Translate

Friday, August 20, 2010

Hoa Kỳ cam kết hiện diện lâu dài tại Biển Đông

Theo Vietherald
(08/19/2010)

Đô đốc Robert Willard nói Hoa Kỳ sẽ duy trì sự có mặt tại Biển Đông trong nhiều năm. (Hình: Ted Aljibe/AFP/Getty Images)

HÀ NỘI: Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương tuyên bố trong cuộc họp với các giới chức Philippines tại thủ đô Manila hôm 17/8 rằng Hoa Kỳ sẽ chống đối việc sử dụng vũ lực trong vụ tranh chấp Biển Đông và cam kết duy trì sự có mặt tại Biển Đông trong nhiều năm, để bảo đảm tự do lưu thông hàng hải trong thủy lộ trọng yếu này.

Hãng tin VOA trích lời Đô đốc Willard nói rằng Hoa Kỳ không đứng về một bên nào trong cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc với nhiều nước láng giềng về chủ quyền của các hải đảo giàu tiềm năng trữ lượng dầu khí ở Biển Đông.

Theo tin AP và Reuters, tại cuộc họp báo ở Manila sau khi thảo luận với Trung tướng Ricardo David, Tham mưu trưởng quân đội Philippines, Đô đốc Willard cho biết đôi bên đã bàn luận về thái độ cứng rắn của Trung Quốc ở Biển Đông và những mối quan tâm mà Trung Quốc đã gây ra trong khu vực. Đô đốc Willard cũng hối thúc các nước trong vùng “đầu tư đầy đủ vào quân đội và công cụ an ninh để bảo vệ lãnh hải của mình”.

Nhận xét của lãnh đạo Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương được đưa ra sau khi Ngoại trưởng Hillary Clinton tháng trước cũng có những tuyên bố khiến Trung Quốc tức giận. Tại Diễn đàn an ninh khu vực tổ chức ở Hà Nội, bà Clinton nói Hoa Kỳ coi việc giải quyết các tranh chấp lãnh hải thông qua “tiến trình ngoại giao hợp tác của các bên” là “lợi ích quốc gia” của Mỹ.

Trong một diễn biến khác, ngày 17/8, ông Robert Scher, phó trợ lý bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ cũng đã có một cuộc đối thoại song phương với ông Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Phát biểu trong cuộc họp báo chung sau cuộc hội đàm, ông Robert Scher nhận định rằng:“Cuộc đối thoại này thể hiện bước tiến mới đáng kể, có ý nghĩa lịch sử trong trong quan hệ quốc phòng ngày càng lớn mạnh giữa hai nước, trên cơ sở tin tưởng, thông cảm lẫn nhau và tôn trọng chủ quyền độc lập của nhau”, theo đài BBC.

Riêng quan hệ với Trung Quốc, ông Robert Scher cho biết là có chia sẻ cảm nghĩ của Hoa Kỳ liên quan đến việc Trung Quốc đang hiện đại hóa quân đội. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ cũng đã ghi nhận xu hướng Bắc kinh gia tăng sức mạnh quân sự để có thể khống chế 80% Biển Đông qua đường “lưỡi bò” mà họ cho rằng thuộc chủ quyền của họ.

Tuy nhiên, trong cuộc đối thoại cấp thứ trưởng này, Hoa Kỳ và Việt Nam chỉ tập trung vào một số vấn đề song phương, trong đó có vấn đề bom mìn chưa nổ còn sót lại từ thời kỳ chiến tranh, hay là thuốc khai quang mà quân đội Hoa Kỳ sử dụng trước đây.

Riêng thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam xác định rằng hợp tác Mỹ Việt hoàn toàn không tác hại đến bất kỳ nước nào khác. Ông nói thêm là Việt Nam luôn luôn xem Trung Quốc là một nước láng giềng tốt, và “hoan nghênh sự phát triển của Trung Quốc trong đó có phát triển quân sự”. Tuy nhiên, ông cũng nói thêm rằng Việt Nam tin tưởng: “Sự phát triển đó không gây phương hại cho nước khác, không vi phạm chủ quyền nước khác và đóng góp cho hòa bình thế giới.”

Ông Nguyễn Chí Vịnh cũng không quên nhắc lại mối liên hệ thắm thiết của Trung Quốc thông qua những hoạt động thường niên giữa hai nước, ông khẳng định:

“Phát triển quan hệ hải quân với Trung Quốc là một hướng ưu tiên trong quan hệ đối ngoại Quốc phòng của Việt Nam, mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai nước. Hiện nay mối quan hệ đó đã đạt được nhiều thành tựu, hai bên thường xuyên trao đổi các đoàn đại biểu cấp cao, tiến hành giao lưu sĩ quan hải quân, tuần tra chung, lập đường dây nóng và gần đây nhất đã tiến hành diễn tập cứu hộ, cứu nạn trên biển. Có thể nói, quan hệ hải quân giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được phát triển theo đúng tinh thần quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mà lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước đã cam kết.”

Cũng cần nhắc lại thời gian qua, Đại tướng CSVN Võ Nguyên Giáp cùng hàng chục tướng lĩnh cao cấp khác đã tố cáo Nguyễn Chí Vịnh lũng đoạn Tổng Cục II, gây nhiều tội ác, nhất là đối với những người không theo phe thân Trung Quốc như ông.

Gần đây, các nước Đông Nam Á quan ngại về thái độ hung hăng của Trung Quốc tại khu vực tranh chấp trên Biển Đông. Váo tháng trước, Hoa Kỳ cùng Nam Hàn tập trận chung đã khiến Trung Quốc nổi giận. Không những thế, khu trục hạm USS John S. McCain đã cập cảng Đà Nẵng vào tầun trước và có các hoạt động giao lưu bốn ngày với quân độiCSVN và dân địa phương, một đoàn quan chức quân sự Việt Nam cũng lên thăm hàng không mẫu hạm USS George Washington đậu ở ngoài khơi Đà Nẵng cũng khiến Trung Quốc lo ngại việc Việt Nam có thể “xích lại” gần với Hoa Kỳ nhằm tìm cách đa phương hóa việc giải quyết tranh chấp hiện nay tại biển Đông. (Tổng hợp)




Thursday, August 19, 2010

Đừng nghe những gì họ nói

Trích Nguyễn Hưng Quốc's blog (VOA)
Thứ Ba, 17 tháng 8 2010
Hình: Photos.com

Chia sẻ

Tin liên hệ

Ðường dẫn liên hệ

Nhan đề bài viết này nghe hao hao như một câu nói quen thuộc lắm ở miền Nam trước 1975 và cả ở hải ngoại sau này nữa, phải không?

Vâng, đúng vậy. Có điều, tôi không trích nguyên văn vì thấy sao nó sáo quá. Ai cũng nói thế. Năm này qua năm khác, suốt mấy chục năm trời. Nên sợ nhàm. Có điều, sợ nhàm, nhưng tôi lại không thể không nhắc lại vì không thể tìm ra cách nói nào chính xác hơn. Và mạnh hơn.

Những người tị nạn ở hải ngoại và vô số người dân trong nước có thể nêu lên hàng trăm, thậm chí, hàng ngàn ví dụ lớn để chứng minh tại sao chúng ta chỉ nên nhìn vào hành động thay vì lời nói của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay. Đã có nhiều người làm như thế. Tuy nhiên, bộ máy tuyên truyền trong nước lại muốn cả vú lấp miệng em: “Đó chỉ là luận điệu vu khống của những phần tử chống cộng!”

May quá, chỉ trong tuần qua, ở trong nước, có hai người rưỡi, trong đó có hai người rất nổi tiếng trong giới văn học – một người nổi tiếng về tài hoa và một người nổi tiếng về dòng dõi và khoa bảng - cùng lên tiếng về khoảng cách vời vợi giữa lời nói và việc làm của nhà cầm quyền Việt Nam. Hai người đó là nhà văn Nguyễn Quang Lập với bài “Khi luật rừng tấn công luật pháp” và tiến sĩ Phan Hồng Giang (con trai thứ nhà phê bình Hoài Thanh) với bài “Nói và làm”.

Cả hai người đều tập trung vào một chủ đề: khoảng cách giữa hứa hẹn và hiện thực.

Nguyễn Quang Lập giới hạn đề tài trong nạn phá rừng. Ông nhắc lại: Cách đây ba mươi năm, đảng và chính phủ đã từng tuyên bố hùng hồn là “cần phải chận đứng…”, “cần phải xử lý nghiêm minh…” và “cần phải nghiêm trị…” nạn phá rừng và bọn lâm tặc. Những lời tuyên bố ấy được lặp đi lặp lại nhiều lần trên các diễn đàn và trên báo chí. Ba mươi năm trôi qua, lâm tặc không những không giám bớt mà còn càng ngày càng lộng hành. Lộng hành đến độ chúng uy hiếp cả kiểm lâm. Mà không những chỉ uy hiếp suông, chúng còn tấn công, thậm chí, bắt bớ cả kiểm lâm. Khi công an địa phương đến giải cứu, chúng còn bắt kiểm lâm quỳ xuống lạy chúng thì chúng mới tha!

Thực tình, đọc xong, tôi vẫn không hiểu tại sao công an đến giải cứu mà bọn lâm tặc vẫn ngang nhiên bắt kiểm lâm quỳ lạy như thế. Vậy, công an ở đâu và làm gì? Chẳng lẽ họ lại đứng trương mắt ra ngó?

Nguyễn Quang Lập không giải thích. Ông chỉ cho đó là sự lên ngôi của luật rừng.

Đó không phải là những chuyện hiếm hoi. Nguyễn Quang Lập trích con số thống kê từ Cục kiểm lâm: “tính đến tháng 7 năm nay đã có 15000 vụ vi phạm lâm luật, xử lý 577 vụ chiếm 3% số vụ vi phạm, 97% còn lại vẫn nằm ngoài tầm tay với của pháp luật, đấy là chưa tính đến kết quả xử lý 577 vụ kia như thế nào.”

Câu trích dẫn khá mơ hồ. “Tính đến tháng 7 năm nay…” Nhưng bắt đầu từ bao giờ? Mười lăm ngàn vụ vi phạm lâm luật xảy ra trong một năm? Mười năm? Hay ba mươi năm? Duy có một điều rất rõ và cần được chú ý: Chỉ có 3% số vụ vi phạm ấy được xử lý. Một tỉ lệ không thể không làm người ta ngạc nhiên và nghi ngờ tính hiệu quả của ngành an ninh Việt Nam trong lãnh vực lâm nghiệp.

Đó là lý do tại sao Nguyễn Quang Lập lại nhận xét: “Cũng 30 năm trước, vào thập kỉ 80 thế kỉ trước, giải thích cho việc lâm tặc ngang nhiên tấn công kiểm lâm, buộc kiểm lâm phải nhường đường nhường rừng cho chúng, cục trưởng cục phó Cục kiểm lâm đã than thở lực lượng kiểm lâm mỏng quá, đời sống anh em quá khó khăn. Thì bây giờ ta lại nghe cục phó cục trưởng Cục than thở đúng y xì như vậy, rằng lực lượng kiểm lâm mỏng quá, đời sống anh em quá khó khăn. Một thực trạng không quá khó để giải quyết lại tồn đọng 30 năm, thật đáng sợ. Đáng sợ hơn là trong cái lực lượng quá mỏng ấy lại có một bộ phận không nhỏ đang giàu có cự vạn, chẳng hiểu nhờ lộc rừng hay lộc của lâm tặc.”

