Translate
Tuesday, November 24, 2009
Tự do tôn giáo tại Việt Nam và phúc trình của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ
2009-11-24
Bộ ngoại giao Hoa Kỳ vừa công bố báo cáo thường niên về tình hình tôn giáo trên thế giới, theo đó Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ. Tuy nhiên nhiều tổ chức bênh vực nhân quyền cho rằng bản báo cáo đã không phản ảnh đúng tình hình tại VN.
RFA PHOTO
Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tổ chức họp báo tại Washington hôm thứ Hai 26-10-2009, công bố phúc trình về tình hình tự do tôn giáo trên thế giới.
Theo một số tổ chức quốc tế về quyền con người thì báo cáo này vẫn chưa nêu đầy đủ những hành động đàn áp tôn giáo tại Việt Nam hiện nay, đặc biệt là đối với người Thượng ở Tây nguyên.
Từ phúc trình của Bộ ngoại giao Mỹ
Việt Hà phỏng vấn ông Scott Johnson, một nhà họat động về quyền con người và là người tư vấn cho tổ chức Người Thượng. Trước hết, ông Scott Johnson nhận xét về bản báo cáo như sau:
Scott Johnson: Bản báo cáo này được viết theo một cách hết sức tế nhị kiểu ngoại giao mà nó gần như không nêu được đúng sự thật. Sau rất nhiều năm thì quyền con người ở Việt Nam vẫn không được tôn trọng.
Sau nhiều năm các nhóm tôn giáo vẫn bị đàn áp như công giáo, các nhóm công giáo tại gia, rồi Khmer Krom, Phật giáo. Vậy mà Bộ ngoại giao lại đưa ra một báo cáo như vậy thì tôi thấy là nó chỉ là một dạng ngoại giao giả dối, được ngụy trang.
Chúng tôi giờ đây đã có những bằng chứng trực tiếp về việc những người theo đạo Tin lành ở các giáo hội độc lập bị đàn áp ra sao, đánh đập, tra tấn ra sao và thậm chí bị bỏ tù. Nhưng những trường hợp đó đã không được nói đến trong bản báo cáo.
"
Bản báo cáo này được viết theo một cách hết sức tế nhị kiểu ngoại giao mà nó gần như không nêu được đúng sự thật. Sau rất nhiều năm thì quyền con người ở Việt Nam vẫn không được tôn trọng.
Ô. Scott Johnson
Và đó là lý do mà tôi nói rằng bản báo cáo này thực sự chỉ là một bản tuyên bố của sự phản bội. Thật đáng tiếc là Bộ ngoại giao đã để cho vấn đề ngoại giao xóa đi hiện trạng về quyền con người ở đây.
Việt Hà: Thưa ông, theo ông thì lý do gì khiến Bộ ngoại giao lại đưa ra một bản báo cáo như vậy, có phải vì do những yếu tố kinh tế và thương mại Việt Nam Hoa kỳ đang rất tốt đẹp, và cũng vì Hoa Kỳ cần Việt Nam để tạo thế cân bằng trong khu vực?
Scott Johnson: Đúng thế. Lý do là bởi vì vấn đề quyền con người luôn phải ngồi ghế sau. Mối quan tâm lớn nhất vẫn là địa lý chính trị, là Hoa kỳ muốn có quan hệ thương mại với Việt nam, và tất nhiên, muốn Việt nam là một vùng đệm với Trung Quốc.
Hàng trăm giáo dân thuộc nhiều giáo phận ở miền Bắc Trung Phần xuống đường biểu tình hôm 27-7-2009, phản đối việc công an bắt giữ và đánh đập các giáo dân và giáo sĩ Tam Tòa.
Điều này hoàn toàn dễ hiểu, bởi vì khi một nước muốn có một mối quan hệ với nước khác, thì họ phải có những mối lợi riêng cho họ. Nhưng khi bước ra ngoài đường vạch đó, thì chúng ta phải nhớ là người Thượng chính là những đồng minh của Hoa Kỳ trong suốt chiến tranh Việt Nam.
Và làm như vậy thì như là việc lờ họ đi vì mối lợi của mình. Hoa kỳ vẫn có thể có quan hệ với Việt nam nhưng họ không thể gạt người Thượng hoàn toàn ra bên ngoài, thậm chí không có lấy một từ trong đó về họ.
Tôi nói ví dụ, có một trường hợp mà tôi nghiên cứu, tên là Puih Hbat. Bà ta là một người theo đạo Tin lành. Sau khi bà ta thực hiện lễ tại nhà vào năm 2008, thì vào giữa đêm bà bị bắt và bỏ tù. Và sau đó chúng tôi không còn nghe tin tức gì về bà. Trường hợp này đã được Ủy ban Châu Âu khẳng định là có và họ nói là họ lấy thông tin từ Đại sứ quán Mỹ.
Chắp nối các thông tin này lại với nhau thì chúng tôi biết được là việc đàn áp các giáo hội tại gia vẫn đang tiếp tục trong nhiều năm. Chính phủ Việt Nam hầu như không thay đổi sách lược.
Nhiều năm trước khi Việt nam và Hoa Kỳ ký thỏa thuận ngoại giao thì Hoa Kỳ có quan ngại vấn đề đàn áp tôn giáo ở Việt Nam. Việt Nam đáp ứng bằng cách nói là họ sẽ chấm dứt việc ép buộc người dân cải giáo, họ hứa một số điều nhưng họ không bao giờ từ bỏ việc điều khiển. Ở khắp các nơi họ có các công an tôn giáo được đào tạo. Chính phủ thực hiện việc đàn áp trên Tây nguyên.
Ở đó thậm chí việc dùng điện thoại di động cũng bị kiểm soát. Và họ vẫn bắt những người Tin lành nào không theo các giáo hội được nhà nước công nhận. Chính phủ coi đó là những tội phạm ghê gớm mà họ phải bắt giữ những người đó, tra tấn họ và giết họ.
Đến thực tế tại VN
Việt Hà: Vậy ông có con số thống kê hiện có bao nhiêu người Thượng đang bị chính phủ bắt giữ, bỏ tù, mất tích và bị giết không?
"
Chính phủ Việt Nam có thể làm một vài điều tốt gì đó một đôi lúc, và họ có thể làm một vài sự ồn ào ngoại giao về việc họ cải thiện cuộc sống của người thiểu số. Nhưng họ quay lại tấn công các giáo hội tại gia, họ tấn công Phật giáo, các nhà bất đồng chính kiến.
Ô. Scott Johnson
Scott Johnson: Vài năm trước thì Tổ chức theo dõi nhân quyền thế giới đã có một bản báo cáo là khoảng 350 người Thượng bị bỏ tù. Bây giờ vào năm 2009, chúng ta có thể tìm thấy các báo cáo này của Tổ chức nhân quyền thế giới hay Ủy ban quốc tế về tự do tôn giáo của Hoa Kỳ.
Những báo cáo này đều khẳng định là có hàng trăm người Thượng đang bị bỏ tù. Chỉ vài tháng trước thì chính phủ Việt Nam bỏ tù một số người lên đến 10 năm. Họ bị kết án vì những hoạt động không bạo lực. Đây là những hoạt động mà ở các nước có tự do thì không bao giờ bị xử phạt. Chúng tôi biết là có hàng trăm người.
Thế nhưng do thực tế ở Việt Nam chính phủ vẫn thực hiện chính sách che dấu thông tin toàn bộ. Họ không thông báo đầy đủ và họ có những buổi xử án bí mật một ngày đối với rất nhiều người bất đồng chính kiến. Vì thế rất khó để lấy được các thông tin từ Tây nguyên.
Vì thế chúng tôi không có con số cụ thể nhưng chúng tôi biết là có hàng trăm người. Và điều đáng buồn là chúng ta không thể biết được đầy đủ điều gì đang xảy ra ở đó. Và thực trạng quyền con người ở đó đang rất khủng khiếp.
Việt Hà: Chính phủ Việt nam thì vẫn nói là họ đã có những cải thiện nhất định về quyền con người, về đời sống cho người dân ở Tây nguyên. Ông có nhận xét gì về điều này?
Scott Johnson: Tôi có thể tóm lại tình hình ở Việt Nam theo lối nói so sánh thế này. Chính phủ Việt Nam đưa cho các bạn một nắm tay đầy gạo, và tay kia họ cầm dao đâm bạn. Như thế là họ làm một điều gì đó tốt và bước tiếp theo là họ đâm bạn.
Trong bản báo cáo này, bản báo cáo được gọi là báo cáo về tự do tôn giáo, chỉ thừa nhận cái nắm tay đầy gạo mà chính phủ Việt Nam đưa ra cho người dân mà lờ đi hoàn toàn việc họ quay lại đâm các bạn.
Chính phủ Việt Nam có thể làm một vài điều tốt gì đó một đôi lúc, và họ có thể làm một vài sự ồn ào ngoại giao về việc họ cải thiện cuộc sống của người thiểu số. Nhưng họ quay lại tấn công các giáo hội tại gia, họ tấn công Phật giáo, các nhà bất đồng chính kiến.
Việt Hà: Thưa ông, cộng đồng quốc tế, cũng như Hoa Kỳ từ lâu đã lên án Việt Nam về những vi phạm về quyền con người. Thậm chí Hoa Kỳ còn đặt Việt nam vào danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt, thế nhưng dường như tất cả những cái đó không mang lại một kết quả đáng kể nào cả. Vậy theo ông cộng đồng quốc tế còn cần phải là gì để có thể mang lại thay đổi thực chất ở Việt nam?
Scott Johnson: Đây là vấn đề phức tạp. Chúng tôi biết là chúng tôi kêu gọi sự thay đổi ở Việt Nam. Chúng tôi kêu gọi sự tôn trọng những quyền căn bản của con người được quốc tế thừa nhận. Nhưng Việt nam lại từ chối. Họ kiếm cách đi đường vòng.
"
Tất cả những gì mà tôi có thể nói là Việt nam đã tiến những bước rất nhỏ và họ không có lòng tin. Những người bị đàn áp là những phật tử, những người công giáo, thiểu số ít người.
Ô. Scott Johnson
Ví dụ họ nói là họ sẽ bỏ việc cưỡng bức cải giáo, từ bỏ giáo hội của người Tin lành, mà họ đã để vào trong chính sách của họ vài năm trước. Bây giờ họ bảo họ sẽ bỏ điều đó ra nhưng họ vẫn điều khiển. Nếu người dân không tham gia vào các giáo hội được đăng ký hoặc không nghe lời họ, thì người dân sẽ bị đánh đập, giết hại.
Tất cả những gì mà tôi có thể nói là Việt nam đã tiến những bước rất nhỏ và họ không có lòng tin. Những người bị đàn áp là những phật tử, những người công giáo, thiểu số ít người. Họ là những người dân bình thường nhưng họ bị kìm kẹp trong một chế độ độc tài không chịu từ bỏ quyền lực. Làm thế nào để bạn có thể thay đổi được chế độ đó, đó là một câu hỏi khó.
Chúng ta đã có nhiều năm có quan hệ ngoại giao với Việt nam, và chúng ta vẫn chưa nhìn thấy một kết quả lớn cụ thể nào cả. Vẫn có sự đàn áp đối với người thiểu số. Họ vẫn bị đàn áp dã man tại Tây nguyên. Vậy có câu trả lời nào không cho câu hỏi này?
Tôi chỉ có ở đây một bản báo cáo mang tính ngoại giao nói rằng Việt nam tuyệt vời và làm những điều tuyệt vời. Và điều này chắc chắn là không giúp ích được gì, nó chỉ làm cho chế độ hà khắc thêm vững mạnh để tiếp tục làm điều mà họ vẫn làm. Vì vậy cần phải có thêm áp lực lên chính phủ Việt nam, bắt họ phải tôn trọng quyền con người.
Việt Hà: Xin cảm ơn ông đã dành cho đài chúng tôi buổi phỏng vấn này.
Monday, November 23, 2009
Sunday, November 22, 2009
S á m h ố i
Trích DCV Online
Minh Võ
Lời ngỏ: Những lời kêu gọi hoà giải dân tộc thường bị hiểu lầm và đả kích. Cho nêntrước khi nhập đề, chúng tôi xin xác nhận đây chỉ là ý kiến về sự sám hối là điều kiện tiên quyết và là bước đầu để đi đến hoà giải thực sự. Không có sám hối từ cả hai phía thì sẽ không thể có hoà giải.
Sám hối, ôi hai chữ dể thương làm sao! Nhưng cũng dễ sợ thế nào ấy. Dễ thương vì khi nghe cô em gái nhận lỗi mà xin tôi tha thứ thì tôi chỉ muốn ôm chằm lấy mà tha mấy lần cũng được. Nhưng dễ sợ vì khi mẹ tôi bảo tôi nhận lỗi và ăn năn vì đã xích mích với em hay đánh trả em gái, thì y như rằng tôi phụng phịu. Lỗi nó chứ lỗi gì ở con?
Hai chữ sám hối mà tôi muốn nhắc đến ở đây tôi nghe đã 10 năm rồi. Tôi đâm ra có cảm tình ngay với người nói hai tiếng đó, mặc dầu hãy còn nhiều điều tôi chưa đồng ý với ông ta. Có người còn bảo ông ta chỉ là cò mồi, hay đặc công của Cộng Sản. Kể ra cũng oan. Cũng có người coi ông ấy là người của tướng nổi tiếng sát quân Võ Nguyên Giáp được phái ra nước ngoài dọn đường cho ông tướng này lên nắm quyền, v.v... Hư thực ra sao không cần biết. Nhưng dícch thực ông ta đã hoàn toàn thất vọng về ông tướng này rồi.
