Translate

Wednesday, December 23, 2009

Bài phân tích rất tuyệt vời của Hòa Thuợng Thích Viên Định (GHPGVNTN)

Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam thuờng gán tội “cấu kết với các thế lực thù địch âm muu lật đổ chính quyền” lên các thành viên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, các Giáo Hội độc lập của các tôn giáo, các thân hào, nhân sĩ, các nhà trí thức, các văn nghệ sĩ, các sinh viên, học sinh biểu tình, vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải cho Tổ quốc Việt Nam.

Không một quốc gia văn minh, dân chủ nào trên thế giới có “các thế lực thù địch âm muu lật đổ chính quyền”, không luật pháp nuớc nào có tội danh đó.

- Tại sao Nhà cầm quyền độc tài Cộng sản luôn có các “Thế lực thù địch”?

Năm 1975, Cộng sản Bắc Việt dùng vũ lực cuỡng chiếm miền Nam rồi duy trì sự cai trị độc tài, độc đảng suốt từ đó đến nay bằng súng đạn, quân đội, nhà tù, công an, khủng bố, bưng bít, lừa dối, tuyên truyền. Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam là một trong số rất ít những nhà cầm quyền còn sót lại trên thế giới đã cuớp chính quyền bằng bạo lực. Trong khi đó, toàn dân lại luôn mong muốn có một chính quyền đuợc bầu cử hợp pháp bằng lá phiếu của nguời dân một cách tự do, dân chủ, công bằng, một chính quyền thật sự của dân, do dân, và vì dân. Không do dân bầu, bất hợp pháp, nên Nhà cầm quyền độc tài cộng sản Việt Nam luôn ở trong tình trạng bất an, lúc nào cũng cảm thấy có “các thế lực thù địch âm muu lật đổ chính quyền”.

Trong một chế độ dân chủ, đa nguyên, đa đảng, câc đảng phái, mặc dù đối lập nhau, nhung không thù địch, trái lại, hỗ tương, bổ khuyết nhau, rất cần cho sự cạnh tranh để phát triển đất nuớc. Trái lại, duới chế độ độc tài, độc đảng, thì bất cứ tổ chức, cá nhân nào vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, đều bị xem là vi phạm luật pháp, là thù địch.

Mặc dù bị nhà cầm quyền độc tài bỏ tù, quản thúc, gán tội vi phạm luật này, luật nọ, những điều luật mơ hồ, phản tự do, phi dân chủ, chống nhân quyền, trái với Công uớc quốc tế… những nguời bị hãm hại này lại chính là những nguời mà Đức Cố Tăng Thống, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Đại Lão Hoà thuợng Thích Huyền Quang gọi là những nguời “tù không tội”. Bởi vì vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, toàn vẹn lãnh thổ, góp công với đất nuớc, sao gọi là tội ?

- Các “ thế lực thù địch” của Nhà cầm quyền cộng sản là ai?

“Thế lực thù địch” dễ biết nhất là cộng đồng nguời Việt tỵ nạn cộng sản ở nuớc ngoài, tiếp đến là các đảng phái chính trị không cộng sản trong và ngoài nuớc, và cuối cùng là 85 triệu nguời dân Việt trong nuớc ngày đêm mong muốn đuợc sống trong không khí Tự do, Dân chủ, Nhân quyền như các dân tộc văn minh khác trên thế giới. Ngoài ra, cũng phải kể đến một số tổ chức, hội đoàn và chính quyền các nuớc văn minh chống độc tài, độc đảng, yểm trợ các phong trào vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền, công bằng, phát triển tại Việt Nam.

- Có “âm mưu lật đổ chính quyền” hay không?

Tất cả các đảng Cộng sản trên thế giới đều dùng bạo lực để cuớp chính quyền. Trái lại, các đảng phái chính trị, không cộng sản, của nguời Việt trong và ngoài nuớc, các cộng đồng nguời Việt tỵ nạn cộng sản, các nhà lãnh đạo tôn giáo, các bậc sĩ phu, trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên, học sinh và 85 triệu nguời dân trong nuớc, hiện nay, không có thành phần nào chủ trương dùng bạo lực để lật đổ chính quyền.

Theo trào lưu dân chủ trên thế giới, nguời dân Việt Nam, ai cũng mong muốn có một cuộc bầu cử trong tự do, dân chủ, công bằng để bầu ra một chính quyền đích thực “của dân, do dân, và vì dân”. Đảng phái nào đuợc dân ủng hộ, đắc cử, thì đứng ra lập chính quyền. Trong thế giới dân chủ, văn minh ngày nay không chấp nhận việc dùng bạo lực để cuớp chính quyền. Cũng không chấp nhận việc dùng súng đạn, công an, nhà tù…để duy trì quyền lực.

Nhà cầm quyền độc tài Cộng sản Việt Nam, theo chủ thuyết Mác-Lê, vừa sai lầm, vừa lạc hậu đã cản trở buớc tiến của dân tộc. Vì đặc quyền đặc lợi, muốn tiếp tục nắm giữ quyền hành, nhưng Nhà cầm quyền cộng sản lại không dám tranh cử công bằng với các đảng phái, cá nhân thuộc thành phần đối lập, nên cố tình gán cho các thành phần khác là “các thế lực thù địch” để dễ tuyên truyền, đàn áp, tiêu diệt. Việc ghép tội “âm muu lật đổ chính quyền” lên các cá nhân, đảng phái đối lập là hoàn toàn vu cáo.

Tình trạng độc tài đảng trị lâu ngày sinh ra các tệ nạn tham nhũng, hối lộ, cắt xén, mua bằng, bán chức…làm băng hoại xã hội, cản trở buớc tiến của dân tộc. Lo lắng truớc hiểm hoạ độc tài này, trong Thư Chúc Xuân gửi các bậc sĩ phu, trí thức, văn nghệ sĩ năm Ất Dậu, 2005, Đại Lão Hoà thuợng Thích Quảng Độ, Viện truởng Viện Hoá Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã nói rằng, “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và trong cương vị Tăng sĩ, chúng tôi không làm chính trị, không tham gia chính trị. Nhưng chúng tôi phải có thái độ chính trị”. Hoà thuợng đã đề nghị giải pháp đa nguyên đa đảng, buớc đầu có thể là 3 đảng, “Chỉ cần một đảng tả khuynh, một đảng hữu khuynh, một đảng trung hòa đại diện cho các dòng suy nghĩ chính lưu”. Nhung Nhà cầm quyền cộng sản cứ khăng khăng cố giữ thể chế độc tài độc đảng, cho rằng “bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát”. Điều 4 trong Hiến Pháp hiện nay, dành cho Đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo đất nuớc, giống nhu thời phong kiến, Thiên tử, con trời, đuợc độc quyền cai trị đất nuớc, không ai đuợc tranh giành.

Nghị quyết 1481, ngày 25.1.2006, Quốc Hội Âu châu đã lên án các Đảng cộng sản trên thế giới là phi nhân tính, là thảm hoạ dân tộc, là tội ác chống nhân loại. Hoa kỳ đã lập Đai tuởng niệm trên 100 triệu nạn nhân đã bị các chế độ cộng sản sát hại trên thế giới. Vậy mà Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam vẫn còn tiếp tục làm những việc trái luật pháp, phản dân chủ, bắt nguời, giam giữ mà không cho liên lạc với thế giới bên ngoài, không cho luật sư biện hộ, dùng những lời khai, đưa lên báo, đại để bôi nhọ, lăng nhục, trong khi Hiến Pháp, điều 72, xác nhận rằng : “ Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”.

Không sao cả, có thể, nay một vài luật sư, mai vài ba bác sĩ, ngày mốt là các tu sĩ, bữa kia là công nhân, rồi tiếp đến là nông dân, thương gia, sinh viên, học sinh…các giới cùng bị đưa lên báo, đài, với cùng tội danh, “chống nhà cầm quyền độc tài, vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền và công lý”. Càng có nhiều nguời chống độc tài, nền dân chủ sẽ đến với dân tộc ngày càng gần hon.

Mỗi nguời, tuỳ sức khoẻ cá nhân, tuỳ hoàn cảnh gia đinh, vợ dại, con thơ, cha già, mẹ yếu, có cách đối phó riêng trong cuộc chiến giành tự do rất gian khó này. Cần phải sống để giành cho đuợc Tự do, Độc lập cho dân tộc. Cái tội, “chống độc tài, yêu tự do”, ai lại không muốn lãnh ? Nếu những nguời vận động cho tự do, dân chủ, nhất thời có bị đàn áp, chỉ đưa tới sự thắng thế của bạo lực, không có gì phải tủi hỗ. Cuối cùng, Tự do, Dân chủ sẽ thắng !

Tuy chăm chú việc lên án các đảng phái chính trị và những nguời khác chính kiến là “thù địch”, nhung hiện nay Nhà cầm quyền cộng sản, luôn tránh né, không bao giờ đề cập, lên án tội “ Cấu kết với thế lực thù địch âm muu xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam”, cái tội liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của tổ quốc và dân tộc mà các nhà lãnh đạo các tôn giáo, các đảng phái, các tổ chức, các sĩ phu, trí thức, sinh viên, học sinh và 85 triệu nguời dân đang rất quan tâm, hồi hộp, lo lắng từng ngày. Nếu gọi là thù địch thì giặc ngoại xâm mới thật sự là thù địch. Không nên điên đảo, nhìn kẻ cuớp nuớc là bạn, xem đồng bào ruột thịt là thù.

Cái “ Thế lực thù địch lâu đời” này mới đáng lo, nó không âm muu lật đổ chính quyền, mà nguy hại hơn, “âm muu xâm chiếm Tổ quốc Việt Nam !” . Việc thay đổi chính quyền chỉ là chuyện nhỏ, chuyện nội bộ. Tổ quốc là của chung, không phải riêng ai. Các đảng phái thay nhau lập chính phủ chỉ là sự cạnh tranh, cần có, tránh sự trì trệ, để phát triển đất nuớc. Không thể một mình một chợ, một đội bóng một sân banh, mặc tình, tham nhũng, hối lộ, cắt xén, làm đất nuớc suy yếu, nghèo đói, tụt hậu. Nay, đảng này lên, mai, đảng kia xuống, chỉ là những chuyện thuờng ngày trong các bản tin thời sự quốc tế, không có gì là quan trọng, ầm ĩ hay thù địch. Tổ quốc bị xâm lăng mới là chuyện lớn, mới là chuyện thù địch.

- “Thế lực thù địch” của Dân tộc đang “âm muu xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam” là ai?

Hỏi tức là trả lời. Toàn dân, già, trẻ, lớn, bé, ai cũng biết, cái “thế lực thù địch” với Tổ quốc và dân tộc Việt Nam từ xua đến nay chính là Bắc phương! Việt Nam đang bị Hán hoá! Hoạ mất nuớc đã bắt đầu:

- Năm 1958, Nhà cầm quyền Trung cộng tuyên bố lãnh hải của Trung quốc bao gồm các hải đảo Hoàng sa, Truờng sa của Việt Nam. Năm 1974, Trung cộng đánh chiếm quần đảo Hoàng sa. Năm 1979, Trung cộng đánh chiếm 6 tỉnh miền Bắc, khi rút về, dời cọc biên giới, lấy mất Ải Nam quan, Thác Bản Giốc. Năm 1988, Trung cộng đánh chiếm quần đảo Trường sa. Năm 2005, 2006, ngư dân Thanh Hóa ra đánh cá trong vùng lãnh hải Việt Nam quen thuộc, nhiều lần bị lính Trung cộng bắn chết, bắt nguời bị thuong, cuớp ghe thuyền kéo về giam cầm tại đảo Hải Nam Trung quốc. Năm 2007, Trung cộng tuyên bố thiết lập Huyện Tam sa bao gồm các quần đảo Hoàng sa, Trường sa của Việt Nam. Năm 2008, Trung cộng và nhà cầm quyền Hà nội hoàn thành việc cấm mốc biên giới phía Bắc lùi sâu vào địa phận lãnh thổ Việt Nam. Năm 2009, Trung cộng đuợc nhà cầm quyền Hà nội mời vào khai thác quặng Bô-xit ở Tây nguyên, gây nguy cơ an ninh quốc phòng nơi vùng chiến lược yết hầu của Việt nam và Đông dương do sự uy hiếp của hàng chục nghìn công nhân Trung quốc. Ngoài ra còn tàn phá môi truờng, thải ra hàng núi Bùn đỏ độc hại làm ô nhiễm môi truờng nghiêm trọng, lâu dài trong lòng đất, sông ngòi và khí hậu cho cả khu vực Nam Trung bộ và Miền nam Việt Nam. Nguy hại nhất là vị trí chiến luợc quốc phòng bị chiếm đóng. Năm 2009, Trung cộng cấm đánh cá 3 tháng trên Biển Đông, bắt tàu thuyền, ngư dân Việt Nam, đòi tiền chuộc…

Suốt 4 ngàn năm lịch sử, ông cha ta không làm mất một tấc đất, ngày nay, mới vài chục năm, tổ quốc đã bị xâm lấn từ biên giới phía Bắc đến hải đảo phía Đông, cả Tây nguyên cũng sắp mất.

Đã xác định đuợc “thế lực thù địch âm mưu xâm lăng Tổ quốc” là “Trung cộng” thì cũng xác định đuợc:

- Ai là kẻ “cấu kết với thế lực thù địch âm muu xâm lăng Tổ quốc”?

Nhân dân Việt Nam, với truyền thống anh hùng, mấy nghìn năm chống “thế lực thù địch phuong Bắc”, tại sao ngày nay lại để quê hương tổ quốc, từng phần, roi dần vào tay kẻ thù truyền kiếp một cách âm thầm như vậy?

Phải có sự cấu kết trong nuớc nên các cuộc biểu tình, lên tiếng chống Trung cộng của sinh viên, học sinh và đồng bào ta mới rụt rè, yếu ớt, mau tàn rụi vì bị hăm doạ, cản trở từ phía Nhà cầm quyền vào đến cảc trường đại học bởi lý do : “không đuợc phép”.

Phải có sự cấu kết trong nuớc, Trung cộng mới vừa là kẻ xâm lăng vừa lại đuợc uu tiên trong việc đấu thầu các công trình khai thác ở Việt Nam.

Phải có sự cấu kết trong nuớc, Trung cộng mới dễ dàng xâm chiếm các hải đảo, lãnh hải, biên giới, đưa dân tràn vào Việt nam một cách tự do, ào ạt, không cần chiếu khán. Đây là một cuộc xâm lăng kiểu mới, rất tinh vi, quân dân Trung cộng đang đổ bộ vào chiếm đóng nuớc ta một cách nhẹ nhàng, êm thắm, không tốn một viên đạn, không mất một giọt máu.

Quân đội và đồng bào ta đã anh dũng hy sinh để bảo vệ tổ quốc trong các trận chiến đảo Hoàng sa năm 1974, đảo Truờng sa năm 1988, nhất là cuộc chiến rất ác liệt ở biên giới phái Bắc năm 1979, gần 40 nghìn quân đân Việt Nam đã bỏ mình vì tổ quốc, vậy mà hàng năm không thấy tổ chức kỷ niệm, nêu gương hy sinh bảo vệ tổ quốc cho con cháu noi theo. Trái lại, cứ mỗi lần Tết đến, Nhà cầm quyền lại tổ chức viếng lễ các nghĩa trang quân xâm lăng Trung cộng, đặt vòng hoa: “đời đời nhớ ơn các liệt si Trung quốc”.

Công Hàm ngày 14.9.1958, do Thủ tuớng Bắc Việt, Phạm văn Đồng, ký công nhận tuyên bố của Trung cộng, lãnh hải Trung quốc bao gồm đảo Hoàng sa và Truờng sa của Việt Nam, có phải là bằng chứng cấu kết với thế lực thù địch âm muu xâm lăng tổ quốc ?

Phương châm 16 chữ vàng: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, huớng tới tương lai” và 4 tốt : “láng giềng tốt, hợp tác tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” có phải là bằng chứng của sự cấu kết ?

Đảng cộng sản Việt Nam theo chủ thuyết Mác-Lê với lý tuởng : “vô gia đinh, vô tổ quốc, vô tôn giáo”. Nếu hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung quốc đa: “ hợp tác toàn diện” theo lý tuởng “vô tổ quốc” trong tinh thần : “đồng chí tốt” thì còn gì là Dân tộc !, còn gì là non sông!

Hoạ mất nuớc đa đến, tái hiện cảnh : Ngàn năm làm nô lệ Bắc phuong!

Tổ quốc lâm nguy!!!

Thích Viên Định

Merry Christmas

Bài Thánh Ca Buồn

Tuesday, December 22, 2009

Hiện đại hóa quân đội

2009-12-22

Hôm nay kỷ niệm 65 năm ngày quân đội nhân dân Việt Nam. Trong một bài phát biểu nhân dịp lễ kỷ niệm, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã nói sự hiện đại hóa quân đội Việt Nam trong giai đoạn này là hết sức cần thiết để nâng cao khả năng chiến đấu của quân đội Việt Nam trước những kẻ thù.

Việt Hà có bài phỏng vấn giáo sư Carlyle Thayer, giáo sư môn chính trị học thuộc học viện quốc phòng Úc, người có nhiều nghiên cứu về tình hình chính trị quân sự ở châu Á, về khả năng
Quân đội nhân dân Việt Nam
Quân đội nhân dân Việt Nam. (Ảnh ghi nhận từ YouTube)
hiện đại hóa quân đội Việt nam và những thách thức trong giai đoạn mới. Đánh giá về quân đội Việt Nam, trước hết ông Carlyle Thayer cho biết:

Thực lực quân đội VN

Quân đội Việt Nam đã có những bước thụt lùi kể từ sau khi Liên bang Xô Viết sụp đổ hồi năm 1991 vì họ có toàn những thiết bị và vũ khí trị giá hàng tỷ đô la của Liên xô cũ mà họ không thể tự duy trì, bảo hành, bị hư hỏng dần theo thời gian. Cho nên bây giờ họ đang cố gắng bắt kịp lại với thay đổi. Điều khác nhau là vào năm 1991 thì họ phụ thuộc vào Liên xô trong hiệp ước Vacsava, còn bây giờ họ phụ thuộc vào Nga về vũ khí và tiếp tục mở rộng quan hệ với nhiều nước khác nữa ngoài những nước trong khối Vacsava cũ bao gồm cả việc mua máy bay từ Pháp chẳng hạn.

Quân đội Việt Nam đã có những bước thụt lùi kể từ sau khi Liên bang Xô Viết sụp đổ hồi năm 1991 vì họ có toàn những thiết bị và vũ khí trị giá hàng tỷ đô la của Liên xô cũ mà họ không thể tự duy trì, bảo hành

Việt Hà: Vậy ông đánh giá nội lực của  quân đội Việt nam thế nào so với các nước khác trong khu vực

Carl Thayer: chúng ta có thể so sánh trên nhiều mặt như khả năng tự bảo vệ của quân đội Việt Nam, và thực sự là đội dân quân tự vệ của Việt Nam là một đội ngũ đáng kể có khả năng bảo vệ tốt. Hệ thống bảo vệ trên không của họ đã từng rất tốt trong thời gian chiến tranh Việt Nam nhưng rồi bị xuống cấp, hỏng và chỉ có thể bảo vệ một vài thành phố lớn. Việt Nam chưa bao giờ có một hải quân mạnh, kể cả so sánh trong khu vực. Việt Nam có khả năng hạn chế trong việc phô trương sức mạnh trên biển.

Việt nam chỉ có thể đối đầu được với Lào, Campuchia và có thể tự bảo vệ mình khỏi những cuộc tấn công từ Trung Quốc. Nhưng Việt Nam chỉ có rất ít máy bay hoạt động tầm xa. Nếu so sánh về lực lượng biển, tấn công chiến lược để thu lấy lãnh thổ thì việt nam chỉ đứng hạng 4 trong tất cả, trừ khả năng tự bảo vệ mình. Hạng đầu là Singapore. Quân đội Việt Nam có thể tương đương với quân đội Miến Điện, Brunei, Campuchia, Lào, Philippines nhưng khổng thể so với Singapore, Malaysia, và Thái Lan. Trên tất cả là Trung Quốc. Việt Nam xếp ở danh sách 6 nước cuối trong tổng số 10 nước Đông nam Á.

Việt Hà: Với thực lực của Việt Nam như vậy, theo ông đánh giá Việt nam có gặp trở ngại nào trong nỗ lực tự bảo vệ mình? Đâu là kẻ thù tiềm năng mà Việt Nam phải đối mặt?

Carlyle Thayer: chúng ta  nhận thấy các nước yếu cũng dễ bị các nước khác xâm lược và gây hấn. Việt nam có thể tự bảo vệ mình. Khả năng một nước nào đó xâm lược Việt Nam trên bộ sẽ là hết sức khó khăn. Nhưng Việt Nam lại có đến gần 3000 km bờ biển và có những khu kinh tế biển quan trọng mà Việt Nam đang cố gắng xây dựng khả năng hải quân trong suốt khoảng 15 năm qua để bảo vệ.

Nước duy nhất có khả năng đe dọa Việt Nam là Trung quốc. Có nhiều thế lực bên ngoài khác cũng có thể đe dọa Việt Nam nhưng họ không có ý định đó. Việt nam và Trung quốc thì lại đang có tranh chấp trên biển Đông, việc Trung quốc xây dựng đảo Hải Nam cũng đặt Việt nam vào thế bất lợi về mặt chiến lược.

Quân đội Việt Nam có thể tương đương với quân đội Miến Điện, Brunei, Campuchia, Lào, Philippines nhưng khổng thể so với Singapore, Malaysia, và Thái Lan. Trên tất cả là Trung Quốc. Việt Nam xếp ở danh sách 6 nước cuối trong tổng số 10 nước Đông nam Á.

Những thách thức

Việt Hà: Việt nam đang cố gắng hiện đại hóa quân đội của mình bằng cách mua vũ khí từ các nước khác như tàu ngầm từ Nga, máy bay từ Pháp. Xin ông cho biết những rủi ro và thách thức đi kèm khi Việt nam tiến hành hiện đại hóa quân đội?

Carlyle Thayer: Rủi ro đầu tiên là vấn đề về chi phí. Sách trắng của Việt nam vừa công bố với các số liệu quốc phòng cho thấy không cách nào mà có thể dùng toàn bộ ngân sách năm ngoái chỉ để mua 6 tàu ngầm. Mà 6 tàu ngầm này chưa bao gồm cả việc huấn luyện, trang bị hạ tầng. Vì vậy tăng trưởng kinh tế của  Việt nam cần phải rất cao để có tiền chi tiêu quốc phòng. Đây là một trò mèo vờn chuột.

Một khi một nước đang cố gắng thu lấy lợi thế so với nước khác, thì các nước khác cũng sẽ vào cuộc và có  phản ứng. Vì thế Việt Nam có thể rơi vào tình huống là một sự gia tăng về quân sự hay trên một khía cạnh nào đó có thể gọi là chạy đua vũ trang. Mà cuối cùng thì lúc nào Trung quốc cũng mạnh hơn. Việt Nam cần những khả năng tối thiểu nhất để tránh sự bành trướng của Trung quốc, khả năng để bảo vệ các giếng dầu ngoài khơi của mình. Việt nam muốn đến năm 2030 sẽ có khoảng 50% GDP đến từ biển.

Rủi ro thứ hai nữa là vấn đề các vũ khí không tương thích với nhau. Họ mua tàu ngầm ở đây, nhưng họ không biết làm thế nào để phối hợp nó với các vũ khí khác và như thế thì tốn kém. Rồi còn vấn đề về chỉ huy điều khiển. Trong tình huống có xung đột, liệu Việt Nam có thể đảm bảo tất cả các lực lượng quân đội được sử dụng một cách hợp lý, và tránh việc người điều khiển sử dụng vũ khí vào kẻ thù hoặc ví dụ là Trung quốc hay bất cứ nước nào khác khi họ cảm thấy bị nguy hiểm thay vì tuân theo một lệnh nghiêm ngặt. Vì thế chi phí, rồi việc phối hợp các vũ khí với nhau và có được sự chỉ huy điều khiển đúng đều là những vấn đề mà Việt Nam phải đối mặt khi hiện đại hóa quân đội.

Việt Hà: Thưa ông, Việt Nam cần cân nhắc điều gì khi tiến hành mua vũ khí và hiện đại hóa quân đội?

Việt Nam cần những khả năng tối thiểu nhất để tránh sự bành trướng của Trung quốc, khả năng để bảo vệ các giếng dầu ngoài khơi của mình. Việt nam muốn đến năm 2030 sẽ có khoảng 50% GDP đến từ biển.

Carl Thayer: thứ nhất là chi phí, tiếp đến là sự cân bằng. Bằng cách mua máy bay trực thăng của Pháp mà vẫn còn các máy bay từ thời Xô Viết, hay cố gắng mua các đồ thay thế cho các máy bay Mỹ mà Việt nam có được từ thời chiến tranh, có thể tạo nên một rắc rối khủng khiếp về hậu cần cho quân đội Việt Nam. Việt nam không thể trộn lẫn mọi thứ với nhau bằng cách mua mỗi nơi một tí vì nó sẽ tạo nên khó khăn lâu dài.

Cuối cùng thì sách trắng của Việt Nam cũng không đưa ra được học thuyết cụ thể để chúng ta hiểu được là điều gì Việt Nam đang muốn trong khi tính đến chuyện nâng cao khả năng tự vệ của mình. Việc bảo vệ chủ quyền biển tất nhiên là ưu tiên hàng đầu, rồi bảo vệ biên giới. Thế nhưng trong tất cả những rủi ro thì Việt Nam phải tính đến trong khi lên kế hoạch đưa vào một thế hệ thiết bị mới cho một thập kỷ tới hoặc lâu hơn nữa thì đâu là những rủi ro chính trong một khoảng thời gian nhất định. Đó là một điều khó khăn cho người lên kế hoạch. Việt nam phải cân nhắc việc các vũ khí có phù hợp với nhau không, rồi kể cả khi có vũ khí rồi thì làm thế nào để phối hợp nó trong cả một tổng thể để khiến quân đội hoạt động hiệu quả.

Việt Hà: xin cảm ơn ông đã dành cho đài chúng tôi buổi phỏng vấn này

Monday, December 21, 2009

Đương đầu với thách thức từ Trung Quốc

Trích BBC News

Tàu ngầm của Trung Quốc

Việc Thủ tướng Việt Nam loan báo về các hợp đồng mua tàu ngầm và vũ khí của Nga đã được nhiều tờ báo và cây bút quốc tế chú ý.

Hãng thông tấn Agence France-Presse, trong bài bình luận phát đi từ Hà Nội, nhận xét các hợp đồng này là nhằm "củng cố tuyên bố chủ quyền chống lại Trung Quốc trong vùng Biển Đông".

Hãng AFP trích ý kiến của nhiều nhà phân tích nói rằng, phần lớn trang thiết bị quốc phòng của Việt Nam đã quá cũ kỹ nên nước này quyết định bỏ ra ngân sách lớn để phát triển hạm đội ngầm của mình, trogn khi quan ngại gia tăng về căng thẳng với nước láng giềng khổng lồ trong khu vực có Hoàng Sa và Trường Sa.

Hãng tin này trích lời ông Richard Bitzinger, phân tích gia về quốc phòng khu vực tại Học viện Quan hệ Quốc tế mang tên S. Rajaratnam ở Singapore, nói rằng ý tưởng chủ đạo của việc mua vũ khí là "đối chọi lại với việc tăng cường quân sự mà Trung Quốc đang tiến hành tại Biển Đông".

Ông Peter Abigail, Giám đốc Viện Chính sách Chiến lược Australia, thì được trích lời nhận định rằng quyết định của Việt Nam không gây ngạc nhiên vì lâu nay nước này đã bày tỏ quan ngại về môi trường hàng hải, "đặc biệt ở vùng Biển Đông".

Tờ nhật báo Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (South China Morning Post) xuất bản tại Hong Kong thì đánh giá rằng "Trung Quốc đang đối diện khả năng có đối thủ mới trong sức mạnh tàu ngầm tại Biển Đông" và cho đây là dấu hiệu phản ánh quan ngại của cả khu vực trước tiến trình củng cố hải quân của Bắc Kinh.

Tầm vóc của Trung Quốc khiến toàn bộ châu Á, kể cả Nhật Bản và Ấn Độ, đều không thể sánh được về sức nặng và năng lực với nước này, dù là 20 hay 30 năm nữa. Vậy cho nên chúng tôi cần nước Mỹ để đối trọng.

Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu

Không chỉ có Việt Nam, mà cả Australia, Indonesia và Malaysia đều đang tìm cách mở rộng chương trình tàu ngầm trong khi Mỹ thì lo ngại rằng ảnh hưởng và sự thống lĩnh truyền thống của mình tại Đông Á đang bị việc phát triển hải quân của Trung Quốc thu hẹp lại.

Báo này nhận định, hợp đồng mua bán vũ khí lớn nhất kể từ khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc 35 năm trước cho thấy các nước trong vùng đang cảnh giác trước xu hướng là quyền lực mềm của Trung Quốc nay có thể trở nên cứng rắn hơn.

Tờ nhật báo tiếng Anh có uy tín nhận xét: "Với việc mua sáu tàu ngầm hạng Kilo, Việt Nam còn kiến thiết quan hệ quân sự mới với Moscow, đồng minh chính thời kỳ Chiến tranh lạnh".

Chủ trương đa phương hóa quan hệ quốc phòng của Việt Nam cũng được thể hiện trong kế hoạch hình thành quan hệ quốc phòng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, quốc gia đang tăng cường hiện diện hải quân tại Biển Đông.

Cân bằng ảnh hưởng

Tất nhiên, Việt Nam nhiều lần khẳng định muốn giải quyết các xung đột, tranh chấp thông qua đàm phán hòa bình, nhưng giới chuyên gia cho rằng nước này, với đặc thù có bờ biển dài và trữ lượng dầu khí dồi dào trong lòng biển, cảm thấy dễ bị thương tổn nhất về chiến lược trong lĩnh vực hải quân và đó là lý do Việt Nam muốn có hạm đội tàu ngầm mạnh.

Ngoài tàu ngầm, Việt Nam còn muốn mua thêm nhiều chiến đấu cơ Sukhoi Su-30MK2 của Nga.

Đây là loại máy bay chiến đấu hiện đại nhất và có thể bảo vệ, hỗ trợ hải quân từ trên không.

AFP trích lời ông Bitzinger nói: "Việt Nam mong muốn nhất là tăng cường hiện diện của mình về quân sự."

Bưu điện Hoa Nam thì nói rằng ý định tìm cách quân bằng lại sự trỗi dậy của Trung Quốc là một trong những chủ đề được nhắc đến nhiều nhất trong các thảo luận cấp cao ở trong khu vực.

Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu hồi tháng 10 đã nói một câu có tính khái quát cao, trong đó ông đặt câu hỏi về tính minh bạch trong kế hoạch củng cố quốc phòng của Trung Quốc và kêu gọi Hoa Kỳ tham gia.

Ông nói Mỹ sẽ đánh mất vai trò lãnh đạo toàn cầu nếu không "đối trọng" lại với sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Hải quân Trung Quốc đang được hiện đại hóa nhanh chóng. Các nước láng giềng không đe dọa được chúng tôi

Tướng Trung Quốc Xu Guangyu

"Tầm vóc của Trung Quốc khiến toàn bộ châu Á, kể cả Nhật Bản và Ấn Độ, đều không thể sánh được về sức nặng và năng lực với nước này, dù là 20 hay 30 năm nữa. Vậy cho nên chúng tôi cần nước Mỹ để đối trọng."

Thế còn Trung Quốc nói gì trước việc Việt Nam mua vũ khí của Nga?

Hãng AFP trích một quan chức giấu tên ở tòa đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội nói rằng cả Việt Nam, Nga và các nước khác trong khu vực đều "cần nghĩ tới hòa bình và hoà bình trong vùng Biển Đông".

Tờ Bưu điện Hoa Nam trích lời một vị tướng của Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc nay đã về hưu, ông Xu Guangyu, nói: "Đây không bất ngờ và cũng chẳng phải đe dọa cho Trung Quốc".

"Việt Nam có bờ biển dài và chúng tôi hiểu tại sao họ cần nâng cấp hạm đội. Có thể họ thấy nhu cầu cấp thiết hơn vì chương trình hiện đại hóa hải quân của Trung Quốc."

"Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu các nước khác cũng bắt đầu nâng cấp hạm đội của mình. Đa phần hải quân các quốc gia trong khu vực đều làm thế cả và có thể hiểu được điều này."

Tướng Xu cho rằng cạnh tranh ở đâu cũng có, nhưng không nên thổi phồng tầm mức cạnh tranh.

"Hải quân Trung Quốc đang được hiện đại hóa nhanh chóng. Các nước láng giềng không đe dọa được chúng tôi."

Saturday, December 19, 2009

LS Trần Vũ Hải: Phạm Thanh Nghiên không phạm tội chống nhà nước

2009-12-17

Theo kế hoạch thì hôm nay – 17 tháng 12, phiên xử nhà bất đồng chính kiến Phạm Thanh Nghiên sẽ diễn ra ở Hải Phòng.

Tuy nhiên, đến giờ chót, chính luật sư tham gia bào chữa là LS Trần Vũ Hải, cho hay là ông được tòa án thông báo hoãn,
Cô Phạm thanh Nghiên
Cô Phạm thanh Nghiên đã từng được Human Rights Watch chọn trong số sáu người Việt Nam được giải Hellman Hammett năm 2009
dù rằng các luật sư tham gia bào chữa đã sẵn sàng cho việc biện hộ tại tòa.

Luận cứ bào chữa

Cô Phạm Thanh Nghiên bị cơ quan chức năng Việt Nam bắt giữ từ hồi tháng 9 năm ngoái với cáo buộc cô đã có những hoạt động tuyên truyền chống lại Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chũ nghĩa Việt Nam, theo điều 88 Bộ Luật hình sự. Một trong những hoạt động ngay trước khi bị bắt của Cô Phạm Thanh Nghiên là tọa kháng tại nhà phản đối việc chính quyền Hà Nội để mất hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về tay Trung Quốc. Đối với cáo buộc trong việc này đối với cô Phạm Thanh Nghiên thì LS Trần Vũ Hải lập luận:

Đợt tọa kháng tại nhà của cô là để kêu gọi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, và phản đối công hàm năm 1957 của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng là ‘bán nước’. Về nội dung này chúng tôi có trao đổi với chị Nghiên nói rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một người đáng kính trọng. Công hàm 1957 do ông ký cần phải xem xét lại về vấn đề lịch sử, còn nói là ‘bán nước’ thì e rằng hơi cực đoan.

Chị Nghiên cũng đồng ý với tôi như vậy. Nhưng tôi cho rằng công hàm đó là một sai lầm lớn. Ai cũng có thể sai lầm, và nhìn lại thì năm 1957-58, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới lập lại hòa bình sau năm 1954 còn rất non trẻ. Công hàm đó tuy không khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc mà chỉ công nhận vùng lãnh hải 12 hải lý mà có liên quan đến một văn bản của Trung Quốc về định nghĩa các vùng hải đảo của họ có Hoàng Sa và Trường Sa; tuy không nói trực tiếp về điều đó nhưng hiện nay Trung Quốc thường xuyên xem công hàm này là một sự công nhận của Việt Nam và là một căn cứ quan trọng là nhà nước Việt Nam đã công nhận rồi.

trong trường hợp này nếu họ rút bỏ thì có thể xem xét là thông tin chưa chính xác, hoặc chưa thuyết phục; nhưng đó cũng không phải là chống nhà nước

Tôi nói với chị Nghiên đó không phải là một công văn ‘bán nước’ được nhưng là một sai lầm, sai lầm rất lớn. Cho đến nay Trung Quốc luôn lợi dụng văn bản đó để cho rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc đã được Việt Nam công nhận.

Ý kiến của chị Nghiên về điều này chỉ là một phê phán, phản đối dù từ dùng hơi cực đoan, không nên dùng.

Cô Phạm Thanh Nghiên cùng một thanh niên hoạt động dân chủ khác tại Việt Nam là anh Ngô Quỳnh, từng đến gia đình của những ngư dân Việt Nam tại Thanh Hóa có người thân bị phía Trung Quốc bắn chết khi đang đánh bắt trong Vịnh Bắc Bộ thuộc địa phận Việt Nam, để tìm hiểu thực tế việc chính quyền giúp đỡ họ qua khó khăn đó; tuy nhiên hoạt động này cũng bị xem là vi phạm. Luật sư Trần Vũ Hải trình bày về điểm này:

Cuộc đi tìm hiểu của chị Phạm Thanh Nghiên với anh Ngô Quỳnh đến Thanh Hóa tìm hiểu một số gia đình nạn nhân bị Trung Quốc bắn chết và đã thông tin lên mạng qua bài viết về tình cảnh của gia đình nạn nhân. Bài viết dựa trên cơ sở phỏng vấn những nạn nhân, nói về việc không cấp đủ cứu trợ cho các nạn nhân. Nói chung bài viết có phê phán cách này hay cách khác chính quyền địa phương tại Thanh Hóa.

Nay thì chính quyền địa phương cho rằng bài đó là một bài viết xuyên tạc; bởi vì những người mà chị phỏng vấn - trong đó có ông Nguyễn Văn Nghiêm, ông Lê Xuân Tính họ lại có phản đối là họ không nói như trong bài của chị Nghiên viết. Khi trao đổi với chị Nghiên thì chị khẳng định họ có nói nhưng do sức ép nào đó hai người phải rút lại lời của họ. Tòa án cũng mời hai người này làm nhân chứng. Tôi nói rằng trong trường hợp này nếu họ rút bỏ thì có thể xem xét là thông tin chưa chính xác, hoặc chưa thuyết phục; nhưng đó cũng không phải là chống nhà nước. Nếu cần thì đính chính hoặc xin lỗi.

Chứng cứ phạm tội?

Cơ quan chức năng Việt Nam khi tiến hành bắt cô Phạm Thanh Nghiên đã phát hiện trong máy tính cá nhân của lưu những bài viết của những vị lên tiếng cho dân chủ nhân quyền tại Việt Nam lâu nay như cố trung tướng Trần Độ, ông Nguyễn Thanh Giang… Cơ quan chức năng cũng vin vào đó để buộc tội cô Phạm Thanh Nghiên. Về điểm này thì LS Trần Vũ Hải bác lại:

Những bài viết của chị trên mạng có chống nhà nước hay không? Tất cả chỉ nói ý kiến chứ không tuyên truyền. theo tôi thì những nhóm hành vi của chị không thể qui kết vào vi phạm các điều của Điều 88, Bộ luật hình sự Việt Nam.

Nhóm hành vi thứ ba là chị Nghiên có trữ một số tài liệu của một số nhà hoạt động nổi tiếng như ông Nguyễn Thanh Giang, ông cựu chiến binh Vũ Cao Quận, cố trung tướng Trần Độ- bài ‘Rồng Rắn’. Họ cho rằng đó là những tài liệu chống nhà nước. Phía Viện Kiểm sát cho rằng những tài liệu đó Bộ Văn Hóa- Thông tin cấm. Chúng tôi đã kiểm tra lại và thấy chỉ cấm lưu hành mà thôi, không thấy nói gì về vấn đề nội dung; không kết luận là những bài viết đó có nội dung chống nhà nước hay không. Có thể có phê phán; nếu những bài viết đó có nội dung chống nhà nước thì phải chăng các tác giả cũng phải chịu trách nhiệm; nhưng ở đây có ai yêu cầu chịu trách nhiệm về các tác phẩm ấy đâu!

Viện Kiểm Sát trong cáo trạng cũng chưa nêu rõ các tác phẩm ấy chống nhà nước ở điểm gì? Tôi lập luận là có những tác phẩm của những nhà hoạt động nổi tiếng cũng không được lưu hành như hồi ký của ông Đoàn Duy Thành nhưng không ai có thể nói chống nhà nước XHCN được, có thể có phê phán nhưng không phải chống.

Bản thân cô Phạm Thanh Nghiên từng viết nhiều bài đưa lên mạng Internet và Viện Kiểm sát cũng cho rằng đó là những tài liệu chống chính quyền Hà Nội. Luật sư Trần Vũ Hải lập luận về điểm đó:

Những bài viết của chị trên mạng có chống nhà nước hay không? Chúng tôi có đọc kỹ nhưng chưa hết bởi vì bài viết của chị khá nhiều. Trong cáo trạng lần đầu thì cơ quan điều tra cho rằng có nhiều bài viết của chị ‘chống’; nhưng sau này họ có lượt bớt một số. Tôi đọc thì thấy một số chỉ là tài liệu cá nhân, viết thư trao đổi lẫn nhau, viết lên tình cảm của mình … Tất cả chỉ nói ý kiến chứ không tuyên truyền. Có thể có phê phán về góc này kia nhưng  khó có thể nói chống nhà nước.

Tóm lại theo tôi thì những nhóm hành vi của chị không thể qui kết vào vi phạm các điều của Điều 88, Bộ luật hình sự Việt Nam.

Trong thực tế thì hầu như tất cả những vụ xử án các nhà đấu tranh cho dân chủ- nhân quyền tại Việt Nam đều được quyết định từ trước, và chữ  để gọi cho hình thức này trong nước gọi là ‘án bỏ túi’. Giới quan sát cho rằng phần tranh luận tại tòa giữa luật sư bào chữa và phía công tố chỉ là hình thức.

Thursday, December 17, 2009

Phải chăng, pháp luật Việt Nam chỉ bảo vệ cái ác?

Trích danchimviet.com
Nguyễn Hoàng Quang
1. Từ sáng ngày 09/12/ 2009, bọn côn đồ cả trăm người ở bên ngoài đã bạo hành, ùa vào Chùa Phước Huệ quấy rối, đánh sư, phá chùa, xua đuổi tăng thân Làng Mai ra khỏi chùa Phước Huệ rồi gây sức ép buộc TT Thái Thuận ký vào biên bản đã được bọn chúng soạn sẵn trong khi phái đoàn EU Nhân Quyền Châu Âu đang đến làm việc với TT Thích Thái Thuận và thăm tăng thân- tu sỹ Phật giáo là người Việt Nam tu theo Pháp Môn Làng Mai đang tỵ nạn tại chùa Phước Huệ.

Những hành động quấy rối của bọn người nhân danh là “phật tử” nhưng có phải là phật tử? Là Phật tử ai cũng kính Phật trọng Tăng, không ai có hành động vô đạo như vậy. Chắc chắn họ không phải là phật tử. Thượng tọa Thích Thái Thuận đã nói- họ không phải là Phật tử. “Những người đó chính là những người mà họ giả Phật tử thôi “. Họ là ai? Kẻ quấy rồi, lưu manh, vô luật pháp, vô văn hóa ấy là ai? Chắc chắn không phải là người lương thiện nhưng vì sao nhà nước, những lực lượng bảo vệ pháp luật lại không có biện pháp nào để ngăn chặn khi chúng xâm phạm nơi tu hành, nơi thờ tự, chốn thiêng liêng của tôn giáo; xâm phạm nhân phẩm con người mà không bị trừng trị, thậm chí, còn được dung túng! Chùa là của thập phương chứ không phải riêng ai, vì sao chỉ một nhóm nhân danh Phật tử lại có quyền gây rối? Mỗi sự việc xảy ra, dù đúng hay sai thì pháp luật, công cụ pháp luật phải kịp thời ngăn chặn; đúng sai phải xử theo pháp luật chứ không thể để sự việc vô pháp, vô cương, rối loạn xã hội xảy ra như vậy. Nhà nước Việt Nam có luật pháp không? Nếu có vì sao lại không bảo vệ an ninh trật tự xã hội, bảo vệ người công dân sống theo pháp luật? Chẵng lẽ văn hóa, đạo đức, luật pháp, xã hội Việt Nam hiện nay xuống cấp đến thê thảm vậy sao?

2. Những kẻ bạo hành, quấy rối trên như là kẻ “chuyên nghiệp”, phải chăng đó là người “thực thi pháp luật” của nhà nước Việt Nam theo Văn thư 22t/PNV ngày 7/12/2009 của Phòng Nội Vụ Bảo Lộc bác Đơn xin gia hạn lưu trú đối với những tăng sinh tu theo Pháp Môn Làng Mai tại chùa Phước Huệ, Bảo Lộc, Lâm Đồng; Công văn số: 1185/TGCP-PG ngày 26.11.2009 do ông Nguyễn Thanh Xuân, Phó Trưởng Ban Thường Trực Điều Hành BTGCP ký bác bỏ nội dung Đơn bảo lãnh của Viện chủ Tu viện Toàn Giác và Thiền viện Vạn Hạnh thông qua 2 Công văn số 500/CV.HĐTS và 505/CV.HĐTS ngày 09 tháng 11 năm 2009 phê duyệt Đơn Bảo Lãnh của HĐTS-GHPGVN?

Việc luật pháp phải do luật pháp giải quyết. Kẻ thực thi pháp luật mang tính chất gây rối, hành động vi phạm pháp luật không thể là kẻ đại diện cho pháp luật. Chúng ngang nhiên lộng hành khi bọn chúng hai mà một.

Nhà nước bác đơn xin gia hạn lưu trú đối với những tăng sinh tu theo Pháp Môn Làng Mai tại chùa Phước Huệ lại với lý do cư trú, vì chính quyền các địa phương không chấp thuận việc những người tu theo pháp môn Làng Mai tập trung tu tập đông người tại một cơ sở Tôn giáo ở địa phương! Những lý do trên đều không chính đáng. Nước Việt Nam này là thống nhất chứ không phải mổi địa phương là một quốc gia riêng biệt. Kẻ cư trú bất hợp pháp trên đất nước này, có những người là công dân Việt Nam do cuộc sống vì mất đất, mất ruộng, mất nhà… nên đến các đô thị làm ăn nhưng còn những bọn lao động Tàu đang ở Bảo Lộc, Bảo Lâm, những kẻ da đen Châu Phi nhập lậu vào VN… gây nên những tệ nan xã hội, hiểm nguy về an ninh quốc gia nhưng sao chính quyền không có biện pháp, nhân dân “giả danh phật tử” quấy rối kia sao không “thực thi”, không có thái độ phản ứng gì để giữ gìn đất nước, bảo vệ cuộc sống an bình cho nhân dân?

Các Tu sinh Làng Mai là những công dân Việt Nam tu tại Tu viện Bát Nhã, đã bị đàn áp nay tạm trú tại Chùa Phước Huệ, họ là những người tu; họ không có hành động nào gây rối trật tự trị an, không làm chính trị; không chống đối nhà nước, thậm chí không chống lại những kẻ đàn áp mình. Họ tu theo Pháp Phật, học theo chánh pháp. Bằng hình ảnh của họ qua tu học, tu tập Phật tử các nơi đã đến với họ để dự những khóa tu. Những con người có tâm hướng thiện, tu theo chánh đạo, “tự độ, độ tha”; “cứu người, giúp đời”; họ là những người thiện tâm, là những nhân lành để xây dựng một xã hội Việt Nam sống hữu đạo, “tốt đạo, đẹp đời”, đúng ra nhà nước, địa phương cần phải trân trọng họ nhưng sao lại có hành động ngược lại, không chấp nhận họ với lý do tập trung tu tập đông người tại một cơ sở Tôn giáo ở địa phương, gây cho họ đủ mọi khó khăn mà những người dân lương thiện cảm thấy có một điều gì đó bất minh. Hay nhà nước sợ họ sẽ làm chính trị? Vụ trưởng Phật giáo Ban TGCP Bùi Hữu Dược đã nói “chưa có đủ cơ sở để kết luận Tu Sinh Làng Mai hoạt động chính trị…”(1). Chính nhà nước đã áp đắt chính trị vào tôn giáo, biến tôn giáo thành công cụ chính trị chứ tôn giáo không làm chính trị. Hoặc cho rằng HĐTS-GHPGVN không thừa nhận Làng Mai? - Không phải, vì HĐTS-GHPGVN đã phê duyệt đơn Bảo lãnh và đã gửi cho Ban tôn giáo chình phủ. HĐTS-GHPGVN đã thừa nhận Pháp môn Làng Mai là một pháp môn tu học của Phật giáo. Các Công văn của HĐTS-GHPGVN trước đây và vừa qua đã thể hiện và đã cho phép Pháp môn Làng Mai mở các khóa tu. Công văn 553/CV-HĐTS do Hòa thượng Thích Thiện Nhơn ký ngày 30.11.2009 chỉ là một công văn thực hiện sự chỉ đạo của BTGCP, thể hiện GHPGVN, nói riêng, tôn giáo, nói chung, đã bị chính trị hóa, phục vụ chính trị của đảng cộng sản ; tự do tôn giáo là tự do trong phục vụ các nhiệm vụ chính trị của kẻ nắm quyền lực. Pháp môn Làng Mai được phát triển khắp nơi trên thế giới nhưng vì sao tại VN lại không được chấp nhận? Họ đã làm gì gây “bất bình” trong nhân dân? Ai đã “bất bình”? Những kẻ quấy rối, vô văn hóa, vô trật tự, vô luật pháp, kẻ “giả danh phật tử” kia là “nhân dân bất bình” hay sao? Nhà nước và Luật pháp bảo vệ ai? Nhằm mục đích gì? Quyền tu học là quyền tự do tín ngưỡng của mỗi công dân trong xã hội; quyền ấy là nhân quyền, là những quyền tự do, dân chủ mà Hiến pháp, Luật pháp VN đã quy định vì sao lại ngăn cấm!? Hay nhà nước “sợ tăng thân, thù chính đạo”?(2)

Sự đàn áp tăng thân Làng Mai tại tu viện Bát Nhã và Chùa Phước Huệ vừa rồi chính nhà nước đã vi phạm Hiến pháp, Pháp luật; vi phạm quyền tự do tôn giáo. Nhà nước đã thể hiện là một nhà nước không có Luật pháp khi dung túng cho bọn côn đồ quấy rối, áp bức người tu, phá Chùa, hại Đạo. Chính bọn quấy rối ấy là kẻ vi phạm pháp luật cần phải trừng trị. Nếu những lực lượng bảo vệ trị an, bảo vệ Pháp luật dung túng bọn xã hội đen, bọn lưu manh, quấy rối an ninh trật tự xã hội thì chính nhà nước đã đứng về phía cái ác, là kẻ làm phân hóa, chia rẽ trong nội bộ nhân dân chứ không phải là ai khác. Nhân dân ngày càng cảm thấy nhiều nổi bất an, lo sợ vì xã hội không có kỷ cương, phép nước. Luật pháp không bảo vệ người ngay, không bảo vệ lẽ công chính….

3. Nếu nhà nước Việt Nam là nhà nước có luật pháp, không phải là luật pháp bảo vệ cái ác: *Nhà nước cần thực thi pháp luật công băng, nghiêm minh, bảo vệ mọi công dân việt Nam trong xã hội bình đẳng; tôn trọng các quyền tự do tôn giáo, bảo vệ các cơ sở tôn giáo cũng như bảo vệ cuộc sống mỗi gia đình, mổi công dân trong xã hội; phải trừng trị những kẻ gây rối, dù bất cứ nhân danh gì, bất cứ lý do gì như sự việc mới xảy ra tại chùa tại Phước Huệ, Bảo Lộc, Lâm Đồng những ngày vừa qua. Nếu Chùa Phước Huệ có vi phạm pháp luật thì đó là việc của pháp luật, của tòa án chứ không thể “thực thi” bằng quyền của bọn xã hội đen…Xã hội không bao giờ chấp nhận những bọn lưu manh, côn đồ ấy tự do tự do tác oai, tác quái trong xã hội. Những kẻ ấy là kẻ gây tội ác, gây sự bất an ninh cho mỗi người dân, cần phải nghiêm trị. Bất cứ kẻ nào, lực lượng nào dung túng cho những kẻ đó cũng phải loại trừ ra khỏi bộ máy nhà nước…thì khi đó pháp luật nhà nước mới công minh.

*Nhà nước cần tôn trọng ý nguyện của nhân dân, của các tu sinh Làng Mai - những người công dân trong xã hội chỉ có một hạnh nguyện tu; của các vị Viện chủ Tu viện Toàn Giác và Thiền viện Vạn Hạnh đã đệ đơn bảo lãnh tu sinh tăng thân Làng Mai theo những quy định và trình tự luật pháp. Pháp môn Làng Mai tu theo pháp phật với hình thức tăng thân, tăng đoàn, là một pháp môn của Phật giáo. Pháp môn Làng Mai không làm chính trị. Cơ sở tu học theo Pháp Môn Làng Mai trên thế giới đã thể hiện điều ấy. Nhà nước nắm chính quyền, pháp luật và mọi công cụ pháp luật trong tay tại sao lại sợ những người tu chỉ có một hạnh nguyện tu!?

*Nhà nước nên nghiêm khắc xem xét lại chính mình khi đã có một lực lượng bảo vệ pháp luật, bảo vệ an ninh cuộc sống nhân dân nhưng lại không bảo vệ nhân dân; dung túng cho những kẻ bất lương, hành động vi phạm pháp luật diễn ra trước cả con mắt của ngưới nước ngoài với những hành động, thái độ vô văn hóa. Chẵng lẽ đó là bản chất của nhà nước “của dân, do dân, vì dân”? Nhà nước không có kỷ cương, luật pháp? Nhân dân đã trả lương cho những người bảo vệ luật pháp, bảo vệ an ninh xã hội là cho những kẻ ấy sao, những kẻ không bảo vệ mà còn chống lại nhân dân, gây nên ngày càng nhiều nổi bất an cho nhân dân trong cuộc sống! Công cụ bảo vệ pháp luật hiện nay bảo vệ ai? Có tuân thủ, thực thi pháp luật, bảo vệ nhân dân, người lương thiện hay bảo vệ kẻ phạm pháp, đứng ngoài Luật Pháp? Nhân dân cũng rất không yên tâm về luật pháp, công cụ bảo vệ pháp luật Việt Nam, về tất cả những gì Việt Nam cam kết với thế giới. Mong tất cả những cam kết của Việt Nam với thế giới được thực thi chứ không phải chỉ cam kết trên giấy và mong thế giới buộc tất cả những quốc gia đã cam kết phải tôn trọng thực hiện. Thế giới ngày nay không thể là thế giới của những kẻ độc tài, của cái ác độc tôn!

Wednesday, December 16, 2009

Việt Nam yêu cầu Trung Quốc chấm dứt các vụ bắt giữ ngư dân

Trích RFI
Thanh Phương

Bài đăng ngày 16/12/2009 Cập nhật lần cuối ngày 16/12/2009 15:49 TU

Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Nguyễn Phương Nga

Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Nguyễn Phương Nga

Hôm qua, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trao công hàm cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, yêu cầu chính quyền Bắc Kinh trả lại toàn bộ các chiếc tàu cùng với trang thiết bị và tài sản cho ngư dân Việt Nam.

Bộ Ngoại giao Việt Nam xác nhận là trong hai ngày 7 và 8/12 vừa qua, phía Trung Quốc lại bắt giữ 3 tàu của 43 ngư dân tỉnh Quảng Ngãi đang đánh cá tại khu vực quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, tịch thu 2 chiếc tàu cùng thiết bị, tài sản của các ngư dân này, trước khi trả họ về Việt Nam trên chiếc tàu thứ ba.

Đối với phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga, hành động nói trên '' vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, không phù hợp vớI quan hệ hữu nghị giữa hai nước, gây nguy hại tới tính mạng và tài sản của ngư dân Việt Nam''.

Không những bị bắt và bị tịch thu tài sản, 43 ngư dân Quảng Ngãi còn bị buộc phải ký biên bản công nhận đã vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Trên trang thông tin VietnamNet hôm qua, một ngư dân cho biết họ phải nhận là đã dùng thuốc nổ để đánh cá, mặc dầu phía Trung Quốc không hề phát hiện thuốc nổ trên tàu của các ngư dân Việt Nam. Vì sợ bị đánh đập, nên tất cả đều ký tên vào biên bản. Khi được thả về trên chiếc tàu thứ ba, họ không có lương thực, nhiên liệu cũng như thiết bị lái tàu. Sau hơn một ngày đêm lênh đênh trên biển, họ mớI về được đảo Lý Sơn tối ngày 11/12.

Trước đó đã từng xảy ra nhiều vụ Trung Quốc bắt giữ tàu và ngư dân Việt Nam. Các ngư dân cho biết là ngày càng có nhiều tàu vũ trang của Trung Quốc tuần tra ở các khu vực biển đang tranh chấp.

Khi công bố sách trắng về quốc phòng vào tuần trước, thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh đã bày tỏ mối quan ngại của Hà NộI về những căng thẳng trên biển Đông, nhưng ông cho rằng vấn đề này sẽ không dẫn đến xung đột vì công pháp quốc tế có thể làm cơ sở cho một giải pháp.

Monday, December 14, 2009

Ngư dân Quảng Ngãi lại bị Trung Quốc bắt

Trích BBC News

Ngư dân Việt Nam

Tin cho hay Trung Quốc lại vừa bắt giữ ba tàu cá cùng hơn 40 ngư dân Lý Sơn, Quảng Ngãi, tại vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Báo Việt Nam cho hay ba tàu gồm QNg 96004 của ông Lê Tân; tàu QNg 96199 của ông Lê Văn Lộc và QNg 66398 của ông Dương Lúa, đều ở đảo Lý Sơn, bị tuần ngư của Trung Quốc bắt trong hai hôm 07/12-08/12 khi đang hoạt động ở vùng biển mà Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền.

Trên ba tàu vào thời điểm bị bắt có tổng cộng 43 ngư dân.

Hôm thứ Bảy 12/12, phía Trung Quốc đã trả về một tàu và toàn bộ số ngư dân này. Hai tàu còn lại, mới hơn, thì vẫn bị giữ. Được biết, hai chiếc tàu này có trị giá khoảng 2 tỷ đồng.

Các ngư dân bị buộc phải ký tên và điểm chỉ vào biên bản bằng tiếng Trung.

Hiện Bộ Ngoại giao Việt Nam chưa có tuyên bố gì về các vụ bắt giữ mới nhất này.

Giới chức địa phương tỉnh Quảng Ngãi thì được nói đang "hoàn thiện hồ sơ để làm văn bản chính thức" yêu cầu can thiệp.

Đây không phải lần đầu ngư dân Lý Sơn nói riêng và Quảng Ngãi nói chung bị nhà chức trách Trung Quốc làm khó khi ra khơi hoạt động đánh bắt.

Hồi tháng Sáu, gần 40 ngư dân bị bắt vì "vi phạm ngư trường Trung Quốc" và bị giữ trên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa cho tới tận tháng Tám.

Họ còn bị đòi tiền chuộc với tổng số tiền lên tới gần 30.000 đôla Mỹ.

Cuối tháng Chín, ngư dân Quảng Ngãi vào tránh bão tại Hoàng Sa còn bị lính Trung Quốc bắn súng xua đuổi và ngược đãi.

Việt Nam sau đó đã gửi công hàm phản đối.

Giữa năm 2009, nhiều ngư dân đã không dám ra biển vì sợ bị bắt phạt do lệnh cấm đánh bắt của Trung Quốc tại các khu vực ở Biển Đông mà Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền.

Việt Nam và Trung Quốc luôn nhấn mạnh chủ trương "giải quyết vấn đề Biển Đông và các vấn đề khác thông qua thương lượng hữu nghị để bảo vệ phát triển quan hệ song phương".

Friday, December 11, 2009

Nguyễn Đạt Thịnh: Giai đoạn chiến tranh dư luận

Trích NguoiViet Boston

Nguyễn Đạt Thịnh

Nếu chia cuộc khủng hoảng Biển Đông thành từng giai đoạn, thì giai đoạn một là giai đoạn cắn răng nuốt nhục, ngư dân chịu đấm, nhà nước ăn xôi, vẫn chưa qua và giai đoạn hai, giai đoạn chiến tranh dư luận đã vừa khởi diễn từ ngày 26.11.2009 ngày Việt Cộng mời trên 50 học giả từ 19 quốc gia đến Hà Nội tham gia cuộc thảo luận về Biển Đông.

Sở dĩ hai giai đoạn này chồng lên nhau, vì giai đoạn 1, không thể nào dứt được, Trung Cộng sẽ không buông nhả Biển Đông, không cho ngư dân Việt Nam đánh cá, không cho chính quyền Việt Cộng bán dầu, dù chiến tranh dư luận có biến thành chiến tranh bom đạn, nguy cơ này hiển nhiên, có thể kéo dài miên viễn, và cần được người Việt Nam phân tách, thấu hiểu và tìm cách thoát ra.

Cuộc hội thảo này đương nhiên là một cuộc quật khởi, dù lớn hay nhỏ, và dĩ nhiên Trung Cộng không vừa ý, vì hội thảo về Biển Đông là đi ngược lại chủ trương của chúng, chủ trương đối phó riêng rẽ với từng quốc gia chúng va chạm quyền lợi, chứ không muốn gặp sức mạnh “bó đũa” của toàn thể các quốc gia mất quyền lợi trên Biển Đông.
Thái độ Việt Cộng chấp nhận đối phó với sự thịnh nộ của Trung Cộng còn được thể hiện qua việc họ mời cả Đài Loan lẫn Trung Cộng tham gia hội nghị. Thái độ này mang ý nghĩa Việt Cộng coi Đài Loan như mọi quốc gia, chứ không như một tỉnh của Trung Hoa, và coi như Đài Loan có quyền lợi bị va chạm trên Biển Đông; hành động này coi thường nguyên tắc “chỉ có một nước Trung Hoa” của Trung Cộng.

Tại sao Việt Cộng lại thay đổi thái độ, không thần phục Trung Cộng nữa? Sử gia Nguyễn Nhã, một chuyên gia về luật Hoàng Việt giải thích là Việt Cộng đang chịu quá nhiều sức ép của dư luận trong nước đòi hỏi chính quyền phải có thái độ mạnh bạo, cứng rắn hơn trong quan hệ với Trung Cộng.

Chỉ được mời vào phút chót, nhưng ông Nhã vẫn phát biểu mạnh mẽ hơn những đại biểu khác của Việt Nam.
- “Tôi cho đây là cuộc giao lưu của những người quan tâm tới Biển Đông trên khắp thế giới,” ông nói.
- “Dần dần dư luận thế giới sẽ biết sự thật là như thế nào, và biết cách giải quyết hợp lý. Và như người ta thường nói: Cái gì của César thì phải trả lại cho César!”. Dĩ nhiên “cái gì́” là hai quần đảo Hoàng Sa và Truờng Sa, và “César” là nhân dân Việt Nam.
Sau hai nét đặc thù của cuộc thảo luận Biển Đông, nét đặc thù thứ 3 là việc Trung Cộng thản nhiên cử phái đoàn đến Hà Nội dự hội thảo, làm như không biết thái độ của Việt Cộng chống đối lại cả hai chính sách Biển Đông, và chính sách Đài Loan của chúng.
Hy vọng thái độ giả dại của Trung Cộng sẽ dạy được Việt Cộng cái kinh nghiệm là không nhất thiết phải làm mọi việc theo ư Trung Cộng.

Khai mạc phiên họp, ông Dương Văn Quảng, giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Cộng, nói:
- “Những tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ không hề thuyên giảm ở Biển Đông. Ngược lại, những diễn biến gần đây, nhất là các hành động khẳng định chủ quyền về mặt pháp lý, kèm theo các hành vi đơn phương nhằm tăng cường sự kiểm soát thực địa, tranh chấp các nguồn năng lượng và tài nguyên đã làm cho tình hình thêm phức tạp.”

Trên mặt khẳng định chủ quyền, hồi giữa năm nay cả 3 nước Việt Nam, Trung Hoa, và Mã Lai đã nộp văn phòng Liên Hiệp Quốc hồ sơ và bản đồ khẳng định vùng họ coi là thềm lục địa mở rộng của nước họ; theo bản đồ này thì thềm lục địa của Trung Hoa nằm chồng lên thềm lục địa của Việt Nam và của nhiều nước khác.
Hai chính phủ Việt Cộng và Trung Cộng cũng thành lập các đơn vị hành chính trên các hải đảo tranh chấp tạo mâu thuẫn quyền lợi giữa hai bên.

Trong khi đó, các nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á bày tỏ quan ngại trước sự gia tăng hoạt động quân sự với độ mạnh bạo “chưa từng thấy” của Trung Cộng tại Biển Đông, nơi được cho là có nhiều dầu khí và tài nguyên thiên nhiên.
Con đường tìm kiếm một nguyên tắc chung cho các quốc gia có liên quan đến Biển Đông đang bế tắc.

Lập trường của Trung Cộng trên bàn hội nghị

Trung Cộng gửi sáu chuyên gia và học giả đến tham dự hội nghị Biển Đông; họ đóng góp nhiều bài tham luận về an ninh hàng hải và hợp tác về an ninh.
Giáo sư Lý Quốc Cường, phó giám đốc trung tâm nghiên cứu “sử địa giới” thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Cộng, tỏ thái độ chủ nhà, ông nói với BBC:
- “Chúng tôi muốn sự hợp tác các học giả thuộc nhiều quốc gia khác nhau sẽ giúp tim ra cách hòa giải bất đồng giữa các nước tại Biển Đông. Muốn đạt được an ninh Biển Đông, các nước phải nỗ lực xây dựng lòng tin với nhau.”

BBC bỏ mất cơ hội hỏi ông Cường xem có phải Trung Cộng đang “xây dựng lòng tin” bằng cách đem chiến hạm ủi chìm ngư thuyền Việt Nam và cho phép thủy thủ đánh đập, cướp bóc ngư dân Việt Nam không?
Nếu phóng viên BBC nêu lên được câu hỏi này, thì cả câu hỏi của BBC lẫn câu trả lời của giáo sư Cường sẽ được truyền thông thế giới phổ biến rộng rãi, vì đó chính là lập trường của Trung Cộng sử dụng sức mạnh quân sự trên Biển Đông.
Không bị chất vấn, giáo sư Cường tiếp tục nói thao thao, trình bầy là lập trường muôn thủa của Trung Cộng là “giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng cách đàm phán song phương với những nước có quyền lợi bị va chạm. Tuyệt nhiên ông không nói đến những xung đột giữa hải quân Trung Cộng và ngư dân Việt Nam.

Ông còn cảnh cáo Việt Cộng là cuộc hội thảo này chỉ có giá trị “học thuật”, bàn thảo cho vui tai rồi bỏ qua, chứ đừng trông đợi một giá trị thực sự nào hết. Ông Cường cũng bảo mọi quốc gia tham dự hội thảo là đừng mong đợi chứng kiến mọi việc sớm được giải quyết, vì Trung Cộng chủ trương câu giờ hầu việc chiếm lãnh Biển Đông rơi vào trường hợp “để lâu c.. trâu hoá bùn.”

Xa gần ông nói là sẽ không có chiến tranh trên Biển Đông, vì lực lượng hải quân Trung Cộng là lực lượng hùng mạnh nhất, không nước nào trong vùng muốn chống lại. Trung Cộng sẽ tiếp tục cấm ngư dân Việt Nam ra biển, cấm nhà nước Việt Cộng không được khai thác dầu mà Việt Cộng không làm gì được chúng cả.
Ông Cường khuyến khích các quốc gia có quyền lợi bị va chạm hăy kiên nhẫn thương luợng tay đôi với Trung Cộng, và đừng trông đợi các cuộc thương lượng có kết quả sớm.

Giáo sư Carlyle Thayer, một trong các đại biểu tham dự hội thảo, nói:
- “Trước thái độ ngày càng mạnh bạo của Trung Quốc tại Biển Đông, Chính phủ Việt Nam đã quyết định tăng cường vận động ngoại giao và đây là một trong các sáng kiến của Hà Nội”.

- “Tôi nghĩ họ trông đợi hội thảo này sẽ đưa ra được những ý tưởng chung xem các hoạt động của Trung Quốc cần được kiềm chế như thế nào, hoặc chuyển thành cơ chế hợp tác như thế nào, bởi vậy chủ đề chính của hội thảo là hợp tác” (dù hợp tác để mất biển, mất đảo).

- “Đây là cách Việt Nam không gây áp lực trực tiếp mà thông qua người khác gây áp lực (với Trung Quốc).”

Quan điểm của Thayer là, tiếng nói Trung Cộng sẽ quyết định về số phận Biển Đông, vì họ nắm trong tay tất cả các lá bài: có hải quân hùng mạnh nhất, có quyền lực ngoại giao lớn nhất. Một mình Việt Nam không thể làm được gì”
Thayer cũng nhìn nhận là những hoạt động như hội thảo lần này là cơ hội để Việt Nam thu hút ủng hộ của quốc tế cho một giải pháp Biển Đông.
Ông Thayer hoàn toàn có lý khi ông nói số phận Biển Đông nằm trong tay Trung Cộng; chính Trung Cộng cũng chứng tỏ điều này: song song với việc gửi phái đoàn đến họp tại Hà Nội, Trung Cộng cho tầu “ngư chính” của chúng tuần hành, thị uy quanh Trường Sa, hòn đảo chúng chưa chiếm.

Trang web của Tân Hoa Xã (news.xinhuanet.com) đưa lên mạng hình tàu Ngư Chính 311 và Ngư Chính 303 đang diễu võ dương oai trên Biển Đông. Hãng tin Tầu này còn trơ trẽn nói rằng Trung Cộng có nhu cầu tuần tra vì “có hiện tượng nước ngoài lợi dụng việc tránh bão để vi phạm lãnh hải” của họ. Họ muốn nói về việc ngư dân Việt Nam tránh bão số 9 tại vùng Hoàng Sa và bị hải quân Tầu ngược đăi bằng tác phong của Giặc Cờ Đen ngày xưa.
Trong cuộc họp báo ngày 11/27, bà Nguyễn Phương Nga trả lời câu hỏi của phóng viên truyền thông về bản tin Tân Hoa Xă, đã nói:
- “Việc Trung Quốc cử tàu đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này.”

Thông tấn xã Việt Nam còn nói sau khi được tin về 2 tầu “ngư chính” của Trung Cộng phô diễn sức mạnh ngoài Biển Đông, ngày 11/27 bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam để phản đối và yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt các hoạt động này.
Tin tưởng vào sức mạnh quân sự của mình, Trung Cộng đang tiếp tục chính sách ngoại giao bằng chiến hạm dưới chiêu bài tuyên truyền, kêu gọi mọi quốc gia quanh Biển Đông “nỗ lực xây dựng lòng tin của họ vào Trung Cộng.”

Việt Cộng đă nhẫn nhục “xây dựng lòng tin của chúng vào Trung Cộng”, nhưng giờ này chúng phải thay đổi thái độ vì “đang chịu đựng quá nhiều sức ép của dư luận trong nước” như sử gia Nguyễn Nhã nói.
- “Việc chúng ta cần tìm hiểu là phản ứng của Trung Cộng đối với cuộc hội thảo Biển Đông; chúng sẽ làm gì để trả đũa Việt Cộng? Việc chúng có thể làm đã được một đại tá không quân Trung Cộng, đại tá Đới Hy, viết trong một bài đăng trên tờ Hoàn Cầu Thời Báo ngày 3/18, mang tựa đề “Quân đội của chúng ta cần thiết lập căn cứ quy mô lớn tại Nam Sa để bảo vệ việc phát triển nguồn tài nguyên Nam Hải.”

Cuộc thảo luận về Biển Đông tại Hà Nội có thể giúp Trung Cộng nguyên cớ để thực hiện cuộc tấn công Truờng Sa, hòn đảo vẫn bị chúng khăng khăng nhận là của chúng.
Những kẻ đã coi ngư dân tránh bão là “… hiện tượng nước ngoài lợi dụng việc tránh bão để vi phạm lãnh hải” hầu biện minh cho hành động ngược đăi, đánh đập ngư dân, và cướp bóc tư sản của họ, thì chúng cũng sẽ dễ dàng lẻo lự gọi lực lượng trú phòng Trường Sa là đạo quân xâm lăng, cưỡng chiếm hải đảo của Trung Cộng, để dùng pháo hạm và oanh tạc cơ tiêu diệt.

Trước hành vi bạo lực đó, phản ứng của Việt Cộng, của khối Asean, và của Hoa Kỳ sẽ như thế nào?

Tôi không tin được là sẽ có một phản ứng quân sự, và Trung Cộng cũng biết điều này; chúng biết rất rõ là Hoa Kỳ, quốc gia duy nhất có khả năng quân sự khả dĩ đương đầu được với chúng lại quá bận rộn, quá mệt mỏi với 2 cuộc chiến tranh đang gánh vác tại Trung Đông; không có hy vọng nào về việc Hoa Kỳ dám gánh thêm một cuộc chiến tranh nữa, nhất là cuộc chiến tranh với Trung Cộng lại to lớn, với tầm cỡ không thua 2 trận thế chiến trong thế kỷ trước.

Dĩ nhiên tôi không muốn, nhưng tôi sợ giai đoạn 3 của cuộc tranh chấp Biển Đông sẽ là việc chúng ta mất Trường Sa.

Wednesday, December 9, 2009

Hội nghị Dzịt Kiều

Hội nghị Dzịt Kiều lũ nhố nhăng
Một bầy một đám hếch mõm nghe
Ngày nào trốn chạy trông lấm lét
Bây giờ trở lại tướng xênh xang
Lũ vượn trên đài đang bốc phét
Bầy khỉ ngồi nghe tướng phởn phơ
Cho hay khôn dại trong gang tấc
Sẽ có ngày khóc chẳng ai thương.

Phi Vũ
12/09/09

Tuesday, December 8, 2009

CSVN lần ra thủ phạm gây ra nghèo đói cho mình: Khí Hậu

VietCatholic News (08 Dec 2009 10:08)
Copenhagen - thứ hai, 07/12/2009 – Hôm nay tất cả dân cư thế giới nhìn về thủ đô Đan Mạch, thành phố Copenhagen với Cuộc Họp Thượng Đỉnh Thế Giới về Khí Hậu lần thứ 15 (COP 15) đã được khai mạc trọng thể trong khu triển lãm quốc tế.

Cuộc Họp Thượng Đỉnh của 192 quốc gia muốn gióng một tiếng chuông thật to để bảo vệ trái địa cầu. Đây là cuộc họp lớn nhất và nhiều nguyên thủ quốc gia cùng với các đại biểu tham dự đông nhất t ừtrước tới nay. Chỉ riêng các đại biểu đã lên đến con số 15.000 người. Thủ tướng Đan Mạch, ông Lars Lokke Rasmussen cho biết nước Đan Mạch sẽ tiếp đón 110 nguyên thủ quốc gia đến Copenhagen.

Thủ đô Đan Mạch, Copenhagen, một thành phố nhỏ trong Âu Châu, chỉ có vọn vẹn 518.574 dân cư, tuy nhiên là một thủ phủ quan trọng trong vùng Bắc Âu, nay được thế giới hướng về với một tia sáng hy vọng để cứu nguy trái đất.

Giới hay chơi chữ đã sửa đổi lại một mẫu tự trong danh gọi Copenhagen (theo nghĩa tiếng Đan là hải cảng của thương gia) thay vì chữ C thành chữ H = „Hopenhagen“ để nói lên niềm hy vọng lớn lao vfao cuộc họp COP 15. Điều này có thể liên quan đến một đánh giá của đại học Leicester (Anh quốc) về đời sống người Đan Mạch tại thủ đô Copenhagen là những dân cư hạnh phúc nhất trên địa cầu.

Thế giới ngày càng lo âu về biến đổi môi trường do khí hậu gây ra vì trái đất ngày càng „nóng“ lên. 14 cuộc họp đã qua người dân chỉ thấy các nhà nguyên thủ nói miệng chứ không hành động như qua 2 nghị quyết quan trọng tại Rio de Janeiro (Ba Tây) vào năm 1982 và tại Kyoto (Nhật) năm 1997. Từ kỳ họp thứ COP 15 này tất cả cư dân địa cầu trông chờ một kết quả cụ thể mà mọi quốc gia phải chung sức tải giảm khí độc là nguyên do chính làm cho trái đất gia tăng nhiệt độ.

Việt Nam chúng ta cũng có những đại biểu đến tham dự. Không biết có nguyên thủ Nguyễn Minh Triết đại diện cho csVN tại Copenhagen? Chỉ lo ngại bác Triết tuyên bố lung tung giống như khi thăm Cuba thì trái địa cầu chúng ta sẽ „nổ tung“ từng mảnh vụn (Cuba thức thì Việt Nam ngủ - Việt Nam gác thì Cuba nghỉ). Theo dòng tư tưởng lớn của bác Triết chúng ta có thể thêm vào câu trên vài chữ cho ý nghĩa phong phú để 2 tên nghèo đói nhất thế giới hiện nay thay nhau CANH GIỮ KHÔNG KHÍ cho thế giới: Cuba nín thì Việt Nam thở - Việt Nam xuống tấn thì Cuba xì...

Chưa cần Bác Triết vung đao chém không khí thì hôm nay một tin tức được báo chí đứng bên „lề phải“ đưa tin rất trang trọng: „Nông dân Phan Thị Ánh dự hội nghị Copenhagen“.

Bà Ánh tường thuật về kiến thức môi trường với báo Tuổi Trẻ: “Tôi là một nông dân mà gia đình đã nhiều đời làm muối. Cũng đôi lần tôi có nghe tivi nói về biến đổi khí hậu toàn cầu. Rồi bà con hàng xóm cũng nói ra nói vào, người nghe được ở đâu nói gì thì nói thế đó chứ thật ra cũng không biết chính xác là gì. Chỉ có một điều mà tôi chắc chắn là khí hậu những năm gần đây quá thất thường".

Để bồi bổ thêm ý tưởng sâu rộng nữ đồng chí Ánh lập luận:

"Trước đây, cứ đến ba tháng hè là đúng ba tháng trời nắng ráo, không một ngày mưa, còn giờ thì mưa nắng thất thường quá. Có hôm trời nắng ráo 37-38°C, mấy chị em trên đồng muối chúng tôi mồ hôi ướt cả áo rồi bỗng nhiên trời chuyển mưa, vậy là coi như mất trắng.“

Và bà Ánh tìm kết luận cho việc nghèo đói xảy ra từ việc thay đổi khí hậu bằng cách ngửa tay xin viện trợ:

„Hai vợ chồng phải chạy vạy khắp nơi để tìm việc mong kiếm thêm chút thu nhập, nhiều lúc chồng tôi phải vào tận Đà Nẵng, Huế để làm phụ hồ mới đủ nuôi ba đứa con ăn học. Ở quê tôi, nhiều gia đình buộc phải cho con nghỉ học vì thu nhập từ ruộng muối bây giờ quá thấp do thiên tai liên miên. Chồng tôi hay nói đùa: vợ chồng mình có bốn bàn tay, chỉ cần một trong số đó dừng lại là đói cả nhà.

Tôi muốn mang tiếng nói của người dân quê tôi cũng là tiếng nói của người nông dân Việt Nam đến với hội nghị, hi vọng ở đó người ta có những giải pháp để giúp cuộc sống của chúng tôi ổn định hơn”.

Mèn đất ơi! csVN có lẽ đang manh nha muốn hưởng phúc lộc từ quỹ dự định 30 tỉ đô la giúp các nước nghèo làm giảm nhiệt trái đất. Điều này đã được điều nghiên đi vào quỹ đạo „xin tiền“ muôn thuở của đỉnh cao trí tuệ csVN. Chẳng lạ gì các chuyên viên tại COP 15 đã đưa danh sách 11 quốc gia đang chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do tình trạng thay đổi khí hậu, trong đó có Việt Nam nghèo đói.

Nông dân Phan Thị Ánh được giao thi hành cho phi vụ kiếm tiền một cách quang minh chính đại này.

Các câu hỏi đặt ra về thiệt hại từ ảnh hưởng môi trường hoặc tự csVN làm cho người dân nghèo và đói.

- Tại sao nông dân đói? Tại ông khí hậu! Tại ông sân Gôn? Tại nhà nước khoanh vùng dự án lấy hết đất canh tác của nông dân?

- Tại sao dòng sông Thị Vải chết? Tại ông Vedan, kết quả mới được sở Tài nguyên và Môi trường kết luận hôm 07/12/2009! (Khoảng 2.600 ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản của 2 tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu bị ảnh hưởng).

- Tại sao hơn 100 nạn nhân bị chết vì lũ? Tại 50 thủy điện tại quảng Nam! Tại nạn phá rừng hỗn loạn? Chỉ nhìn vào bài toán kinh tế do báo „lề phải“ đưa ra, có lẽ cả thế giới phải chào thua cách phát triển của csVN: Dự kiến năm 2015 khi 50 nhà máy thủy điện (tại Quảng Nam) đi vào hoạt động sẽ tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách của tỉnh Quảng Nam hằng năm khoảng 800 tỉ đồng. Trong lúc đó chỉ tính trong cơn bão lũ số 9 vừa qua, Quảng Nam bị thiệt hại giá trị hơn 4.000 tỉ đồng, trong đó riêng huyện Đại Lộc là 650 tỉ đồng. Ông Mai Anh Súy, phó chủ tịch UBND huyện Đại Lộc, phản ứng gay gắt việc thủy điện A Vương xả lũ khiến cả huyện bị ngập nặng nề nhất trong 100 năm qua. Ông nói lúc đang mưa bão, lũ lên báo động 3, dân tình hoang mang. Đùng một cái thủy điện A Vương xả hơn 100 triệu m3 nước trong vài giờ lúc đêm khuya. Hàng vạn hộ dân trở tay không kịp, mất mát rất lớn. Ông Súy xót xa: “Lũ đã lớn còn xả nước thủy điện, lại chồng thêm lũ “nhân tạo” thì thiếu trách nhiệm quá. Quảng Nam đang đạt kỷ lục thế giới vì trong 1 tỉnh có đến 50 thủy điện. Người đọc không dám bình phẩm gì thêm nữa nếu không nói rằng đúng là bọn đại ác ôn đang giết hại dân lành!

- Tại sao hồ Linh Quang (P. Văn Chương, Q. Đống Đa, Hà Nội) biến thành bãi rác khi đã được đầu tư hơn 100 tỉ đồng để cải tạo? Tại ông tham nhũng!

- Tại sao hai bên đường An Dương Vương (đoạn từ cầu Mỹ Thuận đến tiếp giáp đại lộ Đông Tây) thuộc ranh giới giữa quận Bình Tân và Q.8, Sàigòn "biến" thành… sông bùn lầy lội từ nhiều tháng qua. Tại vì các tham quan vô cảm, vô tâm!

- Tại sao có việc sai trái nghiêm trọng tại bãi rác Đa Phước (Sàigòn)? Tại các túi tham không đáy của các quan lên đến 9 triệu đô la! Có phải các quan đem kinh phí môi trường gửi ngân hàng lấy lãi?

- Tại sao Bản án “treo” suốt 15 năm về khu vực đầm Sen, đầm Hồng (nay thuộc tổ 19 - phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội) không được giải quyết? Người dân lỡ tiền mua phải phần đất do chính quyền xã bán trái phép đã bấn lên khi TAND thành phố Hà Nội tuyên bản án số 757, tháng 9/1995 về vụ "vi phạm quản lý, sử dụng đất đai". Điểm chú ý quan trọng, sau hàng chục năm, do quá trình lấn chiếm, xáo trộn và buông lỏng trong quản lý… ngoài một phần nhỏ của hồ được giao làm dự án, đến nay diện tích đầm Hồng đã giảm gần một nửa. Tại vì các quan ở đây lắm quyền quá không ai dám đụng vào!

- Tại sao hồ Cầu Tình đang hấp hối? Hồ Cầu Tình, thuộc P. Gia Thụy, Q. Long Biên- Hà Nội đã bị ô nhiễm nặng tới mức người ta có thể đi lại trên rác giữa lòng hồ như đi trên đất bằng! Dân chủ động lấn chiếm hồ, xả thải ra hồ như một điều hết sức tự nhiên… Tại vì chính quyền bất lực!

Các câu hỏi trên được trích ra và giải đáp từ các nhật báo của csVN trong vài ngày nóng bỏng vừa qua.

Kết thúc bài viết này được trích dẫn lời ĐB Nguyễn Đăng Nghĩa nói về môi trường tại VN vào thứ hai, 07/12/2009 dịp họp cuối năm của HĐND TP.HCM:

„Về tình trạng ô nhiễm môi trường, tôi thấy năng lực quản lý không theo kịp tốc độ phát triển. Quản lý đất công và sử dụng đất công cũng còn nhiều bất cập. Để giải quyết, cần có sự phối hợp giữa Thành phố và các cơ quan Trung ương. Nguyên nhân chính là kỷ cương vẫn còn bị buông lỏng. Đất đai vẫn là "miếng bánh" béo bở nhất để tranh giành“.

Song song tại Hà Nội các cử tri Hà Nội còn nhiều bức xúc trước Kỳ họp thứ 19 HĐND thành phố Hà Nội khóa XIII từ ngày 8 đến 11/12 được VOV đưa tin: Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường… vẫn là những vấn đề bức xúc của cử tri. Ô nhiễm môi trường vẫn là chủ đề nóng ở nhiều địa phương trong thành phố. Cử tri nhiều quận, huyện nêu đích danh những địa chỉ đen gây ô nhiễm môi trường, nhất là ở một số làng nghề, bệnh viện, bãi rác… ảnh hưởng xấu tới đời sống người dân.

Đáng tiếc bài báo không nêu đích danh kẻ gây ra ô nhiễm môi trường trên mặt báo!

Bauxite Tây Nguyên và 2 nhà máy điện nguyên tử sẽ là những „dự án vĩ đại“ nằm xa ngoài tầm tay của kẻ quyết định về kỹ thuật lẫn môi trường. Dân nghèo sẽ là những nạn nhân khốn cùng gánh chịu hậu quả trầm trọng sau này.

Đói, nghèo tại VN do thiên tai khí hậu hay do nhân tai gây ra?
Hà Long