Translate

Sunday, March 8, 2009

Chú Mìn Phủ và tôi

Truyện ngắn của Vũ Ngọc Tiến

1- Tôi quyết định đi Hà Giang thêm một chuyến nữa… Gã đạo diễn của đài truyền hình ghé tai tôi, thở đầy mùi rượu, giả lả nói: “Bác nhà văn cứ đi với tụi em, lên miền biên viễn đổi không khí, hưởng mùi gái sơn cước mà tìm cảm hứng. Trên đó gái ta, gái Tàu có đủ, nhưng đã vào nghiệp chơi chỉ nên say tỉnh chớ đừng say mê. Bên kia hay bên này biên giới cũng đều là gái người Mông, Dao, La Chí, Tày, Nùng …cả thôi. Mùi vị sơn cước như nhau, chỉ khác quốc tịch là giá cả các em gấp nhau vài lần như bỡn.” Biết gã đang say tán bậy, tôi lặng thinh, song cũng phải thừa nhận cái sự sành chơi của gã là có lý. Hồi xảy ra chiến tranh biên giới, tôi là lính trinh sát quân đoàn 3 nên rất thuộc bản đồ địa hình và cư dân hai bên biên giới vùng Hà Giang. Ngoài khu vực thị xã, đi về các huyện xa của tỉnh, người Kinh rất ít, đông nhất là người Mông rồi đến người Dao, La Chí, Tày, Nùng. Qua khỏi cột mốc biên giới, từ cửa khẩu Thanh Thủy, thượng nguồn sông Lô đến cửa khẩu Nghĩa Thuận thuộc huyện Quản Bạ là đất Trung Quốc, thuộc huyện Mai Pho, châu Văn Xương, tỉnh Vân Nam. Họ là nước lớn nên một châu Văn Xương dân số đã tới 3 triệu người, riêng huyện hẻo lánh Mai Pho đã có gần 60 vạn người, xấp xỉ dân số cả tỉnh Hà Giang. Cư dân bên huyện Mai Pho một nửa là người Mông, còn lại cũng là người Dao, La Chí, Tày, Nùng. Gã đạo diễn, tay chơi có hạng của đài truyền hình nói đúng, ở miền biên viễn ấy gái điếm đủ loại và dễ kiếm, nhưng làm sao phân biệt được quốc tịch của một ả điếm sơn cước. Song gã đâu biết tôi bám càng đoàn làm phim của gã đi Hà Giang lần này vì một nguyên cớ thầm kín. Chẳng riêng gì gã, lâu nay nhiều người cũng hồ nghi về lai lịch đứa con nuôi mang họ Chúc của tôi, không ít lời ong tiếng ve, đàm tiếu sau lưng. Thây kệ! Tôi không muốn thanh minh, giải thích dài dòng, song cũng thấy mệt và nản chí, sau mỗi lần đi tìm cha đẻ cho nó, đứa con nuôi tội nghiệp mà tôi ngờ rằng là con của Chù Mìn Phủ.

2- Đêm đông cuối tháng. Ngoài trời gió lạnh lồng lộn thổi như bầy ngựa hoang càng làm tôi nhớ núi rừng Quản Bạ. Ở xứ cao nguyên đá ấy, nhà nào cũng nuôi trong chuồng một vài chú ngựa. Đêm khai hỏa cuộc chiến tranh biên giới, đạn pháo của đối phương bắn sang như vãi thóc, âm thanh chát chúa, khiến ngựa phá chuồng lồng lên tán loạn, hý vang trời đất trong sương mù dày đặc. Ta bị bất ngờ, còn đối phương chủ động lại đông quân, nhiều vũ khí nên chỉ sau vài trận, tiểu đoàn của tôi chết và thương vong già nửa. Cấp trên điều động bổ sung cho tiểu đoàn khá nhiều dân quân người dân tộc ở địa phương. Đơn vị trinh sát của tôi có hai lính mới, một nam là Chù Mìn Phủ và một nữ là Thào A Máy. Người Mông xưa biết dùng cả chữ Hán nên khi hỏi chuyện, chúng tôi biết tên của hai người dịch từ chữ Hán nghĩa là Chúc Dân Phủ và Đào A Mai. Chúng tôi thường gọi tên tắt theo họ là anh Chúc, cô Đào. Chúc hơn tôi một tuổi, còn Đào kém tôi hai tuổi. Hai người với tôi hợp thành tổ trinh sát ngoại tuyến, thường xuyên thâm nhập sang bên kia biên giới, dò xét tình hình quân địch. Chiến tranh là hiện thực tàn nhẫn. Nhiều khi lâm vào tình huống khắc nghiệt, đi trinh sát bị lộ, người Mông bên kia biên giới gõ mõ truy đuổi buộc chúng tôi thành kẻ sát nhân, nổ súng điên khùng vào đám dân lành đông như đàn kiến, chỉ có dao, gậy hoặc tay không mà thôi. Những xác người đổ xuống như cây chuối. Những tiếng gào thét, chửi bới cũng vẫn là tiếng Mông quen thuộc. Có lần, để đánh lạc hướng sự truy đuổi, chúng tôi buộc phải làm cái việc dã man, phóng lửa đốt nhà hết xóm này qua xóm khác. Chạy xa rồi, chúng tôi vẫn ngửi thấy mùi thịt người khét lẹt và tiếng trẻ con kêu khóc thảm thiết. Mỗi lần như vậy, thoát được về Việt Nam là Chù Mìn Phủ như người điên dại. Mắt anh đỏ vằn, tóc tai rũ rượi, loạng choạng bò lên mỏm đá cao gào to: “Giời ơi! Tôi là cái giống gì thế này? Người Mông sao lại đi giết người Mông, hở giời?... Ác giả ác báo mất thôi!…” Nhìn cành cây khô anh rú lên bảo là xương người. Nhìn dòng suối anh òa lên nức nở bảo máu ở đâu sao mà chảy ra nhiều thế. Thào A Máy thì khác, cô khóc thút thít suốt dọc đường, thỉnh thoảng lại chắp tay cầu Trời khấn Phật đừng có ai trong số bạn bè, người thân bên ấy vừa bị chúng tôi giết hại. Tôi lảo đảo đi giữa hai con người ngây ngây, điên điên ấy mà lòng như có muối xát. Con tim tôi vỡ vụn, lồng ngực trống hoác như hang đá thời tiền sử cho gió cao nguyên thổi vào lộng óc, đóng băng từng mạch máu. Bên tai tôi âm âm u u câu hát “Việt Nam- Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông…” Không chỉ có thế đâu, ở chiến trường này, tôi còn thấy rõ người dân hai bên biên giới liền một khúc ruột, chung một tiếng nói mà sao lại phải tàn sát lẫn nhau khủng khiếp như vậy, hở giời? Tôi biết nói gì để an ủi hai đồng đội người Mông, khi cương thổ nước nhà bị xâm lấn. Tôi cũng không thể đem những vụ thảm sát ghê rợn mà bọn “bành trướng” gây ra để biện minh cho tội lỗi vô thức của nhóm trinh sát chúng tôi. Ai đó ở tận nơi xa thăm thẳm xua lính và dân binh sang bên này cướp hiếp, đốt sạch, phá sạch, chứ người Mông, người Dao bên ấy cũng chỉ như đàn cừu, bầy ngựa bị lùa đi, họ nào có muốn. Chiến tranh muôn thủa vẫn là thế cả. Nó là sản phẩm của dã thú. Sự thắng bại của cuộc chiến chỉ nằm ở dăm ba cái đầu lạnh, còn dân chúng hai bên mãi là kẻ chiến bại, mãi chỉ là công cụ chém giết vô thức mà thôi. Cứ thế, suốt cả năm ròng, nhóm trinh sát chúng tôi luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong sự hành xác, cật vấn lương tâm âm ỉ khôn nguôi, cho đến một ngày ngẫu nhiên nhóm tan tác, tôi phải chia tay hai người đồng đội. Đêm ấy trời tối đen. Chiến tranh và tội ác vốn là bạn đồng hành của bóng đêm. Tin báo về tiểu đoàn cho hay, một tốp thám báo của đối phương bị dân địa phương bắt giữ. Ba người chúng tôi được lệnh băng rừng đến ngay quả đồi nằm trên trục đường từ Thanh Vân đi cửa Nghĩa Thuận, dẫn giải tù binh về để khai thác tình hình quân địch. Vừa đến nơi, một cảnh tượng kinh hoàng hiện ra trước mắt nhóm trinh sát. Có dăm người dân quân địa phương ngồi quanh đống lửa uống rượu ngô và ba xác chết trần truồng, thi thể bầm dập nằm lăn lóc trên bãi cỏ, hai trai, một gái. Xác người con gái nằm ngửa, không bị đánh đập, nhưng hai đùi bị banh ra, cột chặt vào hai cái cọc được đóng sâu xuống đất, cửa mình vẫn còn củ sắn to bự cắm vào, máu lênh láng chảy ướt đầm mặt cỏ. Hai xác người đàn ông to vật vã, đầy những vết đánh thâm tím, bộ phận sinh dục bị cắt rời nguyên cả cụm, ném vào đống lửa, bốc lên mùi thịt nướng… Mùi thịt người và cái dương vật xém vàng, nứt vỡ, xèo xèo trong lửa làm tôi nôn ọe, ghê tởm đến cùng cực. Người tôi run lên, mắt cay xè, hàm răng lập bập, chĩa súng vào đám dân quân hỏi: “Sao chúng mày ác thế, có còn là giống người nữa không?” Họ thản nhiên đáp: “Mày thì biết gì. Chúng nó còn ác hơn nữa kia. Chúng tao vây bắt, chúng nó chạy ngược vào bản đốt nhà để lừa cho mọi người mải dập lửa, chúng nó thừa cơ chạy trốn vào rừng. Nhiều lần như thế lắm rồi. Người, ngựa chết và ngô, thóc cháy rụi, ai thương cho dân bản? Mày ư? Thương cái xương chúng tao có lúc chẳng còn.” Lúc này Chù Mìn Phủ đứng gần tôi, từ từ khuỵu xuống, nằm úp mặt vào đất, gào rống lên: “Giời ơi! Quả báo sắp đến rồi... Chúng mình sang bên kia cũng có khác gì họ đâu.” Anh lăn lộn giữa ba cái xác người nức nở khóc than, khiến Thào A Máy cũng ôm lấy anh khóc theo. Trong đám dân quân có tiếng lao xao bàn cãi. Có lẽ tiếng khóc của hai người làm họ tỉnh rượu, có phần ân hận và lo sợ sẽ bị tôi trừng phạt. Tôi chỉ nghe lõm bõm tiếng Mông lẫn tiếng Dao, nhưng cũng lơ mơ hiểu. Họ được lệnh giải tù binh ra quả đồi chờ giao cho bộ đội, vừa ngồi chờ họ vừa nướng sắn uống với rượu ngô. Hơi men ngà ngà, họ quay sang tranh cãi với tù binh. Một bên chửi Việt Nam vô ơn, giở mặt theo đuôi bọn xét lại Nga Xô. Một bên chửi quân “bành trướng” Trung Quốc, vô cớ đánh bạn láng giềng “môi hở răng lạnh”. Toàn là những lời lẽ của mấy ông cán bộ tuyên huấn hai bên, chứ họ nào hiểu gì đâu cơ chứ. Thế là hơi men, sự cuồng tín và nỗi căm tức vì mất nhà, mất người thân đã xui khiến đám dân quân hò nhau xông vào lột hết quần áo, đánh đập hai người đàn ông cho đến chết. Lúc đầu họ không nỡ đánh đàn bà, định sẽ giao nộp cho bộ đội, nhưng rồi cũng tại hơi men và cả tại máu của hai xác người đàn ông đã đánh thức bản năng thú vật của những con đực. Họ thay nhau hãm hiếp cô chưa đủ, sẵn có củ sắn mang theo, một gã thuận tay tống mạnh vào cửa mình còn đang ướt nhoét của cô cho hả giận rồi cả đám cười lên man rợ… Tôi đang bàng hoàng đau xót, không biết nên giận hay nên thương những gã trai miền sơn cước rách rưới, gầy nhom, đen nhẻm kia đã bị cuộc chiến biến thành bầy thú dữ, chợt tiếng kêu thất thanh của Thào A Máy làm tôi càng thêm kinh hãi. Cô nhận ra xác người con gái chính là đứa bạn cùng xóm, lấy chồng bên kia biên giới. Hai người thân nhau từ nhỏ, mới xa cách nhau vài năm, giờ đã ra nông nỗi này. Chù Mìn Phủ vừa mới nguôi ngoai đôi chút, thấy vậy lại hộc lên những tiếng kêu rên: “Giời ơi! Ác giả ác báo, quả báo sắp đến rồi. Giời ơi là giời ơi!...” Đến nước này thì cả tôi cũng thành điên dại. Nhóm trinh sát ba đứa chỉ còn biết ôm nhau mà khóc đến khàn hơi, kiệt sức. Khi tôi và Chù Mìn Phủ cố hết sức dìu được Thào A Máy về đơn vị thì cả ba đứa cùng mê man thiếp đi suốt mấy ngày đêm, người hầm hập sốt. Tỉnh dậy, Thào A Máy hoá điên thực sự. Những ngày đầu, cô chỉ gào thét, đập phá, bới đất, nhai cỏ. Cặp mắt cô vô hồn, mái tóc đen dày rối bù như tổ quạ. Một hôm, cô như tỉnh lại, ra suối tắm. Giữa trưa, cả đơn vị đang ăn cơm, cô trần truồng từ suối về chỉ mặt từng người, miêng hát: “Xi tùa, nể tùa, mi dầu tùa…” Cô hát theo điệu dân ca trữ tình của người Mông. Bài hát ấy vốn ngợi ca tình yêu trai gái khi mùa xuân về. Họ lạy mẹ, xin cha cùng nhau lên rừng hái hoa, tắm chung dòng suối, nên vợ nên chồng, sinh con đẻ cái… Giờ vẫn điệu hát quen thuộc cô đặt lời khác đi, khiến tôi nghe cứ lạnh buốt sống lưng, sởn gai ốc tay chân. Lời ca “Xi tùa, nể tùa, mi dầu tùa…” tiếng Mông nghĩa là “cha mày chết, mẹ mày chết, các con mày chết…” Rồi cô hát tiếp: “Sao chúng mày ác thế? Rừng có khí thiêng, núi có sơn thần, suối có hồn ma, ông trời có mắt…, cha mày chết, mẹ mày chết, các con mày chết…” Chao ôi! Cái điệp khúc “Xi tùa, nể tùa, mi dầu tùa” kia là lời hát của người điên hay là thông điệp của ma rừng, trời đất, quỷ thần gửi tới cõi người? Sự việc xảy ra quá bất ngờ. Tôi không thể trách những chàng lính trẻ miền xuôi không hiểu tiếng Mông, chưa từng bén hơi đàn bà, đang đổ xô ra nhìn ngắm tấm thân lõa lồ nõn nà của Thào A Máy đầy vẻ tò mò. Thậm chí họ còn vô ý thức, quờ tay sang bạn mình, nắm lấy con chim đang thượng tướng lên mà tán bậy. Chỉ có tôi và Chù Mìn Phủ ngồi lặng đi, úp mặt vào lòng bàn tay, giàn giụa nước mắt khóc không thành tiếng. Chỉ huy tiểu đoàn ra lệnh cho hai đứa chúng tôi đến ôm lấy cô khiêng vào lều, mặc quần áo và trói lại. Cô vùng vẫy, chống cự bằng một sức mạnh ghê gớm, khiến bàn tay hai đứa đều vô tình động chạm đến những vùng nhạy cảm nhất của đàn bà. Sẩm tối, hai đứa được lệnh khiêng cáng đưa cô đi trạm xá để chuyển về tuyến sau, cho cô vào nhà thương điên. Thuốc mê không có nên cuộc “hành quân” trong đêm của chúng tôi vô cùng vất vả. Tôi đi trước, Chù Mìn Phủ đi sau, vừa đi anh vừa khóc và dỗ dành Thào A Máy, nhưng cô vẫn không chịu nằm im, hết gào thét, quẫy đạp lại van vỉ đòi về bản. Đi được nửa đường, phần vì mệt, phần vì quá thương cảm, Chù Mìn Phủ bảo tôi đặt cáng xuống đất, ôm chầm lấy Thào A Máy. Cô ngoan ngoãn nép vào ngực anh, khẽ rên ư ử như con mèo con, mắt ngơ ngác nhìn ra bốn phía trời đêm. Hồi lâu anh nghẹn ngào nói với tôi: “Tao nhìn thấy hết cả người nó rồi, tay cũng đã sờ vào tận cái lỗ đẻ con của nó thì phải lấy nó làm vợ thôi. Luật của người Mông mà, không lấy nó giời sẽ bắt tội. Mày thả cho tao đem nó cùng về với rừng, với bản, được không?” Tôi hỏi lại anh: “Mày định đảo ngũ à?” Anh đáp: “Đành phải thế thôi. Lâm vào cảnh ngộ này, mày bảo tao có thể làm gì khác được đây?” Tôi đưa mắt nhìn sang Thào A Máy, thấy cô đờ đẫn gật đầu. Chúng tôi ngồi rất lâu, nhìn nhau im lặng, chẳng biết nói thêm điều gì. Con đường dẫn đến trạm xá nằm chênh vênh bên mép vực. Tôi nhìn xuống đáy vực thăm thẳm, hút sâu vào bóng tối mênh mông, không định ra nổi đâu là khoảng không, đâu là mặt đất, lòng nôn nao nghĩ đến tương lai của hai người đồng đội đã cùng mình vào sinh ra tử. Họ đi rất lâu, tôi vẫn còn ngồi chết lặng bên mép vực buồn the thắt.

dân quân người dân tộc Mông (nguồn: internet)

