Translate

Saturday, May 16, 2009

Lựa chọn

Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam hiện nay đang đứng trước một bài toán vô cùng nan giải. Trước một nước láng giềng vốn có tính tham lam từ nghìn xưa, giới lãnh đạo trước đây đã ngu muội ký những văn bản công nhận chủ quyền của Trung Cộng tại vùng biển Đông, liệu bây giờ phải có giải pháp như thế nào? Đây quả là điều hóc búa. Phải có một cách ứng xử như thế nào để bảo tồn được sự toàn vẹn lãnh thổ?
Trung Cộng mới đây đã ra lệnh "cấm" không được đánh bắt cá trong vùng biển Đông. Đây quả là một quyết định ngang ngược, bất chấp công pháp quốc tế. Việt Nam đã có phản ứng phản đối về sự vi phạm chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa.
Trong tình hình hiện tại, vấn đề đặt ra ai sẽ là đồng minh của Việt Nam? Giải được bài toán này, nhà cầm quyền Việt Nam mới có thể lèo lái được con thuyền quốc gia vượt qua chặng đường khá chông gai và gay go hiện nay.

Friday, May 15, 2009

Bản chất bá quyền

Trong lịch sử của Việt Nam, Trung Hoa ở phương Bắc luôn luôn là một thế lực nuôi mộng thôn tính Việt Nam. Cha ông ta luôn đặt đất nước ở trong tình trạng đề cao cảnh giác với kẻ thù phương Bắc. Chỉ từ khi một nửa nước lọt vào tay Cộng Sản, Hồ Chí Minh vì muốn chiếm luôn miền Nam đã có liên kết "chiến lược" với kẻ thù của dân tộc với câu nói cửa miệng của những học trò hắn: "môi hở răng lạnh". Cũng vì răng "quá lạnh" cho nên năm 1979, răng đã "cắn dập môi". Những bài học lịch sử đối với kẻ thù phương Bắc vẫn muôn đời có giá trị.
Việt Nam vừa đệ trình lên Liên Hiệp Quốc văn bản công bố về thềm lục địa của mình. Điều này rất là đúng và cũng do sự phản ứng của người Việt ở trong nước và ở hải ngoại cho nên nhà cầm quyền VN mới gấp rút gởi cho Liên Hiệp Quốc. Sau khi Việt Nam công bố văn bản về thềm lục địa, Trung Cộng đã có phản ứng quyết liệt. Với bản chất tham lam, chúng tuyên bố rằng chủ quyền của chúng tại biển Đông là "bất khả tranh cãi". Chúng tuyên bố bản báo cáo lãnh hải của Việt Nam là phi pháp và vô giá trị. Điều này càng để lộ rõ bản chất tham lam của Trung Cộng.
Gần đây, Trung Cộng đã có những hành động gây hấn cả với Hoa Kỳ là quốc gia lâu nay có một hải lực hùng hậu ở Thái Bình Dương. Chúng cho tàu cá đến cản trở các tàu nghiên cứu của Hoa Kỳ. Nhưng cẩn thận! Chúng đang đùa với lửa. Hoa Kỳ hôm 12 tháng 5 đã điều động phi cơ tàng hình đến Nhật và Guam. Đây là những phi cơ tối tân nhất của không lực Hoa Kỳ. Việc điều động phi đội tối tân này đến Thái Bình Dương cũng là nhắm đến những hành động của Trung Quốc. Chúng ta chờ xem những diễn biến mới sẽ xảy ra trong tương lai ở một vùng mà tình trạng căng thẳng đang nóng dần lên.

Thursday, May 14, 2009

anh cóc [thơ con cóc]

anh cóc thương em theo tình việt cộng
cứ thấy "bác hồ nằm giữa chúng ta"
anh cóc thương em theo tình xỏ lá
lại thằng già này lạng quạng vào ra
hơn ba mươi năm sau đàn két vẫn rướn cổ lên ca
không phải CD hay DVD mà cuộn băng cassette:
nhão nhẹt!

d ư ơ n g n ỗ
12 tháng 5, 2009

620 lao động Trung Quốc làm việc tại Việt Nam

Trích VietNam Net

- Thống kê từ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Quảng Nam, hiện trên các công trình xây dựng tại Quảng Nam có hơn 620 lao động là người Trung Quốc đang làm việc…

TIN LIÊN QUAN
Số lao động người Trung Quốc đang có mặt tại một số công trình xây dựng thuỷ điện thuộc địa bàn vùng núi Quảng Nam hiện vẫn chưa xác định là chuyên gia hay là lao động phổ thông vì chưa được kiểm tra.

Tuy nhiên, hồ sơ của các đơn vị sử dụng lao động này xác nhận là các chuyên gia về xây dựng thuỷ điện.

Nhiều lao động nước ngoài làm việc trên địa bàn vẫn chưa xác định được là lao động phổ thông hay chuyên gia. Ảnh: H.A

Chỉ tính riêng tại 3 công trình xây dựng gồm: thủy điện Za Hung, thuỷ điện Sông Kôn 2 (huyện Đông Giang)công trình nhiệt điện Nông Sơn (huyện Nông Sơn) hiện có khoảng 620 người Trung Quốc đang sinh sống và làm việc tại đây.

Đây là số lao động do các đơn vị trúng thầu xây dựng các công trình này tuyển dụng lao động Trung Quốc.

Ông Nguyễn Anh Ánh, Chánh Thanh tra Sở LĐTB&XH Quảng Nam cho biết, Thanh tra Sở đã phát hiện và có nhiều văn bản nhắc nhở các đơn vị sử dụng lao động này kê khai, báo cáo số lao động này theo qui định của pháp luật. Tuy nhiên, các đơn vị sử dụng lao động này vẫn không báo cáo cụ thể.

Để xác định rõ các lao động người Trung Quốc này có phải là chuyên gia hay là lao động phổ thông, tỉnh Quảng Nam yêu cầu ngành lao động thương binh và xã hội tiến hành thanh tra làm rõ.

"Quan điểm của UBND tỉnh Quảng Nam là không tiếp nhận lao động phổ thông người nước ngoài, chỉ tiếp nhận chuyên gia trên các lĩnh vực mà đất nước đang cần và thiếu"- ông Đinh Văn Thu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam khẳng định.