Sở dĩ tôi cứ rồi rắng mãi đến nay mới dám nhắc lại hay chữ gây cảm tình này, là vì tôi sợ, rằng tôi cũng phải sám hối, chứ chẳng chạy đâu khỏi. Xin thưa toạc ra rằng thì là...
Năm ấy, cách nay đúng một thập niên, trong khi nghiền ngẫm gần một trăm cuốn sách lớn nhỏ và hàng ngàn trang tài liệu đang gây tranh cãi, để biên soạn cuốn Phản Tỉnh Phản Kháng... (1) tôi đã chú ý đặc biệt tới thái độ sám hối của một nhân vật. Tôi đã đếm trong 4 tác phẩm (2) của ông ta được đúng 3 lần hai chữ sám hối. Nhiều lần ông ta đã viết, hay nói: “Tôi nhìn nhận là tôi đã đóng góp vào những phần tội lỗi của đảng Cộng Sản khi tôi có chức có quyền.” Thì ra đấy là lý do sám hối.
Năm nay, tôi nhớ lại thái độ của một người từng “ở bên kia”, và đâm hổ thẹn và cũng cố lấy can đảm để nói lên hai chữ sám hối, dầu đã quá muộn. Tôi chẳng nhân danh ai, nhân danh cái gì, mà chỉ vì một chút lòng tự trọng còn rơi rớt lại trong một con người, từ trước chỉ nghĩ mình có công chứ không bao giờ có tội để phải sám hối.
Tôi có tội đối với việc để mất Đệ Nhất Cộng Hoà, rồi Đệ Nhị Cộng Hoà. Tuy lúc ấy chức vụ quyền hạn của tôi rất nhỏ hẹp, chỉ là những phó và phụ tá. Nhưng nếu tôi cố gắng hơn, yêu nước hơn, hiểu rõ CS hơn, chắc tôi đã góp được phần nhỏ vào việc giữ được nền Đệ Nhất Cộng Hoà, hay ít ra cũng không để mất nước vào ngày 30 tháng tư. Tôi rất ân hận.
Và tôi biết ở cả hai phía, đều có những người như tôi, hoặc ngay cả những thanh niên sinh ra sau chiến tranh chẳng dính líu gì đến các tội ác chiến tranh, hay ngay cả những dân lành vô tội, suốt đời chỉ chịu sự chỉ huy điều khiển của kẻ khác. Nhũng người đó, trong lúc vận nước không may, nguy biến xảy ra, họ cũng ân hận mình đã chẳng làm được gì hơn để cứu nước. Họ ăn năn hối tiếc vì nghĩ tới lời người xưa, Quốc Gia Hưng
Vong Thất Phu Hữu Trách.
Như vậy thì những bậc lãnh đạo quốc gia trong những giai đoạn nước nhà có biến, những bâc lãnh tụ các đảng phái, cộng đồng, có thể nào không ăn năn hối lỗi vì những hành vi sơ sót của mình hay không?
Chuyện xét xử công minh thuộc về trách nhiệm của lịch sử, hoặc theo ý tôi, tuỳ vào sự khoan hồng độ lượng của Tổ Tiên, Trời Phật, hay Thượng Đế. Ở đây chúng tôi không dám lạm bàn.
Đã không giữ được nước là một cái tội. Nhưng mất nước đã gần 35 năm rồi, vẫn chưa làm được gì cứu nước. Tội còn nặng hơn. Trong khi đó mình lại cứ ôm dĩ vãng mà sống. Chỉ biết tự hào là phe mình có chính nghĩa, phe mình đã tạo nên hàng trăm hàng nghìn chiến công oanh liệt.
Ngoài điều đó ra tôi còn phải ân hận, và tự trách mình vì đã chẳng đóng góp được gì vào những kỳ công của cộng đồng người Việt hải ngoại nhằm tố cáo tội ác Cộng Sản, hay can thiệp với Liên Hiệp Quốc, với các cường quốc trên thế giới, hay với các tổ chức Ân Xá Quốc Tế, Văn Bút Quốc Tế, hội phóng viên không biên giới, v.v... Tôi đã chẳng mấy khi có mặt trong các cuộc biểu tình chống triển lãm tranh ảnh HCM, chống các cuộc xuất hiện của các lãnh tụ Việt Cộng, chống các cuộc trình diễn văn nghệ do CS tổ chức để quảng cáo cho chế độ phi nhân ở trong nứoc. Tôi đã không có công gì trong việc dựng được cờ vàng trên cả trăm thành phố và nhiều tiểu bang ở Mỹ và các nơi khác.
Tôi cũng chẳng làm được gì tiếp tay cho những cá nhận hay đoàn thể can thiệp với các nhà lập pháp nơi quê hương thứ hai để họ làm áp lực với nhà cầm quyề CS trong nước bớt bắt bớ giam cầm những người đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền trong nước.
Đã thế, nhiều lúc tôi còn tự coi mình mới là kẻ thắng, còn việt Cộng mới là kẻ bại. Chỉ vì những lời khen xã giao hay lời an ủi của một số người. Cho nên tôi cứ tự hào, tự mãn về những tự do no ấm và tiện nghi vật chất mà mình được hửong nhờ sự hảo tâm và bố thí của các nước bạn giầu lòng từ thiện. Rồi đem so sánh với những đảng viên CS xấu số không nằm trong bộ chính trị hay Trung Ương Đảng.
Nhưng than ôi, tôi đã quên bẵng đi rằng vì mình không giữ được nước, để nhân dân rơi vào vòng oan khiên cho nên ngày nay những thảm cảnh xảy ra khắp nước chính là trách nhiệm của tôi. Hàng trăm, hàng ngàn nạn nhân như Nguyễn Văn Lý, Lê Thị Công Nhân,... Hàng ngàn hàng vạn những dân oan vì mất đất mất nhà. Hàng vạn dân nghèo bệnh không có thuốc. Hàng triệu trẻ em 6, 7 tuổi không được đến trường phải đi bới rác kiếm ăn. Và kinh khủng nhất là hàng trăm, hàng ngàn bé gái 8, 9 tuổi phải bán thân nuôi miệng ở xứ Chùa Tháp.
Những thảm cảnh trên không do tôi gây ra trực tiếp. Nhưng vì chúng tôi thất trận nên đã gián tiếp gây ra. Ăn năn hối lỗi đến bao giờ mới đủ? Ai có chút lòng trắc ẩn hay một tâm hồn của con người bình thường có thể còn nói rằng mình không thua, chỉ bị bỏ rơi cho nên chẳng có trách nhiệm gì về những tội ác và thảm cảnh đang diễn ra trong đất mẹ không?
Vì vậy càng nghĩ tôi càng thẹn và càng thấy mình sám hối bao nhiêu cũng chưa đủ.
Suy bụng ta ra bụng người. Tôi dám chắc nhiều người trong quý vị đang đọc hàng chữ này, cũng có lúc suy nghĩ và hối hận như tôi. Vậy thì xin phép quý vị, chúng ta thử cùng nhau kiểm điểm lại tình tinh trong nước.
Chúng tôi xin trình bày một số sự kiện lịch sử của nước nhà bắt đầu từ những thập niên 20, 30 thế kỷ trước chứng tỏ cả hai phía Cộng sản và Quốc Gia chúng ta đều cần phải can đảm nhận lấy trách nhiệm và hối lỗi.
Vào lúc ấy kẻ viết những hàng chữ này, hoặc là chưa sinh ra, hoặc còn là hài nhi, thiếu nhi. Cho nên xin thưa trước là chúng tôi không dám hỗn láo phê bình chỉ trích các bậc tiền bối như các cụ Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, Huỳnh Thúc Kháng vân vân.... Cũng không dám trách vua Bảo Đại, thủ tướng Trần Trọng Kim và các vị bộ trưởng trong chính phủ của ông.
Nhưng đọc lại lịch sử thì chúng tôi phải ghi nhận rằng các vị đó đã không hiểu Cộng Sản, và những mưu mô mánh lới của lãnh tụ Cộng Đảng Hồ Chí Minh. Mặc dù, xin thú thật, nếu ở vào địa vị các vị tiền bối đó, chắc chắn chúng tôi cũng không rõ mình phải làm gì cho đúng, vì chắc gì vào thời gian đó chúng tôi đã hiểu CS hơn ai. Chỉ gần đây cái quái thai của lịch sử là chủ nghĩa CS mới được nhân loại thấu hiểu. Cho nên trong dĩ vãng không hiểu rõ về CS là điều có thể thông cảm.
Trong năm 2009 này nhiều sự việc hệ trọng xảy ra trong nước khiến nhiều nhà trí thức, đặc biệt là thuộc Viện Nghiên Cứu Phát Triển, đã phải kêu toáng lên, mất nước đến nơi rồi. Mặc dầu đối với nhiều người Việt ở Hải Ngoại, thực sự nước đã mất từ ngày 30 tháng tư năm 1975 kia.
Sở dĩ trong năm nay hiểm hoạ mất nước một lần nữa vào tay Tầu Cộng mới hiện ra rõ rệt đối với đại đa số trí thức là vì có dự án khai thác mỏ bôxít ở Trung Nguyên chỉ xảy ra ít lâu sau vụ Trung Cộng lập huyện Tam Sa thuộc đảo Hải Nam. Người ta nhớ lại và liên kết hai sự kiện trên với những sự kiện xảy ra trong dĩ vãng và thấy càng ngày âm mưu thôn tính từ phương Bắc càng rõ rệt.
Từ công hàm của Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958, đến bài học quân sự mà Đặng Tiểu Bình “dậy” cho Việt Cộng tại biên giới Việt Trung năm 1979. Nhất là vụ Trung Cộng và Việt Cộng công khai tổ chức lễ khánh thành cột mốc biên giới trên bộ tượng trưng mang số 1369, dưới sự chứng kiến của thứ trưởng Ngoại Giao Trung Cộng Vương Nghị và thứ trưởng Ngoại Giao Việt Cộng Lê Công Phụng (nay là đại sứ VC tại Mỹ). Sự kiện này xảy ra ngày 27-12-2001. Chưa kể những trận hải chiến do Trung Cộng tung ra vào những năm 1974 và 1988 nhằm xâm lấn và chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa. Cũng chưa kể việc nhiều ngư dân Việt Nam khi hành nghề trong hải phận Việt Nam đã bị tầu của Trung Cộng bắt giữ và giam cầm trái phép.
Với những hiệp định về biên giới (30-12-1999) và về lãnh hải (25-12-2000) ký kết giữa Trung Cộng và VC phía Việt Nam đã bị thiệt khỏang gần 1000 CS trên bộ trong đó bị mất thác Bản Giốc, Suối Phi Khanh và Ải Nam Quan, và khỏang 10,000 cây số vuông trên biển, coi như Trung Cộng cũng chỉ mới trắc nghiệm những điểm ven biên. Nhưng với dự án khai thác Bô-xít ở Trung Nguyên thì Trung Cộng đã đánh thẳng vào trái tim tổ quốc Việt Nam. Vì ai cũng rõ đây chính là địa điểm chiến lược quan trọng, coi như yết hầu của Việt Nam. Ông Ngô Đình Diệm từ những năm 1947 đến 1953 nhiều lần nhắc đến phần đất có tính chiến lược về mặt quân sự cũng như kinh tế này. Và sau khi lên cầm quyền ông đã luôn nhắc nhở, phải giữ cho bằng được Trung Nguyên, và ông đã chết hụt tại hội chợ Ban Mê Thuột năm 1957 cũng vì muốn tạo bức tường thành bằng người ở đó..
Vì thấy “yết hầu” bị đe doạ, các nhà trí thức nói trên đã “kiến nghị”, “thỉnh nguyện”, “phản biện”... hầu nhắc nhở hay làm áp lực với nhà cầm quyền CS phải cứng rắn hơn với Trung Cộng, phải hủy bỏ kế hoạch khai thác bô xít. Nhưng không có kết quả.
Tại hải ngoại trong vài năm nay, nhiều luật gia, chính khách đã lên tiếng đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa cho Việt Nam. Tuy rằng ai cũng biết đất nước ngày nay nằm trong tay Việt Cộng, đồng chí, đồng đảng với Trung Cộng. Cho nên nếu đòi được hai quần đảo đó cũng chỉ là đòi hộ cho VC mà thôi và đã dễ gì mà đòi được. Trước hết người đòi là cá nhân hay tập thể một cộng đồng, hay chính đảng người Việt ở hải ngỏai lấy tư cách pháp nhân gì theo quốc tế công pháp để đứng tên đòi, khi mình chưa đoàn kết được để thành một pháp nhân có uy tín và thẩm quyền. Liên Hiệp Quốc, hay một toà án quốc tế nào đó có coi một ông cựu bộ trưởng hay cựu thủ tướng VNCH trước đây còn uy tín hay thẩm quyền không?
Tuy nhiên làm là cứ phải làm để chứng tỏ lòng yêu nước, và ít nhất cũng cho người dân trong nước biết đến và so sánh: Tại sao kẻ quản lý đất nước lại không làm việc đó mà lại để cho kẻ đã mất nước phải đứng ra làm thay.