3- Chúc tất bật chuẩn bị mọi thứ cho chuyến đi của tôi. Nó thu mình trong góc nhà, cặp mắt đen thao láo nhìn đống hành lý. Đôi mắt như cánh rừng hoang sao mà buồn vậy. Lần nào tôi đi vắng nó cũng buồn như thế. Khuya rồi! Tôi nhắc và giục nó đi ngủ, song Chúc vẫn ngồi bất động, thỉnh thoảng khẽ thở dài. Nó buồn là phải bởi nếu tôi đi vắng là nó sẽ bị nhốt trong căn hộ tầng năm của khu nhà lắp ghép sập sệ, lún nứt và hôi hám nhất trong các chung cư của thành phố, xây cất từ những năm 60 thế kỷ trước. Căn hộ có hai buồng, nó ở buồng trong, tôi ở buồng ngoài, vừa là nơi tiếp khách vừa là nơi làm việc và ngủ. Tôi đưa nó về từ một động bán dâm, cách thị xã Hà Giang 7 km về phía cửa khẩu Thanh Thủy. Qua thời tao loạn, nghĩa tình huynh đệ “môi hở răng lạnh” bỗng thành kẻ thù bắn giết lẫn nhau, nay hai nước lại hòa hợp, “hợp tác toàn diện, hướng tới tương lai”. Ở đâu không biết chứ tại nơi cửa khẩu hẻo lánh này buôn bán chính ngạch thì ít, buôn lậu thì nhiều. Những ông chủ còn gọi là lão bản bên kia biên giới tuồn hàng trốn thuế sang Việt Nam thông qua một mạng lưới chủ nhỏ người Việt, hình thành một tổ hợp kinh doanh kiểu luật rừng. Nhìn bề ngoài, các lão bản tỏ ra hào hiệp đúng như khẩu hiệu “láng giềng thân thiện”, giao hàng trước, trả tiền sau bằng tín chấp. Thật ra họ thuê cả một mạng lưới giám sát chặt chẽ các đầu mối. Giữa họ đầy rẫy sự nghi ngờ, lừa đảo, khi cần sẵn sàng chém giết lẫn nhau như ngóe. Mỗi lần trúng mánh, chủ tớ thu về bộn tiền thì sự “hợp tác toàn diện” phải thể hiện bằng việc thỏa mãn cái khoái nhất của lão bản là phá trinh các cô gái người Mông, người Dao. Lão bản Trung Quốc phá trinh, còn chủ nhỏ Việt Nam ăn sái nhất, sái nhì. Lần ấy tôi theo chân tổ phá án của công an thị xã mật phục bên ngoài ổ điếm từ sáu giờ chiều đến chín giờ tối. Đây là vụ án quan trọng vì lão bản Trung Quốc và chủ nhỏ Việt Nam đều là những quan chức trong hệ thống chính quyền hai bên cửa khẩu. Máy ghi âm, thu hình được bí mật gài sẵn. Khách ra vào ổ điếm đều bị giám sát chặt. Theo ám hiệu của nội ứng, chúng tôi bất ngờ ập vào, chứng kiến tận mắt ba thằng đàn ông bụng phệ và một cô bé người Mông, thảy đều trần như nhộng. Cô bé chừng độ 13 tuổi. Có lẽ vì quá đau và sợ hãi nên nó cứ nằm tênh hênh trên giường, mặt tái dại, mặc cho máu từ cửa mình rỉ ra từng giọt, loang trên ga trải giường trắng muốt. Một cô nhân viên nhà hàng phải vào vực dậy, vỗ về, mặc quần áo cho nó. Vì vụ án có yếu tố người nước ngoài nên quá trình lập biên bản diễn ra tỉ mỉ, cẩn trọng. Băng ghi hình được cài vào máy phát lại, trước sự có mặt của đương sự, nhân chứng và đại diện cơ quan báo chí là tôi. Thật ghê tởm đến buồn nôn. Cô bé bị trói tay vào thành giường. Hai thằng chủ nhỏ Việt Nam bẻ gập đùi cô bé và banh ra cho lão bản Trung Quốc bò lên người liếm láp khắp chỗ, rồi từ từ nhét dương vật to và dài như dái ngựa vào mình cô bé trong tiếng thét kinh hoàng vì đau đớn của nó. Giời ơi! Hai thằng ôn vật kia làm tôi nhớ lại thảm cảnh trên quả đồi năm xưa, trong cuộc chiến tranh biên giới. Chúng nó không còn là người mà chỉ là hai cái cọc gỗ banh đùi nữ tù binh thám báo Trung Quốc trong cái đêm kinh hoàng, đã khiến Chù Mìn Phủ gào lên thảm thiết. Nếu vụ án này không phá được, biết đâu mai kia hai thằng viên chức mạt hạng này có tiền mua chức sẽ vênh vang cái mặt thớt đi răn dạy quần chúng hay sang bên kia cửa khẩu ký kết văn bản “hợp tác toàn diện”. Hình ảnh cuộc chia tay với hai đồng đội Chù Mìn Phủ và Thào A Máy bên mép vực, giữa trời đêm tối đen như mực lại hiện về ám ảnh, dày vò tâm trí tôi. Càng ngạc nhiên và đau xót khi tôi nghe được lời khai của cô bé bị hại. Nó mù chữ và không biết nói tiếng Kinh, nhưng tôi vẫn hiểu. Con bé không còn nhớ tên cha mẹ đẻ, quê quán, chỉ biết mình lớn lên trong nhà thờ đạo Tin lành ở huyện Mèo Vạc. Nó bị người ta lừa bắt đi cách đó ít ngày. Tên nó là Chù Thào Mỷ làm tôi giật mình, cuống cuồng tra hỏi thêm, song cũng không khai thác được gì hơn.
Tiếng Mông: Pá là hoa rừng, Máy là hoa mai, Mỷ là người đẹp… Đó là những cái tên người ta thường đặt cho con gái. Chù Mìn Phủ ơi! Có phải anh đặt tên con gái mình là Chù Thào Mỷ để nói với người đời rằng, dù cho số phận đắng cay, cảnh đời nghiệt ngã thì đứa bé này sinh ra mãi là hạnh phúc ngọt ngào của hai dòng họ Chù và Thào? Có phải anh nuôi mơ ước rồi đây nó sẽ là mỹ nhân tuyệt sắc của núi rừng Quản Bạ, sẽ thành ngôi sao điện ảnh, người mẫu thời trang hay hoa hậu Việt Nam?… Ý nghĩ ấy cứ quay cuồng trong đầu và tôi đã năn nỉ xin các anh trong tổ trọng án làm thủ tục để tôi nhận Chù Thào Mỷ về làm con nuôi. Người Mông thường quen gọi họ. Xưa tôi gọi anh là Chúc, dịch ra tiếng Kinh từ họ Chù, nay tôi cũng gọi nó là bé Chúc.

4- Đêm về khuya, sương xuống, trời lạnh giá. Căn hộ tầng năm chỉ có tôi và Chúc, đồ đạc sơ sài, trống huơ trống hoác, đã lạnh càng thêm lạnh. Tôi đón Chúc về những mong căn phòng ấm cúng thêm nhờ tiếng người, sao nó cứ suốt ngày câm lặng. Trong năm năm qua thì hơn ba năm đầu nó ngây ngây dại dại, sợ tiếng động, sợ gặp người lạ nhất là đàn ông. Nó ăn như mèo, người ốm nhách, cặp mắt vô hồn. May mà hôm đầu đem nó đi xét nghiệm máu và khám phụ khoa không thấy dấu hiệu nào của căn bệnh Sida hay giang mai, lậu. Bác sĩ bảo, bệnh của nó chỉ do quá hoảng loạn, tâm thần phân lập mà ra thôi, mọi chức năng của các bộ phận trong cơ thể đều rất tốt, cứ kiên trì tĩnh dưỡng, động viên vỗ về, tránh tác động mạnh về tinh thần lâu dần sẽ khỏi. Điều tôi lo nhất là khả năng nó sẽ mang thai cũng không xảy ra. Có lẽ thằng cha lão bản kia ăn chơi trác táng, tinh trùng loãng xoẹt nên có cũng bằng không. Nhưng cái thứ nước sền sệt, trắng đục như nước cháo ấy cũng có một tác dụng sinh lý khác. Nó làm biến đổi toàn bộ cơ thể cô gái đồng trinh, đến từng tế bào bé nhỏ cũng thấm nhuần chất đàn bà, nó lay động các dây thần kinh ở vùng nhạy cảm rất riêng của giống cái. Chúc ăn rất ít, nhưng đủ chất bổ dưỡng so với cuộc sống ở nơi ngô, sắn còn không đủ ăn phải lèn thêm rau rừng, nõn chuối cho chặt cái dạ dày. Sự tác động sinh lý bên trong sau lần bị cưỡng hiếp bắt gặp sự tác động từ bên ngoài vào cơ thể, qua miếng ăn thường nhật, khiến con bé như lúa chiêm gặp mưa rào, lớn phổng phao từng ngày. Chỉ sau một năm, ở tuổi 14, thân hình nó đã phát triển đến chín nẫu mọi vẻ đẹp khêu gợi của đàn bà từng bén hơi đàn ông. Hơn ba năm mắc chứng thần kinh phân lập, nỗi khát thèm của bản năng giống cái trong nó bị ngủ quên nên khi khỏi bệnh thì có lúc trào lên mạnh mẽ. Hai năm gần đây, Chúc đi đứng mạnh bạo hơn, học cách làm duyên, dạn dĩ với mọi người, thích đụng chạm da thịt với khách đàn ông đến chơi nhà. Tuy vậy, nó vẫn ít nói, còn ngây ngô, trí não có phần trì độn, tiếng Kinh vẫn chưa nói thạo. Tôi dạy nó nấu ăn dễ hơn dạy tiếng, càng khó dạy học đọc và viết chữ cho nó. Giữa thời buổi phố phường nhộn nhạo, khó phân biệt thật với giả, người lương thiện với đủ loại lừa lọc, trôm cắp, đĩ điếm trên đường, tôi không thể an tâm để Chúc ra khỏi căn hộ tồi tàn tít tận tầng năm. Thức ăn, quần áo, vật dụng cần thiết, cả đến băng vệ sinh của nó tôi cũng phải tự tay mua về. Rời nhà là tôi khóa chặt cửa, dặn nó chỉ tiếp xúc với người ngoài qua một lỗ vuông bằng bàn tay. Thi thoảng tôi cũng đưa nó đi chơi ngoài phố, nhưng cứ phải nơm nớp kèm riết bên mình, chỉ sợ nó lạc bởi với nó cái gì cũng mới, cũng lạ và tôi cũng đâu có thì giờ để làm cái việc tưởng chừng vô bổ đó. Những lần tôi phải đi công tác xa mới thật phiền phức. Gửi tiền và chìa khóa bên bà lão hàng xóm về hưu ở căn hộ liền kề, nhờ bà mua thức ăn và đổ rác cho Chúc, song tôi luôn thảng thốt dọc đường, lo con bé ở nhà trì độn, tiếng Kinh chưa thạo, bà lão hàng xóm lại nặng tai, lỡ có hỏa hoạn hay ốm đau cần cấp cứu không được thì ngang bằng tôi giết nó. Lại nữa, nếu tình trạng này kéo dài mãi thì tương lai Chúc sẽ ra sao? Nó cần phải được tự do, rồi còn phải được lấy chồng, phải được làm mẹ như bao người đàn bà bình thường khác. Sự thật là từ buổi giải thoát Chúc ra khỏi động bán dâm, tôi đã cầm tù nó suốt năm năm, vô tình tước đoạt của nó sự tự do tối thiểu trong kiếp nhân sinh dẫu đầy bất an vẫn cứ là cuộc sống. Ngần ấy năm tôi đi tìm kiếm đồng đội người Mông có tên Chù Mìn Phủ. Anh là nỗi đau, là kỷ niệm buồn của đời tôi một thời can qua khói lửa giữa miền biên viễn. Giờ đây lai lịch của Chúc, cô gái bất hạnh người Mông với cái tên Chù Thào Mỷ đáng ngờ đã vô tình cột chặt số phận tôi với anh không cách gì gỡ ra được nữa. Chỉ có anh mới có thể giúp tôi giải thoát bế tắc, trả lại tự do cho Chúc. Cho dù nó không phải là con đẻ thì cũng mang họ của anh để tôi yên tâm giao nó cho người cùng dòng tộc người Mông. Hễ có dịp là tôi lên đường đi khắp tỉnh Hà Giang tìm kiếm mà vẫn vô vọng. Cái lần tôi lên huyện Mèo Vạc gặp cha xứ đạo Tin lành hỏi thăm, ngài nói không biết cha đẻ của Chúc, chỉ biết mẹ nó là một người điên, bị lạc và chết ở trong rừng. Chi tiết ấy càng khiến tôi tin chắc Chù Mìn Phủ là cha đẻ của Chúc. Chù Mìn Phủ, anh ở đâu, sao tôi tìm chẳng thấy? Đã có lúc vì quá mệt mỏi, tôi muốn trả Chúc về cao nguyên đá để nó sống giữa rừng đại ngàn Quản Bạ - Hà Giang , mặc cho số phận nổi nênh, trôi dạt miễn là nó được tự do, nhưng tôi không thể. Đêm sắp tàn. Lúc này Chúc đang ngủ say hay đang mơ ngày tự do? Tôi nhận nuôi Chúc, nhưng chưa dám một lần xưng cha bởi theo luật tục người Mông, tôi còn phải làm lễ tế trời, có sự ưng thuận và chứng giám của họ tộc hay làng bản của nó. Dù còn ngây ngô, trì độn thì ý thức về sự tự do, chí ít là tự do sinh lý đang có lúc nổi loạn trong cơ thể đàn bà của nó. Nếu nó quả thật là con anh thì xin linh hồn Thào A Máy hãy phù hộ cho chúng mình gặp nhau. Mai tôi sẽ đi Hà Giang lần nữa. Chù Mìn Phủ, ơi Chù Mìn Phủ, anh ở đâu?...

5- Tôi mệt mỏi thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn và tôi mơ thấy Thào A Máy. Cô khoả thân từ suối tắm đi lên, da thịt còn vương những hạt nước li ti. Bóng cô mờ ảo rồi hiện rõ dần từng chi tiết trên cơ thể thanh tân. Hình như có một nốt ruồi đỏ trồi lên, cỡ bằng hạt ngô, trong đám lông tơ còn ướt, ở ngay giữa mu, cách lỗ nẻ của tạo hoá vài phân. Tôi có cảm tưởng như cái ấy rất gần, cứ dí sát vào mặt tôi. Phải rồi năm xưa, khi tôi và Chù Mìn Phủ cố hết sức đưa cô vào lán mặc quần áo, tôi bảo: “Anh Chúc khoẻ hơn, ghì chặt cô ấy để tôi mặc quần trước đã.” Đôi tay cứng như sắt của Chù Mìn Phủ chỉ có thể quàng ngang người cô, ghì chặt phần trên. Chân cô quẫy đạp liên hồi, khiến tôi loay hoay mãi mới mặc xong cho cô chiếc quần bộ đội rộng thùng thình. Lúc đó, cái bản mặt của tôi có lúc gần như áp sát vào chỗ ấy, làm sao không nhìn rõ mồn một cái nốt ruồi đỏ to bằng hạt ngô kia. Bao năm qua đi, tôi cố quên cái nốt ruồi đỏ vì chỉ thoáng nhớ đã đỏ mặt, tự thấy mình có lỗi với Chù Mìn Phủ. Tôi không hề muốn, nhưng hoàn cảnh trớ trêu đã buộc tôi phải thấy chỗ tôi không được phép nhìn vào của vợ anh. Giờ cái bóng hình khoả thân của Thào A Máy với nốt ruồi đỏ lại hiện ra lúc gần lúc xa, khi mờ khi tỏ. Lạ chưa?... Cô không phải bóng ma… Cô là người thật bằng xương bằng thịt, đang chui vào chăn, ôm chầm lấy tôi. Đôi bầu vú như hai trái bóng bơm căng tì vào lưng nóng ấm là có thật và tôi đê mê sung sướng. Tôi quen ngủ trần, dù mùa đông cũng như mùa hạ chỉ mặc một chiếc quần sịp. Bàn tay đàn bà ve vuốt từ ngực xuống bụng rồi kéo hẳn chiếc quần sịp ra mà nắn bóp, làm dương vật cương cứng lên như vợ tôi vẫn từng làm việc khởi động này trước khi vào cuộc. Nàng đã bỏ tôi, mang con đi Nga làm ăn đã nhiều năm rồi cơ mà. Bàn tay này là của Thào A Máy từ cõi âm hiện về thì phải vô cảm chứ sao lại có sức kích động kỳ lạ. Bản năng giống đực xui khiến tôi quờ tay lần tìm chỗ ấy, nửa để kiểm tra cái nốt ruồi có thực hay hư và nửa là sự tò mò, thèm muốn… Có nốt ruồi nằm ở trên mu, to bằng hạt ngô, chỉ không biết màu đen hay đỏ. Nơi lỗ nẻ của tạo hóa đang rỉ ra thứ nước nhờn của đàn bà trong cơn phấn khích. Lúc đầu từng giọt ngấm vào đầu ngón, sau ứa ra thành dòng chảy ướt nhòe các kẽ ngón tay, làm tôi chợt bừng tỉnh. Giời ơi!... Sao tôi lại làm cái việc điếm nhục này với bóng ma người vợ bất hạnh của Chù Mìn Phủ. Lý do vợ bỏ đi Nga nhiều năm hay sự thèm khát của con đực khi bị kích động cũng không thể biện minh cho hành vi khốn nạn. Tôi muốn vùng dậy sao bóng ma cứ vít chặt tôi nằm xuống? Hoảng quá, tôi thét to và tung chăn, dùng hết sức lực nhảy ra khỏi giường, bật công tắc điện. Thật không còn dám tin ở mắt mình, tôi nhìn thấy Chúc đang trần truồng, run rẩy ngồi thu mình ở góc giường. Bắt gặp ánh mắt giận dữ của tôi, nó lấy tay che mặt, đầu gối run run vì rét và sợ nên có lúc như banh ra một cách vô thức. Cái nốt ruồi đỏ trên mu đập vào mắt càng làm tôi choáng váng, lảo đảo gục xuống sàn nhà… Thế rồi tôi điên tiết gầm lên, túm tóc lôi nó dậy, đẩy vào buồng phía trong, khép chặt cửa, ra lệnh cho nó mặc quần áo. Nó quấn mình trong chiếc chăn bông, khóc ti tỉ như đứa trẻ con ăn vạ đòi quà. Tiếng khóc nghe não lòng giữa đêm đông lạnh, trong căn hộ tầng năm chỉ có hai bóng người cô đơn, không cùng huyết thống, sống vật vờ kìm hãm sự khát thèm đực cái. Hồi lâu, tôi bước vào, ngồi xuống mép giường lựa lời khuyên giải và hỏi nó vì sao làm thế. Nó bảo: “Từ chập tối, thấy chú chuẩn bị đi công tác lần này khác hẳn mọi lần, cháu sợ lắm. Cháu sợ chú sẽ đi mãi không về, nhốt cháu suốt đời ở đây thì sống làm gì, thà chết còn hơn!” “Bậy nào. Chú có thể sẽ đi lâu hơn mọi lần, nhưng nhất định sẽ về với cháu. Đấy không phải lý do cháu lên gường đòi ngủ với chú.” – Tôi động viên nó mà như căn vặn, nào ngờ nó nói một lèo thẳng tuột: “Cháu chẳng cần gì hết, chỉ cần được ra ngoài cửa sắt. Chú ác lắm, nhốt cháu lâu thế thà giết cháu đi còn sướng hơn. Cháu thèm được ngủ với đàn ông một lần còn hơn thèm ăn, thèm uống, chú có biết đâu. Chú nhốt cháu trong cửa sắt, khóa kỹ mấy ổ, hễ có đàn ông đến nhà động chạm một tý là chú mắng, chú phạt cháu. Cháu hết chịu nổi rồi. Nhiều đêm cháu muốn rồi lại sợ, giờ cháu thà liều ngủ với chú cho biết mùi rồi chết còn hơn đợi chú đi không về, nhốt cháu suốt đời.” Chao ôi! Cái nghĩa đời tự do hay là chết lại bật ra từ miệng cô gái người Mông trì độn, chưa nói thạo tiếng Kinh đã khai thông tuệ giác, mở mắt cho thằng tôi. Vì muốn sự an toàn cho Chúc, tôi đã vô tình cầm tù một con người. Cửa sắt và những ổ khóa có thể ngăn cách cơ thể nó với thế giới bên ngoài, nhưng không thể giam hãm mọi ý nghĩ và khát vọng tự do được làm đàn bà của nó. Chúc căm thù tôi là đúng quá. Nó nổi loạn vào cái đêm trước chuyến đi Hà Giang tìm Chù Mìn Phủ làm tôi nhớ lại lời than về sự quả báo năm nào của anh trên chiến trường biên giới và cả cái điệp khúc “Xi tùa, nể tùa, mi dầu tùa” mà Thào A Máy đã từng hát giữa cơn điên. Thì ra lời đồn thổi về những cô thanh niên xung phong thời chống Mỹ, sống giữa rừng Trường Sơn nhiều năm không gặp bóng đàn ông đã hóa điên lên là có thực. Tôi cần nhanh chóng trả tự do cho Chúc, nếu không sẽ gặp quả báo bởi chính tôi cũng không dám chắc mình sẽ kiềm chế được mãi, khi Chúc tiếp tục nổi loạn. Chuyến đi Hà Giang lần này sẽ là lần cuối. Tôi phải tìm cho ra tung tích của Chù Mìn Phủ, trả lại tên Chù Thào Mỷ cho Chúc để nó tự do về sống giữa rừng đại ngàn, dù phải ở lại bao lâu tôi cũng cố.

