Translate

Saturday, March 7, 2009

Tạp ghi: Thương quá em bé Việt Nam

Trích Việt Báo Online
Tác giả: Huy Phương

Tuần trước mày mò trên net, tôi có đọc được một bài kể chuyện mắt thấy tai nghe của một “Việt kiều” về thăm quê, ký tên Phương Tòan. Bài này chỉ là những ghi nhận tình cờ nho nhỏ trong những ngày ở Việt Nam, nhưng đọc lên thấy xót xa biết là chừng nào. Tôi cũng xin thưa tôi rất ghét hai tiếng “Việt Kiều” lâu nay dùng không đúng chỗ. Người Việt dùng chữ Ấn Kiều để nói đến người Ấn Độ, hay Pháp Kiều để nói người Pháp sinh sống trên đất Việt, còn chúng ta là người Việt ở quốc ngoại, sao người trong nước gọi chúng ta là Việt Kiều? Nhưng thôi, nói chuyện chữ nghĩa thì không bao giờ cạn!
Tôi xin để nguyên tiểu đề “Thương Quá Em Bé Việt Nam” của tác giả:
“Ăn sáng ở lề đường Phan Thanh Giản, một em bé chừng mười hai mười ba tuổi cứ quẩn quanh mời tôi mua vé số, gương mặt và ánh mắt trông rất tội nghiệp. Tôi từ chối vài lần vì biết nếu mình mua của em này, thì vô khối người khác sẽ đổ xô vào mời mua thì rất kẹt, nhưng khi nhìn đến ánh mắt van lơn của em, lòng thương người rất hiếm hoi của tôi nổi dậy, tôi muốn mua giúp em để hôm nay em có thể về sớm một bữa. Tôi hỏi:
- Bình thường em bán đến mấy giờ thì hết xấp vé số này?
- Dạ thường thì ít khi hết lắm, nhưng nếu còn dư thì em phải đem về trả cho đại lý trước 3g chiều, nghĩa là trước khi sổ số.
Em nói từ sáng tới giờ mới bán được có 3 tấm, còn lại 97 tấm. Tôi kêu em đếm lại coi còn bao nhiêu tấm tôi mua hết cho, để hôm nay có thể về nhà nghỉ. Trong lúc tôi ăn thì em ngồi đếm từng tờ và nói còn đúng 97 tấm, giá 5 ngàn 1 tấm, vị chi là 485 ngàn. Tôi móc 500 ngàn ra đưa luôn, nói khỏi thối. Thằng bé sung sướng nói cám ơn rồi lách vào dòng người xuôi ngược trên phố đông nghẹt những xe và người. Đúng là: Sáng nay tươi hồng, trời không có mây... tôi tiếp tục bữa ăn sáng tuyệt vời.
Ở Mỹ mỗi lần mua vé số dĩ nhiên tôi mong mình trúng, mà trúng là trúng lớn để tôi có thể điềm nhiên lật ngửa cái xe cà tàng của tôi lên mà đốt, tuy nó có vẻ hơi bạc bẽo, nhưng để giã từ cái sự không sung sướng của kiếp nghèo, nếu không trúng đi nữa thì âu cũng là mua một niềm vui trong chốc lát, vì đời chỉ vui khi có hy vọng. Đọc bài essay của một sinh viên nói về mua vé số, tôi thấy cũng có lý, vé số giúp cho mọi người trúng. Này nhé: Nhà nước hưởng 40%, người bán lẻ và giới quảng cáo 20%, người trúng hưởng 40%... và ngay cả chúng ta cũng trúng luôn vì ta chỉ bỏ ra có mấy đồng, mà mua được niềm hy vọng, rẻ quá đi ấy chứ..
Hoan hô những người mua số như tôi là những người thông minh. Lần này mua số ở Việt Nam, tôi lại thêm được cái lợi nữa là làm cho một em bé dễ thương vui được một ngày. Ông Trương Quang Nhơn viết bài kể chuyện ông bị thằng đánh giầy lấy đinh đục cho thủng giầy rồi đòi tiền vá. Tôi nghi ông này vẫn còn thù Cộng Sản nên đặt chuyện viết "linh tinh".
Buổi chiều về nhà, tôi móc xấp vé số ra cho các cháu, tụi nó đang ồn ào chia chác thì có đứa hỏi:
- Bác mua bao nhiêu tấm?
- Thằng nhỏ biểu là 97 tấm.
- Bác có đếm không?
- Đếm làm gì?
- Thế thì bác bị nó lừa rồi, chỉ có 75 tờ thôi bác ạ.
Tôi suy nghĩ và tội nghiệp cho thiếu niên VN bị thất học, ngần ấy tuổi rồi mà đếm có mấy chục tấm vé số hãy còn sai.
Bọn nhóc trong nhà vừa cười vừa la:
- Ê, bác Việt Kiều bị thằng bán vé số nó lừa!
Tôi phân vân: Không lẽ thằng nhỏ đó nó nỡ lừa tôi, mà sao nó nghĩ cái kế lừa tôi mau như vậy được. Có lẽ nó đã lừa nhiều quả như vậy rồi.” (hết trích)
Đêm qua, tôi thức giấc vào khoảng ba giờ sáng, chợt nhớ đến câu chuyện này, tôi cảm thấy khó ngủ trở lại. “Thiếu niên Việt nam bị thất học, ngần ấy tuổi rồi mà đếm có mấy chục tấm vé số hãy còn sai!”Câu nói này nghe ra mỉa mai, vì ai mà không biết trẻ con Việt Nam như những em bé này, mới nứt mắt đã bị tống ra chợ đời, sớm học thói giả dối, lưu manh, lường gạt kể cả với một ân nhân đã hết lòng, giúp đỡ vì thương xót đến hoàn cảnh mình. Ba mươi hai năm rồi, những đứa trẻ lớn lên trong cái gọi là "thiên đường xã hội chủ nghĩa", mình sống vì mọi người, lại là những con người như thế ư?
Chúng ta hy vọng gì ở thói quen trong một xã hội như Việt Nam ngày nay, những đứa trẻ này lớn lên sẽ là những cấp lãnh đạo như Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Anh, Phan Văn Khải..., những tên chức quyền như Nguyễn Việt Tiến, Bùi Tiến Dũng, Huỳnh Ngọc Sĩ... Chúng ta sẽ có những Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, những Tổng Giám Đốc Việt Nam Airlines, những phi công, những tiếp viên hàng không, những đứa ăn cắp cho đất nước mang nhục. Căn bản hơn, chúng ta sẽ có những tên “hải quan” lì mặt làm khó dễ để chúng ta phải xì tiền, những tài xế taxi lừa khách, nhưng tên lưu manh đóng vai hướng dẫn viên du khách, những nhân viên khách sạn tống tiền nhan nhản có mặt hôm nay, đến nỗi du khách đến Việt Nam đã tuyên bố: “Không tin bất cứ cái gì ở Việt Nam.”
Mới đây thôi, trong tháng 2-2009, Craig Heimburger một du khách đã viết trong một trang du lịch 13 lý do vì sao người này “ghét” Việt Nam (13 reasons to hate Vietnam). Tội nghiệp cho đất nước tôi biết bao, không phải họ ghét vì mình nghèo, vì đất nước mình xấu xí mà ghét vì con người Việt bây giờ lưu manh, gian dối, lừa gạt, bất nhân. Ở đất nước nào cũng vậy, nhân vật mà người du khách gặp đầu tiên khi đặt chân đến là nhân viên thuế quan ở phi trường hay bến cảng, sau đó là người lái taxi đón họ. Đó là khuôn mặt đại diện của một đất nước, gây ấn tượng đầu tiên cho một du khách. Ai đi Việt Nam cũng đều đã gặp những tên “hải quan” lầm lì, phách lối. Người lái taxi Việt Nam đón ông Heimburger ở phi trường đến một hotel ông đã định trước, đã nói dối là chỗ đó đã hết phòng để đẩy ông ta sang một khách sạn khác (đã ăn chia). Một tài xế taxi khác ngã giá với 250,000 đồng một cuốc xe cho một đôi vợ chồng già du khách, nhưng đến nơi nằng nặc đòi 450,000 và không cho người ta xuống xe. Những chuyện như thế, ai đã đi Việt Nam đâu còn gì lạ lùng. Đây là một loại người vô lại, tráo trở, bọn cướp giật giữa ban ngày, là người đại diện cho Việt Nam trước mắt du khách khi du khách nói rằng: “Tôi ghét sự gian dối ở Việt Nam – (I Hate Vietnam's Lies). Tôi thật mệt mỏi bởi bị lừa lọc. Nó giống như trở thành một thói quen lừa lọc của người dân xứ này”.
Làm sao làm lại từ đầu với những tâm hồn trong trắng, chơn chất thật thà và đôn hậu khi mà văn chương bình dân đã mô tả xã hội Việt Nam “thẳng thắn, thật thà thường thua thiệt, luồn lách lươn lẹo lại lên lương”. “Thương quá em bé Việt Nam” là thương cả một tương lai trước mặt. Rồi ra đất nước này sẽ ra sao?
Tôi thường không cho phép mình dùng trong mỗi bài tạp ghi trên 30% tư liệu. nhưng ở đây tư liệu đã tự nó nói lên mọi việc rồi, đâu còn chỗ nào nữa mà bàn bạc, bình luận hay chia xẻ nỗi buồn hay xót xa với bạn đọc.

