Translate

Saturday, January 22, 2011

Thông điệp gửi báo “Thanh Niên”: Giấy rách phải giữ lấy lề!

Lê Diễn Đức - RFA
Ảnh biếm hoạ trên Facebook về báo chí đi theo lề phải
Ngày 6/1, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã gửi kháng thư tới Bộ Ngoại giao Việt Nam, đồng thời cũng đã triệu tập Đại sứ Việt Nam tại Washington Lê Công Phụng để phản đối việc công an thành phố Huế hành hung ông Christian Marchant, tùy viên chính trị của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội.
Im lặng và giả thiết
Trong cuộc họp báo chiều 6/1 tại Hà Nội, bà Nguyễn Phương Nga, phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Việt Nam nói sẽ “xem xét sự việc” và “Việt Nam sẵn sàng tạo điều kiện cho ngoại giao đoàn hoạt động, nhưng các viên chức ngoại giao nước ngoài cũng cần phải tuân thủ pháp luật nước sở tại”.
Đã hơn hai tuần trôi qua, với một sự vụ không có gì phức tạp, xảy ra giữa thanh niên bạch nhật, trước mắt nhiều nhân chứng, sự “xem xét” của Bộ Ngoại giao Việt Nam có lẽ đã kết thúc.
Có thể đặt ra hai giả thiết.
Một. Tôi ngờ rằng, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã có những nỗ lực dàn xếp hậu trường với phía Hoa Kỳ, xin lỗi và lấy làm tiếc về sự việc xảy ra, hứa hẹn kỷ luật những nhân viên an ninh thừa hành công vụ sai và muốn phía Hoa kỳ không làm ầm ĩ gì thêm nữa. Một sự thoả thuận kiểu này không phải đã không có tiền lệ trong sinh hoạt ngoại giao giữa các nước.
Nhưng nếu hai bên đã thoả thuận ngầm mà không thông báo gì cho công luận, chứng tỏ Hà Nội cảm thấy bẽ bàng vì đã chót phản ứng làm như vô can, thông qua phát biểu của bà Nguyễn Phương Nga và cách đưa tin của báo chí lề phải.
Hai. Bộ Công an và Bộ Ngoại giao Việt Nam vẫn còn suy tính. Tạo ra nhân chứng để đổ lỗi cho ông Christian Marchant? Thế còn các nhân chứng khác không chịu áp lực thì sao? Những người công an xúm lại, xô đẩy, lôi ông Christian Marchant ra xe, khó có thể dựng kịch bản biến thành thường dân và giải thích rằng họ đã mạnh tay vì còn căm thù “đế quốc Mỹ”! Hơn nữa, bối cảnh xung đột có khả năng đã được quay phim, ví dụ bằng điện thoại di động, và không nằm ở trong tay công an, nếu bị tung ra phản bác lại mưu toan đổi trắng thay đen, hậu quả sẽ còn bi kịch hơn cả chuyện đã xảy ra!
Cần phải tìm ra lỗi hợp lý, dù nhỏ nhất, chứng minh ông Christian Marchant sai phạm thì mới tạo được thế đối thoại với phía Hoa Kỳ, cho nên tôi đồ rằng, phía Việt Nam sử dụng biện pháp câu giờ, vừa để sự việc nguôi ngoai, vừa nghĩ mưu và chọn thời điểm thích ứng, ví dụ, trong buổi tiếp xã giao tân đại sứ Hoa Kỳ David Shear qua Việt Nam thay ông Michael Michalak. Những buổi tiếp “tống cựu nghinh tân” thường là cơ hội có thể chia sẻ dễ dàng hơn.
