Translate

Wednesday, April 22, 2009

Thời gian cận kề và cấp bách

Chỉ còn hơn 20 ngày nữa là đến hạn kỳViệt Nam phải đăng ký thềm lục địa mở rộng. Ngày đó là 13 tháng 5 năm 2009. Thời gian cũng đã cận kề và cấp bách. Mọi người Việt Nam dù ở trong nước hay ở hải ngoại cũng nên hướng về quê nhà, cầu nguyện để Cộng Sản Việt Nam được tổ tiên ông bà, tiền nhân làm cho "sáng mắt" mà đăng ký thềm lục địa, để khỏi hổ thẹn với tiền nhân đã có công xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, khỏi làm hổ danh các bậc danh tướng thời xưa đã làm cho quân Tàu phải thất điên bát đảo cùng truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.

Monday, April 20, 2009

30/4: Vịnh tháng tư đen

KÍNH DÂNG ANH LINH CÁC CHIẾN SĨ QLVNCH VÀ ĐỒNG BÀO VIỆT ĐÃ VỊ QUỐC VONG THÂN 30-4-1975, Ngày đen tối của dân tộc Việt Nam
Tháng 4 Ất Mão một màu tang
Trắng cả nhân tâm, cả ruộng làng
Cộng phỉ xâm lăng đời đảo lộn
Đồng bào lưu lạc kiếp lang thang
Quê nhà tù ngục bao oan trái
Đất khách dung thân lắm phủ phàng
Mấy chục năm trời đời dẫy chết
Mỗi lần nghĩ tới nát tâm cang
Mỗi lần nghĩ tới nát tâm cang Hận xót mờ dâng mắt lệ hàng
Cán Chính miệt mài trong ngục thất
Quân Dân đày đọa tận sơn ngàn
Gia đình ly tán, chồng xa vợ
Huynh đệ tương tàn, em tố anh
Bao tử phủ mờ gương sĩ khí
Chuyện xưa càng nghĩ lắm bàng hoàng
Chuyện xưa càng nghĩ lắm bàng hoàng
Như ác mộng về thắm máu loang
Một sáng nắng Xuân con nức nở
Trăm chiều mưa Hạ mẹ hoang mang
Vợ chồng xa cách sầu Ngưu – Chức (1)
Đất nước rối bời lụy Triệu – An (2)
Cảnh đổi người thay đời đảo lộn
Mấy mươi năm xót chuyện “thiên đàng”

Mấy mươi năm xót chuyện “thiên đàng”
Cả nước dẫy đầy chuyện trái ngang
Vợ hiến thân cho chồng bớt khổ (3)
Con khoanh tay để mẹ tội mang (4)
Láng giềng đấu tố mong thêm gạo
Bè bạn rình mò cốt tiến thân
“Lao động vinh quang” vui núi thẳm
“Nhân dân làm chủ” dám kêu than ??!!“Nhân dân làm chủ” dám kêu than ??!!Mở miệng ôi thôi vạn khổ nàn
“Phản động” tội này cần xuống hố
“Xi-a” (CIA) thứ ấy phải lên ngàn
“Cứng đầu” lũ “Ngụy” này cần trị
“Đồi trụy” miền Nam ấy phải càn
“Tài sản bạc vàng” đồ bóc lột
Dân đen độc đạo: phải bần hàn!

Dân đen độc đạo: phải bần hàn!
Cho đúng giáo điều đảng đã loan:
Đói khổ, bần cùng cần đẩy mạnh!
Ấm no, sung túc chớ lo toan!
Tự Do … phải nhớ điều Hồ dặn!
Dân Chủ … nên tuân ý đảng bàn!
Cán bộ “vì dân” cần ấm cật!
Chủ mà “ngoan cố” chớ kêu than!

Chủ mà “ngoan cố” chớ kêu than!
Kinh tế mới heo hút bạt ngàn
Chưa hết! mất nhà … nằm ngục thất
Lại còn … sạch của … ngủ ngoài đàng
“Tàn dư Mỹ Ngụy” … cần nao động
“Hủ hóa miền Nam” … phải trị răn
“Phản động” mò tôm ngay lập tức
Dân đen làm chủ ??? quả tai nàn!!

Dân đen làm chủ ??? quả tai nàn!!
Dở khóc dở cười thật trái ngang
Quốc hội, chỉ toàn phường xó chợ
Trung ương, rặt một đám đầu đàng
Khẩu phần tớ cắt, chủ năn nỉ
Hộ chiếu chủ xin, tớ hách xằng
Chủ ngủ “nhà ôm”, ăn “quốc súp” (5) (6)
Chủ đầu cúi thấp, tớ nghêng ngang
Chủ đầu cúi thấp, tớ nghêng ngang
Từ dạo tháng Tư lắm bẻ bang
Địch tận trung cung nào kẻ biết
Lệnh ra tiền tuyến lắm nguồn loan
Đầu đàng bỏ nước, nhân dân khốn
Tướng tá lo thân, sĩ tốt nàn
Nam, Phú, Cẩn, Hưng, ôi dũng tướng (7)
Thành tan tuẩn tiết quyết không hàng!
Thành tan tuẩn tiết quyết không hàng!
Chết tựa lông hồng chẳng thở than
Một phát oan khiên hồn tiết liệt
Hai tràng thù hận phách hiên ngang
Gương xưa, nước mất sầu miên viễn
Cảnh cũ, thành tan hận ngút ngàn
Mấy chục năm trôi bao nghiệt ngã
Triệu đời rã vỡ tựa sương tan
Triệu đời vỡ nát tựa sương tan
Hận tủi đau thương chuyển bạt ngàn
Tiếng khóc tràn lan Nam chí Bắc
Nụ cười biết hẳn Bắc vô Nam
Trẻ thơ thiếu sữa, hoang từng lũ
Già lão không con, thảm cả làng
Từ lũ Cộng về dân nước chết
Người thì điên loạn, kẻ lang thang
Người thì điên loạn, kẻ lang thang
Thế giới đuổi xô cảnh phủ phàng
Tị nạn định cư hầu tuyệt vọng
Việt kiều du lịch lại huênh hoang
Chóp bu mặc sức mà vơ vét
Nô bộc tha hồ để đội mang
Chỉ tội dân đen như mõm chó
Bao năm bỉ cực với cơ hàn
Bao năm bỉ cực với cơ hàn
Đất nước dập bầm đỏ máu loang
Tù ngục trải dài giam tộc Việt
Gông cùm chằng chịt trói dân Nam
Dân đen trong ngục mờ nhân ảnh
Quỷ đỏ trên đài đắm lạc hoan
Xã tắc điêu linh đời đảo loạn
Ngàn năm Văn Hiến trắng khăn tang
Ngàn năm Văn Hiến trắng khăn tang
Bao kẻ lòng ngay lụy khổ nàn
Đoàn, Nguyễn miệt mài thân vẫn khổ (8)
Thầy, Cha da diết nghiệp chưa tan (9)
Tiết trinh dưới giá cơm nuôi miệng
Tiền của trên mực thước trị an (10)
Mấy chục năm qua bao khổ ải
Lệ dân hầu đã quá khô khan!

Lệ dân hầu đã quá khô khan!
Vì biển hồ sông đã ngập tràn
Lệ khóc anh hùng gương bất khuất
Lệ thương nhi nữ phận gian nan
Lệ sầu non nước cơn hồng thủy
Lệ hận giang san cảnh bão càn
Lệ khóc nhân tâm như lá úa
Còn đâu lệ nóng khóc nhân gian ?
Còn đâu lệ nóng khóc nhân gian ?
Âu chỉ còn chăng những hận tràn
Hận lũ Cộng nô đày dân tộc
Hận bầy vong bản đọa giang san
Hận tên Hồ tặc như chồn cáo
Hận đám tay sai tựa cẩu đàn
Và hận lòng người sao bội bạc
Cam tâm làm bộc bởi hư quang
Cam tâm làm bộc bởi hư quang
Bán rẻ lương tâm chỉ lợi ràng
Mới sớm môi còn vương sọc đỏ
Đến trưa miệng đã ngậm sao vàng
Đổi thay tư tưởng nghe xoành xoạch
Vất bỏ sĩ liêm quá dễ dàng
Đất nước điêu tàn không đếm xỉa
Miễn là đầy miệng, ở nhà sang

Miễn là đầy miệng, ở nhà sang
Ai chết mặc ai chẳng ngó màng
Áo mũ xênh xang ngồi chễm chệ
Mặt mày hợm hĩnh bước nghêng ngang
Cu li mất job, be ông chủ
Chuyên trị chôm đồ, xạo trưởng ban
Bỏ vợ cua đào qua múa mỏ
Lưu manh thứ đó quả đầu hàng!

Lưu manh thứ đó quả đầu hàng!
Đất nước suy đồi phải gắng mang
Đời đổi cóc xù đâm phách lối
Nước tàn hổ tướng vỡ tâm cang
Chột mù tế thế dân bần cố
Thất học kinh bang nước nát tan
Từ dạo Cáo về đời đạo loạn
Nhân tình ly tán biết sao than ?
Nhân tình ly tán biết sao than ?
Mấy chục năm trôi lắm khổ nàn
Vạn kẻ tan hàng hồn khắc khoải
Triệu người mất hướng xác tan hoang
Anh hùng rèn chí nơi sơn dã
Tráng sĩ mài gươm giữa núi ngànKhắp nước người người mơ phục quốc
Cộng nô lộ mặt thật bạo tànCộng nô lộ mặt thật bạo tàn
Nhưng khó thể nào chửa lửa lan
Thù hận chất chồng nay bộc phát
Đau thương dồn nén phải tuôn tràn
Cuồng phong thổi sập cung đình giặc
Bão tố san bằng thủ phủ gian
Trời đất thái hòa, người trở lại
Chung tay cùng dựng lại giang san

Từ Đà Thành
(4/30/1995)=======================================================chú thích:(1) Tích Ngưu Lang Chức Nữ(2) Huyền sử Triệu Đà thắng An Dương Vương nhờ tráo nỏ thần qua hận tình Trọng Thủy – Mỵ Châu .
(3) Rất nhiều người vợ hiền phải chịu cho cán bộ, công an khu vực dày vò thỏa mãn thú tính để cho chồng khỏi bị phanh phui “tội ác nhân dân”, hoặc các hiền thê này phải bán thân xác mình để có tiền mua đồ tiếp tế cho chồng đang trong trại cải tạo .
(4) Các “thiếu nhi khăn quàng đỏ” do CS rèn luyện nhồi sọ tư tưởng Mác Lê luôn luôn rình mò để tố cáo mẹ cha mình hầu được ăn bánh vẻ “thiếu nhi tiên tiến, cháu ngoan bác Hù”.
(5) Nhà ôm: danh từ mới co sau 75 để chỉ loại nhà do dân bỏ các vùng Kinh Tế Mới (vì sống không nổi với những điều kiện qua khắc nghiệt của khí hậu lẫn địa thế) về lại thành phố “sáng chế”: 3 góc của căn lều đều ôm quanh trụ đèn đường .
(6) Quốc súp = canh toàn quốc, tức canh chỉ nước và … nước!
(7) Những danh tướng Nguyễn Khoa Nam, Nguyễn văn Phú, Hồ Ngọc Cẩn, Lê văn Hưng là những trong hàng ngàn danh tướng trong lịch sử oai hùng của dân tộc và đất nước Việt Nam .







____________________________________________________________________________

[30/4]Tưởng Niệm Các Chiến Sĩ Vô Danh QLVNCH Xin được như nén hương lòng kính dâng anh linh
tất cả chiến sĩ vô danh QLVNCH đã vị quốc vong
thân trong cuộc chiến gìn giữ miền Nam VN trước
ách xâm lăng của bọn Cộng sản vô thần phương Bắc .
Từ tháng tư về vạn nỗi đau
Nhớ bao chiến sĩ chẳng công hầu
Chiến chinh hi hiến đời trai trẻ
Vận nước ngầm hờn cuộc bể dâu
Hoài bão trượng phu mây khuất núi
Tang bồng hồ thỉ nước qua cầu
Thiên thu lịch sử luôn ghi nhớ
Nấm mộ hoang còn tiếng vó câu!

Từ Đà Thành
(04/27/06)

_____________________________________________________________________

Lục Bát Tháng Tư

Tháng Tư là tháng oan khiên
Tháng Tư là tháng đảo điên sơn hà
Tháng Tư mắt má lệ nhòaTháng Tư con trẻ khóc òa mất chaTháng Tư thất quốc vong giaTháng Tư dâu bể hải hà nước nonTháng Tư sông núi mỏi mònTháng Tư cả nước lên non tìm trầmTháng Tư Đạo chốn mê lâmTháng Tư xã tắc sa hầm vạ taiTháng Tư giặc cướp lên ngaiTháng Tư Văn Hiến ca bài lưu vongTháng Tư dân tộc quay mòngTháng Tư non nước chìm trong ngục tùTháng Tư vết cắt thiên thuTháng Tư quốc hận mịt mù quê hươngTháng Tư tâm quyết lên đườngTháng Tư quyết diệt sạch phường Cộng nôTháng Tư đánh đuổi giặc HồTháng Tư giành lại cơ đồ Việt Nam
Từ Đà Thành
(04/01/04)
Phú Tháng Tư Quốc Hận
Tháng Tư anh hùng ngã gục
Tháng Tư tổ quốc long đong
Tháng Tư non sông ô nhục
Tháng Tư quốc hận bên lòng
Ôi đau thương!
Tiếng thét tháng 4 năm 1975 triệu tâm hồn nhức nhốiCơn đau mùa Xuân Ất Mão muôn tim óc quay mòng

Ngoài tiền tuyến chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa dũng cảm đương đầu cùng lũ giặc đông gấp bội gấp ba, quyết không hàng quân xâm lược
Chốn hậu phương đồng bào con Hồng cháu Lạc kiên trì sát cánh với chính quyền đang chia năm xẻ bảy, thề tử thủ chẳng sợ lũ rợ mông
Máu tử sĩ chảy thắm ruộng đồng
Gương anh hùng lớn khôn nòi giống

Mặc lưỡng đầu thọ địch: ngoại giặc tấn công, nội thù quấy phá, quân đội Cộng Hòa đã nêu cao gương trung liệt, tính kiêu hùng của cháu con Âu Lạc
Mặc tứ phía bủa vây: đồng minh phản bội, chiến hữu phỉnh lừa, con dân miền Nam đã chứng tỏ chí quật cường, lòng quả cảm của giòng dõi Tiên Long Thương ôi!
Càng viết lệ chảy ròng ròng
Càng suy tâm đau thốn thốn
Sức cùng lực kiệt
Cái khó bó khôn

Lâu la phía Bắc bởi ma lanh hết cở đã tóm thâu trọn non Thái sông Hồng
Tướng lãnh miền Nam dù quyền biến phi thường cũng không đổi được mệnh Trời vận Nước!