HUY PHƯƠNG


































Một tổ chức chính trị và những điều chưa được kể

Trích Blog 8406

Tác giả: Lê Nguyên Hồng

Rất nhiều những thống kê của các tổ chức quan sát về nhân quyền của quốc tế ở trên thế giới, đã xếp Việt Nam hiện nay vào hàng những quốc gia có thành tích “đội sổ” về nhân quyền. Hơn 63 năm qua, thực trạng về nhân quyền, dân chủ tại Vệt Nam đã bị bó hẹp và giam cầm trong một chiếc cũi khổng lồ vô hình, đó là khái niệm “dân chủ tập trung” hoặc còn có thể nói là “tập trung dân chủ”. Khái niệm này đã hợp lý hóa cho việc tập trung quyền kiểm soát dân chủ vào trong bàn tay của cái gọi là “nền chuyên chính vô sản”. Cụ thể đó chính là một nền dân chủ trá hình, được khống chế bởi một luận điệu đi kèm đó là “dân chủ có pháp chế” của nhà cầm quyền CSVN. Trên thực tế ở Việt Namtrong hơn 63 năm qua không hề có dân chủ, nhân quyền riêng biệt cho mỗi công dân. Suy rộng ra, và thực chất đó là dân chủ và nhân quyền đích thực đã bị triệt tiêu trên toàn bộ đời sống xã hội của người dân Việt Nam.
“Tức nước vỡ bờ”, đó là câu thành ngữ mà người đời quen dùng để chỉ một quy luật tất yếu của cuộc sống! Nước đã tức thì bờ tất nhiên phải vỡ. Nhưng nó sẽ vỡ vào lúc nào? Bờ sẽ chỉ vỡ khi thân bờ đã quá cũ kỹ và mục nát, khi nước đã đủ lớn để tràn qua thân bờ và tạo thành dòng xoáy bào mòn nơi trũng và yếu nhất của thân bờ. Và từ đó, một dòng nước hay nói đúng hơn là một con đường cho dòng nước chảy, cứ tiếp tục chảy và tiếp tục bào mòn. Nó sẽ cuốn phăng đi mọi thứ trên thân bờ, giải tỏa cho dòng nước trở về với lẽ tự nhiên là “nước phải chảy đến chỗ trũng” hoặc “trăm sông đều phải đổ về biển lớn” vậy!
Trong giai đoạn từ năm 1945 đến nay, rất nhiều những nhân sỹ trí thức và cả những nông dân bình thường trên đất nước Việt Nam đã nhận ra “cái bờ” đã chắn ngang dòng chảy tự do của cuộc đời mình nên đã tìm cách “tự chảy”. Nhưng họ chưa gặp thời, chưa có cơ hội và đặc biệt là chưa có sức mạnh đầy tràn của “dòng nước nhân dân” vốn khi đã đủ mạnh thì luôn mang trong mình một sức mạnh hủy diệt! Ngày hôm nay cái “bờ ao Cộng Sản” này đã thực sự mục nát bởi sự tự gặm nhấm của biết bao sâu mọt, ếch nhái côn trùng… Và “dòng nước nhân dân” thì đã quá đầy tràn, nhưng phải tìm cho ra xuất phát điểm, tức là nơi để cho “những phân tử nước” đầu tiên sẽ dẫn đầu cho dòng chảy có định hướng bắt đầu chuyển động.
Nhận thức được những điều trên, và đang nung nấu trong lòng những ước vọng, khát khao đấu tranh. Một nhóm các nhân sỹ trí thức tại Hà Nội, Huế và Sài Gòn đã gặp nhau trên một tư tưởng lớn, và họ đã dễ dàng tìm gặp, kết nối với nhau. Bởi họ đều cùng có chung một mục đích là làm sao để thay đổi cuộc đời mình, cuộc đời của Dân Tộc Mình, thoát khỏi sự giam cầm tù túng trong “cái ao làng Cộng Sản”, làm sao để đưa dòng chảy của Nhân Dân Việt Nam trên Đất Nước Việt Nam thoát ra sông dài, rồi biển rộng, hòa chung với biển lớn văn minh tự do dân chủ của loài người. Những con người đó sau khi tìm gặp nhau trên mạng Internet và gặp gỡ trao đổi trực tiếp bằng điện thoại, đã bắt đầu nhóm họp lại. Lúc đầu tại Thành Phố Sàì Gòn, có Nhà Nghiên Cứu Hán Nôm trần Khuê, Kỹ sư Đỗ Nam Hải, GS Nguyễn Chính Kết, và sau này có thêm một số người nữa… Đã thường xuyên gặp gỡ và trao đổi với nhau về vấn đề đấu tranh vì dân chủ ở Việt Nam.
Những việc làm của những Nhà Dân Chủ này không lọt qua được mạng lưới theo dõi của cơ quan an ninh CS trực tiếp là cục A42 của Bộ Công An Việt Nam. Vì lúc đó họ đang có một kế hoạch theo dõi chặt chẽ và tìm cơ hội khủng bố một người có bút danh là Phương Nam, chính là kỹ sư Đỗ Nam Hải trong nhóm những người yêu dân chủ này. Với bút danh là Phương Nam, trong thời gian tạm cư 8 năm tại Úc, kỹ sư Đỗ Nam Hải đã viết nhiều bài viết phơi bày những bất công trong xã hội Việt Nam dưới thời CS. Và đặc biệt Anh đã lật tẩy con bài và sự thật về Hồ Chí Minh, với những bằng chứng xác thực không thể chối cãi qua chính những tài liệu của nhà nước Việt Nam CS đã phát hành. Kỹ sư Đỗ Nam Hải cũng là tác giả của cuốn sách “Hãy Trưng Cầu Dân Ý” đã được Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông tại Hoa Kỳ ấn hành vào tháng 9/2005. Trong khoảng cuối năm 2005 đầu năm 2006, tuy là lúc bị công an theo dõi và thẩm vấn liên tục gắt gao nhưng kỹ sư Đỗ Nam Hải vẫn tìm cách hoạt động có hiệu quả. Ngày 23/02/2006 Nhà Nghiên Cứu Hán Nôm Trần Khuê cùng kỹ sư Đỗ Nam Hải lên đường ra Miền Bắc, sau khi đã có sự liên lạc cùng những Nhà Dân Chủ khác ở Sài Gòn và Huế…
Tại Hà Nội trong tư gia của GS Hoàng Minh Chính ở Ngõ 26 Phố Lý Thường Kiệt, bốn Nhà Dân Chủ đó là GS Hoàng Minh Chính, Nhà Nghiên Cứu Hán Nôm Trần Khuê, nhà báo Nguyễn Khắc Toàn (lúc đó vừa mới ra tù), và kỹ sư Đỗ Nam Hải đã tổ chức một cuộc họp bí mật. Trong cuộc họp của những con người yêu dân chủ này kỹ sư Đỗ Nam Hải đã chủ động đề xuất ý kiến là cần có một Bản Tuyên Ngôn Dân Chủ của những nhà đấu tranh dân chủ ở Việt Nam, tương tự như “Hiến Chương 77” của Tiệp Khắc… Mọi người đều tán đồng và đã cùng tín nhiệm thống nhất giao cho kỹ sư Đỗ Nam Hải là người viết bản dự thảo của một Bản Tuyên Ngôn Dân Chủ chung, sau khi đã thăm dò ý kiến của hơn 100 người ủng hộ khác trên toàn quốc (công việc thăm dò ý kiến ủng hộ Cuộc Đấu Tranh Dân Chủ này thì nhóm của Linh Mục Nguyễn Văn Lý đã làm từ trước).
Việc cho ra đời một bản tuyên ngôn của những Nhà Đấu Tranh Dân Chủ là điều cần thiết và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng! Nó như một viên gạch đầu tiên để góp phần xây dựng một công trình hữu ích cho toàn xã hội trên đất nước Việt Nam, trong công cuộc đấu tranh giành Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền cho mọi công dân Việt Nam.
Như đã nói ở trên, công an Việt Nam, bằng những công cụ hiện đại đã nghe lén điện thoại, kiểm tra bí mật các thuê bao Internet, nên đã sớm phát hiện ra kế hoạch của nhóm những Nhà Dân Chủ này, họ quyết tâm ra tay hành động nhằm ngăn chặn sự ra đời của Bản Tuyên Ngôn mà các Nhà Dân Chủ như đã giới thiệu ở trên, chủ trương công bố. Đúng 7h 30' sáng ngày 23/03/2006 tại quán cà phê Lối Về số nhà 428 đường Nguyễn Kiệm TP Sài Gòn, khi kỹ sư Đỗ Nam Hải đang ngồi nói chuyện điện thoại với nhà văn Hoàng Tiến ở Hà Nội, và chuẩn bị ăn sáng, thì một tốp công an an ninh mặc thường phục khoảng 6-7 người ập vào. Tốp công an này do đích thân trung tá Nguyễn Hoài Phong - Trưởng phòng an ninh của công an Quận Phú Nhuận chỉ huy, sau đó họ yêu cầu Nhà Dân Chủ Đỗ Nam Hải về công an Quận Phú Nhuận để “làm việc” nhưng Anh đã từ chối vì không đúng quy định của pháp luật! Ngay lập tức một tiếng hô vang lên từ miệng viên chỉ huy phó của trung tá Nguyễn Hoài Phong: “Anh em hãy hành động đi”! Tức thì một kẻ xông vào bẻ quặt cánh tay kỹ sư Đỗ Nam Hải ra phía sau còn lại thì họ xồng vào đấm, đá, thúc đầu gối vào bụng vào ngực Anh rồi xô đẩy và tiếp tục đấm đá lôi kéo Nhà Dân Chủ này ra xe của công an trên đoạn đường khoảng 30 mét (vì quán bố trí chỗ ngồi cho khách hơi xa đường). Sau trận đòn thù này kỹ sư Đỗ Nam Hải đã bị giập môi, rách mắt và chảy máu… Tại công an Quận Phú Nhuận, sau khi thẩm vấn không có kết quả, một tốp công an lại tiếp tục ép kỹ sư Đỗ Nam Hải ra xe và trở về nhà riêng của Anh, tại đây công an đã ngang nhiên cướp đi của Anh một bộ nhớ từ máy vi tính để bàn, một máy ảnh kỹ thuật số, một đĩa dữ liệu cá nhân của Nhà Dân Chủ này, mà không hề có một lệnh khám xét và biên bản thu giữ nào…
Công an Cục A42 và công an Quận Phú Nhuận Sài Gòn sau khi kiểm tra ổ cứng máy vi tính của kỹ sư Đỗ Nam Hải, vẫn không tìm thấy Bản Tuyên Ngôn Dân Chủ mà Anh đang viết (do kỹ sư Đỗ Nam Hải đã có kế hoạch bảo mật và đề phòng từ trước). Trên thực tế, cho đến lúc đó Bản Tuyên Ngôn này vẫn chưa được hoàn thành. Mãi đến sáng ngày 07/04/2006 thì mới được viết xong với tên gọi ban đầu là “Tuyên Ngôn Dân Chủ Việt Nam”, và kỹ sư Đỗ Nam Hải lập tức gửi gấp cho Linh Mục Nguyễn Văn Lý và 6 Nhà Dân Chủ Khác qua đường Email (chương trình dự kiến ban đầu là đồng gửi cho các Nhà Dân Chủ này để cùng đóng góp tham khảo ý kiến). Chỉ vài tiếng đồng hồ, sau khi Bản Tuyên Ngôn từ máy tính cá nhân của kỹ sư Đỗ Nam Hải được gửi đi. Khoảng 14h 30' chiều ngày 07/04/2006 một toán công an của Sài Gòn đã được lệnh từ Bộ Công An ở Hà Nội cấp tốc điều động đến nhà của kỹ sư Đỗ Nam Hải, họ đưa ra một Công Văn Hỏa Tốc của Bộ Công An yêu cầu kiểm tra máy tính cá nhân của Anh, vì họ đã biết được các địa chỉ mà Kỹ Sư gửi bản “Tuyên Ngôn Dân Chủ Việt Nam” đến. Lúc đó tại Huế, biết rằng vấn đề an ninh của mình đang bị đe dọa từng giờ, nên Linh Mục Nguyễn Văn Lý sau khi xem xong bản Tuyên Ngôn này, đã lập tức cùng một số cộng sự tại Huế tiếp tục biên sọan lại, sau thời gian khoảng hơn một ngày đêm họ cùng làm việc không nghỉ, thì hoàn tất như hiện nay với tên gọi “Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006” và chính thức gửi lên mạng Internet toàn cầu vào khoảng 15 giờ ngày 08/04/2006. Chính vì “phạm tội” nói trên mà Linh Mục Nguyễn Văn Lý đã phải trả một giá đắt bằng một bản án phi pháp tám năm tù chấn động trên toàn thế giới, với tấm hình chụp Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị ba viên cảnh sát Việt Nam khống chế và lấy tay bịt miệng, trong một phiên tòa được coi là vô nhân đạo của nhà cầm quyền CSVN. Đó là bối cảnh mà bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Namđã ra đời (còn được gọi là Tuyên Ngôn 8406). Vì vậy ngày 08/04/2006 cũng chính thức được coi là ngày khai sinh của Khối 8406 Việt Nam.
Với phương châm là: “Cộng Sản là phaỉ bị dẹp bỏ chứ không thể thay đổi” (trích lời của Tổng Thống Nga Boris Nikolayevich Yeltsin). Bản Tuyên Ngôn của Khối 8406 đã nêu rõ mục đích đấu tranh cụ thể là: “làm cho thể chế chính trị hiện nay tại Việt Namphải bị thay thế triệt để, chứ không phải được đổi mới từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra” (Phần 3 mục 1; Tuyên Ngôn của 8406). Với phương pháp đấu tranh là: “Hòa bình, bất bạo động” (Phần 3 mục 2 Tuyên Ngôn của 8406). Phương pháp đấu tranh bất bạo động này sẽ có hai phương án xảy ra:
Thứ nhất là: Dùng sức mạnh tinh thần của toàn dân trong một cuộc xuống đường vĩ đại của toàn dân tộc, buộc thể chế chính trị độc tài của CS tại Việt Namphải sụp đổ.
Thứ hai là: Dùng sức mạnh tinh thần của toàn dân tộc và sự bình đẳng trong một cuộc Tổng Tuyển Cử Đa Đảng sòng phẳng với ĐCSVN, qua lá phiếu bầu của nhân dân để hạ bệ thể chế độc tài của CSVN hiện nay (con đường nghị viện).
Một quan điểm rõ ràng và cụ thể của Khối 8406 đó là Khối 8406 không có tham vọng cầm quyền, mục đích của Khối 8406 chỉ là đấu tranh nhằm hạ bệ thể chế CS tại Việt Nam mà thôi “sau khi Khối 8406 đã hoàn thành nhiệm vụ trước lịch sử và Dân Tộc thì sẽ tự giải thể” (Cương Lĩnh Khối 8406 phần 2.6).
Chỉ còn ít ngày nữa là Khối 8406 Việt Namtròn ba năm hình thành và phát triển. Tuy bị nhà cầm quyền CSVN đàn áp khốc liệt thô bạo tại Quốc Nội, đánh phá nặng nề trên báo chí truyền thông công khai, và giấu măt trá hình của nhà nước CSVN. Với việc hàng loạt các thành viên của mình bị bắt bớ và xử án theo hình thức “hình sự hóa các vấn đề chính trị” và hiện còn nhiều thành viên khác đang bị tạm giam, chờ ngày bị xét xử theo cách bất công vô nhân đạo mà nhiều người trước đó đã phải gánh chịu. Nhưng Khối 8406 vẫn không ngừng phát triển về lực lượng cả về số lượng và chất lượng, hàng chục ngàn thành viên mới tại Quốc Nội và khắp thế giới đã ký tên gia nhập vào Khối 8406. Đây là một minh chứng hùng hồn cho thế đứng của Khối 8406. Khối 8406 hiện nay, mỗi ngày càng “được” nhà cầm quyền CSVN “săn sóc” chu đáo hơn, những cuộc khám nhà, khủng bố về kinh tế, về công ăn việc làm, bắt đi thẩm vấn, đặt chốt canh đối với các Nhà Dân Chủ cũng nhiều hơn…
Trên thực tế, cứ những tổ chức chính trị nào bị đàn áp mạnh, thì rõ ràng đó là dấu hiệu cho thấy tầm ảnh hưởng của tổ chức đó trên bình diện quốc gia đã trở thành những thế lực chính trị quan trọng. Những thành viên đấu tranh nào càng bị công an Việt Nam đặc biệt quan tâm thì người đó thực sự quan trọng cho phong trào. Khối 8406 đang nằm trong hoàn cảnh chấp nhận sự khủng bố toàn diện của nhà cầm quyền CSVN. . Các thành viên hoạt động công khai của Khối 8406 tại Quốc Nội hiện nay đang tạm thời bị cô lập, khống chế (nghe lén, phá sóng điện thoại, cắt đường truyền Internet) và trực tiếp bị công an ngăn cản việc gặp gỡ, trao đổi thông tin. Để đối phó với tình huống này nhiều thành viên của Khối trước đây hoạt động công khai đã rút vào hoạt động nửa bí mật, số mới gia nhập thì giữ kín tung tích, hoạt động bí mật tiếp tục xây dựng lực lượng chờ thời cơ. Tầm ảnh hưởng bởi những hoạt động của những thành viên của khối 8406 ngày càng sâu sắc và lan rộng, đã đập tan sự tuyên truyền của ĐCSVN rằng “Khối 8406 là một khối ảo”…
Để phá hoại lòng tin của chính các Nhà Dân Chủ vào những thành viên đại diện cho Khối 8406 (Ban Điều Hành) và đặc biệt là sự trông đợi của đa số tầng lớp nhân dân đang khao khát đấu tranh. Một mặt, báo chí quốc doanh của Nhà cầm quyền CSVN đã vu cáo bôi nhọ đời tư của những vị đại diện cho Khối. Mặt khác, những tờ báo “lá cà lá cải” quốc doanh công khai và trá hình trên mạng Internet cộng thêm sự góp sức tinh vi của những “nhà dân chủ” phản thùng, có sự giật dây của công an, cũng ra sức soi mói vu cáo (tuy chỉ là những vu cáo vu vơ không có bằng chứng xác thực) để tung “hỏa mù”… , khiến những người tiếp nhận thông tin khó nhận chân được sự thật. Sự thật thì những thành viên của Ban Điều Hành Khối 8406 vẫn đang làm việc có hiệu quả. Riêng trường hợp của Linh Mục Nguyễn Văn Lý, tuy còn trong chốn lao tù nhưng Ông vẫn hàng ngày, hàng giờ đấu tranh ở trong tù, khiến nhiều viên công an Quản Giáo nghe đến tên Ông đều phải khiếp sợ, kính trọng. Ở ngoài xã hội thì Ban Điều Hành của Khối tiếp tục cho ra những Kháng Thư, những tuyên bố, những bài báo, bài xã luận đấu tranh mạnh mẽ đặc biệt là tập Bán Nguyệt San Tự Do Ngôn Luận được in ra giấy và phổ biến trên mạng Internet đều đặn 2 kỳ một tháng. Những sản phẩm trí tuệ ấy đã làm vững lòng người đọc, người nghe và thuyết phục họ tiếp tục tham gia vào Phong Trào Đấu Tranh Dân Chủ Việt Nam. Những từ ngữ mà nhiều kẻ dùng để đả kích các Nhà Dân Chủ như: “Nhà Dân Chủ Phòng Lạnh” hoặc “Nhà Dân Chủ Internet” đã bị dẹp bỏ, bởi một sự thật là nhà cầm quyền CSVN đang cuống cuồng lo đối phó, cấm đoán sự tự do trên mạng Internet bằng hết nghị quyết này đến nghị định khác. Nếu mặt trận trên Internet không quan trọng thì tại sao nhà cầm quyền CS lại phải lo lắng và hoảng hốt như vậy? Có người nói rằng: “Báo chí và truyền thông trong đó có sự tiếp sức của Internet sẽ là một trong những nguyên nhân, vừa gián tiếp vừa trực tiếp để hạ bệ thể chế độc tài CSVN” ý kiến này chắc chắn là chính xác một trăm phần trăm!
Những sự việc đã và đang xảy ra tại nhiều nơi trên toàn quốc như Thái Bình, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Đồng Nai, Sài Gòn vv… Với hàng trăm cuộc đình công của những người công nhân nghèo khổ, hàng triệu lượt người nông dân biểu tình vì mất đất ở nhiều địa phương… Những phản ứng của họ quyết liệt như: Đốt xe cảnh sát, rào làng để tự vệ, đập phá các Uỷ Ban Nhân Dân, tấn công cảnh sát giao thông vv… Đã cho chúng ta thấy được sức chịu đựng những áp bức bất công của nhân dân, đã đến hồi quá tải! Những lực lượng nhân dân như vậy một khi được hướng dẫn, chỉ đạo trong một cuộc đấu tranh bình tĩnh, ôn hòa và bất bạo động thì không một trở lực nào có thể ngăn cản được họ.
Ba năm, một chặng đường chưa phải là dài trong một Cuộc Đấu Tranh Chính Trị Giành Dân Chủ Nhân Quyền, được nhận định là có thể kéo dài hàng chục năm. Khối 8406 cùng với những chính đảng khác đang hoạt động tại Việt Namđã làm hết sức mình vì những mục tiêu giản dị và chân chính ấy. Họ đã và sẽ được ngày càng thêm sự ủng hộ của đông đảo những công dân yêu hòa bình, tự do dân chủ. Khi mọi công dân Việt Nam biết rằng Khối 8406 sẽ liên lạc với các đảng phái và các tổ chức khác có cùng mục đích hoạt động tại Việt Nam, nhằm thống nhất một chủ trương chung trong việc thuyết phục mọi tầng lớp Nhân Dân Việt Nam tự nguyện tham gia đấu tranh, chủ trương đó là:
“Bảo tồn, giữ nguyên và bổ xung mọi lợi ích hợp pháp đang hiện hữu của mọi công dân bao gồm công việc làm, chế độ hưu trí, bảo hiểm xã hội, bất động sản nhà cửa đất đai, tài khoản tại các ngân hàng, vv… Không phân biệt ai, và đã làm gì cho chính quyền CSVN hiện nay, kể cả các ĐVCS tại nhiệm (ngoài cấp trung ương) để tránh sự thiệt thòi về quyền lợi về vật chất cũng như quyền lợi về chính trị của mọi tầng lớp nhân dân sau khi Cuộc Cách Mạng Giành Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền trên Đất Nước Việt Nam hoàn toàn thắng lợi”.
Cuộc Cách Mạng Giành Tự DoDân Chủ Nhân Quyền tại Việt Nam sẽ là một cuộc cách mạng êm đềm nhất, hòa bình nhất trên thế giới, khi triệu triệu con tim của Người Dân Nước Việt đồng lòng cùng cất lên tiếng nói đấu tranh chống bất công, chống độc tài, độc đảng. Khối 8406 Việt Namsẽ cùng hòa mình vào trong triệu triệu tiếng nói của toàn Dân Tộc ấy!
Lê Nguyên Hồng Thành viên Khối 8406 Việt Nam
Email:
huyenkhai@rocketmail.com


Tiếng Việt

Tiếng Việt của chúng ta rất phong phú và trong sáng. Nhưng gần đây tại hải ngoại, các cơ quan truyền thông báo chí thường hay dùng những từ ngữ được "sinh ra" sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 của Cộng Sản Việt Nam. Đọc bài viết Tiếng Việt và Tiếng Vẹm được tác giả phân tích và trình bày một cách rõ ràng và cụ thể về vấn đề này

Kinh tế Việt Nam: Cần tới tiết rắn

Trích XCaf'e'VN

Vietnam's economy: In need of some snake-blood,
Billy chuyển ngữ


Kinh doanh phát đạt cho ít nhất một doanh nghiệp người Việt: một người phụ nữ luống tuổi trong một chiếc nón lá trên một con đường nhỏ đối diện với thị trường chứng khoán TP Hồ Chí Minh. Bà ấy cắt đầu những con rắn lục nhỏ bằng kéo rồi đưa máu của nó vào một chai nhựa. Nhiều đàn ông Việt Nam tin rằng uống tiết rắn sẽ tăng cường khả năng sinh lý cũng như đem lại may mắn. Một người bán dạo những con rùa con cũng nói cô ấy cũng bán được nhiều thứ thế này hơn. Ai cũng lo lắng về tương lai.

Sự đi xuống của kinh tế thế giới đã phủ một bóng đen dài lên nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh theo hướng xuất khẩu của Việt Nam. Doanh thu của những hàng hóa thông dụng giảm mạnh khi tầng lớp trung lưu chi xài ít hơn. Những cửa hàng điện tử cho biết doanh thu dịp tết cũng giảm 50% so với cùng kì năm ngoái. Các liên hợp xe ô tô cũng thông báo doanh thu giảm 68% so với tháng 1 năm ngoái.
Biểu đồ xuất-nhập khẩu của Việt Nam - theo Economist

Giống như Trung Quốc, Việt Nam đã sử dụng xuất khẩu để thay đổi nền kinh tế trì trệ lúc trước. Năm ngoái nó đã phát triển quá nóng. Chính phủ đã nhận được những lời tán dương cho việc kiềm chế lạm pháp với con số đỉnh điểm là 28% hồi tháng 8. Nhưng Việt Nam đang đối mặt với nhu cầu giảm mạnh từ phương Tây. Xuất khẩu giảm 5.1% trong hai tháng đầu năm 2009. Các hàng điện tử giảm 13.7%, giày dép giảm 7.3%. Đó là tại sao chính phủ đang cố gắng khơi lại ngọn lửa tăng trưởng vừa bị kiềm hãm trước đó. Chính phủ đang lên kế hoạch tăng tiêu dùng năm nay lên 23% (khoảng 100 nghìn tỉ đồng hay 6 tỉ đô Mĩ). Khoảng 1 tỉ đô la trợ cấp sẽ được dùng để cho vay những nhà xuất khẩu. Theo như kế hoạch thì trong tháng đầu tiên, các ngân hàng thương mại đã cho vay 93 nghìn tỉ đồng.

