tôn giáo trong nước đã không dám khuyến khích giáo dân biểu tình để đòi công lý trong những vụ toà khâm sứ Hà Nội, các giáo xứ Thái Hà, Tam Toà. Loan Lý v.v....vì sợ con chiên bị đẩy vào chỗ chết mà sẽ chẳng ai can thiệp để cứu. Mặc dù như chúng ta đã thấy những cuộc gọi là “biểu tình” đó chỉ là những buổi cầu nguyện và hát thánh ca với đèn cầy cầm tay.
Tất cả những sự việc đó xảy ra cùng lúc với những vụ đàn áp, bắt bớ hàng loạt các người khác như Vũ Hùng, Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Mạnh Sơn, Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Hữu Tính, Nguyễn Kim Nhân, Ngô Quỳnh và Phạm Văn Trội, Trần Kim Anh, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung. Đó là chưa kể những “bloggers” có những cái tên ngộ nghĩnh như Điếu Cầy, Người Buôn Gió, Mẹ Nấm, v.v...
Theo rõi tình hình trong nứoc suốt hơn chục năm qua, quả thực phải công nhận nếu cứ chờ sự can thiệp của ngoại quốc để thay đổi thì chỉ là ảo mộng. Cho nên lần này, nhân thấy được mối nguy Việt Nam bị Trung Cộng thôn tính, nhiều tổ chức và đảng phái quốc gia ở hải ngoại muốn sát cánh với những người trong nước còn tâm huyết với dân tộc để cứu nguy đất nước. Có người còn lạc quan cho rằng lúc này đây đã là giai đoạn cuối của cuộc tranh đấu cho dân chủ tự do. Chỉ cần những người đứng ở hai bên chiến tuyến trước đây biết hoà giải vói nhau, xoá bỏ hận thù để cùng nhau vùng dậy cứu nước.
Tuy nhiên cũng rất nhiều người không lạc quan như vậy. Những người này không tin những lời “phản biện”, tuyên bố, kiến nghị.... của nhũng trí thức trong nước, hay của một vài bộ mặt trong hàng ngũ cán bộ cao cấp đã hết thời, hết lực, trong đó có tướng Giáp. Họ vẫn cho rằng những kẻ này phản tỉnh giả vờ, hay phản tỉnh vào giờ thứ 25.
Nhưng những người yêu nước thực sự sẽ không thể làm gì để thay đổi, nếu không xoá bỏ được hận thù do cuộc chiến kéo dài gây ra để có thể hoà giải với nhau và đoàn kết cùng nhau đối phó với kẻ thù phương Bắc.
Để giải quyết vấn để nan giải này, chúng tôi mạo muội đưa ra một đề nghị. Chúng ta hãy lấy lòng yêu nứoc thực sự của đại chúng ở trong cũng như ở ngoài nứoc làm nền tảng, coi đó như nguồn nước thanh tẩy. Mọi người hãy sám hối và tự thanh tẩy mọi di tích phản bội, yếu kém trong dĩ vãng trong nguồn nước trong ấy. Tất cả những ai đã sám hối và được thanh tẩy bởi lòng yêu nước chân chính, coi như đã được hoàn toàn đỗi mới, và khi đối diện với nhau sẽ chỉ thấy mọi người đều là anh em, “đồng chí”, đồng bào. Đó là khởi điểm của đoàn kết dân tộc, bước đầu trên con đường cứu nước đầy chông gai gian khổ có thể dài muôn dặm, mà chỉ có sự đoàn kết do lòng yêu nứoc mới hứa hẹn thành công.
Việc sám hối sẽ thực hiện ra sao và bắt đầu từ đâu?
Đây là vấn đề phức tạp nghiêu khê dễ gây tranh cãi. Chúng tôi sẽ cố trình bày một cách thành thực theo ý nghĩ chủ quan của mình, dù biết sẽ có nhiều người không đồng ý.
Trước hết xin trở lại từ đầu với các vị tiền bối đã nêu danh tánh ở đầu bài.
Các cụ Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, nhũng nhà ái quốc theo chủ nghĩa dân tộc, phi Cộng sản, đã từng giúp đỡ, che chở, bảo lãnh cho Hồ Chí Minh và những cán bộ nòng cốt của đảng CS sau này như Phạm Văn Đồng, Hoàng Van Hoan, Phùng Chí Kiên v.v....lại để cho Hồ Chí Minh xâm nhập và lợi dụng Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (gọi tắt là Việt Minh) và Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh (gọi tắt là Việt Cách). Nếu các vị đó còn sống chắc chắn sẽ hối hận lắm. Và ở dưới suối vàng có thể đang thành tâm hối lỗi, về sự sơ ý và “lòng tốt” của mình đã dành cho “bọn cướp nước”.
Giờ sám hối?