Cần chú ý thêm rằng, vào thời gian trước khi đại sứ Micheal Marine mãn nhiệm, cũng đã xảy ra việc đụng độ giữa công an và vợ của nhà bất đồng chính kiến Phạm Hồng Sơn trong sự chứng kiến của bà dân biểu Loretta Sanchez. Vì thế, có thể hoài nghi vụ này với vụ công an Huế không trùng hợp ngẫu nhiên mà có chủ ý: Hà Nội muốn gửi thông điệp cứng rắn về sự hợp tác trong tương lai tới tân đại sứ David Shear!
Nhưng bất luận từ góc độ quan sát nào, các giả thiết trên đây đúng hay sai, gộp luôn cả trường hợp ông Christian Marchant đã làm gì đó thất thố mà phía Việt Nam cho là “không tuân thủ luật của nước sở tại” đi nữa, lực lượng công an Huế - được xem là những người đại diện cho pháp luật - sử dụng bạo lực, gây chấn thương cho người mang Thẻ ngoại giao đang làm việc tại Việt Nam, là điều không thể chấp nhận được.
Dân biểu Ed Royce của Hạ viện Hoa Kỳ đã tố cáo Việt Nam “vi phạm các quy định của công ước quốc tế trong việc bảo vệ an ninh cho các nhân viên ngoại giao”. [1]
Đưa tin theo lề phải?
Nhiều hãng tin quốc tế như AP, AFP, BBC, RFI, RFA, VOA và các nhật báo lớn như “New York Times”, “Wall Street Journal”, “Washington Post”, và ngay cả Tân Hoa Xã của Trung Quốc, đều nhất loại đưa tin nhà ngoại giao Hoa Kỳ bị công an cộng sản Viêt Nam tấn công. [2]
Riêng tờ “Thanh Niên”, một mình một ngựa, múa gậy vườn hoang, đăng tin ngược 180 độ với tất cả các cơ quan thông tấn, báo chí thế giới và nội dung công hàm phản đối chính thức của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.
Bài “Một nhân viên Đại sứ quán Mỹ gây rối trật tự” đăng trên Thanh Niên Online, ngày 07/01/2011 viết như sau:
“… Có một người đàn ông ngoại quốc, tay xách cặp tự xưng là nhân viên ngoại giao tòa Đại sứ Mỹ tại Hà Nội quát tháo ầm ĩ bằng cả tiếng Mỹ và tiếng Việt với một số người VN bằng những ngôn từ rất tục tĩu. (…) Tiếp đó, ông này còn gạt người nhân viên (Sở Ngoại vụ Huế) ngã dúi dụi, sau đó đấm vào mặt một người dân đứng gần đó, xô đẩy cả một số người đang đứng xem, khiến nhiều người dân phẫn nộ và nghi ngờ đây hẳn là mạo danh chứ một viên chức ngoại giao không thể hành xử như vậy”(…) “Theo nguồn tin Thanh Niên, tại Sở Ngoại vụ Thừa Thiên - Huế, người đàn ông ngoại quốc xuất trình thẻ chứng nhận nhân viên ngoại giao là Christian Marchant, viên chức chính trị Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội. Các cán bộ ngoại vụ giải thích các quy định pháp luật VN nhưng ông Marchant vẫn tỏ thái độ bất hợp tác, sau đó tự ý bỏ về…”. [3]
Nhiều bạn đọc trên Facebook hài hước nói rằng, con người mà tờ “Thanh Niên” mô tả ắt hẳn phải là một gã điên thì mới hành xử như vậy. Và, có lẽ Hoa Kỳ thiếu nhân sự nên mới chọn người điên làm nhà ngoại giao!
Thế nhưng, “người điên” này, ông Christian Marchant, là người trong năm nay được Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton trao giải thưởng “Human Rights and Democracy Award” về hoạt động bảo vệ nhân quyền. Ông Christian Marchant đã có lần từng lấy thân mình che chắn công an Việt Nam cho những phụ nữ khiếu kiện bị đàn áp, theo tờ “Richmond Register” của tiểu bang Kentucky.