Sẽ có khoảng 500.000 người mất việc năm ngoái, và chính phủ dự đoán sẽ có thêm 400.000 người sẽ mất việc nữa trong năm 2009. Đây là những con số đáng lo ngại trong một nền kinh tế trẻ cần khoảng 1 triệu việc làm mới mỗi năm cho lực lượng lao động. Giống Trung Quốc, Việt Nam không có nhiều an sinh xã hội. Nhiều công nhân bị sa thải từ các nhà máy đã phải về quê sinh sống và dựa dẫm vào gia đình. Nhưng những người nông dân sẽ thấy khó khăn hơn khi không có tiền của những người công nhân trong các nhà máy. Giá cả nông sản của họ như gạo hay cafe cũng đang rớt giá.

Nhiều nhà kinh tế tin rằng cái Việt Nam cần, giống như Trung Quốc, không phải là những biện pháp đảm bảo cung mà là những động lực làm tăng nhu cầu nội địa. Những biện pháp này không chỉ đầu tư vào cơ sở hạ tầng mà còn chú trọng vào giáo dục, sức khỏe, hưu trí, cái mà đã làm giảm sức tiêu dùng của người Việt. GDP của Việt Nam tăng 6.2% trong năm 2008, thấp nhất trong vòng 9 năm. Hầu hết mọi người, kể cả IMF, cho rằng tăng trưởng trong năm nay cao nhất là 5%. Tuy nhiên chính phủ vẫn hướng đến con số 6.5% và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng dự đoán nền kinh tế sẽ bắt đầu đi lên sớm vào khoảng tháng 5. Khi vài tuần đã đi qua kể từ đầu năm thì những lời nói của thủ tướng giống như người bán mỡ rắn chứ không phải mật rắn.

Friday, March 6, 2009

Đài chân trời mới phỏng vấn kỹ sư Đỗ Nam Hải về dự án Bauxite

Trích Việt Bao Online

Đài Chân Trời Mới Phỏng Vấn KS Đỗ Nam Hải Về Dự Án Bauxite:
sẽ gây thảm họa sinh thái rộng, thành vùng đất chết
Kính thưa quý thính giả,
Trong thời gian qua, vấn đề khai thác bauxite ở Tây Nguyên đã gây ra nhiều xôn xao trong dư luận. Khi đọc được những thông tin báo động về việc gây tác hại cho môi trường của vấn đề khai thác bauxite, không ai có thể làm ngơ và không thể hiểu được vì sao những dự án loại này có thể được quyết định tiến hành. Trong phần phỏng vấn hôm nay, chúng tôi xin mới quý thính giả chia sẻ những ưu tư của anh Đỗ Nam Hải, hiện đang sống tại Sài Gòn.
1/ Xin kính chào anh Đỗ Nam Hải và xin mời anh lên tiếng chào quý thính giả nghe đài.
Trả lời: Vâng, xin kính chào anh Hoàng Hà, xin kính chào quý thính giả của đài Chân Trời Mới. Tôi là Phương Nam - Đỗ Nam Hải đang phát biểu từ thành phố Sài Gòn - Việt Nam.
2/ Thưa anh, là người theo dõi tin tức thời sự thường xuyên trong nước, xin anh có thể chia sẻ những suy nghĩ của anh khi đọc những thông tin liên quan đến vụ khai thác bauxite tại Việt Nam?
Trả lời: Vâng, tôi được đọc và được nghe những thông tin liên quan đến việc Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam (NCQ CSVN) đã thỏa thuận với Nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc (NCQ CSTQ) cho phép các công ty Trung Quốc khai thác bauxite tại vùng Tây Nguyên của Việt Nam. Những thông tin này đến với tôi từ những nguồn cả trong và ngoài nước. Đặc biệt, ngày 4/2/2009 vừa qua, các báo, đài ở Việt Nam có đưa tin về kết luận của ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam hiện nay, rằng: “Ngày 5/1/2009, tại Văn phòng chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chủ trì cuộc họp về thăm dò, khai thác bauxite, sản xuất alumin và luyện nhôm. Tham dự có các Phó thủ tướng: Nguyễn Sinh Hùng, Trương Vĩnh Trọng, Hoàng Trung Hải và Nguyễn Thiện Nhân, lãnh đạo các Bộ: Công Thương, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Khoa học & Công nghệ, Giao thông vận tải, Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch; Uỷ ban nhân dân các tỉnh: Đắk Nông, Lâm Đồng, Gia Lai; Văn phòng chính phủ, Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam.
Sau khi nghe Bộ Công thương báo cáo, ý kiến của lãnh đạo các Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Nông và Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có ý kiến kết luận như sau: Việc khai thác bauxit, sản xuất alumin và luyện nhôm tại Tây Nguyên là phù hợp với chủ trương của Đảng và Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bauxit giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến 2025 đã được TTg CP phê duyệt tại QĐ số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01/11/2007…”.
Như vậy, rõ ràng đây không phải là tin đồn đại nữa mà là tin thật 100%. Theo kế hoạch thì dự án này sẽ diễn ra tại tỉnh Đắk Nông ở Tây Nguyên. Qua nghiên cứu tài liệu, tôi được biết rằng: khi dự án này triển khai thì nó sẽ gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng cho Việt Nam. Cụ thể như sau:
+ Không có hiệu quả về tất cả các mặt kinh tế, tài chính và xã hội.
+ Với trình độ công nghệ khai thác bauxite của Trung Quốc hiện tại vẫn còn khá lạc hậu thì dự án này sẽ phá hủy môi trường tại chỗ của Tây Nguyên. Nó sẽ gây thảm họa về sinh thái trên diện rộng cho cả các tỉnh Nam Trung Bộ và một số tỉnh của Campuchia. Đất đai tại vùng khai thác bauxite sau đó sẽ biến thành vùng đất chết và người nông dân Việt Nam sẽ không thể canh tác được nữa.
+ Vùng khai thác bauxite lại ở đầu nguồn của các con sông Đồng Nai và sông Sêrêpốc, nên dự án khi triển khai thực hiện sẽ vừa làm ô nhiễm, vừa làm cạn kiệt nước của 2 con sông này. Trong khi chúng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc ổn định và phát triển về kinh tế, xã hội của các khu vực đông dân cư và rộng lớn như: Sài Gòn, Biên Hòa, Bình Dương, …
+ Nó cần nhiều nước trong khi Tây Nguyên lại đang thiếu nước! Nó cần nhiều điện trong khi Việt Nam vẫn còn đang thiếu điện! Nó cần nhiều lao động nhưng theo thỏa thuận giữa 2 nước thì lại là lao động Trung Quốc, chứ không phải lao động Việt Nam! Nó chiếm một diện tích đất rộng lớn, trong khi hiện tại người dân Tây Nguyên lại đang thiếu đất!
+ v.v…
Đã có nhiều người ở cả trong và ngoài nước lên tiếng phản biện về dự án này như các ông: Võ Nguyên Giáp, Nguyên Ngọc, Nguyễn Lân Dũng, Dương Trung Quốc, Nguyễn Trung, Bùi Tín, Ngô Nhân Dụng và các nhà khoa học như các tiến sỹ: Nguyễn Thành Sơn, Nguyễn Đông Hải, Trần Bỉnh Chư, Phạm Duy Hiến, Nguyễn Ngọc Sinh, Hoàng Cơ Định, Mai Thanh Truyết, v.v… và đề nghị các nhà lãnh đạo Việt Nam xem xét không cho phép triển khai dự án. Tuy nhiên, với những gì đã và đang diễn ra ở Việt Nam, xuất phát từ chế độ chính trị độc tài toàn trị thì theo tôi, khả năng ngăn chặn được nó sẽ là rất khó khăn.
Theo tôi, nếu dự án này cứ tiếp tục được thực hiện thì đây là mối nguy hiểm lớn cho dân tộc Việt Nam về tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh và quốc phòng. Với tư cách là một công dân Việt Nam, tôi kịch liệt phản đối dự án khai thác bauxite này và cũng xin đề nghị mọi người hãy đóng góp công sức, trí tuệ để cùng lên tiếng phản đối nó.
3/ Cũng khắc khoải như mọi người, chúng tôi có cơ hội đọc qua tài liệu của một số nhà nghiên cứu, đặc biệt là bài "10 lý do đề nghị tạm dừng dự án bô xít Tây Nguyên" của hai tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Nguyễn Đông Hải và nhà văn Nguyên Ngọc. Các vị ấy đã chứng minh rất khoa học rằng khai thác các quặng bauxite trên vùng Tây nguyên hoàn toàn bất lợi. Theo anh thì tại sao chính quyền Việt Nam vẫn quyết định tiến hành dự án này bất chấp sự cảnh báo của các nhà khoa học ?
Trả lời: Trước hết, tôi xin được khẳng định quan điểm của mình rằng: họ chỉ là Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam thôi, chứ họ không phải là chính quyền Việt Nam, theo đúng nghĩa cao quý của từ “chính quyền”. Bởi vì, nếu gọi là chính quyền thì chính quyền ấy phải thực sự do nhân dân Việt Nam bầu ra bằng những lá phiếu thực sự dân chủ. Trong khi, sự cầm quyền của những nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam từ trước đến nay là hoàn toàn không theo tiến trình bầu cử dân chủ thực sự, mà chỉ là thứ dân chủ giả hiệu, lừa mị theo cách “đảng cử, dân bầu” mà thôi.
Cũng chính vì vậy mà NCQ CSVN đã tự ý đánh đồng họ với đất nước và dân tộc. Họ đã nhiều lần xưng danh đất nước và dân tộc để quyết định nhiều vấn đề phản dân, hại nước trong suốt hơn 63 năm qua, tính từ ngày 2/9/1945 đến nay. Chẳng những là lần này, với dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên mà còn là nhiều lần khác trước đó như: chiến dịch Cải cách ruộng đất ở miền Bắc, từ năm 1953 đến 1957; ký Hiệp định Genève ngày 20/7/1954, về việc khôi phục hòa bình ở Đông Dương; Công hàm bán nước của ông Phạm Văn Đồng gửi ông Chu Ân Lai, ngày 14/9/1958; Hiệp ước biên giới trên đất liền, ký ngày 30/12/1999 và Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ, ký ngày 25/12/2000, v.v… Tất cả đều có hại cho Việt Nam và có lợi cho Trung Quốc! Tất cả đều có sự can thiệp xấu xa của NCQCS Trung Quốc đối với dân tộc Việt Nam.
Như vậy, một vấn đề cần đặt ra ở đây là: NCQCS Việt Nam trước đây và hiện nay có biết được bản chất xấu xa đó của NCQCS Trung Quốc hay không? Nếu biết thì tại sao họ vẫn cứ chấp nhận cúi đầu làm theo? Theo tôi, câu trả lời là rõ ràng: họ có biết, không những thế họ còn biết rất rõ! Chúng ta hãy nghe sau đây một đoạn văn trong cuốn sách “Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua”, do Bộ ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam công bố và được Nhà xuất bản Sự thật - Hà Nội, phát hành vào tháng 10/1979 để chứng minh cho khẳng định trên:
“… Trên thế giới chưa có những người lãnh đạo một nước nào mang danh là “cách mạng”, là “xã hội chủ nghĩa” và dùng những lời lẽ “rất cách mạng” để thực hiện một chiến lược phản cách mạng, cực kỳ phản động như những người lãnh đạo Trung Quốc. Trên thế giới chưa có những người lãnh đạo một nước nào về mặt chiến lược đã lật ngược chính sách liên minh, đổi bạn thành thù, đổi thù thành bạn nhanh chóng và toàn diện như những người lãnh đạo Trung Quốc. Từ chỗ coi Liên Xô là đồng minh lớn nhất, họ đi đến chỗ coi Liên Xô là kẻ thù nguy hiểm nhất. Từ chỗ coi đế quốc Mỹ là kẻ thù nguy hiểm nhất mà bản chất không bao giờ thay đổi, họ đi đến chỗ coi đế quốc Mỹ là đồng minh tin cậy, câu kết với đế quốc Mỹ và trắng trợn tuyên bố: “Trung Quốc là NATO phương Đông”
… Họ tập trung mọi cố gắng để dấy lên một cuộc “thập tự chinh quốc tế” của các lực lượng đế quốc và phản động chống Liên Xô dưới chiêu bài “chống bá quyền”, theo công thức của Chủ tịch Mao Trạch Đông “Ngồi trên núi xem hổ đánh nhau”. Như nhiều nhà chính trị và báo chí Tây Âu nhận định, Trung Quốc quyết tâm “đánh Liên Xô đến người Tây Âu cuối cùng” cũng như Trung Quốc trước đây đã quyết tâm “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”.
Chiến lược quốc tế ngày nay của những người lãnh đạo Trung Quốc, mặc dầu núp dưới chiêu bài nào, đã phơi trần tính chất cực kỳ phản cách mạng của nó và những người lãnh đạo Trung Quốc đã hiện nguyên hình là những người theo chủ nghĩa sô-vanh nước lớn, những người dân tộc chủ nghĩa tư sản. Chính sách ngày nay của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam, mặc dầu được ngụy trang khéo léo như thế nào, vẫn chỉ là chính sách của những hoàng đế “thiên triều” trong mấy nghìn năm qua, nhằm thôn tính Việt Nam, khuất phục nhân dân Việt Nam, biến Việt Nam thành một chư hầu của Trung Quốc”.
Theo tôi, toàn bộ các ủy viên Bộ chính trị ĐCSVN khóa 10 hiện nay và khóa 9 trước đó - Những người đã quyết định chủ trương ký kết dự án khai thác bauxite mà chúng ta đang bàn, cũng như ký 2 Hiệp định năm 1999 và 2000 nói trên nhất định đã phải “quán triệt sâu sắc” tài liệu quan trọng này. Vì vậy, họ không thể không nắm rõ bản chất xấu xa của NCQ CS Trung Quốc đối với Việt Nam. Thế nhưng, họ vẫn cứ quyết tâm làm. Chỉ có một cách giải thích duy nhất: Tất cả họ đều đã ấn quyền lợi của dân tộc xuống đáy và đẩy “tinh thần” bán nước cầu vinh, cầu lợi của họ lên trên!
4/ Anh có thể cho biết dư luận của đồng bào trong nước ra sao về dự án khai thác bauxite trên?
Trả lời: Nếu tôi được tự do đi lại, nhất định tôi sẽ lên Tây Nguyên, lên Đắk Nông và nhiều vùng khác của Tổ quốc để tìm hiểu kỹ hơn về nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề trên. Thế nhưng, từ ngày 8/4/2006 đến nay, khi bản Tuyên ngôn 8406 ra đời thì công an Việt Nam bám chặt tôi như hình với bóng ở mọi lúc mọi nơi. Qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với những người có nhận được những thông tin trên thì tất cả họ đều rất căm phẫn. Họ căm phẫn về dã tâm của NCQCS Trung Quốc 1, thì họ căm phẫn sự phản dân hại nước; sự hèn hạ, bạc nhược của NCQCS Việt Nam 10.
Về điểm này, trong bài “Việt Nam Đất Nước Tôi”, được gửi lên Internet vào tháng 6 năm 2000, khi còn sinh sống tại Australia, tôi cũng đã đề cập, đại ý: “Một khi đã biết được dã tâm xấu xa của cha con Triệu Đà, Trọng Thủy muốn đánh tráo nỏ thần rồi, mà vẫn cứ cho họ được “ở rể” thì những kẻ có tội lớn đối với đất nước và dân tộc chính là những “An Dương Vương” thời nay!”. Không nghi ngờ gì nữa: chính họ sẽ phải trả lời trước dân tộc và lịch sử về những tội lỗi trời không dung đất không tha của họ, khi dân tộc này chuyển mình!
5/ Trong cơ chế của các nước dân chủ, quốc hội có quyền ngăn cản những dự án có hại cho quốc gia như thế này. Theo anh thì chúng ta có thể làm gì để thay đổi quyết định tai hại này của nhà cầm quyền CSVN để may ra còn có thể cứu vãn cả một vùng đất của quê hương?
Trả lời: Đây cũng là thêm một động lực nữa cho những người Việt Nam yêu nước hôm nay quyết tâm đấu tranh để đất nước phải có một nền dân chủ thực sự. Cụ thể là phải thay thế được một cách triệt để từ chế độ chính trị độc tài toàn trị hiện nay sang chế độ dân chủ đa nguyên, đa đảng và pháp trị tiến bộ trong tương lai. Chỉ có khi ấy thì các cơ quan quyền lực của quốc gia như: hành pháp, lập pháp, tư pháp; kể cả cơ quan quyền lực thứ tư là truyền thông mới phát huy được tốt chức năng, nhiệm vụ của nó. Chỉ có khi ấy nó mới có thể ngăn chặn hoặc thay đổi được những chủ trương, chính sách sai lầm của một nhóm thiểu số nắm quyền lực bất lương. Còn với chế độ phản dân chủ và phản dân tộc hiện nay ở Việt Nam thì câu trả lời rõ ràng và dứt khoát là: không thể!
Quan điểm cho rằng: có thể chống Chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc hiện đại bằng cách “Đoàn kết xung quanh Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh”, miễn là phải làm sao để “Đảng của chúng ta” trở nên trong sạch, vững mạnh hơn (!?) là hoàn toàn sai lầm. Theo tôi, đây chính là điều không tưởng. Thực tiễn đã chứng minh một cách hùng hồn rằng: tất cả các chế độ độc tài độc đảng không chấp nhận sự cạnh tranh trên chính trường chỉ ngày càng tha hóa, biến chất đi mà thôi. Đây là vấn đề mang tính quy luật và ở Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ: những kẻ “thẻ đỏ, tim đen” không hề giảm đi mà ngược lại, chúng ngày càng xuất hiện nhung nhúc và đậm đặc trong lòng xã hội hôm nay!
Tất nhiên, trong khi Việt Nam chưa có được một nền dân chủ thực sự thì chúng ta cũng có thể cùng quyết tâm làm một số việc cụ thể sau đây, nhằm hạn chế được càng nhiều càng tốt những thiệt hại mà dự án trên có thể gây ra, khi mà NCQ CSVN vẫn bất chấp dư luận xã hội để triển khai nó:
+ Bằng mọi phương tiện và khả năng, chúng ta thông tin những tác hại về mọi mặt của dự án khai thác bauxite trên cho đồng bào trong nước biết, nhất là cho đồng bào Tây Nguyên. Từ đó, họ sẽ tạo ra những áp lực phản đối liên tục, thường xuyên lên cả nhà cầm quyền địa phương lẫn trung ương. Kể cả khi dự án này đã được triển khai.
+ Tuyên bố nhân dân Việt Nam không chấp nhận dự án này, cũng như không chấp nhận Công hàm do ông Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958 và 2 Hiệp Định giữa Việt Nam - Trung Quốc, ký năm 1999 và 2000, như đã nói ở trên. Vì tất cả chúng đều là những thỏa thuận bán nước cầu vinh của tập đoàn phản động “Nông Chiêu Thống” hiện nay và trước đó. Họ chỉ là một thiểu số nắm thực quyền bất lương trong ĐCS Việt Nam. Họ là tội phạm! Họ không xứng đáng đại diện cho dân tộc Việt Nam!
+ Tranh thủ sự ủng hộ của thế giới tiến bộ, tranh thủ sự ủng hộ của chính phủ và nhân dân Campuchia, vì chính họ cũng phải chịu những ảnh hưởng xấu của dự án này; để họ cùng gây áp lực với NCQCS Trung Quốc và NCQCS Việt Nam hủy bỏ dự án tai hại này.
+ v.v…
6/ Anh nhìn nhận thế nào về hiểm họa của sự hiện diện đông đảo người Hoa Lục được đưa vào vùng Tây Nguyên để thực thi kế hoạch khai thác bauxite này?
Rất nguy hiểm. Tình cảnh của dân tộc ta hôm qua và hôm nay thật là bi đát, không chỉ những gì liên quan đến vùng Tây Nguyên:
+ Trên biển Đông thì ngư dân đi đánh cá bị bắt, bị đánh đập, bị tịch thu tài sản và bị bắn bởi lính trên tầu tuần duyên Trung Quốc. Máu của người Việt Nam đã đổ!
+ Các công ty khai thác dầu hỏa nước ngoài thăm dò dầu khí trên vùng biển Việt Nam theo thỏa thuận với Việt Nam đã bị phía Trung Quốc phản đối và họ đã phải rút lui. Trong khi đó thì phía Việt Nam phản đối rất yếu ớt, lúng búng như gà mắc tóc.
+ Trên biên giới phía Bắc thì phía Trung Quốc tìm mọi cách xâm nhập gặm nhấm bao năm qua, mà bất cứ người dân Việt Nam nào ở vùng biên giới cũng đều đã tận mắt chứng kiến.
+ Nay họ táo tợn tiến thêm một bước nữa là vào sâu trong nội địa Việt Nam. Tây Nguyên lại là vùng có tính chất hiểm yếu về an ninh và quốc phòng. Tại đây, họ sẽ có những điều kiện thuận lợi để chuyển các phương tiện do thám quân sự hoặc hơn thế nữa, mà việc khai thác bauxite có khi chỉ là cái cớ. Do vậy, nguy cơ mất nước kiểu mới mà Trung Quốc không cần phải tiến hành một cuộc chiến tranh quân sự theo kiểu truyền thống là điều hoàn toàn có thể xảy ra đối với dân tộc ta.
+ v.v…
Tuy nhiên, nếu nhìn ở một góc độ khác thì tôi lại thấy xuất hiện những yếu tố tích cực. Đó là: chính sự hèn hạ bạc nhược, chính sự xa hoa thối nát đến cùng cực của NCQCS Việt Nam, cộng với dã tâm xâm lược thâm độc của NCQCS Trung Quốc sẽ làm tăng cường tình đoàn kết dân tộc. Qua đó, tạo nên một sức mạnh mới có thể nhấn chìm cả bè lũ bán nước lẫn lũ cướp nước.
Tôi luôn tin tưởng một cách mãnh liệt rằng: truyền thống hào hùng của những Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa,… của dân tộc ta từ ngàn năm xưa nhất định sẽ được phát huy cao độ trong cuộc chiến đấu và nhất định sẽ chiến thắng hôm nay. Đó là cuộc chiến đấu giành tự do dân chủ cho dân tộc ta! Đó là cuộc chiến đấu của dân tộc ta chống lại chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Quốc hiện đại!
Cuối cùng, xin kính chúc quý thính giả của đài Chân Trời Mới luôn mạnh khỏe và gặp mọi sự an lành. Xin chúc cho nền dân chủ Việt Nam đến sớm.
Xin thành thật cám ơn anh Đỗ Nam Hải đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn hôm nay và xin hẹn gặp lại anh trong một dịp khác, nhất là để cùng nhau khởi xướng những hành động cụ thể để bảo toàn quê cha đất tổ.
(ghi lại những nội dung chính - tháng 2/2009)