Cao nguyên thất thủ! Quân đội miền Nam không hề nao núng vượt chốn hiểm nguy về thủ đô tử thủ
Vùng một tan hoang! Đồng bào ruột thịt hết mực hoang mang mong rời nơi chết choc đến bờ bến bình an

Máu lửa lan tràn
Thịt xương rửa nát

Cả quân lực hùng mạnh rã tan theo thông lệnh đầu hàng
Toàn non sông dấu yêu chìm đắm dưới gót giày xâm lược

Bao cái chết dũng lược: Lê văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Phạm văn Phú, Hồ Ngọc Cẩn, Trần văn Hai, Đặng Sĩ Vinh …. bởi không chấp nhận kiếp tù trong tay bầy thổ phỉ
Triệu niềm đau sâu xa: quê hương ngục tù, non sông ngoại bang dày xéo, đất đai tiên tổ bị bán dâng cho quan thầy Tàu Cộng, nhân phẩm phụ nữ bị chà đạp rẻ khinh, bị bán cho ngoại nhân mua vui nhục thể … chỉ do một đảng cướp Cộng sản Hà Nội gây ra

Đất nước hằn đậm dấu chiến tranh, 30 năm sau còn ngập cơn binh lửa
Đồng bào khắc ghi đời biến loạn, trăm năm nữa vẫn hằn vết lưu vong

Mỗi tháng Tư về, máu châu thân như chảy ngược dòng
Từng mùa Xuân đến, sầu thất quốc chừng giăng đầy trí

Quê hương thân yêu đắm chìm trong gông cùng Cộng phỉ
Tổ quốc mỹ miều khốn đốn giữa bão táp nô vong

Bao mùa Xuân dân đen không chút lót lòng
Bao tháng Hạ trẻ thơ chẳng gì vui thú

Bánh vẻ, xảo ngôn chính tuyệt chiêu chồn cáo
Tù ngục, lọc lừa nguyên bản chất Mác Mao

Từ tháng Tư đen dân Việt từng ngày chết tận non cao
Từ năm Ất Mão nước Nam từng khắc tàn trong vực thẳm

Dân bần cùng
Nước khánh tận

Chỉ bầy lợn ỉ trung ương là no cơm ấm cật
Còn đám dân đen khắp nước phải đói rách tan thương

Cộng đảng: một bọn Mafia có toàn quyền cướp bóc kẻ thiện lương
Trung ương: một bầy Việt gian đủ mánh khóe gạt lừa người cô thế

Tội ác ngất trời này không còn lời kể lể
Dã tâm dày đất đó chẳng cần đuốc sáng soi

Dân hằng mong có búa thiên lôi đập vỡ Ba Đình dẹp xác ướp của tên Hồ tặc cáo
Nước luôn ước được cơn địa chấn san bằng Bắc phủ bỏ giáo điều của lũ Cộng tà ma

Chỉ có như thế
Nước Việt mới được hưởng thái hòa
Dân Nam sẽ qua cơn hồng thủy

Cuộc đời dân tôi sẽ qua cơn tắc tị
Lịch sử nước nhà tức khắc khởi sắc hồi sinh

Nước Nam sẽ rạng rỡ ánh bình minh
Dân Việt sẽ mừng vui đời phục hoạt

Tháng Tư, 2003 – 28 năm Quốc Hận

Từ Đà Thành

Xe cơ giới nặng vào Thái Hà: Đất chúa thành công trường

Trích Việt Báo Online

Giaó xứ Thái Hà sôi động trở lại... Công an đưa xe cơ giới nặng tiến vào đất hồ của Thái Hà để biến thành công trường. Sau đây là tin của phóng viên An Dân trên thông tấn VietCatholic News hôm chủ nhật 19-4-2009.
Báo động: trong vài ngày qua, chính quyền đưa công nhân và máy móc vào thi công tại khu đất hồ Ba Giang của giáo xứ Thái Hà!
HÀ NỘI - Những ngày qua, chính quyền Hà Nội ngang nhiên chỉ đạo cho một đơn vị đem các cọc bê tông tới thi công trên khu vực đất Hồ Ba Giang của giáo xứ Thái Hà, bất chấp pháp luật, dư luận và những sự việc vừa mới xảy ra tại giáo xứ. Sự kiện này đang gây nên tâm trạng bức xúc cho các linh mục, tu sĩ và giáo dân Thái Hà.
Nhiều người đang tự hỏi chính quyền Hà Nội muốn gì khi ngang nhiên lấn chiếm đất của giáo xứ Thái Hà như vậy?
Lịch sử khu đất
Khu đất này nằm sát ngay sau Gò Đống Đa, thuộc địa giới hành chính phường Quang Trung, quận Đống Đa, Hà Nội.
Khu đất này rộng 18.230 m2, thuộc sở hữu của Dòng Chúa Cứu Thế từ năm 1928, ban đầu là khu ruộng cấy, sau vì lý do lấy đất san lấp nền tu viện và nhà thờ, các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế đã đào lấy đất đắp nền và biến khu vực thành hồ cá.
Những năm 1970- 1980 của thế kỷ trước, linh mục Vũ Ngọc Bích cho ông Ba Giang thuê thả cá và trồng rau và từ đó, hồ được các cư dân quanh vùng đặt tên là “Hồ Ba Giang”.
Sau khi ông Ba Giang mất, giai đoạn từ 1980 – 1985, giáo xứ cho hợp tác xã Nam Đồng thuê để thả cá. Sau đó, vì không quản lý nổi, hợp tác xã Nam Đồng đã trao trả lại cho Dòng Chúa Cứu Thế quản lý.
Suốt từ năm 1928 cho tới nay – năm nhà dòng mua khu đất này, thì khu đất này vẫn do Dòng Chúa Cứu Thế quản lý. Dòng Chúa Cứu Thế - giáo xứ Thái Hà, luôn đứng tên đăng ký trước bạ và trong các lần kê khai tài sản theo chính sách, chủ trương của chính phủ, thì giáo xứ và tu viện luôn kê khai đầy đủ khu vực hồ Ba Giang vào trong địa bạ.
Bên cạnh đó, các công văn của chính quyền các cấp, sở, ban, ngành từ thành phố tới quận luôn khẳng định khu đất hồ Ba Giang hiện do giáo xứ Thái Hà đang quản lý:
- Báo cáo của Sở Địa chính Hà Nội, số 387/BC- SĐCNĐ, ngày 11/5/1999, khẳng định: “Khu đất Hồ Ba Giang hiện do giáo xứ Thái Hà đang quản lý”.
- Công văn số 64/CV-UB- ĐĐ, ngày 30/1/1996 của UBND quận Đống Đa, về việc giải quyết hồ Ba giang, cũng khẳng định “Khu đất của giáo xứ Thái Hà đang quản lý và cho mượn”.
Lúc sinh thời, linh mục Vũ Ngọc Bích đã nhiều lần tuyên bố công khai trước hàng ngàn giáo dân về quyền sở hữu của Nhà Dòng Chúa Cứu Thế - giáo xứ Thái Hà trên khu vực này và khẳng định ngài không hề ký cho hay chuyển nhượng bất cứ mét vuông đất nào của giáo xứ tại hồ Ba Giang.
Có thể nói cho tới giờ này, Dòng Chúa Cứu Thế vẫn đang là đơn vị quản lý và là chủ sử dụng hợp pháp toàn bộ khu đất hồ Ba giang này.
Tuy nhiên, trong thực tế, những năm đầu của thập niên 90 thế kỷ trước, chính sách mở cửa đã kéo dân cư các tỉnh thành về Hà Nội làm ăn sinh sống. Quỹ đất trở nên eo hẹp, các quan chức chính quyền địa phương và nhân dân thi nhau san lấp khu vực để lấy đất làm nhà và bán chác chia nhau.
Năm 1994, khi nhận thấy tình hình lấn đất của giáo xứ trở nên nghiêm trọng, linh mục Vũ Ngọc Bích đã làm đơn lên các cấp chính quyền yêu cầu can thiệp và đề nghị các cấp chính quyền giải quyết ổn định trật tự tại khu vực.
Khoảng năm 1998, chính quyền Hà Nội lập dự án qui hoạch khu vực thành khu nhà ở di dân, nhưng thực chất là để chia lô bán chác. Tình hình khu vực trở nên hỗn loạn, một số người đã lợi dụng tình hình mua qua bán lại khu đất này.
Cuối năm 2004, một vụ án hình sự đã được khởi tố và kết quả bị can Phạm đình Bổng đã bị chết bất ưng trong tù.
Thời điểm này, giáo xứ Thái Hà tiếp tục kiên trì gửi đơn lên các cấp chính quyền yêu cầu chính quyền giải quyết trao lại cho giáo xứ và Nhà Dòng khu đất để phục vụ cho mục đích tôn giáo và từ thiện và dự án bị treo từ đó tới nay.
Chính quyền Hà Nội muốn gì?
Việc chính quyền Hà Nội ngang nhiên cho thi công trên phần đất của giáo xứ bất chấp những cơ sở pháp lý vừa nêu, trong bối cảnh giáo xứ vừa bị chính quyền cướp khu đất dệt thảm len, khiến các giáo dân hết sức bất bình. Đây quả là một việc làm đầy ngạo mạn và tiếp tục thách thức pháp luật, thách thức những người thiện chí.
Người ta đang tự hỏi, chính quyền Hà Nội muốn gì khi thực hiện dự án vào lúc này?
Sau khi phân tích tình hình chính trị và xã hội những ngày gần đây, thì nhiều người cho rằng, chính quyền đang muốn mượn tay giáo xứ Thái Hà để làm dịu đi tình hình người dân bất mãn với chính phủ khi thực hiện dự án Bô – xít Tây Nguyên, bởi đó vẫn là con bài mà chính quyền cộng sản thường sử dụng để lèo lái dư luận hướng sang một điểm nóng khác.
Người khác thì cho rằng, sau khi không thể thực hiện được dự án xây nhà và trung tâm thương mại tại khu đất dệt thảm len nhắm chia chác, chính quyền quận Đống Đa phải kiếm một khu đất khác để hoàn trả cho đối tác và khu đất ấy phải thuộc địa giới hành chính quận Đống Đa. Đống Đa bây giờ không còn đất trống nữa ngoài khu đất hồ Ba Giang và vì thế, chính quyền quận Đống Đa nhắm mắt làm liều khu đất này của giáo xứ Thái Hà.
Cũng có ý kiến cho rằng trong cuộc trả lời phỏng vấn các phóng viên báo đài, ông Nguyễn Thế Doanh - Trưởng Ban tôn giáo Chính phủ, có nhắc tới một “thế lực thứ ba” mà ai cũng hiểu đó là thế lực trong nội bộ đảng, chính thế lực này đang rắp tâm thúc đẩy dự án, đưa các đồng chí của mình ra đương đầu với giáo dân để “ngư ông hưởng lợi”, vì sắp tới đại hội đảng bộ thành phố.
Mấy giáo dân nhiệt thành thì lại cho rằng, tại Thái Hà, Thiên Chúa đã khởi đầu công cuộc đi tìm công lý và sự thật cho dân Việt, vì thế, sau vụ xử phúc thẩm giáo dân Thái Hà, Ngài lại làm cho lòng Pharaon ra chai đá, để giáo dân có lý do hợp pháp mà thắp nến cầu nguyện và tiếp tục lên đường đi tìm công lý.
Dù là lý do gì, thì việc chính quyền thành phố Hà Nội bất chấp pháp luật và dư luận, tiếp tục lấn chiếm đất đai của giáo xứ Thái Hà, là một việc làm chẳng nên trong thời điểm hết sức nhạy cảm này của lịch sử.

An Dân

Sunday, April 19, 2009

Người Thương phế binh năm xưa

Kính tặng Người Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa
với những nỗi cay đắng và chua xót...

Người lính ấy bao năm dài lận đận
Thương tật đầy mình, vất vả mưu sinh
Nơi hè phố, bến xe, hang cùng ngõ hẻm
Ai biết cho Người bao nỗi gian truân?

PHP
04/19/09

Saturday, April 18, 2009

Điếu Cày: Uy vũ bất năng khuất

Trích Blog Công lý và sự thật. Blogger Tạ Phong Tần, VN

.

Cách đây khoảng một tháng, Ba Sài Gòn gọi điện cho tôi:

- Chị biết tin gì chưa, Thiên Sầu nó nói tháng 5 này anh Điếu Cày được ân xá!

Tôi trả lời:

- Thằng Thiên Sầu nó đào đâu ra cái tin hài ra phết. Ân xá thường vào những dịp Tết, Lễ bự bự. Tháng 5 này có cái quái gì mà tự dưng lại ân xá? Nếu có ân xá thì cũng không có tên anh Hải đâu.

- Sao vậy?. Ba sài Gòn ngạc nhiên.

- Muốn ân xá trước hết phải viết đơn xin ân xá. Nó gần gũi với anh Hải như vậy mà không biết tính anh ấy sao. Anh Hải không đời nào chịu viết đơn xin ân xá đâu. Nếu viết đơn thì không phải là Điếu Cày.

- Ừ, chị nói đúng.

* * *

Hôm đầu tháng này, tôi đến nhà thăm chị Tân. Chị kể chuyện vượt hơn 300 km từ Sài Gòn xuống trại giam Cái Tàu thăm anh Hải. Vào trại, một anh cán bộ dẫn anh Hải ra phòng gặp thân nhân. Vừa ngồi xuống anh ta đã nổ một lô một lốc cà long nhong các quy định này kia nọ lung tung. Đợi anh ta nói hết, chị Tân mới thủng thỉnh bảo anh ta rằng: "Anh có thể nói những điều ấy với những người khác, với ông Hải thì không cần phải nói, vì tôi biết nếu các anh không canh giữ ông Hải cũng sẽ không bỏ đi đâu cả. Chúng tôi không có tội nên không việc gì phải chạy trốn. Tôi dám khẳng định với anh, ông Hải mà trốn thì tôi không phải là con người". Anh cán bộ hết nói luôn.