Hiện Sở LĐTB&XH tỉnh đã thành lập đoàn tổng kiểm tra toàn bộ số lao động người nước ngoài đang làm việc tại Quảng Nam, mà trọng điểm là số lao động người Trung Quốc làm việc trên các công trình xây dựng thuỷ điện tại địa bàn vùng núi Quảng Nam trong những ngày tới.

  • Hoàng Anh

Monday, May 11, 2009

Cảm xúc nhân ngày quốc hận 30 tháng 4

Bài của một du học sinh từ VN

Trích Người Việt Boston

H.N.A. (Một Sinh Viên Du Học Từ Việt Nam)

Ngày 30 tháng Tư, trong lúc người ở miền Bắc gọi là “ngày đại thắng”, thì nhiều người ở miền Nam nhớ lại những mất mát chia lìa, người có thân nhân bị tập trung tù “cải tạo”, kẻ có người thân chết trên đường vượt biên… Ba tôi cũng vậy, cứ mỗi độ tháng Tư về, lúc nào tôi cũng thấy ba tôi ngồi đăm chiêu…

Ba tôi bảo ba đang nhìn về quá khứ và tiếc nuối một thời đã qua. Ba thường nhắc lại khoảng thời gian mà không biết bao người đau khổ trắng tay vì những đợt “cải tạo tư sản”, biết bao gia đình ở miền Nam bị quy là “ngụy quân ngụy quyền” để bị tịch thu hết tài sản và phải rời thành phố đi vùng “kinh tế mới”. Thật đáng sợ khi trong khoảng thời gian đó, người dân cả nước phải chịu sự lãnh đạo và nắm quyền bởi những người thậm chí không được học hành, không biết một chữ cắn đôi. Đến tận bây giờ, tôi mới hiểu được nỗi lòng của ba tôi cũng như những người bạn bè của ba, khi phải sống trong chế độ cộng sản, khi phải trải qua một thời gian dài bị tù đày trong nhà tù cộng sản. Hầu hết những người lính Việt Nam Cộng Hòa như ba tôi sau khi ra khỏi nhà tù Cộng Sản đều trở nên gầy gò, ốm yếu. Chưa kể đến biết bao nhiêu người lính đã hy sinh khi phải hứng chịu những đòn roi tra tấn tàn bạo, nhưng lại được che đậy bằng cụm từ “học tập cải tạo.”

Qua những câu chuyện của ba tôi, dần dần tôi có những cái nhìn khác hơn về thời cuộc, hay nói đúng hơn là tôi nhận ra rằng những gì mà tôi được học ở trường VC trong suốt 12 năm qua chỉ là sự giả tạo, là lịch sử do Đảng Cộng Sản Việt Nam viết lên. Qua những câu chuyện của ba, tôi bắt đầu muốn tìm hiểu về bộ mặt thật của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Tôi cố tìm thông tin trên những websites ở hải ngoại và phát hiện ra nhiều Sự Thật khiến tôi ngỡ ngàng. Hóa ra, tôi và những người dân trong nước đã sống trong sự dối trá suốt mấy chục năm qua. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã rất tài tình khi che giấu, bưng bít những tin tức không có lợi cho họ. Tất cả mọi người đều bị che mắt và bịt tai, mê muội nghe theo lời đường mật của những kẻ đang nắm chính quyền. Lớp trẻ chúng tôi đều bị nhồi sọ qua những bài giảng trong lớp học, rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội mới mang lại cho người dân sự ấm no và hạnh phúc. Và nghiễm nhiên, chủ nghĩa xã hội được coi là một môn học bắt buộc trên ghế nhà trường. Trên thế giới, thực tế còn bao nhiêu nước theo chủ nghĩa xã hội? Và người dân ở những nước đó có thực sự sống trong một đất nước Độc Lập, Tự Do, và Hạnh Phúc hay không?
Biết bao nhiêu trò lừa gạt của Cộng Sản đã bày ra nhưng được che đậy bởi những từ ngữ hoa mỹ: “Tất cả vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.”
• Đất nước có mạnh được không khi người dân bị cho là quấy rối chỉ vì đứng lên đòi lại đảo Trường Sa - lãnh thổ của mình mà thuở xưa, cha ông ta đã đánh đổi bằng xương máu.
• Một đất nước có công bằng không khi những kẻ lãnh đạo chính quyền tham nhũng, cướp đất của dân, khiến hàng ngàn người dân mất đất, mất nhà.
• Có dân chủ không khi chỉ cần một câu nói đả kích Đảng Cộng Sản Việt Nam là sẽ bị quy vào tội “phản động, chống phá nhà nước”.
• Một đất nước có được gọi là Độc Lập, Tự Do không, khi mà người dân không có quyền nói lên tiếng nói của mình. Đất nước tự do mà toàn bộ hệ thống chính quyền đều nằm dưới sự quản lý của Cộng Sản. Xã hội được gọi là hạnh phúc mà hàng triệu người dân phải sống trong cảnh lầm than! Liệu như vậy có thật sự là một đất nước độc lập, tự do, hạnh phúc?
• Ngày nay, trước sự bùng nổ của công nghệ thông tin, người dân trong nước, đặc biệt là những người sống ở miền Nam, đều có cơ hội tìm hiểu và nhận ra bộ mặt thật của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Tuy nhiên, trước nguy cơ bị quy là phản động, trước sự an toàn cho gia đình và người thân, họ không dám nói lên tiếng nói của mình.

Tôi thật sự rất xấu hổ khi Việt Nam hiện nay được liệt kê vào danh sách những nước không có Nhân Quyền, không có Tự Do Tôn Giáo, không có được quyền làm người.
Tôi cảm thấy mình rất may mắn vì có cơ hội được đi du học ở Mỹ, được tận mắt nhìn thấy lá cờ của nước Việt Nam Cộng Hòa phất phới bay trong gió - lá cờ vàng ba sọc đỏ đầy ý nghĩa mà trước đây, tôi được nghe ba tôi giải thích màu vàng là màu quốc thổ, cũng là tượng trưng cho người Việt Nam da vàng, ba sọc đỏ là tượng trưng cho ba miền Bắc, Trung, Nam.
Tôi cảm thấy mình may mắn rất nhiều vì có cơ hội được biết thế nào là Dân Chủ, là Nhân Quyền, được tiếp cận với ánh sáng Công Lý, được thoải mái phát biểu ý kiến, nói lên suy nghĩ của mình mà không bị cho là “phản động”. Không như trước đây khi còn ở Việt Nam, tôi phải rỉ tai bạn tôi, khi muốn đánh giá về bức ảnh Cha Lý bị bịt miệng tại phiên tòa xét xử. Chúng tôi phải âm thầm truyền nhau đọc những bài báo hải ngoại nói lên sự thật về Đảng Cộng Sản Việt Nam. Biết nói sao cho hết những nỗi khổ mà người dân trong nước hiện nay phải gánh chịu!