6- Chiếc xe của đài truyền hình đến đón tôi lúc mờ sáng. Gã đạo diễn nhìn bộ dạng phờ phạc của tôi nói móc: “Ái chà, ông bác đêm qua chắc làm việc nhiều, lử cò bợ còn gì. Ta khẩn trương chạy đến Vĩnh Yên ăn sáng, rồi vòng theo đường tắt sau lưng Tam Đảo, qua Sơn Dương đi cầu Nông Tiến đến thị xã Tuyên Quang ăn trưa. Cả đoàn cố gắng có mặt ở thị xã Hà Giang đầu giờ chiều, bắt tay vào việc luôn. Phỏng vấn chớp nhoáng các sếp trên tỉnh một buổi chiều nay thôi, tối hoặc sớm mai ta về tuyến huyện.” Gã vừa nói vừa nháy mắt cho cả đoàn, ngầm ý đe doạ cái thân già tội nghiệp sau một đêm mất ngủ - đôi mắt thâm quầng của tôi mách bảo gã thế. Những ánh mắt tò mò, những nụ cười mỉm của đoàn làm phim cho thấy họ ngờ vực quan hệ giữa tôi và Chúc. Đời bây giờ sống cho tử tế, nói lời thanh cao đều là sự xa xỉ… Cả cuộc hành trình dài đường núi và kế hoạch làm việc trên tỉnh bị gã đạo diễn gói trọn trong ngày. Nó không phải nhằm đe doạ tôi, như gã võ đoán đã dốc cạn thứ nước tình suốt đêm mệt nhoài, mà đó là thực tế nghiệt ngã của cái nghề mang danh nghệ thuật. Mỗi bộ phim tài liệu 30 phút ở đài đã được khoán trắng là 15 triệu, thanh toán sau khi duyệt và phát sóng. Hay dở, khó dễ đều như nhau tất. Tội gì gã phải nắn nót từng khuôn hình, tâm đắc với chủ đề. Gã phải “mì ăn liền”, đi nhanh, quay nhanh, phỏng vấn chớp nhoáng, nhặt nhạnh thêm các cảnh quay cũ hay của đồng nghiệp càng nhiều càng ít, miễn sao đủ thời lượng, phim tạm coi được để lĩnh tiền. Hắn từng bảo: “Vợ em là con sư tử cái, mỗi phim phát lên sóng là nó về nắn ví, moi đủ hai triệu tiền công đạo diễn. Không giảm tối đa các chi phí, em lấy tiền đâu ném cho các ả điếm. Mẹ kiếp! Chuyến đi nào không bắn được vài phát kể như em mất hứng. Với kiểu thù lao cá mè một lứa này, đời nghệ sĩ của em đã bị con sư tử cái ở nhà và các ả điếm dọc đường cầm tù từ lâu rồi.” Nghe mà khiếp, nhưng tôi đâu có hơn gì gã. Kịch bản nào của tôi dù đề tài có được ấp ủ, dù hình tượng có được mài chuốt thì đến khi vào tay gã thảy đều bị vặt trụi thui lủi, phần vì phim phải được duyệt, phần vì tiết kiệm chi phí. Phản đối ư? Sẽ có anh khác chen vào ngay tắp lự và tôi sẽ mất toi một triệu nhuận bút, gấp mấy cái truyện ngắn trên báo văn chứ bỡn. Phim dựng xong, nhìn vào tôi không nhận ra là của mình, vẫn phải bấm bụng, căng mắt ra đọc băng mà viết nốt lời bình, nhận thêm nửa triệu nữa để mà tồn tại, nuôi thêm một miệng ăn là Chúc. Lâu rồi thành quen, nhất là từ khi nhận nuôi Chúc, tôi viết kịch bản theo gu của gã để nhanh có tiền. Từ chỗ bị gã cầm tù, tôi phải chủ động tự cầm tù ngòi bút của tôi để có đủ tiền cầm tù đời đàn bà của Chúc, cũng như gã đạo diễn chấp nhận sự cầm tù của vợ và điếm để cầm tù cây bút của tôi. Cuộc đời này là xâu chuỗi những cá thể tự cầm tù, bị cầm tù hay cầm tù kẻ khác mới là cuộc đời ư? Sao phũ phàng thế? Tôi đi tìm Chù Mìn Phủ để giải thoát cho Chúc hay đang tìm đường giải thoát cho chính mình?...
7- Xe lắc lư chạy trên con đường tắt quanh co sau lưng núi Tam Đảo. Lúc dừng lại ở Vĩnh Yên ăn sáng, tôi không sao nuốt nổi, miệng đắng ngắt, khí đầy, dạ chướng. Tôi nhắm mắt, ngả người vào thành ghế, muốn ngủ một giấc sâu để quên đi sự việc hồi đêm, quên đi mọi nỗi dày vò và cả những ánh mắt hoài nghi, những lời nói móc của đám bạn trẻ trong đoàn làm phim. Làm sao che được miệng thế gian hở Chù Mìn Phủ? Làm sao có thể tưởng tượng nổi đêm qua tôi lại nhìn thấy nốt ruồi đỏ hở Thào A Máy? Hễ nhắm mắt vào là tôi lại thấy hiện ra bao kỷ niệm chiến trường với hai người đồng đội. Cái đêm đi trinh sát tôi bị rắn cắn, anh xé áo, thắt ga rô vào bụng chân tôi rồi ghé miệng vào vểt thương hút hết máu và nọc rắn. Chị đi soi đèn tìm lá thuốc nhai và đắp vào vết thương. Chân tôi sưng tấy, khắp người tê dại, không sao lê bước, trán vã mồ hôi. Hai người thay nhau cõng bạn dưới mưa phùn, leo dốc núi đường trơn, tìm nhà dân chạy loạn để ngủ tạm qua đêm. Qua mấy ngôi nhà cháy, xác người và xác trâu chết trương bốc mùi khăn khẳn, chúng tôi mới tìm được chỗ trú. Bữa đó, chị trổ tài đảm đang của cô gái người Mông, đãi tôi món đặc sản mèn mén quê mình. Chị đi lùng sục khắp xóm mới mang về một ít bột ngô, bắc chõ đồ lên thật khéo, nom như xôi vò dưới xuôi. Tôi ăn mèn mén, ăn cả tấm lòng thơm thảo của anh chị, bởi khi buông bát tôi chợt nhận ra hai người chỉ ăn nắm lá bí già, luộc lên nhai như nhai rơm. Đêm ấy anh kể tôi nghe chuyện cách mạng văn hóa bên kia biên giới. Báo chữ to dán đầy các chợ đường biên, phái này vừa trương lên, phái khác bóc ra thay bài khác, toàn những từ ngữ dữ dằn: đả đảo, tiêu diệt, phanh thây, xé xác… Và họ làm thật bằng đấu tố, đánh đập, tử hình, kéo lê xác người trên đường trong tiếng gào thét tiêu diệt phần tử “hắc bang”. Tôi hỏi: “Ai tiêu diệt ai?” Anh đáp: “Vẫn là người Mông hay người Dao cả thôi. Hôm nay mày là bạn học, thầy giáo, đồng chí, người thân thì bỗng sáng mai thành “hắc bang”, phải đấu tố, phải giết hết để tao mới là cách mạng tới cùng”. Tôi nghe như chuyện dưới âm ty địa ngục, nửa tin nửa ngờ, thấy vậy chị bảo: “Hồi ấy, nhiều phần tử “hắc bang” trốn sang bên này được cưu mang, nhưng cũng không thoát đâu. Hồng vệ binh tràn sang truy lùng, xâu tay họ vào dây thép rồi dẫn về bên kia chôn chung một hố.” Chúng tôi lầm rầm bàn tán, cùng thở dài ngao ngán. Chao ôi cái kiếp nhân sinh giữa thời tao loạn! Bên kia cách mạng thời đó, bên này chiến tranh bây giờ, giống nhau cả thôi, bao giờ mới dứt? Tôi thiếp đi giữa cơn đau rắn cắn dưới chân, nỗi buồn nhức nhối trong tim chuyện đời.

8- Gã đạo diễn chọn con đường tắt vừa ngắn hơn vài chục cây số, lại vừa đẹp tuyệt vời. Con đường quanh co uốn lượn giữa khe núi, triền đồi. Màu lam của cánh rừng già trên vách núi phía xa xen lẫn màu xanh non của những búp chè trải ra mênh mông trước mặt, trên các quả đồi thoai thoải. Những mái nhà yên bình nép trong các vườn xoài trĩu quả và bóng cô sơn nữ hiện ra như trong cổ tích của miền gái đẹp “trà Thái gái Tuyên”. Mấy năm gần đây, vùng này phát triển giống xoài xanh vỏ chín lòng, ngọt sắc hơn giống xoài Nam Bộ. Lần nào đi qua con đường này, gã đạo diễn cũng bắt lái xe dừng lại nhiều chặng để ghi hình những cảnh ngẫu hứng bắt gặp ở những thời điểm khác nhau. Công bằng mà nói, gã là một đạo diễn có tài. Trong lưu trữ cá nhân của gã có rất nhiều cảnh lạ ở góc quay và thời khắc độc đáo mà bạn cùng nghề không dễ gì có được. Cũng một cảnh hoàng hôn trên rừng, bình minh dưới biển, hắn có thể tạo ra hàng trăm cảnh khác nhau, cái nào cũng mới, cũng lạ, làm tôi xao xuyến. Gã vặt trụi kịch bản của tôi là bởi có làm cũng chẳng được gì chứ gã thừa sức làm hơn thế. Thường thì chúng tôi dừng lại khá lâu ở quán vườn xoài của bà Ten người xứ đạo Nghĩa Hưng - Nam Định. Chúng tôi ngồi uống trà, ăn xoài, nghe bà kể chuyện cải cách ruộng đất ở quê. Cha chết, anh bị đi tù, bà xách bị đi ăn mày rồi lấy chồng người Tày, lập nghiệp ở đây, con đàn, cháu đống vẫn không thoát được cảnh nghèo. Đứa vào Tây Nguyên khai hoang, đứa đi làm vú nuôi bên Đài Loan, mình bà mở quán nuôi mấy đứa cháu nội ngoại lít nhít, lê la trong vườn. Cái lần đi Mèo Vạc tìm gặp cha xứ đạo Tin lành, tôi đã ghé quán, nhờ bà hỏi thăm tin tức Chù Mìn Phủ và Thào A Máy từ khách qua đường, may ra có kết quả. Bà Ten thấy tôi mừng quýnh, khoe đã gặp được Thào Mý Pảo, chị họ của Thào A Máy. Chị ta để lại địa chỉ ở thị xã Hà Giang, xác nhận tin Thào A Máy đã chết, muốn nhận nuôi đứa cháu gái. Trong tôi nhen lên một chút hy vọng. Có thể người đàn bà này sẽ giúp tôi đi tìm Chù Mìn Phủ. Chí ít thì tôi cũng có chỗ tin cậy để gửi Chúc về quê cho người thân của nó. Bà Ten nói xa: “Thời buổi thật giả lẫn lộn, ác nhân giả nghĩa nhiều như trấu, chẳng vội tin ai sất.” Tôi hỏi: “Sao thế?...” Bà lẳng lặng nhai trầu, ngập ngừng nói: “Chị ta giàu lắm!... Người đẫy đà, ăn mặc diêm dúa, đi xe Nhật đời mới sang hơn cả ông Chủ tịch tỉnh…” Tôi cười hỏi lại: “Giàu thì càng tốt chứ sao? Con bé càng được nhờ vả.” Bà đáp: “Ấy là tôi thấy bác mấy năm qua hết lòng vì con bé nên nói xa vậy. Bác tính, bây giờ người Mông như chị ta hay người Tày như ông lão và lũ con tôi vẫn khổ khác gì chó ngựa đâu. Kẻ giàu phất lên ở miền biên viễn này, không là quan tham thì cũng phường buôn thịt bán người, mèo mả gà đồng cả, tâm địa khó lường.” Bà Ten nói rồi thở dài, hướng cặp mắt vào trong vườn xoài, nơi bầy cháu nội ngoại lẫn với đàn lợn con mốc meo, bẩn thỉu đang vầy đất, chửi nhau chí chóe. Con người nhân hậu đã qua kiếp trầm luân, bể khổ hơn sáu chục năm rất hiểu và thương bé Chúc vào cái ngày tôi đưa nó về Hà Nội, ghé quán xin nghỉ tạm và nhờ bà mua thuốc cho nó. Từ bữa ấy, nhất là sau chuyến đi Mèo Vạc, lần nào qua đây bà cũng hỏi thăm, gửi quà cho Chúc. 14 tuổi đầu, cha anh bị đấu tố, người bị tử hình ở gốc muỗm trước chợ làng, người bị đi tù ở Hà Giang nổi tiếng ma thiêng, nước độc. Cô Ten khi ấy có tên là Mơ, xách bị đi ăn mày, lần mò lên miền ngược hy vọng có cơ hội thăm và tiếp tế cho người anh. Qua đèo Khế thuộc địa phận Sơn Dương thì cô bị bắt. Lão chủ nhiệm và hai gã dân quân người Tày nghi cô là Việt gian, nhốt vào kho của hợp tác xã. Đêm đêm, ba thằng giời đánh mò vào thay nhau cưỡng hiếp cô hết đợt này đến đợt khác. Ba cái của nợ to, dài, đen như dái ngựa cứ chọc ngoáy liên hồi làm cô đau rát, buốt đến lộng óc. Không có nước rửa, quần áo để thay nên sau mỗi lần như thế, máu của cô và tinh dịch của chúng ộc ra nhây nhớt trên đùi, khô lại, bốc mùi khăn khẳn. Cô muốn đập đầu vào tường chết theo cha, song phải cắn răng chịu đựng để tìm anh trai. Sau đó, lão chủ nhiệm muốn phi tang, bắt cô phải lấy Sùng Ten, một con nghiện quanh năm sợ nước, người cáu bẩn, hôi như chuột chù. Cô làm vợ Sùng Ten, được đứa con trai đầu khỏe mạnh thì chẳng biết của ai, còn ba đứa con gái với lão chồng nghiện thuốc phiện thì ốm quay ốm quắt, xanh như tàu lá chuối… Giờ anh con trai đưa vợ vào Tây Nguyên khai hoang, ba chị con gái chẳng đứa nào lấy chồng mà vẫn đẻ con. Tất tật chúng nó không ai bảo ai đều ném con lại cho bà chăm sóc, đi tìm miếng ăn ở nơi chân trời góc bể. Có lần bà nói mà như cật vấn tôi: “Bác sống gần Trung ương, đi nhiều, hiểu rộng hơn mụ nhà quê, hãy chỉ vẽ cho chứ tôi thì chịu. Tôi sống gần trọn một kiếp người vẫn không hiểu nổi vì sao ba đứa con gái mình dứt ruột đẻ ra lại phải bán hết nhà cửa mới đủ tiền nộp cho công ty môi giới trên thị xã, ném con cho bà ngoại chỉ để đi làm đầy tớ bưng bô, hót cứt ở xứ người, hở giời? Ở cái xứ Đài Loan ấy làm kẻ tôi đòi cũng sướng hơn làm người tự do bên ta hay sao?” Có lẽ bằng sự trải đời của mình nên bà Ten đã giúp tôi hỏi thăm khách qua đường về lai lịch của Thào Mý Pảo. Hồi chiến tranh biên giới, chị ta không vào dân quân, cũng không đi sơ tán về Tuyên Quang hay Phú Thọ. Chị ta chạy sang bên kia biên giới với kẻ mạnh để làm ăn, buôn bán. Giờ chị ta giàu có, quay về bắt nhân tình với một ông cỡ bự bên này nên các lão bản Trung Quốc hay chủ nhỏ Việt Nam đều phải nhờ vả. Cứ theo bà Ten thì tôi chưa thể cả tin giao gửi số phận Chúc cho chị ta vội. Tôi vẫn phải đi tìm Chù Mìn Phủ trước đã. Lý lẽ của bà chắc như đinh đóng cột, tôi đâu dám nhận mình đi nhiều hiểu rộng hơn bà. Lời bà Ten như gáo nước lạnh, dẫu sao tôi đã có một cái tên Thào Mý Pảo để mà bấu víu, để mà hy vọng. Cái tên rất đẹp, dịch từ chữ Hán nghĩa là Đào Mỹ Bảo vì tiếng Mông hai âm Mỷ và Pảo đứng liền sẽ đọc Mỷ thành Mý. Chúc của tôi đã có được đám bèo khô giữa dòng đời cuộn xoáy từ một cái tên hoa mĩ ấy. Tôi cũng đâu dám thổ lộ với bà Ten về cuộc nổi loạn của Chúc hồi đêm. Chia tay bà, tôi lên xe xốn xang, khấp khởi. Năm năm chờ đợi tôi mới có được nguồn tin quý giá. Chúc ơi! Cầu trời con sẽ gặp may!...