Anh Hải trông bề ngoài ốm nhom, nói năng nhỏ nhẹ vậy chớ bản tính kiên quyết, cứng rắn, đã quyết định điều gì thì không thay đổi.

Có ai đó đã từng nói: "Nhà tù là nơi rèn luyện nhân cách". Đúng vậy, với Điếu Cày thì bốn bức tường phòng giam không nhốt được ý chí con người.

Sài Gòn, ngày 19/4/2009

Kỷ niệm tròn 1 năm ngày Điếu Cày bị bắt

Tạ Phong Tần

Người lính không có số quân

Trích Người Việt Boston

Trần Như Xuyên

Tối đó, tôi dẫn Đại đội tới điểm đóng quân đêm, đây là ngày đầu tiên tôi nắm Đại đội, sáng nay có cuộc bàn giao ở Tiểu đoàn, người Đại đội trưởng tiền nhiệm,cũng là khóa đàn anh của tôi, có sự vụ lệnh đi học khóa quân chánh.

Ra trường được sáu tháng, từ anh Thiếu úy mới tò te ra trường, giờ đã lên nắm Đai đội, quả là thời gian hơi nhanh so với những đứa bạn cùng khóa ở các binh chủng khác như Nhẩy dù, Thủy quân lục chiến…, có lẽ họ vẫn còn đang thực tập ở Trung đội hay là Trung đội trưởng mà thôi. Tôi nắm Đại đội hơi nhanh không phải vì mình tài giỏi gì mà năm 67 khi ra trường, như bao đứa bạn khác chọn đi Bộ binh, các đơn vị rất thiếu sĩ quan, như Tiểu đoàn tôi về chẳng hạn, có Đại đội xử lý là một Chuẩn úy, gọi là xử lý cũng không đúng vì trong cấp số coi Đại đội thì tối thiểu phải là Thiếu úy, nhưng không hiểu sao vào những năm này, sĩ quan quá thiếu, bởi vậy khi vừa tới Trung đoàn, nghe tin có mấy sĩ quan Đà lạt mới ra trường là các đơn vị nhao nhao lên xin, tôi được đưa về Tiểu đoàn 4/46 thì một ông đàn anh khóa 16 đang làm Đại đội trưởng xin ngay tôi về. Ông tên Hồ Trang, khóa 16, ở miền Trung bị thuyên chuyển vào Nam vì dính dáng tới vụ Phật Giáo, ngoài đó ông đã là Tiểu đoàn phó nên vị Tiểu đoàn Trưởng cũng có hơi nể, quay quắt vì việc phải thuyên chuyển xa nhà, bị giam lon, giam chức nên ông gắt gỏng như mắm tôm, ông nghiêm khắc với mọi người nhưng rất chí tình trong việc chỉ bảo cho tôi từng ly, từng tí việc chỉ huy mà dầu sao tôi cũng còn quá mới, quân trường dậy là một chuyện, ra đây đụng với thực tế lại là một chuyện khác.

Cứ như vậy, những lần hành quân, ông cho tôi ở cạnh để học hỏi hoặc cho xuống trung đội để thưc tập, 6 tháng sau, khi thấy tôi đã tàm tàm gọi là đủ lông, đủ cánh bay solo được, ông nói với Tiểu đoàn Trưởng và bàn giao Đại Đội lại cho tôi, trước đó, ông đã thu xếp người Đại đội phó đi học để tôi coi Đ.Đ được danh chính ngôn thuận.

Nói về tối đầu tiên tôi dẫn Đ.Đ đi đóng quân đêm, thường tọa độ đóng quân đêm cùng các điểm phục kích do Tiểu đoàn chấm, tối đó đang di chuyển trên đường tôi thấy có một người đàn bà đi lẫn trong toán đại liên, tôi hỏi Thượng sĩ Hội, thường vụ đại đội, ông ta đi lính hồi tôi còn học Tiểu học:
- Ai vậy ông Hội, sao có đàn bà lẫn lộn vào đây?
- Thưa Thiếu úy, đó là vợ thằng Nở, xạ thủ đại liên, nó ở với Đại Đội lâu rồi, hồi còn Trung úy Trang, ông cũng cấm nhưng chỉ được vài ngày là nó lại lẻn xuống sống với chồng nó.
- Tôi thấy không được rồi đó ông, lỡ đêm Việt cộng tấn công thì làm sao, thằng Nở chỉ lo cho vợ nó thì còn đánh đấm gì được.
- Thiếu uý đừng lo, vợ nó phụ nó rất đắc lực, chị ta biết xử dụng đại liên, biết tiếp đạn cho chồng, rồi Thiếu úy coi, hễ rảnh là nó lại lau chùi cây đại liên nữa.
- Nhưng lỡ có chuyện gì làm sao mình báo cáo.

Hôm sau tôi gọi Nở lên trình diện:
- Sao cậu không để cho vợ cậu ở nhà mà cho đi theo Đại đội như vậy, lỡ có chuyện gì thì sao?
- Thưa Thiếu úy, con Ba nó mồ côi từ nhỏ, không có nhà, em đã đưa nó về với má em rồi nhưng má em không ưng nó, cứ kiếm chuyện với nó hoài, cho nó theo ĐĐ, thấy cũng bất tiện, em biết chứ.

Nở thực hiện lời “em biết chứ”, vài ngày sau, tôi không thấy vợ Nở đi chung trong toán đại liên nữa, tôi hỏi Thượng sĩ Hội, ông ta cho biết Nở đưa vợ ra bến xe về quê mấy bữa nay rồi, tôi có hơi băn khoăn nhưng nghĩ vậy cũng phải, lỡ có chuyện gì thì làm sao, rồi má con sẽ phải hòa thuận với nhau chứ.
Một hôm, Hạ sĩ quan quân số cầm về xấp thư của ĐĐ đưa cho tôi, trước đó tôi có dặn anh ta là thỉnh thoảng phải kiểm soát thư từ của binh sĩ xem biết đâu có đứa bị móc nối. Tôi dở xấp thư ra coi thấy có một lá đề tên Nở, khi tôi coi ĐĐ thì Nở không biết chữ, sẵn dịp, tôi hỏi các Trung đội xem còn ai không biết chữ gom tất cả lại, đâu cũng được 5,6 người, tôi nói Trung sĩ Hiển, Hạ sĩ quan CTCT mua tập vở về dậy họ học, “ngày mãn khóa”, tôi kêu từng người đưa tờ Chiến sĩ Cộng Hòa cho đọc, ai đọc được, tôi thưởng cho bốn ngày phép, Hạ sĩ Nở biết chữ từ ngày đó.
Có bốn ngày phép, Nở không đi đâu cả, anh ta và vợ quanh quẩn chơi ở mấy nhà quen trong xã, hết bốn ngày, Nở về lại ĐĐ.

Tôi mở lá thư của Nở ra đọc:
Long Xuyên, ngày….
anh hai thương, em diết thơ nầy cho anh là lúc ba giờ phia, em chờ má ngủ mới dám diết cho anh, anh hai ôi, em nhớ anh quá hà, sao số kiếp cứ đài đọa tụi mình hoài, nhớ những lúc điêm tối cùng anh đi đóng quân, dầu gì vợ chồng được gần nhau cũng hơn há anh, hôm anh tiễn em ra bến xe em buồn quá, lúc xe chạy, em thấy như mất mác cái gì quí báo, em khóc ước cả mắt, em cố chìu chuộng má mà má vẫn hổng thương em, thôi để em lên quỳ xinh với ông thiếu úy để em được đi theo anh, liệu được hôn anh, diết thơ nầy xông, mơi sẽ gởi cho anh, anh hai nhớ trả lời em nghe.
Em, Ba.

Một tuần lễ sau khi đọc lá thư của Hạ sĩ Nở, buổi tối dẫn Đại Đội đi đóng quân, tôi lại thấy cái dáng nhỏ bé ấy đi chung với toán đại liên, lẫn vào hàng quân, không biết anh Hai có trả lời, trả vốn gì không hay nhớ chồng lên đại, tôi thấy chị ta cố lẩn vào đám đông, chắc sợ tôi nhìn thấy, hoặc có thể biết tôi đã thấy nhưng làm nước liều, có điều hôm nay không mặc bộ bà ba đen thường lệ mà là bộ đồ trận rộng thùng thình, đầu còn đội nón sắt, chị ta tính ngụy trang che mắt tôi, tôi cười thầm trong bụng khi thấy vợ Nở cuốn nguyên một dây đại liên quanh người, tôi mong chị ta đừng gặp tôi mà xin gì cả, chẳng thà để tôi lờ đi như không biết còn hơn là hợp thức hóa cho khó xử.

Năm 67, các Tiểu đoàn Bộ binh thường có ba Đại đội tác chiến, chia nhau vùng trách nhiệm họat động, hành quân lục soát từng ĐĐ chung quanh bộ chỉ huy TĐ, đôi khi có cuộc hành quân cấp Tiểu đoàn thường là nhẩy trực thăng và xa hơn. Ba Đại đội trưởng tác chiến đều cùng khóa 21 Đà Lạt gồm Th/U Vũ đình Hà (ĐĐ1), Th/U Lê xuân Sơn(ĐĐ2) và tôi ĐĐ3.
Một tối, Đại đội 1 bị tấn công, ĐĐ2 tối đó đóng xa, giữ con đường từ Long Thượng về Cần Giuộc, tôi nằm cách Hà (ĐĐ2) khỏang 500 thước, Tiểu đoàn mất liên lạc với Hà, kêu tôi lên tiếp cứu, chỗ Hà nằm tôi biết rõ vì đã từng đóng quân ở đây, chắc chắn là địch tấn công từ ngã rạch tấn công ra, tôi dẫn Đại đội chạy băng lên vì tình người bạn cùng khóa, tôi cho Đại đội bắn chặn nơi đầu rạch, nhưng vì không liên lạc được với Hà, tôi sợ quân ta bắn lầm quân bạn, tôi chạy lại cây đại liên, cho chuyển hỏa lực về bên trái, dưới ánh sáng của pháo binh Cần Giuộc, tôi thấy vợ Nở nằm cạnh chồng, tay nâng dây đạn, Nở đang nghiến răng bóp cò, nhả từng loạt đạn về hướng địch.

Như tôi đã nói ở trên, dạo đó ở Long An VC chưa nhiều, chắc khoảng hai chục tên, đợi mình ơ hờ, liều lĩnh tấn công. Cũng tại nơi con rạch này, ít lâu sau, ĐĐ tôi hành quân lục soát ở đây và đụng nặng, sở dĩ đụng nặng vì địch tụ ở đâu về, ém quân trong đám dừa lá dầy đặc như vùng bất khả xâm phạm, chắc chúng tập trung ở đây, đợi đêm xuông có giao liên dẫn chúng xâm nhập Đức Hòa, Đức Huệ rồi qua Campuchia, chúng không ngờ ta lùng sục, chúng buộc phải chống trả.
Đám dừa nước cao ngất che dọc theo con rạch, hướng ĐĐ tiến vào là đồng trống, suốt vùng Long An này chỗ nào cũng vậy, bất ngờ ban đầu làm ta có ba binh sĩ bị thương và một chết, tôi xin pháo binh và Cobra lên vùng, hồi đó gọi máy bay ném bom còn là một điều mới mẻ, vũ khí xử dụng là của thời đệ nhị thế chiến, toàn là Garant, Carbin, cả Thompson nữa, ấy vậy mà cây đại liên 30 của Hạ sĩ Nở cũng có tác dụng. Nở người hơi thấp nhưng rất khỏe, một mình vác cây đại liên cả với chân ba càng, mỗi lần pháo bắn hay trực thăng phóng rocket là anh ta chạy nhào lên cho gần mục tiêu, lúc đó địch còn lo núp. Khi đã rất gần mục tiêu và có gò đất làm điểm tựa chắc chắn, cây đại liên mới phát huy được hiệu quả của nó, từng loạt đạn bắn ra làm bọn VC không ngóc đầu lên được, cộng thêm pháo và trực thăng bắn liên tục, ĐĐ chiếm được mục tiêu lúc gần tối, địch bỏ lại 6 xác và một số vũ khí. Trận đánh như thế này không đáng kể gì so với sau này khi SĐ 25 rời Long An di chuyển về vùng trách nhiêm mới là Tây Ninh, cuộc hành quân vượt biên năm 1970 cũng như ở Bình Long mùa hè đỏ lửa thì chiến trận lên tới cấp Sư đoàn, Quân đoàn.

Sáng hôm sau, Tướng Phan trọng Chinh, Tư lệnh SĐ xuống quan sát trận đánh và gắn huy chương, tôi đề nghị với TĐT thăng cho Nở lên Hạ sĩ nhất nhưng Tướng Chinh là người rất ngặt nghèo trong việc ban thưởng huy chương và thăng cấp, Nở chỉ được cái huy chương đồng, ông bảo huy chương đồng của SĐ 25 bằng huy chương vàng của các nơi khác (!)
Hai ngày sau ĐĐ còn được nghỉ dưỡng quân, tôi xuống tổ đại liên chơi, cả toán đang ngồi ăn cơm, tôi thấy vợ Nở đang mân mê cái huy chương của chồng, thấy tôi, chị có vẻ ngài ngại gật đầu chào rồi bỏ vào trong nhà, tôi nghĩ giá tôi có quyền, tôi sẽ tặng cho chị ấy một cái huy chương của buổi tối yểm trợ cho Vũ đình Hà.
Đầu năm 1968, tôi được đề cử theo học khóa Tác chiến trong rừng ở Mã Lai, tôi còn gắn bó với ĐĐ hơn một tháng nữa. Một buổi sáng, đang đứng trước cửa ĐĐ thì vợ Nở bất chợt ngang qua, chắc đi chợ về, thấy tôi, chị ta khựng lại muốn thối lui nhưng không kịp, chị ta làm gạo bước tới và khi ngang qua tôi, vợ Nở mím môi lại và dơ tay chào theo kiểu nhà binh, tôi ngạc nhiên, trong một phản xạ, tôi chào lại, chào xong, tôi mới ngẩn người ra nghĩ: sao mình lại chào nhỉ, hóa ra ĐĐ này có một nữ quân nhân ư? Có lẽ chị ta thấy mọi người trong ĐĐ chào tôi nên khi gặp, chị cũng chào để cho giống như những người kia chăng! Tôi thấy hình như bụng vợ Nở có hơi to ra. Tôi đem điều này hỏi Thượng sĩ Hội thì ông ta bảo: có vẻ như vậy Trung úy.
Tôi gọi Nở lên:
- Vợ cậu có bầu phải không?
- Dạ, thưa Trung úy.
- Vậy thì cậu phải đưa cô ta về với bà già đi chứ, bầu bì rồi đi theo ĐĐ mãi sao được, phải lo sức khỏe cho cô ta.
- Dạ, em cũng tính tháng này lãnh lương xong, Trung úy cho em cái phép để em đưa nó về gởi bà già.
- Được rồi, lúc nào muốn cứ lên đây.