Ngoài cách hành văn rất “lá cải”, còn một số điểm khác rất đáng phê phán từ bài báo của tờ “Thanh Niên”.
Thứ nhất. Các nguồn nhân chứng khác, đặc biệt của Linh mục Nguyễn Văn Lý [4], cho thấy tờ “Thanh Niên” đã tường thuật sai với sự thật.
Một nhà báo không có mặt tại hiện trường, hấp tấp đưa tin chưa được xác minh kỹ lưỡng, không cho biết nguồn tin hay nhân chứng cung cấp, là đồng nghĩa với sự vu khống, bịa đặt. Điều này không gì khác hơn là thái độ vô trách nhiệm, ngớ ngẩn về kiến thức nghiệp vụ, vi phạm đạo đức nghề nghiệp.
Thứ hai. Có gì đó khuất tất, thiếu lương thiện ở chỗ, trong một bài viết đụng đến sinh hoạt ngoại giao giữa hai nước, đăng trên một tờ báo chính thống, mà tác giả lại sử dụng bút danh viết tắt “N.T.”.
Trao đổi với tôi, ký giả Trần Đông Đức thấy cần khám phá cho ra lẽ, nên đã tìm hầu hết các tên tuổi phóng viên của báo “Thanh Niên” theo phương pháp dò đề mục và kết quả cho thấy “N.T.” chỉ có thể rơi vào ông Trần Ngọc Thọ, người phụ trách phần Chính Trị - Xã Hội, chuyên viết các mảng tin về công an, ký tên Ngọc Thọ.
Anh Trần Đông Đức lưu ý rằng, báo “Thanh Niên” còn có các đề mục khác như Du Lịch, Giáo Dục, với các tên Như Thảo, Nguyễn Thắng… cũng có thể viết tắt thành “N.T.”. Thế nhưng, thông thường ký giả “Thanh Niên" phụ trách theo chuyên mục và mỗi chuyên mục thường có đến vài chục bút hiệu khác nhau và các bút hiệu đều chuyên trách và không đi ngoài chuyên mục.
Tìm hiểu sâu thêm về nhân vật Ngọc Thọ, mới hay ông Trần Ngọc Thọ đã từng bị côn đồ doạ giết, đã 5 lần đuổi bắt cướp. Với nghiệp vụ "bổ sung" này, phải chăng ông Ngọc Thọ là công an–nhà báo hoặc là đặc phái viên của công an trong toà soạn? [4]
Ở đây tôi muốn cắt nghĩa thái độ của tờ “Thanh Niên”. Nếu đưa thông tin sai, thì vì sao cho tới nay vẫn bài viết của “N.T” vẫn truy cập được và chưa thấy có cải chính nào? Phải chăng bài báo phản ánh quan điểm của nhà nước Việt Nam? Nhưng chả lẽ nhà nước Việt Nam lại thể hiện quan điểm qua một bài viết tệ hại như thế? Nếu đúng vậy, nhận định của luật sư Lê Thị Công Nhân rằng, “nhà nước này quả thực rất mờ ám và hành xử rất côn đồ[5] có thêm bằng chứng!
Song song, sự im lặng của Bộ Ngoại giao Việt Nam trước công luận sẽ tiếp tục góp thêm vào chuỗi các sự kiện dối trá, thiếu lương thiện, mà báo chí trong nước đã phạm phải liên tục trong thời gian mới đây:
- Loan tải như một tin nóng về “hai bao cao su” và “gái mại dâm” trong vụ bắt giữ tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, nhiều tờ báo lề phải đã ác độc tấn công anh Cù Huy Hà Vũ với những lời miệt thị và bôi nhọ. Còn báo “An ninh Thế Giới” khi viết về gia thế anh Cù Huy Hà Vũ cho thông tin không đúng với thực tế, xúc phạm đến “nhân phẩm, danh dự, tình cảm của anh Cù Huy Hà Vũ và gia đình” (theo kháng thư gửi Tổng biên tập Nguyễn Hữu Ước ngày 12/12/2010 của bà Cù Thị Xuân Bích).