Hai bộ mặt của Xã Hội Chủ Nghĩa hiện nay

Trích XCafe'

Nguyễn Vọng

1) Nông dân trên đường phố

Trên đây là một biển cấm trên con đường Bạch đằng, một trong số những đường phố được xem là bộ mặt phồn vinh phát triển của thành phố Đà-nẵng. Nội dung của biển cấm nầy là: “Ngiêm cấm mọi hoạt động đánh giày, bán sách dạo, bán báo dạo, bán hàng rong, tụ họp mua bán” . Đây là một trong những con phố tập trung nhiều nhà hàng khách sạn sang trọng và là tuyến đường chính dẫn đến những khu nghĩ dưỡng sang trọng bên kia sông. Du khách nước ngoài đến bằng đường biển hay đường hàng không đều đi qua con đường này cho nên người ta phải che dấu những biểu hiện của đói nghèo, nhếch nhác. Nhớ ngày nào khi nón cối dép râu mới bước chân vào thành phố, đi đâu cũng nghe mấy đồng chí oang-oang: “Cái thành phố nầy đúng là phồn vinh giả tạo”. Người dân thành phố lúc ấy đang còn sợ quá nên nghe vậy mà nào dám cải lại, bỡi họ thấy có cái gì là “giả” đâu: nhà cao cửa rộng, đường sá phẳng phiu, hang hoá tràn đầy, cái nào cũng thật, sờ tận tay thậm chí các đồng chí thi nhau chỡ ra Bắc trên những đoàn con-voi mấy năm chưa dứt.

Bây giờ, sau hơn 30 năm, nhờ bán đất cho tư bản nước ngoài các đồng chí xây được vài cây cầu, làm được vài con phố đã tự cho là mình có tài kinh bang tế thế. Thậm chí có mấy tên bồi bút nâng bi đã không ngượng mồm gọi vùng đất bên kia sông Hàn nơi tập trung những khu biệt thự sang trọng của đám quan chức địa phương và trung ương, các khu khách sạn, Resort của nước ngoài đầu tư là Khu phố Đông của Đà nẵng, ngầm so sánh với khu Phố đông của Thượng Hải bên Tàu. Bỡi vậy, những hạng người đầu tiên có thể làm xấu đi bộ mặt sang trọng của thành phố là những em bán báo, đánh giày, những chị đẩy xe hang rong bị cấm tuyệt lai vãng. Khi nghe cái lệnh cấm này ban ra người dân thành phố chỉ biết lắc đầu ngán ngẩm cho cái kiểu làm “tốt khoe, xấu che”, lần nầy mới đích thị là phồn vinh giả tạo!

Giờ chúng ta cùng dõi theo cuộc sống của những con ngưòi là đối tượng của cái lệnh cấm nầy.

Bán hàng rong, chị là ai ?

Ngày xưa, nhưng cũng chưa xưa lắm, người nông dân khi công việc đồng án đã xong, khoảng thời gian này được gọi là lúc nông-nhàn, và đúng như tên gọi người nông dân có thể nghỉ ngơi chút đỉnh sau những ngày cày bừa nhọc nhằn, bỡi vậy cho nên những lễ hội ở nông thôn thường diễn ra vào dịp này. Bây giờ mọi chuyện chẳng còn như xưa, ruộng đất mỗi ngày mỗi teo tóp, đã vậy ruộng đất còn được trưng thu để xây dụng các khu công nghiêp, các khu đô thị, các khu ăn chơi hưởng thụ của những kẻ lắm tiền cả trong lẫn ngoài nước, vì vậy mà ruộng đất của nông dân ở những vùng quê chung quanh các thành phố chẳng còn được bao nhiêu. Có người mất trắng chẳng còn gì. Chẳng nói đâu xa, nhớ hồi có kế hoạch xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quấc và khu đô thị Vạn Tường, biết bao làng xóm đã bị di dời để lấy đất xây nhà máy và xây thành phố mới.

Người ta đã hứa như đinh đóng cột với người dân là cứ yên tâm mà dọn đến chỗ ở mới đi, nhất định chỗ ở mới sẽ tốt hơn làng cũ, cả ông thủ tướng thời đó là Võ văn Kiệt lẫn các quan chức của tỉnh Quảng Ngãi đều cao giọng cam kết như thế, nhưng sự thật là cho đến nay, sau hơn 10 năm, đến ngày nhà máy cho ra mẻ dầu đầu tiên thì đám cư dân của những ngôi làng mới đó vẫn còn lưu lạc kiếm ăn tận miền Nam xa xôi, trong làng đến nay cũng chỉ còn lại toàn trẻ con và người già trong những ngôi làng vuông vức như bàn cờ nhưng chẳng có ruộng để cày. Ruộng ở đâu ra? Địa phương mới chịu chia cho miếng đất thổ cư để làm nhà cho dân mới đến chứ ruộng có đâu mà chia? Số phận người nông dân quanh cái thành phố phồn vinh Đà nẵng cũng thế thôi. Bị thu hồi hết ruộng đất chẳng nói làm chi vì đường nào rồi cũng ra thành phố làm mướn hay bán buôn linh tinh chỉ cốt kiếm sống cho qua ngày chứ còn biết gì đến chuyện tương lai bỡi những chương trình chuyển đổi ngành nghề chỉ là chuyện trên giấy, nói chơi cho vui chứ trên thực tế là con số không to tướng. Người nông dân từ 40 đến 60 tuổi, thậm chí đến 70 tuổi vẫn có thể lao động để kiếm sống ở nông thôn, bây giờ không còn làm nông thì họ biết làm gì để sống ngoại trừ làm những công việc lao động giản đơn. Người nông dân còn ruộng để cày số phận cũng chẳng sáng sủa hơn chút nào: một nhà vài ba sào ruộng, mỗi vụ lúa kéo dài trên 3 tháng nhưng công việc cày bừa chăm sóc cả nhà xúm lại làm nhoáng một cái thì lâu nhất cũng khoảng 1 tháng là xong, 2 tháng còn lại đành phải gọi là nông nhàn chứ biết gọi là gì bây giờ? Nhưng “nhàn” mà được sao? Vài ba sào ruộng thì chỉ đủ gạo ăn cho cả nhà chứ có dư ra được đâu.

Miền Trung đất hẹp người đông, có phải là miền Nam đâu mà mỗi nhà có thể làm vài ba mẫu đất để có gạo thừa đem xuất khẩu kiếm ngoại tệ về cho nhà nước, vậy mà nông dân vẫn không khá lên được, vẫn nhà dột cột xiêu, bao nhiêu rồi cũng vào tay mấy công ty phân bón, mấy công ty xuất khẩu gạo. Vâng, vậy là vợ chồng con cái lao vào thành phố để kiếm sống. Hàng rong thì thành phố nào cũng có, là phương tiện kiếm sống của một bộ phận dân nghèo thành phố. Người nông dân vào thành phố kiếm sống không thuộc loại hàng rong này, người phụ nữ nông thôn hầu như không có khả năng bán rong nhưng thứ đòi hỏi kỉ năng nấu nướng nên đành chọn phương thức bán buôn đơn giản là mặt hàng nông sản, rau quả, trái cây theo mùa vụ, phương tiện hành nghề chỉ là chiếc xe đạp cà tàng giá chỉ vài ba chục ngàn đồng mà người dân thành phố thải ra, chở theo chiếc giỏ thép hay đơn giản hơn là 2 chiếc rỗ tre gắn trước sau kèm chiếc cân nhựa nhỏ, vốn liếng cao nhất chỉ 200 ngàn đồng trở lại. Mỗi sáng tinh mơ các chị tập trung về 2 khu chợ đầu mối ở 2 đầu thành phố để cất hàng, mùa nào thức ấy chẳng có gì phải chọn lựa, cho dù là trái cây hay rau củ cũng chỉ dám mua trong phạm vi chừng ấy vốn, trọng lượng cũng không dám vượt qua sức chịu đựng của chiếc xe đạp và đôi chân gầy của mình.

Trên đường phố chúng ta dễ dàng nhận ra các chị trong dáng lầm lũi đạp xe, trong dáng nhìn ngơ ngác kiếm tìm một tiếng gọi hàng bên đường. Chúng ta còn dễ dàng nhận ra các chị qua cung cách bán hàng thật thà, chẳng dám noi thách bỡi trên đường biết bao ngưòi như chị, chẳng bao giờ dám nghĩ đến chuyện trúng mánh lãi nhiều để gạt những khách hang dễ tính. Nhiều lần mua hàng của các chị trên đường tôi thử hỏi xem chị kiếm được bao nhiêu khi bán hết hàng trong giỏ, thì chị nào cũng bảo “Dạ! suông sẽ thì kiếm được 20 ngàn là mừng rồi”. Tôi tin các chị nói thật bỡi vì nhiều lần mua hang trả giá có chị không dám kèo nài nhiều chỉ nhỏ nhẹ “thôi chị cho em xin thêm (…) chớ chừng ni chưa đủ vốn”, tôi tin chị nói thật. Cung cách bán buôn của những nông dân trên đường nhựa là vậy, mong kiếm lời được chừng nào thì cứ thế mà bán. Buổi trưa trời nắng chan chan cũng không dám nghỉ, chỉ mong sao bán cho hết mà về, hàng rau quả để qua ngày có nước đem đổ. Con cái cũng theo cha mẹ vào phố, mùa hè đi bán vé số dạo kiếm tiền để vào năm học mới có tiền phụ giúp cha mẹ sắm sửa áo quần sách vỡ, mỗi tờ vé số kiếm được 500 đồng, buổi trưa kiếm bóng mát vật vờ cơm bụi, may ra buổi tối khi trở về nhà còn dư ra được mươi lăm ngàn đưa cho mẹ.

Vậy nhưng cũng còn nhiều người mê ngũ, hùa theo bọn bất lương ra rã ca tụng cái thành tựu kinh tế thần kì, ngưỡng mộ ngắm nhìn những toà cao ốc đồ sộ mà chẳng hề nghĩ đến chuyện những ai đang làm chủ, đang ngự trị trong những ngôi nhà đó.

2) Những ngôi nhà “hoành tráng” ở Đà Nẵng

Ngôi biệt thự màu trắng là của nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn thị Bình, tọa lạc trên con đường chạy dọc bờ biển Mỹ Khê, ĐN, ngôi biệt thự này là “quà tặng” của thành phố Đà Nẵng, hay nói chính xác hơn là quà tặng của Bí thư thành uỷ Nguyễn bá Thanh biếu không cho bà Bình theo kiểu “chìa khoá trao tay” nghĩa là bà Bình chẳng cần bỏ tiền của, chăm sóc xây dựng gì cả. Dĩ nhiên, hiện nay bà Bình không ở trong ngôi biệt thự này, nhưng bà cho ngoại kiều thuê với giá 2.000 USD/tháng, bởi vì bà cũng như tất cả những quan chức ở Hà nội có không biết bao nhiêu là nhà theo kiểu nầy, trên khắp các thành phố của cả nước, chỗ nào có quy hoạch, giải tỏa đất đai của dân, là các ngài ở trung ương lại được biếu xén những miếng đất ngon lành nhất, rồi sau đó, tuỳ theo chức vụ hay thế lực của từng quan chức để các quan địa phương tính toán để cấp luôn cả tiền xây dựng. Bởi vậy, cho nên người ta chẳng lạ gì khi có biết bao nhiêu đơn tố cáo, khiếu nại gửi ra Trung ương (kể cả đơn tố cáo của những cán bộ, đảng viên tai địa phương như ông Đỗ xuân Hiền chẳng hạn) nhưng ông Thanh vẫn bình chân như vại, thậm chí ông Thiếu tướng CA Trần văn Thanh là người trước kia lúc con làm Giám đốc CA/ĐN đã điều tra vụ ông Nguyễn bá Thanh tham nhũng, cũng đang đứng trước nguy cơ mất chức!