Lại một tháng Tư qua, tôi cảm thấy đau lòng cho số phận của người dân Việt Nam hiện ở trong nước. Tôi mong rằng một ngày không xa, họ sẽ thực sự được sống trong một đất nước tự do, dân chủ, một đất nước, nơi mà người dân có được quyền sống, quyền làm người. Chúng ta, những người may mắn được sống, học tập, và làm việc ở một đất nước tự do và dân chủ cần có những hành động cụ thể để giúp cho những người không may đang sống trong nước, để họ cũng được biết thế nào là Tự Do và Dân Chủ.
Không chỉ bằng lời nói, chúng ta hãy cùng nhau hành động, cùng nhau chung tay tham gia vào những sinh hoạt Cộng Đồng để đóng góp khả năng và công sức của mình để xây dựng một Cộng Đồng Việt Nam vững mạnh ở hải ngoại. Chúng ta phải bằng mọi cách làm cho lớp trẻ ở trong và ngoài nước hiện nay có cái nhìn đúng đắn và biết rõ bộ mặt thật của Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay.

Tháng 4, 2009

Sunday, May 10, 2009

Cảm tác

Cảm tác khi đọc bài thơ "Qua Đồng Bà Chiêu"

Ba mươi mấy năm quê nhà đầy bóng giặc
Thương làm sao đất nước lắm đọa đày
Thù trả chưa xong sầu uất nghẹn
Mối hận này thề phải trả cho xong

Đêm thao thức cảm thương người chiến sĩ
Ngày tan hàng bao kiếp sống thê lương
Người nổi trôi nơi đất khách quê người
Kẻ lang bạc trong mảnh đời gian khổ

Thương thương lắm người chiến binh bất khuất
Súng trên tay đành phải để mất thành
Hồn đất nước như thét gào trong bão lửa
Hận đời đời và hận cả thiên thu

PHP

05/09/09



Saturday, May 9, 2009

Mother's Day

Gởi tặng Mạ

Đôi mắt Mạ trũng sâu
Trong những đêm mất ngủ
Lo cho cả đàn con
Bên ni và bên nớ

Thới gian nào quay lại
Những chuỗi ngày gian nan
Những tháng năm vất vả
Dáng Mạ gầy, con thương

Nay Mạ tuổi đã già
Vẫn còn nhiều lo toan
Biết bao điều phiền não
Ôi thương Mạ làm sao!

Hôm nay ngày của Mẹ
Con viết vội bài thơ
Với tấm lòng thương kính
Gởi tặng Mạ, Mạ ơi!

PHP
05/09/09

Có phải là đã có sự thay đổi?

Gần dây, nhà cầm quyền CSVN cho đặt mua 6 tàu ngầm từ nước Nga. Phải chăng đã có sự chuyển biến trong suy nghĩ của giới cầm quyền. Chúng ta cũng nhớ rằng một phái đoàn quân sự cao cấp của CSVN đã được mời viếng thăm một chiến hạm của Hoa Kỳ đâu ngoài khơi gần với hải phận VN. Điều này dĩ nhiên là làm cho Trung Cộng phải tức giận. Mới đây Trung Cộng đã hai lần cho tàu cá đến để khiêu khích chiến hạm Hoa Kỳ. Trung Cộng còn biểu dương lực lượng bằng một diễn binh trên biển với lời mời giới chức quân sự trong vùng Đông Nam Á kể cả Hoa Kỳ đến để quan sát. Nhưng giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng có sự tương quan lực lượng như thế nào? Chúng ta cũng nhận thấy rằng Trung Cộng cũng khó mà bắt kịp Hoa Kỳ trong lãnh vực quân sự. Chúng ta hãy chờ xem sự thể diễn biến như thế nào trong tương lai.
Mới đây, Hà Nội đã đăng ký thềm lục địa với Liên Hiệp Quốc. Điều này là điều đáng làm và đã làm cho Trung Cộng tức giận. Lịch sử Việt Nam 4000 năm với truyền thống chống giặc ngoại xâm phương Bắc của cha ông phải chăng đã làm thức tỉnh nhà cầm quyền Việt Nam? Dù sao đi nữa, nhà cầm quyền CSVN cũng cần phải có những quyết định sáng suốt hơn trong việc bảo vệ chủ quyền, đáp ứng được nguyện vọng của dân chúng, khỏi hổ thẹn với tiền nhân.

Thursday, May 7, 2009

Người xưa ở phương nao

Từ trường Phan Chu Trinh
Bước sang Nữ Hồng Đức
Đứng lớ ngớ cổng trường
Lòng lo âu hồi hộp

Kìa áo trắng đến gần
Dúi vội tờ thơ nhỏ
Mặt đỏ bừng xấu hổ
Em kẹp vào túi mang

Kể từ đó yêu nhau
Hẹn hò nhau cuối phố
Những buổi đi ăn kem
Những chiều cùng dạo phố

Thắm thoắt mấy mươi năm
Tình xưa bay theo gió
Người xưa ở phương nao
Vương mang bao kỷ niệm

PHP
05/07/09



Một bước mới để tập trung quyền lực của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Từ khi nắm được quyền hành cai trị tại Việt Nam, Đảng Cộng Sản và cơ quan cầm quyền riêng biệt nhau mặc dầu cơ quan cầm quyền chỉ là hư vị và chịu sự khống chế của Đảng. Nhưng mới đây, Đảng CSVN đã có một bước tiến mới trong việc tập trung quyền lực về tay của Đảng. Như vậy từ nay, Đảng và nhà cầm quyền chỉ là một, không cần phải che dấu, "giả mù sa mưa" như trước đây nữa. Việc tập trung quyền lực vào tay của mình là chỉ dấu cho chúng ta thấy từ nay Đảng CSVN sẽ bóp chẹt tự do dân chủ của người dân. Chúng sẽ thẳng tay đàn áp những vụ khiếu kiện của dân oan. Chúng sẽ thẳng tay và mạnh tay hơn đối với những nhà đấu tranh dân chủ trong nước, bất chấp dư luận quốc tế lên án.
Gần đây, Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, một nhà tu khả kính, một nhà tranh đấu không mệt mỏi cho vấn đề nhân quyền tại Việt Nam, một tù nhân lương tâm và hiện tại đang bị nhà cầm quyền Cộng Sản quản thúc đã có thông điệp Phật Đản gởi nhà cầm quyền Cộng Sản từ bỏ chế độ đảng trị. Đọc bài viết của Đại Lão Hòa Thượng, ta lại càng kính mến và trân trọng một vị chân tu có lòng với quê hương dân tộc mặc dầu đã từng bị tù đày nhiều năm .