Chúng ta nên giải thích hiện tượng ấy ra sao?

Trong bài “Nói và làm”, Phan Hồng Giang liệt kê theo kiểu “nhớ gì nói nấy” một số lãnh vực ở đó người ta thấy rõ “độ vênh đến dễ sợ” giữa lời nói và việc làm của đảng và nhà nước.

Xin trích nguyên văn mấy đoạn chính trong bài viết của ông:

Không ngày nào chúng ta không nghe nói đến quyết tâm bài trừ nạn tham nhũng. Nhưng lạ thay, tham nhũng như một quái vật có phép màu, cứ phổng phao, đâm thêm nhành ngọn, vụ sau to hơn vụ trước, cấp sai phạm không dừng lại ở cỡ quan chức thường thường bậc trung. Và bây giờ người ta có thể không ngần ngại mà gán cho nó hai chữ "quốc nạn".

Đi ra đường phố, thấy cảnh ô tô, xe máy, xe lam, xe đạp, xích lô, xe thồ ngược xuôi, lạng lách, rẽ ngang rẽ trái không theo một luật lệ nào, rồi thì chợ cóc, chợ xanh, chợ hoa dưới lòng đường, hàng hóa bày ra choán hết vỉa hè…, chúng ta hoang mang tự hỏi Nghị định về lập lại trật tự giao thông dân quên rồi sao? Mật độ dày đặc đứng đường (có lẽ là cao nhất thế giới) của cảnh sát giao thông cũng không làm giảm bớt bao nhiêu những ách tắc. Rồi cái nạn đua xe của mấy cô mấy cậu rửng mỡ, con nhà giàu, con ông cháu cha gây nhức nhối bao năm, sau rất nhiều lời hứa hẹn "kiên quyết chấm dứt" vẫn diễn ra như trêu ngươi; các thứ thư tay, điện thoại riêng "đề nghị chiếu cố, nương nhẹ" vẫn tồn tại sau mỗi lần Công an bắt giữ người, xe…

"Chính quyền của ta là của dân, do dân, vì dân", - câu nói đẹp nức lòng người dân mau chóng bị sao nhãng khi người dân đến cửa quan gặp phải những bộ mặt lạnh tanh, những câu trả lời nhát gừng và những kiểu đùn đẩy hồ sơ hết phòng, ban nọ sang phòng ban kia, những kiểu hẹn lần lữa không có hồi kết thúc như thử thách lòng kiên nhẫn của người dân. Kết quả là đơn thư khiếu nại chất thành đống, năm này qua năm khác, và cảnh ăn chực nằm chờ để khiếu kiện vượt cấp là tất yếu….

"Lương y như từ mẫu", câu khẩu hiệu gặp ở mọi bệnh viện, trên thực tế liệu đã làm yên lòng bệnh nhân chưa? Chắc chắn là chưa. Thế nên hầu hết người bệnh khi chẳng may phải lên bàn mổ, hay gặp bệnh hiểm nghèo, đều phải cố lần những đồng tiền còm cõi cuối cùng, kín đáo bỏ vào phong bì, rồi tìm kiếm cơ hội tiếp cận vị "lương y như từ mẫu" kia để mà nài nỉ, khẩn khoản họ nhận cho "tấm lòng thành" với mặc cảm của người có lỗi. Thật đáng thương thay! Rồi những tin bệnh nhân này, sản phụ nọ mất mạng vì sự thờ ơ, tắc trách của một số vị y, bác sĩ đâu còn là chuyện lạ…

"Cải cách giáo dục", "Nâng cao chất lượng dạy và học", "Giáo dục là quốc sách"… Những lời lẽ này được lặp lại ngày này qua ngày khác, nhưng những phiền muộn do giáo dục mang lại cũng không giảm. Nào là "quá tải phải giảm tải", "học thêm, dạy thêm", nào là sách giáo khoa viết sai in sai, đề thi ra nhầm lẫn, lộ đề trước khi thi, nào là các "lò luyện thi" thương mại hóa một cách lộ liễu đến trơ tráo, nào là bằng giả chứng chỉ giả, và nguy hiểm nhất là bằng thật nhưng học giả, học quấy quá, học chiếu lệ, vừa bận rộn công tác quản lý mà vài năm vẫn kiếm được vài cái bằng thật để rồi tiếp tục leo cao trên nấc thang danh vọng…

[…]

Có thể liệt kê dài dài những khập khiễng giữa lời nói và việc làm. Nào "Sống và làm việc theo pháp luật", nào là "Cán bộ là đầy tớ của dân, lo trước thiên hạ, hưởng sau thiên hạ…", nào là "Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi"…

Nguyễn Quang Lập và Phan Hồng Giang viết như vậy là quá đủ. Tôi cảm thấy không cần phải nói thêm điều gì nữa cả.

Tôi chỉ xin viết thêm vài câu để giải thích tại sao ở trên (đoạn thứ ba) tôi viết là có hai người rưỡi lên tiếng về khoảng cách giữa lời nói và việc làm của nhà cầm quyền Việt Nam. Tại sao lại là hai người... rưỡi?

Cái nửa còn lại chính là Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện.

Bài viết “Nói và làm” của Phan Hồng Giang được đăng tải đầu tiên trên blog của Nguyễn Xuân Diện (ở Hà Nội). Khi đăng, Nguyễn Xuân Diện viết thêm lời chú thích ngắn: “Bài do tác giả gửi trực tiếp cho Nguyễn Xuân Diện Blog. Xin chân thành cảm ơn TS. Phan Hồng Giang.”

Tuy nhiên, điều tôi chú ý nhất là, ở đầu bài viết, ngay trên nhan đề “Nói và làm” của Phan Hồng Giang, chủ nhân của cái blog này lại viết thêm một cái đầu đề khác, gồm mấy chữ như sau:

ĐỪNG NGHE ... NÓI - HÃY XEM ...LÀM

Cái nhan đề ấy là đóng góp của Nguyễn Xuân Diệu.

Một đóng góp nhỏ nhưng rất thâm thuý.

Trong bài này, tuy tôi chỉ trích dẫn Nguyễn Quang Lập và Phan Hồng Giang nhưng lại tính là hai người rưỡi là vì vậy.

***

Chú thích:

Ðây là trang đầu trên blog của Nguyễn Xuân Diện.

Wednesday, August 18, 2010

Nhiều Db Mỹ Đòi Đưa Vn Vào Sổ Quan Ngại Tôn Giáo Cpc

Việt Báo Thứ Năm, 8/19/2010, 12:00:00 AM

Nhiều DB Mỹ Đòi Đưa VN Vào Sổ Quan Ngại Tôn Giáo CPC

WASHINGTON (VB) -- Nhiều vị dân cử Hoa Kỳ thúc giục TT Obama đưa VN vào lại sổ đen vi phạm quyền tự do tôn giáo, theo bản tin AP chiều Thứ Tư 18-8-2010.
Trong khi đó, bản tin trên Đài VOA đăng bài phỏng vấn dân biểu Cao Quang Anh, trong đó dân biểu họ Cao kêu gọi chính phủ Mỹ bênh vực giáo xứ Cồn Dầu đang bị công an Đà Nẵng truy bức gay gắt.
Bản tin AP nói rằng các dân biểu Frank Wolf và Chris Smith nói trong buổi điều trần rằng Bộ Ngoaị Giao Mỹ đừng kết thân với VN cho tới khi nào nhân quyền cải thiện.
Chính phủ Bush đã gỡ tên Việt Nam ra khỏi sổ đen vi phạm tự do tôn giaó từ năm 2006, và bây giờ chính phủ Obama tuyên bố kết thân chiến lược với VN, và được hiểu rằng VN sẽ khó đưa vào lại danh sách trừng phạt vì có đàn áp tôn giáo.
DB Smith nói trước ủy ban nhân quyền Tom Lantos Human Rights Commission về tình hình một tang lễ Công giáo ở Cồn Dầu bị công an dùng bạo lực giải tán vì tranh chấp đất.
Trong khi đó, dân biểu Cao Quang Anh trả lời phỏng vấn trên đài VOA chiều Thứ Tư, trích:
“...Nói chung, vụ Cồn Dầu là một trong những sự vi phạm của chính quyền Việt Nam. Chắc chắn chúng tôi cũng sẽ nêu ra những vụ việc như vụ Đồng Chiêm, Bát Nhã, và tại những khu vực khác. Buổi điều trần này không phải về Cồn Dầu không, nhưng vì tình trạng mới xảy ra ở Cồn Dầu nên đó là một trong những vấn đề hiện tại mà chúng tôi phải chú ý tới. Nói chung, mục đích chính là để chúng tôi có thể hiểu biết thêm về những hành động của chính quyền Việt Nam ảnh hưởng tới tự do tôn giáo tại Việt Nam trong 2, 3 năm qua...
...Hai, ba năm nay chúng tôi có theo dõi về các hành động của cộng sản Việt Nam, nhận thấy những sự vi phạm về tự do tôn giáo càng ngày càng tệ. Cho nên chúng tôi vẫn tiếp tục áp lực Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào lại danh sách CPC (Các nước cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo) để buộc Việt Nam phải cải tổ những việc làm của họ đối với tự do tôn giáo, tự do nhân quyền...
...Chúng tôi muốn qua buổi điều trần này thành lập những đường hướng cho những năm tới. Cho nên, đây là những bước mà chúng tôi cần phải tiếp tục tiến hành nếu chúng tôi có đủ những bằng chứng, có đủ những điều kiện để đẩy các đạo luật như Đạo luật Tự do-Nhân quyền cho Việt Nam và những đạo luật khác mà chúng tôi đang tiếp tục vận động trong Quốc hội Hoa Kỳ đối với Bộ Ngoại giao.”

Tuesday, August 17, 2010

Hoa Kỳ, Việt Nam mở các cuộc thảo luận đầu tiên về quốc phòng

Trích VOA News
Ông Robert Scher, Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đặc trách khu vực Ðông và Ðông Nam Á
Hình: DOD

Ông Robert Scher, Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đặc trách khu vực Ðông và Ðông Nam Á

Chia sẻ

Tin liên hệ

Hoa Kỳ hoan nghênh các cuộc thảo luận cấp cao về phòng thủ với Việt nam như là một dấu hiệu của một “quan hệ quốc phòng ngày càng lớn mạnh.”

Ông Robert Scher, Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng, giới chức cao cấp nhất của Ngũ giác Đài đặc trách khu vực đông và đông nam châu Á, đã có mặt tại Hà Nội vào thứ Ba để thảo luận với Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt nam, ông nguyễn Chí Vịnh.

Ông Scher nói rằng mối quan hệ quốc phòng này đặt trên căn bản “tin tưởng, hiểu biết và tôn trọng độc lập và chủ quyền của đôi bên.”

Các cuộc thảo luận diễn ra chỉ 1 tuần sau khi hai quốc gia bắt đầu các cuộc thao diễn hải quân đầu tiên chung và các giới chức cao cấp của Việt Nam đã được mời tới thăm hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ USS George Washington.