Hai ngôi biệt thự nằm kề nhau này là của 2 cán bộ thành phố ĐN –Bà Lan và ông Hồ Việt (con của Hồ Nghinh nguyên bí thư thành uỷ Quảng Nam ĐN sau 1975). Hai ngôi biệt thự này nằm cách Biệt thự Bà Bình 1 con đường- ta có thể thây biệt thự bà Bình nằm xa bên phải. Có một thời, mấy tên nhà báo nịnh bợ đã gọi Nguyễn bá Thanh là Nguyễn bá THÁNH, nhằm tâng bốc ông ta là tài giỏi, đã biến thành phố Đà Nẵng từ một thành phố nhỏ bé thành rộng lớn “hoành tráng” như hiện nay. Nhưng chúng ta thử xem bên kia sông Hàn có cái gì để ông Thanh phải tự hào. Chẳng có cái gì cả! một khu công nhiệp nhỏ bằng cái lỗ mũi, nhưng cũng chẳng có doanh nghiệp, nhà máy nào (số nhà máy trong đó đếm chưa đầy mấy ngón tay, đến nỗi gần đây phải cắt bớt đất để làm khu dân cư). Ngoài ra chỉ toàn là khu resort, khách sạn của nước ngoài, và biệt thự chẳng biết của ai, kéo dài đến tận núi Sơn Chà. Vậy mà chính quyền thành phố ĐN đi vay tiền để xây dựng 5 cây cầu bắc qua sông. Người ta kháo nhau là “mấy ổng” dùng tiền đi vay xây cầu chẳng qua để làm tăng giá trị những khu đất của mấy ổng bên đó mà thôi.

Phải chăng những ngôi nhà “hoành tráng” ở Đà Nẵng, là xương máu cướp đoạt của nhân dân?

Nguyễn Vọng
Một cư dân thành phố Đà Nẵng

Đại loạn tại Trường Yên

Vấn đề giải toả đất và đền bù không thỏa đáng cho nhân dân vẫn là đề tài muôn thuở của Việt Nam Cộng Sản. Sự ăn chặn tiền đền bù của nhân dân làm cho người dân khắp nơi từ Bắc chí Nam thường xuyên khiếu kiện. Ta hãy xem bài viết của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy: Đại loạn tại Trường Yên, một vùng đất ở gần Hà Nội.

Thursday, March 5, 2009

Cuộc tập kích đã thành công tốt đẹp

Trích Blog Công Lý Và Sự Thật (Blogger Tạ Phong Tần)


Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 04/3/2009, tôi và Luật sư Đạt vừa từ một quán cơm gần Văn phòng trở về thì có 3 xe gắn máy chở 6 thanh niên lạ mặt chạy đến ép xe chúng tôi và ra lệnh "Xuống xe". Không biết chuyện gì xảy ra, tôi hỏi: "Chuyện gì?" thì một thanh niên quát Ls Đạt: "Không liên quan đến anh, anh đi chổ khác. Chị này lên xe tôi". Tôi hỏi: "Anh là ai? Bộ mấy anh muốn bắt cóc tôi sao?". Anh ta bảo: "Chúng tôi mời chị mà chị không đi". Tôi nói: "Các anh có giấy tờ gì mà mời?". Anh thanh niên này chưa kịp trả lời thì bỗng nhiên xuất hiện thêm 1 xe 4 bánh bên hông sơn 2 chữ Cảnh Sát màu xanh và 5-6 người khác, một người đàn ông khoảng hơn 50 tuổi tướng tá bặm trợn ra lệnh: "Không đi thì lôi lên xe", đồng thời ông ta cùng với 3-4 thanh niên khác túm lấy tôi quẳng lên xe chạy thẳng vào bên trong sân trụ sở Công an quận Gò Vấp. Hơn chục thanh niên, đàn ông to khỏe áp đảo duy nhất 1 phụ nữ là tôi. Vậy là cuộc "tập kích" của "quân ta" đã "thành công tốt đẹp".

Xuống xe xong, tôi hỏi: "Ở đây ai làm việc với tôi?". Không ai trả lời. Một người đàn ông đứng tuổi khác đi tới, tôi hỏi ông ta: "Anh là cán bộ ở đây à?". Ông ta nói: "Phải". Tôi hỏi tiếp: "Thế anh tên gì?". Ông ta cũng không trả lời mà lãng đi nơi khác. Người đàn ông bắt tôi lúc quát tôi: "Đi lên lầu, có người làm việc với chị". "Tôi không đi, anh phải cho tôi biết anh là ai, muốn làm việc gì với tôi?". Ông ta không nói không rằng hung hăng xông tới chộp tay tôi bẻ quặt lôi tôi lên lầu 1 và tống vào 1 căn phòng. Trong phòng này có 1 bàn lớn hình chữ nhật và một bàn viết kê nối với nhau và hai hàng ghế gỗ. Trên cái bàn viết có tấm bảng mê ca xanh ghi họ tên chức vụ của một ông Đội phó nào đó. Người thanh niên trẻ khoảng 30 tuổi có nhiệm vụ canh giữ tôi vội vàng lấy tấm lịch để bàn đậy cái bảng tên mê ca lại. Tôi nhìn thấy thái độ của anh ta mà buồn cười. Tôi mới nói: "Anh đậy bảng tên lại làm cái gì? Tôi không quan tâm đến chuyện đó đâu. Cái ông có tên trên bảng ấy đâu có ngồi đây, ông ta cũng đâu đụng chạm gì đến tôi, tôi để ý tên ông ta làm gì. Nếu biết việc mình làm là xấu thì đừng làm, anh che bảng tên ở đây nhưng không che được con mắt của nhiều người nhìn thấy các anh dùng vũ lực bắt tôi trái pháp luật. Hay là các anh lại dí súng vào đầu để bịt mồm bịt miệng người ta đừng nói chuyện này ra? Tôi không làm việc với những người vô danh đâu".

Tôi nói xong thì kéo mấy cái ghế kê lại thành hàng để trèo lên nằm ngủ. Định trèo lên cái bàn dài, nhưng thấy bàn hơi cao, leo lên đó nằm có phần bất lịch sự nên thôi.

Hơn 1 giờ chiều thì có hai người bước vào. Hóa ra là "người quen" tên Hải và Thắng, chính là hai vị đã từng cản trở không cho tôi đến dự phiên tòa xét xử sơ thẩm blogger Điếu Cày. Anh ta gọi tôi thức dậy để "làm việc". Tôi hỏi anh tên Hải: "Anh đến đây với tư cách gì? Nếu anh muốn nói chuyện như anh em thì nói ở chổ khác, không nói ở đây. Nếu anh muốn nhân danh cái gì đó làm việc với tôi thì anh về mặc quân phục vô, đeo bảng tên đàng hoàng rồi làm việc". Anh ta hỏi tôi "Bộ không biết tôi là ai sao mà còn đòi quân phục với bảng tên?". Tôi nói: "Tôi không biết. Các anh dùng vũ lực bắt tôi đến đây thì các anh phải có tên họ đàng hoàng, tôi không làm việc với người không có tên". Anh ta lại yêu cầu tôi phải bỏ điện thoại di động lên bàn, không được nghe điện thoại. Tôi nói: "Cho đến giờ phút này, tôi vẫn là người có đầy đủ quyền công dân, tôi có quyền giữ đồ vật tài sản trong người tôi, tại sao tôi phải bỏ ra. Nếu các anh muốn chiếm đoạt thì cứ việc dùng bạo lực mà chiếm đoạt". Một người nữ khoảng 30 tuổi mặc cái áo ngắn màu nâu nhàu nhĩ ngồi ghế kế bên láu táu chen vào, tôi bực mình quay sang trừng mắt nhìn cô ta: "Ai cho phép cô chen vào? Chuyện riêng của tôi không khiến cô xen vô. Cô là cái gì ở đây? Ăn mặc lôi thôi như thế, cô là ai? Nãy giờ tôi nói chuyện với anh này là tôi còn nể anh ta, chớ cô thì tôi không nói với cô". Cô nọ ngồi im.

Họ thấy tôi không đồng ý tắt điện thoại bỏ ra ngoài bèn gọi vào 4 mụ đàn bà mặc sắc phục an ninh, nhưng chỉ có 1 người đeo bảng tên Nguyễn Thị Nga, 3 người còn lại "vô danh" (không hiểu sao ở chổ này lắm kẻ "vô danh" đến thế?) xông vào nắm tay nắm chân tôi lại để móc túi quần lấy điện thoại di động và tiên trong túi quẳng lên bàn rồi ngăn cản không cho tôi lấy lại. Tôi chỉ thấy buồn cười về cái sự tự xưng là "chính" mà hành vi thì rất "tà", làm việc gì cũng dấm dúi, che giấu.

Suốt gần 30 phút, tôi và người tên Hải tranh cãi nhau nhì nhà nhì nhằng vụ anh ta cho rằng vì anh ta "mời" tôi không được nên "được phép dùng bạo lực". Còn tôi thì yêu cầu anh ta chỉ ra văn bản pháp luật nào quy định cái sự được "phép ấy" nhưng anh ta cứ loanh quanh mãi. Đại khái nó cũng giống như vụ tôi tố cáo Trưởng Công an phường Cầu Ông Lãnh bắt người trái pháp luật mà họ ậm à ậm ừ rồi nín thinh gần 2 năm nay.

Sau đó, "viện binh" tiếp theo là một ông ngoài 50 tuổi, không mặc sắc phục. Tôi hỏi ông này tên gì, cấp bậc chức vụ gì thì ông ta nói mình tên Trần Tiến Tùng, cán bộ Công an Gò Vấp. Tôi nói; "Anh nói thế thì tôi biết thế, thật sự anh có phải tên đó hay không tôi làm sao kiểm chứng được. Anh có giấy chứng nhận ngành cho tôi xem thì tôi mới tin". Ông ta hỏi tôi: "Có cần thiết như vậy không?". Tôi trả lời: "Cần thiết. Tôi cần biết tôi đang làm việc với ai". Ông ta bèn vặn lại tôi là "Chị đến đây có mang giấy chứng minh không?". "Ô hay! Các anh dùng vũ lực bắt tôi đến đây rồi anh hỏi tôi đến đây sao không có giấy chứng minh".

Túm lại là họ cứ viện lý do là gởi giấy mời nhiều lần mà tôi không đến, nhưng tôi yêu cầu họ có giấy tờ gì chứng minh cái sự "nhiều" ấy thì họ chỉ lòi ra được có 2 tờ, mà trong ấy có ghi ý kiến của tôi yêu cầu phải trao giấy mời trước 3 ngày mà tôi đã kể mấy hôm trước. Rồi họ mang ra một đống giấy bảo tôi phải ký tên xác nhận bài viết nào của tôi trong số đó. (Nói chung là tôi và cái nhà ông Tùng kia tranh luận nhiều chuyện rất là loanh quanh, buồn cười, đáng để viết thành một chuyện khôi hài, tôi sẽ kể lại cuộc tranh luận này vào một lúc khác). Tôi trả lời ông Tùng rằng: "Tôi phản đối việc các anh dùng vũ lực bắt tôi đến đây nên tôi không làm việc gì cả. Tôi sẽ làm việc với các anh vào một ngày khác. Các anh có giữ tôi ở đây thì cũng giống như giữ đống đất, đống đá mà thôi. Tôi không viết, không ký bất cứ cái gì hết". Ông ta có nói gì tôi cũng một mực im lặng ngồi gục đầu lên mặt bàn để ngủ, ông ta ngồi giở từng trang giấy đặt trên bàn ra đọc to lên rồi suy diễn ấm ớ theo kiểu khiêu khích cho tôi trả lời. Tôi bảo: "Anh đừng khiêu khích tôi, vô ích thôi. Tôi đã nói hôm nay tôi không làm việc với các anh là không làm việc" .

Anh chàng trẻ tên Thắng thì hung hăng đập bàn quát tôi, nào là "ngoan cố", "Rượu mời không uống muốn uống rựu phạt", "không khoan hồng", v.v... và v.v... . Tôi nhìn anh ta cười nhếch mép: "Hung hăng quá vậy! Thích quát à? Thích quát thì tự quát tự nghe đi nhé. Tôi không nói chuyện với anh". Tôi tiếp tục im lặng.

Một lúc sau, ông Tùng ra ngoài rồi trở vô đề nghị tôi chọn một một ngày khác để làm việc. Anh chàng Thắng lại đứng lên hăng hái chen vào, tôi quay lại bảo anh ta: "Tôi đang nói chuyện với ông này, không nói chuyện với anh", thì anh ta mới hậm hực ngồi xuống.

Cuối cùng, tôi đồng ý nhận 1 Giấy Mời khác làm việc vào lúc 14 giờ ngày 05/3/2009 vì buổi sáng tôi phải đến Thi Hành Án Gò Vấp, còn ngày thứ 6 thì phải đến Tòa án quận 9 làm đại diện theo ủy quyền cho ông Luật kiện ông Nguyễn Minh Luân- Phó Công an quận 9.

Nên hay không nên khai thác quặng Bauxite?

Trích rfa.org

Những vụ tranh cãi về việc nên hay không nên khai thác quặng bauxit trên vùng Tây Nguyên tiếp tục là đề tài chính trong nước đối với giới khoa học hiện nay. Liệu khi khai thác quặng sẽ ảnh hưởng đến môi trường như thế nào và ảnh hưởng này có đáng để làm dừng lại việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên này hay không?

boxit2-250.jpg
Các hồ chứa nước ở Tây Nguyên sẽ bị biến thành nơi chứa bùn đỏ. Photo courtesy of TuanVietnam
Mặc Lâm tìm câu trả lời qua bài phỏng vấn Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, Chủ Tịch Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam ở hải ngoại, về vấn đế này như sau đây.

Mặc Lâm:Thưa Tiến Sĩ, xin ông cho biết việc khai thác quặng bauxit sẽ được tiến hành như thế nào và liệu Việt Nam có đủ năng lực để thực hiện công việc khai thác khó khăn này hay không?

Tiến trình khai thác

TS Mai Thanh Truyết: Quặng bauxit là một loại quặng lộ thiên, nghĩa là chúng ta có thể khai thác thẳng quặng từ mặt đất chứ không cần phải đào đường hầm như khai thác mỏ than hay các quặng kim loại khác. Quy trình khai thác gồm có hai giai đoạn:

Đó là những nguy cơ rất quan trọng, tức là nguy cơ về không khí và nguy cơ về nguồn nước bao gồm nước sinh hoạt và nước ngầm.

TS Mai Thanh Truyết

Giai đoạn đầu là đào xới các quặng mỏ. Dĩ nhiên trong quặng mỏ đó có trộn đất đá và một số kim loại độc hại lẫn trong quặng bauxit, do đó cần phải tách rời ra bằng các phương pháp cơ học, nghĩa là tẩy rửa bằng nước và bằng sút để ra quặng alumina. Alumina là một hợp chất oxýt của nhôm (Al2O3). Còn lại chất phế thải là bùn đỏ trộn lẫn với sút và nước mà chúng ta gọi là một chất bẩn độc hại âm thầm.

Giai đoạn thứ hai thực sự ra quan trọng hơn, vì từ alumina người ta phải sử dụng điện phân để tách ra nhôm ròng. Đây là giai đoạn quan trọng nhứt vì nó đòi hỏi công nghệ cao cũng như cơ sở sản xuất trích ly điện phân rất là cao, trong khi giai đoạn đầu chỉ đòi hỏi những nhu cầu dụng cụ, thiết bị đào xới và nhân công không cần chuyên môn.

Ô nhiễm môi trường, nguồn nước

Mặc Lâm: Các nhà khoa học cho rằng khi khai thác quặng bauxit thì nhiều vấn đề về ô nhiễm sẽ xảy ra, xin Tiến Sĩ đơn cử một vài thí dụ điển hình về ô nhiễm mà người dân sẽ chịu trực tiếp ảnh hưởng sau này.

TS Mai Thanh Truyết: Nói về vấn đề ô nhiễm do khai thác quặng mỏ lộ thiên thì vấn đề bụi là vấn đề đầu tiên chúng ra đặt ra. Bụi ở đây không phải là bụi nằm trong vùng khai thác mà bụi đó sẽ chiếm lĩnh toàn vùng kể cả khu dân cư và khu nông nghiệp. Những bụi đỏ đó sẽ bám trên lá cây trồng trọt trong nông nghiệp, do đó cây trồng không thể phát triển được. Đối với con người, theo quy định của cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ thì bụi phải dưới 10 micro. Khi bụi đó đi vào đường khí quản và vào trong phổi trong một thời gian dài thì người bị nhiễm sẽ đi đến ung thư phổi. Qua kinh nghiệm ở những vùng khai thác mỏ than ở các quốc gia bên Tây Phương người ta thấy tình trạng ung thư phổi vì bụi là rất cao.