- Dẫn nguồn từ “nhật báo Đức Firmenpress”, báo “Pháp Luật Việt Nam” đã bóp méo thông tin, làm bạn đọc ngộ nhận qua bài “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xuất sắc nhất châu Á”, bởi vì “Firmenpress” không phải là nhật báo mà chỉ là trang web đăng quảng cáo dịch vụ của Công ty xử lý rác của Đức RES-Resources, Ecology, Services GmbH.
- Trong khi đó Vietnamplus của Thông tấn xã Việt Nam với bài “Tác giả Đức ca ngợi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng” lấy cùng nguồn trên, nhưng lại nhào nặn tác giả Olaf Jüttner “thuộc tổ chức RES (Resources, Ecology, Services GmbH)”! và không hề biết ngượng khi viết rằng, “các website như business-presse.de, onlinepresse.info… đăng nguyên văn bài viết trong đó nhấn mạnh rằng Thủ tướng Dũng đã thành công trong nhiệm kỳ 5 năm vừa qua, khi đưa ra những chính sách “nhìn xa trông rộng” không chỉ giúp Việt Nam đạt được những thành quả to lớn mà bản thân ông cũng được đánh giá cao trên trường quốc tế”. [6]
Bài này đã bị gỡ xuống không còn truy cập được nữa
Khi bị tố giác đăng tin sai sự thật, tự gỡ bài xuống, không hề đính chính, không một lời xin lỗi – xin lỗi là việc làm bình thường, trọng thị, hướng thiện, được dư luận ghi nhận và thông cảm - các tờ báo lề phải đã thể hiện thái độ trịch thượng, coi thường bạn đọc, chà đạp lên nguyên tắc và tập quán lương thiện của báo chí, truyền thông.
Giấy rách hãy giữ lấy lề!
Có lẽ bức xúc về những vấn đề đã nêu, trong một bài phân tích sâu sắc với tựa đề "Truyền thông Việt Nam năm 2010: Tấm gương phản ánh xã hội”, nhà báo Đoan Trang viết:
Một trong các nguyên tắc mà bất kỳ nhà báo nào cũng phải thấu triệt và thực hiện nghiêm ngặt là: trung thực, công bằng, khách quan.
“Trung thực” có nghĩa là viết đúng sự thật. “Công bằng, khách quan” nghĩa là phản ánh đầy đủ ý kiến các bên (nhà báo thực hiện “đúng sự thật” bằng cách sử dụng nguyên vẹn, chính xác thông tin từ một bên nào đó, là chưa đủ, vì như thế vẫn là đưa tin một chiều, không khách quan”).
“Trung thực, công bằng, khách quan còn đòi hỏi nhà báo tuân thủ luật pháp: chừng nào chưa có phán quyết cuối cùng của một tòa án hợp lệ, chừng đó không thể coi ai đó là có tội. Mọi thông tin do cơ quan điều tra cung cấp theo hướng bất lợi, hay nhằm chống lại “đối tượng” đều chỉ có tính tham khảo”. [7]
Tôi thông cảm và hiểu tường tận điều kiện tác nghiệp khó khăn của các đồng nghiệp và bạn hữu của làng báo trong nước, được bộc bạch qua tâm sự của nhà báo Trương Duy Nhất:
Trong nhiều năm liền, với chức phận là một nhà báo ăn lương, tôi luôn phải viết cả những điều không muốn viết. Ừ thì cũng như muôn vàn nhà báo khác thế thôi. Đó là những bài báo viết không cần suy nghĩ, không động não, không tư duy, viết khoán cho đủ chỉ tiêu bài vở nhận lương hàng tháng. Những bài báo vô thưởng vô phạt mà tự thân mình phải xấu hổ khi núp dưới bút danh khác”. [8]
Nhưng, chia sẻ nhận định trên không có nghĩa vơ đũa cả nắm, đánh giá thấp những việc làm của báo chí trong nước trên bình diện đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực của xã hội Việt Nam hiện nay. Đã có rất nhiều nhà báo can đảm, chấp nhận mạo hiểm, tiên phong trên mặt trận này.
Tuy nhiên, kể cả khi phải làm việc với chức phận-thân phận lệ thuộc của người làm công ăn lương, chịu sự quản lý của nhà nước, một người cầm bút chân chính phải cương quyết nói không!với dối trá, vu khống và không được phép cho mình quyền xúc phạm người khác! Phải giữ lấy lương tri, nhân cách và lòng tự trọng tối thiểu của kẻ cầm bút, những con người mà trong xã hội hay thể chế nào cũng được dân chúng quý mến và gửi gắm lòng tin. Giấy rách, xin hãy giữ lấy lề!
Lời nhắn
Nghị định của Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ngày 6/1/2011, có hiệu lực kể từ ngày 25/2/2011, quy định xử phạt các nhà báo và blogger, trong đó các hành vi như không viện dẫn nguồn tin, không ghi rõ tên họ thật hay bút danh tác giả; hoặc sử dụng tin bài nhưng không biết rõ tên thật, địa chỉ của tác giả... có thể bị phạt từ 1 triệu đến 3 triệu đồng.
Tôi không nghĩ Thủ tướng Dũng ký nghị định chỉ để nhắm riêng vào báo chí lề trái!
Khi dư luận đòi được biết quan điểm của ban biên tập và đề nghị công khai tên tác giả của bài viết nói về một sự việc nghiêm trọng, xúc phạm tới tư cách đạo đức của một nhà ngoại giao cụ thể, thiết nghĩ một tờ báo tử tế không thể khước từ.
Tôi tin rằng, đã từng được bạn đọc yêu mến qua nhiều bài chống tiêu cực xuất sắc, qua người phóng viên đầy bản lĩnh Nguyễn Việt Chiến trong vụ án PMU18, và cũng đúng với tinh thần của nghị định của Chính phủ, tờ “Thanh Niên” sẽ có động thái thích ứng nhằm giải toả thắc mắc của bạn đọc, bảo vệ uy tín của mình.■
----------------------------------------
[1]: Phát biểu của dân biểu Ed Royce, RFA 6/01/2011:
[2] : “Báo chí đưa tin gì về vụ ông Christian Marchant”, BBC 7/01/2011:
[3]: Một nhân viên Đại sứ quán Mỹ gây rối trật tự”, “N.T.”:
[4]: Phóng viên báo Thanh Niên bắt cướp”:
http://www.tin247.com/phong_vien_bao_thanh_nien_bat_cuop-6-40713.html và Ký giả Ngọc Thọ từng bị côn đồ doạ giết:
[5]: Công an đối xử thô bạo với luật sư Lê Thị Công Nhân”, RFA, 20/01/2011:
[6]: Tác giả Đức ca ngợi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng”, Vietnamplus:
[7]: "Truyền thông Việt Nam năm 2010: Tấm gương phản ánh xã hội”, Đoan Trang: http://trangridiculous.blogspot.com
[8]: Trương Duy Nhất: Nghỉ báo viết Blog”: http://www.truongduynhat.vn/2011/01/nghi-bao-viet-blog.html
© 2011 Radio Free Asia