9- Tửu lầu đặc sản Hoa Việt nằm ở mé Tây Bắc thị xã, giữa một khuôn viên rộng, án ngữ hai mặt phố chính. Mấy năm trước tôi qua, nơi đây còn là những dãy nhà lụp xụp, tường đất, ngói ống. Nay những người dân ở đó bị giải tỏa đi đâu không rõ, chỉ nghe đồn bà chủ dự án khu đô thị mới Thào Mý Pảo đầu tư một vốn trăm lời, chia lô bán đất là chính, còn tửu lầu liên doanh với lão bản Trung Quốc toạ lạc trên mười lô đất đẹp nhất. Tầng một là nhà hàng đặc sản, tầng hai là các phòng tắm hơi và chơi bài mạt chược, từ tầng ba trở lên là các phòng ngủ, thảy đều nguy nga, tráng lệ, ngang tầm khách sạn ba sao ở Hà Nội. Văn phòng của bà chủ Thào Mý Pảo đặt ở ngôi biệt thự xinh đẹp, nằm giữa khuôn viên của tửu lầu Hoa Việt. Chị ta lướt nhìn vẻ bần hàn của tôi, khẽ nhếch miệng cười, lạnh lùng hỏi khách dùng cà phê Trung Nguyên hay trà Long Tỉnh. Tôi cám ơn, muốn dùng tách trà xanh Quản Bạ rồi đi ngay vào việc, muốn chị ta kể rõ về mối quan hệ huyết thống với Thào A Máy. Câu chuyện của chị ta gieo trong tôi nỗi nhớ dòng sông một thời đỏ máu, mường tượng lại cảnh chia tay của hai chị em con thúc bá người Mông, thôn Sủa Cán Tỷ. Vào đêm thứ hai, sau ngày khai hỏa cuộc chiến tranh biên giới, họ ngồi trên chiếc cầu treo, nhìn xuống dòng sông Miện lượn lờ quanh xóm nhỏ. Cô chị bảo: “Em đi với chị sang bên ấy mới thực an toàn. Cuộc chiến này khủng khiếp quá! Xác người trôi tanh cả nước sông Miện. Mới loạt đạn pháo đầu của bên ấy bắn sang, hai nhà ta chết chẳng còn ai, may chị em mình đi hát lượn mà thoát.” Cô em vừa khóc vừa nói: “Chị đi một mình thôi. Nhớ đi thật xa biên giới, vào hẳn huyện lỵ Mai Pho nương nhờ người quen, chờ hết chiến tranh hãy về. Em là dân quân phải ở lại thôi, kỷ luật mà. Lỡ mai em chết họ Thào ở Sủa Cán Tỷ vẫn còn có chị.” Họ chia tay trong nước mắt và đạn pháo hai bên biên giới bắn sang nhau đỏ lòe, chíu chíu xé rách trời đêm… Thào Mý Pảo rót trà ân cần: “Anh uống thêm một chút trà cho ấm dạ.” Tôi nâng tách trà, cay mũi, nghèn nghẹn trong cuống họng. “Làm sao chị biết Thào A Máy đã chết?”- tôi hỏi. Thào Mý Pảo kể tiếp, giọng trầm hẳn xuống: “Nhiều năm tôi về tìm em không thấy. Sủa Cán Tỷ vẫn nghèo xơ xác, người khổ như chó ngựa, chỉ so với người thị trấn Tam Sơn, cách nhau một quả núi đã như một kiếp sống khác thì tôi ở lại quê làm gì. Tôi trở lại Mai Pho buôn hàng lậu qua các huyện Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc. Một lần tôi ở Mèo Vạc nghe chuyện về người đàn bà điên, linh tính mách bảo, tôi thuê người đào mộ, tìm thấy đôi hoa tai bằng bạc có khắc chữ Thào nên nhận ra nó. Tiếc rằng, khi đến nhà thờ Tin lành, con nó lại vừa bị lừa bắt đi ít ngày. Năm ngoái tôi gặp bà Ten, nhưng bà ấy cũng đánh mất tờ giấy ghi địa chỉ của anh.” Lại một lần nữa tôi nhòa lệ, mường tượng ra hình ảnh Thào A Máy. Có lẽ cha xứ đã không muốn kể lại cho tôi cái chết bị thảm của cô, nhưng Thào Mý Pảo đã kể rành rõ. Cô đi tìm chồng bị tù, lạc đường, kiệt sức nằm chết ở bờ ruộng ngô, phân cách đất của hai nhà người La Chí. Nhà này bế con cô về nuôi, nhưng lén hắt xác cô sang ruộng bên cạnh vì sợ chôn ở ruộng mình con ma sẽ về bắt mất đứa bé. Nhà kia thấy vậy chửi bới một hồi, hắt xác cô sang ruộng của người nhận nuôi con cô. Cứ thế cái xác hắt qua hắt lại, kiến bu đầy, áo quần tơi tả. Chuyện đến tai cha xứ nhà thờ Tin lành, ngài ra phân giải, bỏ tiền thuê người chôn xác cô ở nơi khác, xa ruộng của hai nhà và đem Chúc của tôi về nuôi. Thế là ngần ấy năm tôi và những con người bất hạnh kia đau đáu tìm nhau, ngơ ngác giữa đời. Không còn nghi ngờ gì nữa, ngoài Chù Mìn Phủ ra, Thào Mý Pảo là người thân gần nhất của Chúc. Tôi đưa ảnh của Chúc ra, chị ta trầm trồ khen nó đẹp, giống Thào A Máy như tạc. Chị ta thật lòng biết ơn tôi đã che chở, đùm bọc cháu mình suốt năm năm, hứa sẽ bù đắp cho tôi xứng đáng, nhưng tôi đâu cần được trả ơn. Lời nói xa của bà Ten làm tôi áy náy phân vân. Tôi biết, tài sản của Thào Mý Pảo ở Mai Pho bên kia biên giới còn lớn gấp nhiều lần ở Việt Nam. Tôi còn nghe, tiền, vàng của chị ta đủ mua nửa cái thị xã vùng biên này. Chúc về với chị ta sẽ một bước lên ngôi quận chúa, bởi chính chị ta đã nói: “Thào A Máy và cả họ Thào ở Sủa Cán Tỷ đã chết thảm vô ích để bây giờ một lũ ác nhân có nhà to, xe đẹp, thịt cá nhờn môi, gái đĩ bu đầy. Bao năm làm ăn tôi lạ gì chúng nó, điếm mồm, đen ruột tất. Tôi phải đòi lại công bằng, phải làm bà chúa người Mông để tất cả lũ ác nhân ở cả hai bên biên giới phải chui qua háng tôi mà đớp hít. Cháu tôi cũng phải thành quận chúa vùng biên mới hả.” Tôi nghe cũng hả, song cảm thấy rờn rợn, phấp phỏng lo cho số phận của Chúc sau này. Rời tửu lầu Hoa Việt, tôi thầm nhủ lòng hãy cứ nghe lời bà Ten, thử đi tìm Chù Mìn Phủ lần cuối xem sao.
10- Trời sẩm tối. Gã đạo diễn nổi hứng quyết định cho xe đưa đoàn lên huyện Quản Bạ. Gã nói: “Đây lên Quản Bạ chỉ hơn bốn chục cây số. Ta ngủ ở đó, mai kịp làm việc sớm”. Cả đoàn miễn cưỡng ra xe vì ở mỗi đoàn làm phim lệnh của đạo diễn là bất khả kháng, nhưng ai cũng ngán đi đêm lên dốc Sum. Quả thật từ thị xã đi Quản Bạ chỉ có 45 km, nhưng riêng dốc Sum đã dài hơn 20 km, quanh co gấp khúc. Lên khỏi dốc Sum đã là Cổng Trời cơ mà. Họ đưa mắt sang tôi cầu cứu, chờ đợi tôi dẫu sao cũng là khách mời sẽ dám bàn ngang. Thật lòng tôi nửa muốn đi nhanh lên Quản Bạ, nửa cũng ngán dốc Sum. Tôi ghé tai gã đạo diễn bông phèng đón ý: “Đã bắn phát nào chưa? Muộn rồi. Hay ta ở lại thị xã đêm nay, mình cũng muốn thử cho biết.” Gã ôm bụng cười ngất: “Bác nhà văn cuối cùng cũng nhiễm độc tụi em này rồi. Đời là mấy tý. Vợ bỏ đi Nga tội gì bác phải ép xác tu hành. Nhưng hãy gượm đã, đợi lúc quay về hẵng thử, bác ạ! Em mới tia được một động cao cấp, trên cả tuyệt vời.” “Ở đâu thế?”- Tôi hỏi. Gã ghé tai tôi thì thầm: “Tửu lầu Hoa Việt có vài chục ả, con nào cũng ngon lành, phòng ốc sang trọng, có bảo kê nên an toàn tuyệt đối. Mụ chủ là bà chúa ở đây, không ai dám đụng. Nghe nói, hàng lậu bên kia sang, việc đầu tư đất đai bên này, kể cả buôn bột trắng hay cơm đen mụ ta làm tuốt.” Tôi choáng váng trước tin giật gân, lảo đảo lên xe, chỉ mong thoát nhanh ra khỏi thị xã. Tôi vừa tìm thấy người thân cho Chúc lại bồn chồn lo cho chính Thào Mý Pảo. Cái tham vọng làm bà chúa người Mông kia lớn quá, khiến chị ta bất chấp tất cả. Đi đêm nhiều ắt gặp ma, luật đời là thế. Gã đạo diễn biết thì thiên hạ đều biết. Người ta đang nuôi béo một con mồi để úp nơm cho đầy giỏ đó thôi, sẽ có lúc chị ta trắng tay vào tù, lúc đó đời Chúc sẽ ra sao? Ác nhân gặp ác nhân, biết đâu có ngày những thằng chui qua háng của chị ta đớp hít kia lại ngồi phán xét tôi trạng bà chúa người Mông. Vả chăng cái ngôi vị quận chúa xây đắp bằng những đồng tiền nhơ nhớp, nếu Chúc có được hưởng nào có sung sướng gì… Bao nhiêu ý nghĩ, phỏng đoán dồn dập trong đầu, khiến lòng tôi như có kiến đốt. Xe đưa tôi leo dốc Sum lúc nào không rõ. Chân dốc này còn in đậm trong tôi kỷ niệm khó phai. …Chia tay Chù Mìn Phủ và Thào A Máy, tôi như người chơi vơi rơi giữa khoảng không. Cuộc chiến này thật vô nghĩa và tôi cũng chán ngán sự bắn giết, dù để tự vệ vẫn cứ là tội ác. Đôi chân vô định theo bản năng sinh tồn đưa tôi vượt qua Cổng Trời, xuống dốc Sum về xuôi. Đến chân dốc, tôi bị quân cảnh giữ lại hỏi giấy tờ, bắt giam tức khắc. Hồi đó, đám lính biên giới chúng tôi đảo ngũ rất nhiều. Bọn tôi thường đặt lại lời một bài hát thời chống Mỹ: “Ta là con của bố ta, mẹ ta. Nhớ nhà là ta cứ ta về. Ta không cần ba lô, không cần hăng gô, quê nhà ta đó, em yêu đợi ta…” Vì vậy từ chân dốc Sum đến thị xã có vài trạm gác của quân cảnh đón lõng những lính đảo ngũ. Tôi cũng đảo ngũ như Chù Mìn Phủ, nhưng anh về với rừng đại ngàn của anh, tự do tự tại, còn tôi chỉ có một con đường độc đạo qua dốc Sum thì thoát sao nổi. Họ giam tôi nửa tháng ngồi viết kiểm điểm rồi giáng cấp từ hạ sĩ xuống binh nhì, điều đi đơn vị khác. Tôi phải xa mặt trận ở Quản Bạ, càng mờ mịt tin tức về Chù Mìn Phủ và Thào A Máy… Xe khựng lại, chết máy ở ngay Cổng Trời. Gã đạo diễn bảo vẫn còn may vì nếu ở lưng chừng dốc mới thật khốn nạn, giữa dốc không có nơi trú nhờ qua đêm, cũng khó tìm được xe đủ sức kéo lên dốc trong đêm tối. Cổng Trời có trạm tiếp sóng của đài truyền hình tỉnh và trạm viba của ngành bưu chính viễn thông, nằm trên hai đỉnh núi ven đường. Mỗi trạm chỉ có ngót chục người, sống gần như tách biệt với thế giới xung quanh nên rất hiếu khách. Thật hú vía, xe chết máy ở ngay chân núi có trạm viba, ở đó có kỹ sư trạm trưởng quen biết với gã đạo diễn. Chúng tôi hò nhau đẩn xe ra vệ cỏ, áp sát chân núi. Đường lên trạm viba dựng đứng, có đến hơn ngàn bậc xi măng, lại phải mang vác đồ nghề, hành lý làm chúng tôi thở dốc, đầu gối run run muốn khuỵu xuống. Tôi leo được đến cái sân rộng, có đặt cột thu sóng tưởng mệt đứt hơi. Trưởng trạm là chàng trai chừng ngoài 30 tuổi. Anh hớn hở ra sân, chầm vập ôm chặt từng người, luôn miệng: “Khách quý!... Khách quý!...”. Đoàn chúng tôi như sứ giả đem niềm vui đến với những con người cô đơn. Trưởng trạm la hét mọi người bật hết các ngọn đèn trong nhà, ngoài sân sáng trưng như đêm hội hoa đăng. Trong lúc mọi người tỏa đi tất bật bắt vịt nấu cơm đãi khách, tôi lững thững ra sân ngắm vườn phong lan của trưởng trạm. Anh có cả một bộ sưu tập khá phong phú, nhiều giò lan quý: tai trâu, vẩy rồng, đuôi chồn, quế hương, kiều đạm thanh, nữ hoàng, hồ điệp… Anh bảo: “Chúng em ở đây như kiếp tù giam lỏng, chỉ có công việc, hoa lá, chim muông và gió trời làm bạn.” Hay thật, chuyến đi này tôi gặp toàn những số phận bị cầm tù hay cầm tù kẻ khác. Tôi động viên anh: “Chính sách có rồi, tuổi trẻ các bạn gắng chịu cực vài năm, tích lũy kinh nghiệm rồi Nhà nước sẽ điều chuyển.” Anh nhếch miệng cười buồn đáp: “Chính sách do con người đặt ra thì con người cũng có quyền tùy tiện áp dụng. Những thằng kỹ sư ra trường bị cầm tù ở các trạm lẻ như em chỉ có hai loại, một là thiếu tiền lo lót, hai là có tài thì mang vạ.” “Thế như cậu thì thuộc loại nào?”- tôi hỏi. Anh nói gằn giọng: “Đời bây giờ toàn thằng bất tài, mỏng đức nắm quyền nên họ chỉ ưa dùng dưới trướng đứa nào dễ bảo hoặc ngu hơn mình mới mong ngồi vững ghế. Một thằng oắt con như em, dám to mồm phê các sếp lập nhiều dự án vô tích sự hay mua mấy phần mềm vớ vẩn mà mình cũng làm được thì bị bắn đi xa, giam lỏng ở trạm lẻ còn là may, có khi còn bị vu cáo hay lừa cho vào tròng rồi ngồi bóc lịch trong nhà đá là đằng khác.” “Và vì thế cậu có dịp làm bộ sưu tập phong lan tuyệt vời!” – tôi vỗ vai anh thông cảm. Anh kể rằng, mấy năm nay nếu không có ông lão khùng khùng điên điên người Mông đến bán phong lan, có lẽ anh sẽ buồn nẫu ruột vì nhớ nhà. Ông ta cũng đã từng ngồi tù vì tội đảo ngũ và chống người thừa hành công vụ. Bà vợ điên bế đứa nhỏ bỏ nhà đi mất tích. Ra tù, nhà cửa, trang trại ở Bát Đại Sơn bị vào tay kẻ khác, đi khắp nơi tìm vợ con không thấy, ông lang thang làm nghề kiếm lan rừng mang ra chợ bán, lúc say lúc tỉnh, khùng khùng điên điên, chẳng ai dám dây vào. Mỗi lần có giò lan quý, ông đều mang lên trạm viba vì được giá hời, lại được uống rượu say bét nhè, thổi khèn và nằm khóc tu tu. Anh trạm trưởng không biết tên ông là gì vì ông không chịu nói, cứ bảo gọi “lão khùng” là được rồi. Tôi mừng như bắt được vàng, cuống quýt hỏi thăm xem có cách nào tìm gặp ông già bán phong lan. Anh dắt tay tôi đến bên gốc cây có treo giò phong lan lạ và bảo: “Đây là lan liễu tím, còn một loại nữa là lan liễu trắng, thứ lan chỉ gặp ở rừng Cao Bằng hay Hà Giang mà thôi. Lan liễu mọc thành chùm như cỏ dại, trên các chạc cây cổ thụ. Lan liễu tím thân mảnh, xõa tóc dài hàng mét, còn lan liễu trắng thân mập hơn một chút và xõa tóc ngắn hơn. Cả hai loại ra hoa khi nở nom như chiếc hài, tỏa hương thơm rất dịu. Trưa nay ông lão gùi đến khá nhiều phong lan, chỉ có một giò lan liễu tím, hứa sẽ tìm thêm lan liễu trắng cho đủ bộ. Mai bác nhà văn cứ ra chợ huyện, chắc sẽ gặp vì còn nhiều giò lan khác em không lấy, nhưng vẫn trả tiền để ông mang ra chợ bán lần nữa lấy tiền uống rượu.” Đêm ở trạm viba tôi nằm thao thức, không sao chợp mắt nổi, mong trời sáng ra chợ huyện tìm ông lão bán phong lan. Lại thêm một kiếp tù tôi sẽ gặp, liệu có phải là Chù Mìn Phủ?...

11- Chợ huyện Quản Bạ nằm trên đường phố nhỏ, ở mé Tây thị trấn Tam Sơn. Vì không phải ngày phiên nên chợ vắng hoe, chỏng trơ mấy phản thịt, dãy hàng xén và mấy dãy hàng rau. Người Mông, người Dao ở các xã chỉ lên chợ huyện vào buổi sáng phiên chợ ngày chủ nhật. Tôi đi miết chưa tìm thấy ông lão theo mô tả diện mạo của anh trưởng trạm viba. Ở dãy hàng rau cuối cùng có dăm người bán phong lan, tôi hỏi thăm họ chỉ lắc đầu. Tìm quanh quẩn mãi, tôi mới phát hiện ra ở ngoài chợ, áp mặt tường phía Bắc có dãy hàng ăn. Một ông lão say rượu đang thổi khèn cho đám trẻ con thị trấn nghe. Từ xa tôi đã nghe thấy điệu khèn thổi quen thuộc. Bên tai tôi vẳng lên điệp khúc mà Thào A Máy đã hát năm nào: “Xi tùa, nể tùa, mi dầu tùa…” Tôi len vào giữa đám đông nhìn kỹ. Chù Mìn Phủ đấy ư? Một ông già tóc bạc trắng phau, buông xõa ngang vai, râu dài chấm ngực. Thân hình ông teo tóp chỉ còn bộ xương, da đen nhẻm, nhăn nheo, mốc thếch như da trâu. Áo quần ông rách mướp, bệt bợt bùn đất, bốc lên mùi chua chua khăm khẳm. Đúng lão khùng đây rồi. Gương mặt ấy, điệu khèn quen thuộc ấy và cả thói quen gãi đít bằng ngón tay giữa, các ngón khác vểnh ra kia cũng đích thị là Chù Mìn Phủ. Bao năm rồi, dù cuộc đời tàn phá thân xác, tôi vẫn nhận ra anh, huống chi còn cả điệp khúc “Xi tùa, nể tùa, mi dầu tùa…” của Thào A Máy luôn ám ảnh đời tôi và anh. Tôi đứng lặng đi cho đến lúc anh ngừng thổi khèn, lừ đừ vào quán đòi mua thêm chai rượu ngô, ngửa cổ uống cạn rồi nằm lăn ra đất mà khóc tu tu. Chẳng cần hỏi rõ họ tên, bởi có hỏi lúc này cũng vô ích, tôi thuê người vực lão khùng dậy, cõng về khách sạn, thả vào bồn tắm nước nóng trong phòng tôi. Tôi tin lão khùng là Chù Mìn Phủ, vất vả lắm tôi mới tắm rửa, mặc cho anh bộ quần áo mới của mình rồi để yên cho anh nằm ngủ li bì trên giường đến tận chiều tối. Đêm, tôi nhoà lệ nằm nghe anh kể chuyện…

12- Mày muốn nghe chuyện đời, chuyện tình của tao với Thào A Máy ư? Chết hết cả từ lâu rồi, còn gì mà kể. À… mày bảo sao? Con tao, con bé Chù Thào Mỷ vẫn còn sống, đang ở với mày giữa thủ đô Hà Nội ư? Láo toét!... Mày muốn an ủi cái thân tàn ma dại này thôi chứ gì?... Đời là địa ngục trần gian, toàn những kiếp tù, rặt bầy ác quỷ. Cả tao với mày và Thào A Máy năm ấy qua bên kia biên giới cũng thành ác quỷ nên giời quả báo. Tao muốn chết mà ông giời vẫn còn quả báo, hành hạ chưa tha. “Xi tùa, nể tùa, mi dầu tùa…”, mày thấy không? Thào A Máy đã báo trước cho tao rồi, sao mày còn cứu cho con tao sống giữa cõi người độc ác này, để ông giời hành hạ tiếp cái đời của nó?... Chuyện đời của tao ư? Dài và khốn nạn lắm! Chia tay mày, tao cõng Thào chạy một mạch như điên vì sung sướng. Tao mê nó từ lâu mà không dám nói cái lời yêu. Nó như bông hoa rừng, còn tao như bãi cứt chó, nói lời yêu ra sợ nó không ưng bụng thì buồn thối cái ruột mình, chỉ còn nước chui xuống đất thôi. Lúc tao với mày vật lộn với nó để đưa vào lán, hễ đụng vào chỗ nào trên người nó là tao như bị điện giật. Tao trách nó hở hang, ghen cả với mày. Giờ tao được một mình cõng nó trên lưng, băng băng trong đêm giữa rừng đại ngàn, nhẹ và thơm như đang gùi một giò lan rừng. Giời ơi! Chiến tranh khủng khiếp, toàn sự giết chóc mà tao lại được có hạnh phúc bất ngờ. Nó gục đầu vào vai tao, rên ư ử như mèo con, nghĩ thương và tội lắm, mày ạ! Tao đi một mạch suốt đêm, vừa đi vừa nghĩ ngợi lung tung. Người nhà tao, nhà nó đạn pháo Trung Quốc giết sạch cả rồi, đi đâu về đâu cũng chỉ còn có hai đứa với nhau thôi. Nếu về bản làng cũ tao sẽ mang tiếng là lính đảo ngũ, khó sống với dân quân và chính quyền. Tốt nhất chúng tao vào ở thật sâu trong rừng, trên đỉnh núi Bát Đại Sơn ấy, chẳng ma nào biết, lính ta hay lính Trung Quốc cũng không mò đến, an toàn tuyệt đối. Trước lúc đi khiêng cáng với mày, tao đã thủ sẵn dao găm Liên Xô, bật lửa cối Trung Quốc và một bịch muối, thế là đủ sống. Người Mông chúng tao có rừng là có cái ăn, không thể chết đói được. Chúng tao đi miết đến bờ một con suối nước trong và sâu. Thào bấm vào vai tao ra hiệu ngồi nghỉ lấy sức đi tiếp. Lần đầu tiên tao nói cái lời yêu với nó, giữa lúc nó điên mà vẫn hiểu, gật đầu cười ngu ngơ, nhìn càng thêm thương. Tao vứt mẹ nó cây súng cho suối cuốn đi thật xa, giã từ đời lính bắn giết con người. Thào sợ hãi lao xuống nước giữ súng lại không được, bưng mặt khóc. Có lẽ nó sợ tao bị tử hình hay đi tù chăng. Hồi cách mạng văn hóa, chúng tao đã từng rủ nhau sang bên kia xem người ta tử hình một chị cán bộ người Mông chỉ vì tội vứt cuốn ngữ lục của lãnh tụ vào sọt rác, không chịu đặt ở đầu giường như mọi người khác, nữa là tao bây giờ dám vứt súng đi, tội tày đình chứ bỡn. Thây kệ đời, việc đến đâu thì đến. Tao nhảy xuống suối, bế Thào lên bờ, cả hai cùng ướt sũng, phải cởi hết quần áo vắt cho khô. Đêm trong rừng vắng, hai thân xác đực cái tồng ngồng đứng gần nhau thì phải quấn vào nhau thôi. Nó ưỡn cong người khi cái của tao đi sâu vào cái của nó. Mắt nó sáng ngời lên, không còn lờ đờ như lúc điên. Miệng nó cười tươi như hoa lan rừng, không ngu ngơ như điệu cười lúc tao nói lời yêu ban nãy. Người tao cứ bồng bềnh như trôi giữa trời đêm, khi nó co hai chân đập gót vào mông tao, tay nó ghì chặt lưng tao lắc lắc mà rên và thở gấp. Thần núi, thần sông, ma rừng chắc cũng phải ghen tức trong cái đêm tao được làm chồng thật sự của nó. Chúng tao biết ơn mày lắm vì sau đêm ấy bệnh điên của nó bớt dần. Không có thần dược nào tốt bằng thứ nước tình của tao đổ vào chỗ ấy của nó đâu, mày ạ! Những ngày đầu, chúng tao kiếm măng rừng, củ mài, củ sắn, rau dại về ăn, đêm ngủ trong một hốc cây cổ thụ, tự do đi sâu, thật sâu vào trong người của nhau mà hưởng cái sung sướng tuyệt trần. Sau đó, tao lén về các thôn xã gần đó, tìm đồ đạc, lương thực của các nhà đi chạy loạn bỏ lại. Chúng tao làm nhà, cuốc đất, trồng cây, sống đời tự do trên thung lũng lòng chảo của Bát Đại Sơn cho đến ngày chiến tranh kết thúc, chẳng phiền lụy ai, cũng không ai nhòm ngó hay hạch sách gì. Tao chỉ buồn một nỗi mình ở xa, mỗi lần Thào sinh nở chỉ sau vài ngày là con tao đều bị chết vì bệnh uốn ván. Tao đỡ đẻ cho nó, dùng dao bẩn cắt rốn cho con nên ma rừng xui bệnh uốn ván đến bắt con chúng tao đi, nhưng Thào lại tin ông giời quả báo cái tội nhóm trinh sát chúng mình sang bên kia biên giới giết hại người Mông nhiều quá. Thế là bệnh điên của nó tái phát ngày thêm nặng, lại trần truồng ra suối tắm, trần truồng đứng giữa nhà hát “Xi tùa, nể tùa, mi dầu tùa…” Tao không dám cho nó mang thai nữa, mua về một nắm bao cao su OK để dùng, đợi lúc có đủ tiền đưa vợ về bệnh viện thị xã đẻ sẽ vứt quách thứ bao OK của nợ ấy đi. Nghe nói, người điên ra bệnh viện thị xã đẻ tốn tiền gấp mười người thường cơ, mày ạ! Biên giới mở cửa, người bên kia sang lùng mua hồi, quế, sa nhân, thảo quả rất đắt. Vợ chồng tao âm thầm vỡ đất, biến thung lũng lòng chảo trên đỉnh Bát Đại Sơn thành trang trại trồng thảo quả và thử gây thêm vài trăm gốc quế, tính chuyện lâu dài. Trâu, ngựa, gà, vịt của tao nuôi nhiều không đếm xuể. Bao nhiêu mồ hôi nước mắt đổ vào thung lũng lòng chảo và cách mấy năm không sinh đẻ, lại uống thuốc của thầy lang ở tận Mai Pho do tao lặn lội mua về đã giúp Thào nguôi ngoai, bệnh điên thuyên giảm. Vụ thảo quả năm ấy tao thu về hơn trăm triệu, rừng quế cũng sắp đến tuổi đốn cây bóc vỏ. Thào mang thai con bé Chù Thào Mỷ làm tao như sống lại kiếp người khác, đặt tên con từ lúc vợ mới tắt kinh, hí hửng mang vợ ra bệnh viện thị xã nằm trước hai tháng chờ đẻ. Đúng hôm tao chuẩn bị hành lý, gói cục tiền to đi đón mẹ con nó về thì một lũ người đột nhiên ập đến nhà, hạch tội tao ở đâu đến chiếm đất, chiếm rừng Bát Đại Sơn làm giàu bất chính. Chúng nó đòi dỡ nhà, tịch thu trang trại. Tao uất quá, nổi điên vác dao đuổi và chém bị thương mấy đứa vào đầu, vào vai, thế là bị bắt. Ra tòa chúng nó còn moi thêm tội tao và Thào đảo ngũ từ thời tám hoánh, dễ bề xử tao án bảy năm tù giam để cướp không trang trại. Khốn nạn thân tao, có tội thì chịu ngồi tù, nhưng Thào mới sinh con, bệnh điên vừa mới đỡ đã tái phát trầm trọng hơn cả mấy lần sinh con trước đây. Nó lang thang bế con đi tìm tao trong tù, làm sao tìm được, hở giời! Mày bảo gì cơ? Cha xứ nói nó chết khi Chù Thào Mỷ lên năm tuổi à? Sao nó không chết ngay mà ông giời còn cho sống khổ, sống nhục năm năm nữa để giời hành hạ? Quả báo, giời ơi, quả báo! Ra tù, tao lại đi khắp nơi tìm mẹ con nó. Gót chân tao đi mòn các ngả đường bên này, bên kia biên giới vẫn chỉ như con thỏ, con nai ngơ ngác giữa rừng đại ngàn tìm con bị loài người độc ác bắn giết. Giờ tao thành lão khùng thân tàn ma dại, lang thang đi kiếm lan rừng lấy tiền mua rượu để hủy hoại cho mau chết cái thằng tao. Có ai trên đời thèm biết đến cái tên Chù Mìn Phủ sống giữa cõi người nên mày vất vả đi tìm cũng phải thôi. Con của tao, con bé Chù Thào Mỷ vẫn còn sống thật ư? Đời nó liệu có đỡ khốn nạn hơn tao với mày không, hở giời?…

Hà Nội 21/2/2006
Vũ Ngọc Tiến

Saturday, March 7, 2009

Tạp ghi: Thương quá em bé Việt Nam

Trích Việt Báo Online
Tác giả: Huy Phương

Tuần trước mày mò trên net, tôi có đọc được một bài kể chuyện mắt thấy tai nghe của một “Việt kiều” về thăm quê, ký tên Phương Tòan. Bài này chỉ là những ghi nhận tình cờ nho nhỏ trong những ngày ở Việt Nam, nhưng đọc lên thấy xót xa biết là chừng nào. Tôi cũng xin thưa tôi rất ghét hai tiếng “Việt Kiều” lâu nay dùng không đúng chỗ. Người Việt dùng chữ Ấn Kiều để nói đến người Ấn Độ, hay Pháp Kiều để nói người Pháp sinh sống trên đất Việt, còn chúng ta là người Việt ở quốc ngoại, sao người trong nước gọi chúng ta là Việt Kiều? Nhưng thôi, nói chuyện chữ nghĩa thì không bao giờ cạn!
Tôi xin để nguyên tiểu đề “Thương Quá Em Bé Việt Nam” của tác giả:
“Ăn sáng ở lề đường Phan Thanh Giản, một em bé chừng mười hai mười ba tuổi cứ quẩn quanh mời tôi mua vé số, gương mặt và ánh mắt trông rất tội nghiệp. Tôi từ chối vài lần vì biết nếu mình mua của em này, thì vô khối người khác sẽ đổ xô vào mời mua thì rất kẹt, nhưng khi nhìn đến ánh mắt van lơn của em, lòng thương người rất hiếm hoi của tôi nổi dậy, tôi muốn mua giúp em để hôm nay em có thể về sớm một bữa. Tôi hỏi:
- Bình thường em bán đến mấy giờ thì hết xấp vé số này?
- Dạ thường thì ít khi hết lắm, nhưng nếu còn dư thì em phải đem về trả cho đại lý trước 3g chiều, nghĩa là trước khi sổ số.
Em nói từ sáng tới giờ mới bán được có 3 tấm, còn lại 97 tấm. Tôi kêu em đếm lại coi còn bao nhiêu tấm tôi mua hết cho, để hôm nay có thể về nhà nghỉ. Trong lúc tôi ăn thì em ngồi đếm từng tờ và nói còn đúng 97 tấm, giá 5 ngàn 1 tấm, vị chi là 485 ngàn. Tôi móc 500 ngàn ra đưa luôn, nói khỏi thối. Thằng bé sung sướng nói cám ơn rồi lách vào dòng người xuôi ngược trên phố đông nghẹt những xe và người. Đúng là: Sáng nay tươi hồng, trời không có mây... tôi tiếp tục bữa ăn sáng tuyệt vời.
Ở Mỹ mỗi lần mua vé số dĩ nhiên tôi mong mình trúng, mà trúng là trúng lớn để tôi có thể điềm nhiên lật ngửa cái xe cà tàng của tôi lên mà đốt, tuy nó có vẻ hơi bạc bẽo, nhưng để giã từ cái sự không sung sướng của kiếp nghèo, nếu không trúng đi nữa thì âu cũng là mua một niềm vui trong chốc lát, vì đời chỉ vui khi có hy vọng. Đọc bài essay của một sinh viên nói về mua vé số, tôi thấy cũng có lý, vé số giúp cho mọi người trúng. Này nhé: Nhà nước hưởng 40%, người bán lẻ và giới quảng cáo 20%, người trúng hưởng 40%... và ngay cả chúng ta cũng trúng luôn vì ta chỉ bỏ ra có mấy đồng, mà mua được niềm hy vọng, rẻ quá đi ấy chứ..
Hoan hô những người mua số như tôi là những người thông minh. Lần này mua số ở Việt Nam, tôi lại thêm được cái lợi nữa là làm cho một em bé dễ thương vui được một ngày. Ông Trương Quang Nhơn viết bài kể chuyện ông bị thằng đánh giầy lấy đinh đục cho thủng giầy rồi đòi tiền vá. Tôi nghi ông này vẫn còn thù Cộng Sản nên đặt chuyện viết "linh tinh".
Buổi chiều về nhà, tôi móc xấp vé số ra cho các cháu, tụi nó đang ồn ào chia chác thì có đứa hỏi:
- Bác mua bao nhiêu tấm?
- Thằng nhỏ biểu là 97 tấm.
- Bác có đếm không?
- Đếm làm gì?
- Thế thì bác bị nó lừa rồi, chỉ có 75 tờ thôi bác ạ.
Tôi suy nghĩ và tội nghiệp cho thiếu niên VN bị thất học, ngần ấy tuổi rồi mà đếm có mấy chục tấm vé số hãy còn sai.
Bọn nhóc trong nhà vừa cười vừa la:
- Ê, bác Việt Kiều bị thằng bán vé số nó lừa!
Tôi phân vân: Không lẽ thằng nhỏ đó nó nỡ lừa tôi, mà sao nó nghĩ cái kế lừa tôi mau như vậy được. Có lẽ nó đã lừa nhiều quả như vậy rồi.” (hết trích)
Đêm qua, tôi thức giấc vào khoảng ba giờ sáng, chợt nhớ đến câu chuyện này, tôi cảm thấy khó ngủ trở lại. “Thiếu niên Việt nam bị thất học, ngần ấy tuổi rồi mà đếm có mấy chục tấm vé số hãy còn sai!”Câu nói này nghe ra mỉa mai, vì ai mà không biết trẻ con Việt Nam như những em bé này, mới nứt mắt đã bị tống ra chợ đời, sớm học thói giả dối, lưu manh, lường gạt kể cả với một ân nhân đã hết lòng, giúp đỡ vì thương xót đến hoàn cảnh mình. Ba mươi hai năm rồi, những đứa trẻ lớn lên trong cái gọi là "thiên đường xã hội chủ nghĩa", mình sống vì mọi người, lại là những con người như thế ư?
Chúng ta hy vọng gì ở thói quen trong một xã hội như Việt Nam ngày nay, những đứa trẻ này lớn lên sẽ là những cấp lãnh đạo như Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Anh, Phan Văn Khải..., những tên chức quyền như Nguyễn Việt Tiến, Bùi Tiến Dũng, Huỳnh Ngọc Sĩ... Chúng ta sẽ có những Bộ Trưởng, Thứ Trưởng, những Tổng Giám Đốc Việt Nam Airlines, những phi công, những tiếp viên hàng không, những đứa ăn cắp cho đất nước mang nhục. Căn bản hơn, chúng ta sẽ có những tên “hải quan” lì mặt làm khó dễ để chúng ta phải xì tiền, những tài xế taxi lừa khách, nhưng tên lưu manh đóng vai hướng dẫn viên du khách, những nhân viên khách sạn tống tiền nhan nhản có mặt hôm nay, đến nỗi du khách đến Việt Nam đã tuyên bố: “Không tin bất cứ cái gì ở Việt Nam.”
Mới đây thôi, trong tháng 2-2009, Craig Heimburger một du khách đã viết trong một trang du lịch 13 lý do vì sao người này “ghét” Việt Nam (13 reasons to hate Vietnam). Tội nghiệp cho đất nước tôi biết bao, không phải họ ghét vì mình nghèo, vì đất nước mình xấu xí mà ghét vì con người Việt bây giờ lưu manh, gian dối, lừa gạt, bất nhân. Ở đất nước nào cũng vậy, nhân vật mà người du khách gặp đầu tiên khi đặt chân đến là nhân viên thuế quan ở phi trường hay bến cảng, sau đó là người lái taxi đón họ. Đó là khuôn mặt đại diện của một đất nước, gây ấn tượng đầu tiên cho một du khách. Ai đi Việt Nam cũng đều đã gặp những tên “hải quan” lầm lì, phách lối. Người lái taxi Việt Nam đón ông Heimburger ở phi trường đến một hotel ông đã định trước, đã nói dối là chỗ đó đã hết phòng để đẩy ông ta sang một khách sạn khác (đã ăn chia). Một tài xế taxi khác ngã giá với 250,000 đồng một cuốc xe cho một đôi vợ chồng già du khách, nhưng đến nơi nằng nặc đòi 450,000 và không cho người ta xuống xe. Những chuyện như thế, ai đã đi Việt Nam đâu còn gì lạ lùng. Đây là một loại người vô lại, tráo trở, bọn cướp giật giữa ban ngày, là người đại diện cho Việt Nam trước mắt du khách khi du khách nói rằng: “Tôi ghét sự gian dối ở Việt Nam – (I Hate Vietnam's Lies). Tôi thật mệt mỏi bởi bị lừa lọc. Nó giống như trở thành một thói quen lừa lọc của người dân xứ này”.
Làm sao làm lại từ đầu với những tâm hồn trong trắng, chơn chất thật thà và đôn hậu khi mà văn chương bình dân đã mô tả xã hội Việt Nam “thẳng thắn, thật thà thường thua thiệt, luồn lách lươn lẹo lại lên lương”. “Thương quá em bé Việt Nam” là thương cả một tương lai trước mặt. Rồi ra đất nước này sẽ ra sao?
Tôi thường không cho phép mình dùng trong mỗi bài tạp ghi trên 30% tư liệu. nhưng ở đây tư liệu đã tự nó nói lên mọi việc rồi, đâu còn chỗ nào nữa mà bàn bạc, bình luận hay chia xẻ nỗi buồn hay xót xa với bạn đọc.