Wednesday, May 6, 2009

Niềm tin của đảng viên đối với đảng Cộng Sản Việt Nam

Người dân Việt Nam hiện nay đã không còn tin tưởng vào Đảng Cộng Sản Việt Nam nữa. Những vụ khiếu kiện của dân oan hiện nay từ Bắc chí Nam đa số những người đứng đầu là những người có công với đảng. Sau khi đã chiếm đoạt cả nước, đảng lại ra tay bóc lột những người trước đây đã nuôi giấu đảng viên. Nhưng hiện tại, niềm tin của đảng viên đối với đảng dường như đã không còn như trước đây nữa. Bên cạnh đó, Việt Nam còn bị thế giới lên án về việc đối xử tệ với blogger là những người viết nhật ký trên internet để phản ảnh những suy nghĩ của mình đối với Tổ quốc, đối với giới cầm quyền. Trong khi đó, ngày tự do báo chí vừa qua được đón mừng tại nhiều nơi, nhưng ở Việt Nam người dân hầu như không biết đến ngày này là ngày gì. Biết đến bao giờ thì người dân trong nước mới rủ sạch được những trói buộc để được hưởng không khí tự do như những nước tiên tiến trên thế giới.

Tuesday, May 5, 2009

Vấn đề nhân quyền tại Việt Nam


Tổ chức Human right watch vừa có đề nghị lên chính phủ Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào danh sách những nước đặc biệt cần quan tâm. Bên cạnh đó, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã có bản báo cáo hàng năm công bố về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam để đệ nạp lên Liên Hiệp Quốc. Một số nhà trí thức Việt Nam lên tiếng và đưa ra ý kiến về bản báo cáo này .

Saturday, May 2, 2009

Em có hẹn

Tặng Em

Em có hẹn hôm nay xuống phố
Ra đường anh đảo mắt nhìn xem
Nhìn ai cũng ngỡ là em
Hóa ra không phải anh thêm buồn lòng

PHP
05/02/09

Quan hệ Việt Mỹ: Định mệnh và lựa chọn

Trích ViệtNam Net


(TuanVietNam)- Tháng tư năm 1975, USS Kirk 1087 là một trong những chiến hạm Mỹ cuối cùng nhổ neo rời khỏi vùng biển Việt Nam. USS Kirk 1087 không chỉ mang theo mình một phần dòng người di tản ra khỏi Sài Gòn sắp sụp đổ mà còn chở theo mình đoạn kết của một chương đen tối trong lịch sử quan hệ hai nước Việt - Mỹ.

Khi người Mỹ quyết định can thiệp vào miền Nam Việt Nam những năm 1950, nhiều người coi đó là một định mệnh.

Tuy nhiên, trong bối cảnh cuộc Chiến tranh lạnh bắt đầu bước vào cao trào với sự cạnh tranh khốc liệt về ý thức hệ những năm 1950, lựa chọn đó của người Mỹ dường như là bắt buộc. Lợi ích quốc gia về an ninh và quân sự khiến người Mỹ cùng các đồng minh của mình không thể đứng bên ngoài tình hình Việt Nam lúc bấy giờ.

Sự kiện ngày 30/4/1975 đặt dấu chấm hết cho sự can thiệp của người Mỹ tại Việt Nam. Nhưng phải mất 20 năm sau quan hệ Việt Mỹ mới được bình thường hóa. Bên cạnh yếu tố "định mệnh" là bối cảnh Chiến tranh lạnh tiếp diễn hay cuộc chơi giữa ba ông lớn Mỹ - Xô - Trung, thì vấn đề bình thường hóa quan hệ hai nước bị đình trệ một phần vì những "lựa chọn" chủ quan của hai phía, tiêu biểu như sự bất đồng xung quanh vấn đề thực hiện Điều 21 của Hiệp định Paris.

Khi cuộc Chiến tranh lạnh cũng như những ám ảnh của quá khứ đã lùi xa, việc phát triển quan hệ hợp tác Việt Mỹ trong lĩnh vực nào, tới mức độ nào và thông qua những phương thức nào phụ thuộc hoàn toàn vào "lựa chọn" chủ quan của hai nước hơn là "định mệnh" như trước kia.

Quan hệ Việt-Mỹ đang có cơ hội phát triển mạnh mẽ, toàn diện và bước vào một chương mới tươi sáng hơn. Điều này không hề khó khăn, bởi "lựa chọn" nằm ngay trong tay hai nước.

Bài viết là góc nhìn của thạc sĩ Quan hệ quốc tế và Ngoại giao Lê Hồng Hiệp. Đại học Quốc gia Australia.


Ba mươi tư năm sau, những ngày tháng tư năm 2009, một chiến hạm khác của Mỹ, hàng không mẫu hạm USS John Stennis neo đậu trên Biển Đông nhưng lại mang theo mình một biểu tượng khác khi đón tiếp những sĩ quan quân sự cấp cao của Việt Nam viếng thăm: đó chính là sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện trong quan hệ bang giao Việt - Mỹ, bao gồm cả lĩnh vực quân sự vốn vẫn được coi là "nhạy cảm".

Khu trục hạm ISS - Kirk - 1087 của Mỹ. Ảnh: flickr

Định mệnh của quá khứ

Khi người Mỹ quyết định can thiệp vào miền Nam Việt Nam những năm 1950, nhiều người coi đó là một định mệnh.

Lo ngại chủ nghĩa cộng sản sẽ lan tràn khắp khu vực sau khi quân bài domino đầu tiên đổ xuống ở miền Nam Việt Nam, người Mỹ đã quyết định can thiệp vào Việt Nam trong một chiến lược mang tính toàn cầu là ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản. Đó là một quyết định mang tính duy lý của những nhà lãnh đạo Mỹ, và cuộc chiến kéo dài 20 năm sau đó đã diễn ra.