Hai ngày sau, Đại Đội được lệnh đóng quân đêm và tổ chức một cuộc phục kich ở sau lưng quán Năm Ngói, một địa danh nổi tiếng về sự khuấy rối của VC nơi đây, tối đó, ĐĐ chạm địch, một tốp nhỏ bọn chúng gặp toán phục kích, hai tên bị bắn hạ, số còn lại nhập qua toán kia thì đụng phải ĐĐ, nhờ toán phục kích nổ súng trước nên ĐĐ không bị bất ngờ, địch bắn rất rát nhưng không chủ ý tấn công nên sau một hồi, chúng rút lui, hình như có chuyện gì xẩy ra ở cây đại liên vì tôi thấy nó nổ được một chập thì im bặt, tôi đảo nhanh vòng quanh tuyến phòng thủ, không có tổn thất nào, nhưng khi tới cây đại liên, tôi thấy có mấy người lố nhố, linh tính cho tôi biết có chuyện không hay, tôi hỏi giật giọng:
- Gì vậy Nở?
Không có tiếng trả lời, tôi bước vội tới, thấy Nở ôm vợ, y tá Thọ đang loay hoay băng vết thương nơi ngực chị ta, thấy tôi, Nở nghẹn ngào:
- Vợ em nó chết rồi Trung úy ơi!
Tôi ngồi xuống, chị ấy bị trúng đạn ở ngực, máu ướt đẫm cả cái áo trận, y tá Thọ đứng lên:
- Chết rồi Trung úy.
Tiếng thằng Năm trong toán đại liên:
- Súng bị kẹt đạn, thằng Nở kéo mãi đạn không lên, con Ba nó chồm dậy mở nắp cơ bẩm, em la nó nằm xuống nhưng không kịp Trung úy.

Tôi thấy nghèn nghẹn ở cổ họng, từng chứng kiến nhiều cái chết nhưng lần này tôi thật xúc động. Thôi, chị Nở, từ nay chị hết cần phải tránh né tôi nữa rồi, sao tôi lại không cứng rắn hơn nữa với chị, giá tôi đừng tình cờ đọc được lá thư chị viết cho chồng, ừ, đáng lẽ tôi phải cứng rắn hơn, nhất định không cho chị đi theo ĐĐ như vậy.
Tôi báo với Thiếu tá Hải, Tiểu đoàn Trưởng về sự việc xẩy ra, ông có biết vợ chồng Nở, ông cho Sĩ quan CTCT/TĐ mua cái hòm, cấp cho Nở một cái xe Dodge để đưa vợ về quê mai táng. Tôi lấy hết tiền có thể có được, cả tiền quỹ ĐĐ đưa cho Nở, buổi trưa cuối năm, trời hơi lành lạnh, chiếc xe chở Nở và quan tài vợ đi ngang qua ĐĐ, tôi đứng nghiêm chào như một lần chị đã chào tôi, chị chết đi mà cái hòm không có phủ cờ, không được mười hai tháng lương, không cả được lên cấp chỉ vì chị là NGƯỜI LÍNH KHÔNG CÓ SỐ QUÂN.
Mười ngày sau, Nở trở lại đơn vị, trước ít ngày tôi về SG để chuẩn bị đi học, Nở đào ngũ, có lẽ Nở không chịu được cái cảnh mỗi tối vác cây đại liên tới chỗ đóng quân mà không có vợ bên cạnh.

*

Chị Nở thân mến,
40 năm sau ngày chị mất, hôm nay tôi ngồi viết lại chuyện này về chị, chỉ là một sự tình cờ thôi, hôm nọ tôi đọc loáng thoáng đâu đó người ta nói về những gương chiến đấu của Quân và Dân miền Nam trong công cuộc chống CS xâm lược trước đây, tôi chợt nhớ tới chị, một người không phải là quân, cũng không hoàn toàn là dân, gọi chị là gì nhỉ, chị lưng chừng ở giữa nhưng đã chiến đấu như một người lính thực thụ và đã hi sinh.

Một lý do nữa để tôi viết về chị là vì mới đây, Cộng Sản Việt Nam đã làm ầm ĩ lên câu chuyện về Đặng thùy Trâm, một nữ cán binh CS xâm nhập vào Nam và đã chết ở chiến trường Quảng Ngãi, cô Trâm này chết ở đây nhưng không ai biết nắm xương khô vùi chôn nơi đâu, một người lính Mỹ hành quân qua nơi cô chết và nhặt được cuốn nhật ký của Đặng thùy Trâm, cuốn nhật ký này, như một kỷ niệm chiến tranh của người lính, anh ta đem nó về Mỹ, mấy chục năm sau, nó mới được đưa ra ánh sáng và trao cho mẹ của Đặng thùy Trâm ở Hà Nội.

Nhà nước CSVN chụp được cơ hội này cho xuất bản cuốn nhật ký, dĩ nhiên với nhiều thêm thắt để khơi động lòng yêu nước của đám thanh niên càng ngày càng rời xa chủ nghĩa CS. Đặng thùy Trâm là một Bác sĩ, nhưng không hiểu có được học hành tử tế để thành một Bác sĩ không, tôi đã đọc được một truyện khi ở tù ngoài Bắc là có một anh công nhân được tặng danh hiệu anh hùng lao động vì đã phục vụ 15 năm trong phòng bào chế thuốc, và vì phục vụ hăng say và lâu như vậy, anh được thăng lên làm dược sĩ vì quen với công việc bào chế, phong dược sĩ xong, anh ta mới đi học bổ túc văn hóa vì anh ta viết chữ cũng chưa gọn ghẽ mấy. Bởi vậy, tôi không biết Bác sĩ Thùy Trâm này trình độ có khá hơn y tá Thọ của Đại Đội mình năm xưa không, hay cũng như mấy bà mụ vườn ở nhà quê.

Thưa chị Nở, cả chị và cô Đặng thùy Trâm này là hai người đàn bà ở hai chiến tuyến chết trong cùng cuộc chiến, trong cùng thời gian và độ tuổi cũng gần như nhau, nhưng hai cái chết mang hai ý nghĩa khác nhau, Thùy Trâm bị bắt buộc và tự đi tìm cái chết, còn chị, chị bị chết vì người ta ở mãi đâu vô đây tìm để giết chị, chị chỉ tự vệ, chị không hận thù ai, không ai dạy chị oán thù, không ai tuyên truyền với chị về chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ và cũng không nhân danh chủ nghĩa để chém giết người khác, chị rất đôn hậu, còn cái cô Thùy Trâm kia đã từ ngoài đó vào đây, mang trong lòng sự thù hận bởi sự tuyên truyền nhồi nhét, miền Nam này nào có cần ai phải giải phóng đâu, cho mãi nhiều năm sau này, người miền Nam vẫn khẳng định rằng họ không cần ai giải phóng cả.

Chị Nở có thấy điều buồn cười này không là trong cuốn nhật ký, Thùy Trâm viết là sao quân Mỹ Ngụy tàn ác, thích chém giết, chị Nở có thích chém giết ai không hay người ta vào đây tìm giết chị, từ ngoài đó lần mò vào tận trong này để tìm giết người ta lại còn hô hoán là sao người ta thích chém giết mình, thật kỳ lạ. Cũng trong cuốn nhật ký, Thùy Trâm than phiền là phấn đấu đã lâu nhưng chưa được kết nạp đảng, đây cũng là lý do vì sao Thùy Trâm đi B, cố gắng trong công tác để chỉ mong được đảng kết nạp, chị Nở có biết cô ta mong được kết nạp để làm gì không, thưa là để có cơ hội được làm lớn, có đảng mới được làm lớn, có làm lớn thì mới có quyền và có tiền, bây giờ cả cái nước Việt Nam này, đảng Cộng Sản thi nhau vơ vét tiền bạc của người dân, chúng giầu lắm rồi, hồi trước mỵ dân, chúng đem những người giầu có ra đấu tố, gọi họ là địa chủ, giờ thì ai đấu tố chúng? Thùy Trâm này nếu mà không chết và giả như có ô dù, giờ có thể là Bộ trưởng Y tế hay làm Giám đốc một bệnh viện nào đó thì cũng là những con giòi, con bọ đang tham gia đục khoét thân thể Việt Nam.
Cũng là cái chết nhưng chị chết trong vòng tay người chồng, có mồ yên mả đẹp, có nhang, có khói, tội cho cha mẹ cô Thùy Trâm, không biết nắm xương khô con giờ ở chỗ nào, họa chăng là cái bàn thờ với tấm hình cô ấy mà thôi.

Bốn mươi năm đã qua, bây giờ nhiều thay đổi lắm rồi chị Nở ạ, ông Thiếu úy trẻ năm xưa giờ là ông cụ già rồi, vẫn khó tính như trước và đang phiêu bạt nơi xứ người, Thượng sĩ Hội đã mất, Nở từ ngày đào ngũ tôi không gặp lại, chắc đã có vợ khác, xin được tạ lỗi cùng chị là đã không giữ được đất nước để rơi vào tay quân thù, thật không xứng đáng với sự hi sinh của chị, chúng tôi làm mất nước không phải vì hèn kém, không chiến đấu, mất nước vì bị phải mất nước.

Quên kể cho chị nghe, mấy tháng sau ngày chị mất, vũ khí được tối tân hóa, những cây Garant cổ lỗ sĩ được thay bằng súng M16, còn cây đại liên 30 nặng chình chịch chị biết đấy, thay thế bằng đại liên M60, nhẹ hơn, bắn nhanh hơn và không hay bị kẹt đạn nữa chị Nở ạ. Thôi tất cả đã qua, chúng tôi vẫn không bao giờ quên những người đã hi sinh vì mảnh đất miền Nam thân yêu, không bao giờ quên được những gương chiến đấu dũng cảm của quân và dân trong việc chống lại quân Bắc phương xâm lược, hôm nay ngồi viết lại những hàng chữ này như được thắp nén hương trang trọng cho chị, thưa chị Nở.

Trần Như Xuyên


Friday, April 17, 2009

Tháng tư lại đến

Tháng tư lại đến, thương lắm, người viễn xứ
Dù xa xôi nhưng vẫn nhớ khôn nguôi
Quê mẹ thân thương chịu lắm nỗi đọa đày
Kẻ nội thù và ngoại thù đang cùng nhau dày xéo

Mảnh đất chữ S đây hình hài của mẹ
Đã thấm nhiều xương máu của cha ông
Chúng đem dâng địa đầu và biển đảo quê hương
Cho kẻ thù tham lam từ phương Bắc

Chính kẻ thù này bao nhiêu lần tơi tả
Bao nhiêu lần xâm lăng là bấy nhiêu lần thất bại thảm thương
Bạch Đằng, Chi Lăng. Đống Đa là mồ chôn lũ giặc
Cha ông ta đã làm con cháu tự hào

Sao bây giờ lại có quân ngu xuẩn
Vì chút lợi riêng mà làm nhục giống nòi
Sẽ nói gì đây khi về nơi chín suối
Khi gặp lại tiền nhân nơi cõi u minh.

PHP
04/16/09

Cảm nhận 30 tháng tư

Trần Khải Thanh Thủy

1. Cảm nhận 30-4


Sinh năm 1960 nên ngày 30-4-1975 tôi tròn 15 tuổi, đang còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông trung học. Tin miền Nam hoàn toàn giải phóng dội tới từng công sở , xí nghiệp, trường học làm nức lòng toàn dân , nét mặt ai cũng hân hoan khúc khải hoàn ca. Lây tâm tâm trạng chung của mọi người , tôi cũng cảm thấy nhẹ bỗng như người không trọng lượng. Cảm giác của người chiến thắng, nở hoa trong hồn, vui mừng không sao kể xiết. Khắp góc chợ, vỉa hè, đâu đâu người dân cũng đưa tin nước nhà giải phóng, chế độ nguỵ quyền sụp đổ. Các quầy báo đông nghịt người xếp hàng mua báo quân đội, nhân dân, Hà Nội mới, để xem tin chiến thắng . Một cuộc cách mạng long trời, lở đất, một chiến thắng vĩ đại của quân và dân Việt Nam, cũng là một cuộc cách mạng mùa thu tháng 8 -1945 lần thứ hai của người Việt Nam, thời kỳ khổ ải trường kỳ kháng chiến, thắt lưng buộc bụng qua rồi ,giờ chỉ còn xây dựng đất nước to đẹp đàng hoàng gấp 10 lần xưa thôi....