Friday, January 21, 2011

Báo chí quốc tế bàn về lãnh tụ mới ở Việt Nam

Theo NguoiViet Online

HÀ NỘI (NV) - Báo chí quốc tế không mấy hào hứng khi thấy ông Nguyễn Phú Trọng được đưa lên làm tổng bí thư của đảng CSVN. Chuyện này đã được tiết lộ và gần như cả thế giới đều biết từ một tháng trước.

Người bán hàng rong đi ngang tấm bảng quảng cáo lãi suất của một chi nhánh ngân hàng, trung tâm thành phố Hà Nội. Việt Nam đối diện với các khó khăn kinh tế vào lúc chế độ Hà Nội thay đổi lãnh tụ. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Cho nên, họ đều chú ý tới những khó khăn kinh tế tài chính mà chế độ Hà Nội đang đối diện.

Hai báo tài chính của Hoa Kỳ, Wall Street Journal và Bloomber chẳng để ý gì tới ông tân tổng bí thư mà đều chỉ chú ý tới việc, nhiều phần, Nguyễn Tấn Dũng vẫn là thủ tướng.

Khi Nguyễn Tấn Dũng không nắm được cái ghế tổng bí thư, điều này “cho thấy Việt nam tiếp tục chính sách chú trọng tăng trưởng kinh tế,” WSJ viết. “Những năm gần đây, Việt Nam đổ hàng tỉ đô la vào các chương trình tài trợ tín dụng và các chương trình chi tiêu khác của nhà nước để duy trì tăng trưởng nhanh chóng dù xảy ra những kỳ lạm phát cao.”

Tờ WSJ cũng nhận thấy kết quả bầu bán lãnh tụ chóp bu của đảng CSVN “phần lớn đã được sắp đặt sẵn từ trước.” Vẫn những người đó trong bộ chính trị sẽ nắm thực quyền, sẽ không có gì thay đổi về đường lối và chính sách của đảng CSVN.

Hiện mới chỉ thấy xuất hiện tổng bí thư đảng là Nguyễn Phú Trọng, còn Trương Tấn Sang (dự trù lên làm chủ tịch nước), Nguyễn tấn Dũng (dự trù vẫn là thủ tướng) và Nguyễn Sinh Hùng (dự trù sẽ là chủ tịch Quốc Hội) sẽ còn phải đợi có khóa họp Quốc Hội vào tháng 5 tới, Bộ Chính Trị “giới thiệu” để Quốc Hội biểu quyết thông qua.

“Sự thách đố cho các lãnh tụ cộng sản Việt Nam là phải điều chỉnh chính sách để kềm chế lạm phát đang làm suy nhược nền kinh tế, trong khi giá nhiên liệu và giá thực phẩm (tăng cao) trên thị trường thế giới đe dọa tăng áp lực lên giá cả hàng hóa ở trong nước.” WSJ viết.

Theo WSJ, nhiều kinh tế gia cho rằng Nguyễn tấn Dũng sẽ phải lựa chọn hoặc cắt bớt tham vọng tăng trưởng để đối phó với lạm phát, siết chặt chính sách tiền tệ hay phải đối diện với khủng hoảng kinh tế nặng hơn.

Tương tự như WSJ, tờ Bloomberg dẫn lời Jonathan Pincus, người cầm đầu chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright thuộc Ðại Học Harvard Kennedy School cho rằng chế độ Hà Nội phải có chính sách quyết liệt mới đối phó nổi với khó khăn kinh tế.

“Họ cần có hành động quyết liệt đối phó với lạm phát chứ không thể cho rằng vấn đề tự nó sẽ giải quyết, bởi vì nó sẽ không xảy ra.” Ông Pincus nói.

Theo một bản phân tích của ngân hàng đầu tư ANZ chi nhánh Singapore được Bloomberg dẫn lời, trong những ngày tới đây, chế độ Hà Nội khó tránh việc phải phá giá đồng bạc thêm lần nữa đồng thời với việc tăng lãi suất nếu muốn chận đà lạm phát.

Trong một bản tin khác, hãng tin Bloomberg dẫn lời chuyên viên của tổ chức lượng giá đầu tư Moody's nhận định rằng Việt Nam phải xóa bỏ thâm thủng cán cân chi trả ngoại quốc, tăng dự trữ ngoại tệ tới một mức tương đối đủ thì mới hy vọng được đánh giá cao hơn.

Bị đánh giá thấp, vừa khó vay nợ, khó bán công trái vừa phải gánh các lệ phí và lãi suất nặng hơn.