Trong năm nay nhiều tổ chức đảng phái quốc gia ở hải ngoại đã tích cực vận động các tổ chức nhân quyền, ân xá quốc tế, văn bút quốc tế, phóng viên không biên giới v.v... để họ can thiệp hay làm áp lực với VC trong nước hầu bênh vực cho các người đấu tranh cho dân chủ trong nước bị VC bắt giam, kết án, bỏ tù, hay cho những dân oan đi khiếu kiện vì bị cướp nhà, cướp đất. Nhưng kết quả chẳng được là bao. Ngay Linh mục Nguyễn Văn Lý hay nữ luật sư trẻ tuổi Lê Thị Công Nhân là những từ nhân lương tâm được cả thế giới biết đến, cũng không được VC phóng thích hay giảm án. Chẳng những thế, khi lâm trọng bệnh không được điều trị hay cung cấp thuốc men, cho nên đang sống dở chết dở. 37 nghị sĩ (tức trên một phần ba thượng viện) thuộc lưỡng đảng Mỹ đã chính thực can thiệp cho linh mục Lý. Vậy mà khi VC ân xá hàng ngàn tù nhân vào dịp “quốc khánh” mồng 2 tháng 9 vừa qua ông cũng không được thả.
Xem ra chính sách ngoại giao của những nước lớn như Hoa Kỳ không hứa hẹn gì cho cuộc vận động quốc tế cho nhân quyền tại Việt Nam nữa.
Những sự việc xảy ra tại Việt Nam ngày nay trước những vụ bắt bớ giam cần hàng loạt những nhà phản kháng đấu tranh cho dân chủ tự do khiến nhiều người không khỏi nhớ lại những vụ Cộng Sản đàn áp dã man các cuộc vùng dậy của nhân dân Ba Lan (Poznan 1956), Hung Gia Lợi (Budapest 1956) và Tiệp Khắc (Praha 1968) vào những thập niên 50, 60 thế kỷ trứoc. Và cả vụ Trung Cộng đàn áp dã man cuộc biểu tình đòi tự do của thanh niên sinh viên Trung Quốc tại quảng trường Thiên An Môn giữa năm 1989. Những cuộc đàn áp vô cùng dã man đó, khiến hàng vạn dân vô tội bị hy sinh, đã làm rung chuyển dư luận thế giới. Nhưng lúc ấy cũng chẳng có cường quốc nào trong thế giới tự do dám can thiệp để cứu các nạn nhân.
Cho nên mấy năm vừa qua phần đông các nhà lãnh đạo tinh thần các tôn giáo trong nước đã không dám khuyến khích giáo dân biểu tình để đòi công lý trong những vụ toà khâm sứ Hà Nội, các giáo xứ Thái Hà, Tam Toà. Loan Lý v.v....vì sợ con chiên bị đẩy vào chỗ chết mà sẽ chẳng ai can thiệp để cứu. Mặc dù như chúng ta đã thấy những cuộc gọi là “biểu tình” đó chỉ là những buổi cầu nguyện và hát thánh ca với đèn cầy cầm tay.
Tất cả những sự việc đó xảy ra cùng lúc với những vụ đàn áp, bắt bớ hàng loạt các người khác như Vũ Hùng, Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Mạnh Sơn, Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Hữu Tính, Nguyễn Kim Nhân, Ngô Quỳnh và Phạm Văn Trội, Trần Kim Anh, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung. Đó là chưa kể những “bloggers” có những cái tên ngộ nghĩnh như Điếu Cầy, Người Buôn Gió, Mẹ Nấm, v.v...
Theo rõi tình hình trong nứoc suốt hơn chục năm qua, quả thực phải công nhận nếu cứ chờ sự can thiệp của ngoại quốc để thay đổi thì chỉ là ảo mộng. Cho nên lần này, nhân thấy được mối nguy Việt Nam bị Trung Cộng thôn tính, nhiều tổ chức và đảng phái quốc gia ở hải ngoại muốn sát cánh với những người trong nước còn tâm huyết với dân tộc để cứu nguy đất nước. Có người còn lạc quan cho rằng lúc này đây đã là giai đoạn cuối của cuộc tranh đấu cho dân chủ tự do. Chỉ cần những người đứng ở hai bên chiến tuyến trước đây biết hoà giải vói nhau, xoá bỏ hận thù để cùng nhau vùng dậy cứu nước.
Tuy nhiên cũng rất nhiều người không lạc quan như vậy. Những người này không tin những lời “phản biện”, tuyên bố, kiến nghị.... của nhũng trí thức trong nước, hay của một vài bộ mặt trong hàng ngũ cán bộ cao cấp đã hết thời, hết lực, trong đó có tướng Giáp. Họ vẫn cho rằng những kẻ này phản tỉnh giả vờ, hay phản tỉnh vào giờ thứ 25.
Nhưng những người yêu nước thực sự sẽ không thể làm gì để thay đổi, nếu không xoá bỏ được hận thù do cuộc chiến kéo dài gây ra để có thể hoà giải với nhau và đoàn kết cùng nhau đối phó với kẻ thù phương Bắc.
Để giải quyết vấn để nan giải này, chúng tôi mạo muội đưa ra một đề nghị. Chúng ta hãy lấy lòng yêu nứoc thực sự của đại chúng ở trong cũng như ở ngoài nứoc làm nền tảng, coi đó như nguồn nước thanh tẩy. Mọi người hãy sám hối và tự thanh tẩy mọi di tích phản bội, yếu kém trong dĩ vãng trong nguồn nước trong ấy. Tất cả những ai đã sám hối và được thanh tẩy bởi lòng yêu nước chân chính, coi như đã được hoàn toàn đỗi mới, và khi đối diện với nhau sẽ chỉ thấy mọi người đều là anh em, “đồng chí”, đồng bào. Đó là khởi điểm của đoàn kết dân tộc, bước đầu trên con đường cứu nước đầy chông gai gian khổ có thể dài muôn dặm, mà chỉ có sự đoàn kết do lòng yêu nứoc mới hứa hẹn thành công.
Việc sám hối sẽ thực hiện ra sao và bắt đầu từ đâu?
Đây là vấn đề phức tạp nghiêu khê dễ gây tranh cãi. Chúng tôi sẽ cố trình bày một cách thành thực theo ý nghĩ chủ quan của mình, dù biết sẽ có nhiều người không đồng ý.
Trước hết xin trở lại từ đầu với các vị tiền bối đã nêu danh tánh ở đầu bài.
Các cụ Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, nhũng nhà ái quốc theo chủ nghĩa dân tộc, phi Cộng sản, đã từng giúp đỡ, che chở, bảo lãnh cho Hồ Chí Minh và những cán bộ nòng cốt của đảng CS sau này như Phạm Văn Đồng, Hoàng Van Hoan, Phùng Chí Kiên v.v....lại để cho Hồ Chí Minh xâm nhập và lợi dụng Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (gọi tắt là Việt Minh) và Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh (gọi tắt là Việt Cách). Nếu các vị đó còn sống chắc chắn sẽ hối hận lắm. Và ở dưới suối vàng có thể đang thành tâm hối lỗi, về sự sơ ý và “lòng tốt” của mình đã dành cho “bọn cướp nước”.
Giờ sám hối?
Nguồn: freewebs.com
Các lãnh tụ Việt Quốc, Việt Cách như các cụ Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, và nhất là Vũ Hồng Khanh...và một số đảng viên Đại Việt đã ngủa tay nhận 70 ghế đại biểu trong cái gọi là Quốc Hội đầu tiên của Hồ Chí Minh, và gia nhập chính phủ Liên Hiệp của Hó Chí Minh chắc ở dưới suối vàng cũng hối hận, vì mình đã tạo uy tín cho họ Hồ và đảng CS, để họ có được cái nhãn, cái chiêu bài dân tộc, mà lôi kéo toàn dân vào những cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt. Đặc biệt đáng nói là 70 ghế đại biểu đã được tặng không (không phải bầu bán gì cả) như một thứ quà hối lộ. Sự khờ dại của các vị đó đã tạo cớ cho CS phỉ báng những đảng yêu nứoc quốc gia, dám so sánh các lãnh tụ quốc gia đó với phân bón. (3)
Chúng tôi đã viết “nhất là cụ Vũ Hồng Khanh”, vì cụ còn mắc bẫy của HCM cùng ký với ông ta vào hiệp định sơ bộ 6-3-1946, mà sau này các đồng chí của cụ gọi là “hiệp định bán nước”, không khỏi cảm thấy mình “há miệng mắc quai”.
Về việc vua Bảo Đại và thủ tướng Trần Trọng Kim thoái vị và từ chức trong tháng 8 năm 1945, lúc ấy nhiều người coi đó là một cử chỉ sáng suốt của những công dân yêu nước. Nhưng ngày nay nhìn lại thì ai cũng chê là dại dột, không nắm vững tình hình, không biết người biết mình. Trong 2 cuốn hồi ký “Con Rồng Việt Nam” và “Một cơn Gió Bụi” sau này, hai ông đã hối hận thì đã quá muộn. Nhưng xem ra trong nội các Trần Trọng Kim hãy còn có những người như Giáo sư Hoàng Xuân Hãn (bộ trưởng Giáo Dục), đến cuối thế kỷ 20 hãy còn ca tụng “công lao dành độc lập” của Hồ Chí Minh. Không biết tác giả “Tự Điển Danh Từ Khoa Học” sẽ có tỉnh ngộ và hối hận không.
Chiến thắng Điện Biên của Cộng quân đưa đến việc chia đôi đất nước được nhiều người cho rằng đó là lỗi của tướng Pháp Navare không nắm vững địa hình địa vật và khả năng tiếp vận của địch. Có người lại trách Mỹ đã không chịu cho thực hiện kế hoạch Vulture để dùng không lực hùng hậu của mình (thậm chí cả bửu bối bom nguyên tử) tiếp cứu đồng minh v.v... Nhưng đó là vấn đè trách nhiệm của Đồng Minh. Khỏi bàn. Chúng ta hãy bàn về trách nhiệm và lỗi lầm của chúng ta.
Ai cũng biết quân ta lúc ấy rất yếu cả về quân số lẫn tiếp vận và chỉ huy. Nên phải trông cậy hỏan toàn vào quân Liên Hiệp Pháp. Quốc Trưởng Bảo Đại và các lãnh tụ Quốc Gia không tự mình chống đỡ được những cuộc tấn công của Cộng Quân được Liên Sô, Trung Cộng tiếp viện dồi dào về vũ khí và tuyên truyền. Nếu ngày nay còn sống chắc qúi vị ấy cũng hối hận là mình chưa cố gắng đủ. Nhất là những ai lúc ấy chỉ cố bám lấy sức mạnh quân sự của Pháp để tin rằng vũ khí vật chất mạnh hơn sức mạnh của ý chí, mưu lược và tuyên truyền. Vì Cộng quân đã chiến thắng phần lớn nhờ sự tuyên truyền rằng họ đánh Pháp và tố cáo các chính phủ của Bảo Đại chỉ là tay sai của Pháp. Nếu lúc ấy (1946-1948) tất cả các lãnh tụ đảng phái quốc gia và các chính khách độc lập yêu nước cùng đoàn kết với nhau để cùng quốc trưởng Bảo Đại tranh đấu với Pháp, đòi cho bằng được một nền độc lập hoàn toàn thì sẽ có cơ sở vững mạnh hơn để đánh sập chiêu bài “kháng chiến giành độc lập” của CS.
Từ khi chế độ Đệ Nhất Cộng Hoà được thành lập vào năm 1955, thì ta đã có một nửa nứoc hoàn toàn độc lập, không còn bóng quân Pháp thực dân. Cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của chủ quyền quốc gia Việt Nam bắt đầu tung bay trước Dinh Norodom, phủ toàn quyền của Pháp, dấu tích của gần một thế kỷ nô lệ, đã được cải danh là Dinh Độc Lập. Như vậy phe Quốc Gia đã có một bửu bối để lột mặt nạ chiêu bài dân tộc của phe Cộng. Nhưng một số tướng lãnh và vài chính đảng đã bị người Mỹ mua chuộc để phá sập toà nhà độc lập được xây dụng lên với bao công sức. Một chính quyền có cơ sở pháp lý vững vàng có uy tín trước quốc dân và trước cộng đồng quốc tế bỗng dưng tiêu tan, tạo ra một tình trạng vô chính phụ, hỗn loạn, trong đó “chính quyền trở thành thứ mà ai cũng cướp giật được”, như tổng thống Mỹ Richard Nixon đã nói về hậu quả của việc lật đổ ông Ngô Đình Diệm.
Friday, November 20, 2009
Ngày nhà giáo 20-11, nhớ cô giáo Hạnh.
2009-11-20
Ngày 20 tháng 11, trong khi học sinh hớn hở chuẩn bị thăm thầy cô giáo cùng với những chương trình đầy ắp yêu thương… thì đâu đó tại miền Trung, cũng có một cô giáo dạy văn rất giỏi, rất có lòng với học sinh trong suốt nhiều năm lại không hề được ai chính thức nhắc tới. Dù chỉ nhắc tới như một cái thở dài…
Kỹ niệm khó quên
Học sinh, với trí óc non nớt và chóng quên, có thể sẽ không hiểu giờ này cô giáo của mình ở đâu, làm gì..nhưng những người cùng trường với cô, trong đó có đồng nghiệp, cấp trên hay các nhà quản lý thì không thể nào quên hình ảnh cô giáo Hạnh.
Vóc người mảnh dẻ, tiếng nói dịu dàng cùng với mắt nhìn trung hậu. Cô đã bị buộc phải thôi việc vì khuyên học sinh của mình nên tìm thêm nguồn thông tin từ mạng Internet để bổ xung kiến thức khi học môn văn. Những trang Internet này có tên như Tiền Vệ, Talawas…chứa đầy các thông tin về văn học được nhìn từ nhiều phía. Thế nhưng không may, chúng bị đánh giá là phản động, là chống lại nhà nước…thế là cô giáo Hạnh bị buộc về vườn mặt dù kiến thức và tuổi tác của cô còn một quãng rất dài để đóng góp.