Mẹ tôi mừng gấp đôi vì đã hơn 20 năm trời xa cách , nay mới gặp được chị cả, di cư vào Nam từ 1954 theo chồng. Người chị mà vì có họ hàng dây mơ, rễ má, máu mủ ruột thịt mà cả nhà phải ngậm đắng, nuốt cay, tám anh chị em trong nhà, kể cả mẹ tôi không ai được kết nạp đảng dù thoát ly, làm đường, thanh niên xung phong từ năm 16 tuổi, phải sống, cống hiến, lao động và chịu đựng hơn gương Bác Hồ vĩ đại cả ngàn vạn lần , vẫn ra rìa, vì trong gia đình có người đầu hàng , theo địch... một vết nhơ trong gia đình, dòng tộc mà ngay cả khi thống nhất đất nước vẫn không thể nào gột rửa được


Loay hay vất vả mãi, tận năm 1976 mẹ tôi mới xin được cán bộ tổ chức cơ quan một tờ giấy phép vào Nam ( thời gian đầu, nhà nước chỉ xét các đối tượng trong diện vợ chồng, con cái, bố mẹ...) khỏi phải nói đến sự mừng tủi của hai chị em sau 21 năm xa cách. Bác ôm lấy mẹ tôi khóc khi hay tin cả bố và mẹ đẻ đã mất ngay sau khi tiến hành cải cách ruộng đất, nhà bị đưa vào diện địa chủ, bóc lột. Ông tôi khi ấy đang làm hiệu trưởng trường cấp I, vì uất ức mà phải giằng kính khỏi mắt đập mạnh xuống nền nhà cho mắt kính vỡ tan để lấy một mảnh nhọn và sắc nhất rạch ruột tự tử ngay trước mặt cán bộ cải cách...Khi cả đoạn ruột lòi ra ngoài ổ bụng, một viên bác sĩ người Pháp vội vàng chạy đến băng bó, cấp cứu, nhưng ông tôi đưa tay ra hiệu không cần thiết, kèm câu nói chứng tỏ sự lựa chọn đúng đắn của mình: "Một xã hội mà kẻ vô văn hoá lên cầm đầu, trừng trị người lương thiện, cũng là người đã góp phần nuôi cả đại đội chiến sĩ trong nhà ăn no đánh thắng, giết giặc, lập công...thì xã hội ấy chỉ còn là sự đồi bại, tha hoá, cướp bóc, trừng trị, không những không đưa đất nước ra khỏi quỹ đạo luẩn quẩn của nghìn năm Bắc thuộc, mà còn không bằng xã hội trong thời kỳ phong kiến thối nát"...Một xã hội bất công, vô lý như thế thì tôi còn sống làm gì ? Làm sao cam tâm nhìn cảnh đất nước bị tàn phá, lương dân bị giày xéo ....Đời người chỉ chết có một lần, sống mà phải mang vết nhơ gia đình mình là địa chủ, chuyên áp bức, bóc lột dân lành thì sống sao nổi?

Nói lại những lời hùng hồn trăng trối cho viên bác sĩ người Pháp nghe xong, ông tôi nhắm mắt trút hơi thở cuối cùng. Bà tôi không chịu đựng nổi cái chết phi lý, đường đột của ông, lại chứng kiến cảnh mất nhà, cướp đất của lũ cán bộ cốt cán, từng ăn mòn bát, ngồi mòn chiếu nhà mình, một điều u, hai điều con, nay giở mặt gọi bà là địa chủ bóc lột, đòi đưa ra đấu tố, trong khi con cái ly tán khắp các phương trời góc bể, Từ Hải Phòng, Lạng Sơn, Hà Tây , Hà Nội v.v nên cũng ốm đau , mòn mỏi, đành nhắm mắt, xuôi tay khi tuổi đời chưa tròn một vòng hoa giáp...

Khóc cho bố mẹ chán, bác tôi quay ra khóc cho mình, cho cả đại gia đình 9 đứa con, gần 30 chục cháu nội ngoại cùng 9 cặp dâu rể đang trong cảnh bấn loạn tinh thần. Chỉ vì tin ông bà còn sống mà nấn ná ở lại, cấm con cái không được "lầm đường lạc bước theo giặc, bỏ quê cha đất tổ mà đi"... Giờ cơ hội đã lỡ, tất cả đều trong cảnh sống giở chết giở, 6 anh con trai là sĩ quan cộng hoà đều phải đi học tập cải tạo mút mùa, vợ con không ai nuôi nấng, chăm sóc ...Đang từ xã hội tiêu thụ, gi gỉ gì gi, cái gì cũng có, thành xã hội bao nhiều, cấp ít, gi gỉ gì gi, cái gì cũng thiếu ...ai cũng hoang mang chán nản, bởi cuộc sống đã bị cướp đi những gì quý giá, căn bản nhất, không còn là sống mà chỉ là sự tồn tại, vạ vật cho qua ngày đoạn tháng, đau khổ đến chết và đói nghèo đến chết, thậm chí có người không chịu đựng nổi cảnh địa ngục trần gian do bọn phát xít mới đưa lại đã lặng lẽ tìm đến cái chết, hòng làm đứt tung mọi sự ràng buộc, gian díu với đời

Khi tôi vào, điều cảm nhận đầu tiên của tôi là sự hụt hẫng, suốt dọc đường trên chuyến tàu xuyệt Việt, tầm mắt chỉ được nuôi dưỡng bằng cảnh nghèo, cái đói . Không phải "Đường vô xứ nghệ quanh quanh, non xanh, nước biếc như tranh hoạ đồ" như thơ Tố Hữu miêu tả mà là :

Đất nước mình đâu cũng mái nhà gianh ,
Gương mặt người ai cũng xám xanh ,


Đơn giản vì đồng đất bạc màu, hoang hoá, hết tím hoa mua lại trắng mùa hoa sở. Thứ hoa dại vốn chỉ mọc ở ven đồi, sườn núi, đẹp thì có đẹp nhưng không nuôi sống nổi con người.

Vào đến Sài gòn, nếu nhà văn Dương Thu Hương đã phải ngồi thụp xuống vỉa hè vì đau xót, hẫng hụt trước một sự thực trần trụi: Nền văn minh mọi rợ chiến tháng nền văn minh hiện đại thì tôi cũng có những nỗi buồn tương tự. Đất nước liền một dải, non sông thu về một mối, nhưng lòng người đầy cách ngăn. Một con sông bến Hải, một vĩ tuyến 17 ngày và đêm, một nhịp cầu Hiền Lương vẫn tồn tại trong lòng mỗi con người. Dù là tình máu mủ, ruột thịt, anh em, họ hàng, bà con, cô bác vẫn không sao xoá nhoà được ranh giới của kẻ thua, người thắng, kẻ bắc, người Nam, kẻ lấn chiếm, người bị động...Khắp thành phố, sự phân biệt kị thì vẫn hằn lên trong từng ánh mắt, giọng nói, điệu cười. Các anh chị tôi tiếp đón một cách vừa phải , qua quýt, không thân cũng chẳng sơ. Nếu không có bác tôi làm cầu nối hẳn cuộc đón tiếp còn gượng gạo, buồn tủi hơn nữa. Đơn giản vì tôi là người miền Bắc, người của phe đối địch, bị đầu độc từ tấm bé, nên mọi lời ăn tiếng nói đều do "cha mẹ sinh con, đảng đoàn xã hội chủ nghĩa sinh tính"...Động mở miệng là nhắc đến bác Hồ, gọi tên thành phố cũng là thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải Sài Gòn, càng không dám nói "Sài Gòn hoa lệ" hay "hòn ngọc Viễn Đông". Đã thế còn luôn bảo vệ ý kiến mình theo đúng đường lối, chủ trương, chính sách, quan điểm của đảng và chính phủ. Ngay cả khi bác hỏi: "Ngoài Bắc, mỗi tháng được phát mấy lon sữa, hả con?" Cũng phải lên gân, lên cốt trả lời theo đúng những lời dạy dỗ khuyên bảo của thầy cô trên lớp học của mình: "Cần gì đâu bác, không một gram sữa, không một ký thịt nào mà vẫn đánh thắng bè lũ đế quốc và tay sai đấy thôi".

Biết bao ông bố bỏ lại vợ con ra căn cứ địa cách mạng rồi tập kết ra Bắc, trở về dắt theo cả vợ lẽ, con thêm . Biết con trai đi học tập cải tạo, con dâu một nách 4,5 con nhỏ, vẫn không một lần lên trại thăm nuôi, còn dài giọng trách: - "Ai biểu nó vô Việt Nam cộng hoà, quay súng bắn lại cách mạng, Giờ tao vô trại cũng có bảo lãnh cho nó ra được đâu"... khiến con dâu vì nghèo, đói, uất ức mà phải tự tử, bỏ lại bốn, năm đứa con côi cút, găm thêm vào lòng người chồng đang ngồi tù cải tạo một vết thương sâu hoắm

Trong khi người miền Bắc thích ăn món cua bể (bê của) hàng hoá rùng rùng chuyển động ra phía bắc, thì trong nam cứ dần dần nghèo đi, câu hát của người dân miền Nam như lưỡi dao đâm vào tim người miền Bắc đau nhói: " Đi ta đi giải phóng miền Nam, đi đến khi nào người dân không còn cái quần, thì ta còn chiến đấu, quét sạch chúng sinh , lời bác sui dại bên tai, chiến đấu cho đến ngày Nam, Bắc nghèo bằng nhau".

Một dân tộc bị qúa khứ lịch sử chia đôi thành hai vùng địa lý, chính trị, thuộc về hai chiến tuyến. Một vết cắt xuyên thấu mỗi gia đình, số phận, tưởng chừng giải phóng được rồi là tình người, no ấm về theo. Ai ngờ, vì những chính sách cai trị man dợ kéo dài mà kéo theo bao cảnh ba đào loạn ly, trước tiên là cảnh chia đàn xẻ nghé của tất cả các gia đình "nguỵ quân, nguỵ quyền" chồng, con, anh em vào trại cải tạo, vợ con ở lại nheo nhóc đói khổ, phải đương đầu với cuộc sống vô cùng khắc nghiệt cùng bao quyết sách man rợ, sai lầm chết người của đảng cộng sản: Tài sản bị cướp trắng sau cải tạo công thương nghiệp, giết chết cái gọi là mầm mống tư sản mại bản để đề cao lý tưởng xoá bỏ chế độ người áp bức bóc lột người. Đổi tiền "Nguỵ " ra tiền đảng với gía trị gần như không, đến mức người dân phải thốt lên đầy cay đắng khi cầm một nhúm tiền của đảng, bác trên tay:

Bố cạn tiền rồi cán bộ ơi,
Đổi tiền mà sao đến nỗi này
Chưa tiêu đã hoá tiêu đi hết
Chú phỉnh tôi rồi, chính phủ ơi"


Trong khi đại bộ phận người dân thành phố nghèo đi trông thấy, thì những anh bộ đội cụ Hồ, ba lô con cóc lép kẹp trên lưng với chiếc khung xe đạp, con búp bê nhựa xấu xí hôm nào, bỗng giàu lên một cách đáng ngờ. Từ vô sản thành hữu sản, còn người dân chịu cảnh đấu tranh giai cấp, cải tạo công thương nghiệp , nên đi từ hữu sản thành vô sản. Không những khốn khổ vì đời sống thấp kém, còn khốn khổ vì bị cán bộ cách mạng đè đầu cưỡi cổ, sách nhiễu lung tung.

Biết bao cán bộ lãnh đạo với khẩu hiệu - tưởng chừng bất di bất dịch như một chân lý sống: "Một cái kim, sợi chỉ của dân không lấy" , bỗng vụt hiện lên thành các quan cách mạng, quan đồng chí. Vừa ngủ quên trên ngai vàng quyền lực, chia nhau quả thực, vừa quay lưng lại nỗi khổ của dân, hà hiếp cai trị dân, dù đó là những người từng nuôi dưỡng bao bọc che chở cho mình trong suốt những ngày cách mạng còn gian khổ cam go nhất. Bao nhiêu tàn dư đế, quốc, phong kiến, tưởng đào tận gốc, trốc tận rễ bỗng rùng rùng trở lại, gấp cả trăm, nghìn lần những tiêu cực yếu kém của thời kỳ tồi tệ, hà khắc, phong kiến trước kia- tàn dư của chế độ mới xã hội chủ nghĩa. Càng giành được chính quyền, giành được quyền tự chủ, tự quyết thì càng lòi sự dốt nát, bất lực trong phương pháp quản lý của đảng cộng sản. Đất nước liền một dải nhưng lại thực hiện chính sách, ngăn sông, cấm chợ, khiến 400 quận, huyện trong cả nước biến thành 400 lô cốt, pháo đài riêng biệt...Từ Lạng Sơn tới mũi Cà Mau, đất nước bị băm nát thành trăm nghìn mảnh vụn bởi các trạm gác, chốt canh, nhân viên thuế vụ v.v Chỉ đem cân gaọ, lạng thịt từ tỉnh này sang tỉnh khác, huyện này sang huyện khác đã bị coi là buôn lậu và bị phạt, bị bắt, bị nhốt vô tội vạ, khiến lòng dân tứ tán ...Làn sóng di tản ồ ạt, di tản bằng mọi giá, gần 90% các sĩ quan ra khỏi trại cải tạo trở về là cùng vợ con bỏ đất nước ra đi, tạo thành một làn sóng lưu vong nhiều không kể xiết, nạn thuyền nhân khủng khiếp nhất thế giới...Chưa kể các trại tù mọc lên như nấm suốt dọc bờ biển Đông để nhốt người vượt biển. Hiếm có người nào đi một lần đã trót lọt. Người bỏ mình trên biển thẳm, người bị bắt hết lần này lần khác, người trở thành nạn nhân của bọn hải tặc Thái Lan v.v Đau thương nhiều không kể xiết... Đất nước không phải của toàn dân tộc Việt Nam như lời cha già dân tộc nói mà chỉ là của một phe nhóm những kẻ lãnh đạo cộng sản, còn những người dân thấp cổ bé học thì thuộc tầng lớp bị trị, bị cai quản, đầy áp đặt thô bạo và phân biệt đối xử không khác gì bài học lịch sử đau xót của cả nghìn năm trước đó: "Được làm vua, thua làm giặc". Hễ là người miền Bắc dù không có chứng chỉ văn bằng, năng lực lãnh đạo, quản lý, nhưng đều được cất nhắc lên thành cán bộ. Con em " Nguỵ quân, nguỵ quyền" bị phân biệt đối xử, bị xem xét về lý lịch, thành phần . Bao nhiêu khẩu hiệu dùng để tập hợp lực lượng, thu hút quần chúng sớm đến ngày chiến thắng, giờ trở thành đầu môi, chót lưỡi , thành sự bội ước với số đông đồng bào, đồng chí, anh em, cô bác. Xã hội bị tha hoá , tuột dốc từng ngày. Thời điểm trước "giải phóng", miền Nam Việt Nam dưới sự chỉ đạo của chính thể cộng hoà, 21 triệu người đã ra khỏi sự đói nghèo luẩn quẩn của nghìn năm lịch sử, nay nhờ được đảng cộng sản "giải phóng" mà cả nước húp chung một niêu cháo loãng, cả nước lặn ngụp trong những ô tem phiếu, nhá bo bo, mì hạt sái hàm, ăn khoai và củ mì đớ họng. Từ chỗ vượt xa Nam Hàn và Thái Lan trong thập kỷ 70, thì ngay sau "giải phóng" một năm, đã kém xa Nam Hàn và Thái Lan về mọi mặt. Mượn lý tưởng "xoá bỏ chế độ người bóc lột người" để liên tục đánh vào tầng lớp hữu sản, để dần dần thay thế vai trò, từ vô sản thành hữu sản và ngược lại . Ngọn cờ của giai cấp vô sản càng giương cao thì tầng lớp cán bộ, lãnh đạo đảng càng giàu lên một cách bất ngờ, trong một thời gian vô cùng ngắn ngủi , trong khi bao nhiêu căn cứ cách mạng, bao nhiêu vùng nông thôn rộng lớn phải sống cảnh giật gấu vá vai, ăn bữa nay, lo bữa mai thì cán bộ cộng sản ăn chơi phè phỡn , ăn luôn cả thành tựu cách mạng bao năm gây dựng trong lòng dân . Khắp thành phố khi đó là một bức tranh hiện thực trơ trụi , xám mgoét, hậu quả tất yếu của sự lãnh đạo dốt nát, cộng với chủ nghĩa cơ hội, ăn xổi ở thì, cũng như kiêu ngạo, ảo tưởng của kẻ chiến thắng. Vừa công kênh cái dốt, đề cao cái ác, lại vừa giày xéo lên lương tâm của những người lương thiện, chưa kể còn cố tình bám vào những lý thuyết sách vở lỗi thời là chủ nghĩa Mác, Lê để níu kéo sự phát triển hài hoà của cuộc sống . Càng giương cao ngọn cờ "bách chiến bách thắng" trong mọi lĩnh vực thì càng khủng hoảng, thua lỗ. Càng nêu cao khẩu hiệu "nói thẳng , nói thật , đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật" thì càng dối lừa, gian trá, khiến cho bài toán kinh tế mỗi ngày lại mang thêm nghiệm âm