Nguồn: freewebs.com
Các lãnh tụ Việt Quốc, Việt Cách như các cụ Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, và nhất là Vũ Hồng Khanh...và một số đảng viên Đại Việt đã ngủa tay nhận 70 ghế đại biểu trong cái gọi là Quốc Hội đầu tiên của Hồ Chí Minh, và gia nhập chính phủ Liên Hiệp của Hó Chí Minh chắc ở dưới suối vàng cũng hối hận, vì mình đã tạo uy tín cho họ Hồ và đảng CS, để họ có được cái nhãn, cái chiêu bài dân tộc, mà lôi kéo toàn dân vào những cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt. Đặc biệt đáng nói là 70 ghế đại biểu đã được tặng không (không phải bầu bán gì cả) như một thứ quà hối lộ. Sự khờ dại của các vị đó đã tạo cớ cho CS phỉ báng những đảng yêu nứoc quốc gia, dám so sánh các lãnh tụ quốc gia đó với phân bón. (3)
Chúng tôi đã viết “nhất là cụ Vũ Hồng Khanh”, vì cụ còn mắc bẫy của HCM cùng ký với ông ta vào hiệp định sơ bộ 6-3-1946, mà sau này các đồng chí của cụ gọi là “hiệp định bán nước”, không khỏi cảm thấy mình “há miệng mắc quai”.
Về việc vua Bảo Đại và thủ tướng Trần Trọng Kim thoái vị và từ chức trong tháng 8 năm 1945, lúc ấy nhiều người coi đó là một cử chỉ sáng suốt của những công dân yêu nước. Nhưng ngày nay nhìn lại thì ai cũng chê là dại dột, không nắm vững tình hình, không biết người biết mình. Trong 2 cuốn hồi ký “Con Rồng Việt Nam” và “Một cơn Gió Bụi” sau này, hai ông đã hối hận thì đã quá muộn. Nhưng xem ra trong nội các Trần Trọng Kim hãy còn có những người như Giáo sư Hoàng Xuân Hãn (bộ trưởng Giáo Dục), đến cuối thế kỷ 20 hãy còn ca tụng “công lao dành độc lập” của Hồ Chí Minh. Không biết tác giả “Tự Điển Danh Từ Khoa Học” sẽ có tỉnh ngộ và hối hận không.
Chiến thắng Điện Biên của Cộng quân đưa đến việc chia đôi đất nước được nhiều người cho rằng đó là lỗi của tướng Pháp Navare không nắm vững địa hình địa vật và khả năng tiếp vận của địch. Có người lại trách Mỹ đã không chịu cho thực hiện kế hoạch Vulture để dùng không lực hùng hậu của mình (thậm chí cả bửu bối bom nguyên tử) tiếp cứu đồng minh v.v... Nhưng đó là vấn đè trách nhiệm của Đồng Minh. Khỏi bàn. Chúng ta hãy bàn về trách nhiệm và lỗi lầm của chúng ta.
Ai cũng biết quân ta lúc ấy rất yếu cả về quân số lẫn tiếp vận và chỉ huy. Nên phải trông cậy hỏan toàn vào quân Liên Hiệp Pháp. Quốc Trưởng Bảo Đại và các lãnh tụ Quốc Gia không tự mình chống đỡ được những cuộc tấn công của Cộng Quân được Liên Sô, Trung Cộng tiếp viện dồi dào về vũ khí và tuyên truyền. Nếu ngày nay còn sống chắc qúi vị ấy cũng hối hận là mình chưa cố gắng đủ. Nhất là những ai lúc ấy chỉ cố bám lấy sức mạnh quân sự của Pháp để tin rằng vũ khí vật chất mạnh hơn sức mạnh của ý chí, mưu lược và tuyên truyền. Vì Cộng quân đã chiến thắng phần lớn nhờ sự tuyên truyền rằng họ đánh Pháp và tố cáo các chính phủ của Bảo Đại chỉ là tay sai của Pháp. Nếu lúc ấy (1946-1948) tất cả các lãnh tụ đảng phái quốc gia và các chính khách độc lập yêu nước cùng đoàn kết với nhau để cùng quốc trưởng Bảo Đại tranh đấu với Pháp, đòi cho bằng được một nền độc lập hoàn toàn thì sẽ có cơ sở vững mạnh hơn để đánh sập chiêu bài “kháng chiến giành độc lập” của CS.
Từ khi chế độ Đệ Nhất Cộng Hoà được thành lập vào năm 1955, thì ta đã có một nửa nứoc hoàn toàn độc lập, không còn bóng quân Pháp thực dân. Cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của chủ quyền quốc gia Việt Nam bắt đầu tung bay trước Dinh Norodom, phủ toàn quyền của Pháp, dấu tích của gần một thế kỷ nô lệ, đã được cải danh là Dinh Độc Lập. Như vậy phe Quốc Gia đã có một bửu bối để lột mặt nạ chiêu bài dân tộc của phe Cộng. Nhưng một số tướng lãnh và vài chính đảng đã bị người Mỹ mua chuộc để phá sập toà nhà độc lập được xây dụng lên với bao công sức. Một chính quyền có cơ sở pháp lý vững vàng có uy tín trước quốc dân và trước cộng đồng quốc tế bỗng dưng tiêu tan, tạo ra một tình trạng vô chính phụ, hỗn loạn, trong đó “chính quyền trở thành thứ mà ai cũng cướp giật được”, như tổng thống Mỹ Richard Nixon đã nói về hậu quả của việc lật đổ ông Ngô Đình Diệm.