Tuy nhiên có thể thấy, trong bối cảnh cuộc Chiến tranh lạnh bắt đầu bước vào cao trào với sự cạnh tranh khốc liệt về ý thức hệ những năm 1950, lựa chọn đó của người Mỹ dường như là bắt buộc. Lợi ích quốc gia về an ninh và quân sự khiến người Mỹ cùng các đồng minh của mình không thể đứng bên ngoài tình hình Việt Nam lúc bấy giờ.

Chính vì vậy cuộc chiến đã diễn ra và đẩy quan hệ Việt Mỹ bước vào một giai đoạn đen tối như một "định mệnh" của lịch sử mà cả hai bên khó có thể có một sự lựa chọn nào khác.

Nỗ lực hàn gắn quan hệ

Tháng tư năm 1975, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã sụp đổ trước sức tấn công vũ bão của Quân Cộng Sản, chính thức đặt dấu chấm hết cho sự can thiệp của người Mỹ ở Việt Nam.

Sau sự kiện này, những tưởng quan hệ hai nước sẽ sớm được khôi phục khi có những chuyển biến tích cực từ cả hai cựu thù với những vòng đàm phán về bình thường hóa quan hệ hai nước được tiến hành tích cực năm 1977.

Cựu Tổng thống Bill Clinton đã thăm Hà Nội hồi còn đương nhiệm (tháng 11/2000 và lần gần đây là tháng 12/2006.

Cựu Tổng thống George W. Bush tại Apec Hà Nội tháng 11/2006.

Tuy nhiên do một số khúc mắc từ cả hai phía, đặc biệt là việc thỏa thuận về vấn đề Mỹ bồi thường chiến tranh cho Việt Nam theo Điều 21 của Hiệp định Paris, cũng do tác động của bối cảnh cuộc Chiến tranh lạnh và trò chơi lớn giữa Mỹ - Xô - Trung đang diễn ra, hai nước đã bỏ phí cơ hội sớm bình thường hóa bang giao.

Sau đó, quan hệ căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng như sự hiện diện của quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia nhằm giúp nhân dân nước này lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ đã lập nên những rào cản mới trong nỗ lực bình thường hóa quan hệ hai nước.

Chỉ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, cùng với việc Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và vấn đề Campuchia được giải quyết ổn thỏa, quan hệ Việt - Mỹ mới có những bước tiến quan trọng.

Ngày 3/2/1994, chính quyền của tổng thống Bill Clinton ra quyết định dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận đối với Việt Nam và hơn một năm sau, ngày 11/7/1995, hai nước chính thức bình thường hóa quan hệ.

Như vậy phải mất 20 năm sau ngày Việt Nam hoàn toàn thống nhất quan hệ Việt Mỹ mới được bình thường hóa và đối với nhiều người Việt Nam cũng như người Mỹ đó là một khoảng thời gian quá dài.

Thế nhưng có thể thấy rằng những diễn biến trong nỗ lực hàn gắn quan hệ hai nước trong khoảng thời gian này không chỉ bị chi phối bởi "định mệnh", hay những điều kiện khách quan nằm ngoài tầm kiểm soát của hai bên, mà còn do những "lựa chọn", những ý chí chủ quan của mỗi phía.

Bên cạnh yếu tố "định mệnh" là bối cảnh Chiến tranh lạnh tiếp diễn hay cuộc chơi giữa ba ông lớn Mỹ - Xô - Trung, thì vấn đề bình thường hóa quan hệ hai nước bị đình trệ một phần vì những "lựa chọn" chủ quan của hai phía, tiêu biểu như sự bất đồng xung quanh vấn đề thực hiện Điều 21 của Hiệp định Paris.

Thành tựu của hơn một thập kỷ sau bình thường hóa

Sau khi bình thường hóa, quan hệ Việt Mỹ đã có những bước phát triển nhanh chóng.

Về chính trị, mặc dù vẫn còn một số tồn tại nhưng hai nước đã càng ngày càng xích lại gần nhau hơn. Các cuộc tiếp xúc và thăm viếng lẫn nhau giữa lãnh đạo cấp cao hai nước đã diễn ra thường xuyên hơn, đặc biệt là trong những năm gần đây.

Hai Tổng thống gần đây của Mỹ là Bill Clinton và George W. Bush đều đã tới Việt Nam. Trong khi đó các lãnh đạo cấp cao của Việt Nam sang thăm Mỹ trong vòng 4 năm gần đây có Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Về kinh tế, quan hệ giao thương giữa hai nước đã phát triển mạnh mẽ với việc kinh ngạch thương mại hai chiều Việt - Mỹ năm 2008 đạt 15,2 tỉ đô la, gấp hơn 10 lần so với năm 2001. Theo đó, Mỹ đã trở thành đối tác thương mại số một của Việt Nam. Đầu tư trực tiếp của các công ty Mỹ vào Việt Nam cũng tăng lên nhanh chóng.

Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KHĐT), tính đến ngày 22/11/2008, Hoa Kỳ đứng thứ 11/81 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam với 421 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký 4,1 tỷ USD. Con số này còn tăng lên nhiều lần nếu tính cả các dự án của các công ty Mỹ đầu tư thông qua các công ty của nước thứ ba.

Về quốc phòng, hợp tác giữa hai nước Việt - Mỹ trên lĩnh vực vốn đang được coi là nhạy cảm này cũng đã có những bước tiến quan trọng trong những năm gần đây. Các cột mốc đáng chú ý gồm có chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Phạm Văn Trà tới Mỹ tháng 11/2003, hay các chuyến viếng thăm hữu nghị của các tàu hải quân Mỹ tới các hải cảng Việt Nam, và gần đây nhất là chuyến thăm của đoàn sĩ quan cấp cao quân đội nhân dân Việt Nam tới hàng không mẫu hạm USS John Stennis của Mỹ.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Mỹ hồi tháng 6/2008

Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết thăm Mỹ hồi tháng 6/2007

Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải thăm Mỹ hồi tháng 6/2005

Hợp tác về quân sự giữa hai nước trong giai đoạn trước mắt tập trung vào việc Mỹ giúp tăng cường năng lực của quân đội Việt Nam trong công tác cứu trợ nhân đạo, giảm thảm họa, thiên tai; gia tăng nỗ lực của Việt Nam trong hoạt động gìn giữ hòa bình quốc tế.

Hợp tác: Lựa chọn của tương lai

Có thể nói, sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện của quan hệ Việt Mỹ trong một thập kỷ qua là một thành công đáng kể của cả hai nước.

Giờ đây khi cuộc Chiến tranh lạnh cũng như những ám ảnh của quá khứ đã lùi xa, việc phát triển quan hệ hợp tác Việt Mỹ trong lĩnh vực nào, tới mức độ nào và thông qua những phương thức nào phụ thuộc hoàn toàn vào "lựa chọn" chủ quan của hai nước hơn là "định mệnh" như trước kia.

Đương nhiện, lựa chọn hợp tác giữa hai nước phải phù hợp với lợi ích quốc gia của mỗi bên. Xét trên góc độ này, cả Mỹ và Việt Nam đều có đầy đủ mọi lý do để lựa chọn thúc đẩy hợp tác giữa hai nước mạnh mẽ và toàn diện hơn nữa.

Trước tiên phải kể đến lợi ích chính trị của cả hai nước khi phát triển hơn nữa quan hệ song phương.

Nếu như đối với Việt Nam quan hệ với Mỹ có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao vị thế của mình cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế thì đối với Mỹ, việc phát triển quan hệ chính trị với Việt Nam cũng có ý nghĩa ngày càng quan trọng.

Với một vị thế không ngừng lớn mạnh trên trường quốc tế, Việt Nam xứng đáng có một vị trí cao hơn trong chiến lược của Mỹ, đặc biệt là ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, nơi cạnh tranh ảnh hưởng giữa các cường quốc được dự báo sẽ ngày càng gay gắt hơn trong tương lai.

Chính vì vậy quan hệ tốt hơn với Việt Nam sẽ có lợi cho Mỹ trong việc duy trì ảnh hưởng của mình ở khu vực.

Về kinh tế, một điều rõ ràng là quan hệ kinh tế với Mỹ, với tư cách là đối tác thương mại lớn nhất và nhà đầu tư hàng đầu, có vai trò quan trọng đối với Việt Nam.

Tuy nhiên, Việt Nam với một nền kinh tế năng động, thị trường lớn nhiều tiềm năng cùng nhiều cơ hội chưa được khai phá, cũng cần được Mỹ coi là một đối tác quan trọng về kinh tế.

Ngoài ra, việc Mỹ phát triển hơn nữa quan hệ kinh tế với Việt Nam cũng sẽ thúc đẩy quá trình phát triển nền kinh tế thị trường ở đây. Điều này phù hợp với chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường và mở rộng các giá trị tự do, dân chủ của Mỹ trên toàn cầu.

Về quân sự, hợp tác giữa hai quốc gia trên lĩnh vực này vẫn còn tương đối mới mẻ và dè dặt. Nhưng cũng chính vì thế tiềm năng phát triển hợp tác giữa hai bên trên lĩnh vực này trong tương lai là rất to lớn.

Thúc đẩy hợp tác quân sự sẽ mang lại cho cả hai nước những lợi ích trước mắt cũng như lâu dài, đặc biệt là trong việc đối phó với những bất trắc tiềm tàng về an ninh ở khu vực mà hai bên cùng quan tâm. Việc phát triển hợp tác quân sự cũng mang lại thêm một rường cột trong quan hệ hai nước, làm cho quan hệ hai nước trở nên toàn diện và vững chắc hơn.

Qua phân tích trên, chúng ta có thể thấy quan hệ Việt Mỹ đang đứng trước những cơ hội mới để phát triển mạnh mẽ và toàn diện hơn nữa, bao gồm cả ba lĩnh vực: chính trị, kinh tế và quân sự. Mục tiêu mà hai bên đặt ra và cần vươn tới trong tương lai gần là xây dựng quan hệ đối tác mang tính xây dựng hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên nền tảng rộng lớn, ổn định và hiệu quả giữa hai nước.

Quan hệ hai nước Việt - Mỹ đã từng trải qua những trang đen tối vì sự đưa đẩy bởi "định mệnh" khách quan của lịch sử. Giờ đây, khi "lựa chọn" chủ quan thay thế "định mệnh" khách quan quyết định quan hệ song phương, hi vọng quan hệ Việt-Mỹ sẽ có cơ hội phát triển mạnh mẽ và toàn diện hơn nữa và bước vào một chương mới tươi sáng hơn. Điều này không hề khó khăn, bởi "lựa chọn" nằm ngay trong tay hai nước chúng ta.
  • Lê Hồng Hiệp (Thạc sỹ Quan hệ quốc tế và Ngoại giao - Đại học Quốc gia Australia)

Wednesday, April 29, 2009

Việt Nam tái khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa

Trích VOA News

Ít ra là phải như vậy chứ! Theo tin của VOA News Online thì phát ngôn viên Lê Dũng đã tái khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đây là chi tiết của bản tin

29/04/2009

Spokesman of the Ministry of Foreign Affairs Le Dung
Ông Lê Dũng, người phát ngôn Bộ ngoại giao Việt Nam
Trong khi Trung Quốc lên tiếng phản đối việc chính phủ Việt Nam bổ nhiệm người đứng đầu huyện Hoàng Sa, là quần đảo mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lê Dũng đã ra tuyên bố trả lời về vấn đề này như sau: "Quan điểm của Việt Nam về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được khẳng định nhiều lần. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này. Việc bổ nhiệm Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện đảo Hoàng Sa được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam và là việc làm bình thường, được tiến hành từ nhiều năm qua."

Hôm 28 tháng 4, người phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, bà Khương Du, nói rằng hành động bổ nhiệm người đứng đầu huyện Hoàng Sa của Việt Nam là 'bất hợp pháp và không có hiệu lực'.

Người phát ngôn này nói thêm rằng Trung Quốc có chủ quyền bất khả tranh biện đối với quần đảo Tây Sa và vùng biển xung quanh.



Khi hải quân Trung Quốc vươn ra đại dương

Trích VietNam Net

Đọc bài báo "Khi hải Quân Trung Quốc vươn ra đại dương" cũng đáng làm chúng ta suy ngẫm

Khi hải quân Trung Quốc vươn ra đại dương
29/04/2009 09:40 (GMT + 7)
(TuanVietNam)- Hải quân Trung Quốc vừa kỷ niệm 60 năm ngày thành lập vào ngày 23-4. Tại Thanh Đảo - thành phố cảng nổi tiếng về bia và căn cứ hải quân - lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, các công dân nước này đã có dịp chiêm ngưỡng một trong 10 chiếc tàu ngầm nguyên tử của Đại lục.


Cho dù không phải là loại tân kỳ nhất, nhưng 10 chiếc tàu ngầm này có chứa đầu đạn hạt nhân và đủ để vươn tới bờ biển Hoa Kỳ, bên kia bờ Thái Bình Dương. Cũng như những năm gần đây, Bắc Kinh chú tâm phát triển năng động về quân sự: Trong năm 2009, khoản chi cho quân sự là 70,36 tỷ USD, tăng 14,9% so với năm ngoái.

Đáng chú ý là hiện tại, binh chủng hải quân - được coi là “cánh tay và thanh gươm” nối dài của đất nước – đang là tâm điểm trong sự phát triển quân sự Trung Quốc.

Tàu ngầm nguyên tử 093 của Trung Quốc. (Nguồn ảnh: china-defense-mashup.com)

Lý do khá dễ hiểu. Trong những giai đoạn rối ren nhất của lịch sử cận đại Trung Quốc (thập niên 50-60 thế kỷ trước), quốc gia này đã từng đụng độ trên đất liền với hầu như tất cả các nước láng giềng và do đó, sức mạnh quân sự trên bộ của Đại lục đã được gia tăng đến mức, với nhiều triệu binh lính, quân đội Trung Quốc đã gần như sụp đổ vì trọng lượng của chính nó.

Chỉ thiếu chút nữa mà những loạn lạc thời “Văn cách” (Đại cách mạng văn hóa) đã có thể biến những đụng độ biên giới giữa Trung Quốc và Liên Xô trở thành một chiến tranh nguyên tử. Với Ấn Độ, tại khu vực Tây Tạng, Đại lục xác định cho mình trạng thái đối đầu quân sự trong thời gian dài.

Khởi đầu từ những năm 80 thế kỷ trước, thời kỳ cải tổ, bình thường hóa, củng cố về xã hội và chính trị đã làm thay đổi cả học thuyết về quân sự của Trung Quốc. Cùng với sự gia tăng của nền kinh tế hùng hậu, Trung Quốc càng hướng ra thế giới ở mức độ cao hơn, đồng thời cũng phụ thuộc nhiều hơn vào thế giới.

Càng phát triển kinh tế, càng khao khát mở rộng quân sự

Không có một cường quốc toàn cầu nào lại phụ thuộc nhiều vào thế giới như Trung Quốc! Những thị trường nguyên liệu và năng lượng ở vùng Cận Đông, châu Phi và Mỹ Latin đều cách xa nước này nhiều ngàn cây số. Còn các thị trường tiêu thụ hàng hóa của Trung Quốc, thì lại giăng mắc khắp thế giới.

Những chuyến tàu chở hàng hóa Trung Quốc ra nước ngoài, cũng như chở năng lượng mua được trên thế giới về Đại lục, luôn bị đe dọa bởi những xung đột trong khu vực, những cường quốc nước ngoài và cả hiểm họa hải tặc, tại các kênh đào Suez và Panama, cũng như tại eo biển Malakka.

Trong vùng, Trung Quốc cũng cần sự hiện diện của hải quân vì một nguyên nhân nhãn tiền: Trong khi đụng độ trên bộ đã giảm, nước này lại lao vào tranh giành chủ quyền những quần đảo trên biển Nam Trung Quốc (tức Biển Đông) - nơi tiềm ẩn các mỏ dầu - với 5 quốc gia khác trong khu vực (trong số đó, đáng kể là Việt Nam, Philippines và Malaysia).

Ấy là còn chưa nói đến việc Đại lục cần phô diễn sức mạnh quân sự đối với Đài Loan, mảnh đất mà Bắc Kinh vẫn coi là một tỉnh của mình.

Trung Quốc chưa có những cứ điểm tại nước ngoài theo nghĩa truyền thống của từ này, do đó, dễ hiểu là Trung Nam Hải cần phát triển hải quân như một sự đảm bảo quan trọng cho những yếu tố phụ thuộc nước ngoài trong nền an ninh quốc gia.

Hải quân Trung Quốc – mạnh và yếu

Các cường quốc “kinh điển” về hải quân như Anh, Hoa Kỳ, Pháp… đều biết rằng, quá trình phát triển hải quân phải kéo dài nhiều thập kỷ, thậm chí, nhiều thế kỷ. Trung Quốc vẫn mới chỉ chập chững những bước đầu: Cho dù là cường quốc kinh tế đứng thứ 2-3 trên thế giới, nhưng hải quân nước này cũng chưa lọt được vào Top 10.

Có điều, định chế nhà nước, sự lãnh đạo tập trung trên nguyên tắc “bàn tay thép” của Đại lục khiến Trung Quốc có điều kiện tốt để phát triển quân đội. Bắc Kinh không phải đối mặt với những rào cản trong hoạt động của các nền dân chủ phương Tây, như công luận, các định chế dân chủ, sự can thiệp của các chính đảng và các tổ chức dân sự, những tranh luận thực sự trong Quốc hội về vấn đề ngân sách, hoặc sự trong sạch của các cuộc đấu thầu.

Tuy nhiên, những khoản chi cho quân sự, ở dạng công khai hay “âm thầm”, cũng chưa đạt 1/6 mức chi của Hoa Kỳ.

Phô trương quân sự trên biển và không trung nhân kỷ niệm 60 năm thành lập hải quân Trung Quốc (Thanh Đảo, Sơn Đông). Ảnh: Lý Khang (MTI)

Dầu vậy, sẽ là sai lầm lớn nếu coi thường sức mạnh của hải quân Trung Quốc, vì chính sách phát triển của Bắc Kinh cũng phản ánh một trong những giá trị lớn nhất của nền văn minh Hoa Hạ (đồng thời, cũng là triết lý lạc hậu của xứ sở này): khả năng du nhập những phát minh, sáng chế của thế giới.

Hơn nửa triệu học sinh Trung Quốc du học trên khắp thế giới, vài trăm ngàn nhà khoa học sống tại nước ngoài, thu thập tất cả những môn khoa học có thể học hỏi được. Trung Quốc nghiên cứu, sao chép và tiếp tục phát triển những công cụ tối tân nhất của khoa học quân sự Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Nga…

Năm 2006, Tel Aviv sững sờ khi nhận ra: Ngay trước bờ biển Lebanon, một trong số những tàu chiến tối tân bậc nhất của Israel đã bị các chiến binh Hezbollah tấn công bởi 2 tên lửa hành trình loại C-801 (được nhập từ Trung Quốc qua đường Iran, và là bản sao của loại tên lửa hành trình Exocet của Pháp, từng khiến hải quân Anh bị bất ngờ trong cuộc chiến Falkland/Malvinas), và một hỏa tiễn liên lục địa loại C-701 (điều khiển bằng quang điện tử).

Trong cuộc đụng độ này, chiếc tàu chiến của Israel hầu như bị hủy diệt! Các chuyên gia cho rằng trong sự phát triển của kỹ thuật quân sự Trung Quốc, với việc kết hợp một cách khác thường những phương tiện quân sự của phương Tây và bổ sung thêm những yếu tố mới, Bắc Kinh sẽ tạo nên những khả năng vô cùng đáng sợ.

Với tất cả những điều này, hiện tại, hải quân Trung Quốc đa phần mới chỉ kiểm soát được dải gần bờ biển (cách bờ vài trăm cây số). Hoa Kỳ, cường quốc hải quân mạnh nhất toàn cầu, cùng một lúc có thể huy động đến bất cứ điểm nào trên thế giới một lực lượng hải quân khổng lồ (gồm các tàu thủy, tàu hệ thống có hệ thống chống tên lửa, tàu hậu cần…, tập trung quanh 6 hàng không mẫu hạm).

Trong khi 14 quốc gia đã có hàng không mẫu hạm, biểu tượng của quyền lực trên biển, thì Trung Quốc vẫn chưa có tàu sân bay nào.

Tham vọng

Một câu hỏi được đặt ra: Đến bao giờ Trung Quốc mới gia nhập CLB các quốc gia tự thiết kế và xây dựng được hàng không mẫu hạm (hiện tại, gồm Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Ý và Tây Ban Nha), được coi là sự tổng hợp của những công nghệ đỉnh cao?

Hỏa tiễn liên lục địa C-801 của Trung Quốc. (Nguồn ảnh: china-defense-mashup.com)

Có thể giả thiết rằng trong thời gian rất gần, Bắc Kinh đang chuẩn bị công bố kế hoạch xây dựng chiếc tàu sân bay đầu tiên, mà các quan sát viên cho rằng sẽ được dùng, trước hết, để đảm bảo an ninh những tuyến đường vận chuyển năng lượng ở vùng biển Nam Trung Hoa.

Điều này cũng có thể suy ra từ tuyên bố của người đứng đầu binh chủng Hải quân Trung Quốc, Đô đốc Ngô Thắng Lợi, trong tuyên bố nhân 60 năm thành lập ngành. Vị tướng này cho biết Trung Quốc đang ráo riết hiện đại hóa và kiện toàn “tính chiến đấu” của hải quân vì hầu hết các mối đe dọa đối với chủ quyền và an ninh quốc gia nước này là đến từ phía biển.

Cụ thể, Bắc Kinh đặt mục tiêu có thêm những tên lửa tầm xa chính xác và hiệu quả hơn, những tàu ngầm, thủy lôi tối tân và khó phát hiện hơn. Dù vị Tư lệnh Hải quân không nói ra, nhưng giới bình luận quốc tế đồng tình với nhau ở một điểm: Trung Quốc rất cần một hàng không mẫu hạm, bởi trong một cuộc chiến giả định với Đài Loan, chắc chắn nước này sẽ phải đương đầu với lực lượng hải quân hùng hậu của Hoa Kỳ.

Ban lãnh đạo Trung Hoa nhấn mạnh rằng Bắc Kinh sử dụng sự bành trướng quyền lực trên biển như một công cụ để tạo dựng sự ổn định, chứ không phải để gây hấn. Để chứng tỏ điều này, trong khuôn khổ chiến dịch hải quân quốc tế có quay mô lớn đầu tiên vào tháng 12/2008, Trung Quốc đã gửi một đội tàu nhỏ tới vịnh Aden để tham gia chiến đấu với hải tặc ngoài khơi Somalia (đầu tháng 4 năm nay, đội tàu thứ hai cũng đã được cử đi).

Tuy nhiên, động thái nói trên đồng nghĩa với việc hải quân Trung Quốc luôn sẵn sàng, và đã có thể hoạt động ở những vùng biển xa Đại lục.

Thêm vào đó, cuộc biểu dương lực lượng mang tính phô diễn trong dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập hải quân Trung Quốc cũng cho thấy: Bắc Kinh đang chuẩn bị một cách không giấu giếm cho sự bá quyền trên biển, ít nhất và trước tiên là trong khu vực.

Đây cũng là điều phù hợp với quan niệm về an ninh của Trung Quốc: Cho dù chưa bao giờ có được vị thế vững vàng và ít bị đe dọa về an ninh như hiện tại, nhưng Bắc Kinh vẫn coi những quốc gia có liên quan - đặc biệt là các nước láng giềng trong vùng Đông Nam Á - là "những yếu tố chính đe dọa an ninh Trung Quốc".

Xét từ góc độ ấy, trên cương vị một cường quốc mới trên biển, Trung Quốc sẽ là một yếu tố đáng kể và không thể bỏ qua cho an ninh thế giới và khu vực!

Monday, April 27, 2009

Sau ngày 30 tháng 4

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nước Việt Nam "thống nhất" dưới tên gọi "Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam". Cũng kể từ ngày đó, những thảm cảnh đã xảy ra cho dân tộc Việt Nam. Nhũng công nhân viên chức của Việt Nam Cộng Hòa phải vào tù nhưng dưới cái tên mỹ miều: cải tạo. Rồi đến "chủ trương đánh tư sản mại bản, chủ trương lùa dân đi vùng Kinh Tế Mới". Biết bao nhiêu thảm cảnh xảy ra cho người dân miền Nam. Kể từ đó, mọi người thi nhau tổ chức "vượt biên" để tránh một chế độ bạo tàn. Cũng từ đó biết bao nhiêu thảm cảnh xảy ra cho những người trốn chạy. Nhiều câu chuyện thương tâm đã xảy ra cho những người vượt biên. Những câu chuyện kể về hành trình biển Đông làm xúc động rất nhiều người. Đến bây giờ, mặc dầu đã định cư tại hải ngoại một thời gian khá dài, nhưng mỗi khi nhớ lại những tháng ngày lênh đênh trên biển, những thuyền nhân ngày xưa vẫn còn hãi hùng, kinh sợ.