Hàng nghìn gia đình bị dồn lên khu kinh tế mới, mới chẳng thấy đâu, chỉ thấy mênh mông mịt mùng là rừng, núi, vách đá dựng đứng. Ngày nắng rát da, đêm lạnh thấu xương. Một ngày trải đủ 4 mùa xuân, hạ, thu, đông, chẳng biết làm gì để ăn, để sống đành ôm nhau mà khóc, ôm nhau mà sợ, rồi không thể ôm nhau mà chết, đành dắt díu lếch thếch kéo nhau về lại nơi ở cũ, vạ vật nơi xó chợ, lề đường, vì nhà cũ đã được quan cách mạng chiếm cứ, trưng dụng vô điều kiện ...

Ba mươi ngày ở lại Miền Nam thâm nhập thực tế, trở ra lòng tôi trĩu nặng. Cũng như tất cả những người dân miền Nam khác trong thời kỳ đó, tôi không nhận được gì từ chế độ mới xã hội chủ nghĩa mà chỉ cảm được nỗi đau, nỗi khổ, nỗi bàng hoàng, hẫng hụt, bất bình của người dân với chính quyền cộng sản

33 năm qua rồi , nỗi đau còn đọng lại, vẹn nguyên, làm tổ, kết kén trong hồn tôi, càng ngày càng mưng mủ, và bây giờ vỡ toác trên trang giấy ...

Bệnh viện Châm Cứu 28-4-2008
Trần Khải Thanh Thuỷ

Tuyên cáo: Kêu gọi đồng bào Tây Nguyên hưởng ứng lời kêu gọi cứu nước của Hòa Thượng Thích Quảng Độ

Trích Báo Tổ Quốc

Hậu thuẫn Lời Kêu Gọi “Biểu Tình Tại Gia” của ĐLHT Thích Quảng Độcủa Người Việt Hải Ngoại thuộc Vùng sẽ bị tác hại trực tiếp đầu tiên bởi vụ bô-xítĐà Lạt - Lâm Đồng - Ban Mê Thuột - Đắc Lắc

-NHẬN ĐỊNH RẰNG: Sau hàng loạt hành vi hiến đất dâng biển có hệ thống cho ngoại bang kể từ năm 1945 cướp được quyền hành đến nay, Tập đòan CSVN cầm quyền nay lại phạm thêm một tội ác tầy trời nữa: Cho hàng chục ngàn nhân công Trung Cộng vào khai thác bô-xít ở Tây Nguyên. Đây là một hành vi bán nước trắng trợn và vô cùng tai hại vì chẳng những rồi đây sẽ biến Tây Nguyên trù phú thành một vùng đất chết, gây độc hại và làm khô cạn các nguồn nước chính của Sài Gòn và vùng phụ cận mà, nguy hiểm hơn nữa, chẳng khác gì rước bọn bành trướng Bắc Kinh vào ém quân ngay yết hầu hay địa bàn quân sự chiến lược trọng yếu Việt Nam, sẵn sàng chiếm trọn nước ta.

-NHẬN ĐỊNH RẰNG: Trước đại nạn sinh thái, nguy cơ mất nước và hiểm họa Hán-hoá gần kề do việc cho Trung Cộng vào Tây Nguyên khai thác bô-xit chắc chắn gây nên, Lời Kêu Gọi “Tháng 5 Biểu Tình Tại Gia” của Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ không những không mang tính tôn giáo và hoàn toàn vì dân vì nước mà -trong tình hình Việt Nam hiện nay, dân thì hoàn toàn bị bịt miệng che mắt và Tập đoàn CS cầm quyền thì ngạo mạn, ù lì, bịt tai, Lời Kêu Gọi là một phương sách hữu lý, khả thi và có thể chặn đứng việc khai thác bô-xít cực kỳ tai hại nếu được Đồng Hương Tỵ Nạn Hải Ngoại tích cực hậu thuẫn, tiếp tay để đến được với Đồng Bào Quốc Nội cùng nhất loạt đứng lên hưởng ứng và cứu nước.

Chúng tôi, Người Đalat-Lâm Đồng-Ban Mê Thuột-Darlac hải ngọai Tuyên Cáo:

1. Nghiêm khắc và cực kỳ phẫn nộ lên án Tập đoàn cầm quyền CSVN ngày càng trắng trợn tiếp tay cho Trung Cộng chiếm dần đất nước Việt Nam và thực hiện âm mưu bành trướng và Hán-hóa dân tộc Việt; kêu gọi Công an, Quân đội hãy lập tức thức tỉnh và rời bỏ Đảng CSVN, chấm dứt tiếp tay và bảo vệ Tập đoàn CS cầm quyền bán nước cầu vinh - bọn Trần Ích Tắc thời đại “rước voi về dầy mả tổ” muôn đời phỉ nhổ, và trở về với đại khối dân tộc để cùng cứu nguy và bảo vệ Tổ Quốc; tha thiết mong đợi Đồng Bào, Thanh Niên, Sinh Viên,…quốc nội sớm tỏ ra xứng đáng là những con cháu Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Nguyễn Thái Học,… và nhất loạt đứng lên cứu nước.

2. Trước nguy cơ mất nước vào tay kẻ thù truyền kiếp do vụ khai thác bô-xít gây nên, nhiệt liệt hưởng ứng và tích cực hỗ trợ Lời Kêu Gọi vì dân vì nước và khả thi của Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ; trong lúc chưa thấy một kế sách nào đưa ra khả dĩ có thể chặn đứng việc cho phép khai thắc bô-xít vô cùng tai hại và cứu nguy đất nước, tha thiết kính xin Quý Vị Lãnh Đạo Tôn Giáo, Quí Tổ Chức, Hội Đoàn, Đồng Hương Tị Nạn Hải Ngoại hãy gạt bỏ mọi quan điểm dị biệt và vui lòng nhất loạt lên tiếng ủng hộ Lời Kêu Gọi chí tình, cấp bách của Hoà Thượng Thích Quảng Độ; sự hậu thuẫn của toàn thể hải ngoại và quốc nội là yếu tố CẦN và ĐỦ để Lời Kêu Gọi có thể chặn đứng việc khai thác bô-xít.

3. Trước chế độ độc tài toàn trị của Tập đoàn CSVN hiện nay -cai trị bằng một đội ngũ Công An hung hãn vì thiếu hiểu biết, cộng với một hệ thống báo chí, truyền thông tay sai thường bưng bít sự thật, Lời Kêu Gọi của Hoà Thượng Thích Quảng Độ sẽ có tác dụng mạnh mẽ nếu đến được quảng đại Đồng Bào để cả nước cùng đứng lên ngăn chặn, cứu nước, do đó, xin hãy tận dụng võ khí thời đại internet, mỗi Cá nhân, Tổ chức, đặc biệt là hàng trăm Hội Đồng Hương, Ái Hữu,.. hãy tích cực email, fax, điện thoại,…thông tin cho Thân Nhân, Bạn Bè biết nguy cơ mất nước và đại nạn sinh thái do vụ bô-xít gây nên và Lời Kêu Gọi chặn đứng hữu lý của Hoà Thượng Thích Quảng Độ để hưởng ứng, truyền tai nhau, chắc chắn sẽ hữu hiệu hơn là chỉ ra Tuyên Ngôn trên báo chí hay Kêu Gọi trên radio.

4. Đặc biệt, Tháng 4 Đen 2009, xin các Ban Đại Diện Cộng Đồng, các Tổ Chức, Hội Đoàn,.. toàn thế giới thống nhất và nhất loạt nêu bật chủ đề tranh đấu nhân Ngày Quốc Hận 30/4/2009 phải là các vụ việc vô cùng quan trọng và cấp bách: vụ Hoàng Sa Trường Sa, vụ lén lút ký kết các hiệp ước bất bình đẳng, bất hợp pháp về biên giới năm 1999 và Vịnh Bắc Bộ năm 2000, vụ không nộp hồ sơ đầy đủ về lãnh hải cho Ủy Ban Phân Định Thềm Lục Địa LHQ trước 13/5/2009 sẽ có thể đưa đến hậu quả mất hàng triệu cây số vuông Biển Đông vào tay Trung Cộng, vụ cho khai thác bô-xít vô cùng tai hại ở Tây Nguyên đưa đến nguy cơ mất nước nếu không kịp thời chặn đứng, không và vận động Đồng Hương không về, không gửi tiền về Việt Nam [trừ trường hợp bất khả kháng], không mua hàng do Hà Nội/Bắc Kinh xuất cảng.

Làm tại California, ngày 14 tháng 4 năm 2009, đồng ký tên
[theo thứ tự thời gian]:

*Đồng Hương Ban Mê Thuột/Darlac ở Hải Ngoại:
-Nguyễn Đình Vinh, cựu Đại Tá Tỉnh Trưởng BMT
-Nguyễn Xuân Kế, Hội Trưởng Hội Đồng Hương BMT
-Nguyễn Xuân Chiểu, cựu Hội Trưởng HAHTH BMT
-Nguyễn Văn Thắng, LS, Chủ Tịch CLB Luật KhoaVN
-Nguyễn Văn Thuyết, Hội Trưởng Hội CSQG Florida
-Nguyễn Xuân Thiệp, cựu SQ, cựu Trung Học BMT
-Đổ Đại, cựu SQ, Hội Đồng Hương Ban Mê Thuột
-Lê Xuân Roãn, cựu Hội Trưởng Hội AH cựu THBMT
-Chinh Nguyên, Tổng Thư Ký Văn Thơ Lạc Việt


*Đồng Hương ĐàLạt/Lâm Đồng ở Hải Ngoại:
-LS Nguyễn Thành, cựu Chủ Tịch HĐTX Đalạt
-LS Nguyễn Ngọc Diệp, HT Hội Thân Hữu Đalạt
-Phạm Bích Thủy, Hội Trưởng Hội PNVN Tự Do Đức
-Nguyễn Ngọc Trâm, Đoàn Phụ Nữ Lâm Viên [VBĐL]
-Trần Ngọc Phong, Chủ Tịch Hội SV Đại Học Đalạt
-Phan Nghè, P’Chủ Tịch Hội cựu SV Võ Bị ĐL/BCA
-Phạm Đức Long, cựu SQ, cựu HS Quang Trung ĐL
-Trần Ngọc Khanh, Hội Trưởng Liên Trường THĐL

Tuesday, April 14, 2009

Câu chuyện chỉ có ở Việt Nam

Trích VietNamNet

Câu chuyện sau đây chắc chỉ có ở Việt Nam. Xã hội VN càng ngày càng tha hóa đến mức độ chúng ta không thể tưởng tượng được. Câu chuyện sau đây được trích từ VietNamNet, đọc chỉ thêm đau lòng nhưng chúng ta phải đọc.

TP.SAÌGÒN: Uống 2 thùng bia được mua dâm tại quán
21:56' 14/04/2009 (GMT+7)

– Khi khách uống hết 2 thùng bia, quản lý điều “đào” đến để bán dâm ngay tại nhà hàng. Vụ việc vừa bị Phòng CSĐT tội phạm về TTXH, Công an TP.HCM bắt quả tang chiều 14/4.

Vào 16h30’ ngày 14/4, trinh sát Đội 5, Phòng CSĐT tội phạm về TTXH (PC14), Công an TP.HCM bất ngờ kiểm tra Công ty TNHH nhà hàng Thiên Ngọc Long trên đường Nguyễn Văn Đậu, P.7, Q.Bình Thạnh.

Tại đây, cảnh sát bắt quả tang cặp nam nữ đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 7B, lầu 2 của ngôi nhà 1 trệt 3 lầu này.

Theo điều tra ban đầu, điều hành hoạt động nhà hàng này là Dương Phương Hiền (tự Tâm “đĩ”, SN 1972, ngụ Dã Tượng, P.10, Q.8, tạm trú Nguyễn Kiệm, P.3, Q.Gò Vấp) và Đặng Thị Phương Huyền (tự Diễm, SN 1972, ngụ An Dương Vương, P.16, Q.8).

Tiếp viên tại nhà hàng Thiên Ngọc Long. Ảnh: Đàm Đệ

Khách vào nhà hàng nói trên sẽ được nhân viên tiếp tân tên Đỗ Văn Toàn (SN 1981, ngụ huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình) bố trí phòng uống bia, hát karaoke.

Sau khi khách uống hết 2 thùng bia, điều hành nhà hàng gọi nữ nhân viên phục vụ đến phòng, nếu khách có nhu cầu “mua vui” thì bán dâm ngay tại nhà hàng với giá 300.000 đồng/ lần. Trong đó, gái bán dâm phải đưa cho quản lý nhà hàng 50.000 đồng và tiếp tân tên Toàn 50.000 đồng.

Chiều 14/4, có 4 vị khách tại nhà hàng Thiên Ngọc Long. Sau khi khách uống hết 2 thùng bia, Hiền bố trí cho “đào” bán dâm cho khách ngay tại nhà hàng. 3 vị khách đã “vui vẻ” với các cô gái xong, đến cặp thứ 4 thì bị trinh sát thuộc Đội 5, PC14 bắt quả tang.

Tại nhà hàng, cảnh sát còn phát hiện 12 cô gái khác, hầu hết đều là tiếp viên ăn mặc "thiếu vải", sẵn sàng đợi đến lượt bán dâm.

  • Đàm Đệ


Monday, April 13, 2009

Đòi đất hay đòi công lý

Trích báo Tổ Quốc

Thời tuổi trẻ, vào những năm 1950, tôi đã sống và học hành tại Khu Thái Hà Ấp Hà Nội. Chỗ chúng tôi học là “Dinh Hoàng Cao Khải”, cách Thái Hà chừng một cây số. Cho nên mảnh đất xứ Thái Hà đối với tôi không xa lạ gì. Mất nó, tôi cũng tiếc. Ngoài khu vực nhà thờ, với hang đá Đức Mẹ thì cạnh đó có căn nhà ba tầng làm Đại Chủng Viện cho các thầy. Chính ở nơi đây, lần đầu tiên trong đời, tôi được ăn cơm tây của các cha dòng người Gia Nã Đại.

Đằng sau nhà thờ là một khoảng đất rất rộng. Ở đây có một sân đá banh và sau sân đá banh là những ruộng rau muống. Ruộng rau muống này làm thành bữa ăn chính của chúng tôi mỗi ngày. Rau muống trưa, rau muống chiều. Được biết miếng đất rộng mấy chục ngàn mét vuông. Tôi chỉ đo bằng mắt. Tất cả đều có bằng khoán, thuộc đất của Dòng Chúa Cứu Thế và do các cha dòng Chúa Cứu Thế, người Gia Nã Đại, Canada đã bỏ tiền ra mua và xây dựng cơ sở nhà dòng từ năm 1925. Nhà dòng đầu tiên được xây dựng tại Huế cũng năm 1925, sau đó đến lượt Hà Nội. Sài Gòn thì mãi đến năm 1933 mới đặt trụ sở đầu tiên tại đường Kỳ Đồng.


Rau muống trưa, rau muống chiều.
Nguồn: anan-vietnam.com
Lúc mà Đảng Cộng sản Việt Nam chưa ra đời, lúc mà Hồ Chí Minh còn trong bóng tối thì nhà dòng và mảnh đất ấy đã có rồi. Ai có quyền đòi ai?
Mảnh đất lúc bấy giờ thật ra chỉ là đất ruộng, đồng không mông quạnh, thuộc huyện Hoàn Long tỉnh Hà Đông. Mà đối với Hà Nội thì Thái Hà Ấp là xứ nhà quê rồi.

Nhưng bây giờ đất là sinh mạng của giới cầm quyền rồi. Họ không chiếm dụng thì còn ai vào đây? Họ đã chiếm dụng đất của cả nước và tàn bạo nhất là của dân quê.

Đất có bằng khoán và giấy tờ đầy đủ mà nhà nước biết rõ. Nói cho rõ ra thì từ trước đến giờ, nhà nước cộng sản đã tịch thu tổng cộng 2250 cơ sở thuộc tài sản của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo.
Nếu đòi thì đòi bao nhiêu cho đủ và đòi đến bao giờ? Mỗi xứ, mỗi địa phận, mỗi dòng tu đều bị nhà nước tịch thu vô tội vạ.

Theo thống kê năm 1969, Giáo hội Thiên Chúa giáo miền Nam có 226 trường trung học, 1030 trường tiểu học. Ngoài ra còn có 58 cô nhi viện, 48 bệnh viện, 35 viện dưỡng lão, 8 trại Phong cùi và 159 phòng phát thuốc. (Trích trong niên giám công giáo Việt Nam 2004, nxb tôn giáo Hà Nội.)

Nay thì mất hết. Đòi ai bây giờ?

Giáo Hội Công giáo cũng nhìn thấy cái thực tế phũ phàng ấy và phân ra nhiều loại tài sản mà xét ra cái nào nhà nước nên trả và cái nào cho không.

Mà không cho cũng không được. Nói cho cho nó vui vẻ cả làng.

Chẳng hạn những cơ sở nhà thương, chẩn y viện, những cơ quan xã hội, những trường học nói chung nếu dùng để phục vụ công ích xã hội cho người dân thì cũng đành để nhà nước quản lý.

Nhưng có những nơi, những cơ sở thay vì phục vụ công ích xã hội, thay vì phục vụ người nghèo biến những “mảnh đất béo bở” hoặc cơ sở ấy phát tán, bán đất kinh doanh kiếm lời bạc tỉ tỉ thì phải tính sao đây? Có nên đòi không?

Nhiều trường hợp rắc rối lắm. Cơ man nào rắc rối. Rắc rối không nói hết được.

Một giám mục nói với tôi là năm 1975, giao trường tư thực cho họ, nay họ thu học phí, biến ra một thứ trường bán công hay trường tư trá hình kiếm lời thì phải nghĩ sao đây? Hay lại cứ phải bằng lòng với lương tâm tự nhủ mình là cái đất nước mình nó như thế? Như thế là như thế nào?

Nhưng nếu vươn tầm nhìn ra khỏi khung cảnh của một giáo hội thì đất đai tài sản giáo hội Thiên Chúa giáo cũng chỉ là trong muôn một.Tài sản của Giáo Hội Phật giáo VNTN, của Cao Đài, Hòa Hảo, của Tin Lành cũng bị chiếm đoạt như vậy. Đất ruộng của nông dân bị chiếm đoạt bán rẻ.

Đã đòi thì cùng đứng lên mà đòi... Đòi cho người cũng là một cách thức đòi cho mình... Và tôi nhận thấy trong cuộc biểu tình đòi công lý sáng 27/03/2009, ở ngay hàng đầu, nếu tôi nhìn không nhầm, có một bà mặc áo nâu sồng, đội mũ ni, tay cầm nón... Tôi mong đó là một vị sư nữ?

Nhiều người chắc là không hiểu rõ nội vụ đòi đất này. Theo những điều tôi biết được thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cố tình đánh lừa, “hứa cuội” hàng giáo phẩm Hà Nội, để mua thời gian và phủi tay. Hoặc rất có thể vì quyền lợi mà những người dưới quyền cố tình phe lờ lời hứa của NTD.

Cho nên, sau này, có đại diện Hà Nội vào Sài Gòn thương lượng với bề trên dòng Chúa Cứu Thế thì hàng giáo phẩm Hà Nội phải điện vào căn dặn: Cẩn thận xem xét, đừng dễ tin họ, họ lừa đảo đấy. Chẳng tin họ được cái gì.

Thật ra, chẳng cần phải căn đặn thì người dân ai ai bây giờ cũng không tin được chính quyền nữa. Có thể đã có điều gì chính quyền họ nói thật chưa? Tôi ngẫm nghĩ mãi cũng chưa tìm ra được điều gì họ nói thật với dân cả.

Thật vậy, trong khi dân chúng sôi sục vụ Thái Hà, một ông tướng công an Hà Nội vào Sài Gòn gặp linh mục Phạm Trung Thành, bề trên Giám tỉnh dòng Chúa Cứu Thế. Linh mục yêu cầu điều kiện tiên quyết là chính quyền Hà Nội chấm dứt chiến dịch bôi nhọ mỗi ngày qua đài phát thanh, truyền hình và báo chí. Hứa ngay. Nhưng ngoài kia tiếp tục chiến dịch bôi nhọ.

Tin làm sao được họ. Không thể chấp nhận một chính quyền lừa dối dân được.

Bằng chứng là họ phịa ra giấy tờ sang nhượng của dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội cho chính quyền trong đó có chữ ký của linh mục Vũ Ngọc Bích, quản nhiệm xứ Thái Hà Ấp ký năm 1962. Nay thì lộ ra rằng cái corps chữ là chữ của máy computer bây giờ. Năm 1962, chắc ngoài Bắc chưa có computer chứ? Và họ cũng không ngờ rằng trước khi chết, linh mục Vũ Ngọc Bích có thu băng để lại là chưa hề ký bao giờ.

Về mặt pháp lý, linh mục Vũ Ngọc Bích chỉ được chỉ định là quản nhiệm trông coi xứ Thái Hà, linh mục có tư cách gì để hiến nhà đất cho nhà nước? Và cho dù có giấy tờ, có ký thì giấy ký đó cũng không có giá trị pháp lý. Vì còn có thể đặt vấn đề ký dưới áp lực của đe dọa hay của họng súng không?
Cho nên đàng nào giấy tờ đó cũng thuộc loại giấy tờ không có giá trị pháp lý.


Lm. Giuse Vũ Ngọc Bích
Nguồn: danchuausa.net
Phần chính quyền dựa vào nghị quyết ký 01/07/1991 cho rằng tất cả những nhà cửa, tài sản giáo hội tịch thu trước 01/07/1991 thì không giải quyết bất cứ sự khiếu nại về nhà đất đã quản lý. Và không có vấn đề giao trả lại tài sản cho Giáo Hội.

Đây là lối dủng luật pháp để trấn áp và ăn cướp một cách hợp pháp quyền lợi sở hữu của người dân. Nói dễ lắm: will not given back to its owners.

Cho nên một lúc nào đó như ông Nguyễn Hộ gọi là “tức nước vỡ bờ”thì truyện phải nổ ra thôi.

Trong thời gian từ lúc khởi đầu việc đòi đất cho đến nay, tôi nhận ra có rất nhiều điểm tích cực cần được nói ra đây.

‒ Thứ nhất: Đây là lần đầu tiên từ khi đảng cộng sản lên nắm quyền (trừ vụ nổi dậy ở Quỳnh Lưu có tính cách bạo động chính trị), người dân đông đảo đi biểu tình để bày tò ý kiến của mình. Còn nhớ, khi cộng sản mới chiếm Miền Nam, có một số giáo dân đi biểu tình yêu cầu không trục xuất khâm sứ tòa thánh. Cộng sản đã nã súng vào đám biểu tình làm chết và bị thương một số người.

Nhưng nay thì khác. Trong cuộc biểu tình ủng hộ 8 giáo dân ra tòa. Từ 6 giờ sáng, con số cả 5 ngàn người đã đi bộ 12 cây số từ nhà thờ đển tòa án mà không xảy ra cảnh bạo động bị đánh đập hay bắt giữ của 1000 công an, cảnh sát. Ông linh mục cầm loa kêu gọi đồng bào đứng ngay trước mặt một đám công an, cảnh sát? Phải suy nghĩ sâu để thấy điều này là một biến đổi não trạng quan trọng cả người đi biểu tình và nhân viên công lực chống biểu tình.

Thứ hai: Tinh thần dân chúng rất cao. Không ai tức giận, điên cuồng chửi bới hoặc mặt mũi đằng đằng sát khí... Họ vừa đi vừa cười, vừa nói, vừa hát sướng vui vẻ. Khuôn mặt người nào coi bộ cũng tươi vui hớn hở, hăng hái. Công an làm phận sự cũng tỏ ra chia xẻ, thông cảm và không có những hành vi manh động hay đánh đập người đi biểu tình. Có những đám dân chúng ngồi quây tròn ca hát, chờ đợi phiên xử như một buổi đi Picnic vậy. Phải chăng đó là không khí dân chủ bắt đầu ló diện?

Thứ ba: Thành phần dân chúng có đủ loại người, nhất là giới trẻ và phụ nữ chiếm đa số. Đối với dân Hà Nội, họ là những người từng sống và kinh nghiệm với người cộng sản cả 50 năm nay. Theo nguyên tắc, họ là những người từng chia xẻ cam khổ cuộc chiến tranh vừa qua nên không có ân oán gì như thành phần dân chúng miền Nam. Con cháu họ, chồng con họ, anh em họ có những người đang làm việc, đang giữ những chức vụ trong chính quyền cộng sản. Vì cớ gì nay họ đứng lên biểu tình chống lại nhà nước cộng sản?

Đối với giới trẻ Hà Nội, Họ lớn lên dưới chế độ cộng sản, họ được giáo dục trong trường học xã hội chủ nghĩa, họ bị nhồi sọ cũng nhiều, vì cớ gì họ tham gia biểu tình? Điều này báo hiệu một khung cảnh sinh hoạt chính trị mà giới trẻ sẽ chủ động sau này?

Thứ tư: Luật sư trẻ tuổi Lê Trần Luật, một người trẻ tuổi được đào luyện đúc khuôn trong trường học XHCN. Tại sao ông dám đứng ra bênh vực cho những bị can mà ông biết chắc chắn là sẽ bị muôn vàn khó khăn, đe dọa? Đi đến đâu, ông cũng được đông bào hoan hô nhiệt liệt. Tôi nghe được những tiếng hét to: Tôi yêu luật sư, Phiên tòa bất công... Đã có bao nhiêu vị “lãnh tụ” cộng sản đã được đông đảo quần chúng hoan hô, nhiệt liệt, kính mến và nể phục như thế?

Rõ ràng đông đảo quần chúng đứng về phía đám đông. Phần còn lại chường mặt ra là công an, cảnh sát quan tòa. Những người khác nấp trong bóng tối không dám ló mặt ra.

Rõ ràng đây là một cuộc bỏ phiếu dân chủ. Chính quyền cộng sản không được lòng dân.

Có lúc, tôi thoáng nhìn vị luật sư trẻ tuổi vội lén lau nước mắt vì xúc động trước đám đông nhiệt tình hoan hô ông. Phải chăng, đây là lúc cần đến vai trò của những người trẻ tuổi dám cất lên tiếng nói cho công lý và lẽ phải?

Tất cả những phản ứng trên không còn là phản ứng của hội chứng sau 1975 nữa. Phải nhìn nhận đây là những phản ứng mới lạ, không phải thứ phản ứng quen thuộc của những người lớn tuổi chống cộng vốn có dĩ vãng thù hận với chế độ cộng sản. Đó là những phản ứng xuất phát từ những con người đã sống trong lòng chế độ, được đào tạo từ lúc còn trẻ đến nay trưởng thành.

Người cộng sản không thể coi thường điều này. Ngay một số lớn linh mục trong đám ấy cũng thuộc thành phần trẻ và tỏ ra hăng hái nhất và cũng được giáo dân quý mến nhất. Không ai xúi họ đi biểu tình, không ai đứng đằng sau họ.

Điều gì đã giúp người ta có thể quy tụ một đám đông người như thế chỉ vì để đòi một miếng đất. Một miếng đất chứ đến 10 miếng đất có đáng để người ta bỏ thì gìờ, không ngại nguy hiểm, xuống đường, đeo băng, cầm biểu ngữ hay cành lá, đi đứng hiên ngang, miệng hô to khẩu hiệu? Đây phải chăng là dấu hiệu của sức mạnh quần chúng? Cộng sản vốn tài giỏi trong vấn đề vận động quần chúng đi biểu tình, đã dùng đủ mọi phương tiện truyền thông để tố cáo, bôi bẩn mà cũng không ngăn cản được đám đông biểu tình?
Không phải chỉ có Hà Nội mà ngay chiều hôm trước khi đám dân Thái Hà đi ủng hộ 8 người ra tòa, Sài Gòn cũng tụ tập đám đông khoảng 5 ngàn người tại nhà thờ đường Kỳ Đồng.
Bao giờ thì cả nước đứng dậy?

Thứ năm: Một điều tôi nhận thấy là người dân đã không còn biết sợ. Một người bạn tôi ở trong nước đã nhận xét như thế.

Tôi cho đó là nhận xét chính xác và quan trọng nhất trong các cuộc biểu tình này. Anh nhớ lại là trước đây dân chúng rất sợ chính quyền. Bản thân anh thỉnh thoảng bị gọi lên làm việc. Anh nói trước đây họ có thói quen gọi lên làm việc. Nay thì chỉ mời ra quán làm vài chai la de. Anh trả lời họ là họ biết quá rõ về anh có gì cần phải hỏi nữa. Họ dùng cách răn de, hù dọa. Này, anh còn có hai đứa con đang đi du học đấy. Người khác thì mang vợ con họ ra hù dọa. Trước đây Dương Ngọc Dũng, giáo sư dạy Phật giáo đánh tơi bời lần lượt tất cả các ông trong nhóm Giao Điểm như Trần Chung Ngọc v.v... ở Hải ngoại. Ông nhà nước nhắn Dương Ngọc Dũng: Này, thôi nhé, đủ rồi đấy. Thế là Đương Ngọc Dũng im. Một anh bạn khác cũng được mời ra quán. Anh nhẹ nhàng từ chối rồi cũng nói lén, “La de của các anh nhạt bỏ mẹ đi.”
Còn nói lén là còn sợ.

Một anh bạn khác rất hớ hênh cứ nói chuyện qua điện thoại những điều không tiện nói. Họ theo dõi biết hết. Lúc găp Nguyễn Ngọc Lan bị xỉ vả một hồi vì hớ hênh. Bên đó, sống là phải biết giữ mình. Đi đâu cũng phải cẩn thận vì có công an theo dõi. Lần tôi về, muốn gặp anh này, phải nhắn qua nhà cháu anh, sau đó cháu anh sang hẹn dùm. Ngay ông Nguyễn Hộ, không phải khách lúc nào cũng đến thăm ông được. Ông có “thằng cháu ngoại” giữ cổng không cho vô. Ông Nguyễn Hộ có con cho nó mở một cửa hàng bán quần áo trước nhà, khách đến ông lấy cớ mua quần áo cũng tiện.

Nay đã có một sự thay đổi rõ ràng trong thái độ của người dân đối với chính quyền cộng sản qua vụ biểu tình của đám dân Thái Hà: Không tin họ và đồng thời bớt sợ họ. Cùng lắm trước sợ nhiều nay sợ ít. Mừng mà cũng lo.

Thứ sáu: Ngay những người cộng sản cũng mongchế độ này nó mau sụp đổ.

Tôi được biết trong vụ Thái Hà, một anh theo MTGPMN, sau xé thẻ đảng nói nhỏ, “Tôi mong các ông công giáo làm tiếp cho nó sụp luôn. Bây giờ chẳng có ai làm được. Trừ các ông.”

Tôi không đồng tình với nhận xét đó. Việc đòi đất của đám dân Thái Hà chỉ mong người Việt Hải Ngoại đừng chỉ hiểu hạn hẹp là chuyện đòi đất. Người Việt tỵ nạn nào mà không có nhà lớn nhả nhỏ bị cộng sản chiếm dụng.

Mất một cái nhà, mất một miếng đất là chuyện nhỏ.

Linh mục Vũ Khởi Phụng trước tiên và trước hết đòi hỏi công lý và tự do tôn giáo
Đó là hai mục tiêu rõ rệt và dừng lại ở đó. Mấy chục ngàn thước đất nhằm nhò gì. Năm 1999, linh mục Vũ Khải Phụng phát biểu trong một Hội nghị chuyên đề ở Haus der Kulturen der Welt, Berlin có nói:


Lm. Vũ Khởi Phụng
Nguồn: danchuausa.net

“Vả lại cũng có khi Giáo Hội mất người... Và bây giờ trong nền kinh tế thị trường mở cửa, não trạng tiêu thụ du nhập, nhịp sống hối hả, đức tin có thể suy yếu... Không thể có thống kê chính xác về số tổn thất này, vì không mấy ai khai báo việc mình bỏ đạo.”

Đó là cái lo mất còn của một giáo hội. Cho nên việc đòi đất là việc phải làm, việc cụ thể. Nhưng phải nâng nó lên một tầm cao, qua nó đòi hỏi công chính, lẽ phải và quyền tự do tín ngưỡng. Cùng lắm dùng cái này để đòi hỏi cái kia.
Phần hy vọng của một cựu cán bộ cộng sản muốn mượn tay người công giáo làm một việc mà chính bổn phận các ông phải làm. Chúng tôi không làm, chúng tôi chỉ muốn đòi hỏi tự do tôn giáo và sự công chính cho mọi người. Chính các ông là người đã xây dựng nên nó thì cũng chính các ông là người có thể bỏ nó xuống. Và việc ấy đã xảy ra cho 8 nước ở Đông Âu và cả ở Nga...

Hình ảnh SàiGòn ngập nước sau cơn mưa

Trích VnExpress

Thành phố SàiGòn hiện nay chỉ sau một trận mưa nhỏ là nước ngập đường phố, thậm chí vào cả nhà dân. Cộng Sản Việt Nam lập nhiều khu đô thị mới nhưng hệ thống cống rãnh lại có quá nhiều thiếu sót. Chúng ta xem một bài viết và hình ảnh từ báo VnExpress về vấn nạn này.

Sài Gòn rối loạn vì nước ngập sau mưa

Cơn mưa to rạng sáng đầu tuần biến nhiều tuyến đường TP HCM thành sông... Kẹt xe, tắc đường diễn ra khắp nơi khiến người dân phải tát nước khỏi nhà hay chạy tán loạn tìm lối đi cho kịp giờ làm.
> Mưa chuyển mùa gây ngập, tắc nhiều tuyến đường TP HCM

Clip người Sài Gòn chạy tán loạn tránh ngập nước
Đường Trần Hưng Đạo nối quận 1 với quận 5 biến thành sông sau cơn mưa.
Nước ngập sâu hơn nửa bánh xe làm giao thông tê liệt một bên con đường huyết mạch hiếm khi ngập nước này.
Đường Hùng Vương cũng tương tự, kẹt xe cục bộ lập tức diễn ra.
Người xắn quần lội nước, người cố đẩy xe thoát thân. Quang cảnh ngập chưa từng có từ đầu năm đến nay khiến mọi người bất ngờ.
Trên đường Châu Văn Liêm quận 5, ngập nước, kẹt xe, nhiều người phải gọi điện thoại thông báo đến cơ quan trễ.
Ngay giữa trung tâm thành phố, nhiều gia đình phải lấy bạt ra chặn nước mưa tràn vào nhà.
Hoặc thi nhau quét nước ra khỏi nhà.
Ngập nước, xe chết máy, muốn đi tiếp không còn cách nào khác là phải đẩy bộ hoặc lau bugi.

Nhóm phóng viên

Mời chia sẻ ảnh ngập nước do cơn mưa sáng nay.

Sunday, April 12, 2009

Một chút lòng

Tặng Em yêu

Trên dốc mù sương nụ hoa đào chớm nở
Anh ngại ngần với tay hái tặng em
Hoa đơn sơ như tấm lòng anh đó
Vẫn ngọt ngào ấp ủ chút tình quê

PHP
04/11/09




Saturday, April 11, 2009

Kiên Giang: dự án lấn biển hay lấn đất của dân

Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam tại tỉnh Kiên Giang thời gian gần đây cho tiến hành kế hoạch lấn biển để mở rộng diện tích. Đây là công trình xây dựng mang tính cách "đầu voi, đuôi chuột". Nhũng người cán bộ làm công việc "lấn biển" này tiện tay lấn luôn đất của dân. Chúng dùng kế hoạch cưỡng bức người dân phải di chuyển đi chỗ khác để sinh sống và nhường đất cho chúng. Tiếng kêu oan vang ngập cả đất trời! Thật không còn gì để mà nói với lũ cướp này nữa!

Friday, April 10, 2009

Tây xạo hay ta điếm

Trích Blog Công lý và sự thật. Blogger Tạ Phong Tần, VN

TÂY "XẠO' HAY TA "ĐIẾM"?

.

Tin ông John McCain - cựu ứng cử viên Tổng thống Mỹ, Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa bang Arizona, thành viên cao cấp nhất của đảng Cộng hòa tại Ủy ban Quốc phòng thuộc Thượng viện Mỹ - sẽ đến Việt Nam trong khuôn khổ chuyến thăm các nước châu Á, được các hãng truyền thông, báo chí trong và ngoài nước loan tin rộng rãi trước ngày ông dừng chân ở Hà Nội cả tuần. Tuy nhiên, nội dung cuộc viếng thăm và làm việc như thế nào thì các phương tiện truyền thông chưa đề cập.

Ngày 06/4/2009, ông John McCain đã chính thức có mặt tại Hà Nội. Thượng nghị sĩ John McCain đã có các cuộc tiếp xúc với các quan chức Quốc hội, Chính phủ, một số đối tác thuộc các bộ, ngành Việt Nam để thảo luận quan hệ song phương Mỹ - Việt. Ông cũng có buổi nói chuyện tại Học viện Ngoại giao Hà Nội. Việc này dĩ nhiên cũng được báo chí, truyền thông trong và ngoài nước đưa tin rầm rộ giống nhau.

Sau khi ông John McCain rời Hà Nội thì bản tin của báo chí, truyền thông trong và ngoài nước đưa tin lại có sự khác nhau.

Trong khi báo chí trong nước đều đồng loạt nói phía Chính phủ Việt Nam đề nghị thế này, đề nghị thế kia với Ngài Thượng nghị sĩ Mỹ rất chi tiết, rất nhiều, còn Ngài Thượng nghị sĩ Mỹ đề nghị lại như thế nào với Chính phủ Việt Nam thì không thấy nhắc đến cụ thể, chỉ túm gọn trong một câu là "Cần có bước đi mới trong quan hệ Việt - Mỹ".

Ví dụ: Thông tấn xã Việt Nam viết (và nhiều báo khác trong nước đăng lại nguyên văn):

"Chiều 7.4, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp Thượng nghị sĩ (TNS) John McCain cùng các thành viên trong đoàn. Thủ tướng hoan nghênh chuyến thăm Việt Nam của TNS John McCain, và đề nghị ngài John McCain ủng hộ Việt Nam hưởng Quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) nhằm tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai nước Việt Nam - Mỹ, thúc đẩy sự hợp tác về giáo dục - đào tạo, giúp Việt Nam đối phó trước những biến đổi của khí hậu, phòng chống tội phạm, khắc phục hậu quả chiến tranh, phòng chống HIV/AIDS... Thủ tướng tin tưởng chuyến thăm của TNS John McCain sẽ góp phần tăng cường sự hiểu biết và mối quan hệ đang phát triển tích cực trên nhiều lĩnh vực giữa hai nước. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trao đổi với TNS John McCain và các thành viên trong đoàn về một số vấn đề hai bên cùng quan tâm.

Cùng ngày, Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng đã có cuộc tiếp TNS John McCain. Chủ tịch đánh giá cao sự đóng góp của TNS trong việc bình thường hóa và thúc đẩy quan hệ Việt - Mỹâ; tin tưởng chuyến thăm sẽ góp phần tăng cường sự hiểu biết và mối quan hệ đang phát triển tích cực trên nhiều lĩnh vực giữa hai nước, trong đó có hai QH".


Trái lại, BBC của Anh thì nói:
Ông thượng nghị sỹ tuyên bố Việt Nam đã chứng tỏ được vị thế kinh tế và ngoại giao của mình, nay tới lúc khẳng định vai trò về xã hội và chính trị. Để làm việc đó, theo ông, Việt Nam cần tự do hóa chính trị, như "thúc đẩy quyền tự do xã hội, cho phép tự do ngôn luận rộng rãi hơn, trả tự do cho tất cả các cá nhân bị cầm tù vì thể hiện chính kiến của mình một cách hoà bình, cải thiện nhân quyền, và mở rộng phạm vi hoạt động chính trị". "Bằng những bước tự do hóa chính trị mạnh mẽ hơn... Việt Nam có thể trở thành một mô hình để các nước khác noi theo."

RFI của Pháp lại bảo:

"Nhưng ông McCain nói rằng Việt Nam nên mở rộng những thành quả về kinh tế và ngoại giao, bằng những thay đổi mang "tầm mức lịch sử" về mặt tự do chính trị, tức là bảo đảm quyền tự do ngôn luận rộng rãi hơn, mở rộng khuôn khổ sinh hoạt chính trị, trả tự do cho những người bị giam cầm vì đã bày tỏ quan điểm một cách ôn hòa và cải thiện tình trạng nhân quyền nói chung".

Tuy cách diễn đạt khác nhau, nhưng bản tin của BBC và RFI nhìn chung ý tứ là giống nhau.

Tôi không được đọc bản tiếng Anh trên website riêng của ông McCain cũng chẳng trực tiếp nghe được ông McCain nói với Chính phủ Việt Nam như thế nào. Nhưng cái kiểu "ông nói gà, bà nói vịt" như thế, vậy thì báo Tây "xạo" hay báo Ta "diếm" vậy ha?

Tạ Phong Tần
.
.