Tình hữu nghị giữa hai nước Mỹ-Việt đã làm Trung Quốc khó chịu. Trung Quốc là nước vẫn tranh chấp chủ quyền với Việt Nam trong khu vực biển Đông. Nhưng bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam vẫn đoan quyết rằng sự hợp tác này không nhắm đến bất kỳ một quốc gia nào.

Nhưng ngay cả như vậy, hôm thứ Hai Ngũ Giác Đài đã cho công bố một phúc trình nói rằng Trung Quốc đang tăng cường các khả năng mới về quân sự để họ có thể gây ảnh hưởng đến các cuộc tranh chấp trong vùng, mở rộng lãnh hải và không để cho các đối thủ tranh chấp được sử dụng các hải lộ.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton lên tiếng tại một diễn đàn an ninh tổ chức tại Việt Nam trong tháng trước rằng Hoa Kỳ có quyền lợi quốc gia trong việc duy trì quyền tự do thông thương trong vùng biển Đông.

Monday, August 16, 2010

Hoa Kỳ và Trung Quốc xác định thái độ tại Biển Đông

Trich Dan Chim Viet

Tác giả: Giáo sư Carl Thayer

(Trần Bình Nam phóng dịch)

Lời người dịch: Tháng 7/2010 có hai biến chuyển đáng quan tâm tại Á châu. Thứ nhất, hội nghị của Diễn Đàn An Ninh Á châu (Asean Regional Forum – ARF) họp thường niên tại Hà Nội. Tại hội nghị, Hoa Kỳ tuyên bố chính sách mới tại Biển Đông. Thứ hai, Hải quân Hoa Kỳ và Nam Hàn tập trận tại vùng biển chung quanh bán đảo Triều Tiên (1) .

Giáo sư Carl Thayer. Ảnh Google

Trước đó cũng trong tháng 7/2010, giáo sư Carlyle Thayer ở Úc viết bài “The United States and Chinese Assertiveness in the South China Sea” (Hoa Kỳ và Trung quốc xác định thái độ tại Biển Đông) với đầy đủ chi tiết về sự tranh chấp Biển Đông giữa Trung quốc, Việt Nam và Hoa Kỳ. Tài liệu ngắn gọn, nhưng súc tích giúp cho những ai muốn tìm hiểu về các vấn nạn của Biển Đông trong mấy chục năm qua.

Sau đây là bản lược dịch. Giáo sư Thayer bắt đầu bài viết bằng cách nói đến sự quan trọng của căn cứ Hải quân Trung quốc tại Hải Nam và vụ tàu Trung quốc chận đường chiến hạm Impeccable của Hải quân Hoa Kỳ và những lời tuyên bố chủ quyền của Trung quốc trên Biển Đông. Ba động tác này là một thách thức các nước chung quanh vùng Biển Đông và Hoa Kỳ. Gíao sư Thayer đưa ra 3 nguyên nhân gỉải thích tại sao Trung quốc lại có thái độ giành quyền kiểm sóat Biển Đông. Và sau cùng đưa ra 7 đề nghị giúp giải quyết căng thẳng tại đó .

———————————————————————-

Bối cảnh:

Với chính sách chính thức tuyên bố là “hòa bình, hợp tác và phát triển” (peace, cooperation and development) Trung quốc đã theo đuổi chủ thuyết tạo một thế giới “hài hòa” (harmonious world) qua đường phát triển kinh tế và góp phần duy trì hòa bình thế giới.

Trung quốc rất thành công trong chính sách kinh tế nhắm vào xuất cảng là chính, và việc này đòi hỏi năng lượng. Hai nhu cầu, phát triển kinh tế và đầy đủ năng lượng đòi hỏi Trung quốc lo bảo đảm sự lưu thông của các đường biển huyết mạch gần lục địa Trung quốc. (Sea Lines of Communications – SLOCs).

Mặc dù thế giới đang trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế, ảnh hưởng kinh tế của Trung quốc vẫn rất mạnh trong vùng. Trung quốc đặc biệt có vị thế quan trọng vì Trung quốc là chủ nợ 2 trillion mỹ kim mà con nợ là Hoa Kỳ.

Để giúp giải quyết khủng hoảng kinh tế thế giới Trung quốc giải tỏa ngân khoản kích thích kinh tế (stimulus package) trong nước, chính yếu trong ngành xây cất và ngoài nước bỏ nhiều tiền đầu tư làm cho Trung quốc càng có uy thế khi kinh tế thế giới vãn hồi dần.

Nhờ sức mạnh kinh tế, Trung quốc cải tiến trang bị quân đội như tăng cường hỏa tiễn đặt trên đất liền và trên biển đồng thời cải thiện kho vũ khi nguyên tử để đối đầu với kho vũ khí nguyên tử của Hoa Kỳ.

Trung quốc còn phát triển hỏa tiễn tầm ngắn và tầm trung dùng vào việc tấn công Đài Loan trường hợp Đài Loan tuyên bố độc lập. Đồng thời Trung quốc tăng cường sức mạnh của Hải quân để bảo vệ các đường giao thông trên biển và bảo đảm không ai có thể chận eo biển Malacca.

Hoa Kỳ, Nhật Bản và Úc châu từng nhận xét rằng sự phát triển quân lực Trung quốc vượt ngoài nhu cầu tự vệ, và ngân sách quốc phòng Trung quốc công bố chỉ là một phần của ngân sách thực chi . Từ năm 1997 đến nay ngân sách quốc phòng Trung quốc tăng 500%. Đô đốc Mike Mullen, Chủ tịch Bộ Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ nói rằng Trung quốc đặc biệt tăng cường lực lượng Hải quân nhằm có khả năng đối phó với các căn cứ Hải quân Hoa Kỳ trong vùng Á châu.

Các nhà nghiên cứu chiến lược cho rằng Trung quốc đang nới rộng vòng đai phòng thủ tại tây Thái Bình Dương ra vòng đảo ngoài Biển Nhật Bản, Biển Phi Luật Tân và Biển Nam Dương bao gồm cả quần đảo Marianas và Palau tiến sát đến đảo Guam của Hoa Kỳ. Tháng Ba & tháng Tư vừa qua (2010) Hải quân Trung quốc cho tập trận tại phía Nam đảo Okinawa.

Cuộc tập trận đầu tiên trong tháng Ba gồm 6 chiến hạm thuộc Hạm đội Bắc hải tập đánh nhau với Hạm đội Nam hải. Sau đó Hạm đội Bắc hải băng qua eo biển Bashi phía bắc Phi Luật Tân vào neo tại Fiery Cross Reef thuộc quần đảo Trường Sa trước khi tiếp tục tập trận tại phía đông eo biển Malacca.

Cuộc tập trận thứ hai gồm 10 chiến hạm thuộc Hạm đội Đông hải diễn tập tại phía đông bờ biển Đài Loan cùng với máy bay căn cứ trên đất liền tập tiếp tế nhiên liệu trên không, bay đêm, bay tránh radar và thực tập oanh tạc trên biển.

Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương nói sự phát triển lực lượng của Trung quốc làm thay đổi cán cân quân sự trong vùng Thái Bình Dương.

Quan hệ giữa Trung quốc và Hoa Kỳ là quan hệ vừa tranh đua vừa hợp tác, trong đó Đài Loan chiếm một vị trí quan trọng. Trong nhiệm kỳ thứ hai của tổng thống Bush, quan hệ giữa hai bên có chiều dịu xuống, nhưng trong những tháng 9 & 10/2008 Trung quốc ngưng các chương trình hợp tác quân sự khi Hoa Kỳ quyết định bán 6.5 tỉ mỹ kim vũ khí cho Đài Loan. Sau khi tổng thống Obama đắc cử, Trung quốc tiếp nối lại quan hệ quân sự. Bộ trưởng ngoại giao hai nước thăm viếng qua lại. Tổng thống Obama và Chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư đảng cộng sản Trung quốc Hồ Cẩm Đào gặp nhau không chính thức qua các buổi họp G-20 tại Luân Đôn và Pittsburgh. Cuối năm 2009 tổng thống Obama chính thức thăm viếng Bắc Kinh. Trước khi lên đường tổng thống Obama nói ông cho rằng sự vươn lên của Trung quốc không có tính đe dọa ai. Tuy nhiên đầu năm 2010, ông Obama chấp thuận một đợt bán vũ khí khác cho Đài Loan và Trung quốc lại ngưng các chương trình hợp tác quân sự.

Ý nghĩa chiến lược của căn cứ Hải quân Yulin

Năm 2007 vệ tinh dân sự của Anh khám phá Trung quốc xây cất gần xong một căn cứ Hải quân lớn tại Yulin gần thành phố Sanya nằm ở cực nam đảo Hải Nam. Khi hoàn tất căn cứ này có khả năng đưa Hải quân Trung quốc vào hoạt động tại Thái Bình Dương và Biển Đông.

Các hình chụp được cho thấy các hầm và cầu tàu tại Yulin có khả năng đồn trú nhiều chiến hạm và tàu ngầm. Các cầu đang xây có khả năng làm chỗ đậu cho các chiến hạm tấn công loại lớn và hàng không mẫu hạm.

Đồng thời Trung quốc cho cải tiến phi trường tại đảo Woody trong quần đảo Paracels và xây một đài radar tại Fiery Cross Reef trong quần đảo Trường Sa, và các đơn vị Hải quân khác hiện diện gần như thường trực tại Mischief Reef ở phía tây Phi Luật Tân. Các căn cứ và cơ sở này cho Trung quốc khả năng bảo vệ quyền “tự biên tự diễn” của mình trên Biển Đông, và sự giao thông qua lại của hai eo biển Malacca và Singapore.

Căn cứ Yulin giúp rút ngắn đường tiếp vận cho hạm đội Trung quốc hoạt động trong Biển Đông và gián tiếp đe dọa sự tự do lưu thông của thương thuyền các nước Nhật, Đài Loan và Nam Hàn.

Một phần căn cứ Yulin nằm dưới hầm không thể chụp hình bằng vệ tinh, nên không thể xác định được khả năng thật sự của nó. Phần chụp được cho thấy căn cứ Yulin đã có khả năng đồn trú tàu ngầm mang hỏa tiễn liên lục địa. Cuối năm 2007 người ta thấy tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ hai thuộc Loại Jin 095 tại căn cứ Yulin. Trước đây loại tàu ngầm này chỉ có mặt trong Hạm đội Bắc hải.

Khi Yulin hoàn tất căn cứ này sẽ là căn cứ tàu ngầm tấn công của Hải quân Trung quốc. Hiện nay Trung quốc chưa đóng xong các tàu ngầm tối tân, nhưng khi xong Trung quốc có tàu ngầm mang 12 hỏa tiễn có khả năng phóng ngoài biển. Và đây là lực lượng đáng quan ngại khi Trung quốc trang bị chúng với hỏa tiễn nhiều đầu đạn nguyên tử. Chung quanh đảo Hải Nam là vùng nước sâu nên tàu ngầm Trung quốc có thể ẩn náu để phóng hỏa tiển một cách kín đáo. Theo Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ Trung quốc sắp hoàn tất 5 tàu ngầm nguyên tử phóng hỏa tiễn (SSBN), một số sẽ được đồn trú tại Yulin.

Căn cứ Yulin như vậy có khả năng thay đổi cán cân lực lượng trên Biển Đông và là một trở ngại cho sự đi lại của Hải quân Hoa Kỳ (theo nhận xét của Đô đốc Willard) cũng như của Hải quân các nước chung quanh Biển Đông như Việt Nam và Phi Luật Tân.

Trung quốc quấy nhiễu tàu chiến của Hải quân Hoa Kỳ

Tháng Hai-Ba 2009 chiến hạm Hoa Kỳ USNS Impeccable đang làm công tác dò đáy biển tại một vùng cách mũi nam đảo Hải Nam 75 hải lý để đo lường khả năng hoạt động của tàu ngầm Trung quốc xuất phát từ căn cứ Yulin thì ngày 5/3 một chiến hạm nhỏ của Trung quốc chạy chận đầu không quá 100 mét mà không báo trước bằng vô tuyến. Hai giờ sau một máy bay quân sự Trung quốc lọai Y-12 bay thật thấp trên chiếc Impeccable, và chiến hạm Trung quốc trở lại chận đầu chiếc Impeccable lần này cách xa khỏang từ 400 đến 500 mét.

Ngày 7/3 một chiến hạm thu thập tin tức tình báo của Hải quân Trung quốc đến sát chiếc Impeccable dùng vô tuyến liên lạc với đài chỉ huy yêu cầu chiếc Impeccable rời vùng hoạt động nếu không “sẽ lãnh hậu quả”. Hôm sau 8/3 Trung quốc cho 5 chiếc tàu bám theo chếc Impeccablegiả cào (trawler) (2). Hai chiếc trawler tiến sát chiếc Impeccable 15 mét phất cờ Trung quốc bảo Impeccable rời khỏi khu vực tức khắc. Chiếc Impeccable dùng vòi phun nước đuổi tàu Trung quốc. Sau đó chiếc Impecable yêu cầu tàu Trung quốc tránh đường để rời khu vực an toàn tránh tạo khủng hoảng. Có lúc chiếc Impeccable phải ra lệnh lùi máy để tránh húc vào hai chiếc trawler. Khi Impeccable rời vị trí, ngư phủ các chiếc trawler dùng câu móc định cắt đứt dây kéo máy dò đáy biển (Sonar) của tàu Impeccable. (một chiếc thuộc sở kiểm ngư, một chiếc thuộc Viện hải học, một chiến hạm tuần duyên và hai chiếc

Ngày 11/6 Hải quân Trung quốc lại gây sự với Hải quân Hoa Kỳ khi cho tầu ngầm tìm cách cắt máy Sonar của chiếc USS John S. McCain khi chiếc tàu này đang thao dượt với hải quân Nam Dương và Phi Luật Tân .

Hai cuộc đụng chạm này cho thấy với thái độ của Trung quốc Biển Đông có thể là nơi bùng phát những sự cố bất ngờ.

Trung quốc xác định thái độ chủ quyền tại Biển Đông.

Từ năm 2007 Trung quốc đã làm một số hành động đụng chạm chủ quyền của Việt Nam.

Thứ nhất: Trung quốc áp lực các hãng dầu Hoa Kỳ ngưng tiến hành các giao kèo khai thác dầu khí ký với Việt Nam trong vùng “gọi là tranh chấp” trong Biển Đông.

Thứ hai: Trung quốc đơn phương cấm đánh cá trong Biển Đông.

Thứ ba: Trung quốc phản đối với Liên hiệp quốc khi Việt Nam và Mã Lai Á nộp hồ sơ xác định “vùng biển nối dài” chung của hai nước. Đồng thời Trung quốc đòi chủ quyền trên Biển Đông bằng cách đơn phương công bố một bản đồ gồm 9 đường chấm chấm (họp lại thành hình thù như một cái lưỡi bò) choán trọn 80% Biển Đông.

Năm 2007 Việt Nam vạch kế hoạch phát triển vùng biển, dự kiến đến năm 2020 vùng này sẽ đóng góp 55% GDP quốc gia và 55-60% hàng hóa, phẩm vật xuất cảng. Trung quốc âm thầm áp lực các công ty Hoa Kỳ đang tính toán đầu tư vào vùng biển Việt Nam, trong đó có công ty ExxonMobil, rằng nếu ký giao kèo với Việt Nam các công ty này sẽ mất quyền lợi làm ăn với Trung quốc.

Năm 2009 và 2010 Trung quốc đơn phương ra lệnh cấm đánh cá trên vĩ tuyến 12 từ 15-5 đến 1-8. Trung quốc nói mục đích cấm để cho cá sinh đẻ, để chận nạn đánh cá lậu và bảo vệ quyền lợi của ngư dân Trung quốc. Thời gian cấm là mùa đánh cá hằng năm của ngư dân Việt Nam.

Năm 2009 Trung quốc phái 9 chiếc tàu thuộc sở Bảo vệ Ngư nghiệp chạy tuần tra để thi hành lệnh cấm. Tàu Trung quốc chận bắt, lấy cá và đuổi thuyền bè ngư dân Việt Nam ra khỏi khu cấm. Có một lần tàu Trung quốc húc chìm một thuyền đánh cá Việt Nam. Ngày 16/7 Trung quốc bắt giữ 3 thuyền đánh cá của Việt Nam và 37 ngư dân gần đảo Paracels. Sau khi thả 2 thuyền, Trung quốc giữ lại thuyền thứ ba với 12 ngư dân đòi 31700 mỹ kim tiền phạt. Chính quyền tỉnh Quảng Ngãi (nơi xuất phát các thuyền đánh cá bị bắt) không chịu đóng tiền phạt. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối qua tòa đại sứ Trung quốc tại Hà Nội.

Lợi dụng hai bộ Thương Mãi Việt Nam và Trung quốc có chung một Trang Nhà, Trung quốc cho đăng một bản tin phản đối chính quyền Việt Nam (TBN: làm như Việt Nam tự chữi mình!). Khi nhận ra việc dối trá này của Trung quốc, Bộ Thương Mãi Việt Nam cho đóng trang nhà chung.

Chưa hết, tháng 8 khi hai thuyền đánh cá và 25 ngư dân Việt Nam chạy vào tránh bảo tại Paracels, Trung quốc giam thuyền và giam giữ các ngư dân. Lần này Việt Nam phản ứng mạnh mẽ đòi hủy bỏ các phiên họp chung để thảo luận về các vấn đề khai thác ngoài biển đã lên lịch. Trung quốc thả các ngư dân.

Tháng 4/2010 Trung quốc lại ban hành lệnh cấm như năm trước và hai chiếc tàu Yuzheng 311 và tàu tuần duyên 202 của Hải quân Trung quốc đã được phái đến bênh vực cho ngư dân Trung quốc nói là bị lực lượng Hải quân Việt Nam xách nhiễu. Các thuyền đánh cá Việt Nam dùng chiến thuật bao vây gây trở ngại vận chuyển cho tàu Yuzheng 311. Khi Trung quốc gởi thêm chiến hạm tới, các thuyền đánh cá Việt Nam rút đi.

Ủy ban Liên hiệp quốc về Thềm Lục Địa nối dài (Commission on the Limits of the Continental Shell –CLCS) đã định ngày 13/5/2009 là ngày cuối cùng để các quốc gia ven biển trên thế giới nộp bản khai Thềm Lục Địa Nối Dài theo một điều khoản của Luật Biển (UN Convention of Law of the Sea – UNCLOS). Ngày 6/5 Việt Nam và Mã Lai nộp một bản khai cho vùng chung phía Nam, và ngày 7/5 Việt Nam nộp một bản riêng trong vùng phiá Bắc (3).Trung quốc lập tức gởi một văn thư phản kháng đến Liên hiệp quốc (nhưng không nộp bản khai của mình theo tinh thần Luật Biển). Việt Nam gởi văn thư phản đối văn thư của Trung quốc.

Ngay sau đó Trung quốc (như đã nói ở trên) cho công bố một bản đồ gồm 9 đường chấm chấm mơ hồ họp thành một hình chữ U bao trọn Biển Đông nói là vùng biển chủ quyền. Trong 3 bản tuyên bố trước đây (9/1958 về lãnh hải, 1992 về lãnh hải và vùng lân cận, 1996 về đường chuẩn cho lãnh hải) và một bộ luật ban hành năm 1998 về thềm lục địa Trung quốc chưa bao giờ có một đòi hỏi có tính tự tác tự thọ như vậy.

Những hành động của Trung quốc làm Hoa Kỳ quan tâm và thấy cần điều chỉnh thái độ để bảo vệ quyền thương mãi và uy tín của mình. Thái độ của Hoa Kỳ trước đây là không can thiệp vào việc tranh chấp biển đảo giữa các nước trong vùng, và chỉ đặt quan tâm chính vào việc an toàn và tự do lưu thông trên biển.

Những tháng đầu của chính quyền Obama, Trung quốc và Phi Luật Tân bất hòa khi Phi vạch đường căn bản qua các hải đảo Trung quốc gởi chiến hạm tới có ý đe dọa, tổng thống Obama đã ủng hộ Phi bằng cách điện thoại cho bà tổng thống Phi Gloria Macapagal Arroyo xác định rằng Hoa Kỳ vẫn tôn trọng thỏa ước về tàu bè thăm viếng (Visiting Forces Agreement) giữa Hoa Kỳ và Phi.

Tháng 7/2009 Hoa Kỳ xác định quan điểm tại Biển Đông trước quốc hội. Chính phủ gởi hai ông Scot Marciel (Phụ tá bộ trưởng ngoại giao) và Robert Scher (Phụ tá bộ trưởng quốc phòng) đến điều trần trước Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương. Ông Marciel tuyên bố một cách dứt khoát rằng những tuyên bố về biển của Trung quốc tại Biển Đông không có một cơ sở quốc tế nào cả.

Ông Marciel nói với quốc hội rằng Hoa Kỳ có “lợi ích thiết yếu” (vital interest) khi duy trì sự ổn định, tự do lưu thông và bảo vệ quyền buôn bán của mình tại Đông Á. Ông Marciel sau khi tóm tắt cho quốc hội biết việc Trung quốc de dọa các công ty dầu khí của Hoa Kỳ định làm ăn với Việt Nam đã khẳng định: “Chúng ta cương quyết chống lại mọi de dọa các công ty Hoa Kỳ.”

Về việc tàu Trung quốc quấy nhiễu hoạt động của Hải quân Hoa Kỳ ngoài khơi đảo Hải Nam ông Scher xác định thái độ 4 điểm của Hoa Kỳ:

  1. Bằng lời và bằng hành động Hoa Kỳ duy trì sự hiện diện trong vùng.
  2. Hải quân Hoa Kỳ quả quyết duy trì quyền lưu thông trên biển.
  3. Quan hệ an ninh với các nước trong vùng qua các cuộc nói chuyện về chính sách và chiến lược và hợp tác bảo đảm an toàn trên biển.
  4. Tăng cường quan hệ ngoại giao – quân sự với Trung quốc để tránh đụng chạm do sự hiểu lầm.

Khi quan hệ giữa Việt Nam và Trung quốc căng thẳng Việt Nam trở nên gần gũi với Hoa Kỳ hơn. Tháng 6/2008 thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng viếng thăm Hoa Kỳ và hội kiến với tổng thống Bush. Thủ tướng Dũng là vị thủ tướng Việt Nam đầu tiên đến viếng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ sau năm 1975. Trong một thông cáo chung sau chuyến viếng thăm hai bên đồng ý duy trì các cuộc gặp gỡ cao cấp về an ninh và chiến lược. Ngoài ra tổng thống Bush còn tuyên bố Hoa Kỳ ủng hộ “chủ quyền, an ninh và sự tòan vẹn lãnh thổ của Việt Nam” (nguyên văn: the US supports “Vietnam’s national sovereignty, security and territorial integrity”.

Lời tuyên bố của tổng thống Bush không nói đến Biển Đông. Tuy nhiên người ta hiểu rằng đấy là một cách nói tiếp theo lời tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates trước đó vào đầu năm tại Singapore rằng: “Trong chuyến đi Á châu, tôi nghe nhiều quốc gia nói vê` tình trạng an ninh trong vùng do nhu cầu tài nguyên thiên nhiên và than phiền những chính sách ngoại giao có tính áp lực làm cho tình hình trong vùng trở nên phức tạp … Chúng ta nên tránh thái độ có tính áp lực mặc dù được che giấu dưới lớp vỏ hợp tác”. (TBN: Ai cũng biết bộ trưởng Robert Gates nói tới Biển Đông và thái độ đại hán của Trung quốc)

Các lời tuyên bố của Bộ trưởng Gates, của tổng thống Bush và của ông phụ tá ngoại giao Marciel là những lời nhắn nhủ Trung quốc rằng họ không nên đe dọa các công ty Hoa Kỳ định làm ăn với Việt Nam trên Biển Đông.

Quan hệ quốc phòng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ cũng được cải thiện hơn từ năm 2008. Tháng 10/2008 bộ Ngoại giao Việt Nam và Hoa Kỳ bắt đầu nói chuyện cấp cao về chính trị – quân sự. Tháng 4/2009 một số sĩ quan cao cấp Việt Nam được máy bay Hoa Kỳ chở đến mẫu hạm USS John Stennis để quan sát lực lượng Hải Không Quân thao dượt. Tháng 8/2009 và tháng 3/2010 cơ sở sửa tàu của Việt Nam sửa chữa các tàu hải quân Hoa Kỳ thuộc lực lượng vận tải đường biển (US Navy Military Sealift Command). Cuối năm 2009 bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh viếng thăm Hoa Thịnh Đốn và gặp bộ trưởng Gates tại Bộ quốc phòng. Trên đường đi tướng Thanh ghé Hawai thăm Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ tại Thái bình Dương. Theo chương trình, trong những tháng cuối năm 2010 này các giới chức quân sự cao cấp Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ gặp nhau. Tờ Quadrennial Defence Review năm 2010 viết rằng Hoa Kỳ xem Việt Nam và Indonesia là hai đối tác chiến lược quan trọng.

Những trở lực trong mối quan hệ Hoa Kỳ-Trung quốc

Sau khi nhậm chức chính quyền Obama mở đầu quan hệ với Trung quốc qua cuộc họp song phương bàn về Chiến lược và Kinh tế (Strategic and Economic Dialogue – SED) trong tháng 7/2009 tại Hoa Thịnh Đốn. Buổi họp sau đó tổ chức tại Bắc Kinh tháng 5/2010.

Tháng 8/2009 bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates tiếp tướng Xu Caihou, Phó chủ tịch Quân ủy trung ương của quân đội Trung quốc tại Pentagone. Tướng Xu Caihou còn gặp Cố vấn an ninh quốc gia James Jones, Tham mưu trưởng Liên quân Đô đốc Michael Mullen, thứ trưởng ngoại giao James Steinberg và thăm xã giao tổng thống Obama.

Ông Gates và tướng Xu đồng ý một chương trình 7 điểm:

  1. Thăm viếng cấp cao.
  2. Hợp tác nhân đạo và giúp đỡ nhau khi có thiên tai.
  3. Trao đổi hiểu biết y học quân sự.
  4. Trao đổi để hiểu nhau hơn giữa các sĩ quan cấp Tá và cấp Úy
  5. Trao đổi văn hóa và thể thao giữa hai quân đội.
  6. Tăng cường các cuộc thăm viếng ngoại giao.
  7. Trao đổi hiểu biết về cách thức tăng cường an toàn trên biển.

Tuy nhiên tướng Xu nêu ra 4 trở lực chính trong mối quan hệ Mỹ Trung gồm:

  1. Quan hệ quân sự giữa Hoa Kỳ và Đài Loan. Nếu Hoa Kỳ khắng khít quân sự với Đài Loan thì quan hệ quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung quốc khó được cải thiện.
  2. Tàu bè và máy bay của Hoa Kỳ không nên vào khu đặc quyền kinh tế của Trung quốc. Hoa Kỳ nên tôn trọng Luật Biển và các luật về biển của Trung quốc
  3. Một số luật của Hoa Kỳ làm trở ngại quan hệ Hoa Kỳ-Trung quốc như Luật “Defense Authorization Act” thông qua năm 1999
  4. Hoa Kỳ còn nghi ngờ thiện chí chiến lược của Trung quốc.

Tháng Ba/2010 Trung quốc nói với hai viên chức Hoa Kỳ thăm viếng Trung quốc rằng Trung quốc xem Biển Đông là vùng có “quyền lợi thiết yếu” (core interest) của Trung quốc. Đây là lần đầu tiên Trung quốc đưa Biển Đông lên hàng “quyền lợi thiết yếu” như Đài Loan và Tây Tạng với ý nghĩa nếu bị xâm phạm Trung quốc sẽ dùng vũ lực để bảo vệ.

Có nhiều lý do giải thích tại sao gần đây Trung quốc khẳng định lập trường đòi chủ quyền của mình trên Biển Đông.

T

hứ nhất, Trung quốc muốn áp lực Việt Nam cùng với Trung quốc khai thác dầu khí chung trong vùng biển ngoài khơi trên nguyên tắc thuộc Việt Nam. Nếu quả thật vậy thì Trung quốc khó đạt được ý đồ của mình vì Việt Nam kh

ông dễ gi để Trung quốc hưởng lợi những gì nằm trong (hay sát với) vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của mình. Trước đây Trung quốc áp lực các công ty nước ngòai không ký giao kèo khai thác dầu khí với Việt Nam cũng trong mục đích này (và tạm thời thành công). Hai công ty BP của Anh và ExxonMobil của Mỹ đã tạm ngưng khai thác theo giao kèo, nhưng gần đây cho biết sẽ tiếp tục tiến hành giao kèo đã ký. Hoa Kỳ đã cho Trung quốc biết Hoa Kỳ không chấp nhận ai làm áp lực với các công ty Hoa Kỳ làm ăn hợp luật lệ quốc tế .

Thứ hai, Trung quốc muốn cho Việt Nam thấy sự bất mãn khi biết Việt Nam hình như đang chuẩn bị mang việc xích lại với Hoa Kỳ ra bàn thảo trong đại hội 11 của đảng vào năm 2011. Từ năm 1995 sau khi thiết lập bang giao với Hoa Kỳ Việt Nam vẫn rất dè dặt trong quan hệ với Hoa Kỳ vì ngại làm mất lòng Trung quốc. Nhưng từ năm 2003 về sau áp lực trên Biển Đông của Trung quốc càng mạnh thì Việt Nam càng bớt dè dặt khi xích lại với Hoa Kỳ.

Cuối năm 2007 khi Trung quốc thành lập quận huyện bao gồm cả Trường Sa, sinh viên Việt Nam tại Sài Gòn và Hà Nội đã biểu tình phản đối và Trung quốc đã mạnh mẽ áp lực Việt Nam ngăn cấm các cuộc biểu tình. Qua năm 2008 sự chống đối của nhân dân trong nước trước ý đồ lấn chiếm của Trung quốc lên cao và cao điểm là năm 2009 khi tướng Võ Nguyên Giáp lên tiếng cho rằng vụ Trung quốc khai thác mỏ Bauxite ở cao nguyên Việt Nam là có hại cho an ninh quốc gia. Đảng cộng sản Việt Nam nhận ra rằng khuynh hướng chống Trung quốc trong nước là một đe đọa cho sự lãnh đạo của đảng cộng sản nếu họ không có chương trình đáp ứng.

Những nhà quan sát tình hình Việt Nam đồng ý rằng nội bộ lãnh đạo Việt Nam có hai khuynh hướng. Một muốn mở rộng quan hệ quốc tế để hội nhập rộng rãi. Một muốn thắt chặt quan hệ với Trung quốc. Và Trung quốc tỏ thái độ cứng rắn trên Biển Đông để cảnh cáo Việt Nam rằng theo họ thì có lợi hơn là chống họ. Nhưng hình như trước tình cảm chống Trung quốc của nhân dân nhóm thứ hai chủ trương thân Trung quốc cũng phải đồng ý cần tìm một con đường quốc phòng khác hơn là dựa vào Trung quốc.

Thứ ba, chính sách Biển Đông của Trung quốc có thể do nhu cầu năng lượng. Làm chủ được Biển Đông có nghĩa là làm chủ một kho dầu khổng lồ và bảo đảm một đường lưu thông quan trọng trên biển. Trung quốc đã cải tiến thiết bị Hải quân và thiết lập căn cứ ở Yulin trong mục đích này.

Năm 2002 khối Asean và Trung quốc ký bản “Tuyên bố về Cách ứng xử trên Biển Đông” (Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea) đồng ý “tự chế và thận trọng trong các hoạt động để tránh gây ra tranh chấp” (self restraint in the conduct of activities that would complicate or escalate disputes). Tuy nhiên tình hình an ninh trên Biển Đông càng căng thẳng và trở nên cấp bách trong ba năm qua. Sự đụng chạm giữa Hải quân Trung quốc và Hải quân Hoa Kỳ tại phía Nam đảo Hải nam cho thấy Biển Đông có thể là nơi “tóe ra lửa” nếu các bên liên hệ thiếu thận trọng.

Để kết thúc bản Tài liệu về tranh chấp Biển Đông, giáo sư Thayer đề nghị một giải pháp 7 điểm để giảm căng thẳng trên Biển Đông:

  1. Trung quốc cần thảo luận với các nước trong vùng về quyền đánh cá và chấm dứt việc đơn phương cấm đánh cá vùng này vùng khác hằng năm một cách tùy tiện.
  2. Cần chi tiết hóa việc thi hành bản “Tuyên bố về Cách ứng xử trên Biển Đông” ký năm 2002.
  3. Trung quốc và Hoa Kỳ cần có một bản văn Thỏa Thuận về đụng chạm trên biển (Incidents At Sea Agreement) để tránh đụng chạm trên biển ngoài ý muốn.
  4. Các nước có vũ khí nguyên tử, nhất là các nước trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc cần tham gia vào “Hiệp Định Xác lập vùng Phi nguyên tử Đông Nam Á” (Southeast Asia Nuclear Free Weapons Zone Treaty). Trung quốc hứa sẽ tham gia (nhưng chưa ký). Hiệp hội Asean cần xác định vùng nam đảo Hải Nam có nằm trong vùng địa lý áp dụng của Hiệp Định này không ?
  5. Các nước trong vùng chung quanh Biển Đông cần thảo luận ở cấp cao cách thi hành Luật Biển để tránh sự tranh chấp về nội dung các bản khai nộp Liên hiệp quốc liên quan đến thềm lục địa nối dài và xác định rõ ràng Hải quân các nước có quyên hoạt động gì trong vùng đặc quyền kinh tế của nước khác.
  6. Hội nghị các bộ trưởng quốc phòng khối Asean + tại Hà Nội sắp đến cần tạo sự tin cậy và đề ra các biện pháp đề phòng tại Biển Đông.
  7. Các nước trong vùng cần thảo luận để thành lập một cơ chế gặp nhau thường xuyên giữa các lãnh tụ quốc gia để thảo luận những vấn đề còn cấn cái giữa các nước liên quan đến an ninh trong vùng.

© Trần Bình Nam (Bản tiếng Việt)

August 15, 2010

——————————————————————

Ghi chú:

(1) Xem tài liệu số 360 trang Bình Luận TBN

(2) Giả cào là danh từ ngư dân vùng duyên hải miền Trung Việt Nam dùng để gọi thuyền đánh cá bằng lưới kéo lê sát đáy biển.

(3) Xem tài liệu số 311 trang Bình Luận TBN

Sunday, August 15, 2010

Blogger Mẹ Nấm: Tại sao lại phải từ bỏ quyền được nói điều mình suy nghĩ?

Trích VOA News

Cô Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, tức blogger Mẹ Nấm, người từng bị bắt tạm giam hồi tháng 9 năm 2009 vì đã có những bài blog viết về những chủ đề mà chính quyền coi là nhạy cảm như vấn đề bauxite Tây Nguyên hay vấn đề Trường Sa và Hoàng Sa, mới đây đã được tổ chức Human Rights Watch trao giải thưởng Hellman/Hammet, một giải thưởng để vinh danh những cây bút dũng cảm từng bị chính quyền trấn áp. Blogger Mẹ Nấm cũng đã từng bị giới hữu trách từ chối cấp hộ chiếu và không cho phép xuất cảnh, nhưng cô đã không ngừng khiếu nại để đòi lại quyền lợi chính đáng của một công dân.

Blogger Mẹ Nấm sẽ tiếp tục viết lên những điều trăn trở của một công dân vì cho rằng đó là trách nhiệm của một người Mẹ.

Chia sẻ

VOA: Xin chào chị Như Quỳnh, xin phép được hỏi chị từ khi bị tạm giam giữ rồi được thả đến nay cuộc sống của chị ra sao ạ?

Như Quỳnh: Sau khi bị tạm giữ thì cuộc sống gia đình nó cũng có chút xáo trộn, công việc nói chung cũng có xáo trộn. Những khó khăn thì không ai gọi tên hết được, nhưng nói chung là có thay đổi so với trước, thậm chí các mối quan hệ như bạn bè thì nhiều người cũng kiêng dè với mình hơn ngày xưa.

VOA: Năm ngoái, chị đã đồng ý ngưng viết blog như một điều kiện để được trả tự do, sau đó chị viết trên blog của mình rằng chị hứa sẽ không viết blog nữa, nhưng gần đây chị lại tiếp tục viết blog, tại sao chị lại thay đổi quyết định của mình vậy?

Như Quỳnh: Thiệt ra sau khi mình trở về nhà 2 ngày thì mình đã đưa ra quyết định không viết blog nữa, vì trong cam kết mà phía an ninh buộc chồng mình phải ký có một đoạn cam kết “không để vợ tôi viết blog nói xấu nhà nước nữa”. Mình là phụ nữ mà, nên cái quan trọng nhất trong gia đình là phải giữ hòa khí, vì vậy mình chọn việc từ bỏ viết blog để giữ hòa khí trong gia đình là cái thứ nhất. Cái thứ hai, khi làm việc thì an ninh họ cũng gợi ý là mình dừng viết blog đi, đừng có viết blog nữa. Mình nghĩ thời điểm đó mình dừng viết blog là vì gia đình, vì một cuộc sống yên ổn như một người bình thường khác.

Cho đến khoảng tháng 2/2010 thì mình xin cấp hộ chiếu, khi nhận hồ sơ của mình thì giấy tờ bình thường thôi, nhưng đến chiều họ lại báo là do có thông báo yêu cầu từ phía cơ quan an ninh điều tra từ tỉnh Khánh Hòa thì mình chưa được phép xuất cảnh, cho nên họ không cấp hộ chiếu cho mình được. Cái điều đó nó làm mình cảm thấy khó chịu, bởi vì khi mà mình được trả tự do trở về nhà, mình cảm thấy mình không được tự do lắm vì cuộc sống vẫn bị dòm ngó và việc không cấp hộ chiếu cho mình thì giống như mình không có đủ quyền của một công dân bình thường. Cho nên mình nghĩ mình đã hứa là mình không viết blog nữa, nhưng họ vẫn chưa xem mình là một công dân bình thường, vì vậy tại sao mình lại phải từ bỏ cái quyền được nói điều mình suy nghĩ, cho nên mình viết blog lại.

VOA: Khi đó chị có sợ rằng việc không giữ lời hứa này sẽ gây thêm khó khăn cho mình không?

Như Quỳnh: Thật sự là cái cảm giác sợ hãi nhất của một con người có lẽ là cảnh tù tội, mất tự do, và khi mình đã trải qua cái cảm giác mất tự do rồi thì mình nghĩ là không có nỗi sợ hãi nào có thể lớn hơn được nỗi sợ hãi đó.

VOA: Còn bây giờ chị đã được cấp hộ chiếu rồi phải không ạ?

Như Quỳnh: Mình đã được cấp hộ chiếu hôm thứ Hai vừa qua.

VOA: Vậy là do giới hữu trách họ thay đổi quyết định, thay đổi thái độ hay là có lý do gì khác ạ?

Như Quỳnh: Mọi người nói có thể là nhiều lý do, đặc biệt là việc mình trả lời phỏng vấn đài CNN trong câu chuyện về một blogger Việt Nam. Nhưng thực sự thì mình vẫn muốn tin rằng cơ quan an ninh điều tra họ có người thực sự biết lắng nghe và biết sửa sai. Bởi vì thái độ làm việc sau này của họ đối với mình rất nhẹ nhàng. Cho nên dù có lý do A, B, C, D nào đó thì mình vẫn muốn tin là cơ quan an ninh điều tra họ đã biết lắng nghe, dù là muộn màng.

VOA: Ngoài ra, chị có làm đơn khiếu nại lên cơ quan nào khác không ạ?

Như Quỳnh: Có, sau khi không được cấp hộ chiếu thì mình có làm đơn gửi thẳng lên ông giám đốc công an tỉnh Khánh Hòa, tức là người chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ cơ quan an ninh ở Nha Trang, thì mình có nói về việc mình không được cấp hộ chiếu. Lúc đó mình nghĩ không phải mình đòi hộ chiếu mà là mình nghĩ phải có lý do chính đáng chứ không phải đề nghị chung chung, bởi vì mình có gửi cho ông ấy cả quyết định trao trả tự do nữa, thì mình muốn biết chính xác là tại sao mình không được cấp hộ chiếu, chứ không phải từ đơn vị cấp hộ chiếu là PA35 họ nói một lý do chung chung như vậy, mình thấy không thỏa đáng thì mình khiếu nại lần thứ nhất. Nhưng sau đó im lặng không có sự hồi đáp nào hết, khoảng hai tháng cho đến khi mình xuất hiện trên CNN, thì mình gửi tiếp đơn khiếu nại lần thứ hai, thì họ mời mình lên làm việc rất là nhẹ nhàng.

VOA: Sau vụ việc này chị rút ra được kinh nghiệm gì?

Như Quỳnh: Cái chuyện không được cấp hộ chiếu mình nghĩ là có thủ tục khiếu nại. Vì vậy những ai, những trường hợp nào không được cấp hộ chiếu hoặc bị tịch thu hộ chiếu một cách trái phép, mình gọi là trái phép tức là mình ra sân bay rồi bị tịch thu hộ chiếu, thì mình nghĩ nên kiên nhẫn và làm đơn khiếu nại, vì công an thì cũng phải theo luật pháp thôi. Mình có quyền phản đối và đừng có im lặng. Mình có gặp nhiều trường hợp rồi, họ hứa hẹn là sẽ cấp, để qua thời điểm này, thời điểm kia, thời điểm nhạy cảm, hoặc qua vụ này sẽ cấp hộ chiếu, nhưng mà đừng bao giờ thỏa hiệp với những lời hứa như vậy, bởi vì khi mà mình dễ dãi thỏa hiệp với một lời hứa mà không có văn bản, thì những người đai diện luật pháp, đơn giản ở đây là công an, thì họ sẽ có cơ hội để tạo ra tiền lệ xấu là tiếp tục giữ im lặng trước sự đòi hỏi quyền lợi công dân chính đáng của mình.

VOA: Khi không được cấp hộ chiếu chị đã viết blog lại, giống như một cách để bày tỏ sự phản đối, bây giờ đã được cấp hộ chiếu rồi, chị có định tiếp tục viết blog nữa không thưa chị?

Như Quỳnh: Thực sự cái mục đích của mình viết blog hay trả lời phỏng vấn thì nó không phải là vấn đề hộ chiếu, vì từ xưa đến giờ những điều mình viết nó là một cái trăn trở hay bức xúc rất bình thường của một công dân thôi. Xã hội mà, phải có phản biện thì nó mới tốt đẹp chứ! Cho nên mình nghĩ mình sẽ tiếp tục viết blog vì mong muốn một sự thay đổi tốt đẹp hơn cho xã hội Việt Nam hiện tại thôi.

VOA: Và chị sẽ tiếp tục viết về các đề tài được cho là nhạy cảm?

Như Quỳnh: Nếu như nhà nước vẫn tiếp tục bỏ qua các ý kiến của các chuyên gia, như vấn đề bauxite hay vấn đề chủ quyền, nếu như mà cứ để quyền lợi của người dân Việt Nam giống như ngư dân Việt Nam bị bắn, bị giết, mà nhà nước vẫn im lặng, không có động thái nào mạnh mẽ hơn, thì mình nghĩ là không chỉ mình mà tất cả các blogger Việt Nam sẽ tiếp tục viết những đề tài được cho là nhạy cảm.

VOA: Chị từng viết “nếu tôi có can đảm như những những nhà ái quốc đi trước, thì trang blog này sẽ còn tiếp tục”, và bây giờ trang blog đang được tiếp tục, phải chăng giờ đây chị đã lấy lại được can đảm?

Như Quỳnh: Mình thì mình không nghĩ như vậy, ở cái thời điểm mà người ta sợ hãi hoặc là để bảo toàn cái hạnh phúc gia đình mình thì người ta buộc phải đưa ra sự lựa chọn, tuy nhiên, khi những người thân trong gia đình có thể ngồi xuống lắng nghe nhau là một, cái thứ hai là vì tương lai của con cái nữa. Tương lai của chính mình thì có thể gần quá rồi, gần nửa đời người rồi, nhưng còn tương lai của con cái nữa, mình không nghĩ là mình can đảm đâu, đó là trách nhiệm của một người Mẹ thôi.

VOA: Chị là một trong 6 cây bút Việt Nam được Human Rights Watch trao giải thưởng Hellman/Hammett năm nay, chị có thể cho biết cảm tưởng của chị khi được nhận giải thưởng này được không ạ?

Như Quỳnh: Thực sự mình rất là bất ngờ khi mình được nhận giải thưởng, bởi vì từ xưa đến giờ giải thưởng này đều dành cho các nhà văn. Mình bất ngờ và vinh dự vì được là một trong hai blogger được nhận giải thưởng này.

VOA: Chị có sợ giải thưởng sẽ đem đến cho chị thêm rắc rối không?

Như Quỳnh: Thật sự là mình không nghĩ là nó sẽ rắc rối nhiều, nhưng những người xung quanh mình hàng ngày ai cũng nói là nó sẽ rắc rối, nên mình cũng hơi sợ. Tại vì mình nghĩ rằng giải thưởng này nó là vinh dự đối với cá nhân mình, nhưng mà đối với một đất nước mà có nhiều công dân nhận được giải thưởng của Human Rights Watch thì thực sự nó là điều đáng buồn, nếu không muốn nói là điều đáng xấu hổ cho sự tự do, dân chủ của nước đó. Mình thì mình ước là nếu có thể đổi được vinh dự của cá nhân mình thì mình muốn là năm sau và nhiều năm tới nữa Human Rights Watch không vinh danh bất kỳ người Việt Nam nào nữa tại vì Việt Nam đã có sự tiến bộ về tự do và dân chủ.

Saturday, August 14, 2010

CSVN ráo riết chuẩn bị các công cụ đàn áp người dân

Trích VietHerald
SÀI GÒN, Việt Nam: Một số tin tức mới nhất vừa được truyền đi trên mạng cho biết, công an CSVN đang ráo riết luyện tập, nhập thêm các chiến cụ nhằm chuẩn bị đối phó với tình hình của dân chúng Việt Nam đang ngày càng bất mãn và có khả năng bạo động lớn từ đây đến cuối năm. Các vụ bạo loạn bắt nguồn từ thái độ phẫn uất của dân chúng qua các vụ Tam Tòa, Thái Hà, Cồn Dầu.... và gần đây nhất là vụ Bắc Giang đang làm cho công an CSVN run sợ và suy tính phải áp dụng thêm các công cụ đàn áp khốc liệt hơn.

Dù đang trong tình trạng kinh tế khó khăn, nhưng ngành công an vẫn được ưu ái nhập khẩu thêm nhiều xe bọc thép, xe hummer để tạo thành các chiến cụ đàn áp dân chúng. Các đợt huấn luyện đặc biệt chống bạo động đang được luyện tập, ở Saigon, các lực lượng này đang ráo riết thực hành trong các sân của quân khu 7 và Thủ Đức.

Những chiếc xe Hummer H2 được xem là dòng xe rất đắt tiền, giới đại gia Việt Nam gọi là “hàng khủng” và mức tiêu phí nhiên liệu cũng kinh khủng (trên 40 lít xăng/100km). Dĩ nhiên để tậu được 1 chiếc xe này, ngoài giới tư bản đỏ thì có lẽ chỉ có tiền đóng thuế của toàn dân (nhà nước quản lý) mới kham nổi. Nhưng trong hình ảnh cho thấy, CSVN không ngại tiếc tiền để trang bị loại thiết bị hạng nhất này để làm công cụ trấn áp.

Dư luận hành lang “Cung đình” cũng xôn xao việc Công an chống bạo động được phép nhập thêm 10 chiếc Hummer H2 bọc thép chống đạn, được áp thuế 0%... dành cho xe tăng. Những chiếc xe xa xỉ này nay dành cho công an chống bạo động với súng gắn trên mui, cắm cờ đỏ (cột dây và cán tre), hiên ngang đi giữa phố thị uy.

Những chiếc xe tăng đắt tiền này rồi đây không biết có được dùng cho việc cán chết dân hay không? Và những họng súng đen ngòm trên mui xe có xả đạn vào người dân lành đói rách hay không?

Nhìn vào những hành động của chính quyền trong quá khứ, người ta dễ hình dung câu trả lời này ra sao!



Friday, August 13, 2010

Trung Quốc đánh thức Việt Nam và Ấn Độ

Trích Đàn Chim Việt

Tác giả: B.Raman (Srilanka), Ngọc Thu dịch

Năm nay đánh dấu kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hai nước đang tiến hành kỷ niệm Năm Hữu nghị Việt – Trung. Hồi tháng 11 năm ngoái, hai bên đã ký kết một số hiệp định về phân định ranh giới 1.300 km trên bộ và đồng ý bắt đầu các cuộc thảo luận, xây dựng các hướng dẫn để giải quyết các vấn đề chưa giải quyết, liên quan đến biển Đông.

Sau đó là các cuộc thảo luận thân mật trong cuộc họp của Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Việt – Trung lần thứ tư, được tổ chức tại Bắc Kinh vào ngày 1 tháng 7 năm 2010. Theo một bản tin trên Tân Hoa xã, trong cuộc họp, hai nước đã đồng ý “giải quyết một cách thích đáng các vấn đề lãnh hải ở biển Đông”. Theo hãng tin này, đây là một trong năm quyết định đạt được sự đồng thuận tại cuộc họp, do ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viên Trung Quốc đồng chủ trì, cùng với ông Phạm Gia Khiêm, phó Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Ngoại giao.

Theo Tân Hoa xã, ông Khiêm tái khẳng định rằng Việt Nam đã sẵn sàng làm việc với Trung Quốc để xử lý đúng đắn các vấn đề biển Đông theo quan điểm tình hình chung về quan hệ song phương và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, cũng như sự cần thiết duy trì ổn định. Trong cuộc họp này, Trung Quốc và Việt Nam cũng đồng ý tiếp tục tăng cường trao đổi chính trị, tăng cường hợp tác kinh tế thương mại, tăng cường trao đổi văn hoá và tăng cường phối hợp các vấn đề quốc tế quan trọng và các vấn đề trong khu vực.

Ông Đới nói rằng, quan hệ song phương ở trong thời kỳ quyết định trong việc kế thừa quá khứ và hướng tới tương lai. Ông nói thêm: “Lịch sử 60 năm quan hệ song phương đã chứng minh rằng, việc phát triển tình hữu nghị Việt – Trung là vì lợi ích căn bản của hai nước và hai dân tộc. Nó cũng có lợi cho hòa bình và thịnh vượng trong khu vực”.

Ông Đới cũng nói thêm rằng, kể từ cuộc họp thứ ba của Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác hồi năm ngoái, việc hợp tác trên thực tế giữa hai nước đã đạt được tiến bộ mới. Ông đã đề cập trong mối quan hệ này, trao đổi chính trị phát triển, hợp tác sản xuất mang lại lợi ích lẫn nhau, trao đổi văn hóa có hiệu quả, tiến triển trong việc giải quyết các vấn đề ranh giới, và phối hợp chặt chẽ hơn và hỗ trợ lẫn nhau về các vấn đề quốc tế quan trọng và các vấn đề trong khu vực. Ông nhấn mạnh rằng, vì lợi ích của sự phát triển trong tương lai của quan hệ song phương, hai bên nên luôn luôn ghi nhớ tình hình chung và có một cái nhìn dài hạn trong khi duy trì tình hữu nghị láng giềng tốt. Ông kêu gọi hai bên học hỏi lẫn nhau để đạt được sự phát triển chung, và để gia tăng sự tin cậy, hiểu biết lẫn nhau và để đối phó các vấn đề một cách thích hợp, thông qua đàm phán một cách thân thiện. Ông nói them rằng: “Trung Quốc sẵn sàng làm việc với Việt Nam để chỉ đạo sự phát triển quan hệ hai nước từ vị trí chiến lược và sử dụng Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Việt – Trung như là một nền tảng để thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện song phương”.

Ông Khiêm nói đó là lập trường không thay đổi của Đảng và Chính phủ Việt Nam, nhằm tiếp tục nâng cao quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung, đó cũng là ưu tiên trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Ông nói thêm: “Việt Nam luôn ghi nhớ sự hỗ trợ của Trung Quốc cũng như sự giúp đỡ cho cuộc cách mạng và xây dựng và cam kết phát triển tình hữu nghị lâu dài với Trung Quốc. Việt Nam sẵn sàng làm việc với Trung Quốc nâng cao sự hợp tác trong các lĩnh vực khác nhau”.

Như vậy, cho đến tuần đầu tiên của tháng 7 năm 2010, quan hệ giữa hai nước vẫn thân mật, mặc dù luôn luôn có sự khác biệt về việc đòi chủ quyền của họ trên biển Đông và đã có những dấu hiệu cho thấy họ đã đồng ý để thảo luận về sự khác biệt trong một nỗ lực để đạt được một thỏa thuận đôi bên cùng đồng ý, tương tự như các thỏa thuận của họ hồi năm ngoái về phân định biên giới trên bộ.

Ngoại trưởng Clinton tại cuộc họp với khối ASEAN tại Hà Nội 7/2010

Mọi chuyện bắt đầu đi lệch giữa hai nước sau khi bà Hillary Clinton, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, mạnh mẽ nói đến vấn đề biển Đông tại cuộc họp của các Bộ trưởng Ngoại giao ở Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) tại Hà Nội vào tuần thứ ba của tháng 7 năm 2010, và dự kiến Hoa Kỳ như là một bên liên quan trong việc bảo đảm quyền tự do đi lại. Trong khi Hoa Kỳ không đòi chủ quyền lãnh thổ ở biển Đông, họ có lợi ích quan trọng trong việc bảo vệ quyền tự do đi lại của tàu bè và máy bay. Một kết luận rõ ràng từ sự can thiệp của bà [Clinton] đó là, Hoa Kỳ đã quyết định thách thức việc đòi chủ quyền của Trung Quốc rằng Trung Quốc có chủ quyền trên toàn bộ biển Đông.

Trung Quốc đã đòi chủ quyền như thế này trong vài năm và họ đã lặp lại sau cuộc họp ARF. Tân Hoa xã đăng tin như sau vào ngày 30 tháng 7 năm 2010: “Một quan chức Bộ Quốc phòng Trung Quốc hôm thứ Sáu (ngày 30 tháng 7) cho biết, Trung Quốc có ‘chủ quyền không thể tranh cãi’ trên các đảo ở biển Đông và vùng biển xung quanh. Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng, ông Cảnh Nhạn Sinh nói trong một cuộc họp báo rằng, Trung Quốc sẽ thúc đẩy việc giải quyết những khác biệt về biển Đông với ‘các nước có liên quan’ thông qua đối thoại và đàm phán, và phản đối việc quốc tế hóa vấn đề. Trung Quốc sẽ tôn trọng các quyền tự do của tàu bè và máy bay của ‘các quốc gia có liên quan’ đi qua biển Đông theo quy định của luật pháp quốc tế, ông Cảnh nói”.

9 . Đó là ý kiến về biển Đông như là vùng biển quốc gia mà Trung Quốc thực hiện chủ quyền lịch sử mà bà Clinton tìm cách thách thức một cách mạnh mẽ, Hoa Kỳ đã và đang thách thức việc đòi chủ quyền của Trung Quốc ngay cả trước đó, nhưng một cách kín đáo để không ảnh hưởng đến quan hệ song phương Mỹ – Trung. Hội nghị ARF tại Hà Nội đã đánh dấu một bước ngoặt trong các tuyên bố của Mỹ về chủ đề này. Bà Clinton đã đưa ra lập trường của Hoa Kỳ một cách công khai và mạnh mẽ về các vấn đề nêu ra bởi lập trường của Trung Quốc đối với biển Đông mà không còn lo ngại tác động của nó lên quan hệ Trung – Mỹ. Đó là, như thể Hoa Kỳ đã quyết định rằng thời cơ đã đến để nói thẳng lập trường của Hoa Kỳ trước công chúng thay vì thể hiện mối nghi ngại với Bắc Kinh một cách kín đáo như họ đã làm trong quá khứ.

10. Điều gì đã gây ra sự thay đổi quan trọng trong lập trường của Hoa Kỳ? Phải chăng chính phủ của Tổng thống Barack Obama đã không hài lòng về những gì họ cảm nhận khi quan điểm không hợp tác của Trung Quốc tại hội nghị khí hậu ở Copenhagen hồi cuối năm ngoái? Hay sự quan ngại của Washington qua việc Trung Quốc miễn cưỡng lên án Bắc Hàn trong việc tấn công tàu Nam Hàn hồi tháng 3 vừa qua? Hoặc là sự giận dữ của Washington vì bị làm nhục khi Bắc Kinh từ chối chuyến viếng thăm đã thoả thuận của ông Robet Gates, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đến Bắc Kinh, để phản đối việc Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan? Hoặc là có bất kỳ thể hiện sự quan ngại kín đáo nào của một số thành viên ASEAN gửi tới Hoa Kỳ qua việc quyết đoán ngày càng gia tăng của Hải quân Trung Quốc ở biển Đông và qua những gì mà họ xem hai chuẩn mực khác nhau của Trung Quốc trong về vấn đề này.

Trung Quốc tìm cách ngăn chặn bất kỳ nỗ lực nào của các nước như Việt Nam để khai thác trong khu vực và vùng biển mà họ đòi chủ quyền về dầu hỏa và khí đốt, rằng tất cả các vấn đề liên quan đến quyền thăm dò, quyền đánh cá v.v… nên để dành để giải quyết trong tương lai, trong khi chính Bắc Kinh đã không tuân theo thỏa thuận này về cả chữ lẫn ý. Thật khó có thể nói chính xác những gì gây ra sự can thiệp của Hoa Kỳ một cách mạnh mẽ, ủng hộ các nước ASEAN tại Hà Nội. Có thể đây là sự tổng hợp của tất cả các yếu tố nói trên.

Theo báo Washington Post ngày 31 tháng 7 năm 2010, ông Đới Bỉnh Quốc đã nói với bà Hillary Clinton hồi tháng 5 năm 2010, trong một trao đổi căng thẳng trên khu vực mà Trung Quốc đã xem tuyên bố của mình trên biển Đông là sự “quan tâm cốt lõi của quốc gia”. Đại sứ quán Trung Quốc ở Washington cũng yêu cầu Bộ Ngoại Giao không đưa vấn đề ra trước cuộc họp tại Hà Nội và dường như [Trung Quốc] nghĩ rằng Washington sẽ làm theo các mong muốn của Trung Quốc. Trung Quốc đã bất ngờ khi bà [Clinton] nêu ra vấn đề, mặc dù theo yêu cầu của Trung Quốc không nên làm như vậy tại cuộc họp ARF hôm 23 tháng 7 năm 2010.

Báo Wasington Post cho biết: “Hoa Kỳ tiếp tục vấn đề này dường như làm ngạc nhiên các lãnh đạo Trung Quốc, mặc dù các quan chức Mỹ đã nói với Trung Quốc về vấn đề này hàng tháng. Các viên chức Hoa Kỳ và châu Á cho biết rằng, Việt Nam và Hoa Kỳ là những nước dẫn đầu đưa ra phần nào các mối lo ngại rằng, lực lượng hải quân Trung Quốc ngày càng hiếu chiến trên biển, giữ tàu đánh cá và bắt các thủy thủ của các nước khác. Một số vụ nổ súng cũng đã xảy ra trong những tháng gần đây, các viên chức châu Á nói”.

Mức độ phiền toái của Hà Nội đối với Bắc Kinh là hiển nhiên, thực tế là họ đã áp dụng các biện pháp chắc chắn làm Bắc Kinh bực mình khi tăng cường quan hệ với Mỹ. Có hai sự tiến triển có ý nghĩa đáng kể trong mối quan hệ này. Thứ nhất là báo cáo rằng Hoa Kỳ và Việt Nam đang đàm phán thỏa thuận hợp tác hạt nhân dân sự, tương tự như thỏa thuận đã được ký kết giữa Hoa Kỳ với Ấn Độ hồi tháng 7 năm 2005. Kế đến là chuyến viếng thăm, rõ ràng là với sự tán thành của Hà Nội, tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân, tàu USS Washington (*) đến vùng biển Việt Nam hôm 8 tháng 8 để đánh dấu kỷ niệm 15 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

Trước đó, tàu này đã tham gia diễn tập chung với Hải quân Nam Hàn Quốc ở biển Nhật Bản. Nó đã đến Hoàng Hải trong thời gian diễn tập, nhưng Hoa Kỳ đã quyết định thực hiện cuộc tập trận ở ngoài Hoàng Hải để đáp ứng các phản đối của Trung Quốc. Cùng lúc, Hoa Kỳ đã nói rõ ràng rằng, họ dành quyền được gửi tàu này đến Hoàng Hải, có thể trong tháng 9, như một phần trong cuộc diễn tập chung với Hải quân Nam Hàn. Đối với Việt Nam đã nhận con tàu này, đó là quan tâm đến Trung Quốc vẫn chưa có tàu sân bay riêng, là một bước đi táo bạo để nhấn mạnh sự phiền toái của họ với Bắc Kinh bằng cách tìm kiếm sự áp đặt nguyện vọng của mình trên các nước ASEAN có các tuyên bố hợp pháp ở vùng biển Đông. Một số nhà phân tích Trung Quốc đã mô tả những dấu hiệu này của Hoa Kỳ và Việt Nam đến gần với nhau hơn, như là gây bất ổn. Điều này đã không ngăn cản Việt Nam thực hiện các cuộc thương lượng với Hoa Kỳ.

Bà Nguyễn Phương Nga, phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết, hôm 5 tháng 8 năm 2010, rằng các tàu Trung Quốc đã tiến hành thăm dò địa chấn từ cuối tháng 5, gần quần đảo Hoàng Sa. Bà cáo buộc Trung Quốc “vi phạm chủ quyền của Việt Nam và quyền chủ quyền trên biển Đông”. Trong lời đáp lại rõ ràng, bà Khương Du, phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói trong một thông cáo báo chí đăng trên website của Bộ ngày 6 tháng 8 rằng, Trung Quốc kiên quyết phản đối bất kỳ lời bình luận và hành động nào vi phạm chủ quyền trên quần đảo Tây Sa (tức Hoàng Sa) và vùng biển lân cận ở biển Đông. Bà nói thêm rằng: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và vùng biển lân cận”.

Ông Su Hao, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quản lý Xung đột và Chiến lược, thuộc Đại học Ngoại giao Trung Quốc, đã nói với “China Daily” rằng, luật pháp quốc tế và lịch sử đã cho Trung Quốc chủ quyền đối với khu vực. “Trung Quốc là nước đầu tiên đã phát hiện và đặt tên quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) ở biển Nam Trung Hoa (biển Đông) và cũng là nước đầu tiên đã chính thức đặt các đảo ở biển Nam Trung Hoa (biển Đông) dưới một chính quyền. Thật ra, các tàu Trung Quốc đã và đang làm nghiên cứu ở khu vực Tây Sa (Hoàng Sa) trong một thời gian dài. Không phải là lần đầu tiên. Bây giờ Việt Nam đang thách thức hiện trạng, nhưng hoàn toàn không chứng cứ lịch sử và pháp lý hỗ trợ và các nhận xét của họ trùng hợp với quan điểm của Hoa Kỳ. Việt Nam đã cố ý đưa vấn đề biển Nam Trung Hoa, nhằm quốc tế hóa vấn đề, để nó có thể hành động như một đối trọng mạnh mẽ hơn đối với Trung Quốc, đã được Hoa Kỳ ủng hộ”.

Ông Xu Liping thuộc Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc đã tuyên bố rằng, Việt Nam chưa hề đặt ra bất kỳ câu hỏi nào về chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và vùng biển lân cận khi Việt Nam và Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao. Ông nói thêm: “Mỹ cần Việt Nam như một trong những công cụ của họ để đối trọng với sự phát triển của Trung Quốc, nhưng theo ý tôi, hai nước sẽ không xích lại quá gần nhau, mà họ chỉ lợi dụng lẫn nhau trong lúc này mà thôi”.

Phản ứng của Trung Quốc về những tiến triển trong quan hệ Việt – Mỹ cần theo được dõi chặt chẽ. Liệu cuối cùng họ sẽ tránh bất kỳ hành động nào chống lại Việt Nam và giảm sự quyết đoán của họ ở biển Đông? Hoặc họ sẽ gia tăng sự quyết đoán hơn nữa để dạy cho Việt Nam một bài học ngay cả khi có nguy cơ về một cuộc xung đột hải quân có thể có trong vùng biển giữa hai nước?

Tin tức về sự quyết đoán của Trung Quốc chống lại Việt Nam ở biển Đông trùng khớp với các tin tức về việc Trung Quốc tăng cường hơn nữa các nối kết cơ sở hạ tầng của họ với Tây Tạng để tăng cường khả năng vận chuyển nhanh Lực lượng Quân đội và Không quân. Một số dự án như xây dựng sân bay mới ở Tây Tạng và gia tăng khả năng vận chuyển hàng hóa trên tuyến đường sắt tới Tây Tạng đã được xúc tiến và tìm cách được thực hiện trước thời hạn. Tại sao lại vội vàng như thế này? Các hoạt động ngày càng tăng của các nhà xây dựng cơ sở hạ tầng ở Tây Tạng cho thấy chính nó có sự chuẩn bị cho một cuộc xung đột quân sự với Ấn Độ nếu họ quyết định đã đến lúc buộc Ấn Độ ngưng các dự án cơ sở hạ tầng tại Arunachal Pradesh, nơi Trung Quốc tuyên bố là miền Nam Tây Tạng.

Những sự phát triển liên quan đến quân sự của Trung Quốc có có liên quan đến mối quan hệ với Việt Nam và Ấn Độ cần được quan sát kỹ hơn.

Tác giả là Bộ trưởng đã về hưu, thuộc Ban Thư ký Nội các của chính phủ Ấn Độ, New Delhi, và hiện là Giám đốc Viện Nghiên cứu các đề tài thời sự, Chennai, ông cũng hợp tác với Trung tâm Chennai về Nghiên cứu Trung Quốc.

———

(*) Tàu USS John McCain đến thăm Việt Nam hôm 10 tháng 8, không phải tàu USS George Washington.

© Đàn Chim Việt