Thursday, January 20, 2011

Hải chiến Hoàng Sa 1974 trong ký ức một người lính biển

Theo RFI
Tú Anh

Vào ngày 19/01/1974 tại quần đảo Hoàng Sa đã diễn ra một trận chiến đẫm máu giữa hải quân Việt Nam Cộng Hòa và hạm đội Nam Hải của Trung Quốc. Theo tài liệu của bộ ngoại giao VNCH công bố cùng ngày này, thì 8 ngày trước, ngày 11/01/1974 Bắc Kinh đột nhiên lên tiếng đòi chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, mà Trung Quốc (văn kiện của Sài Gòn gọi là Trung Cộng) gọi là Tây Sa và Nam Sa.

Tình hình quần đâo Hoàng Sa bắt đầu nóng lên kể từ ngày 16/01/1974. Được Hoa Kỳ báo động là hải quân và không quân Trung Quốc xuất phát từ đảo Hải Nam tiến chiếm Hoàng Sa, Sài Gòn yêu cầu hạm đội 7 của Mỹ trợ sức nhưng hải quân Mỹ từ chối.

Theo tuyên cáo của bộ ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa ngày 19/01/1974 thì Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đưa 4 tàu quân sự đương đầu với 11 chiến hạm của Trung Quốc.

Thoạt đầu, hải quân Việt Nam kêu gọi tàu Trung Quốc rút khỏi hải phận của Việt Nam. Với một lực lượng đông gấp ba lần, Trung Quốc cho đổ quân lên các đảo Cam Tuyền, Quang Hòa và Duy Mộng và liên tục khiêu khích quay mũi tàu đâm vào chiến đỉnh Việt Nam.

Sáng ngày 19/01/1974, một hộ tống hạm của Trung Quốc loại Kronstadt bắn vào khu trục hạm Trần Khánh Dư mang số HQ-04. Để tự vệ, các chiến hạm Việt Nam phản pháo gây hư hại cho hộ tống hạm Trung Quốc. Cuộc giao tranh tiếp diễn gây thiệt hại cho cả đôi bên.

Tuyên cáo của bộ ngoại giao chính quyền Việt Nam Cộng hòa so sánh hành động xâm phạm này của Bắc Kinh với những vụ thôn tín Tây Tạng, tấn công Ấn Độ và xâm chiếm Triều Tiên đe dọa hòa bình Đông Nam Á và thế giới.

Còn theo hồi ký « Can trường trong chiến bại » của phó đô đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, tư lệnh vùng I duyên hải thì diễn biến tại mặt trận có hơi khác một chút.

Đích thân Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh bằng giấy trắng mực đen với tư lệnh hải quân vùng I của miền Nam Việt Nam « bằng mọi cách » không để một tấc đất của tổ tiên mất vào tay giặc.

Giai đoạn đầu, chỉ huy chiến trường là đại tá Hà Văn Ngạc kêu gọi Trung Quốc rời khỏi hải phận Việt Nam nhưng hải quân Bắc phương vẫn tiếp tục áp sát vào đội hình của phía Việt Nam. Trong thế yếu, đánh thì chắc chắn là thua mà không đánh không được, vị chỉ huy Việt Nam đã quyết định ra tay trước bắn vào đài chỉ huy của soái hạm Trung Quốc. Trong trận đánh chớp nhoáng và không cân xứng này, hộ tống hạm Nhật Tảo bị đánh đắm, hạm trưởng là Hải quân Thiếu tá Ngụy Văn Thà tử trận. Tổng cộng 58 quân nhân, gồm thủy thủ và lực lượng Biệt hải hy sinh tại Hoàng Sa.