Những lập luận của các nhà gọi là khoa học gia đó cho rằng đất không tốt cho cây cỏ thì tôi nghĩ rằng cách nói đó chỉ để đáp ứng cái quyết tâm của chính phủ Việt Nam hiện tại là muốn khai thác bauxit.

TS Mai Thanh Truyết

Mặc Lâm: Ngoài bụi là vật có thể thấy và cảm nhận được ngay trước mắt thì các nhà môi trường còn lo về vấn đề nguồn nước sẽ bị độc chất tấn công, nhất là nguồn nước ngầm sử dụng trong sinh hoạt. Tiến Sĩ có chia sẻ gì về những quan tâm này, thưa ông?

TS Mai Thanh Truyết: Dĩ nhiên khi đào sới thì lớp đất thịt ở trên mặt sẽ không còn nữa và bùn đỏ có trộn lẫn hóa chất như sút và một số kim loại độc hại cũng như arsenic (thạch tín) là một kim loại kết hợp ái lực với sắt trong thiên nhiên chiếm tỷ lệ 4-5% trong đất, thì tất cả loại bùn đỏ đó sẽ chiếm một diện tích lớn trong việc khai thác. Người ta ước tính muốn khai thác một hecta quặng bauxit thì sẽ tái sinh ra 2 hecta bùn đỏ, và qua thời gian, qua mưa bão thì bùn đỏ có thể xâm nhập vào nguồn nước ngầm làm cho nguồn nước ngầm bị ô nhiễm. Thứ hai nữa, nước bùn đỏ, đặc biệt là tại vùng Đắc-Nông và Nhân Cơ, thì bùn đỏ đó qua mưa có thể di chuyển theo các rạch nước để đi vào sông suối thượng nguồn của sông Đồng Nai. Và như chúng ta đã biết, sông Đồng Nai là nguồn nước cung cấp cho toàn vùng Miền Đông Nam Bộ và đặc biệt là TP.HCM. Đó là những nguy cơ rất quan trọng, tức là nguy cơ về không khí và nguy cơ về nguồn nước bao gồm nước sinh hoạt và nước ngầm.

Hiệu quả kinh tế?

Mặc Lâm: Những người ủng hộ việc khai thác bauxit cho rằng trong tình hình khó khăn hiện nay, quặng bauxit trong thiên nhiên sẽ giúp Việt Nam tăng thêm nguồn thu nhập rất lớn. Liệu sự đánh giá này có làm giảm bớt sự lo ngại về môi trường hay không, thưa ông?

Vậy xét về hiệu quả kinh tế thì hoàn toàn không có hiệu quả kinh tế, nhưng thảm nạn về môi trường, về dân sự, chính trị, văn hóa sẽ ảnh hưởng về lâu về dài.

TS Mai Thanh Truyết

TS Mai Thanh Truyết: Câu hỏi này, về phương diện hiệu quả kinh tế và về phương diện điều kiện hiện có ở Việt Nam, chúng tôi thấy hoàn toàn không có hiệu quả kinh tế. Lý do là hiện nay khu Nhân Cơ và Đắc-Nông là hai khu trồng tiêu và cà phê, đây là hai nguồn lợi rất lớn. Tính ra một hecta tiêu hay một hecta cà phê có thể đem lại nguồn lợi cho người dân hiệu quả kinh tế từ 2 đến 3 ngàn đôla, trong lúc đó khai thác một diện tích bauxit 4 hecta chỉ cho ra 2 tấn alumina. Một tấn alumina có giá trị khoảng 3-4 trăm đôla mà thôi. Nhưng cả vùng đất đó sẽ bị hoang hóa trong tương lai. Vậy xét về hiệu quả kinh tế thì hoàn toàn không có hiệu quả kinh tế, nhưng thảm nạn về môi trường, về dân sự, chính trị, văn hóa sẽ ảnh hưởng về lâu về dài.

Mặc Lâm: Nhưng cũng chính những bản nghiên cứu của tỉnh Đắc Nông cho biết là các loại cây công nghiệp như cà phê hay tiêu thì không phát triển tốt được trong vùng đất có quặng bauxit vì quặng nằm sát mặt đất cản trở cho hệ thống phát triển của các loại cây này. Ông nghĩ sao về những quan điểm như vậy?

TS Mai Thanh Truyết: Tôi hoàn toàn không đồng ý. Những cây trồng trong hiện tại như cà phê, trà hay tiêu là những cây trồng thuộc loại cây nhỏ, nghĩa là chỉ bám trên mặt đất mà thôi. Vùng Tây Nguyên là vùng đất trước kia là vùng núi lửa cách đây hàng triệu năm, do đó vùng đất này gọi là đất bazan (đất đỏ) rất tốt cho việc trồng cao su, trà, cà phê. Những lập luận của các nhà gọi là khoa học gia đó cho rằng đất không tốt cho cây cỏ thì tôi nghĩ rằng cách nói đó chỉ để đáp ứng cái quyết tâm của chính phủ Việt Nam hiện tại là muốn khai thác bauxit.

Mặc Lâm: Xin cảm ơn TS Mai Thanh Truyết đã dành cho chúng tôi thời gian cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.

Wednesday, March 4, 2009

Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân

TRANG SỬ CŨ: Cố Thiếu Tướng TRƯƠNG QUANG ÂN Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh
03.03.2009 00:08

PHAN NHẬT NAM

Để biết được đầy đủ hơn về cuộc đời kiệt liệt của một người lính cực lớn, chúng ta phải bắt đầu lại chuyện kể từ thời điểm sớm nhất, ngày TSQ Trương Quang Ân tốt nghiệp thiếu úy khóa 7 Sĩ Quan Hiện Dịch Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt với vị thứ thủ khoa, tháng 12, năm 1952.



Thiếu úy Trương Quang Ân có đủ tất cả điều kiện thuận lợi để được thuyên chuyển đến một văn phòng bình yên tránh nơi lửa đạn, hoặc một đơn vị tham mưu, chuyên môn (mới thật sự đúng với khả năng tham mưu sắc sảo của ông sẽ được chứng thực ở thời gian sau). Nhưng không, ông đã chọn binh chủng Nhảy Dù, đơn vị tổng trừ bị cho những chiến trận lớn nổ rộng suốt miền châu thổ Bắc Việt Nam, nơi những đỉnh núi cao lẫn trong mây vùng bắc Trường sơn dọc biên giới Lào Việt.

Trận Bản Hiu Siu cuối năm 1953 bùng nổ trên vùng Cánh Đồng Chum nơi cao nguyên Trấn Ninh, vị trí xung trí xung yếu của miền Trung Lào, đầu nguồn sông Nậm Ngung, do tướng Cogny, tư lệnh quân đội Pháp miền bắc Đông Dương chỉ huy có mục đích bẻ gãy mũi tiến công của cộng sản có ý tiến về thủ đô Vạn Tượng của Lào (nhưng sau nầy hồ sơ trận liệt giải thích, và giải thích đúng, đấy là ý niệm điều quân của phía bộ đội cộng sản cố đánh lạc hướng, hoặc là cách nhử quân đội Pháp chiếm đóng Điện Biên Phủ) Bộ phận địa phương giữ Bản Hiu Siu xin quân tăng viện, Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù, đơn vị đầu đời của Thiếu úy Trương Quang Ân nhảy xuống với 2 đại đội của Tiểu đoàn 7 Dù tăng pháị (Lưu ý, tất cả các tiểu đoàn Dù vào giai đoạn nầy mang phiên hiệu BEP hoặc BPC - Battaillon Parachustiste Colonial, thuộc Liên đoàn Không vận số 3 (GAP/3è- Groupe Aeroporté) của quân đội Liên hiệp Pháp; chỉ mỗi Tiểu đoàn 5 Dù nơi miền Nam mới có danh hiệu Tiểu đoàn Nhảy Dù Việt Nam (BPVN) Trận đánh không cân sức diễn ra ngay từ phút đầu tiên vì bộ đội Việt Minh sẵn có ưu thế quân số, chuẩn bị, chọn lựa và chiếm giữ trận địa.

Nhưng dần dần thắng lợi nghiêng về phía quân Nhảy Dù bởi sức chiến đấu quá đổi kiên cường. Phản công, giữ vững, kiểm soát được những vị trí xung yếu của vùng Cánh Đồng Chum, đẩy quân đội cộng sản trở về hướng Bặc Thành. Quả chiến trận không phải là điều bất ngờ, bởi Tiểu đoàn 3 Dù là một đơn vị ngoại hạng của 17 tiểu đoàn tổng trừ bị mặt trận phía bắc Việt Nam, như trường hợp một đơn vị bạn khác, Tiểu đoàn 6 Dù (6è BEP) đã từng chận đứng một sư đoàn cộng sản (SĐ/320) để những đồn bót thuộc tả ngạn sông Đà có thời gian triệt thoái trong chiến dịch rút bỏ Na Sản, Nghĩa Lộ (cùng năm 1953) Kết quả trận đánh đồng thời đã chứng minh cho thành phần lãnh đạo Pháp Việt thấy rõ một yếu tố mới: những sĩ quan trẻ, những hạ sĩ quan, binh sĩ người Việt (tình nguyện) trong đơn vị chính là nhân tố kết nên thắng lợi.

Quân đội chỉ mới khai sinh trong vài năm qua (1951) nay đã dần trở nên là đạo quân chính qui của một quốc gia đang trong giai đoạn lịch sử quyết định về bản lãnh và giá trị của mình. Chiến sử dài theo những năm sau đã chứng thật đánh giá buổi ban đầu nầy: Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù Việt Nam là một trong những đơn vị đầu tiên của quân đội Cộng Hòa được tuyên dương Bảo quốc huân chương, kỳ hiệu đơn vị mang dây biểu chương Tam hợp vàng xanh đỏ do công trận chỉ huy bởi những những thiếu úy, trung úy của năm 1953 nầy, những sĩ quan có tên Trương Quang Ân, Phan Trọng Chinh...

Bộ tư lệnh quân đoàn viễn chinh Pháp với lớp cán bộ nhà nghề cũng đã nhận ra khả năng lãnh đạo tiềm ẩn nơi viên thiếu úy trẻ tuổi mà họa hằm lắm mới biểu lộ ra đối với những sĩ quan trẻ tuổi cực kỳ xuất sắc, như những Thiếu úy de Gaulle, de Lattre của học viện quân sự Saint Cyr, những người đã từng nắm giữ vận mệnh quốc gia và quân đội Pháp, nên họ mau chóng đưa Trung úy Ân vào trường tham mưu quân sự tại Pháp vào năm sau, 1954 khi ông vừa được đặc cách vinh thăng trung úy tại mặt trận.
Những sĩ quan chỉ huy Trường Sĩ Quan Đà Lạt và ở bộ tham mưu Liên đoàn Không vận số 3 quả thật đã không lầm khi đánh giá như trên. Hơn thế nữa, họ còn có dự định chọn viên trung úy ngoại hạng nầy vào chức vụ chỉ huy Đại đội xung kích Lê Dương Sen Đầm cho chiến trường Algérie đang bắt đầu có dấu hiệu sôi động. Khóa sĩ quan tham mưu tại Pháp cốt để làm đầu cầu cho dự định nầy. Thêm một lần nữa, ông lại đỗ thủ khoa khóa học, trên cao hơn toàn thể những học viên có 75 quốc tịch của khối Liên hiệp Pháp, đa số là người Tây Âu.

Trung úy Trương Quang Ân đậu hạng thủ khoa mà không hề có tị hiềm từ những học viên, bởi qua bản tự đánh giá, khóa học đồng ý hầu như toàn thể về người sĩ quan Việt Nam tài năng xuất sắc nầy. Sau thất bại Điện Biên Phủ, tháng 5, 1954, bộ tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp cố gắng tập trung những tiểu đoàn Nhảy Dù còn lại ở miền Bắc đưa gấp vào Đà Nẵng, Nha Trang, để từ đây có kế hoạch tái trang bị, bổ sung sang chiến trường Bắc Phi. Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù trở nên đơn vị trụ cột đầu tiên của Liên đoàn Nhảy Dù Việt Nam, thành lập ngày 29 tháng 9, 1954, và Trung úy Trương Quang Ân ở lại với quân đội Việt Nam dưới phiên hiệu đơn vị mới như một điều tất nhiên, nhưng cũng do lời kêu gọi từ một Thiếu sinh quân khác, người anh cả của toàn quân, Thiếu tướng Lê văn Tỵ, vị Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mở đầu kỳ độc lập, tự chủ nơi miền Nam, 29 tháng 11, năm 1954.

Ngày 1 tháng 1, 1955 bắt đầu năm mới với những biến động chính trị nghiêm trọng xẩy ra tại thủ đô Sài Gòn từ những mầm mống va chạm sẳn có giữa các lực lượng giáo phái, tổ chức vũ trang với chính phủ Thủ tướng Ngô Đình Diệm vừa được thành lập ngày 20 tháng 7, 1954. Chính phủ mới mang đủ tất cả gánh nặng của quá khứ gần 100 năm lệ thuộc người Pháp, tình thế quân sự suy sụp hỗn loạn sau thất trận Điện Biên Phủ của quân đội Pháp và công cuộc định cư hơn triệu người di cư từ miền Bắc vào Nam.

Các lực lượng chống đối kết hợp thành Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia yêu cầu Thủ tướng Ngô Đình Diệm giải tán nội các, cải tổ chính phủ và chấp thuận để họ duy trì tình trạng cát cứ của những tổ chức quân sự tại những địa phương riêng biệt. Chính phủ Sài Gòn giữ nguyên lập trường: thống nhất quân đội trước khi bàn đến những cải tổ chính trị. Thành phần mặt trận gồm 3 khuynh hướng: Phe ôn hòa muốn trở về hợp tác với chính phủ; phe trung lập không có ý kiến và thành phần quá khích nhất quyết tổ chức nổi loạn quân sự.

Lực lượng Bình Xuyên dưới quyền chỉ huy của Thiếu tướng Lê văn Viễn (quân hàm do chính phủ Pháp trao gắn theo nguyên tắc đồng hóa) thuộc nhóm thứ ba. Ngày 1 tháng 1, 1955 Thủ tướng Ngô Đình Diệm đóng cửa các cơ sở kinh tài quan trọng của Bình Xuyên, sòng bạc Đại Thế Giới, Kim Chung và nhà chứa Bình Khang; ngày 26 tháng 4, cách chức tổng giám đốc Cảnh sát và Công an của Lại văn Sang, một người thân tín đắc lực của Thiếu tướng Viễn.

Cuối cùng việc phải đến, ngày 28 tháng 4, lực lượng Bình Xuyên nổ súng tấn công quân chính phủ, nhưng Liên đoàn Nhảy Dù với 4 Tiểu đoàn 1, 3, 5, 6 đã hình thành những trụ cột chống đỡ nền móng quốc gia. Chỉ một ngày sau, quân Nhảy Dù đã làm chủ tình hình toàn bộ đô thành Sài Gòn, Chợ Lớn. Ngày 30 tháng 4 Nhảy Dù và Bình Xuyên dàn trận đối diện dọc kinh Đôi bên kia cầu chữ Y.

Dù đã được người Pháp ngấm ngầm hỗ trợ nhưng Bình Xuyên không thể nào là địch thủ của những tiểu đoàn Nhảy Dù thiện chiến nên mặt trận Sài Gòn mau chóng kết thúc vào ngày 5 tháng 5, tàn binh Bình Xuyên rút về Rừng Sát, vùng sình lầy dọc theo sông Sài Gòn và Đồng Nai lập thế chống cự. Tháng 9, lực lượng chính phủ mở cuộc hành quân Hoàng Diệu truy quét đám phản loạn, cũng với lực lượng Nhảy Dù làm thành phần xung kích.

Ngày 24 tháng 10 kết thúc chiến dịch, nơi khuôn viên Dinh Dộc Lập lần đầu tiên diễn ra khung cảnh đại hội ân thưởng toàn quân kể từ ngày mở nước về phương Nam. Cũng là lần đầu tiên, quân, quốc kỳ cùng bay rạng rỡ trên kỳ đài tòa dinh thự báo hiệu thống nhất quân đội, chủ quyền quốc gia qui về một mối.

Trung úy Trương Quang Ân đứng hàng đầu giữa những chiến binh của quân đội Cộng Hòa được tuyên công. Ông được trao gắn một lần hai Anh dũng bội tinh với nhành dương liễu, hiện tượng độc nhất đã xẩy ra trong các quá trình nghi lễ trao gắn huy chương. Cho dù về sau nầy khi chiến trường trở nên nặng độ và có những chiến công lớn lao với những nhân vật xuất chúng khác như Lưu Trọng Kiệt, Hồ Ngọc Cẩn... cũng không hề được lập lại thêm lần thứ hai. Năm 1957, Đại tá Nguyễn Chánh Thi thay thế Đại tá Đỗ Cao Trí giữ chức tư lệnh Liên đoàn Nhảy Dù.

Đại úy Trương Quang Ân cùng với viên tiểu đoàn trưởng, Thiếu tá Phan Trọng Chinh, rời Tiểu đoàn 3 Dù về bộ tư lệnh với chức vụ mới, trưởng phòng 3, và tham mưu trưởng Liên đoàn. Bộ tư lệnh Liên đoàn Nhảy Dù với thành phần sĩ quan chỉ huy, tham mưu tài năng mới mẻ nầy đã nhanh chóng canh tân, trở nên một đại đơn vị mẫu mực đối với toàn quân, có phẩm, lượng cao về khả năng hành quân tác chiến lẫn tổ chức tham mưu.

Một sự kiện quan trọng xẩy ra trong đời sống cá nhân Đại úy Trương Quang Ân, đồng thời cũng là một biểu tượng đặc thù của binh chủng nếu không nói của toàn quân độị Ông làm lễ thành hôn với Chuẩn úy Dương thị Kim Thanh, một trong những nữ quân nhân đầu tiên của binh chủng Nhảy Dù. Cuộc kết ước được chính vị tư lệnh làm chủ hôn, và hôn lễ được thực hiện theo nghi thức thuần túy quân đội: Đại úy Trương Quang Ân trao nhẫn đính hôn cho nữ Chuẩn úy Dương thị Thanh từ nơi cửa máy bay, xong hai người cùng nắm tay điều khiển dù nhảy xuống đất nơi bãi đáp Ấp Đồn, Hóc Môn.


Trương Quang Ân (1932-1968)
Dương Thị Kim Thanh (1931-1968)


nguồn: Người Việt Boston

Cảnh tượng cảm xúc trên chắc hẳn không phải là màn trình diễn của đôi vợ chồng trẻ muốn làm nên sự kiện độc đáo ngoạn mục, nhưng đấy là hành vi biểu hiện lòng sắc son của hai người lính muốn kết hợp lời nguyền hiến dâng đời sống bản thân, gia đình cho Quân Đội và Tổ Quốc. Chúng ta không nói điều ước đoán theo cảm tính, bởi cuộc sống đầy chiến đấu của hai người suốt quãng đời tiếp theo đã hiện thực nghi lễ cao thượng của buổi thanh xuân nầy trong bầu trời và trên mặt đất quê hương.

Năm 1959, Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù được thành lập, Đại úy Trương Quang Ân nhận lãnh chức vụ tiểu đoàn trưởng đầu tiên của đơn vị. Lần xuất quân của Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù cũng là dịp phá vỡ huyền thoại về mật khu Bời Lời (vùng tây bắc ven đô nằm dọc sông Sài Gòn), căn cứ địa đã được lực lượng quân sự cộng sản thành hình từ chiến tranh 1945-1954, nay đang được củng cố cho cuộc chiến mới với nhiệm vụ chiến thuật quan trọng, từ đây làm khu vực bản lề tiếp vận của 3 tỉnh Gia Định, Bình Dương, Hậu Nghĩa, hình thành đầu cầu để tiến chiếm Sài Gòn (chiến dịch Mậu Thân 1968 chứng thực cho quan điểm chiến thuật nầy) Tiểu đoàn 8 Dù đã truy kích địch dài theo con sông, phá vỡ toàn thể những địa đạo vừa được xây dựng, đánh bật tất cả các cụm, tổ du kích, đuổi sạch đám cán bộ vừa trở lại từ miền Bắc, nay được gài chặt với cơ sở địa phương để hình thành lớp cán bộ hạ tầng của Mặt trận giải phóng miền Nam.

Công trận nầy cùng lần với những đơn vị quân đội khác đã kiến tạo nên một thời hưng thịnh bình yên từ 1954 đến 1960 ở miền Nam. Dân chúng từ Sài Gòn có thể ra đi bất cứ nơi nào trong đêm và trở lại thủ đô vào giờ rạng sáng để làm việc. Có mấy ai trong thuở ấy và sau nầy nhớ lại buổi bình an kia để nhắc nhở đến gian khổ của mỗi người lính, những người không ai biết đến tính danh. Người hiến dâng đời sống mình cho quê hương, đồng bào nhưng không hề nói lên lời, dù là lời đơn giản, khiêm nhượng. Biến cố 11 tháng 11, 1960 lần đầu tiên đẩy quân đội trực tiếp tham dự vào diễn trường chính trị, Liên đoàn Nhảy Dù lại là thành phần nòng cốt quyết định để thực hiện việc dứt điểm chế độ và người lãnh đạo.

Nhưng Đại úy Trương Quang Ân đã vô cùng tinh tế để nhận rõ nguyên do lẫn hậu quả của lần bạo loạn tranh chấp, ông từ nhiệm cáo bịnh lánh mặt khỏi cảnh huống khốc liệt, vị tiểu đoàn phó được chỉ định tạm thời thay thế ông trong tình thế khẩn cấp. Cuộc đảo chính 11 tháng 11 thất bại, những giới chức cao cấp của Liên đoàn Dù phải chịu cảnh chạy trốn, lưu vong ra khỏi nước, hoặc bị bắt giữ; các đơn vị phải tái biên chế, xáo trộn, thay đổi cấp chỉ huy. Chỉ riêng Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù vẫn giữ nguyên phong độ và khả năng chiến đấu truyền thống bởi Thiếu tá Trương Quang Ân lại trở về, giữ vững đơn vị tồn tại, phát triển sau cơn hỗn loạn.

Năm 1962, ông di chuyển từ trại Trần Quí Mại của Tiểu đoàn 8, nơi khuôn viên căn cứ Hoàng Hoa Thám của Lữ đoàn Nhảy Dù trong phi cảng Tân Sơn Nhất về trại Quang Trung, Tam Hiệp, Biên Hòa, bản doanh Tiểu đoàn 5 Dù, cũng là của Chiến đoàn 2 Dù, đơn vị chỉ huy chiến thuật vừa được thành lập gồm các Tiểu đoàn 5, 6, 7. Doanh trại xây trên một ngọn đồi hùng vĩ bên cạnh sông Đồng Nai, và người chỉ huy đầu tiên của đơn vị tân lập đã thực hiện những nền tảng vô cùng kiến hiệu để các tiểu đoàn thuộc quyền có điều kiện thuận lợi khai triển tối đa năng lực chiến đấu với tầm vóc mới.

Thiếu tá Trương Quang Ân đã chứng thực một khả năng lãnh đạo lớn trong cương vị mới, với kích thước của người chỉ huy tài năng, đạo đức tưởng chừng chỉ có trong những huyền thoại về những con người của lịch sử phương Đông xưa cũ. Vào một buổi họp của toàn thể sĩ quan thuộc các tiểu đoàn trực thuộc và bộ tham mưu chiến đoàn, mọi người đã vào ghế ngồi để đợi vị chỉ huy trưởng. Cây kim chỉ phút của chiếc đồng hồ ở phòng hội sắp sửa chập vào số 12 để chỉ đúng 12 giờ, giờ bắt đầu buổi họp, nhiều người sửa soạn đứng lên để chào đón chiến đoàn trưởng, họ nhìn ra cửa, hướng về phía văn phòng của Thiếu tá Ân cách hội trường một khoảng đồi khá xa, trống trải nằm phơi dưới nắng hạ chí miền Nam.

Bỗng một bóng người xuất hiện từ khung cửa căn phòng, gỡ chiếc nón đỏ cầm tay và chạy về phía hội trường với tốc độ cực nhanh, Thiếu tá chiến đoàn trưởng Trương Quang Ân bước vào hội trường. Sau khi đội lại chiếc mũ, chào tay trả lại lệnh chào kính của toàn thể sĩ quan. Ông nói gấp: - Xin lỗi quí vị sĩ quan, tôi bị trễ gần một phút vì phải trả lời điện thoại với Đại tá tư lệnh, nên anh em phải ngồi đợi!

Thiếu tá Ân nhìn lên kim đồng hồ vừa nhếch quá chữ số 12. Tính chính xác, hành vi nghiêm chỉnh, sự kính trọng đối với tất cả các cấp quân đội là cách xử thế thường hằng mà người chỉ huy Trương Quang Ân luôn thực hiện, tổng hợp tấm lòng của kẻ sĩ khiêm cung, nhân ái và tính nguyên tắc, tinh thần trách nhiệm cao của người lính. Hàng tháng, nếu không phải bận hành quân, ông soạn lịch trình đến thăm viếng, kiểm soát những tiểu đoàn thuộc quyền.

Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù của Thiếu tá Nguyễn văn Minh, người bạn cũ cùng Trường Thiếu Sinh Quân là đơn vị ông lưu tâm nhất vì ở nơi xa xôi (Vũng Tầu) so với 2 tiểu đoàn 5, 7 cùng trong vùng Biên Hòa của chiến đoàn. Mỗi lần thăm viếng đều được ông chuẩn bị nghiêm chỉnh như một cuộc thanh tra đơn vị, mà bản thân ông là người trước tiên phải hội đủ khả năng, tư cách, phẩm chất của một giới chức chỉ huy, thanh tra.

Trước ngày đi, ông nói cùng Đại úy Nguyễn Thái Hợp, nay đã kiêm nhiệm chức vụ tham mưu trưởng chiến đoàn:

- Đại úy nhớ nhắc nhở, kiểm soát anh em mình phải mang đủ bi đông nước, lương khô để khỏi làm phiền dưới Tiểu đoàn 6 nghe!

- Nhưng Thiếu tá Minh đã báo cho tôi bằng 106 (máy truyền tin siêu tần số dùng bạch thoại để chuyển những nội dung không cần phải mã hóa) là dưới đó đã chuẩn bị bữa ăn cho chiến đoàn mình rồi Thiếu tá!

Đại úy Hợp vội vã trả lời.

- Cơm thân mật trong tiểu đoàn hay tiệm ngoài phố?

Thiếu tá Ân hỏi gấp.

- Vâng, ở một tiệm nơi Bãi Sau!

- Vậy đại úy phải nói liền với Thiếu tá Minh là tôi không nhận. Mình đi thanh tra tiểu đoàn chứ đâu phải đi Vũng Tàu tắm biển, ăn tiệc!

Cuối cùng, ông lên xe với nón sắt hai lớp, súng Colt nơi thắt lưng có bi đông nước đầy, gói lương khô, và ngồi thẳng trong suốt chặng đường đi từ Tam Hiệp, Biên Hòa về đến Tiểu đoàn 6 ở Vũng Tàu.

- Đường đi xa hơn trăm cây số, Thiếu tá dựa lưng một chút cho đỡ mỏi!

Người tài xế ái ngại nhắc nhở.

- Không được đâu, mình tới thăm viếng, thanh tra mà lưng áo bị nhăn như thế trông thấy có vẻ thiếu kính trọng đơn vị và anh em! Thiếu tá Ân giải thích với người tài xế, không quên hỏi thêm:

- Mà anh có đem đủ bi đông nước dùng cho cả ngày và nhớ bỏ thuốc lọc nước vào chưa?

Cũng liên quan đến người tài xế, chiếc xe, một hôm ông gọi bà vào văn phòng với vẻ nghiêm trọng, và sau đó có những lời:

- Mình là sĩ quan nữ quân nhân, mình biết cũng rõ quân kỷ như tôi; thế nên, chiếc Jeep là của chiến đoàn cấp cho chiến đoàn trưởng, chứ không phải cho riêng cá nhân tôi. Vậy khi nào mình đi thăm gia đình binh sĩ với tư cách chủ tịch gia đình binh sĩ Chiến đoàn 2 thì mình sử dụng và ngồi vào ghế trưởng xa. Nhưng ngoài giờ làm việc, nếu cần chú tài xế đưa đi đâu thì mình phải ngồi băng sau, vì xe đó là của quân đội chứ đâu phải của riêng gia đình mình.

Tôi đã dặn chú ấy, khi nào không có mặt tôi thì lưng ghế trưởng xa phải gập xuống, vậy mình đừng bảo chú ấy làm trái lời tôi!

Bà im lặng nghe, và tuân theo lời ông không một phản ứng nhỏ tị hiềm, khó chịu, dẫu bà chỉ thua ông một cấp bậc. Đầu năm 1965 để chuẩn bị đưa ông vào những chức vụ cao hơn, Bộ Tổng tham mưu tuyển chọn Trung tá Ân theo học Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ.

Vào thời điểm nầy, tiếng Anh vẫn còn là một ngôn ngữ xa lạ đối với những sĩ quan xuất thân từ quân đội Liên hiệp Pháp, nhưng ông đã vượt qua khỏi trở ngại kia bằng biện pháp: luôn luôn trên tay, trước mặt, trong tầm với, có những sách tự học Anh ngữ. Ông vào Trường Sinh Ngữ Quân Đội với thái độ chuyên cần của một sinh viên chuyên khoa, và sử dụng toàn bộ thời giờ vào công việc đọc, viết, học tài liệu khóa học và tài liệu nghiên cứu.

Và cũng như hai mươi năm trước, Trung tá Trương Quang Ân lại tốt nghiệp khóa học với vị thứ thủ khoa kèm lời khen ngợi nồng nhiệt kính phục từ ban giám đốc trường. Đây là học viên tốt nghiệp với số điểm cao nhất từ trước đến naỵ Ông đứng đầu trên 45 sĩ quan cao cấp của quân đội toàn thế giới, kể cả những tướng lãnh, cấp tá thuộc quân lực Mỹ.

Năm 1966, trong buổi tiệc tiễn ông đi làm tỉnh trưởng Gia Định, binh sĩ, hạ sĩ quan của bộ chỉ huy chiến đoàn và sĩ quan của những tiểu đoàn trực thuộc trong vùng Biên Hòa đều được mời tham dự. Mỗi người có một hộp giấy gồm 2 pâté chaud, 2 bánh ngọt và 1 sandwich; thức uống gồm một chai bia và nước ngọt Quân tiếp vụ.

Trung sĩ Đâu, Ban 2 chiến đoàn vốn là tay ưa ăn nhậu, cất tiếng rổn rảng:

- Trung tá đi làm tỉnh trưởng cái tỉnh to nhất nước mà không cho tụi em uống một bữa cho đã!

Trung tá Ân nghiêm sắc mặt, nhưng từ tốn nói với Đâu:

- Trung sĩ Đâu nói như vậy là phụ lòng tôi, bữa tiệc nầy là do tiền lương tôi xin lãnh trước để đãi anh em. Chứ còn như trong Chợ Lớn đã có mấy tiệm ăn, tửu lầu gì đó, nghe tin tôi về làm tỉnh trưởng, họ đã đưa đề nghị đãi hết người của chiến đoàn mình. Nhưng đó là của họ, mình ăn làm chi anh Đâu!

Căn phòng im lặng, lắng xuống, Đâu cười cười:

- Em nói giỡn cho vui thôi, tụi em biết ông thầy nghèo mà, ông thầy cho uống chi tụi em cũng chịu hết. Vì được ở với ông thầy là vui rồi, nay ông thầy đi tụi em buồn lắm!

Vô tình, Đâu đã nói lời tiễn biệt chính xác, hàm xúc nhất với tấm lòng đơn giản trung hậu của người lính đối với một cấp chỉ huy hằng sống với đơn vị mà âm hưởng luôn bền chặt tồn tại. Nhưng nếu có một lần người chỉ huy Trương Quang Ân phải chịu nhận phần tiêu cực thất bại trong toàn bộ sự nghiệp của mình lại là chính với chức vụ không tiếng súng, tại văn phòng bình yên nơi tòa tỉnh trưởng Gia Định. Vào một ngày của năm 1967, Đại tá tỉnh trưởng Gia Định nhận danh thiếp thiếu tá chánh văn phòng của vị phu nhân một viên tướng cao cấp nhất của quân lực.

Viên thiếu tá đặt lên bàn giấy ông tỉnh trưởng tập hồ sơ thổ trạch đứng tên bà tướng với lời yêu cầu ông phê chuẩn sự hợp thức hóa tình trạng sỡ hữu phần đất của bà. Sau khi xem xét kỹ hồ sơ và những qui định hành chánh về thủ tục hợp thức hóa đất đai thuộc phạm vi tỉnh, Đại tá tỉnh trưởng Trương Quang Ân có lời quyết định:

- Thiếu tá có thể trở về trình với bà tướng như thế nầy: Tôi đã xem xét kỹ càng về thủ tục hợp thức hóa thổ cư, điền thổ theo như các qui định hành chánh cho phép, nhưng lô đất nầy dẫu thuộc về tỉnh Gia Định, cũng là công thổ quốc gia nên tôi không thể hợp thức hóa quyền sỡ hữu của bà đối với phần đất đó được! Khoảng một thời gian ngắn sau, viên thiếu tá trở lại với lá thư viết tay của bà tướng cũng với yêu cầu như đã kể với lời lẽ quyết liệt dứt khoát hơn, kèm theo ý nghĩa đe dọa, chức vụ ông có thể bị ảnh hưởng xấu nếu tiếp tục đường lối cũ.

Và Đại tá tỉnh trưởng Gia Định cũng trả lời dứt khoát với nội dung minh bạch như đã nói một lần:

- Công thổ, công điền không thể bị chiếm đoạt, sang nhượng cho bất cứ ai. Kết quả Đại tá tỉnh trưởng Gia Định bàn giao chức vụ lại cho một viên đại tá sau nầy phải ra tòa vì tội buôn lậu và tham nhũng.