Cô giáo Hạnh có thể đang ngồi cô đơn đâu đó để nhớ học trò mình. Cô có thể thở dài và trên mí mắt lăn tròn vài hạt lệ cho học sinh thân yêu của cô. Cô nhớ chúng như chim nhớ tổ, như hạt mưa nhớ bờ ruộng mật. Nhưng cô không thể khóc vì quyết định của mình, một quyết định mà cô biết chắc sẽ dẫn học trò cô thật sự đến bến bờ tri thức.
"
Cô có thể thở dài và trên mí mắt lăn tròn vài hạt lệ cho học sinh thân yêu của cô. Cô nhớ chúng như chim nhớ tổ, như hạt mưa nhớ bờ ruộng mật. Nhưng cô không thể khóc vì quyết định của mình, một quyết định mà cô biết chắc sẽ dẫn học trò cô thật sự đến bến bờ tri thức.
Cô bị khai trừ ra khỏi hệ thống giáo dục bởi các dị ứng phản giáo dục. Giáo dục chân chính lặng lẽ thở dài qua quyết định khai trừ cô. Cô lặng lẽ ngồi đâu đó nghiền ngẫm về ngày nhà giáo cùng với ý nghĩa đích thực của nó.
Bên kia bờ đại dương, tôi lặng lẽ ngồi đánh cho cô những dòng này như một tri ân, hoài niệm về công sức lón lao của một người đã bị nhìn khác đi bởi những đôi mắt vô hồn, ghẻ lạnh.
Cô giáo Hạnh, giờ này cô đang làm gì vậy? Không biết phấn trắng có thấm hết những giòng lệ khô nhớ trường nhớ lớp của cô không nhưng tôi chắc rằng học trò cô không ai quên cô đâu. Họ chỉ ham chơi trong thời khắc của thuở thiếu thời nhưng mai mốt khi khôn lớn thì chính sự chịu đựng vô cùng lớn lao của cô sẽ là nguồn lực đẩy họ vào đời, và lúc ấy cô sẽ có rất nhiều ngày 20 tháng 11 đúng nghĩa hơn hằn các thầy cô giáo khác. Tôi tin như vậy, và cô ạ, đừng buồn….
Mặc Lâm. Ngày nhà giáo
Wednesday, November 18, 2009
Vai trò tôn giáo trong Cách mạng Nhung
Gửi cho BBCVietnamese.com từ Hoa Kỳ
Đã có một sự đồng thuận trong giới khoa bảng theo đó tôn giáo có vai trò đáng kể trong cao trào dân chủ hóa xảy ra khoảng từ năm 1975 và 1991.
Trong khoảng thời gian này, các nước chủ yếu tại châu Mỹ La Tinh và tại Đông và Trung Âu đã tự chuyển hóa từ thế chế độc tài chuyên chế hoặc từ thể chế cộng sản sang thể chế dân chủ. Xét đến vai trò của tôn giáo, thì đó chính là sự liên hệ của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo với các phong trào này cho dù là tôn giáo có ít tín đồ hay là đông đảo tín đồ.
Trong nhiều thí dụ, Ba Lan là trường hợp điển hình và Nam Phi là trường hợp ít người biết đến. Giáo hội Thiên Chúa Giáo có nhúng tay vào các biến cố dẫn đến sự chuyển hóa của Tiệp Khắc có thể giúp ta hiểu tình hình ở các nước mà sự truyền bá của Thiên Chúa Giáo đang gặp sóng gió.
Điều đáng chú ý trong trường hợp của nước Tiệp là về mặt lịch sử ngay cả sau khi trở thành "quốc giáo", Thiên Chúa Giáo cũng không được chấp nhận rộng rãi vì thông thường bị coi là có dính líu với một thế lực ngoại bang. Thiên Chúa Giáo liên kết chặt chẻ với nhà nước và là một nhân tố đưa đến sự suy tàn của Cơ Đốc Giáo một thời được coi là "quốc giáo".
Sự phát triển song hành giữa Giáo hội Thiên Chúa Giáo tại Tiệp Khắc với chính quyền thực ra tương tự các nước cộng sản khác như là Việt Nam, theo những cách mà thoạt nhìn qua tưởng chừng không rõ ràng.
Bối cảnh tại Tiệp Khắc
Được thành lập vào thế kỷ thứ Chín, Giáo hội Thiên Chúa Giáo lên tới đỉnh cao dưới sự trị vì của Vua Charles IV ( 1346-1378). Trong thời gian này, giáo chủ Cơ Đốc Giáo Jan Hus (1369-1415), một người chỉ truyền bá đạo này tại Czech mà thôi, đã lên án các sự lạm dụng của Giáo Hội và mối liên hệ thắm thiết của giáo hội này với các thế lực ngoại bang. Dưới sự lãnh đạo của ông, cộng đồng người theo Cơ Đốc Giáo chiếm đa số (85-90% dân số ) đã tổ chức Phong Trào Canh Tân Tiệp (Czech Reformation Movement) và nhiều người Thiên Chúa Giáo thậm chí đã bỏ giáo hội của họ để gia nhập vào một giáo hội khác có tên là Giáo Hội Dân Tộc Czech (Czech National Church) hay còn được gọi Đạo Hussite, được thành lập theo lời giảng dạy của giáo chủ Jan Hus.
Mặc dù giáo hội Thiên Chúa Giáo và giáo hội Cơ Đốc Giáo Czech chiếm đa số có ký hòa ước với nhau, nhưng các tín đồ của hai giáo hội này vẫn xung đột với nhau và đi đến một cuộc chiến quyết liệt với nhau gọi là trận đánh tại vùng Núi Trắng ( Battle of White Mountain) vào năm 1620. Trận đánh này đã đập tan phe Cơ Đốc Giáo và dưới triều đại Austrian Habsburg theo Thiên Chúa Giáo (1526-1918), đã có diễn ra một tiến trình nhằm "Thiên Chúa Giáo hóa" có bạo động nhằm thu phục nhân tâm của phe Cơ Đốc Giáo đa số. Các lãnh đạo của phe Cơ Đốc Giáo đã bị kết án tử hình vì bị cho là "tà ma ngoại đạo" và việc hành đạo là bất hợp pháp. Dưới sự cai trị của đế chế Habsburgs, giáo hội Thiên Chúa Giáo La Mã đã tăng lên 96.1%.
Tuy nhiên, người dân vì vẫn còn nhớ đến các vụ lạm quyền của giáo hội Thiên Chúa Giáo và vai trò của giáo hội này trong việc kết án ông Jan Hus, vốn được coi là anh hùng dân tộc, nên họ đã chế nhạo giáo hội Thiên Chúa Giáo như là có lập trường bài dân tộc.
Tuy nhiên, vai trò của giáo hội Thiên Chúa Giáo đã thay đổi sau Thế Chiến Thứ Nhất. Nước Czech đã được giải phóng khỏi sự cai trị của nước Áo, và các phiên tòa xử giáo hội Thiên Chúa Giáo bắt đầu.
Biến cố này đã được đánh dấu bởi việc phá bức tượng Đức Mẹ Đồng Trinh tại quảng trường chính của khu phố cổ thành phố Prague và số tín đồ đã giảm từ 96% xuống còn 71%. Vào năm 1939, toàn thể nước Czech bị Đức Quốc Xã tràn ngập. Quốc Xã đã bắt đầu tấn công trở lại vào giáo hội Thiên Chúa Giáo, và người Czech đã đoàn kết lại bất kể họ thuộc về tôn giáo nào và quay sang ủng hộ cả hai giáo hội vì cả hai đều chịu thống khổ dưới bàn tay cai trị của Quốc Xã.
Tình trạng đàn áp và xách nhiễu tôn giáo tiếp tục sau Thế Chiến Thứ Hai và dưới thời cai trị của Cộng Sản. Và cũng như trong bất cứ quốc gia cộng sản nào, thì sách lược của nhà nước có mục tiêu chia rẽ hoặc làm suy yếu đi Giáo Hội.
Luật 14 tháng 10 năm 1949 và Sắc lệnh số 219 đòi hỏi các linh mục và Giáo Hội phải ký một văn bản hứa chỉ thi hành nghĩa vụ tôn giáo của họ. Chỉ có các linh mục "yêu nước" được phép cử hành thánh lễ trong lúc các giáo điều cộng sản được quảng bá xuyên qua các đoàn thể tôn giáo như là Katolická acke (Catholic Action) và Pacem in Terris.
Để phản ứng lại, Giáo Hội đã khai trừ khỏi đạo các linh mục thuộc tổ chức Catholic Action vào tháng Sáu năm 1949.
Đức Tổng Giám Mục Josef Beran thành phố Prague đã lên án tổ chức Catholic Action trong một buổi thuyết giảng tại nhà thờ Thánh Vitus và Ngài đã bị quản thúc tại gia trong 14 năm trời.
Tình trạng sách nhiễu Giáo Hội vẫn tiếp tục và trước cuối tháng Giêng năm 1950, hàng giám mục đã cam kết trung thành với chế độ, và do đó, liên hệ ngoại giao giữa chính phủ Tiệp Khắc và Tòa Thánh Vatican đã bị cắt đứt.
Ban lãnh đạo Giáo Hội tiếp tục suy yếu dần sau khi Đức Tổng Giám Mục Beran bị buộc phải sống lưu vong hồi năm 1965.
Mặc dù người cộng sản đã cố nói lên các điểm khác biệt giữa Giáo Hội và xã hội Czech, thế nhưng sách lược muốn triệt hạ các hoạt động của Giáo Hội đã khiến cho xã hội một lần nữa có thiện cảm với Giáo Hội.
Đức Giáo Hoàng Paul VI, một người có lập trường không muốn đối đầu, đã tìm cách làm giảm bớt căng thẳng giữa Giáo Hội và chính phủ Tiệp Khắc. Người kế nhiệm Tổng giám mục Beran, linh mục František Tomášek đã lên tiếng phê phán sự tham dự của các tín đồ Thiên Chúa Giáo vào Hiến Chương 77, một tổ chức bảo vệ nhân quyền gồm các nhân vật đối kháng chính trị như ông Václav Havel và linh mục Václav Malý.
Giáo Hội Thiên Chúa Giáo từ đó chỉ lo việc chỉnh đốn nội bộ, như Tổng Giám Mục Tomášek đã chứng minh, chỉ làm suy yếu đi giáo hội tại Tiệp Khắc.
Chính vì muốn cộng tác với chính quyền bỏ mặc chuyện thế sự cho nên gần như là Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mã đã bị xóa sạch tại Tiệp Khắc.
Tiệp Khắc, một nước chủ yếu theo đạo Thiên Chúa trước đây, sau này đã được Dức Giáo Hoàng John Paul II mô tả như là "một tình trạng đau buồn không có tiền lệ tại các nước có truyền thống Thiên Chúa Giáo."
Tuy nhiên, lập trường của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mã tại Tiệp Khắc đã thay đổi sau khi một linh mục người Ba Lan tên là Karol Jósef Wojtyła được bầu làm Giáo Hoàng vào ngày 16 tháng 10 năm 1978 với tên thánh là John Paul II.
Khác với các vị tiền nhiệm, Giáo Hoàng John Paul II đã nếm mùi Quốc Xã và sau đó Cộng Sản. Lập trường của Giáo Hoàng John Paul II ủng hộ nhân quyền với tự do tôn giáo là là quyền đầu tiên của con người, đã đưa Giáo Hội Czech cuối cùng hòa giải được với tổ chức nhân quyền Hiến Chương 77.
Cũng như các linh mục có chân trong tổ chức thân chính quyền Catholic Action bị đuổi khỏi đạo, thì Tòa Thánh Vatican đã chỉ thị hồi năm 1982 cấm các linh mục được gia nhập vào tổ chức "quốc doanh" Pacem in Terris.
Mặc dù người cộng sản đã cố nói lên các điểm khác biệt giữa Giáo Hội và xã hội Czech, thế nhưng sách lược muốn triệt hạ các hoạt động của Giáo Hội đã khiến cho xã hội một lần nữa có thiện cảm với Giáo Hội, và không như chính quyền, Giáo Hội đã lắng nghe và lo lắng cho nguyện vọng của người dân.
Nhân quyền
Giáo Hội đã đóng vai trò phụ này một cách hiệu quả và thực sự cống hiến cho người dân những gì mà chính quyền cộng sản không làm được, trong lãnh vực nhân quyền.
Lãnh tụ Cách mạng Nhung, Vaclav Havel, xuất hiện ở buổi lễ hôm 17/11/2009
Vào đầu thập niên 1980, vì lo ngại đến tác dộng của phong trào Đoàn Kết tại Ba Lan và sự lớn mạnh của Giáo hội Thiên Chúa Giáo Ba Lan, chính quyền cộng sản Czech đã ra tay đàn áp, bắt bớ hàng trăm linh mục và các tín đồ.
Tình trạng đàn áp này chỉ làm người dân có thiện cảm càng lúc càng nhiều đối với Giáo Hội.
Hồi năm 1985, nhân kỷ niệm năm thứ 1100 ngày chết của thánh Methodius tức là vị tu sĩ đã du nhập Thiên Chúa Giáo vào đất Czech, có tới hơn 230 ngàn người đã tham dự lễ kỷ niệm này mà trong đó có tới 70% là thanh niên thiếu nữ.
Hồi năm 1988, có khoảng hơn 600 ngàn người kể cả người ngoại đạo, đã ký một bản kiến nghị gồm 31 điểm. Bản kiến nghị này, được một nông dân ngoan đoạn tên là Augustin Navrátil, soạn ra, đã kêu gọi tự do cho Giáo Hội tại Tiệp Khắc và đã giành được sự hậu thuẫn của Hồng Y Tomášek. Cùng năm, khoảng tám ngàn người đã xuống đường để cầu nguyện và đốt nến để phản đối các chính sách của nhà nước.
Cùng sánh bước với chương trình perestroika do lãnh tụ Liên Xô Mikhail Gorbachev đưa ra hồi năm 1987, và sự hậu thuẫn bên trong và bên ngoài Giáo Hội, bản kiến nghị của Navrátil đã kêu gọi nhà nước bớt hạn chế các hoạt động của Giáo Hội.
Trong lúc Giáo Hội Thiên Chúa Giáo không có cầm các phong trào phản đối vào ngày 17 tháng 11 năm 1989, rõ ràng Giáo Hội là điểm tựa tinh thần cho người dân mặc dù trong quá khứ, Giáo Hội có những lúc khó khăn với họ.
Vai trò tôn giáo
Giới học giả thấy rằng cho dù tại một số nước, Thiên Chúa Giáo không phải là tôn giáo của đa số người dân, nhưng sự hiện diện của một Giáo Hội Thiên Chúa Giáo tại các nước cộng sản, có thể là điểm tựa để phát triển nhân quyền. Trong lúc giới học giả cố tìm hiểu vai trò của tôn giáo tại các nước cộng sản còn lại trên quả địa cầu, thì ngày sụp đổ của chế độ cộng sản Liên Xô đã nhắc cho họ thấy được nhiều điểm tương đồng giữa hiện tại và quá khứ.
Trong trường hợp của nước Việt Nam chẳng hạn, giáo Hội Thiên Chúa Giáo được coi là tổ chức đi ngược lại quyền lợi của dân tộc, và giống như Tổng Giám Mục Beran, thì Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận cũng bị nhà nước buộc phải sống lưu vong.
Gần đây hơn, các cuộc phản đối có tính biểu tượng của người theo Thiên Chúa Giáo và những người không theo đạo này để chống lại tình trạng chính quyền chiếm đất của Giáo Hội cũ, rất giống như làn sóng phản đối hồi thập niên 1980 tại Đông và Trung Âu. Chúng ta cũng không ngạc nhiên là hồi năm 2006, các cựu thành viên của tổ chức Hiến Chương 77, trong số này có cựu tổng thống Czech ông Vaclav Havel và giám mục Vaclav Maly đã ký một bức thư ngỏ ủng hộ lời kêu gọi từ trong nước Việt Nam phải có tự do nhiều hơn.
Vaclav Havel đã từng viết "kinh nghiệm Czech là một thí dụ điển hình của nghệ thuật bất khả thi (art of the impossible)" và 20 năm sau, trường hợp của Czech và kinh nghiệm của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo tại nước này cho chúng ta thấy được những gì có thể xảy ra.
Tiến sĩ Chu Thiên Lan đang giảng dạy ở Occidental College, Hoa Kỳ. Bà nghiên cứu về chính trị và tôn giáo, đặc biệt là vai trò của Giáo hội Công giáo đối với thay đổi chính trị. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.
Tuesday, November 17, 2009
Monday, November 16, 2009
Vô trách nhiệm và vô cảm là do... "tình trạng biến đổi khí hậu"?
16.11.2009
Trước đây mấy năm tên tuổi của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải được nhắc đến rất nhiều, bởi ông Hoàng Trung Hải là Bộ Trưởng và là Phó Thủ tướng trẻ nhất của Việt Nam giai đoạn hiện nay. Ông Hải được dư luận đánh giá là một người còn trẻ, năng động và đặc biệt nhất là ông Hải là một trong số rất ít các nhà lãnh đạo chính quyền Việt Nam tốt nghiệp cao học tại Dublin Cộng hòa Ireland, là một nước tư bản phát triển và có nền chính trị tự do dân chủ lâu đời.
Ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải được cho là một nhân vật có xu hướng cải cách và cùng với ông Phó Thủ tướng Nguyễn Trọng Nhân là một trong hai nhân vật quan trọng của Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong nhiệm kỳ đầu tiên. Những nhân vật này được những người ủng hộ cải cách trong và ngoài nước hết sức kỳ vọng, tin tưởng và đánh giá cao vì họ là một trong những số ít của các nhà lãnh đạo Việt Nam được đào tạo tại các nước tự do dân chủ. Vì người ta tin rằng với khả năng nhận thức của họ sẽ ít nhiều đưa Việt Nam nhanh chóng hòa nhập vào xu thế phát triển chung của loài người tiến bộ
Vài ngày đầu tháng 11/2009, sau khi các cơn bão Ketsana và Mirinae đổ bộ vào các tỉnh miền Trung Việt Nam vào giữa tháng 10 và đầu tháng 11/2009, đã gây thiệt hại về tính mạng và tài sản của nhân dân vùng bão với hàng trăm người chết, nhiều nhà cửa và các công trình dân sinh bị hủy hoại nặng nề. Và đặc biệt hơn, đúng thời điểm đó các nhà máy thủy điện miền Trung đã đồng loạt xả lũ đúng lúc lũ lên cao. Sự kết hợp giữa thiên tai do bão gây ra kết hợp với nhân tai do sự yếu kém, thiếu khoa học và đồng bộ trong công tác quản lý đã khiến mức độ thiệt hại về người và của tăng lên rất lớn. Với vai trò là người trực tiếp chỉ đạo công tác phòng chống lụt bão, tên tuổi ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải lại một lần nữa được truyền thông nhắc tới nhiều qua cuộc phỏng vấn của ông Phó Thủ tướng hoàng Trung Hải với báo chí bên ngoài hành lang Quốc hội ngày 9/11/2009.(*)
Nội dung chính của cuộc trả lời phỏng vấn nói trên, ông Hoàng Trung Hải với cương vị là Phó Thủ tướng chính phủ đã phủ nhận toàn bộ lỗi của chính quyền và các nhà máy Thủy điện trong việc xả lũ gây thiệt hại về tính mạng tài sản của nhân dân, đồng thời đã đổ lỗi cho là do toàn "lũ lịch sử" và "tình trạng biến đổi khí hậu", nói một cách khác là đổ lỗi do Trời, đúng tinh thần khẩu hiệu "Mất mùa là tại thiên tai-Được mùa là tại thiên tài đảng ta" mà công cụ tuyên truyền của nhà nước đã sử dụng rất hữu hiệu hàng chục năm nay.
Nhưng không may cho ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, sự tổn thất quá lớn đó đã khiến cho ngay lập tức sau khi bài phỏng vấn của ông ta được truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng của nhà nước, dư luận xã hội đã có phản ứng mạnh mẽ vì thái độ vô trách nhiệm này. Các đại biểu Quốc hội, các nhà quản lý, các nhà khoa học và nhiều các chuyên gia trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề này đã lên tiếng phản bác các lập luận thiếu cơ sở khoa học và hết sức vô trách nhiệm của ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải. Họ đã chỉ rõ nguyên nhân gây ra thiệt hại về người và của lớn như vậy ngoài sự phá hoại của thiên tai còn có sự lãnh đạo, chỉ đạo chưa đồng nhất và thiếu khoa học của các cấp chính quyền và các nhà máy Thủy điện trong công việc điều tiết lũ. Xin ví dụ:
1. Ông Ngô văn Min đại biểu Quốc hội Tỉnh Quảng Nam đã có ý kiến:
"Thiết nghĩ, trước khi khẳng định lũ gây chết dân không phải do thủy điện, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải phải tiến hành kiểm tra lại, từ người dân và cán bộ địa phương xem họ nói thế nào, báo cáo của các nhà máy điện có đúng không. ...
Thực tế cho thấy thủy điện dưới 50MW thì phân cấp địa phương cấp phép. Các địa phương thời gian qua đều trải thảm đỏ, ưu đãi vượt quy định để thu hút vốn. ... Làm thủy điện giờ là lĩnh vực siêu lợi nhuận nên cần phải có kiểm tra, giám sát thường xuyên để tránh việc tính đến lợi ích của thủy điện nhiều hơn lợi ích của người dân."
2. Ông Nguyễn Đình Xuân Đại biểu Quốc hội Tây ninh đã gay gắt phát biểu:
"Trước khi bão vào trước 2 ngày người ta thường phải xả lũ xuống cao trình thấp.... người làm thủy điện lại suy nghĩ nhỡ tôi xả trước mà trời không mưa hay mưa ít thì sao?
...những người phát điện đã đặt lợi ích của mình lên trên nên hành động theo kiểu cứ đợi từ từ xem sao. Khi lũ ào ạt về thì họ thấy lợi ích của mình không an toàn, họ buộc phải xả. Không xả thì vỡ đập mà vỡ thì còn chết nhiều hơn...
...khi ta lấy 1.000 ha làm lòng hồ thuỷ điện thì chúng ta còn mất thêm 1 đến 2.000 ha đất rừng hay nông nghiệp ở thượng nguồn vì người dân không có chỗ thì họ lại lên trên đó. Như vậy rừng còn quá ít... theo tính toán ban đầu có thể với diện tích rừng như vậy thì phải 1.000 năm mới có một trận lũ như vậy, nhưng do rừng bị tàn phá quá nhanh và quá nhiều nên hồ thủy điện đó chỉ chịu được lũ 10 năm thôi. Như vậy tất cả các quy hoạch, tính toán ban đầu đã bị phá vỡ."
3.Ông Trần Nhơn Tiến sĩ-Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Thủy lợi đã phát biểu:
"Tôi cho rằng bất cứ một sự kiện gì diễn ra gây thiệt hại cho người dân thì phải xem xét lại toàn bộ những vấn đề của chúng ta.
Tôi không quan tâm đến việc có kiểm tra hay không mà tôi quan tâm đến việc quy trình đúng chưa. Nếu quy trình đúng rồi thì tôi chỉ cần nghe báo cáo chứ không cần kiểm tra thực tế. Vấn đề là quy trình đó chi tiết chưa, cụ thể chưa? Trước đây trên dòng sông đó có một hồ thủy điện thì quy trình thế này, anh chỉ tính cho một hồ thôi, giờ có 2-3 hồ thủy điện thì quy trình đã cập nhật chưa, cái trên xả thế nào, cái dưới xả ra sao, sự phối hợp thế nào?…
Tôi cho rằng quy trình vận hành các hồ thủy điện hiện nay chưa tốt, phải xem xét lại.
Cuối cùng vẫn là con người chứ không thể đổ hết cho khách quan. Dù là nguyên nhân khách quan thì con người cũng phải nhận thức được để có biện pháp phòng tránh."
4.Ông Hồ Ngọc Phú -Tiến sĩ-Nguyên Giám đốc Sở Thủy lợi Thừa Thiên – Huế đã vạch rõ:
"Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải và Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Hữu Hào đều khẳng định tất cả dự án thủy điện đều nằm trong quy hoạch và đều có ý kiến của các địa phương. Đúng là như vậy, nhưng vấn đề là chất lượng các quy hoạch ấy như thế nào. Với thủy điện vừa và nhỏ, thuộc thẩm quyền quyết định của các tỉnh, hầu hết đều giao cho các sở công thương, mà các sở này hầu như không có cán bộ chuyên về thủy điện – thủy lợi...
Các ý kiến của Phó Thủ tướng, Bộ Công thương và chủ các công trình thủy điện đều nói đến việc: phải xả lũ, nếu không thì vỡ đập còn nguy hiểm hơn. Tôi không hiểu vì sao các đập lại dễ vỡ như thế. Khi thiết kế hồ đập phải tính toán đến tần suất lũ kiểm tra, tức khả năng đập phải chịu được lũ 500-1.000 năm xảy ra một lần... ông Đào Xuân Học – thứ trưởng Bộ NN&PTNT, phó thường trực Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão trung ương – lại xác nhận một thực tế là khi xây dựng, các đơn vị thường sợ tốn tiền, sợ đầu tư lớn nên không xây thêm hồ phòng lũ (theo Tuổi Trẻ 10-10)"
5.Ông Trần Văn Sáp -Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Khí tượng thủy văn quốc gia đã thú nhận:
"Hiện chỉ có các nhà máy thủy điện ở phía Bắc như Hòa Bình, Tuyên Quang, Sơn La và Nhà máy thủy điện Ialy (Tây nguyên) có sự hợp tác với Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn trung ương để nhận các bản tin dự báo lũ. Ở miền Trung chưa có nơi nào hợp tác...
Trong đợt lũ vừa rồi, Đài khí tượng thủy văn Nam Trung bộ phải cử người sang tận các ban chỉ huy phòng chống lụt bão tỉnh đề nghị khi nào có thông tin xả lũ thì cung cấp nhưng không phải lúc nào cũng được cung cấp. Do không có thông tin xả lũ đầy đủ từ các nhà máy thủy điện khiến dự báo thủy văn sai, không thể thông báo đúng tình hình ngập lụt ở hạ lưu."
Ông Phó TT Hoàng Trung Hải vô cảm trước cảnh tượng này?
Những người trong cuộc và những người có trách nhiệm họ đã vạch rõ cho thấy những thiếu sót, những khuyết điểm của công tác chỉ đạo và quản lý trong lĩnh vực này như thế. Vậy xin hỏi tại sao ông Hoàng Trung Hải với cương vị là Phó Thủ tướng được giao chịu trách nhiệm chính mảng công tác này lại không biết những điều đó? Và đặc biệt hơn, với cương vị là Phó Thủ tướng phụ trách công tác này ông ta đã thản nhiên chối bay chối biến như vậy với động cơ gì?
Cần lưu ý rằng, các trích dẫn phát biểu trên đây toàn là của các đảng viên đảng CSVN, đã từng đã và đang đảm nhận các chức vụ quan trọng liên quan đến vấn đề trên. Dẫu cho rằng những vị kể trên họ có muốn bao che hoặc ủng hộ ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải theo đúng 11 điều cấm với đảng viên đi chăng nữa thì cũng ngoài sự cho phép của lương tâm họ và các cơ sở của thực tế khoa học khách quan.
Qua thái độ và những câu trả lời của ông Hoàng Trung Hải với báo chí ngày 9/11/2009 thể hiện sự vô trách nhiệm của ông ta với công việc được đảm trách, đồng thời cũng thể hiện sự vô trách nhiệm với sự mất mát của gia đình thân nhân của những người thiệt mạng và mất mát tài sản, kiểu "sống chết mặc bay".
Điều đáng nói ở đây là tuy ông Hoàng Trung Hải là một lãnh đạo cao cấp của chính quyền, được đào tạo cấp đại học trong nước và theo học Cao học tại Cộng hòa Ireland là một quốc gia dân chủ tự do. Một điều chắc chắn rằng, trong thời gian học tập ở đây ít nhiều ông Hoàng Trung Hải cũng thu thập được những thông tin về cách thức và hoạt động chính trị của các chính khách ở Cộng hòa Ireland cho vốn kiến thức của mình. Chắc chắn ông Hoàng Trung Hải phải biết rằng người làm chính trị như mình phải hết sức cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói của mình với báo giới, nhất là ở cương vị một Phó Thủ tướng của đảng cầm quyền.
Trong một xã hộ dân làm chủ, người dân được tự do ứng cử, bầu cử một cách công khai minh bạch và công bằng, nếu ông Hoàng Trung Hải là ở cương vị Phó Thủ tướng đảng cầm quyền có những phát ngôn thiếu thận trọng để thể hiện sự vô trách nhiệm của mình đối với nhân dân như trên, thì chắc chắn những cử tri như tôi sẽ không bao giờ dành phiếu bầu của mình để ủng hộ đảng của những kẻ vô trách nhiệm như ông Hoàng Trung Hải, làm đảng cầm quyền trong kỳ bầu cử tới. Như vậy chỉ có thể giải thích được rằng ông Hoàng Trung Hải đã ỷ thế vào đảng CSVN được đặc quyền độc chiếm chính trường, độc đảng không có các đảng phái chính trị khác cạnh tranh nên ông ta được quyền phát biểu văng mạng nhằm chối bỏ những thiếu sót trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo cấp dưới trong phạm vi công việc ông ta phụ trách.
Chắc vì là một người còn trẻ, thông minh và năng động như ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải mới có khả năng nghĩ ra cách đổ tại Trời để chối bỏ trách nhiệm thông qua cụm từ "tình trạng biến đổi khí hậu" để biến báo. Chỉ trong một trong số những câu hỏi của phóng viên báo chí phỏng vấn về vấn đề này, đã có không ít hơn 6 lần ông Phó Thủ tướng dùng cụm từ "tình trạng biến đổi khí hậu" này. Xin trích dẫn:
(Trích)Hỏi:- Thiệt hại do lũ vừa qua rất nặng nề, ngoài nguyên nhân khách quan, chúng ta rút ra được bài học gì?
Trả lời- Thứ nhất là nhận thức của người dân. Việt Nam là một trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nhất của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, lũ lụt càng trầm trọng hơn. Nhận thức của người dân là phải luôn cảnh giác, bão lũ không còn theo quy luật mà luôn luôn có bất thường.
Thứ hai, dự báo của chúng ta không thể chính xác 100%, do thiếu phương tiện công cụ dự báo, biến đổi khí hậu khó lường và mạng lưới trạm quan trắc không đầy đủ. Bây giờ mưa lũ cục bộ phổ biến do biến đổi khí hậu, tức là trong một tỉnh chỉ có một huyện, trong một huyện chỉ có một xã có mưa lớn lịch sử. Bằng các trạm quan trắc dày thì ta mới phát hiện ra.
Thứ ba, là biến đổi khí hậu làm cực đoan hóa các hiện tượng thời tiết. Trước đây mưa sau bão người ta gọi là mưa rửa bùn, mưa rửa đền, tức là mưa nhỏ, nhưng bây giờ mưa sau bão đều gây chết người. Mưa sau và trước bão đều vô cùng lớn, tạo nên các số liệu lịch sử. Ngày xưa ta lo nhất là bão, nhưng giờ là lo lũ. Đấy là điểm cực đoan mà mình phải hết sức cảnh giác. Mình chỉ nói được rằng sau bão mưa to, rất to, chứ không nói được mưa sau bão lên đến 800-900 mm.
Cả tỉnh Ninh Thuận một năm mưa có 900 mm, nhưng chỉ có vài ngày mưa đã đạt tới lượng đó thì không có gì chịu được. Chính phủ phải cùng các nhà khoa học nghiên cứu, xây dựng kịch bản, chương trình hành động để đối phó với biến đổi khí hậu.(Hết trích)
Đúng là sự thông minh của ông Hoàng Trung Hải đã được ghi nhận bởi khi ông dùng cụm từ "tình trạng biến đổi khí hậu" đã trở thành một công cụ hiệu quả cho những kẻ vô trách nhiệm, dối trá và vô lương tâm trong xã hội chúng ta hôm nay. Với vũ khí này thì từ nay, bất kể khuyết điểm gì của lãnh đạo cũng dễ dàng bị biến từ tội thành công với lời biện minh rằng do "tình trạng biến đổi khí hậu", đồng thời cá nhân các quan lãnh đạo thì luôn vô tội, mãi mãi luôn luôn đúng và không ai chịu trách nhiệm cả.
Chuyện thiên tai, lũ lụt là chuyện của tự nhiên, con người luôn bị động và luôn ở vị thế phòng chống, nếu công tác phòng chống có hiệu quả thì khả năng thiệt hại về người và của sẽ giảm bớt tùy theo khả năng quản lý, theo dõi và giám sát của các cấp lãnh đạo. Chuyện thiệt hại của hai con bão Ketsana và Mirinae làm hàng trăm người chết cũng đã xảy ra rồi, chuyện ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải có nhận khuyết điểm của mình trong công tác quản lý và điều hành công việc cũng không làm cho người chết sống lại, nhà ở và các công trình dân sinh bị thiệt hại trở lại như cũ. Nhưng dù vậy đi chăng nữa điều quan trọng ở đây bản thân ông Hoàng Trung Hải và các cơ quan ban ngành khác phải nghiêm khắc kiểm điểm để biết nhận ra những thiếu sót và coi đây là những bài học xương máu để rút kinh nghiệm cho vấn để xử lý chỉ đạo công việc trong tương lai.
Chuyện lãnh đạo như ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải dẫu sai hay đúng đi chăng nữa thì các ông hay đồng chí của các ông vẫn ngồi yên vị ở cái ghế đó, có ai tranh được đâu chỉ có kẻ thiệt mạng và gia đình họ phải gánh chịu hậu quả.
Chắc kiểu này cứ kéo dài thì đời chúng ta, đời con cháu của chúng ta ngoài tai họa của thiên tai đưa lại nay lại phải hứng chịu thêm họa "nhân tai" bởi cách làm việc thiếu trách nhiệm của những người lãnh đạo chính quyền các cấp và các ngành. Thôi cũng cứ thế mà cam chịu cho những kẻ vô trách nhiệm, vô lương tâm cai trị bởi họ có thứ vũ khí hữu hiệu "tình trạng biến đổi của khí hậu", với cái này thì bọn họ mãi mãi luôn luôn đúng.
Trước đây mọi người tin tưởng và kỳ vọng với ông Hoàng Trung Hải, bởi nghĩ rằng một người trẻ có năng lực như ông ta được học mãi xứ Dublin Cộng hòa Ireland chắc là ông học hỏi được nhiều điều hay lẽ phải, nhưng qua việc trả lời với báo chí lần này của ông ta thì ai cũng thất vọng về sự kém hiểu biết và vô trách nhiệm với cương vị của một vị Phó Thủ tướng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hay chính là vì trước đây khi học hành ở Dublin-Ireland là một xứ lạnh lẽo, nơi mà mưa và sương mù quanh năm, nay về làm Phó Thủ tướng ở Việt Nam là một xứ nhiệt đới nóng ẩm.
Chắc là do "tình trạng biến đổi khí hậu" như thế đã làm ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải trở nên một con người vô cảm và vô trách nhiệm như vậy?
----------------------
(*)http://www.vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2009/11/3BA15728/Phó thủ tướng: 'Thủy điện không xả lũ làm chết dân'
-Xem thêm : Thuỷ Điện ở ta có biết ăn thịt người?
http://conlac.multiply.com/journal/item/432
Nguồn: Kami blog
Sunday, November 15, 2009
Hải Đoàn TQ 17 Tàu Vào Huế, Bị Đẩy Ra Vài Ngày Sau Khi Tàu Chiến Mỹ Tới Đà Nẵng..
Trích Vietbao Online
HUẾ (VB) -- Sóng gió Biển Đông khởi dậy vì đàn anh Trung Quốc nổi giận, sau khi chiến hạm Mỹ vào thăm Đà Nẵng.
Chỉ vài ngày sau khi Trung Tá Hải Quân Lê Bá Hùng chỉ huy chiến hạm Mỹ USS Lassen vào Đà Nẵng hôm Thứ Bảy 7-11-2009, một hải đoàn Trung Quốc hôm Thứ Ba 10-11-2009 cũng tiến vào vùng biển gần đó ở biển Thuận An kế bên để ngang nhiên vơ vét cá. Vùng biển Thuận An ở Huế, và Hội An ở Đà Nẵng chỉ cách vài chục cây số và cùng nhìn ra đaỏ Hoàng Sa, nơi trước kia thuộc chủ quyền VNCH nhưng đã bị hải quân Trung Quốc đánh chiếm từ năm 1974.
Bản tin trên báo Thanh Niên nhan đề “Đuổi 17 tàu cá Trung Quốc” số báo ngày 12-11-2009 đã ghi nhận:
“Vào lúc 9 giờ ngày 10.11, Bộ đội Biên phòng tỉnh Thừa Thiên-Huế nhận được thông tin tại tọa độ 16 độ 58 phút độ vĩ bắc -107 độ 45 phút độ kinh đông, cách bờ biển Thuận An 24 hải lý về hướng đông bắc có 17 tàu đánh cá Trung Quốc đang xâm phạm vùng biển VN đánh bắt trộm hải sản.
Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Thừa Thiên-Huế chỉ đạo Hải đội 2 xuất kích 2 biên đội tàu tuần tra BP-31-11-01 và BP-31-12-01, do Phó tham mưu trưởng trực tiếp chỉ huy, đẩy đuổi tàu thuyền nước ngoài xâm phạm chủ quyền vùng biển của Tổ quốc.
Sau 2 tiếng xuất kích, tàu tuần tra của Hải đội 2 Bộ đội Biên phòng tỉnh đã tổ chức đẩy đuổi 16 tàu cá của Trung Quốc ra khỏi vùng biển VN, đồng thời bắt giữ 1 tàu mang số hiệu 14062 với 13 ngư dân đều mang quốc tịch Trung Quốc vì đã có hành vi xâm phạm chủ quyền vùng biển VN.
Sau khi bắt giữ, thuyền trưởng cũng như toàn thể ngư dân trên tàu 14062 đã thành khẩn khai nhận hành vi xâm phạm chủ quyền vùng biển VN để đánh bắt trộm hải sản. Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh quyết định phạt cảnh cáo và phóng thích phương tiện cùng các ngư dân Trung Quốc ra khỏi vùng biển VN.
Được biết, gần đây nhiều tàu cá của ngư dân Trung Quốc đã có hành vi xâm phạm trái phép vùng biển VN để đánh bắt trộm hải sản. Những trường hợp này, sau khi phát hiện và bắt giữ lực lượng biên phòng đều giải thích và phóng thích tàu thuyền cùng người vi phạm ra khỏi vùng biển VN. Không ít trường hợp, lực lượng biên phòng còn giúp đỡ, hỗ trợ ngư dân Trung Quốc để họ ra khỏi vùng biển chủ quyền VN một cách an toàn.”
Bản tin tương tự cũng đăng trên báo Người Lao Động. Điều ghi nhận rằng trong khi ngư dân Việt Nam gặp bão phải tấp vào đảo Hoàng Sa trú nấp, đã bị hải quân TQ đánh đập, cướp bóc và giam cho tới khi gia đình nộp tiền phạt mới thả.
Hành vi của Biên Phòng Thừa Thiên Huế là “đẩy đuổi, bắt giữ, cảnh cáo, phóng thích” thực ra là quá nhẹ.
Trong khi đó, ngư dân VN đi lạc sang biển Thái Lan, biển Indonesia đều bị bắt giam vài tháng cho biết sợ rồi mới thả. Như thế, có phải nhà nước CSVN đang khuyến khích taù cá Trung Quốc tiếp tục vi phạm vùng biển VN khi chỉ “đẩy đuổi, cảnh cáo”?
Đặc biệt, khi TQ đưa hạm đội 17 tàu cá vào VN nên hiểu là hành vi cảnh cáo chính phủ Hà Nội, vì đúng vào ngày 10-11-2009 cũng là ngày Phó Trưởng ban Tuyên giáo TƯ Phạm Văn Linh họp báo ở Hà Nội loan báo rằng VN đã bày tỏ cứng rắn, trình hồs ơ khiếu kiện lên LHQ để đòi TQ trao trả Hoàng Sa và Trường Sa cho VN. Bản tin báo VietnamNet hôm Thứ Ba 10-11-2009 viết:
“Bác bỏ yêu sách đường 'chín đoạn' trên Biển Đông của TQ
Phái đoàn Việt Nam tại LHQ bác bỏ yêu sách đường "chín đoạn" của Trung Quốc, coi đây là yêu sách phi lý, không có cơ sở pháp lý, lịch sử và thực tiễn.
Chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo trên biển Đông, đặc biệt 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tiếp tục được nhắc lại tại Hội nghị tuyên truyền biển, đảo và phân giới, cắm mốc do Ban Tuyên giáo TƯ tổ chức ngày 10/11 tại Hà Nội.
Dưới sự chủ trì của Phó Trưởng ban Tuyên giáo TƯ Phạm Văn Linh, các đại biểu trao đổi những nội dung cơ bản, phổ thông về biển, đảo như luật biển quốc tế và hệ thống pháp luật về biển, đảo Việt Nam, các cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo trên Biển Đông, đặc biệt hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa...(...)
...Phái đoàn Việt Nam tại LHQ đã gửi công hàm phản đối công hàm của phía Trung Quốc, khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bác bỏ yêu sách đường "chín đoạn", coi đây là yêu sách phi lý, không có cơ sở pháp lý, lịch sử và thực tiễn.”
Cũng nên nhắc rằng, đài BBC loan tin rằng, trích:
“...Quốc hội Việt Nam hiện đang họp tại Hà Nội theo kế hoạch sẽ thông qua Luật về Dân quân Tự vệ, trong đó có điểm nói về phát triển lực lượng dân quân, tự vệ biển, "làm nòng cốt bảo vệ người dân trên biển".
Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội, ông Lê Quang Bình, được báo chí trích lời nói theo đề cương, "dân quân biển được tổ chức ở các xã ven biển, các xã đảo; còn tự vệ biển được tổ chức ở các doanh nghiệp, đơn vị kinh tế hoạt động trên biển như các hợp tác xã đánh cá, đơn vị vận tải trên biển".
Tuy nhiên đã có nhiều ý kiến phản biện về việc trang bị vũ khí cho dân quân biển, cho đây là hành động "nguy hiểm" đối với tính mạng của ngư dân...”
Hành vi TQ đưa hạm đội 17 tàu cá vào biển Thuận An thấý rõ là bày tỏ bất bình về việc tàu chiến Mỹ vào Đà Nẵng, và có thể hiểu là đàn anh TQ khẳng định rằng vùng biển (Thuận An, Hội An) quanh đảo Hoàng Sa là chủ quyền của TQ.
Biển Đông có vẻ khó bình yên.
Friday, November 13, 2009
Luật giang hồ trên Biển Đông
2009-11-12
Sự kiện Hạ viện Indonesia sửa đổi Luật Thủy Sản, cho phép tàu tuần tra được bắn và đánh chìm tàu cá nước ngòai đánh bắt hải sản trái phép trong vùng biển của Indonesia, đã gặp phải phản ứng của một số quốc gia trong khu vực.
Hải quân Indonesia di chuyển theo đội hình trong buổi tập dợt
Tuy nhiên, hành động của chính phủ Indonesia mặt khác cho thấy sự cứng rắn, không khoan nhượng của nước này trong việc bảo vệ quyền lợi, chủ quyền của mình trên Biển Đông.
Khánh An tìm hiểu và so sánh phản ứng của một số nước trong khu vực và Việt Nam trong vấn đề khẳng định chủ quyền của mình.
"Chỉ một tuần trước khi Bộ luật sửa đổi của Indonesia được thông qua, tàu chiến của Indonesia đã nã đạn vào một tàu đánh cá Trung Quốc, khiến cho một thủy thủ chết và hai người khác trên tàu bị thương.
Bài học về tinh thần dân tộc
Có thể nói, Indonesia và Philippines là hai nước ít nhượng bộ Trung Quốc nhất trong vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông.
Chỉ một tuần trước khi Bộ luật sửa đổi của Indonesia được thông qua, tàu chiến của Indonesia đã nã đạn vào một tàu đánh cá Trung Quốc, khiến cho một thủy thủ chết và hai người khác trên tàu bị thương. Trước đó không lâu, đã xảy ra vụ bắt giữ ngư dân Trung Quốc lớn nhất từ trước đến giờ từ phía chính phủ Indonesia, với 8 tàu đánh cả và 75 ngư dân, khiến cho chính quyền Bắc Kinh phải chính thức lên tiếng đòi trả tự do cho những ngư dân này. Phía Indonesia khẳng định các tàu này họat động trong khu đặc quyền kinh tế của Indonesia trên Biển Đông trong khi Trung Quốc liên tục bảo rằng đó là “khu vực đánh cá truyền thống” của nước này. Ngay sau khi vụ bắt giữ xảy ra, phía Trung Quốc đã lập tức tổ chức họp báo bác bỏ những tin tức mà phía Indonesia đưa ra, đồng thời gửi kháng thư khẩn cấp đến chính phủ Indonesia. Phát ngôn viên Bộ Ngọai giao Trung Quốc lên tiếng rằng “chúng tôi rất không hài lòng với chính quyền Indonesia” và “đòi hỏi chính quyền Indonesia thả ngay lập tức các ngư phủ và trả lại các thuyền đánh cá”.
"Trước đó không lâu, đã xảy ra vụ bắt giữ ngư dân Trung Quốc lớn nhất từ trước đến giờ từ phía chính phủ Indonesia, với 8 tàu đánh cả và 75 ngư dân,
Trong khi đó, ở cùng thời điểm, 37 ngư dân của Việt Nam lại bị phía Trung Quốc bắt giữ khi đang đánh cá ở khu vực biển thuộc quần đảo Hòang Sa của Việt Nam, nhưng phía Bộ Ngọai giao Việt Nam chỉ gửi công hàm “yêu cầu phía Trung Quốc thả ngay các ngư dân và các tàu cá” sau khi có rất nhiều phản ánh từ phía các cơ quan truyền thông và người dân trong ngòai nước.
Chính phủ Việt Nam luôn khẳng định chủ trương giải quyết các bất đồng thông qua thương lượng hòa bình. Tuy nhiên, thái độ và phản ứng của chính phủ Việt Nam trong nhiều tình huống đã không mang lại hiệu quả thực tế. Ông Dương Văn Thọ, chủ tàu đánh cá mang số hiệu QNg 6597 TS, có lần cho phóng viên Trân Văn biết:
“Tôi thường gặp Hồng Kông, Đài Loan hay Nhật Bản cũng đều làm ở quần đảo Hoàng Sa nhưng mà mình chưa nghe bắt các nước ấy. Bắt Việt Nam không à! Nó lạ kỳ!”
Việt Nam nhượng bộ đến mức độ khó hiểu
Giáo sư Ngô Vĩnh Long chuyên về các vấn đề Á Châu tại Đại Học Maine (Hoa Kỳ) khi trả lời phỏng vấn với biên tập viên Thanh Quang, đã nhận xét rằng những “yêu cầu”, “đề nghị” của Việt Nam đối với những hành động lấn lướt của Trung Quốc là không thích hợp. Ông nói:
“Đây là cơ hội rất tốt cho Việt Nam để đem vấn đề này ra trước công luận thế giới, trước Liên Hiệp Quốc, mà bây giờ Việt Nam đang là thành viên của Hội Đồng Bảo An, cho nên nếu Việt Nam đưa vấn đề này ra thế giới thì Trung Quốc sẽ bị kẹt. Đây là một cơ hội để Việt Nam phản công, vậy mà Hà Nội lại phản ứng bằng cách đề nghị Trung Quốc đừng bắt ngư dân, đề nghị thế này đề nghị thế kia, mà là những đề nghị không ra gì cả.”
"
Chính phủ Việt Nam luôn khẳng định chủ trương giải quyết các bất đồng thông qua thương lượng hòa bình. Tuy nhiên, thái độ và phản ứng của chính phủ Việt Nam trong nhiều tình huống đã không mang lại hiệu quả thực tế.
Ngay trong vụ Trung Quốc tự ý ra lệnh cấm đánh bắt cá ngay trong vùng lãnh hải của Việt Nam từ thời điểm 16/5 đến 1/8 vừa qua cũng khiến cho dư luận phẫn nộ, nhất là sau khi phía Trung Quốc bác bỏ đề nghị của Việt Nam muốn Trung Quốc bãi bỏ lệnh cấm đánh bắt cá hằng năm. Người phát ngôn của Bộ Ngọai giao Trung Quốc, ông Tần Cương, còn thẳng thắn tuyên bố đây là vấn đề “không thể tranh cãi”. Sự kiện này khiến giới quan sát nhắc lại một tình huống tương tự xảy ra cách đây 10 năm đối với Philippines. Khi đó, Trung Quốc cũng ra lệnh cấm ngư dân Philippines đánh bắt cá trên Biển Đông trong vòng 2 tháng.
Ngay lập tức, chính phủ Philippines đã lên tiếng phản đối và nói rằng lệnh cấm hòan toàn không có hiệu lực đối với ngư dân Philippines. Bộ trưởng quốc phòng Philippines lúc đó đã nhấn mạnh rằng “chúng tôi đang đánh bắt cá trong vùng lãnh hải của chúng tôi. Họ (Trung Quốc) mới chính là người xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi”.
Riêng về vấn đề tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa trong thời gian gần đây, Philippines luôn tỏ một thái độ khá cứng rắn đối với Trung Quốc và các quốc gia liên quan. Nước này đã thông qua một đạo luật khẳng định chủ quyền một phần thuộc Trường Sa vào hồi tháng 3. Sau đó, Philippines liên tục đầu tư nâng cấp các cơ sở hạ tầng quân sự trên 9 đảo thuộc Trường Sa mà nước này chiếm đóng, trong đó bao gồm cả việc xây dựng một sân bay quân sự.
"Trung Quốc tự ý ra lệnh cấm đánh bắt cá ngay trong vùng lãnh hải của Việt Nam từ thời điểm 16/5 đến 1/8 vừa qua cũng khiến cho dư luận phẫn nộ, nhất là sau khi phía Trung Quốc bác bỏ đề nghị của Việt Nam .Phát ngôn của Bộ Ngọai giao Trung Quốc, ông Tần Cương, còn thẳng thắn tuyên bố đây là vấn đề “không thể tranh cãi”
Trong lịch sử, Philippines cũng có nhiều “thành tích” trong việc đuổi bắt tàu cá Trung Quốc, thậm chí theo lời của các quan chức Trung Quốc, Philippines đã tấn công và đâm vào tàu ngư dân Trung Quốc. Tuy nhiên, các quan chức Philippines luôn quả quyết đó chỉ là tai nạn và tai nạn ấy sẽ không xảy ra nếu các ngư dân Trung Quốc không xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.
Âm mưu bá chủ của Trung Quốc
Tờ “Nhật báo Đông Á” của Hàn Quốc nhận định, các tàu đánh cá Trung Quốc đang “càn quét” tất cả các vùng biển, gây ra tranh chấp khu vực và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên biển.
Việt Nam là một trong những nạn nhân đầu tiên cho tham vọng Trung Quốc chỉ vì cái “thế” địa chính trị của mình. Chính vì vậy, nhận định về những đối pháp mà Việt Nam có thể làm để giải quyết tranh chấp Biển Đông, Giáo sư Ngô Vĩnh Long cho rằng:
“Bây giờ nếu Việt Nam không khéo thì như tôi đã nói nhiều lần, Việt Nam cũng giống như một tuýp thuốc đánh răng, Trung Quốc sẽ ép từ biên giới phía Bắc xuống, Biển Đông sang, nó bóp Việt Nam bây giờ anh có phọt ra Phú Quốc thì nó cũng không tha, giống như là nó ép Tưởng Giới Thách ngày xưa chạy ra Đài Loan rồi bây giờ nó cũng không tha, thành ra Đài Loan phải nhờ cậy mấy nước khác mới có thể giữ được.
An ninh Biển Đông là an ninh cho cả khu vực Đông Nam Á, vì thế phần lớn những nước trong khu vực đối với họ an ninh trên Biển Đông là vấn đề rất quan trọng. Nếu Việt Nam biết kéo sự đồng tình của các nước trong khu vực và ngoài khu vực như Mỹ và các nước khác, thì có thể không những bảo đảm vấn đề an ninh Biển Đông mà bảo đảm cả tương lai của đất nước việt Nam.”
Trở lại với sự kiện Indonesia sửa đổi Bộ Luật Thủy sản, mặc dù đây là một đạo luật gây nhiều phản ứng mạnh mẽ từ các quốc gia láng giềng nhưng xét về một khía cạnh nào đó, nó là một hành động tiêu biểu cho thấy câu trả lời rõ ràng, dứt khoát của nước này trước những hành vi xâm lăng của kẻ xâm phạm.
Wednesday, November 11, 2009
Tiếng nói từ Mộ Đức
Tưởng niệm 50 năm ngày ông Phạm Văn Đồng ký công hàm công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Trung Quốc.
Tôi xin tự giới thiệu: Tôi là một công dân sinh ra và lớn lên trên quê hương Mộ Đức của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, được đào tạo liên tục từ tiểu học lên đại học một cách chính quy dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Về mặt gia đình tôi gọi ông Đồng bằng ông. Do nhà gần và có quan hệ nhất định nên trong gia đình tôi có người cũng theo ông Đồng rồi bị Pháp bắt và sát hại từ những năm 1930.
Tôi không có ý khoe khoang nhưng tôi muốn nói rằng không có lý do gì mà bản thân tôi lại không tự hào và kính trọng ông Phạm Văn Đồng.
Đúng là thế hệ chúng tôi đã từng rất tự hào là quê hương đã sinh ra một người con ưu tú. Một sự tự hào đã được giáo dục để trở thành “bản năng”, như là một “phản xạ không điều kiện”, mà trong tất cả các bài tập làm văn chúng tôi đều phải có những câu đại loại: “tự hào là một học sinh dưới mái trường XHCN, tự hào được sống trong thời đại Hồ Chí Minh, tự hào quê hương đã sinh ra Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”, vân vân và vân vân.
Nhận thức về sự kính trọng và tự hào cũng được đúc ra từ những khuôn mẫu có sẵn nhưng rồi cũng đến lúc chúng tôi cần tìm hiểu về những gì mình đã từng tự hào kính trọng. Chẳng hạn, cái gọi là mái trường XHCN mà chúng tôi ca ngợi cho đến bây giờ như thế nào vẫn chưa định hình được. Ngày xưa học dưới mái trường XHCN còn bây giờ đang “định hướng” XHCN nhưng lại được đánh giá là xã hội phát triển, có nghĩa là càng đi xa CNXH thì xã hội càng phát triển!
Còn về ông Hồ Chí Minh thì nhiều người đã nói rồi, tôi chỉ có thể ghi thêm lời dân gian quê chúng tôi ta thán:
“Sống dưới triều đại Cha Hồ
Làm con thì được, làm người thì không.”
Hôm nay, là người dân Mộ Đức, tôi nói về ông Đồng – hơn 30 năm làm Thủ tướng, ông đã làm được gì cho đất nước, quê hương.
Gọi ông là một nhà ngoại giao, một nhà chính trị tài ba đã giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là không đúng, bởi vì cuộc chiến tranh này có thể tránh được. Vả lại “thắng” nhưng không có “lợi”, những người Mỹ, chính sách Mỹ mà ông chống, bây giờ được mời quay lại Việt Nam. Cũng không có “nhà ngoại giao tài ba” nào lại ký công hàm công nhận lãnh thổ của mình cho quốc gia khác.
Nếu gọi ông là một nhà kinh tế cũng không đúng; vì lúc có một nửa đất nước ở miền Bắc ông không đưa ra được quốc sách nào có tính vĩ mô để tăng trưởng kinh tế, ngoài chính sách “tiết kiệm” để tích lũy, kiểu như “hạt gạo cắn làm hai, làm ba”. Còn sau tháng 4/1975 với chính sách hợp tác xã nông nghiệp và di dân đi kinh tế mới, ông đã bần cùng hóa cả miền Nam, vốn trước đó là một nước mạnh trong khu vực Đông Nam Á.
Nói ông là một nhà lý luận, một nhà văn hóa cũng không ổn. Ông có câu nói với thanh niên, học sinh: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải có những con người mới xã hội chủ nghĩa” nhưng ông lại vòng vo về cái chủ nghĩa xã hội và con người xã hội chủ nghĩa của ông. Con người mới khác con người cũ cái gì? Kiểu như “con gà, cái trứng” hay chính sách “có hộ khẩu mới có việc làm, có việc làm mới cho nhập khẩu” dưới thời của ông. Còn về văn hóa thì hình như ông hơi thiếu vốn tiếng Việt nên thường dùng đệm tiếng Pháp trong văn nói.
Người dân Mộ Đức “kính trọng” ông lắm! Tôi xin kể một số giai thoại về ông Đồng ở quê hương Mộ Đức:
Thời kỳ còn hợp tác xã nông nghiệp, mỗi lần ông về quê là dân Mộ Đức tới khổ. Trước khi ông về là tập trung ngụy quân, ngụy quyền tham gia chế độ cũ lên núi để tiếp tục học tập cải tạo cho đến khi nào ông đi mới thả về.
Trên tuyến đường ông qua, hai bên đường được bón rất nhiều phân urê, lúa xanh đậm thấy rất đẹp mắt. Ông khen địa phương làm ăn giỏi, chẳng mấy chốc nữa sẽ tiến lên Chủ nghĩa cộng sản. Nhưng đến khi ông đi thì chỗ phân nhiều bị cháy, chỗ thiếu phân còm cõi không trổ bông nổi. Mỗi lần ông về quê, một ngày công của xã viên được 4 lạng lúa (0,4 kg)!
Có một năm các xã ven biển ở Mộ Đức như Đức Lợi, Đức Minh, Đức Phong có con cá ông (dân biển gọi cá voi là cá ông, cá bà) cứ bơi lởn vởn ngoài biển ngang làm ghe tàu nhỏ của ngư dân không dám ra biển đánh cá; còn ở xã miền núi Đức Phú thì đêm đêm nhiều bầy heo rừng ra phá hoại hoa màu của dân, chính quyền địa phương bất lực. Gặp lúc ông Đồng về quê, nghe báo cáo tình hình địa phương xong, sáng hôm sau ông xuống biển chờ cho cá ông nổi lên ông nói “Yêu cầu các đồng chí kết nạp cá thành xã viên hợp tác xã”. Cá ông nghe thế lặn tuốt ra biển. Chiều đến, ông lên núi xem hoạ heo rừng phá hoại hoa màu. Ông cũng nói với cán bộ địa phương cho chúng vào hợp tác xã là chúng sẽ thuần hết, nhưng cán bộ địa phương nói: “thưa bác, chúng nó đã vào hợp tác xã lâu rồi, chúng cũng làm ăn tập thể đàng hoàng, lúc nào xuống phá bà con cũng đi hàng đàn từ vài ba chục con trở lên”. Ông Đồng nói: “Vậy thì cho đi kinh tế mới!”. Kể từ tối hôm ấy cả xã Đức Phú không còn con heo rừng nào dám ra phá nữa.
Có người hỏi ông Đồng, sao ông không nhận để người ta gọi bằng Bác, ông nói: “Ông Hồ xưng là Cha, nếu tôi xưng là Bác, tức là anh của ông Hồ à!”
Có lần ông tới thăm nhà chị là bà Thừa Xuân, có mảnh vườn trồng rau để ăn và để bán. Hồi đó tiền có giá, ông nghe người ta mua bán nhau nắm rau, quả cà, cứ nói “một đồng, hai đồng”, ông giận lắm vì bị mấy bà hàng xén ở chợ gọi tên huý ra. Sau đó ông về Hà Nội và quyết định “nâng” tiền Việt Nam, để từ đó người ta không kêu “một đồng hai đồng” nữa mà chuyển qua “một ngàn, hai ngàn” cho đến bây giờ.
Sự kính trọng của người dân Mộ Đức đối với ông Đồng là như thế đó. Còn sự tự hào thì sao? Sau khi biết được ngày 14/9/1958 ông Phạm Văn Đồng ký công hàm công nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc thì người dân Mộ Đức cảm thấy nhục nhã thay cho ông. Cuộc đời con người hay chế độ chính trị có thể có nhiều sai lầm, nhưng bán đất bán nước cho ngoại bang thì là sai lầm không thể tha thứ được. “Noi gương” ông là Trần Đức Lương – với tư cách là Chủ tịch nước đã ký hiệp định đường biên trên bộ và trên biển tiếp tục nhượng đất và biển cho Trung Quốc.
Rồi đây, lịch sử dân tộc Việt Nam sẽ ghi:
- Ông Phạm Văn Đồng quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi, với tư cách là Thủ tướng Chính phủ, ngày 14/9/1958 đã ký công hàm công nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc.
- Ông Trần Đức Lương quê ở Đức Phổ, Quảng Ngãi, với tư cách là Chủ tịch nước, ngày 30/12/1999 đã ký Hiệp ước biên giới trên đất liền nhượng cho Trung Quốc hàng ngàn cây số vuông, tiếp đến ngày 25/12/2000 đã ký Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ tiếp tục nhượng hàng chục ngàn cây số vuông mặt biển cho Trung Quốc.
Vậy là Quảng Ngãi có hai tội đồ cùng tham gia bán nước dưới triều đại Hồ Chí Minh.
Nhân dân Mộ Đức, Quảng Ngãi có thể có sự kính trọng, tự hào được không? Không, hoàn toàn không! Ngay cả chính con cháu trong tộc họ Phạm không ai dám ngẩng cao đầu để tự hào là con cháu ông Phạm Văn Đồng. Họ cũng biết rằng, Nguyễn Thân (quê ở Thạch Trụ, Mộ Đức, Quảng Ngãi) là đại thần triều Nguyễn câu kết với thực dân Pháp chống phá phong trào Cần Vương, tiêu diệt nghĩa quân Phan Đình Phùng, sau năm 1945 đã bị Việt Minh cho đào phá toàn bộ mồ mả, nhà cửa (Có lẽ vì vậy mà Cộng Sản không dám đưa ông Phạm văn Đồng về chôn ở quê nhà, còn ông Trần Đức Lương khi hết làm chủ tịch nước cũng không dám về Quảng Ngãi).
Kể ra thì ông Đồng cũng biết sám hối, khi cuộc đời đã xế chiều sống trong bóng tối của sự mù lòa và của xã hội ông tham gia tạo nên; vị thủ tướng ba phải, hiền lành đến nhu nhược, đã có câu nói trứ danh “Không ai làm thủ tướng lâu như tôi và cũng không ai làm khổ dân nhiều hơn tôi!” – có lẽ đó là câu nói duy nhất đúng trong cuộc đời của ông.
Không những ông làm khổ dân lúc còn sống, mà ông còn làm khổ dân khi đã chết. Biết bao giờ nhân dân Việt Nam mới lấy lại được Trường Sa, Hoàng Sa? Còn người dân Quảng Ngãi tiếp tục è cổ ra nộp thuế để xây lăng mộ cho dòng họ Phạm của ông, xây bảo tàng, nhà tưởng niệm Phạm Văn Đồng.
Ngày 1/9/2008 Quảng Ngãi đã khánh thành “Khu lưu niệm Phạm Văn Đồng”; theo thông báo chính thức từ chính quyền, tổng kinh phí hơn 46 tỉ đồng, trong đó phần xây lắp hơn 20 tỉ, trên diện tích hơn 2 ha (Giá đất là 1,3 triệu/m2, trị giá đất khoảng 26 tỉ).
Bốn mươi sáu tỉ kia có thể làm được những gì cho nhân dân Mộ Đức, Quảng Ngãi?
Xin thưa:
- Xây dựng 3.067 ngôi nhà cho người nghèo;
- Tạo điều kiện cho 115.000 trẻ em nghèo có điều kiện mua sách vở đến trường trong năm học mới;
- Là tiền thuế của 144.230 người dân Mộ Đức trong 2 năm (Dự toán thu ngân sách năm 2008 của huyện là 23,1 tỉ đồng)
Đó là chưa tính đến các chi phí khánh thành, duy tu, chi lương cho nhiều người trông coi, bảo vệ.
Một người con của quê hương núi Ấn sông Trà, nhưng đến khi chết rồi vẫn còn làm khổ nhân dân Quảng Ngãi, có phải vì ông là đảng viên Cộng sản, học trò của Hồ Chí Minh không? Trong khi cụ Huỳnh Thúc Kháng, quyền chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam dân chủ cộng hòa, yên nghỉ trên núi Ấn lộng gió, ngôi mộ đơn giản được xây dựng từ thời ông Ngô Đình Diệm, ngày ngày khách trong ngoài nước, đủ mọi thành phần đến viếng thăm đều thể hiện lòng tôn kính.
“Vạn Niên là Vạn Niên nào
Thành xây xương lính, hào đào máu dân”
Câu ca dao xưa đi vào tiềm thức của thế hệ chúng tôi, “thế hệ sinh ra và lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa”; câu ca dao khơi mào cho cuộc khởi nghĩa nông dân mang tên “khởi nghĩa Chày Vôi” (năm Bính Dần 1866) xuất phát từ việc xây dựng Vạn niên cơ, quân sĩ và dân phu phải làm lụng khổ sở, nhiều người oán giận, vua Tự Đức một thời đã đi vào lịch sử dân tộc là vị vua hôn quân vô đạo.
Tôi đã đến lăng mộ vua Tự Đức, cũng đã đến khu tưởng niệm Phạm Văn Đồng. Trên tất cả mọi phương diện (đất đai, diện tích, quy mô, kinh phí, thời gian, …) lăng Tự Đức còn lâu mới bằng khu tưởng niệm Phạm Văn Đồng – một vị thủ tướng dưới chế độ XHCN còn hơn cả vị hoàng đế của triều đại phong kiến, ngay cả khi đã chết.
Lịch sử rất sòng phẳng. Thời gian trôi qua, dân tộc sẽ có cái nhìn khách quan hơn, đánh giá công, tội một cách rõ ràng; sự kính trọng đối với từng nhân vật lịch sử không cần phải áp đặt, cưỡng chế.
Là một người dân Mộ Đức, tôi cảm thấy có tội khi nói thêm (Quê tôi) “là quê hương của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng”.
Đỗ Mai Lộc