Nhân kỷ niệm 37 năm trận Hoàng sa, mời quý thính giả nghe lại lời kể của một người lính biển xạ thủ trọng pháo Vương Văn Hà trên hộ tống hạm Nhật Tảo. Ông là pháo thủ bắn phát đạn đầu tiên vào đài chỉ huy của khu trục hạm Trung Quốc. Hiện ông định cư tại Paris. Bài phỏng vấn được phát lần đầu vào ngày 19/01/2010.

Kỷ niệm của xạ thủ Vương Văn Hà được ghi lại trong bài « Kẻ sống sót trong trận chiến Hoàng Sa » đăng trên tạp chí Lướt Sóng của Hội Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, California năm 2001.

Mất Hoàng Sa mất là bước đầu dẫn đến một mất mát to lớn khác : ngày 14/03/1988 Trung Quốc chiếm Trường Sa cũng qua một trận đánh không cân xứng. 74 chiến sĩ của Quân đội Việt Nam đã hy sinh (theo nguồn báo Nhân dân ngày 28/03/1988).

Kể từ đó đến nay, ngư dân Việt Nam thường bị biến thành mồi ngon cho các vụ bắn giết, hà hiếp, bắc cóc đòi tiền chuộc mạng tại vùng biển xanh ngàn đời của Việt Nam.

Wednesday, January 19, 2011

[Viết từ trong nước] Phan Thế Hải: Hạ Màn Đại Tiệc

Theo NguoiViet Boston
By HoangHac • Jan 19th, 2011 • Category: Tin Tức

animal_farmĐại Tiệc (party) ở Mỹ Đình đã hạ màn sau 10 ngày chí choé rôm rả ra trò. Những buổi tiệc chiêu đãi, những cuộc vận động hành lang đang thưa dần, nhường chỗ cho những người thắng cuộc tổ chức bán đấu giá xe phục vụ Đại Tiệc, quyết toán các khoản chi tiêu, chia chác thị phần, phân phối ghế. Tết đang phả hơi nóng sau lưng, nhưng Chủ tịch cũng ngẫm một chút về Đại Tiệc hầu bạn đọc.

Năm năm trước, hưởng ứng lời kêu gọi góp ý góp iếc này nọ, Chủ tịch đã cắm cổ hơn ngày trời làm hẳn một bài 9 trang A4, gồm 5 điểm, hoành tráng mang tên: “Gỡ nút cổ chai cho nền kinh tế tăng tốc và cất cánh” gửi Ban Văn Kiện của Đại hội Tiệc. Các báo chí nước ngoài thi nhau đưa tin, còn Tiệc ta thì bặt vô âm tín, coi như không thấy, không nghe, không có…

Vì lý do đó, Chủ tịch không mấy quan tâm đến Đại Tiệc lần này. Thế nhưng, mấy ông bạn Chủ tịch lại quá sốt sắng, thường xuyên gọi điện, hỏi thăm thông tin, thảo luận từng điểm nhỏ trong dự thảo, rồi chuyện nhân sự nhân siếc, ông nọ ông kia, ông nào trúng, ông nào trượt, cứ y mấy ông Hai Lúa thảo luận về chuyện giá cá tra ở thị trường Mỹ.

Về chuyện Cương lĩnh, quanh đi quẩn lại cũng chỉ vì cái gọi là Định hướng CNXH mà Tiệc tự nhốt cả dân tộc vào đó trong hơn nửa thế kỷ qua. Đau thương, bạo lực, đổ máu, tụt hậu cũng chỉ vì cái định hướng chết tiệt này. Từ khi buông lỏng cái định hướng đó năm 1986, đó cũng là cơ hội để dân tộc hồi sinh.

Chuyện công hữu về Tư liệu sản xuất, kinh tế quốc doanh chủ đạo cũng là chuyện loay hoay gần nửa thế kỷ qua. Không mới, không thiếu dẫn chứng, không thiếu đau thương, vẫn cố gắng bấu víu, luyến tiếc, mỵ dân. Giải mã hiện tượng này, Chủ tịch đã có chuỗi bài:Nền chính trị ngoại tình”. