Translate

Friday, November 20, 2009

Ngày nhà giáo 20-11, nhớ cô giáo Hạnh.

Mặc Lâm, phóng viên đài RFA
2009-11-20

Ngày 20 tháng 11, trong khi học sinh hớn hở chuẩn bị thăm thầy cô giáo cùng với những chương trình đầy ắp yêu thương… thì đâu đó tại miền Trung, cũng có một cô giáo dạy văn rất giỏi, rất có lòng với học sinh trong suốt nhiều năm lại không hề được ai chính thức nhắc tới. Dù chỉ nhắc tới như một cái thở dài…
 
Kỹ niệm khó quên

Học sinh, với trí óc non nớt và chóng quên, có thể sẽ không hiểu giờ này cô giáo của mình ở đâu, làm gì..nhưng những người cùng trường với cô, trong đó có đồng nghiệp, cấp trên hay các nhà quản lý thì không thể nào quên hình ảnh cô giáo Hạnh. 

Vóc người mảnh dẻ, tiếng nói dịu dàng cùng với mắt nhìn trung hậu. Cô đã bị buộc phải thôi việc vì khuyên học sinh của mình nên tìm thêm nguồn thông tin từ mạng Internet để bổ xung kiến thức khi học môn văn. Những trang Internet này có tên như Tiền Vệ, Talawas…chứa đầy các thông tin về văn học được nhìn từ nhiều phía. Thế nhưng không may, chúng bị đánh giá là phản động, là chống lại nhà nước…thế là cô giáo Hạnh bị buộc về vườn mặt dù kiến thức và tuổi tác của cô còn một quãng rất dài để đóng góp.

Cô giáo Hạnh có thể đang ngồi cô đơn đâu đó để nhớ học trò mình. Cô có thể thở dài và trên mí mắt lăn tròn vài hạt lệ cho học sinh thân yêu của cô. Cô nhớ chúng như chim nhớ tổ, như hạt mưa nhớ bờ ruộng mật. Nhưng cô không thể khóc vì quyết định của mình, một quyết định mà cô biết chắc sẽ dẫn học trò cô thật sự đến bến bờ tri thức. 


Cô có thể thở dài và trên mí mắt lăn tròn vài hạt lệ cho học sinh thân yêu của cô. Cô nhớ chúng như chim nhớ tổ, như hạt mưa nhớ bờ ruộng mật. Nhưng cô không thể khóc vì quyết định của mình, một quyết định mà cô biết chắc sẽ dẫn học trò cô thật sự đến bến bờ tri thức. 

Cô bị khai trừ ra khỏi hệ thống giáo dục bởi các dị ứng phản giáo dục. Giáo dục chân chính lặng lẽ thở dài qua quyết định khai trừ cô. Cô lặng lẽ ngồi đâu đó nghiền ngẫm về ngày nhà giáo cùng với ý nghĩa đích thực của nó. 

Bên kia bờ đại dương, tôi lặng lẽ ngồi đánh cho cô những dòng này như một tri ân, hoài niệm về công sức lón lao của một người đã bị nhìn khác đi bởi những đôi mắt vô hồn, ghẻ lạnh.

Cô giáo Hạnh, giờ này cô đang làm gì vậy? Không biết phấn trắng có thấm hết những giòng lệ khô nhớ trường nhớ lớp của cô không nhưng tôi chắc rằng học trò cô không ai quên cô đâu. Họ chỉ ham chơi trong thời khắc của thuở thiếu thời nhưng mai mốt khi khôn lớn thì chính sự chịu đựng vô cùng lớn lao của cô sẽ là nguồn lực đẩy họ vào đời, và lúc ấy cô sẽ có rất nhiều ngày 20 tháng 11 đúng nghĩa hơn hằn các thầy cô giáo khác. Tôi tin như vậy, và cô ạ, đừng buồn….

Mặc Lâm. Ngày nhà giáo

Wednesday, November 18, 2009

Vai trò tôn giáo trong Cách mạng Nhung

Tiến sĩ Chu Thiên Lan

Gửi cho BBCVietnamese.com từ Hoa Kỳ

Đã có một sự đồng thuận trong giới khoa bảng theo đó tôn giáo có vai trò đáng kể trong cao trào dân chủ hóa xảy ra khoảng từ năm 1975 và 1991.

Trong khoảng thời gian này, các nước chủ yếu tại châu Mỹ La Tinh và tại Đông và Trung Âu đã tự chuyển hóa từ thế chế độc tài chuyên chế hoặc từ thể chế cộng sản sang thể chế dân chủ. Xét đến vai trò của tôn giáo, thì đó chính là sự liên hệ của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo với các phong trào này cho dù là tôn giáo có ít tín đồ hay là đông đảo tín đồ.

Trong nhiều thí dụ, Ba Lan là trường hợp điển hình và Nam Phi là trường hợp ít người biết đến. Giáo hội Thiên Chúa Giáo có nhúng tay vào các biến cố dẫn đến sự chuyển hóa của Tiệp Khắc có thể giúp ta hiểu tình hình ở các nước mà sự truyền bá của Thiên Chúa Giáo đang gặp sóng gió.

Điều đáng chú ý trong trường hợp của nước Tiệp là về mặt lịch sử ngay cả sau khi trở thành "quốc giáo", Thiên Chúa Giáo cũng không được chấp nhận rộng rãi vì thông thường bị coi là có dính líu với một thế lực ngoại bang. Thiên Chúa Giáo liên kết chặt chẻ với nhà nước và là một nhân tố đưa đến sự suy tàn của Cơ Đốc Giáo một thời được coi là "quốc giáo".

Sự phát triển song hành giữa Giáo hội Thiên Chúa Giáo tại Tiệp Khắc với chính quyền thực ra tương tự các nước cộng sản khác như là Việt Nam, theo những cách mà thoạt nhìn qua tưởng chừng không rõ ràng.

Bối cảnh tại Tiệp Khắc

Được thành lập vào thế kỷ thứ Chín, Giáo hội Thiên Chúa Giáo lên tới đỉnh cao dưới sự trị vì của Vua Charles IV ( 1346-1378). Trong thời gian này, giáo chủ Cơ Đốc Giáo Jan Hus (1369-1415), một người chỉ truyền bá đạo này tại Czech mà thôi, đã lên án các sự lạm dụng của Giáo Hội và mối liên hệ thắm thiết của giáo hội này với các thế lực ngoại bang. Dưới sự lãnh đạo của ông, cộng đồng người theo Cơ Đốc Giáo chiếm đa số (85-90% dân số ) đã tổ chức Phong Trào Canh Tân Tiệp (Czech Reformation Movement) và nhiều người Thiên Chúa Giáo thậm chí đã bỏ giáo hội của họ để gia nhập vào một giáo hội khác có tên là Giáo Hội Dân Tộc Czech (Czech National Church) hay còn được gọi Đạo Hussite, được thành lập theo lời giảng dạy của giáo chủ Jan Hus.

Mặc dù giáo hội Thiên Chúa Giáo và giáo hội Cơ Đốc Giáo Czech chiếm đa số có ký hòa ước với nhau, nhưng các tín đồ của hai giáo hội này vẫn xung đột với nhau và đi đến một cuộc chiến quyết liệt với nhau gọi là trận đánh tại vùng Núi Trắng ( Battle of White Mountain) vào năm 1620. Trận đánh này đã đập tan phe Cơ Đốc Giáo và dưới triều đại Austrian Habsburg theo Thiên Chúa Giáo (1526-1918), đã có diễn ra một tiến trình nhằm "Thiên Chúa Giáo hóa" có bạo động nhằm thu phục nhân tâm của phe Cơ Đốc Giáo đa số. Các lãnh đạo của phe Cơ Đốc Giáo đã bị kết án tử hình vì bị cho là "tà ma ngoại đạo" và việc hành đạo là bất hợp pháp. Dưới sự cai trị của đế chế Habsburgs, giáo hội Thiên Chúa Giáo La Mã đã tăng lên 96.1%.

Tuy nhiên, người dân vì vẫn còn nhớ đến các vụ lạm quyền của giáo hội Thiên Chúa Giáo và vai trò của giáo hội này trong việc kết án ông Jan Hus, vốn được coi là anh hùng dân tộc, nên họ đã chế nhạo giáo hội Thiên Chúa Giáo như là có lập trường bài dân tộc.

Tuy nhiên, vai trò của giáo hội Thiên Chúa Giáo đã thay đổi sau Thế Chiến Thứ Nhất. Nước Czech đã được giải phóng khỏi sự cai trị của nước Áo, và các phiên tòa xử giáo hội Thiên Chúa Giáo bắt đầu.

Biến cố này đã được đánh dấu bởi việc phá bức tượng Đức Mẹ Đồng Trinh tại quảng trường chính của khu phố cổ thành phố Prague và số tín đồ đã giảm từ 96% xuống còn 71%. Vào năm 1939, toàn thể nước Czech bị Đức Quốc Xã tràn ngập. Quốc Xã đã bắt đầu tấn công trở lại vào giáo hội Thiên Chúa Giáo, và người Czech đã đoàn kết lại bất kể họ thuộc về tôn giáo nào và quay sang ủng hộ cả hai giáo hội vì cả hai đều chịu thống khổ dưới bàn tay cai trị của Quốc Xã.

Tình trạng đàn áp và xách nhiễu tôn giáo tiếp tục sau Thế Chiến Thứ Hai và dưới thời cai trị của Cộng Sản. Và cũng như trong bất cứ quốc gia cộng sản nào, thì sách lược của nhà nước có mục tiêu chia rẽ hoặc làm suy yếu đi Giáo Hội.

Luật 14 tháng 10 năm 1949 và Sắc lệnh số 219 đòi hỏi các linh mục và Giáo Hội phải ký một văn bản hứa chỉ thi hành nghĩa vụ tôn giáo của họ. Chỉ có các linh mục "yêu nước" được phép cử hành thánh lễ trong lúc các giáo điều cộng sản được quảng bá xuyên qua các đoàn thể tôn giáo như là Katolická acke (Catholic Action) và Pacem in Terris.

Để phản ứng lại, Giáo Hội đã khai trừ khỏi đạo các linh mục thuộc tổ chức Catholic Action vào tháng Sáu năm 1949.

Đức Tổng Giám Mục Josef Beran thành phố Prague đã lên án tổ chức Catholic Action trong một buổi thuyết giảng tại nhà thờ Thánh Vitus và Ngài đã bị quản thúc tại gia trong 14 năm trời.

Tình trạng sách nhiễu Giáo Hội vẫn tiếp tục và trước cuối tháng Giêng năm 1950, hàng giám mục đã cam kết trung thành với chế độ, và do đó, liên hệ ngoại giao giữa chính phủ Tiệp Khắc và Tòa Thánh Vatican đã bị cắt đứt.

Ban lãnh đạo Giáo Hội tiếp tục suy yếu dần sau khi Đức Tổng Giám Mục Beran bị buộc phải sống lưu vong hồi năm 1965.

Mặc dù người cộng sản đã cố nói lên các điểm khác biệt giữa Giáo Hội và xã hội Czech, thế nhưng sách lược muốn triệt hạ các hoạt động của Giáo Hội đã khiến cho xã hội một lần nữa có thiện cảm với Giáo Hội.


Đức Giáo Hoàng Paul VI, một người có lập trường không muốn đối đầu, đã tìm cách làm giảm bớt căng thẳng giữa Giáo Hội và chính phủ Tiệp Khắc. Người kế nhiệm Tổng giám mục Beran, linh mục František Tomášek đã lên tiếng phê phán sự tham dự của các tín đồ Thiên Chúa Giáo vào Hiến Chương 77, một tổ chức bảo vệ nhân quyền gồm các nhân vật đối kháng chính trị như ông Václav Havel và linh mục Václav Malý.

Giáo Hội Thiên Chúa Giáo từ đó chỉ lo việc chỉnh đốn nội bộ, như Tổng Giám Mục Tomášek đã chứng minh, chỉ làm suy yếu đi giáo hội tại Tiệp Khắc.

Chính vì muốn cộng tác với chính quyền bỏ mặc chuyện thế sự cho nên gần như là Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mã đã bị xóa sạch tại Tiệp Khắc.

Tiệp Khắc, một nước chủ yếu theo đạo Thiên Chúa trước đây, sau này đã được Dức Giáo Hoàng John Paul II mô tả như là "một tình trạng đau buồn không có tiền lệ tại các nước có truyền thống Thiên Chúa Giáo."

Tuy nhiên, lập trường của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mã tại Tiệp Khắc đã thay đổi sau khi một linh mục người Ba Lan tên là Karol Jósef Wojtyła được bầu làm Giáo Hoàng vào ngày 16 tháng 10 năm 1978 với tên thánh là John Paul II.

Khác với các vị tiền nhiệm, Giáo Hoàng John Paul II đã nếm mùi Quốc Xã và sau đó Cộng Sản. Lập trường của Giáo Hoàng John Paul II ủng hộ nhân quyền với tự do tôn giáo là là quyền đầu tiên của con người, đã đưa Giáo Hội Czech cuối cùng hòa giải được với tổ chức nhân quyền Hiến Chương 77.

Cũng như các linh mục có chân trong tổ chức thân chính quyền Catholic Action bị đuổi khỏi đạo, thì Tòa Thánh Vatican đã chỉ thị hồi năm 1982 cấm các linh mục được gia nhập vào tổ chức "quốc doanh" Pacem in Terris.

Mặc dù người cộng sản đã cố nói lên các điểm khác biệt giữa Giáo Hội và xã hội Czech, thế nhưng sách lược muốn triệt hạ các hoạt động của Giáo Hội đã khiến cho xã hội một lần nữa có thiện cảm với Giáo Hội, và không như chính quyền, Giáo Hội đã lắng nghe và lo lắng cho nguyện vọng của người dân.

Nhân quyền

Giáo Hội đã đóng vai trò phụ này một cách hiệu quả và thực sự cống hiến cho người dân những gì mà chính quyền cộng sản không làm được, trong lãnh vực nhân quyền.


Lãnh tụ Cách mạng Nhung, Vaclav Havel, xuất hiện ở buổi lễ hôm 17/11/2009


Vào đầu thập niên 1980, vì lo ngại đến tác dộng của phong trào Đoàn Kết tại Ba Lan và sự lớn mạnh của Giáo hội Thiên Chúa Giáo Ba Lan, chính quyền cộng sản Czech đã ra tay đàn áp, bắt bớ hàng trăm linh mục và các tín đồ.

Tình trạng đàn áp này chỉ làm người dân có thiện cảm càng lúc càng nhiều đối với Giáo Hội.

Hồi năm 1985, nhân kỷ niệm năm thứ 1100 ngày chết của thánh Methodius tức là vị tu sĩ đã du nhập Thiên Chúa Giáo vào đất Czech, có tới hơn 230 ngàn người đã tham dự lễ kỷ niệm này mà trong đó có tới 70% là thanh niên thiếu nữ.

Hồi năm 1988, có khoảng hơn 600 ngàn người kể cả người ngoại đạo, đã ký một bản kiến nghị gồm 31 điểm. Bản kiến nghị này, được một nông dân ngoan đoạn tên là Augustin Navrátil, soạn ra, đã kêu gọi tự do cho Giáo Hội tại Tiệp Khắc và đã giành được sự hậu thuẫn của Hồng Y Tomášek. Cùng năm, khoảng tám ngàn người đã xuống đường để cầu nguyện và đốt nến để phản đối các chính sách của nhà nước.

Cùng sánh bước với chương trình perestroika do lãnh tụ Liên Xô Mikhail Gorbachev đưa ra hồi năm 1987, và sự hậu thuẫn bên trong và bên ngoài Giáo Hội, bản kiến nghị của Navrátil đã kêu gọi nhà nước bớt hạn chế các hoạt động của Giáo Hội.

Trong lúc Giáo Hội Thiên Chúa Giáo không có cầm các phong trào phản đối vào ngày 17 tháng 11 năm 1989, rõ ràng Giáo Hội là điểm tựa tinh thần cho người dân mặc dù trong quá khứ, Giáo Hội có những lúc khó khăn với họ.

Vai trò tôn giáo

Giới học giả thấy rằng cho dù tại một số nước, Thiên Chúa Giáo không phải là tôn giáo của đa số người dân, nhưng sự hiện diện của một Giáo Hội Thiên Chúa Giáo tại các nước cộng sản, có thể là điểm tựa để phát triển nhân quyền. Trong lúc giới học giả cố tìm hiểu vai trò của tôn giáo tại các nước cộng sản còn lại trên quả địa cầu, thì ngày sụp đổ của chế độ cộng sản Liên Xô đã nhắc cho họ thấy được nhiều điểm tương đồng giữa hiện tại và quá khứ.

Trong trường hợp của nước Việt Nam chẳng hạn, giáo Hội Thiên Chúa Giáo được coi là tổ chức đi ngược lại quyền lợi của dân tộc, và giống như Tổng Giám Mục Beran, thì Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận cũng bị nhà nước buộc phải sống lưu vong.

Gần đây hơn, các cuộc phản đối có tính biểu tượng của người theo Thiên Chúa Giáo và những người không theo đạo này để chống lại tình trạng chính quyền chiếm đất của Giáo Hội cũ, rất giống như làn sóng phản đối hồi thập niên 1980 tại Đông và Trung Âu. Chúng ta cũng không ngạc nhiên là hồi năm 2006, các cựu thành viên của tổ chức Hiến Chương 77, trong số này có cựu tổng thống Czech ông Vaclav Havel và giám mục Vaclav Maly đã ký một bức thư ngỏ ủng hộ lời kêu gọi từ trong nước Việt Nam phải có tự do nhiều hơn.

Vaclav Havel đã từng viết "kinh nghiệm Czech là một thí dụ điển hình của nghệ thuật bất khả thi (art of the impossible)" và 20 năm sau, trường hợp của Czech và kinh nghiệm của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo tại nước này cho chúng ta thấy được những gì có thể xảy ra.

Tiến sĩ Chu Thiên Lan đang giảng dạy ở Occidental College, Hoa Kỳ. Bà nghiên cứu về chính trị và tôn giáo, đặc biệt là vai trò của Giáo hội Công giáo đối với thay đổi chính trị. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

Monday, November 16, 2009

Vô trách nhiệm và vô cảm là do... "tình trạng biến đổi khí hậu"?

Kami, X-Cafe
16.11.2009

Trước đây mấy năm tên tuổi của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải được nhắc đến rất nhiều, bởi ông Hoàng Trung Hải là Bộ Trưởng và là Phó Thủ tướng trẻ nhất của Việt Nam giai đoạn hiện nay. Ông Hải được dư luận đánh giá là một người còn trẻ, năng động và đặc biệt nhất là ông Hải là một trong số rất ít các nhà lãnh đạo chính quyền Việt Nam tốt nghiệp cao học tại Dublin Cộng hòa Ireland, là một nước tư bản phát triển và có nền chính trị tự do dân chủ lâu đời. 

Ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải được cho là một nhân vật có xu hướng cải cách và cùng với ông Phó Thủ tướng Nguyễn Trọng Nhân là một trong hai nhân vật quan trọng của Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong nhiệm kỳ đầu tiên. Những nhân vật này được những người ủng hộ cải cách trong và ngoài nước hết sức kỳ vọng, tin tưởng và đánh giá cao vì họ là một trong những số ít của các nhà lãnh đạo Việt Nam được đào tạo tại các nước tự do dân chủ. Vì người ta tin rằng với khả năng nhận thức của họ sẽ ít nhiều đưa Việt Nam nhanh chóng hòa nhập vào xu thế phát triển chung của loài người tiến bộ

Vài ngày đầu tháng 11/2009, sau khi các cơn bão Ketsana và Mirinae đổ bộ vào các tỉnh miền Trung Việt Nam vào giữa tháng 10 và đầu tháng 11/2009, đã gây thiệt hại về tính mạng và tài sản của nhân dân vùng bão với hàng trăm người chết, nhiều nhà cửa và các công trình dân sinh bị hủy hoại nặng nề. Và đặc biệt hơn, đúng thời điểm đó các nhà máy thủy điện miền Trung đã đồng loạt xả lũ đúng lúc lũ lên cao. Sự kết hợp giữa thiên tai do bão gây ra kết hợp với nhân tai do sự yếu kém, thiếu khoa học và đồng bộ trong công tác quản lý đã khiến mức độ thiệt hại về người và của tăng lên rất lớn. Với vai trò là người trực tiếp chỉ đạo công tác phòng chống lụt bão, tên tuổi ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải lại một lần nữa được truyền thông nhắc tới nhiều qua cuộc phỏng vấn của ông Phó Thủ tướng hoàng Trung Hải với báo chí bên ngoài hành lang Quốc hội ngày 9/11/2009.(*)

Nội dung chính của cuộc trả lời phỏng vấn nói trên, ông Hoàng Trung Hải với cương vị là Phó Thủ tướng chính phủ đã phủ nhận toàn bộ lỗi của chính quyền và các nhà máy Thủy điện trong việc xả lũ gây thiệt hại về tính mạng tài sản của nhân dân, đồng thời đã đổ lỗi cho là do toàn "lũ lịch sử" và "tình trạng biến đổi khí hậu", nói một cách khác là đổ lỗi do Trời, đúng tinh thần khẩu hiệu "Mất mùa là tại thiên tai-Được mùa là tại thiên tài đảng ta" mà công cụ tuyên truyền của nhà nước đã sử dụng rất hữu hiệu hàng chục năm nay.

Nhưng không may cho ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, sự tổn thất quá lớn đó đã khiến cho ngay lập tức sau khi bài phỏng vấn của ông ta được truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng của nhà nước, dư luận xã hội đã có phản ứng mạnh mẽ vì thái độ vô trách nhiệm này. Các đại biểu Quốc hội, các nhà quản lý, các nhà khoa học và nhiều các chuyên gia trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề này đã lên tiếng phản bác các lập luận thiếu cơ sở khoa học và hết sức vô trách nhiệm của ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải. Họ đã chỉ rõ nguyên nhân gây ra thiệt hại về người và của lớn như vậy ngoài sự phá hoại của thiên tai còn có sự lãnh đạo, chỉ đạo chưa đồng nhất và thiếu khoa học của các cấp chính quyền và các nhà máy Thủy điện trong công việc điều tiết lũ. Xin ví dụ:

1. Ông Ngô văn Min đại biểu Quốc hội Tỉnh Quảng Nam đã có ý kiến:

"Thiết nghĩ, trước khi khẳng định lũ gây chết dân không phải do thủy điện, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải phải tiến hành kiểm tra lại, từ người dân và cán bộ địa phương xem họ nói thế nào, báo cáo của các nhà máy điện có đúng không. ...

Thực tế cho thấy thủy điện dưới 50MW thì phân cấp địa phương cấp phép. Các địa phương thời gian qua đều trải thảm đỏ, ưu đãi vượt quy định để thu hút vốn. ... Làm thủy điện giờ là lĩnh vực siêu lợi nhuận nên cần phải có kiểm tra, giám sát thường xuyên để tránh việc tính đến lợi ích của thủy điện nhiều hơn lợi ích của người dân."

2. Ông Nguyễn Đình Xuân Đại biểu Quốc hội Tây ninh đã gay gắt phát biểu:

"Trước khi bão vào trước 2 ngày người ta thường phải xả lũ xuống cao trình thấp.... người làm thủy điện lại suy nghĩ nhỡ tôi xả trước mà trời không mưa hay mưa ít thì sao?

...những người phát điện đã đặt lợi ích của mình lên trên nên hành động theo kiểu cứ đợi từ từ xem sao. Khi lũ ào ạt về thì họ thấy lợi ích của mình không an toàn, họ buộc phải xả. Không xả thì vỡ đập mà vỡ thì còn chết nhiều hơn...

...khi ta lấy 1.000 ha làm lòng hồ thuỷ điện thì chúng ta còn mất thêm 1 đến 2.000 ha đất rừng hay nông nghiệp ở thượng nguồn vì người dân không có chỗ thì họ lại lên trên đó. Như vậy rừng còn quá ít... theo tính toán ban đầu có thể với diện tích rừng như vậy thì phải 1.000 năm mới có một trận lũ như vậy, nhưng do rừng bị tàn phá quá nhanh và quá nhiều nên hồ thủy điện đó chỉ chịu được lũ 10 năm thôi. Như vậy tất cả các quy hoạch, tính toán ban đầu đã bị phá vỡ."

3.Ông Trần Nhơn Tiến sĩ-Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Thủy lợi đã phát biểu:

"Tôi cho rằng bất cứ một sự kiện gì diễn ra gây thiệt hại cho người dân thì phải xem xét lại toàn bộ những vấn đề của chúng ta.

Tôi không quan tâm đến việc có kiểm tra hay không mà tôi quan tâm đến việc quy trình đúng chưa. Nếu quy trình đúng rồi thì tôi chỉ cần nghe báo cáo chứ không cần kiểm tra thực tế. Vấn đề là quy trình đó chi tiết chưa, cụ thể chưa? Trước đây trên dòng sông đó có một hồ thủy điện thì quy trình thế này, anh chỉ tính cho một hồ thôi, giờ có 2-3 hồ thủy điện thì quy trình đã cập nhật chưa, cái trên xả thế nào, cái dưới xả ra sao, sự phối hợp thế nào?…

Tôi cho rằng quy trình vận hành các hồ thủy điện hiện nay chưa tốt, phải xem xét lại.

Cuối cùng vẫn là con người chứ không thể đổ hết cho khách quan. Dù là nguyên nhân khách quan thì con người cũng phải nhận thức được để có biện pháp phòng tránh."

4.Ông Hồ Ngọc Phú -Tiến sĩ-Nguyên Giám đốc Sở Thủy lợi Thừa Thiên – Huế đã vạch rõ:

"Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải và Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Hữu Hào đều khẳng định tất cả dự án thủy điện đều nằm trong quy hoạch và đều có ý kiến của các địa phương. Đúng là như vậy, nhưng vấn đề là chất lượng các quy hoạch ấy như thế nào. Với thủy điện vừa và nhỏ, thuộc thẩm quyền quyết định của các tỉnh, hầu hết đều giao cho các sở công thương, mà các sở này hầu như không có cán bộ chuyên về thủy điện – thủy lợi...

Các ý kiến của Phó Thủ tướng, Bộ Công thương và chủ các công trình thủy điện đều nói đến việc: phải xả lũ, nếu không thì vỡ đập còn nguy hiểm hơn. Tôi không hiểu vì sao các đập lại dễ vỡ như thế. Khi thiết kế hồ đập phải tính toán đến tần suất lũ kiểm tra, tức khả năng đập phải chịu được lũ 500-1.000 năm xảy ra một lần... ông Đào Xuân Học – thứ trưởng Bộ NN&PTNT, phó thường trực Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão trung ương – lại xác nhận một thực tế là khi xây dựng, các đơn vị thường sợ tốn tiền, sợ đầu tư lớn nên không xây thêm hồ phòng lũ (theo Tuổi Trẻ 10-10)"

5.Ông Trần Văn Sáp -Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Khí tượng thủy văn quốc gia đã thú nhận:

"Hiện chỉ có các nhà máy thủy điện ở phía Bắc như Hòa Bình, Tuyên Quang, Sơn La và Nhà máy thủy điện Ialy (Tây nguyên) có sự hợp tác với Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn trung ương để nhận các bản tin dự báo lũ. Ở miền Trung chưa có nơi nào hợp tác...

Trong đợt lũ vừa rồi, Đài khí tượng thủy văn Nam Trung bộ phải cử người sang tận các ban chỉ huy phòng chống lụt bão tỉnh đề nghị khi nào có thông tin xả lũ thì cung cấp nhưng không phải lúc nào cũng được cung cấp. Do không có thông tin xả lũ đầy đủ từ các nhà máy thủy điện khiến dự báo thủy văn sai, không thể thông báo đúng tình hình ngập lụt ở hạ lưu."


Ông Phó TT Hoàng Trung Hải vô cảm trước cảnh tượng này?
Những người trong cuộc và những người có trách nhiệm họ đã vạch rõ cho thấy những thiếu sót, những khuyết điểm của công tác chỉ đạo và quản lý trong lĩnh vực này như thế. Vậy xin hỏi tại sao ông Hoàng Trung Hải với cương vị là Phó Thủ tướng được giao chịu trách nhiệm chính mảng công tác này lại không biết những điều đó? Và đặc biệt hơn, với cương vị là Phó Thủ tướng phụ trách công tác này ông ta đã thản nhiên chối bay chối biến như vậy với động cơ gì?

Cần lưu ý rằng, các trích dẫn phát biểu trên đây toàn là của các đảng viên đảng CSVN, đã từng đã và đang đảm nhận các chức vụ quan trọng liên quan đến vấn đề trên. Dẫu cho rằng những vị kể trên họ có muốn bao che hoặc ủng hộ ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải theo đúng 11 điều cấm với đảng viên đi chăng nữa thì cũng ngoài sự cho phép của lương tâm họ và các cơ sở của thực tế khoa học khách quan.

Qua thái độ và những câu trả lời của ông Hoàng Trung Hải với báo chí ngày 9/11/2009 thể hiện sự vô trách nhiệm của ông ta với công việc được đảm trách, đồng thời cũng thể hiện sự vô trách nhiệm với sự mất mát của gia đình thân nhân của những người thiệt mạng và mất mát tài sản, kiểu "sống chết mặc bay".

Điều đáng nói ở đây là tuy ông Hoàng Trung Hải là một lãnh đạo cao cấp của chính quyền, được đào tạo cấp đại học trong nước và theo học Cao học tại Cộng hòa Ireland là một quốc gia dân chủ tự do. Một điều chắc chắn rằng, trong thời gian học tập ở đây ít nhiều ông Hoàng Trung Hải cũng thu thập được những thông tin về cách thức và hoạt động chính trị của các chính khách ở Cộng hòa Ireland cho vốn kiến thức của mình. Chắc chắn ông Hoàng Trung Hải phải biết rằng người làm chính trị như mình phải hết sức cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói của mình với báo giới, nhất là ở cương vị một Phó Thủ tướng của đảng cầm quyền.

Trong một xã hộ dân làm chủ, người dân được tự do ứng cử, bầu cử một cách công khai minh bạch và công bằng, nếu ông Hoàng Trung Hải là ở cương vị Phó Thủ tướng đảng cầm quyền có những phát ngôn thiếu thận trọng để thể hiện sự vô trách nhiệm của mình đối với nhân dân như trên, thì chắc chắn những cử tri như tôi sẽ không bao giờ dành phiếu bầu của mình để ủng hộ đảng của những kẻ vô trách nhiệm như ông Hoàng Trung Hải, làm đảng cầm quyền trong kỳ bầu cử tới. Như vậy chỉ có thể giải thích được rằng ông Hoàng Trung Hải đã ỷ thế vào đảng CSVN được đặc quyền độc chiếm chính trường, độc đảng không có các đảng phái chính trị khác cạnh tranh nên ông ta được quyền phát biểu văng mạng nhằm chối bỏ những thiếu sót trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo cấp dưới trong phạm vi công việc ông ta phụ trách.

Chắc vì là một người còn trẻ, thông minh và năng động như ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải mới có khả năng nghĩ ra cách đổ tại Trời để chối bỏ trách nhiệm thông qua cụm từ "tình trạng biến đổi khí hậu" để biến báo. Chỉ trong một trong số những câu hỏi của phóng viên báo chí phỏng vấn về vấn đề này, đã có không ít hơn 6 lần ông Phó Thủ tướng dùng cụm từ "tình trạng biến đổi khí hậu" này. Xin trích dẫn:

(Trích)Hỏi:- Thiệt hại do lũ vừa qua rất nặng nề, ngoài nguyên nhân khách quan, chúng ta rút ra được bài học gì?

Trả lời- Thứ nhất là nhận thức của người dân. Việt Nam là một trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nhất của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, lũ lụt càng trầm trọng hơn. Nhận thức của người dân là phải luôn cảnh giác, bão lũ không còn theo quy luật mà luôn luôn có bất thường.

Thứ hai, dự báo của chúng ta không thể chính xác 100%, do thiếu phương tiện công cụ dự báo, biến đổi khí hậu khó lường và mạng lưới trạm quan trắc không đầy đủ. Bây giờ mưa lũ cục bộ phổ biến do biến đổi khí hậu, tức là trong một tỉnh chỉ có một huyện, trong một huyện chỉ có một xã có mưa lớn lịch sử. Bằng các trạm quan trắc dày thì ta mới phát hiện ra.

Thứ ba, là biến đổi khí hậu làm cực đoan hóa các hiện tượng thời tiết. Trước đây mưa sau bão người ta gọi là mưa rửa bùn, mưa rửa đền, tức là mưa nhỏ, nhưng bây giờ mưa sau bão đều gây chết người. Mưa sau và trước bão đều vô cùng lớn, tạo nên các số liệu lịch sử. Ngày xưa ta lo nhất là bão, nhưng giờ là lo lũ. Đấy là điểm cực đoan mà mình phải hết sức cảnh giác. Mình chỉ nói được rằng sau bão mưa to, rất to, chứ không nói được mưa sau bão lên đến 800-900 mm.

Cả tỉnh Ninh Thuận một năm mưa có 900 mm, nhưng chỉ có vài ngày mưa đã đạt tới lượng đó thì không có gì chịu được. Chính phủ phải cùng các nhà khoa học nghiên cứu, xây dựng kịch bản, chương trình hành động để đối phó với biến đổi khí hậu.(Hết trích)

Đúng là sự thông minh của ông Hoàng Trung Hải đã được ghi nhận bởi khi ông dùng cụm từ "tình trạng biến đổi khí hậu" đã trở thành một công cụ hiệu quả cho những kẻ vô trách nhiệm, dối trá và vô lương tâm trong xã hội chúng ta hôm nay. Với vũ khí này thì từ nay, bất kể khuyết điểm gì của lãnh đạo cũng dễ dàng bị biến từ tội thành công với lời biện minh rằng do "tình trạng biến đổi khí hậu", đồng thời cá nhân các quan lãnh đạo thì luôn vô tội, mãi mãi luôn luôn đúng và không ai chịu trách nhiệm cả.

Chuyện thiên tai, lũ lụt là chuyện của tự nhiên, con người luôn bị động và luôn ở vị thế phòng chống, nếu công tác phòng chống có hiệu quả thì khả năng thiệt hại về người và của sẽ giảm bớt tùy theo khả năng quản lý, theo dõi và giám sát của các cấp lãnh đạo. Chuyện thiệt hại của hai con bão Ketsana và Mirinae làm hàng trăm người chết cũng đã xảy ra rồi, chuyện ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải có nhận khuyết điểm của mình trong công tác quản lý và điều hành công việc cũng không làm cho người chết sống lại, nhà ở và các công trình dân sinh bị thiệt hại trở lại như cũ. Nhưng dù vậy đi chăng nữa điều quan trọng ở đây bản thân ông Hoàng Trung Hải và các cơ quan ban ngành khác phải nghiêm khắc kiểm điểm để biết nhận ra những thiếu sót và coi đây là những bài học xương máu để rút kinh nghiệm cho vấn để xử lý chỉ đạo công việc trong tương lai.

Chuyện lãnh đạo như ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải dẫu sai hay đúng đi chăng nữa thì các ông hay đồng chí của các ông vẫn ngồi yên vị ở cái ghế đó, có ai tranh được đâu chỉ có kẻ thiệt mạng và gia đình họ phải gánh chịu hậu quả.

Chắc kiểu này cứ kéo dài thì đời chúng ta, đời con cháu của chúng ta ngoài tai họa của thiên tai đưa lại nay lại phải hứng chịu thêm họa "nhân tai" bởi cách làm việc thiếu trách nhiệm của những người lãnh đạo chính quyền các cấp và các ngành. Thôi cũng cứ thế mà cam chịu cho những kẻ vô trách nhiệm, vô lương tâm cai trị bởi họ có thứ vũ khí hữu hiệu "tình trạng biến đổi của khí hậu", với cái này thì bọn họ mãi mãi luôn luôn đúng.

Trước đây mọi người tin tưởng và kỳ vọng với ông Hoàng Trung Hải, bởi nghĩ rằng một người trẻ có năng lực như ông ta được học mãi xứ Dublin Cộng hòa Ireland chắc là ông học hỏi được nhiều điều hay lẽ phải, nhưng qua việc trả lời với báo chí lần này của ông ta thì ai cũng thất vọng về sự kém hiểu biết và vô trách nhiệm với cương vị của một vị Phó Thủ tướng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hay chính là vì trước đây khi học hành ở Dublin-Ireland là một xứ lạnh lẽo, nơi mà mưa và sương mù quanh năm, nay về làm Phó Thủ tướng ở Việt Nam là một xứ nhiệt đới nóng ẩm.

Chắc là do "tình trạng biến đổi khí hậu" như thế đã làm ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải trở nên một con người vô cảm và vô trách nhiệm như vậy?

----------------------
(*)http://www.vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2009/11/3BA15728/Phó thủ tướng: 'Thủy điện không xả lũ làm chết dân'
-Xem thêm : Thuỷ Điện ở ta có biết ăn thịt người?
http://conlac.multiply.com/journal/item/432

Nguồn: Kami blog

Sunday, November 15, 2009

Hải Đoàn TQ 17 Tàu Vào Huế, Bị Đẩy Ra Vài Ngày Sau Khi Tàu Chiến Mỹ Tới Đà Nẵng..

Trích Vietbao Online

HUẾ (VB) -- Sóng gió Biển Đông khởi dậy vì đàn anh Trung Quốc nổi giận, sau khi chiến hạm Mỹ vào thăm Đà Nẵng.
Chỉ vài ngày sau khi Trung Tá Hải Quân Lê Bá Hùng chỉ huy chiến hạm Mỹ USS Lassen vào Đà Nẵng hôm Thứ Bảy 7-11-2009, một hải đoàn Trung Quốc hôm Thứ Ba 10-11-2009 cũng tiến vào vùng biển gần đó ở biển Thuận An kế bên để ngang nhiên vơ vét cá. Vùng biển Thuận An ở Huế, và Hội An ở Đà Nẵng chỉ cách vài chục cây số và cùng nhìn ra đaỏ Hoàng Sa, nơi trước kia thuộc chủ quyền VNCH nhưng đã bị hải quân Trung Quốc đánh chiếm từ năm 1974.
Bản tin trên báo Thanh Niên nhan đề “Đuổi 17 tàu cá Trung Quốc” số báo ngày 12-11-2009 đã ghi nhận:
“Vào lúc 9 giờ ngày 10.11, Bộ đội Biên phòng tỉnh Thừa Thiên-Huế nhận được thông tin tại tọa độ 16 độ 58 phút độ vĩ bắc -107 độ 45 phút độ kinh đông, cách bờ biển Thuận An 24 hải lý về hướng đông bắc có 17 tàu đánh cá Trung Quốc đang xâm phạm vùng biển VN đánh bắt trộm hải sản.
Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Thừa Thiên-Huế chỉ đạo Hải đội 2 xuất kích 2 biên đội tàu tuần tra BP-31-11-01 và BP-31-12-01, do Phó tham mưu trưởng trực tiếp chỉ huy, đẩy đuổi tàu thuyền nước ngoài xâm phạm chủ quyền vùng biển của Tổ quốc.
Sau 2 tiếng xuất kích, tàu tuần tra của Hải đội 2 Bộ đội Biên phòng tỉnh đã tổ chức đẩy đuổi 16 tàu cá của Trung Quốc ra khỏi vùng biển VN, đồng thời bắt giữ 1 tàu mang số hiệu 14062 với 13 ngư dân đều mang quốc tịch Trung Quốc vì đã có hành vi xâm phạm chủ quyền vùng biển VN.
Sau khi bắt giữ, thuyền trưởng cũng như toàn thể ngư dân trên tàu 14062 đã thành khẩn khai nhận hành vi xâm phạm chủ quyền vùng biển VN để đánh bắt trộm hải sản. Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh quyết định phạt cảnh cáo và phóng thích phương tiện cùng các ngư dân Trung Quốc ra khỏi vùng biển VN.
Được biết, gần đây nhiều tàu cá của ngư dân Trung Quốc đã có hành vi xâm phạm trái phép vùng biển VN để đánh bắt trộm hải sản. Những trường hợp này, sau khi phát hiện và bắt giữ lực lượng biên phòng đều giải thích và phóng thích tàu thuyền cùng người vi phạm ra khỏi vùng biển VN. Không ít trường hợp, lực lượng biên phòng còn giúp đỡ, hỗ trợ ngư dân Trung Quốc để họ ra khỏi vùng biển chủ quyền VN một cách an toàn.”
Bản tin tương tự cũng đăng trên báo Người Lao Động. Điều ghi nhận rằng trong khi ngư dân Việt Nam gặp bão phải tấp vào đảo Hoàng Sa trú nấp, đã bị hải quân TQ đánh đập, cướp bóc và giam cho tới khi gia đình nộp tiền phạt mới thả.
Hành vi của Biên Phòng Thừa Thiên Huế là “đẩy đuổi, bắt giữ, cảnh cáo, phóng thích” thực ra là quá nhẹ. 
Trong khi đó, ngư dân VN đi lạc sang biển Thái Lan, biển Indonesia đều bị bắt giam vài tháng cho biết sợ rồi mới thả. Như thế, có phải nhà nước CSVN đang khuyến khích taù cá Trung Quốc tiếp tục vi phạm vùng biển VN khi chỉ “đẩy đuổi, cảnh cáo”?
Đặc biệt, khi TQ đưa hạm đội 17 tàu cá vào VN nên hiểu là hành vi cảnh cáo chính phủ Hà Nội, vì đúng vào ngày 10-11-2009 cũng là ngày Phó Trưởng ban Tuyên giáo TƯ Phạm Văn Linh họp báo ở Hà Nội loan báo rằng VN đã bày tỏ cứng rắn, trình hồs ơ khiếu kiện lên LHQ để đòi TQ trao trả Hoàng Sa và Trường Sa cho VN. Bản tin báo VietnamNet hôm Thứ Ba 10-11-2009 viết:
“Bác bỏ yêu sách đường 'chín đoạn' trên Biển Đông của TQ
Phái đoàn Việt Nam tại LHQ bác bỏ yêu sách đường "chín đoạn" của Trung Quốc, coi đây là yêu sách phi lý, không có cơ sở pháp lý, lịch sử và thực tiễn.
Chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo trên biển Đông, đặc biệt 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tiếp tục được nhắc lại tại Hội nghị tuyên truyền biển, đảo và phân giới, cắm mốc do Ban Tuyên giáo TƯ tổ chức ngày 10/11 tại Hà Nội.
Dưới sự chủ trì của Phó Trưởng ban Tuyên giáo TƯ Phạm Văn Linh, các đại biểu trao đổi những nội dung cơ bản, phổ thông về biển, đảo như luật biển quốc tế và hệ thống pháp luật về biển, đảo Việt Nam, các cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo trên Biển Đông, đặc biệt hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa...(...)
...Phái đoàn Việt Nam tại LHQ đã gửi công hàm phản đối công hàm của phía Trung Quốc, khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bác bỏ yêu sách đường "chín đoạn", coi đây là yêu sách phi lý, không có cơ sở pháp lý, lịch sử và thực tiễn.”
Cũng nên nhắc rằng, đài BBC loan tin rằng, trích:
“...Quốc hội Việt Nam hiện đang họp tại Hà Nội theo kế hoạch sẽ thông qua Luật về Dân quân Tự vệ, trong đó có điểm nói về phát triển lực lượng dân quân, tự vệ biển, "làm nòng cốt bảo vệ người dân trên biển".
Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội, ông Lê Quang Bình, được báo chí trích lời nói theo đề cương, "dân quân biển được tổ chức ở các xã ven biển, các xã đảo; còn tự vệ biển được tổ chức ở các doanh nghiệp, đơn vị kinh tế hoạt động trên biển như các hợp tác xã đánh cá, đơn vị vận tải trên biển".
Tuy nhiên đã có nhiều ý kiến phản biện về việc trang bị vũ khí cho dân quân biển, cho đây là hành động "nguy hiểm" đối với tính mạng của ngư dân...”
Hành vi TQ đưa hạm đội 17 tàu cá vào biển Thuận An thấý rõ là bày tỏ bất bình về việc tàu chiến Mỹ vào Đà Nẵng, và có thể hiểu là đàn anh TQ khẳng định rằng vùng biển (Thuận An, Hội An) quanh đảo Hoàng Sa là chủ quyền của TQ.
Biển Đông có vẻ khó bình yên.


Friday, November 13, 2009

Luật giang hồ trên Biển Đông

Khánh An, phóng viên đài RFA
2009-11-12

Sự kiện Hạ viện Indonesia sửa đổi Luật Thủy Sản, cho phép tàu tuần tra được bắn và đánh chìm tàu cá nước ngòai đánh bắt hải sản trái phép trong vùng biển của Indonesia, đã gặp phải phản ứng của một số quốc gia trong khu vực. 
 


Hải quân Indonesia di chuyển theo đội hình trong buổi tập dợt

Tuy nhiên, hành động của chính phủ Indonesia mặt khác cho thấy sự cứng rắn, không khoan nhượng của nước này trong việc bảo vệ quyền lợi, chủ quyền của mình trên Biển Đông. 

Khánh An tìm hiểu và so sánh phản ứng của một số nước trong khu vực và Việt Nam trong vấn đề khẳng định chủ quyền của mình.

"Chỉ một tuần trước khi Bộ luật sửa đổi của Indonesia được thông qua, tàu chiến của Indonesia đã nã đạn vào một tàu đánh cá Trung Quốc, khiến cho một thủy thủ chết và hai người khác trên tàu bị thương. 


Bài học về tinh thần dân tộc

Có thể nói, Indonesia và Philippines là hai nước ít nhượng bộ Trung Quốc nhất trong vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. 

Chỉ một tuần trước khi Bộ luật sửa đổi của Indonesia được thông qua, tàu chiến của Indonesia đã nã đạn vào một tàu đánh cá Trung Quốc, khiến cho một thủy thủ chết và hai người khác trên tàu bị thương. Trước đó không lâu, đã xảy ra vụ bắt giữ ngư dân Trung Quốc lớn nhất từ trước đến giờ từ phía chính phủ Indonesia, với 8 tàu đánh cả và 75 ngư dân, khiến cho chính quyền Bắc Kinh phải chính thức lên tiếng đòi trả tự do cho những ngư dân này. Phía Indonesia khẳng định các tàu này họat động trong khu đặc quyền kinh tế của Indonesia trên Biển Đông trong khi Trung Quốc liên tục bảo rằng đó là “khu vực đánh cá truyền thống” của nước này. Ngay sau khi vụ bắt giữ xảy ra, phía Trung Quốc đã lập tức tổ chức họp báo bác bỏ những tin tức mà phía Indonesia đưa ra, đồng thời gửi kháng thư khẩn cấp đến chính phủ Indonesia. Phát ngôn viên Bộ Ngọai giao Trung Quốc lên tiếng rằng “chúng tôi rất không hài lòng với chính quyền Indonesia” và “đòi hỏi chính quyền Indonesia thả ngay lập tức các ngư phủ và trả lại các thuyền đánh cá”. 

"Trước đó không lâu, đã xảy ra vụ bắt giữ ngư dân Trung Quốc lớn nhất từ trước đến giờ từ phía chính phủ Indonesia, với 8 tàu đánh cả và 75 ngư dân,



Trong khi đó, ở cùng thời điểm, 37 ngư dân của Việt Nam lại bị phía Trung Quốc bắt giữ khi đang đánh cá ở khu vực biển thuộc quần đảo Hòang Sa của Việt Nam, nhưng phía Bộ Ngọai giao Việt Nam chỉ gửi công hàm “yêu cầu phía Trung Quốc thả ngay các ngư dân và các tàu cá” sau khi có rất nhiều phản ánh từ phía các cơ quan truyền thông và người dân trong ngòai nước. 

Chính phủ Việt Nam luôn khẳng định chủ trương giải quyết các bất đồng thông qua thương lượng hòa bình. Tuy nhiên, thái độ và phản ứng của chính phủ Việt Nam trong nhiều tình huống đã không mang lại hiệu quả thực tế. Ông Dương Văn Thọ, chủ tàu đánh cá mang số hiệu QNg 6597 TS, có lần cho phóng viên Trân Văn biết:  

“Tôi thường gặp Hồng Kông, Đài Loan hay Nhật Bản cũng đều làm ở quần đảo Hoàng Sa nhưng mà mình chưa nghe bắt các nước ấy. Bắt Việt Nam không à! Nó lạ kỳ!”
Việt Nam nhượng bộ đến mức độ khó hiểu

Giáo sư Ngô Vĩnh Long chuyên về các vấn đề Á Châu tại Đại Học Maine (Hoa Kỳ) khi trả lời phỏng vấn với biên tập viên Thanh Quang, đã nhận xét rằng những “yêu cầu”, “đề nghị” của Việt Nam đối với những hành động lấn lướt của Trung Quốc là không thích hợp. Ông nói:

“Đây là cơ hội rất tốt cho Việt Nam để đem vấn đề này ra trước công luận thế giới, trước Liên Hiệp Quốc, mà bây giờ Việt Nam đang là thành viên của Hội Đồng Bảo An, cho nên nếu Việt Nam đưa vấn đề này ra thế giới thì Trung Quốc sẽ bị kẹt. Đây là một cơ hội để Việt Nam phản công, vậy mà Hà Nội lại phản ứng bằng cách đề nghị Trung Quốc đừng bắt ngư dân, đề nghị thế này đề nghị thế kia, mà là những đề nghị không ra gì cả.”



Chính phủ Việt Nam luôn khẳng định chủ trương giải quyết các bất đồng thông qua thương lượng hòa bình. Tuy nhiên, thái độ và phản ứng của chính phủ Việt Nam trong nhiều tình huống đã không mang lại hiệu quả thực tế. 


Ngay trong vụ Trung Quốc tự ý ra lệnh cấm đánh bắt cá ngay trong vùng lãnh hải của Việt Nam từ thời điểm 16/5 đến 1/8 vừa qua cũng khiến cho dư luận phẫn nộ, nhất là sau khi phía Trung Quốc bác bỏ đề nghị của Việt Nam muốn Trung Quốc bãi bỏ lệnh cấm đánh bắt cá hằng năm. Người phát ngôn của Bộ Ngọai giao Trung Quốc, ông Tần Cương, còn thẳng thắn tuyên bố đây là vấn đề “không thể tranh cãi”. Sự kiện này khiến giới quan sát nhắc lại một tình huống tương tự xảy ra cách đây 10 năm đối với Philippines. Khi đó, Trung Quốc cũng ra lệnh cấm ngư dân Philippines đánh bắt cá trên Biển Đông trong vòng 2 tháng. 

Ngay lập tức, chính phủ Philippines đã lên tiếng phản đối và nói rằng lệnh cấm hòan toàn không có hiệu lực đối với ngư dân Philippines. Bộ trưởng quốc phòng Philippines lúc đó đã nhấn mạnh rằng “chúng tôi đang đánh bắt cá trong vùng lãnh hải của chúng tôi. Họ (Trung Quốc) mới chính là người xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi”. 

Riêng về vấn đề tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa trong thời gian gần đây, Philippines luôn tỏ một thái độ khá cứng rắn đối với Trung Quốc và các quốc gia liên quan. Nước này đã thông qua một đạo luật khẳng định chủ quyền một phần thuộc Trường Sa vào hồi tháng 3. Sau đó, Philippines liên tục đầu tư nâng cấp các cơ sở hạ tầng quân sự trên 9 đảo thuộc Trường Sa mà nước này chiếm đóng, trong đó bao gồm cả việc xây dựng một sân bay quân sự. 

"Trung Quốc tự ý ra lệnh cấm đánh bắt cá ngay trong vùng lãnh hải của Việt Nam từ thời điểm 16/5 đến 1/8 vừa qua cũng khiến cho dư luận phẫn nộ, nhất là sau khi phía Trung Quốc bác bỏ đề nghị của Việt Nam .Phát ngôn của Bộ Ngọai giao Trung Quốc, ông Tần Cương, còn thẳng thắn tuyên bố đây là vấn đề “không thể tranh cãi”



Trong lịch sử, Philippines cũng có nhiều “thành tích” trong việc đuổi bắt tàu cá Trung Quốc, thậm chí theo lời của các quan chức Trung Quốc, Philippines đã tấn công và đâm vào tàu ngư dân Trung Quốc. Tuy nhiên, các quan chức Philippines luôn quả quyết đó chỉ là tai nạn và tai nạn ấy sẽ không xảy ra nếu các ngư dân Trung Quốc không xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.

Âm mưu bá chủ của Trung Quốc


Tờ “Nhật báo Đông Á” của Hàn Quốc nhận định, các tàu đánh cá Trung Quốc đang “càn quét” tất cả các vùng biển, gây ra tranh chấp khu vực và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên biển.

Việt Nam là một trong những nạn nhân đầu tiên cho tham vọng Trung Quốc chỉ vì cái “thế” địa chính trị của mình. Chính vì vậy, nhận định về những đối pháp mà Việt Nam có thể làm để giải quyết tranh chấp Biển Đông, Giáo sư Ngô Vĩnh Long cho rằng:

“Bây giờ nếu Việt Nam không khéo thì như tôi đã nói nhiều lần, Việt Nam cũng giống như một tuýp thuốc đánh răng, Trung Quốc sẽ ép từ biên giới phía Bắc xuống, Biển Đông sang, nó bóp Việt Nam bây giờ anh có phọt ra Phú Quốc thì nó cũng không tha, giống như là nó ép Tưởng Giới Thách ngày xưa chạy ra Đài Loan rồi bây giờ nó cũng không tha, thành ra Đài Loan phải nhờ cậy mấy nước khác mới có thể giữ được. 

An ninh Biển Đông là an ninh cho cả khu vực Đông Nam Á, vì thế phần lớn những nước trong khu vực đối với họ an ninh trên Biển Đông là vấn đề rất quan trọng. Nếu Việt Nam biết kéo sự đồng tình của các nước trong khu vực và ngoài khu vực như Mỹ và các nước khác, thì có thể không những bảo đảm vấn đề an ninh Biển Đông mà bảo đảm cả tương lai của đất nước việt Nam.”

Trở lại với sự kiện Indonesia sửa đổi Bộ Luật Thủy sản, mặc dù đây là một đạo luật gây nhiều phản ứng mạnh mẽ từ các quốc gia láng giềng nhưng xét về một khía cạnh nào đó, nó là một hành động tiêu biểu cho thấy câu trả lời rõ ràng, dứt khoát của nước này trước những hành vi xâm lăng của kẻ xâm phạm.

Wednesday, November 11, 2009

Tiếng nói từ Mộ Đức

Đỗ Mai Lộc

Tưởng niệm 50 năm ngày ông Phạm Văn Đồng ký công hàm công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Trung Quốc.

Tôi xin tự giới thiệu: Tôi là một công dân sinh ra và lớn lên trên quê hương Mộ Đức của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, được đào tạo liên tục từ tiểu học lên đại học một cách chính quy dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Về mặt gia đình tôi gọi ông Đồng bằng ông. Do nhà gần và có quan hệ nhất định nên trong gia đình tôi có người cũng theo ông Đồng rồi bị Pháp bắt và sát hại từ những năm 1930.

Tôi không có ý khoe khoang nhưng tôi muốn nói rằng không có lý do gì mà bản thân tôi lại không tự hào và kính trọng ông Phạm Văn Đồng.
Đúng là thế hệ chúng tôi đã từng rất tự hào là quê hương đã sinh ra một người con ưu tú. Một sự tự hào đã được giáo dục để trở thành “bản năng”, như là một “phản xạ không điều kiện”, mà trong tất cả các bài tập làm văn chúng tôi đều phải có những câu đại loại: “tự hào là một học sinh dưới mái trường XHCN, tự hào được sống trong thời đại Hồ Chí Minh, tự hào quê hương đã sinh ra Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”, vân vân và vân vân.
Nhận thức về sự kính trọng và tự hào cũng được đúc ra từ những khuôn mẫu có sẵn nhưng rồi cũng đến lúc chúng tôi cần tìm hiểu về những gì mình đã từng tự hào kính trọng. Chẳng hạn, cái gọi là mái trường XHCN mà chúng tôi ca ngợi cho đến bây giờ như thế nào vẫn chưa định hình được. Ngày xưa học dưới mái trường XHCN còn bây giờ đang “định hướng” XHCN nhưng lại được đánh giá là xã hội phát triển, có nghĩa là càng đi xa CNXH thì xã hội càng phát triển!

Còn về ông Hồ Chí Minh thì nhiều người đã nói rồi, tôi chỉ có thể ghi thêm lời dân gian quê chúng tôi ta thán:
“Sống dưới triều đại Cha Hồ
Làm con thì được, làm người thì không.”
Hôm nay, là người dân Mộ Đức, tôi nói về ông Đồng – hơn 30 năm làm Thủ tướng, ông đã làm được gì cho đất nước, quê hương.
Gọi ông là một nhà ngoại giao, một nhà chính trị tài ba đã giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là không đúng, bởi vì cuộc chiến tranh này có thể tránh được. Vả lại “thắng” nhưng không có “lợi”, những người Mỹ, chính sách Mỹ mà ông chống, bây giờ được mời quay lại Việt Nam. Cũng không có “nhà ngoại giao tài ba” nào lại ký công hàm công nhận lãnh thổ của mình cho quốc gia khác.
Nếu gọi ông là một nhà kinh tế cũng không đúng; vì lúc có một nửa đất nước ở miền Bắc ông không đưa ra được quốc sách nào có tính vĩ mô để tăng trưởng kinh tế, ngoài chính sách “tiết kiệm” để tích lũy, kiểu như “hạt gạo cắn làm hai, làm ba”. Còn sau tháng 4/1975 với chính sách hợp tác xã nông nghiệp và di dân đi kinh tế mới, ông đã bần cùng hóa cả miền Nam, vốn trước đó là một nước mạnh trong khu vực Đông Nam Á.
Nói ông là một nhà lý luận, một nhà văn hóa cũng không ổn. Ông có câu nói với thanh niên, học sinh: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải có những con người mới xã hội chủ nghĩa” nhưng ông lại vòng vo về cái chủ nghĩa xã hội và con người xã hội chủ nghĩa của ông. Con người mới khác con người cũ cái gì? Kiểu như “con gà, cái trứng” hay chính sách “có hộ khẩu mới có việc làm, có việc làm mới cho nhập khẩu” dưới thời của ông. Còn về văn hóa thì hình như ông hơi thiếu vốn tiếng Việt nên thường dùng đệm tiếng Pháp trong văn nói.
Người dân Mộ Đức “kính trọng” ông lắm! Tôi xin kể một số giai thoại về ông Đồng ở quê hương Mộ Đức:
Thời kỳ còn hợp tác xã nông nghiệp, mỗi lần ông về quê là dân Mộ Đức tới khổ. Trước khi ông về là tập trung ngụy quân, ngụy quyền tham gia chế độ cũ lên núi để tiếp tục học tập cải tạo cho đến khi nào ông đi mới thả về.
Trên tuyến đường ông qua, hai bên đường được bón rất nhiều phân urê, lúa xanh đậm thấy rất đẹp mắt. Ông khen địa phương làm ăn giỏi, chẳng mấy chốc nữa sẽ tiến lên Chủ nghĩa cộng sản. Nhưng đến khi ông đi thì chỗ phân nhiều bị cháy, chỗ thiếu phân còm cõi không trổ bông nổi. Mỗi lần ông về quê, một ngày công của xã viên được 4 lạng lúa (0,4 kg)!
Có một năm các xã ven biển ở Mộ Đức như Đức Lợi, Đức Minh, Đức Phong có con cá ông (dân biển gọi cá voi là cá ông, cá bà) cứ bơi lởn vởn ngoài biển ngang làm ghe tàu nhỏ của ngư dân không dám ra biển đánh cá; còn ở xã miền núi Đức Phú thì đêm đêm nhiều bầy heo rừng ra phá hoại hoa màu của dân, chính quyền địa phương bất lực. Gặp lúc ông Đồng về quê, nghe báo cáo tình hình địa phương xong, sáng hôm sau ông xuống biển chờ cho cá ông nổi lên ông nói “Yêu cầu các đồng chí kết nạp cá thành xã viên hợp tác xã”. Cá ông nghe thế lặn tuốt ra biển. Chiều đến, ông lên núi xem hoạ heo rừng phá hoại hoa màu. Ông cũng nói với cán bộ địa phương cho chúng vào hợp tác xã là chúng sẽ thuần hết, nhưng cán bộ địa phương nói: “thưa bác, chúng nó đã vào hợp tác xã lâu rồi, chúng cũng làm ăn tập thể đàng hoàng, lúc nào xuống phá bà con cũng đi hàng đàn từ vài ba chục con trở lên”. Ông Đồng nói: “Vậy thì cho đi kinh tế mới!”. Kể từ tối hôm ấy cả xã Đức Phú không còn con heo rừng nào dám ra phá nữa.
Có người hỏi ông Đồng, sao ông không nhận để người ta gọi bằng Bác, ông nói: “Ông Hồ xưng là Cha, nếu tôi xưng là Bác, tức là anh của ông Hồ à!”
Có lần ông tới thăm nhà chị là bà Thừa Xuân, có mảnh vườn trồng rau để ăn và để bán. Hồi đó tiền có giá, ông nghe người ta mua bán nhau nắm rau, quả cà, cứ nói “một đồng, hai đồng”, ông giận lắm vì bị mấy bà hàng xén ở chợ gọi tên huý ra. Sau đó ông về Hà Nội và quyết định “nâng” tiền Việt Nam, để từ đó người ta không kêu “một đồng hai đồng” nữa mà chuyển qua “một ngàn, hai ngàn” cho đến bây giờ.
Sự kính trọng của người dân Mộ Đức đối với ông Đồng là như thế đó. Còn sự tự hào thì sao? Sau khi biết được ngày 14/9/1958 ông Phạm Văn Đồng ký công hàm công nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc thì người dân Mộ Đức cảm thấy nhục nhã thay cho ông. Cuộc đời con người hay chế độ chính trị có thể có nhiều sai lầm, nhưng bán đất bán nước cho ngoại bang thì là sai lầm không thể tha thứ được. “Noi gương” ông là Trần Đức Lương – với tư cách là Chủ tịch nước đã ký hiệp định đường biên trên bộ và trên biển tiếp tục nhượng đất và biển cho Trung Quốc.
Rồi đây, lịch sử dân tộc Việt Nam sẽ ghi:
- Ông Phạm Văn Đồng quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi, với tư cách là Thủ tướng Chính phủ, ngày 14/9/1958 đã ký công hàm công nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc.
- Ông Trần Đức Lương quê ở Đức Phổ, Quảng Ngãi, với tư cách là Chủ tịch nước, ngày 30/12/1999 đã ký Hiệp ước biên giới trên đất liền nhượng cho Trung Quốc hàng ngàn cây số vuông, tiếp đến ngày 25/12/2000 đã ký Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ tiếp tục nhượng hàng chục ngàn cây số vuông mặt biển cho Trung Quốc.
Vậy là Quảng Ngãi có hai tội đồ cùng tham gia bán nước dưới triều đại Hồ Chí Minh.
Nhân dân Mộ Đức, Quảng Ngãi có thể có sự kính trọng, tự hào được không? Không, hoàn toàn không! Ngay cả chính con cháu trong tộc họ Phạm không ai dám ngẩng cao đầu để tự hào là con cháu ông Phạm Văn Đồng. Họ cũng biết rằng, Nguyễn Thân (quê ở Thạch Trụ, Mộ Đức, Quảng Ngãi) là đại thần triều Nguyễn câu kết với thực dân Pháp chống phá phong trào Cần Vương, tiêu diệt nghĩa quân Phan Đình Phùng, sau năm 1945 đã bị Việt Minh cho đào phá toàn bộ mồ mả, nhà cửa (Có lẽ vì vậy mà Cộng Sản không dám đưa ông Phạm văn Đồng về chôn ở quê nhà, còn ông Trần Đức Lương khi hết làm chủ tịch nước cũng không dám về Quảng Ngãi).
Kể ra thì ông Đồng cũng biết sám hối, khi cuộc đời đã xế chiều sống trong bóng tối của sự mù lòa và của xã hội ông tham gia tạo nên; vị thủ tướng ba phải, hiền lành đến nhu nhược, đã có câu nói trứ danh “Không ai làm thủ tướng lâu như tôi và cũng không ai làm khổ dân nhiều hơn tôi!” – có lẽ đó là câu nói duy nhất đúng trong cuộc đời của ông.
Không những ông làm khổ dân lúc còn sống, mà ông còn làm khổ dân khi đã chết. Biết bao giờ nhân dân Việt Nam mới lấy lại được Trường Sa, Hoàng Sa? Còn người dân Quảng Ngãi tiếp tục è cổ ra nộp thuế để xây lăng mộ cho dòng họ Phạm của ông, xây bảo tàng, nhà tưởng niệm Phạm Văn Đồng.
Ngày 1/9/2008 Quảng Ngãi đã khánh thành “Khu lưu niệm Phạm Văn Đồng”; theo thông báo chính thức từ chính quyền, tổng kinh phí hơn 46 tỉ đồng, trong đó phần xây lắp hơn 20 tỉ, trên diện tích hơn 2 ha (Giá đất là 1,3 triệu/m2, trị giá đất khoảng 26 tỉ).
Bốn mươi sáu tỉ kia có thể làm được những gì cho nhân dân Mộ Đức, Quảng Ngãi?
Xin thưa:
- Xây dựng 3.067 ngôi nhà cho người nghèo;
- Tạo điều kiện cho 115.000 trẻ em nghèo có điều kiện mua sách vở đến trường trong năm học mới;
- Là tiền thuế của 144.230 người dân Mộ Đức trong 2 năm (Dự toán thu ngân sách năm 2008 của huyện là 23,1 tỉ đồng)
Đó là chưa tính đến các chi phí khánh thành, duy tu, chi lương cho nhiều người trông coi, bảo vệ.
Một người con của quê hương núi Ấn sông Trà, nhưng đến khi chết rồi vẫn còn làm khổ nhân dân Quảng Ngãi, có phải vì ông là đảng viên Cộng sản, học trò của Hồ Chí Minh không? Trong khi cụ Huỳnh Thúc Kháng, quyền chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam dân chủ cộng hòa, yên nghỉ trên núi Ấn lộng gió, ngôi mộ đơn giản được xây dựng từ thời ông Ngô Đình Diệm, ngày ngày khách trong ngoài nước, đủ mọi thành phần đến viếng thăm đều thể hiện lòng tôn kính.
“Vạn Niên là Vạn Niên nào
Thành xây xương lính, hào đào máu dân”
Câu ca dao xưa đi vào tiềm thức của thế hệ chúng tôi, “thế hệ sinh ra và lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa”; câu ca dao khơi mào cho cuộc khởi nghĩa nông dân mang tên “khởi nghĩa Chày Vôi” (năm Bính Dần 1866) xuất phát từ việc xây dựng Vạn niên cơ, quân sĩ và dân phu phải làm lụng khổ sở, nhiều người oán giận, vua Tự Đức một thời đã đi vào lịch sử dân tộc là vị vua hôn quân vô đạo.
Tôi đã đến lăng mộ vua Tự Đức, cũng đã đến khu tưởng niệm Phạm Văn Đồng. Trên tất cả mọi phương diện (đất đai, diện tích, quy mô, kinh phí, thời gian, …) lăng Tự Đức còn lâu mới bằng khu tưởng niệm Phạm Văn Đồng – một vị thủ tướng dưới chế độ XHCN còn hơn cả vị hoàng đế của triều đại phong kiến, ngay cả khi đã chết.
Lịch sử rất sòng phẳng. Thời gian trôi qua, dân tộc sẽ có cái nhìn khách quan hơn, đánh giá công, tội một cách rõ ràng; sự kính trọng đối với từng nhân vật lịch sử không cần phải áp đặt, cưỡng chế.

Là một người dân Mộ Đức, tôi cảm thấy có tội khi nói thêm (Quê tôi) “là quê hương của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng”.

Đỗ Mai Lộc

Tuesday, November 10, 2009

Hạm trưởng Lê Bá Hùng: Tôi tự hào vì mang trong mình những di sản VN

2009-11-07

Chiến hạm USS Lassen của Hoa Kỳ cập cảng Tiên Sa, Đà Nẵng trong khuôn khổ chuyến thăm hữu nghị đến Việt Nam. Chỉ huy chiến hạm này là một người Mỹ gốc Việt, trung tá Lê Bá Hùng, một người sinh ra tại Huế và di tản khỏi Việt Nam hồi năm 1975 lúc mới lên năm tuổi.

Courtesy navy.mil(photo by Mass Communication Specialist Seaman Charles Oki.)

Hai hàng thủy thủ đón Hạm Trưởng Lê Bá Hùng.

Khi chiến hm USS Lassen va ri Nht Bn và trên đường đến Vit Nam, Gia Minh có cuc nói chuyn đin thoi ngn vi trung tá Lê Bá Hùng v chuyến đến Vit Nam trên chiến hm USS Lassen.

Do xa quê hương đã lâu nên trung tá Lê Bá Hùng cho biết quên quá nhiu t Vit Nam đ có th tr li bng tiếng Vit mt cách trôi chy nên ông xin li quí thính gi và xin tr li bng tiếng Anh.

Đây là chuyến tr v Vit Nam ln đu tiên sau hơn 34 năm, nên trước hết trung tá Lê Bá Hùng chia x mt s cm xúc như sau:

TT Lê Bá Hùng: Tôi tht s hết sc háo hc trước cơ hi được đến thăm Vit Nam sau bao nhiêu năm. Đi ngũ sĩ quan và thy th trên chiến hm ca tôi cũng hết sc náo nc đi vi cơ hi mà tôi có th nói ch có th xy ra mt ln trong đi người như thế này mà chúng tôi mang trng trách đi din cho Hoa Kỳ đến vi đt nước Vit Nam và con người Vit Nam. 

Tôi tht s hết sc háo hc trước cơ hi được đến thăm Vit Nam sau bao nhiêu năm. Đi ngũ sĩ quan và thy th trên chiến hm ca tôi cũng hết sc náo nc đi vi cơ hi mà tôi có th nói ch có th xy ra mt ln trong đi người như thế này mà chúng tôi mang trng trách đi din cho Hoa Kỳ đến vi đt nước Vit Nam và con người Vit Nam.

TT Lê Bá Hùng

Gia Minh: Hn nhiên gia đình ca trung tá trong nhng năm qua cũng k cho ông nhiu điu v Vit Nam, vy nhng hình nh hin vn in sâu trong trí trung tá là gì?

TT Lê Bá Hùng: Dĩ nhiên b m tôi nói vi tôi v ông bà, nhng người sng Huế và đã qua đi. Đương nhiên trong quá trình ln lên tôi đã tri nghim qua nn văn hóa Vit Nam, hng năm gia đình tôi đu đón mng Tết vi nhng sinh hot và ăn nhng món truyn thng như bún bò Huế, bánh canh, bánh lc, ph.

Bn thân tôi thc s cũng có th nu nhiu món đó. Tôi vô cùng t hào v ngun gc truyn thng Vit Nam ca tôi, và mt ln na tôi xin nói là tôi rt náo nc trước cơ hi được đến Đà Nng.

Mt s thân nhân tôi trong nhng năm qua có tr v Vit Nam, m tôi v nghĩ Vit Nam my kỳ, các anh ch ln ca tôi cũng đu có v Vit Nam.

Riêng bn thân tôi chưa v Vit Nam vì t năm 18 tui tôi đã vào Hc vin Hi quân, hc đó bn năm, sau khi ra trường thì làm sĩ quan đến 17 năm và rt bn rn nên không có dp v Vit Nam chơi. Nay thì tht là may tôi có cơ hi đ tr v Vit Nam.

T hào về nguồn gốc VN     

Gia Minh: Khi đến Vit Nam trong mt dp như thế này, trung tá s gp nhng quan chc quân s Vit Nam, nhiu thành phn khác nhau Vit Nam, vy thông đip mà trung tá s chuyn đến cho h là gì?

TT Lê Bá Hùng: Tôi s nói vi h là tôi rt t hào vì mình là mt công dân Hoa Kỳ đng thi cũng t hào mình được sinh ra Vit Nam và mang trong mình nhng di sn Vit Nam. Tôi ln lên, hc hi trong mt gia đình vi nn văn hóa Vit Nam mnh m vi mi quan h gia đình bn cht, người tr tôn trng người ln và dĩ nhiên có nhng món ăn truyn thng Vit Nam.

Tôi xin nhc li là tôi rt hãnh din v truyn thng Vit Nam ca gia đình; tóm li tôi t hào là công dân Hoa Kỳ và t hào mình là người M gc Vit.   

Tôi rt t hào vì mình là mt công dân Hoa Kỳ đng thi cũng t hào mình được sinh ra Vit Nam và mang trong mình nhng di sn Vit Nam. Tôi ln lên, hc hi trong mt gia đình vi nn văn hóa Vit Nam mnh m vi mi quan h gia đình bn cht, người tr tôn trng người ln.

TT Lê Bá Hùng

Gia Minh: Trong ln đến Vit Nam này , nếu có người nhc li vi Trung tá v cuc chiến Vit Nam mà Hoa Kỳ tham gia, thì trung tá s nói gì vi người đó?

TT Lê Bá Hùng: Theo tôi thì có th điu đó có kh năng xy ra, tôi cho rng có th Đà Nng thì không ai hi nhưng nếu tôi ra Hà Ni thì chc s gp mt s người nói v quá kh chiến tranh đó; nhưng ln này thì tôi không đi Hà Ni.

Tuy vy nếu có người nhc đến cuc chiến đó thì tôi s nói vi h rng chiến tranh là điu đáng bun nht: nhiu người đã phi b mng,nhng đng bào cùng mt quc gia phi hy sinh trong mt cuc ni chiến, thế ri nhiu binh sĩ Hoa Kỳ cũng phi b mình và như thế là mt điu rt đáng bun. Tuy nhiên trong nhng năm qua quan h Hoa Kỳ và Vit Nam đã có ci thin và tôi mong mun s hp tác đang gia tăng s tiếp tc.  

Gia Minh: K t khi nhn nhim v ch huy chiến hm USS Lassen hi tháng tư năm nay, trung tá đã đến viếng thăm nhng quc gia nào trong khu vc?

TT Lê Bá Hùng: T tháng tư cho đến nay khi trong vai trò ch huy chiến hm tôi đã đưa tàu đến thăm Hàn Quc, Singapore và mt s thành ph khác Nht Bn. Chuyến đến Vit Nam ln này có đim đc bit đi vi chúng tôi vì hu hết các thy th trên tàu chưa h bao gi đến đó, nên chúng tôi mong được ngm xem nhng cnh trí đp, thưởng thc các món ăn đa phương, và gp nhng người dân ti đó.

Gia Minh: Chiến hm USS Lassen thuc hm đi 7 ca Hoa Kỳ ti khu vc Thái Bình Dương, và nhim v được nói giúp duy trì n đnh trong khu vc, vy trung tá có nhn đnh v tình hình an ninh ti vùng Đông Á hin ra sao?

TT Lê Bá Hùng: Hi quân Hoa Kỳ đã hot đng ti khu vc Tây Thái Bình Dương hơn 150 năm nay S hin din ca chúng tôi giúp duy trì n đnh và giúp c xúy nhng bin pháp hòa bình khi có xy ra nhng khác bit như tình hình tranh chp lãnh hi mà chúng tôi biết được.

Chúng tôi tiến hành nhng cuc tp trn, đến thăm các cng khác, tho lun cũng như thc hin nhng công tác nhân đo vi gn hai chc quc gia khác nhau trong khu vc. Nhng hot đng đó giúp thiết lp nên quan h đi tác trên bin mà có th đưa đến tình hình an ninh hơn, cũng như quan h thân thin chung.

Gia Minh: Cám ơn Trung tá v cuc nói chuyn va ri và chúc chuyến đến Vit Nam thành công.

TT Lê Bá Hùng: Trước hết xin cám ơn vì cho tôi cơ hi lên tiếng trên Đài Á châu T do. Tôi lp li là mình hết sc vinh d được làm hm trưởng mt chiến hm ca Hoa Kỳ và rt t hào v di sn Vit Nam.

Đây là vài li ca tôi đi vi thính gi Vit Nam: Xin cám ơn nhiu!