HUY PHƯƠNG


































Một tổ chức chính trị và những điều chưa được kể

Trích Blog 8406

Tác giả: Lê Nguyên Hồng

Rất nhiều những thống kê của các tổ chức quan sát về nhân quyền của quốc tế ở trên thế giới, đã xếp Việt Nam hiện nay vào hàng những quốc gia có thành tích “đội sổ” về nhân quyền. Hơn 63 năm qua, thực trạng về nhân quyền, dân chủ tại Vệt Nam đã bị bó hẹp và giam cầm trong một chiếc cũi khổng lồ vô hình, đó là khái niệm “dân chủ tập trung” hoặc còn có thể nói là “tập trung dân chủ”. Khái niệm này đã hợp lý hóa cho việc tập trung quyền kiểm soát dân chủ vào trong bàn tay của cái gọi là “nền chuyên chính vô sản”. Cụ thể đó chính là một nền dân chủ trá hình, được khống chế bởi một luận điệu đi kèm đó là “dân chủ có pháp chế” của nhà cầm quyền CSVN. Trên thực tế ở Việt Namtrong hơn 63 năm qua không hề có dân chủ, nhân quyền riêng biệt cho mỗi công dân. Suy rộng ra, và thực chất đó là dân chủ và nhân quyền đích thực đã bị triệt tiêu trên toàn bộ đời sống xã hội của người dân Việt Nam.
“Tức nước vỡ bờ”, đó là câu thành ngữ mà người đời quen dùng để chỉ một quy luật tất yếu của cuộc sống! Nước đã tức thì bờ tất nhiên phải vỡ. Nhưng nó sẽ vỡ vào lúc nào? Bờ sẽ chỉ vỡ khi thân bờ đã quá cũ kỹ và mục nát, khi nước đã đủ lớn để tràn qua thân bờ và tạo thành dòng xoáy bào mòn nơi trũng và yếu nhất của thân bờ. Và từ đó, một dòng nước hay nói đúng hơn là một con đường cho dòng nước chảy, cứ tiếp tục chảy và tiếp tục bào mòn. Nó sẽ cuốn phăng đi mọi thứ trên thân bờ, giải tỏa cho dòng nước trở về với lẽ tự nhiên là “nước phải chảy đến chỗ trũng” hoặc “trăm sông đều phải đổ về biển lớn” vậy!
Trong giai đoạn từ năm 1945 đến nay, rất nhiều những nhân sỹ trí thức và cả những nông dân bình thường trên đất nước Việt Nam đã nhận ra “cái bờ” đã chắn ngang dòng chảy tự do của cuộc đời mình nên đã tìm cách “tự chảy”. Nhưng họ chưa gặp thời, chưa có cơ hội và đặc biệt là chưa có sức mạnh đầy tràn của “dòng nước nhân dân” vốn khi đã đủ mạnh thì luôn mang trong mình một sức mạnh hủy diệt! Ngày hôm nay cái “bờ ao Cộng Sản” này đã thực sự mục nát bởi sự tự gặm nhấm của biết bao sâu mọt, ếch nhái côn trùng… Và “dòng nước nhân dân” thì đã quá đầy tràn, nhưng phải tìm cho ra xuất phát điểm, tức là nơi để cho “những phân tử nước” đầu tiên sẽ dẫn đầu cho dòng chảy có định hướng bắt đầu chuyển động.
Nhận thức được những điều trên, và đang nung nấu trong lòng những ước vọng, khát khao đấu tranh. Một nhóm các nhân sỹ trí thức tại Hà Nội, Huế và Sài Gòn đã gặp nhau trên một tư tưởng lớn, và họ đã dễ dàng tìm gặp, kết nối với nhau. Bởi họ đều cùng có chung một mục đích là làm sao để thay đổi cuộc đời mình, cuộc đời của Dân Tộc Mình, thoát khỏi sự giam cầm tù túng trong “cái ao làng Cộng Sản”, làm sao để đưa dòng chảy của Nhân Dân Việt Nam trên Đất Nước Việt Nam thoát ra sông dài, rồi biển rộng, hòa chung với biển lớn văn minh tự do dân chủ của loài người. Những con người đó sau khi tìm gặp nhau trên mạng Internet và gặp gỡ trao đổi trực tiếp bằng điện thoại, đã bắt đầu nhóm họp lại. Lúc đầu tại Thành Phố Sàì Gòn, có Nhà Nghiên Cứu Hán Nôm trần Khuê, Kỹ sư Đỗ Nam Hải, GS Nguyễn Chính Kết, và sau này có thêm một số người nữa… Đã thường xuyên gặp gỡ và trao đổi với nhau về vấn đề đấu tranh vì dân chủ ở Việt Nam.
Những việc làm của những Nhà Dân Chủ này không lọt qua được mạng lưới theo dõi của cơ quan an ninh CS trực tiếp là cục A42 của Bộ Công An Việt Nam. Vì lúc đó họ đang có một kế hoạch theo dõi chặt chẽ và tìm cơ hội khủng bố một người có bút danh là Phương Nam, chính là kỹ sư Đỗ Nam Hải trong nhóm những người yêu dân chủ này. Với bút danh là Phương Nam, trong thời gian tạm cư 8 năm tại Úc, kỹ sư Đỗ Nam Hải đã viết nhiều bài viết phơi bày những bất công trong xã hội Việt Nam dưới thời CS. Và đặc biệt Anh đã lật tẩy con bài và sự thật về Hồ Chí Minh, với những bằng chứng xác thực không thể chối cãi qua chính những tài liệu của nhà nước Việt Nam CS đã phát hành. Kỹ sư Đỗ Nam Hải cũng là tác giả của cuốn sách “Hãy Trưng Cầu Dân Ý” đã được Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông tại Hoa Kỳ ấn hành vào tháng 9/2005. Trong khoảng cuối năm 2005 đầu năm 2006, tuy là lúc bị công an theo dõi và thẩm vấn liên tục gắt gao nhưng kỹ sư Đỗ Nam Hải vẫn tìm cách hoạt động có hiệu quả. Ngày 23/02/2006 Nhà Nghiên Cứu Hán Nôm Trần Khuê cùng kỹ sư Đỗ Nam Hải lên đường ra Miền Bắc, sau khi đã có sự liên lạc cùng những Nhà Dân Chủ khác ở Sài Gòn và Huế…
Tại Hà Nội trong tư gia của GS Hoàng Minh Chính ở Ngõ 26 Phố Lý Thường Kiệt, bốn Nhà Dân Chủ đó là GS Hoàng Minh Chính, Nhà Nghiên Cứu Hán Nôm Trần Khuê, nhà báo Nguyễn Khắc Toàn (lúc đó vừa mới ra tù), và kỹ sư Đỗ Nam Hải đã tổ chức một cuộc họp bí mật. Trong cuộc họp của những con người yêu dân chủ này kỹ sư Đỗ Nam Hải đã chủ động đề xuất ý kiến là cần có một Bản Tuyên Ngôn Dân Chủ của những nhà đấu tranh dân chủ ở Việt Nam, tương tự như “Hiến Chương 77” của Tiệp Khắc… Mọi người đều tán đồng và đã cùng tín nhiệm thống nhất giao cho kỹ sư Đỗ Nam Hải là người viết bản dự thảo của một Bản Tuyên Ngôn Dân Chủ chung, sau khi đã thăm dò ý kiến của hơn 100 người ủng hộ khác trên toàn quốc (công việc thăm dò ý kiến ủng hộ Cuộc Đấu Tranh Dân Chủ này thì nhóm của Linh Mục Nguyễn Văn Lý đã làm từ trước).
Việc cho ra đời một bản tuyên ngôn của những Nhà Đấu Tranh Dân Chủ là điều cần thiết và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng! Nó như một viên gạch đầu tiên để góp phần xây dựng một công trình hữu ích cho toàn xã hội trên đất nước Việt Nam, trong công cuộc đấu tranh giành Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền cho mọi công dân Việt Nam.
Như đã nói ở trên, công an Việt Nam, bằng những công cụ hiện đại đã nghe lén điện thoại, kiểm tra bí mật các thuê bao Internet, nên đã sớm phát hiện ra kế hoạch của nhóm những Nhà Dân Chủ này, họ quyết tâm ra tay hành động nhằm ngăn chặn sự ra đời của Bản Tuyên Ngôn mà các Nhà Dân Chủ như đã giới thiệu ở trên, chủ trương công bố. Đúng 7h 30' sáng ngày 23/03/2006 tại quán cà phê Lối Về số nhà 428 đường Nguyễn Kiệm TP Sài Gòn, khi kỹ sư Đỗ Nam Hải đang ngồi nói chuyện điện thoại với nhà văn Hoàng Tiến ở Hà Nội, và chuẩn bị ăn sáng, thì một tốp công an an ninh mặc thường phục khoảng 6-7 người ập vào. Tốp công an này do đích thân trung tá Nguyễn Hoài Phong - Trưởng phòng an ninh của công an Quận Phú Nhuận chỉ huy, sau đó họ yêu cầu Nhà Dân Chủ Đỗ Nam Hải về công an Quận Phú Nhuận để “làm việc” nhưng Anh đã từ chối vì không đúng quy định của pháp luật! Ngay lập tức một tiếng hô vang lên từ miệng viên chỉ huy phó của trung tá Nguyễn Hoài Phong: “Anh em hãy hành động đi”! Tức thì một kẻ xông vào bẻ quặt cánh tay kỹ sư Đỗ Nam Hải ra phía sau còn lại thì họ xồng vào đấm, đá, thúc đầu gối vào bụng vào ngực Anh rồi xô đẩy và tiếp tục đấm đá lôi kéo Nhà Dân Chủ này ra xe của công an trên đoạn đường khoảng 30 mét (vì quán bố trí chỗ ngồi cho khách hơi xa đường). Sau trận đòn thù này kỹ sư Đỗ Nam Hải đã bị giập môi, rách mắt và chảy máu… Tại công an Quận Phú Nhuận, sau khi thẩm vấn không có kết quả, một tốp công an lại tiếp tục ép kỹ sư Đỗ Nam Hải ra xe và trở về nhà riêng của Anh, tại đây công an đã ngang nhiên cướp đi của Anh một bộ nhớ từ máy vi tính để bàn, một máy ảnh kỹ thuật số, một đĩa dữ liệu cá nhân của Nhà Dân Chủ này, mà không hề có một lệnh khám xét và biên bản thu giữ nào…
Công an Cục A42 và công an Quận Phú Nhuận Sài Gòn sau khi kiểm tra ổ cứng máy vi tính của kỹ sư Đỗ Nam Hải, vẫn không tìm thấy Bản Tuyên Ngôn Dân Chủ mà Anh đang viết (do kỹ sư Đỗ Nam Hải đã có kế hoạch bảo mật và đề phòng từ trước). Trên thực tế, cho đến lúc đó Bản Tuyên Ngôn này vẫn chưa được hoàn thành. Mãi đến sáng ngày 07/04/2006 thì mới được viết xong với tên gọi ban đầu là “Tuyên Ngôn Dân Chủ Việt Nam”, và kỹ sư Đỗ Nam Hải lập tức gửi gấp cho Linh Mục Nguyễn Văn Lý và 6 Nhà Dân Chủ Khác qua đường Email (chương trình dự kiến ban đầu là đồng gửi cho các Nhà Dân Chủ này để cùng đóng góp tham khảo ý kiến). Chỉ vài tiếng đồng hồ, sau khi Bản Tuyên Ngôn từ máy tính cá nhân của kỹ sư Đỗ Nam Hải được gửi đi. Khoảng 14h 30' chiều ngày 07/04/2006 một toán công an của Sài Gòn đã được lệnh từ Bộ Công An ở Hà Nội cấp tốc điều động đến nhà của kỹ sư Đỗ Nam Hải, họ đưa ra một Công Văn Hỏa Tốc của Bộ Công An yêu cầu kiểm tra máy tính cá nhân của Anh, vì họ đã biết được các địa chỉ mà Kỹ Sư gửi bản “Tuyên Ngôn Dân Chủ Việt Nam” đến. Lúc đó tại Huế, biết rằng vấn đề an ninh của mình đang bị đe dọa từng giờ, nên Linh Mục Nguyễn Văn Lý sau khi xem xong bản Tuyên Ngôn này, đã lập tức cùng một số cộng sự tại Huế tiếp tục biên sọan lại, sau thời gian khoảng hơn một ngày đêm họ cùng làm việc không nghỉ, thì hoàn tất như hiện nay với tên gọi “Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006” và chính thức gửi lên mạng Internet toàn cầu vào khoảng 15 giờ ngày 08/04/2006. Chính vì “phạm tội” nói trên mà Linh Mục Nguyễn Văn Lý đã phải trả một giá đắt bằng một bản án phi pháp tám năm tù chấn động trên toàn thế giới, với tấm hình chụp Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị ba viên cảnh sát Việt Nam khống chế và lấy tay bịt miệng, trong một phiên tòa được coi là vô nhân đạo của nhà cầm quyền CSVN. Đó là bối cảnh mà bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Namđã ra đời (còn được gọi là Tuyên Ngôn 8406). Vì vậy ngày 08/04/2006 cũng chính thức được coi là ngày khai sinh của Khối 8406 Việt Nam.
Với phương châm là: “Cộng Sản là phaỉ bị dẹp bỏ chứ không thể thay đổi” (trích lời của Tổng Thống Nga Boris Nikolayevich Yeltsin). Bản Tuyên Ngôn của Khối 8406 đã nêu rõ mục đích đấu tranh cụ thể là: “làm cho thể chế chính trị hiện nay tại Việt Namphải bị thay thế triệt để, chứ không phải được đổi mới từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra” (Phần 3 mục 1; Tuyên Ngôn của 8406). Với phương pháp đấu tranh là: “Hòa bình, bất bạo động” (Phần 3 mục 2 Tuyên Ngôn của 8406). Phương pháp đấu tranh bất bạo động này sẽ có hai phương án xảy ra:
Thứ nhất là: Dùng sức mạnh tinh thần của toàn dân trong một cuộc xuống đường vĩ đại của toàn dân tộc, buộc thể chế chính trị độc tài của CS tại Việt Namphải sụp đổ.
Thứ hai là: Dùng sức mạnh tinh thần của toàn dân tộc và sự bình đẳng trong một cuộc Tổng Tuyển Cử Đa Đảng sòng phẳng với ĐCSVN, qua lá phiếu bầu của nhân dân để hạ bệ thể chế độc tài của CSVN hiện nay (con đường nghị viện).
Một quan điểm rõ ràng và cụ thể của Khối 8406 đó là Khối 8406 không có tham vọng cầm quyền, mục đích của Khối 8406 chỉ là đấu tranh nhằm hạ bệ thể chế CS tại Việt Nam mà thôi “sau khi Khối 8406 đã hoàn thành nhiệm vụ trước lịch sử và Dân Tộc thì sẽ tự giải thể” (Cương Lĩnh Khối 8406 phần 2.6).
Chỉ còn ít ngày nữa là Khối 8406 Việt Namtròn ba năm hình thành và phát triển. Tuy bị nhà cầm quyền CSVN đàn áp khốc liệt thô bạo tại Quốc Nội, đánh phá nặng nề trên báo chí truyền thông công khai, và giấu măt trá hình của nhà nước CSVN. Với việc hàng loạt các thành viên của mình bị bắt bớ và xử án theo hình thức “hình sự hóa các vấn đề chính trị” và hiện còn nhiều thành viên khác đang bị tạm giam, chờ ngày bị xét xử theo cách bất công vô nhân đạo mà nhiều người trước đó đã phải gánh chịu. Nhưng Khối 8406 vẫn không ngừng phát triển về lực lượng cả về số lượng và chất lượng, hàng chục ngàn thành viên mới tại Quốc Nội và khắp thế giới đã ký tên gia nhập vào Khối 8406. Đây là một minh chứng hùng hồn cho thế đứng của Khối 8406. Khối 8406 hiện nay, mỗi ngày càng “được” nhà cầm quyền CSVN “săn sóc” chu đáo hơn, những cuộc khám nhà, khủng bố về kinh tế, về công ăn việc làm, bắt đi thẩm vấn, đặt chốt canh đối với các Nhà Dân Chủ cũng nhiều hơn…
Trên thực tế, cứ những tổ chức chính trị nào bị đàn áp mạnh, thì rõ ràng đó là dấu hiệu cho thấy tầm ảnh hưởng của tổ chức đó trên bình diện quốc gia đã trở thành những thế lực chính trị quan trọng. Những thành viên đấu tranh nào càng bị công an Việt Nam đặc biệt quan tâm thì người đó thực sự quan trọng cho phong trào. Khối 8406 đang nằm trong hoàn cảnh chấp nhận sự khủng bố toàn diện của nhà cầm quyền CSVN. . Các thành viên hoạt động công khai của Khối 8406 tại Quốc Nội hiện nay đang tạm thời bị cô lập, khống chế (nghe lén, phá sóng điện thoại, cắt đường truyền Internet) và trực tiếp bị công an ngăn cản việc gặp gỡ, trao đổi thông tin. Để đối phó với tình huống này nhiều thành viên của Khối trước đây hoạt động công khai đã rút vào hoạt động nửa bí mật, số mới gia nhập thì giữ kín tung tích, hoạt động bí mật tiếp tục xây dựng lực lượng chờ thời cơ. Tầm ảnh hưởng bởi những hoạt động của những thành viên của khối 8406 ngày càng sâu sắc và lan rộng, đã đập tan sự tuyên truyền của ĐCSVN rằng “Khối 8406 là một khối ảo”…
Để phá hoại lòng tin của chính các Nhà Dân Chủ vào những thành viên đại diện cho Khối 8406 (Ban Điều Hành) và đặc biệt là sự trông đợi của đa số tầng lớp nhân dân đang khao khát đấu tranh. Một mặt, báo chí quốc doanh của Nhà cầm quyền CSVN đã vu cáo bôi nhọ đời tư của những vị đại diện cho Khối. Mặt khác, những tờ báo “lá cà lá cải” quốc doanh công khai và trá hình trên mạng Internet cộng thêm sự góp sức tinh vi của những “nhà dân chủ” phản thùng, có sự giật dây của công an, cũng ra sức soi mói vu cáo (tuy chỉ là những vu cáo vu vơ không có bằng chứng xác thực) để tung “hỏa mù”… , khiến những người tiếp nhận thông tin khó nhận chân được sự thật. Sự thật thì những thành viên của Ban Điều Hành Khối 8406 vẫn đang làm việc có hiệu quả. Riêng trường hợp của Linh Mục Nguyễn Văn Lý, tuy còn trong chốn lao tù nhưng Ông vẫn hàng ngày, hàng giờ đấu tranh ở trong tù, khiến nhiều viên công an Quản Giáo nghe đến tên Ông đều phải khiếp sợ, kính trọng. Ở ngoài xã hội thì Ban Điều Hành của Khối tiếp tục cho ra những Kháng Thư, những tuyên bố, những bài báo, bài xã luận đấu tranh mạnh mẽ đặc biệt là tập Bán Nguyệt San Tự Do Ngôn Luận được in ra giấy và phổ biến trên mạng Internet đều đặn 2 kỳ một tháng. Những sản phẩm trí tuệ ấy đã làm vững lòng người đọc, người nghe và thuyết phục họ tiếp tục tham gia vào Phong Trào Đấu Tranh Dân Chủ Việt Nam. Những từ ngữ mà nhiều kẻ dùng để đả kích các Nhà Dân Chủ như: “Nhà Dân Chủ Phòng Lạnh” hoặc “Nhà Dân Chủ Internet” đã bị dẹp bỏ, bởi một sự thật là nhà cầm quyền CSVN đang cuống cuồng lo đối phó, cấm đoán sự tự do trên mạng Internet bằng hết nghị quyết này đến nghị định khác. Nếu mặt trận trên Internet không quan trọng thì tại sao nhà cầm quyền CS lại phải lo lắng và hoảng hốt như vậy? Có người nói rằng: “Báo chí và truyền thông trong đó có sự tiếp sức của Internet sẽ là một trong những nguyên nhân, vừa gián tiếp vừa trực tiếp để hạ bệ thể chế độc tài CSVN” ý kiến này chắc chắn là chính xác một trăm phần trăm!
Những sự việc đã và đang xảy ra tại nhiều nơi trên toàn quốc như Thái Bình, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Đồng Nai, Sài Gòn vv… Với hàng trăm cuộc đình công của những người công nhân nghèo khổ, hàng triệu lượt người nông dân biểu tình vì mất đất ở nhiều địa phương… Những phản ứng của họ quyết liệt như: Đốt xe cảnh sát, rào làng để tự vệ, đập phá các Uỷ Ban Nhân Dân, tấn công cảnh sát giao thông vv… Đã cho chúng ta thấy được sức chịu đựng những áp bức bất công của nhân dân, đã đến hồi quá tải! Những lực lượng nhân dân như vậy một khi được hướng dẫn, chỉ đạo trong một cuộc đấu tranh bình tĩnh, ôn hòa và bất bạo động thì không một trở lực nào có thể ngăn cản được họ.
Ba năm, một chặng đường chưa phải là dài trong một Cuộc Đấu Tranh Chính Trị Giành Dân Chủ Nhân Quyền, được nhận định là có thể kéo dài hàng chục năm. Khối 8406 cùng với những chính đảng khác đang hoạt động tại Việt Namđã làm hết sức mình vì những mục tiêu giản dị và chân chính ấy. Họ đã và sẽ được ngày càng thêm sự ủng hộ của đông đảo những công dân yêu hòa bình, tự do dân chủ. Khi mọi công dân Việt Nam biết rằng Khối 8406 sẽ liên lạc với các đảng phái và các tổ chức khác có cùng mục đích hoạt động tại Việt Nam, nhằm thống nhất một chủ trương chung trong việc thuyết phục mọi tầng lớp Nhân Dân Việt Nam tự nguyện tham gia đấu tranh, chủ trương đó là:
“Bảo tồn, giữ nguyên và bổ xung mọi lợi ích hợp pháp đang hiện hữu của mọi công dân bao gồm công việc làm, chế độ hưu trí, bảo hiểm xã hội, bất động sản nhà cửa đất đai, tài khoản tại các ngân hàng, vv… Không phân biệt ai, và đã làm gì cho chính quyền CSVN hiện nay, kể cả các ĐVCS tại nhiệm (ngoài cấp trung ương) để tránh sự thiệt thòi về quyền lợi về vật chất cũng như quyền lợi về chính trị của mọi tầng lớp nhân dân sau khi Cuộc Cách Mạng Giành Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền trên Đất Nước Việt Nam hoàn toàn thắng lợi”.
Cuộc Cách Mạng Giành Tự DoDân Chủ Nhân Quyền tại Việt Nam sẽ là một cuộc cách mạng êm đềm nhất, hòa bình nhất trên thế giới, khi triệu triệu con tim của Người Dân Nước Việt đồng lòng cùng cất lên tiếng nói đấu tranh chống bất công, chống độc tài, độc đảng. Khối 8406 Việt Namsẽ cùng hòa mình vào trong triệu triệu tiếng nói của toàn Dân Tộc ấy!
Lê Nguyên Hồng Thành viên Khối 8406 Việt Nam
Email:
huyenkhai@rocketmail.com


Tiếng Việt

Tiếng Việt của chúng ta rất phong phú và trong sáng. Nhưng gần đây tại hải ngoại, các cơ quan truyền thông báo chí thường hay dùng những từ ngữ được "sinh ra" sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 của Cộng Sản Việt Nam. Đọc bài viết Tiếng Việt và Tiếng Vẹm được tác giả phân tích và trình bày một cách rõ ràng và cụ thể về vấn đề này

Kinh tế Việt Nam: Cần tới tiết rắn

Trích XCaf'e'VN

Vietnam's economy: In need of some snake-blood,
Billy chuyển ngữ


Kinh doanh phát đạt cho ít nhất một doanh nghiệp người Việt: một người phụ nữ luống tuổi trong một chiếc nón lá trên một con đường nhỏ đối diện với thị trường chứng khoán TP Hồ Chí Minh. Bà ấy cắt đầu những con rắn lục nhỏ bằng kéo rồi đưa máu của nó vào một chai nhựa. Nhiều đàn ông Việt Nam tin rằng uống tiết rắn sẽ tăng cường khả năng sinh lý cũng như đem lại may mắn. Một người bán dạo những con rùa con cũng nói cô ấy cũng bán được nhiều thứ thế này hơn. Ai cũng lo lắng về tương lai.

Sự đi xuống của kinh tế thế giới đã phủ một bóng đen dài lên nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh theo hướng xuất khẩu của Việt Nam. Doanh thu của những hàng hóa thông dụng giảm mạnh khi tầng lớp trung lưu chi xài ít hơn. Những cửa hàng điện tử cho biết doanh thu dịp tết cũng giảm 50% so với cùng kì năm ngoái. Các liên hợp xe ô tô cũng thông báo doanh thu giảm 68% so với tháng 1 năm ngoái.
Biểu đồ xuất-nhập khẩu của Việt Nam - theo Economist

Giống như Trung Quốc, Việt Nam đã sử dụng xuất khẩu để thay đổi nền kinh tế trì trệ lúc trước. Năm ngoái nó đã phát triển quá nóng. Chính phủ đã nhận được những lời tán dương cho việc kiềm chế lạm pháp với con số đỉnh điểm là 28% hồi tháng 8. Nhưng Việt Nam đang đối mặt với nhu cầu giảm mạnh từ phương Tây. Xuất khẩu giảm 5.1% trong hai tháng đầu năm 2009. Các hàng điện tử giảm 13.7%, giày dép giảm 7.3%. Đó là tại sao chính phủ đang cố gắng khơi lại ngọn lửa tăng trưởng vừa bị kiềm hãm trước đó. Chính phủ đang lên kế hoạch tăng tiêu dùng năm nay lên 23% (khoảng 100 nghìn tỉ đồng hay 6 tỉ đô Mĩ). Khoảng 1 tỉ đô la trợ cấp sẽ được dùng để cho vay những nhà xuất khẩu. Theo như kế hoạch thì trong tháng đầu tiên, các ngân hàng thương mại đã cho vay 93 nghìn tỉ đồng.

Sẽ có khoảng 500.000 người mất việc năm ngoái, và chính phủ dự đoán sẽ có thêm 400.000 người sẽ mất việc nữa trong năm 2009. Đây là những con số đáng lo ngại trong một nền kinh tế trẻ cần khoảng 1 triệu việc làm mới mỗi năm cho lực lượng lao động. Giống Trung Quốc, Việt Nam không có nhiều an sinh xã hội. Nhiều công nhân bị sa thải từ các nhà máy đã phải về quê sinh sống và dựa dẫm vào gia đình. Nhưng những người nông dân sẽ thấy khó khăn hơn khi không có tiền của những người công nhân trong các nhà máy. Giá cả nông sản của họ như gạo hay cafe cũng đang rớt giá.

Nhiều nhà kinh tế tin rằng cái Việt Nam cần, giống như Trung Quốc, không phải là những biện pháp đảm bảo cung mà là những động lực làm tăng nhu cầu nội địa. Những biện pháp này không chỉ đầu tư vào cơ sở hạ tầng mà còn chú trọng vào giáo dục, sức khỏe, hưu trí, cái mà đã làm giảm sức tiêu dùng của người Việt. GDP của Việt Nam tăng 6.2% trong năm 2008, thấp nhất trong vòng 9 năm. Hầu hết mọi người, kể cả IMF, cho rằng tăng trưởng trong năm nay cao nhất là 5%. Tuy nhiên chính phủ vẫn hướng đến con số 6.5% và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng dự đoán nền kinh tế sẽ bắt đầu đi lên sớm vào khoảng tháng 5. Khi vài tuần đã đi qua kể từ đầu năm thì những lời nói của thủ tướng giống như người bán mỡ rắn chứ không phải mật rắn.

Friday, March 6, 2009

Đài chân trời mới phỏng vấn kỹ sư Đỗ Nam Hải về dự án Bauxite

Trích Việt Bao Online

Đài Chân Trời Mới Phỏng Vấn KS Đỗ Nam Hải Về Dự Án Bauxite:
sẽ gây thảm họa sinh thái rộng, thành vùng đất chết
Kính thưa quý thính giả,
Trong thời gian qua, vấn đề khai thác bauxite ở Tây Nguyên đã gây ra nhiều xôn xao trong dư luận. Khi đọc được những thông tin báo động về việc gây tác hại cho môi trường của vấn đề khai thác bauxite, không ai có thể làm ngơ và không thể hiểu được vì sao những dự án loại này có thể được quyết định tiến hành. Trong phần phỏng vấn hôm nay, chúng tôi xin mới quý thính giả chia sẻ những ưu tư của anh Đỗ Nam Hải, hiện đang sống tại Sài Gòn.
1/ Xin kính chào anh Đỗ Nam Hải và xin mời anh lên tiếng chào quý thính giả nghe đài.
Trả lời: Vâng, xin kính chào anh Hoàng Hà, xin kính chào quý thính giả của đài Chân Trời Mới. Tôi là Phương Nam - Đỗ Nam Hải đang phát biểu từ thành phố Sài Gòn - Việt Nam.
2/ Thưa anh, là người theo dõi tin tức thời sự thường xuyên trong nước, xin anh có thể chia sẻ những suy nghĩ của anh khi đọc những thông tin liên quan đến vụ khai thác bauxite tại Việt Nam?
Trả lời: Vâng, tôi được đọc và được nghe những thông tin liên quan đến việc Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam (NCQ CSVN) đã thỏa thuận với Nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc (NCQ CSTQ) cho phép các công ty Trung Quốc khai thác bauxite tại vùng Tây Nguyên của Việt Nam. Những thông tin này đến với tôi từ những nguồn cả trong và ngoài nước. Đặc biệt, ngày 4/2/2009 vừa qua, các báo, đài ở Việt Nam có đưa tin về kết luận của ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam hiện nay, rằng: “Ngày 5/1/2009, tại Văn phòng chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chủ trì cuộc họp về thăm dò, khai thác bauxite, sản xuất alumin và luyện nhôm. Tham dự có các Phó thủ tướng: Nguyễn Sinh Hùng, Trương Vĩnh Trọng, Hoàng Trung Hải và Nguyễn Thiện Nhân, lãnh đạo các Bộ: Công Thương, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Khoa học & Công nghệ, Giao thông vận tải, Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch; Uỷ ban nhân dân các tỉnh: Đắk Nông, Lâm Đồng, Gia Lai; Văn phòng chính phủ, Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam.
Sau khi nghe Bộ Công thương báo cáo, ý kiến của lãnh đạo các Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Nông và Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có ý kiến kết luận như sau: Việc khai thác bauxit, sản xuất alumin và luyện nhôm tại Tây Nguyên là phù hợp với chủ trương của Đảng và Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bauxit giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến 2025 đã được TTg CP phê duyệt tại QĐ số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01/11/2007…”.
Như vậy, rõ ràng đây không phải là tin đồn đại nữa mà là tin thật 100%. Theo kế hoạch thì dự án này sẽ diễn ra tại tỉnh Đắk Nông ở Tây Nguyên. Qua nghiên cứu tài liệu, tôi được biết rằng: khi dự án này triển khai thì nó sẽ gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng cho Việt Nam. Cụ thể như sau:
+ Không có hiệu quả về tất cả các mặt kinh tế, tài chính và xã hội.
+ Với trình độ công nghệ khai thác bauxite của Trung Quốc hiện tại vẫn còn khá lạc hậu thì dự án này sẽ phá hủy môi trường tại chỗ của Tây Nguyên. Nó sẽ gây thảm họa về sinh thái trên diện rộng cho cả các tỉnh Nam Trung Bộ và một số tỉnh của Campuchia. Đất đai tại vùng khai thác bauxite sau đó sẽ biến thành vùng đất chết và người nông dân Việt Nam sẽ không thể canh tác được nữa.
+ Vùng khai thác bauxite lại ở đầu nguồn của các con sông Đồng Nai và sông Sêrêpốc, nên dự án khi triển khai thực hiện sẽ vừa làm ô nhiễm, vừa làm cạn kiệt nước của 2 con sông này. Trong khi chúng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc ổn định và phát triển về kinh tế, xã hội của các khu vực đông dân cư và rộng lớn như: Sài Gòn, Biên Hòa, Bình Dương, …
+ Nó cần nhiều nước trong khi Tây Nguyên lại đang thiếu nước! Nó cần nhiều điện trong khi Việt Nam vẫn còn đang thiếu điện! Nó cần nhiều lao động nhưng theo thỏa thuận giữa 2 nước thì lại là lao động Trung Quốc, chứ không phải lao động Việt Nam! Nó chiếm một diện tích đất rộng lớn, trong khi hiện tại người dân Tây Nguyên lại đang thiếu đất!
+ v.v…
Đã có nhiều người ở cả trong và ngoài nước lên tiếng phản biện về dự án này như các ông: Võ Nguyên Giáp, Nguyên Ngọc, Nguyễn Lân Dũng, Dương Trung Quốc, Nguyễn Trung, Bùi Tín, Ngô Nhân Dụng và các nhà khoa học như các tiến sỹ: Nguyễn Thành Sơn, Nguyễn Đông Hải, Trần Bỉnh Chư, Phạm Duy Hiến, Nguyễn Ngọc Sinh, Hoàng Cơ Định, Mai Thanh Truyết, v.v… và đề nghị các nhà lãnh đạo Việt Nam xem xét không cho phép triển khai dự án. Tuy nhiên, với những gì đã và đang diễn ra ở Việt Nam, xuất phát từ chế độ chính trị độc tài toàn trị thì theo tôi, khả năng ngăn chặn được nó sẽ là rất khó khăn.
Theo tôi, nếu dự án này cứ tiếp tục được thực hiện thì đây là mối nguy hiểm lớn cho dân tộc Việt Nam về tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh và quốc phòng. Với tư cách là một công dân Việt Nam, tôi kịch liệt phản đối dự án khai thác bauxite này và cũng xin đề nghị mọi người hãy đóng góp công sức, trí tuệ để cùng lên tiếng phản đối nó.
3/ Cũng khắc khoải như mọi người, chúng tôi có cơ hội đọc qua tài liệu của một số nhà nghiên cứu, đặc biệt là bài "10 lý do đề nghị tạm dừng dự án bô xít Tây Nguyên" của hai tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Nguyễn Đông Hải và nhà văn Nguyên Ngọc. Các vị ấy đã chứng minh rất khoa học rằng khai thác các quặng bauxite trên vùng Tây nguyên hoàn toàn bất lợi. Theo anh thì tại sao chính quyền Việt Nam vẫn quyết định tiến hành dự án này bất chấp sự cảnh báo của các nhà khoa học ?
Trả lời: Trước hết, tôi xin được khẳng định quan điểm của mình rằng: họ chỉ là Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam thôi, chứ họ không phải là chính quyền Việt Nam, theo đúng nghĩa cao quý của từ “chính quyền”. Bởi vì, nếu gọi là chính quyền thì chính quyền ấy phải thực sự do nhân dân Việt Nam bầu ra bằng những lá phiếu thực sự dân chủ. Trong khi, sự cầm quyền của những nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam từ trước đến nay là hoàn toàn không theo tiến trình bầu cử dân chủ thực sự, mà chỉ là thứ dân chủ giả hiệu, lừa mị theo cách “đảng cử, dân bầu” mà thôi.
Cũng chính vì vậy mà NCQ CSVN đã tự ý đánh đồng họ với đất nước và dân tộc. Họ đã nhiều lần xưng danh đất nước và dân tộc để quyết định nhiều vấn đề phản dân, hại nước trong suốt hơn 63 năm qua, tính từ ngày 2/9/1945 đến nay. Chẳng những là lần này, với dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên mà còn là nhiều lần khác trước đó như: chiến dịch Cải cách ruộng đất ở miền Bắc, từ năm 1953 đến 1957; ký Hiệp định Genève ngày 20/7/1954, về việc khôi phục hòa bình ở Đông Dương; Công hàm bán nước của ông Phạm Văn Đồng gửi ông Chu Ân Lai, ngày 14/9/1958; Hiệp ước biên giới trên đất liền, ký ngày 30/12/1999 và Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ, ký ngày 25/12/2000, v.v… Tất cả đều có hại cho Việt Nam và có lợi cho Trung Quốc! Tất cả đều có sự can thiệp xấu xa của NCQCS Trung Quốc đối với dân tộc Việt Nam.
Như vậy, một vấn đề cần đặt ra ở đây là: NCQCS Việt Nam trước đây và hiện nay có biết được bản chất xấu xa đó của NCQCS Trung Quốc hay không? Nếu biết thì tại sao họ vẫn cứ chấp nhận cúi đầu làm theo? Theo tôi, câu trả lời là rõ ràng: họ có biết, không những thế họ còn biết rất rõ! Chúng ta hãy nghe sau đây một đoạn văn trong cuốn sách “Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua”, do Bộ ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam công bố và được Nhà xuất bản Sự thật - Hà Nội, phát hành vào tháng 10/1979 để chứng minh cho khẳng định trên:
“… Trên thế giới chưa có những người lãnh đạo một nước nào mang danh là “cách mạng”, là “xã hội chủ nghĩa” và dùng những lời lẽ “rất cách mạng” để thực hiện một chiến lược phản cách mạng, cực kỳ phản động như những người lãnh đạo Trung Quốc. Trên thế giới chưa có những người lãnh đạo một nước nào về mặt chiến lược đã lật ngược chính sách liên minh, đổi bạn thành thù, đổi thù thành bạn nhanh chóng và toàn diện như những người lãnh đạo Trung Quốc. Từ chỗ coi Liên Xô là đồng minh lớn nhất, họ đi đến chỗ coi Liên Xô là kẻ thù nguy hiểm nhất. Từ chỗ coi đế quốc Mỹ là kẻ thù nguy hiểm nhất mà bản chất không bao giờ thay đổi, họ đi đến chỗ coi đế quốc Mỹ là đồng minh tin cậy, câu kết với đế quốc Mỹ và trắng trợn tuyên bố: “Trung Quốc là NATO phương Đông”
… Họ tập trung mọi cố gắng để dấy lên một cuộc “thập tự chinh quốc tế” của các lực lượng đế quốc và phản động chống Liên Xô dưới chiêu bài “chống bá quyền”, theo công thức của Chủ tịch Mao Trạch Đông “Ngồi trên núi xem hổ đánh nhau”. Như nhiều nhà chính trị và báo chí Tây Âu nhận định, Trung Quốc quyết tâm “đánh Liên Xô đến người Tây Âu cuối cùng” cũng như Trung Quốc trước đây đã quyết tâm “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”.
Chiến lược quốc tế ngày nay của những người lãnh đạo Trung Quốc, mặc dầu núp dưới chiêu bài nào, đã phơi trần tính chất cực kỳ phản cách mạng của nó và những người lãnh đạo Trung Quốc đã hiện nguyên hình là những người theo chủ nghĩa sô-vanh nước lớn, những người dân tộc chủ nghĩa tư sản. Chính sách ngày nay của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam, mặc dầu được ngụy trang khéo léo như thế nào, vẫn chỉ là chính sách của những hoàng đế “thiên triều” trong mấy nghìn năm qua, nhằm thôn tính Việt Nam, khuất phục nhân dân Việt Nam, biến Việt Nam thành một chư hầu của Trung Quốc”.
Theo tôi, toàn bộ các ủy viên Bộ chính trị ĐCSVN khóa 10 hiện nay và khóa 9 trước đó - Những người đã quyết định chủ trương ký kết dự án khai thác bauxite mà chúng ta đang bàn, cũng như ký 2 Hiệp định năm 1999 và 2000 nói trên nhất định đã phải “quán triệt sâu sắc” tài liệu quan trọng này. Vì vậy, họ không thể không nắm rõ bản chất xấu xa của NCQ CS Trung Quốc đối với Việt Nam. Thế nhưng, họ vẫn cứ quyết tâm làm. Chỉ có một cách giải thích duy nhất: Tất cả họ đều đã ấn quyền lợi của dân tộc xuống đáy và đẩy “tinh thần” bán nước cầu vinh, cầu lợi của họ lên trên!
4/ Anh có thể cho biết dư luận của đồng bào trong nước ra sao về dự án khai thác bauxite trên?
Trả lời: Nếu tôi được tự do đi lại, nhất định tôi sẽ lên Tây Nguyên, lên Đắk Nông và nhiều vùng khác của Tổ quốc để tìm hiểu kỹ hơn về nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề trên. Thế nhưng, từ ngày 8/4/2006 đến nay, khi bản Tuyên ngôn 8406 ra đời thì công an Việt Nam bám chặt tôi như hình với bóng ở mọi lúc mọi nơi. Qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với những người có nhận được những thông tin trên thì tất cả họ đều rất căm phẫn. Họ căm phẫn về dã tâm của NCQCS Trung Quốc 1, thì họ căm phẫn sự phản dân hại nước; sự hèn hạ, bạc nhược của NCQCS Việt Nam 10.
Về điểm này, trong bài “Việt Nam Đất Nước Tôi”, được gửi lên Internet vào tháng 6 năm 2000, khi còn sinh sống tại Australia, tôi cũng đã đề cập, đại ý: “Một khi đã biết được dã tâm xấu xa của cha con Triệu Đà, Trọng Thủy muốn đánh tráo nỏ thần rồi, mà vẫn cứ cho họ được “ở rể” thì những kẻ có tội lớn đối với đất nước và dân tộc chính là những “An Dương Vương” thời nay!”. Không nghi ngờ gì nữa: chính họ sẽ phải trả lời trước dân tộc và lịch sử về những tội lỗi trời không dung đất không tha của họ, khi dân tộc này chuyển mình!
5/ Trong cơ chế của các nước dân chủ, quốc hội có quyền ngăn cản những dự án có hại cho quốc gia như thế này. Theo anh thì chúng ta có thể làm gì để thay đổi quyết định tai hại này của nhà cầm quyền CSVN để may ra còn có thể cứu vãn cả một vùng đất của quê hương?
Trả lời: Đây cũng là thêm một động lực nữa cho những người Việt Nam yêu nước hôm nay quyết tâm đấu tranh để đất nước phải có một nền dân chủ thực sự. Cụ thể là phải thay thế được một cách triệt để từ chế độ chính trị độc tài toàn trị hiện nay sang chế độ dân chủ đa nguyên, đa đảng và pháp trị tiến bộ trong tương lai. Chỉ có khi ấy thì các cơ quan quyền lực của quốc gia như: hành pháp, lập pháp, tư pháp; kể cả cơ quan quyền lực thứ tư là truyền thông mới phát huy được tốt chức năng, nhiệm vụ của nó. Chỉ có khi ấy nó mới có thể ngăn chặn hoặc thay đổi được những chủ trương, chính sách sai lầm của một nhóm thiểu số nắm quyền lực bất lương. Còn với chế độ phản dân chủ và phản dân tộc hiện nay ở Việt Nam thì câu trả lời rõ ràng và dứt khoát là: không thể!
Quan điểm cho rằng: có thể chống Chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc hiện đại bằng cách “Đoàn kết xung quanh Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh”, miễn là phải làm sao để “Đảng của chúng ta” trở nên trong sạch, vững mạnh hơn (!?) là hoàn toàn sai lầm. Theo tôi, đây chính là điều không tưởng. Thực tiễn đã chứng minh một cách hùng hồn rằng: tất cả các chế độ độc tài độc đảng không chấp nhận sự cạnh tranh trên chính trường chỉ ngày càng tha hóa, biến chất đi mà thôi. Đây là vấn đề mang tính quy luật và ở Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ: những kẻ “thẻ đỏ, tim đen” không hề giảm đi mà ngược lại, chúng ngày càng xuất hiện nhung nhúc và đậm đặc trong lòng xã hội hôm nay!
Tất nhiên, trong khi Việt Nam chưa có được một nền dân chủ thực sự thì chúng ta cũng có thể cùng quyết tâm làm một số việc cụ thể sau đây, nhằm hạn chế được càng nhiều càng tốt những thiệt hại mà dự án trên có thể gây ra, khi mà NCQ CSVN vẫn bất chấp dư luận xã hội để triển khai nó:
+ Bằng mọi phương tiện và khả năng, chúng ta thông tin những tác hại về mọi mặt của dự án khai thác bauxite trên cho đồng bào trong nước biết, nhất là cho đồng bào Tây Nguyên. Từ đó, họ sẽ tạo ra những áp lực phản đối liên tục, thường xuyên lên cả nhà cầm quyền địa phương lẫn trung ương. Kể cả khi dự án này đã được triển khai.
+ Tuyên bố nhân dân Việt Nam không chấp nhận dự án này, cũng như không chấp nhận Công hàm do ông Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958 và 2 Hiệp Định giữa Việt Nam - Trung Quốc, ký năm 1999 và 2000, như đã nói ở trên. Vì tất cả chúng đều là những thỏa thuận bán nước cầu vinh của tập đoàn phản động “Nông Chiêu Thống” hiện nay và trước đó. Họ chỉ là một thiểu số nắm thực quyền bất lương trong ĐCS Việt Nam. Họ là tội phạm! Họ không xứng đáng đại diện cho dân tộc Việt Nam!
+ Tranh thủ sự ủng hộ của thế giới tiến bộ, tranh thủ sự ủng hộ của chính phủ và nhân dân Campuchia, vì chính họ cũng phải chịu những ảnh hưởng xấu của dự án này; để họ cùng gây áp lực với NCQCS Trung Quốc và NCQCS Việt Nam hủy bỏ dự án tai hại này.
+ v.v…
6/ Anh nhìn nhận thế nào về hiểm họa của sự hiện diện đông đảo người Hoa Lục được đưa vào vùng Tây Nguyên để thực thi kế hoạch khai thác bauxite này?
Rất nguy hiểm. Tình cảnh của dân tộc ta hôm qua và hôm nay thật là bi đát, không chỉ những gì liên quan đến vùng Tây Nguyên:
+ Trên biển Đông thì ngư dân đi đánh cá bị bắt, bị đánh đập, bị tịch thu tài sản và bị bắn bởi lính trên tầu tuần duyên Trung Quốc. Máu của người Việt Nam đã đổ!
+ Các công ty khai thác dầu hỏa nước ngoài thăm dò dầu khí trên vùng biển Việt Nam theo thỏa thuận với Việt Nam đã bị phía Trung Quốc phản đối và họ đã phải rút lui. Trong khi đó thì phía Việt Nam phản đối rất yếu ớt, lúng búng như gà mắc tóc.
+ Trên biên giới phía Bắc thì phía Trung Quốc tìm mọi cách xâm nhập gặm nhấm bao năm qua, mà bất cứ người dân Việt Nam nào ở vùng biên giới cũng đều đã tận mắt chứng kiến.
+ Nay họ táo tợn tiến thêm một bước nữa là vào sâu trong nội địa Việt Nam. Tây Nguyên lại là vùng có tính chất hiểm yếu về an ninh và quốc phòng. Tại đây, họ sẽ có những điều kiện thuận lợi để chuyển các phương tiện do thám quân sự hoặc hơn thế nữa, mà việc khai thác bauxite có khi chỉ là cái cớ. Do vậy, nguy cơ mất nước kiểu mới mà Trung Quốc không cần phải tiến hành một cuộc chiến tranh quân sự theo kiểu truyền thống là điều hoàn toàn có thể xảy ra đối với dân tộc ta.
+ v.v…
Tuy nhiên, nếu nhìn ở một góc độ khác thì tôi lại thấy xuất hiện những yếu tố tích cực. Đó là: chính sự hèn hạ bạc nhược, chính sự xa hoa thối nát đến cùng cực của NCQCS Việt Nam, cộng với dã tâm xâm lược thâm độc của NCQCS Trung Quốc sẽ làm tăng cường tình đoàn kết dân tộc. Qua đó, tạo nên một sức mạnh mới có thể nhấn chìm cả bè lũ bán nước lẫn lũ cướp nước.
Tôi luôn tin tưởng một cách mãnh liệt rằng: truyền thống hào hùng của những Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa,… của dân tộc ta từ ngàn năm xưa nhất định sẽ được phát huy cao độ trong cuộc chiến đấu và nhất định sẽ chiến thắng hôm nay. Đó là cuộc chiến đấu giành tự do dân chủ cho dân tộc ta! Đó là cuộc chiến đấu của dân tộc ta chống lại chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Quốc hiện đại!
Cuối cùng, xin kính chúc quý thính giả của đài Chân Trời Mới luôn mạnh khỏe và gặp mọi sự an lành. Xin chúc cho nền dân chủ Việt Nam đến sớm.
Xin thành thật cám ơn anh Đỗ Nam Hải đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn hôm nay và xin hẹn gặp lại anh trong một dịp khác, nhất là để cùng nhau khởi xướng những hành động cụ thể để bảo toàn quê cha đất tổ.
(ghi lại những nội dung chính - tháng 2/2009)

Hai bộ mặt của Xã Hội Chủ Nghĩa hiện nay

Trích XCafe'

Nguyễn Vọng

1) Nông dân trên đường phố

Trên đây là một biển cấm trên con đường Bạch đằng, một trong số những đường phố được xem là bộ mặt phồn vinh phát triển của thành phố Đà-nẵng. Nội dung của biển cấm nầy là: “Ngiêm cấm mọi hoạt động đánh giày, bán sách dạo, bán báo dạo, bán hàng rong, tụ họp mua bán” . Đây là một trong những con phố tập trung nhiều nhà hàng khách sạn sang trọng và là tuyến đường chính dẫn đến những khu nghĩ dưỡng sang trọng bên kia sông. Du khách nước ngoài đến bằng đường biển hay đường hàng không đều đi qua con đường này cho nên người ta phải che dấu những biểu hiện của đói nghèo, nhếch nhác. Nhớ ngày nào khi nón cối dép râu mới bước chân vào thành phố, đi đâu cũng nghe mấy đồng chí oang-oang: “Cái thành phố nầy đúng là phồn vinh giả tạo”. Người dân thành phố lúc ấy đang còn sợ quá nên nghe vậy mà nào dám cải lại, bỡi họ thấy có cái gì là “giả” đâu: nhà cao cửa rộng, đường sá phẳng phiu, hang hoá tràn đầy, cái nào cũng thật, sờ tận tay thậm chí các đồng chí thi nhau chỡ ra Bắc trên những đoàn con-voi mấy năm chưa dứt.

Bây giờ, sau hơn 30 năm, nhờ bán đất cho tư bản nước ngoài các đồng chí xây được vài cây cầu, làm được vài con phố đã tự cho là mình có tài kinh bang tế thế. Thậm chí có mấy tên bồi bút nâng bi đã không ngượng mồm gọi vùng đất bên kia sông Hàn nơi tập trung những khu biệt thự sang trọng của đám quan chức địa phương và trung ương, các khu khách sạn, Resort của nước ngoài đầu tư là Khu phố Đông của Đà nẵng, ngầm so sánh với khu Phố đông của Thượng Hải bên Tàu. Bỡi vậy, những hạng người đầu tiên có thể làm xấu đi bộ mặt sang trọng của thành phố là những em bán báo, đánh giày, những chị đẩy xe hang rong bị cấm tuyệt lai vãng. Khi nghe cái lệnh cấm này ban ra người dân thành phố chỉ biết lắc đầu ngán ngẩm cho cái kiểu làm “tốt khoe, xấu che”, lần nầy mới đích thị là phồn vinh giả tạo!

Giờ chúng ta cùng dõi theo cuộc sống của những con ngưòi là đối tượng của cái lệnh cấm nầy.

Bán hàng rong, chị là ai ?

Ngày xưa, nhưng cũng chưa xưa lắm, người nông dân khi công việc đồng án đã xong, khoảng thời gian này được gọi là lúc nông-nhàn, và đúng như tên gọi người nông dân có thể nghỉ ngơi chút đỉnh sau những ngày cày bừa nhọc nhằn, bỡi vậy cho nên những lễ hội ở nông thôn thường diễn ra vào dịp này. Bây giờ mọi chuyện chẳng còn như xưa, ruộng đất mỗi ngày mỗi teo tóp, đã vậy ruộng đất còn được trưng thu để xây dụng các khu công nghiêp, các khu đô thị, các khu ăn chơi hưởng thụ của những kẻ lắm tiền cả trong lẫn ngoài nước, vì vậy mà ruộng đất của nông dân ở những vùng quê chung quanh các thành phố chẳng còn được bao nhiêu. Có người mất trắng chẳng còn gì. Chẳng nói đâu xa, nhớ hồi có kế hoạch xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quấc và khu đô thị Vạn Tường, biết bao làng xóm đã bị di dời để lấy đất xây nhà máy và xây thành phố mới.

Người ta đã hứa như đinh đóng cột với người dân là cứ yên tâm mà dọn đến chỗ ở mới đi, nhất định chỗ ở mới sẽ tốt hơn làng cũ, cả ông thủ tướng thời đó là Võ văn Kiệt lẫn các quan chức của tỉnh Quảng Ngãi đều cao giọng cam kết như thế, nhưng sự thật là cho đến nay, sau hơn 10 năm, đến ngày nhà máy cho ra mẻ dầu đầu tiên thì đám cư dân của những ngôi làng mới đó vẫn còn lưu lạc kiếm ăn tận miền Nam xa xôi, trong làng đến nay cũng chỉ còn lại toàn trẻ con và người già trong những ngôi làng vuông vức như bàn cờ nhưng chẳng có ruộng để cày. Ruộng ở đâu ra? Địa phương mới chịu chia cho miếng đất thổ cư để làm nhà cho dân mới đến chứ ruộng có đâu mà chia? Số phận người nông dân quanh cái thành phố phồn vinh Đà nẵng cũng thế thôi. Bị thu hồi hết ruộng đất chẳng nói làm chi vì đường nào rồi cũng ra thành phố làm mướn hay bán buôn linh tinh chỉ cốt kiếm sống cho qua ngày chứ còn biết gì đến chuyện tương lai bỡi những chương trình chuyển đổi ngành nghề chỉ là chuyện trên giấy, nói chơi cho vui chứ trên thực tế là con số không to tướng. Người nông dân từ 40 đến 60 tuổi, thậm chí đến 70 tuổi vẫn có thể lao động để kiếm sống ở nông thôn, bây giờ không còn làm nông thì họ biết làm gì để sống ngoại trừ làm những công việc lao động giản đơn. Người nông dân còn ruộng để cày số phận cũng chẳng sáng sủa hơn chút nào: một nhà vài ba sào ruộng, mỗi vụ lúa kéo dài trên 3 tháng nhưng công việc cày bừa chăm sóc cả nhà xúm lại làm nhoáng một cái thì lâu nhất cũng khoảng 1 tháng là xong, 2 tháng còn lại đành phải gọi là nông nhàn chứ biết gọi là gì bây giờ? Nhưng “nhàn” mà được sao? Vài ba sào ruộng thì chỉ đủ gạo ăn cho cả nhà chứ có dư ra được đâu.

Miền Trung đất hẹp người đông, có phải là miền Nam đâu mà mỗi nhà có thể làm vài ba mẫu đất để có gạo thừa đem xuất khẩu kiếm ngoại tệ về cho nhà nước, vậy mà nông dân vẫn không khá lên được, vẫn nhà dột cột xiêu, bao nhiêu rồi cũng vào tay mấy công ty phân bón, mấy công ty xuất khẩu gạo. Vâng, vậy là vợ chồng con cái lao vào thành phố để kiếm sống. Hàng rong thì thành phố nào cũng có, là phương tiện kiếm sống của một bộ phận dân nghèo thành phố. Người nông dân vào thành phố kiếm sống không thuộc loại hàng rong này, người phụ nữ nông thôn hầu như không có khả năng bán rong nhưng thứ đòi hỏi kỉ năng nấu nướng nên đành chọn phương thức bán buôn đơn giản là mặt hàng nông sản, rau quả, trái cây theo mùa vụ, phương tiện hành nghề chỉ là chiếc xe đạp cà tàng giá chỉ vài ba chục ngàn đồng mà người dân thành phố thải ra, chở theo chiếc giỏ thép hay đơn giản hơn là 2 chiếc rỗ tre gắn trước sau kèm chiếc cân nhựa nhỏ, vốn liếng cao nhất chỉ 200 ngàn đồng trở lại. Mỗi sáng tinh mơ các chị tập trung về 2 khu chợ đầu mối ở 2 đầu thành phố để cất hàng, mùa nào thức ấy chẳng có gì phải chọn lựa, cho dù là trái cây hay rau củ cũng chỉ dám mua trong phạm vi chừng ấy vốn, trọng lượng cũng không dám vượt qua sức chịu đựng của chiếc xe đạp và đôi chân gầy của mình.

Trên đường phố chúng ta dễ dàng nhận ra các chị trong dáng lầm lũi đạp xe, trong dáng nhìn ngơ ngác kiếm tìm một tiếng gọi hàng bên đường. Chúng ta còn dễ dàng nhận ra các chị qua cung cách bán hàng thật thà, chẳng dám noi thách bỡi trên đường biết bao ngưòi như chị, chẳng bao giờ dám nghĩ đến chuyện trúng mánh lãi nhiều để gạt những khách hang dễ tính. Nhiều lần mua hàng của các chị trên đường tôi thử hỏi xem chị kiếm được bao nhiêu khi bán hết hàng trong giỏ, thì chị nào cũng bảo “Dạ! suông sẽ thì kiếm được 20 ngàn là mừng rồi”. Tôi tin các chị nói thật bỡi vì nhiều lần mua hang trả giá có chị không dám kèo nài nhiều chỉ nhỏ nhẹ “thôi chị cho em xin thêm (…) chớ chừng ni chưa đủ vốn”, tôi tin chị nói thật. Cung cách bán buôn của những nông dân trên đường nhựa là vậy, mong kiếm lời được chừng nào thì cứ thế mà bán. Buổi trưa trời nắng chan chan cũng không dám nghỉ, chỉ mong sao bán cho hết mà về, hàng rau quả để qua ngày có nước đem đổ. Con cái cũng theo cha mẹ vào phố, mùa hè đi bán vé số dạo kiếm tiền để vào năm học mới có tiền phụ giúp cha mẹ sắm sửa áo quần sách vỡ, mỗi tờ vé số kiếm được 500 đồng, buổi trưa kiếm bóng mát vật vờ cơm bụi, may ra buổi tối khi trở về nhà còn dư ra được mươi lăm ngàn đưa cho mẹ.

Vậy nhưng cũng còn nhiều người mê ngũ, hùa theo bọn bất lương ra rã ca tụng cái thành tựu kinh tế thần kì, ngưỡng mộ ngắm nhìn những toà cao ốc đồ sộ mà chẳng hề nghĩ đến chuyện những ai đang làm chủ, đang ngự trị trong những ngôi nhà đó.

2) Những ngôi nhà “hoành tráng” ở Đà Nẵng

Ngôi biệt thự màu trắng là của nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn thị Bình, tọa lạc trên con đường chạy dọc bờ biển Mỹ Khê, ĐN, ngôi biệt thự này là “quà tặng” của thành phố Đà Nẵng, hay nói chính xác hơn là quà tặng của Bí thư thành uỷ Nguyễn bá Thanh biếu không cho bà Bình theo kiểu “chìa khoá trao tay” nghĩa là bà Bình chẳng cần bỏ tiền của, chăm sóc xây dựng gì cả. Dĩ nhiên, hiện nay bà Bình không ở trong ngôi biệt thự này, nhưng bà cho ngoại kiều thuê với giá 2.000 USD/tháng, bởi vì bà cũng như tất cả những quan chức ở Hà nội có không biết bao nhiêu là nhà theo kiểu nầy, trên khắp các thành phố của cả nước, chỗ nào có quy hoạch, giải tỏa đất đai của dân, là các ngài ở trung ương lại được biếu xén những miếng đất ngon lành nhất, rồi sau đó, tuỳ theo chức vụ hay thế lực của từng quan chức để các quan địa phương tính toán để cấp luôn cả tiền xây dựng. Bởi vậy, cho nên người ta chẳng lạ gì khi có biết bao nhiêu đơn tố cáo, khiếu nại gửi ra Trung ương (kể cả đơn tố cáo của những cán bộ, đảng viên tai địa phương như ông Đỗ xuân Hiền chẳng hạn) nhưng ông Thanh vẫn bình chân như vại, thậm chí ông Thiếu tướng CA Trần văn Thanh là người trước kia lúc con làm Giám đốc CA/ĐN đã điều tra vụ ông Nguyễn bá Thanh tham nhũng, cũng đang đứng trước nguy cơ mất chức!

Hai ngôi biệt thự nằm kề nhau này là của 2 cán bộ thành phố ĐN –Bà Lan và ông Hồ Việt (con của Hồ Nghinh nguyên bí thư thành uỷ Quảng Nam ĐN sau 1975). Hai ngôi biệt thự này nằm cách Biệt thự Bà Bình 1 con đường- ta có thể thây biệt thự bà Bình nằm xa bên phải. Có một thời, mấy tên nhà báo nịnh bợ đã gọi Nguyễn bá Thanh là Nguyễn bá THÁNH, nhằm tâng bốc ông ta là tài giỏi, đã biến thành phố Đà Nẵng từ một thành phố nhỏ bé thành rộng lớn “hoành tráng” như hiện nay. Nhưng chúng ta thử xem bên kia sông Hàn có cái gì để ông Thanh phải tự hào. Chẳng có cái gì cả! một khu công nhiệp nhỏ bằng cái lỗ mũi, nhưng cũng chẳng có doanh nghiệp, nhà máy nào (số nhà máy trong đó đếm chưa đầy mấy ngón tay, đến nỗi gần đây phải cắt bớt đất để làm khu dân cư). Ngoài ra chỉ toàn là khu resort, khách sạn của nước ngoài, và biệt thự chẳng biết của ai, kéo dài đến tận núi Sơn Chà. Vậy mà chính quyền thành phố ĐN đi vay tiền để xây dựng 5 cây cầu bắc qua sông. Người ta kháo nhau là “mấy ổng” dùng tiền đi vay xây cầu chẳng qua để làm tăng giá trị những khu đất của mấy ổng bên đó mà thôi.

Phải chăng những ngôi nhà “hoành tráng” ở Đà Nẵng, là xương máu cướp đoạt của nhân dân?

Nguyễn Vọng
Một cư dân thành phố Đà Nẵng

Đại loạn tại Trường Yên

Vấn đề giải toả đất và đền bù không thỏa đáng cho nhân dân vẫn là đề tài muôn thuở của Việt Nam Cộng Sản. Sự ăn chặn tiền đền bù của nhân dân làm cho người dân khắp nơi từ Bắc chí Nam thường xuyên khiếu kiện. Ta hãy xem bài viết của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy: Đại loạn tại Trường Yên, một vùng đất ở gần Hà Nội.