Đại tá Trương Quang Ân rời tỉnh Gia Định với luyến tiếc của mọi tầng lớp thân hào, nhân sĩ cùng binh sĩ, đồng bào các quận ven đô. Hãy nghe anh Heo, trung đội trưởng Nghĩa quân ấp Vĩnh Lộc, xã Tân Sơn Nhì, quận Tân Bình nói với chúng tôi (Tiểu đoàn 9 Dù đang giữ an ninh vòng đai Biệt khu Thủ đô vào thời điểm 1966-1967):

- Từ khi có ông tỉnh với mấy anh về đây, ban đêm tui ngủ ở nhà và đi nhậu như ở Sài Gòn!

Nếu Đại tá tỉnh trưởng Trương Quang Ân còn ở Gia Định vị tất các đơn vị Việt cộng có thể ngang nhiên tập trung nơi những chỗ ém quân ở Nhị Bình, Thạnh Lộc (Gò Vấp), hoặc Bà Điểm, Bà Hom (Hóc Môn), hay Phú Lâm, An Lạc (Bình Chánh)... để tấn công vào Sài Gòn trong những ngày đầu năm 1968. Và nếu điều nầy không xẩy ra thì chắc rằng mặt trận Sài Gòn Chợ Lớn Gia Định ắt sẽ có những hình thái khác. Đau thương của dân chúng, sinh mạng người lính hẳn sẽ bớt phần khốc liệt oan khiên hơn. Nhưng bởi người lính đã ra đi. Vị tỉnh trưởng thanh liêm phải rời bỏ nhiệm sở.

***

Phi trường Phụng Dực Ban Mê Thuột hôm ấy có một sinh hoạt khác hơn ngày thường với giàn quân nhạc của Sư đoàn 23 Bộ Binh đứng xếp hàng nhiêm chỉnh. Phòng khách phi trường được quét dọn sạch sẽ, có mặt gần như đầy đủ thành phần sĩ quan cao cấp của đơn vị và tiểu khu Darlac, đơn vị hành chính cùng có chung một địa bàn hoạt động với Sư đoàn, lực lượng diện địa quan yếu của Khu 23 Chiến thuật.

Chiếc máy bay C-47 hàng không quân sự đáp xuống, lố nhố những hành khách quân nhân và gia đình ào ra từ cửa máy bay. Giàn quân nhạc chuẩn bị nhạc cụ, sửa soạn trình tấu khúc Thượng Cấp Võ; đám sĩ quan vội vã xếp đội hình, tất cả chờ đợi viên tân tư lệnh xuất hiện. Họ chờ một tướng lãnh mặt trận có uy danh với những chiến công nơi trận địa mà ông đã thu đạt từ binh chủng Nhảy Dù qua những chức vụ sĩ quan chỉ huy những đơn vị tác chiến. Nhưng vị tướng với vóc dáng, y phục, cách thế như chờ đợi ấy đã không xuất hiện.

Người ta chỉ thấy một người lính với nón sắt hai lớp, lưới ngụy trang, quân phục tác chiến xanh của bộ binh, vai mang ba lô, tay xách sac marin đi lẫn vào cùng đám quân nhân hành khách.

- Hay là ông chưa tới?

Có thể ông đi máy bay Air Việt Nam để được sạch sẽ, lịch sự hơn chăng?! Đám sĩ quan nghi lễ bàn tán. Bỗng một người nhác thấy người lính đi hàng cuối mang bảng tên màu trắng kẻ chữ "Ân" đen trên nắp túi áo và ngôi sao huy hiệu cấp tướng màu đen may tiệp vào cổ áo tác chiến.

Không một chiếc huy chương ở phần ngực áo. Người nầy vội vã, hốt hoảng:

- Vào hàng! Vào hàng! Phắc!

Hành khách quân nhân cuối cùng kia vội đi nhanh đến chỗ viên sĩ quan trưởng toán chào kính, và nói nhanh, dẫu tiếng nhỏ nhưng dứt khoát:

- Trung tá cho anh em nghỉ, tôi không thể nhận!

Và khi đứng hẳn trước đoàn người, tướng Trương Quang Ân khiêm tốn giải thích:

- Cám ơn anh em đã đón tôi với đủ lễ nghi quân cách, nhưng tôi không được phép nhận vì chưa bàn giao đơn vị. Vậy chỉ cho tôi một xe Jeep cũng như những sĩ quan vừa đáo nhậm đơn vị mới và chờ cho tôi bàn giao với vị chỉ huy trưởng xong, các anh em hẳn dành cho tôi quân lễ đối với một tân tư lệnh!

Ông lên một chiếc Jeep trần trụi, sửa lại thế ngồi, bi đông nước, khẩu súng Colt, chiếc nón sắt hai lớp đội thẳng, sát xuống mí mắt đúng quân phong, quân kỷ ấn định. Đoàn xe ra khỏi phi trường, hướng khu dân cư nơi đặt những cơ sở quân sự của khu chiến thuật và tòa tỉnh trưởng. Sau chiếc Jeep cũ kỷ chở vị tân tư lệnh, một chiếc khác bóng loáng mới tinh khôi cắm cờ hiệu cấp tướng không người ngồi, chạy theo giữa bụi mù. Ngay sau khi nhậm chức, Tướng quân được dịp chứng nghiệm khả năng chỉ huy vào dịp Tết Mậu Thân, 1968 khi quân cộng sản tổng tấn công miền Nam mà thị xã Ban Mê Thuột với bộ tư lệnh Sư đoàn 23 là mục tiêu đầu tiên bị Trung đoàn 33 Cộng sản Bắc Việt tập trung dứt điểm.

Liền sau giờ giao thừa, lúc 1 giờ 35 đêm 29 rạng 30 tháng 1, 1968, 4 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 33 tăng cường 2 Tiểu đoàn 401 và 301 Cơ động tỉnh và 4 đại đội địa phương cùng du kích đồng loạt tấn công những mục tiêu của thị xã. Sở Hành chánh tài chánh, tòa hành chánh, dinh tỉnh trưởng, bộ chỉ huy tiểu khu, Đại đội 514 Vận tải, trại gia binh Đại đội Trinh sát, cư xá sĩ quan và bản doanh bộ tư lệnh sư đoàn là những vị trí phải được chiếm cứ trước hết.

Bởi phía chỉ huy quân sự đối phương hiểu rõ rằng, nếu đập vỡ được cơ quan chỉ huy, khống chế được thành phần nhân sự hoặc thân nhân, gia đình của lực lượng trừ bị tiếp ứng (Đại đội Trinh sát, thành phần sĩ quan chỉ huy, tham mưu sư đoàn) thì cuộc tấn công ắt chiếm giữ phần ưu thắng. Nhưng tất cả mũi tấn công đồng bị chận đứng trước cổng các doanh trại và âm mưu lùa dân vào thị xã biểu tình thực hiện bước tổng nổi dậy tiếp theo hoàn toàn bị thất bại.

Bởi từ bộ tư lệnh Sư đoàn 23, Tướng quân đã điều động ngay trong đêm cuộc phản công với Thiết đoàn 8 Kỵ binh, các Tiểu đoàn 2, và 3 thuộc Trung đoàn 45 Bộ Binh và Đại đội 45 Trinh sát đang hành quân bên ngoài thị xã. Lực lượng tấn công cộng sản hóa thành bị bao vây, chia cắt bởi đoàn quân tiếp ứng. Sáng ngày 30 (mồng một Tết âm lịch) lực lượng thiết kỵ và bộ binh của sư đoàn đã hoàn toàn giữ vững những vị trí, cơ quan quân sự, hành chánh trọng yếu của tỉnh và thị xã.

Về mặt chiến thuật, chúng ta có thể nói rằng âm mưu tiến chiếm Ban Mê Thuột bị dập tắt từ giờ phút đầu tiên, chỉ trừ những cơ sở như ty ngân khố, Sở Hành chánh tài chánh số 3 còn bị những tiểu tổ du kích chiếm đóng mà vì cốt tránh thiệt hại về nhân mạng cũng như tài sản chung nên phía tiểu khu, bộ tư lệnh sư đoàn chưa cho lệnh phản kích lấy lại.

Tính đến ngày mồng 6 Tết, mặt trận Ban Mê Thuột hoàn toàn được giải tỏa, Trung đoàn 33 và các đơn vị địa phương, du kích bị đánh bật ra khỏi vành đai thị xã để lại 924 xác trên hiện trường và 143 bị bắt sống. Nhưng mỉa mai thay, có một "lạnh nhạt cố ý" rất đáng chê trách: suốt chiến dịch ca ngợi thắng lợi kiên trì giữ vững miền Nam sau biến cố lớn lao nầy, công trận thủ thắng ở mặt trận Ban Mê Thuột "hình như" được cố ý loại bỏ. Điều nầy càng thấy được cụ thể qua tập quân sử tổng kết "Cuộc Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa của Việt Cộng Tết Mậu Thân 1968", danh tính vị Tướng quân tư lệnh Sư đoàn 23, Chuẩn tướng Trương Quang Ân hoàn toàn không được nhắc tới một lần, cho dù có hình ảnh của người cùng viên tư lệnh Quân khu đi xem xét chiến lợi phẩm sau khi mặt trận im tiếng súng và quân địch đã toàn phần bị đánh bại.

Khi những người cầm quyền quốc gia, lãnh đạo quân đội xem nhẹ kẻ sĩ, bạc đãi chiến sĩ, danh tướng thì chỉ dấu suy thoái của quốc gia, quân đội đó ắt đã phát hiện. Nếu những người lính mang tên Trương Quang Ân, Nguyễn Viết Thanh, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Trần văn Hai, Lê văn Hưng nắm quyền thống lĩnh quân đội, trọng trách vận mệnh quốc gia từ thập niên 60, đầu những năm 70, thì đâu có ngày đau thương oan nghiệt 30 tháng 4, 1975. Chúng ta phải kêu lên tiếng uất hận vỡ trời cùng anh linh Chiến Sĩ - Tướng Quân. Một ngày hè giữa năm 1970 sau buổi thuyết trình buổi sáng tại trung tâm hành quân, Chuẩn tướng tư lệnh cùng cố vấn sư đoàn, vị sĩ quan Phòng 3 ra bãi đáp trực thăng cạnh bộ tư lệnh để đi thanh tra, kiểm soát những đơn vị thuộc quyền đang hành quân trong phạm vi quận Đức Lập.

Theo thường lệ, Tướng quân đi cùng những giới chức trên bằng trực thăng UH-1D của hệ thống cố vấn Mỹ, nhưng bởi sáng nay có bà tháp tùng theo cùng để đến thăm gia đình binh sĩ của đơn vị có hậu cứ tại quận lỵ, nên hai người quyết định sử dụng trực thăng H-34 của Không quân Việt Nam, cũng cốt để chở được nhiều nhu yếu phẩm, quà tặng cho binh sĩ và gia đình của họ. Hai vợ chồng Người Lính lớn nhất của đơn vị đi thăm hỏi mỗi gia đình binh sĩ, bà ngồi xuống giữa những người vợ lính, những em bé xao xác do thiếu dinh dưỡng, trú ngụ nơi những lều trại dã chiến mà người lính tạm dựng lên tại tiền trạm vùng hành quân. Bà bối rối, băn khoăn về nỗi khổ của từng người, bà ôm không hết những em nhỏ với nước mắt rưng rưng thương cảm.

Ông yên lặng đi đến tại mỗi vị trí phòng thủ, xem xét những khẩu pháo, hỏi kỹ về nhu cầu của đơn vị và luôn nhắc nhở cán bộ sĩ quan:

- Phải luôn cố gắng chăm sóc đời sống anh em, họ đã quá thiếu thốn, quá gian khổ, bổn phận của cấp chỉ huy là phải tận tụy hết lòng với mỗi người lính của mình. Ai cũng có thể có khuyết điểm nhưng cần nhất là biết phục thiện, sửa chữa.

Buổi thăm viếng đã quá lâu, cố vấn Mỹ, toán sĩ quan tham mưu, cũng như cá nhân tướng tư lệnh phải trở về Ban Mê Thuột; những người vợ binh sĩ vây quanh bà, bà bước đi ngập ngừng. "Về mình ạ, mình còn trở lại nhiều lần nữa, mình nói với các chị, các cháu như thế!" Ông bắt tay từng sĩ quan, ân cần đáp lại ánh mắt lưu luyến của binh sĩ. Cánh quạt chiếc H-34 bắt đầu quay, Tướng quân đỡ phu nhân, chiến hữu sắc son của Người suốt đời dài binh đao, bước lên cửa máy bay vì sức gió mạnh xô đẩy. Hai Người Lính nhìn lại những bóng người dưới đất bắt đầu mờ dần do nước mắt của bà đã thấm nhòa cảm xúc.

Người dưới đất đưa tay ngoắc từ biệt. Bỗng như tia chớp cực mạnh lóe sáng, con tàu bùng vỡ thành khối lửa hung hản ác độc và lao nhanh xuống như một mũi tên. Khu trại gia binh đồng la lớn kinh hoàng:

- Chết rồi! Chết rồi trời ơi!

- Ông bà tướng chết rồi trời ơi! Trời ơi là trời ơi!!

Những người vợ lính bật khóc cùng với những đứa con gào ngất trong tay bởi ánh lửa đỏ rực sáng loáng khoảng trời. Tướng quân Trương Quang Ân cùng phu nhân Dương thị Thanh trở về cùng mặt đất quê hương như trong tuổi thanh xuân hai Người Lính đã kết hợp giữa bầu trời Tổ Quốc.

Trong buổi phát tang nhị liệt vị, sĩ quan nghi lễ kê khai phần tài sản để lại gồm: 53,000 đồng, tiền lương tháng cuối cùng của Tướng quân, và 8 chiếc áo dài nội hóa của phu nhân.

Chúng ta hôm nay cùng sông núi kính cẩn nghiêng mình trước Anh Linh Người Lính Thanh Cao, Trung Liệt đã vô vàn tận hiến với nước Việt Miền Nam: Thiếu Sinh Quân - Người Lính Cộng Hòa Trương Quang Ân.


Vài hình ảnh tang lễ vợ chồng vị Tướng lãnh nổi tiếng là kỷ luật và thanh liêm của Quân lực VNCH do Phòng Nhiếp ảnh, Bộ Thông Tin Tâm Lý Chiến, Việt Nam Cộng Hòa thực hiện.

(nguồn: Người Việt Boston)

Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu và Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ đến chia buồn cùng tang quyến tại tư gia cố Chuẩn Tướng Trương Quang Ân, số 58 cư xá Lê Đại Hành, Phú Thọ, Sài gòn vào thứ tư ngày 11 tháng 9 năm 1968.

Thủ Tướng Trần Văn Hương, Tổng Trưởng Quốc Phòng Trung Tướng Nguyễn Văn Vỹ và các Tổng Trưởng trong nội các.

Các Tướng Lãnh trong quân phục tác chiến từ trái: Thiếu Tướng Trần Văn Trung, Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh Chính trị; Đề Đốc Trần Văn Chơn, Tư Lệnh Hải Quân; Thiếu Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân; Chuẩn Tướng Đồng Văn Khuyên, Tổng Cục Trưởng Tổng cục Tiếp Vận; một vị Thiếu Tướng và Thiếu Tướng Nguyễn Văn Mạnh, Tư lệnh Quân đoàn IV và Quân khu 4, cựu Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh.

Bàn thờ và quan tài tại tư gia có Đại tá Vũ Quang Tài, Cục trưởng Cục Xã hội hầu quan tài.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu truy thăng cấp Thiếu Tướng và truy tặng Đệ nhị đẳng Bảo Quốc Huân Chương kèm Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu cho cố Chuẩn Tướng Trương Quang Ân.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu truy tặng Đệ ngũ đẳng Bảo Quốc Huân Chương cho phu nhân Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân, bà Dương Thị Kim Thanh, Chủ Tịch Hội Bảo Trợ Gia Đình Binh Sĩ Sư đoàn 23 Bộ binh và Khu 23 Chiến thuật.

Động quan, linh cữu Cố Thiếu tướng Trương Quang Ân rời nhà


Thủ Tướng Trần Văn Hương, Đại Tá Nguyễn Cả, Trưởng Phòng Nhất Bộ TTM và gia đình trước nhà

Xe tang chuyển bánh và đoàn xe dẫn đầu dưới cơn mưa tầm tã

Đến nghiã trang Mạc Đĩnh Chi trời vẫn mưa nặng hột.

Trên đường đến nơi an nghỉ: quan tài Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân

Theo sau là quan tài cựu Chuẩn Úy Dương Thị Kim Thanh

Hai quan tài song song trên huyệt lạnh dưới bầu trời ảm đạm.

Trung Tướng Nguyễn Văn Là, Tổng Tham Mưu Phó kiêm Tư Lệnh Điạ Phương Quân và Nghiã quân, đại diện Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đọc điếu văn.

Xếp cờ phủ - Quân lực Việt nam Cộng hòa chào vĩnh biệt.

(bên trái) Đại Tá Võ Văn Cảnh, Quyền Tư Lệnh Sư đoàn với nắm đất cuối cùng cho vị tiền nhiệm.
(bên phải) Các con với nắm đất vĩnh viễn mất cha mẹ.

(bên trái) Hai ngôi mộ tại nghiã trang Mạc đỉnh Chi trước ngày giải tỏa (trong hình: Trương Quang Thế Anh, con trai duy nhất của ông bà Ân-Thanh đứng cạnh bà ngoại, cụ Tôn Nữ Kim Hoàng)

Ngày nay, hương khói tại chùa Vạn Phước, Sài gòn.

BCH (Theo Phan Nhật Nam)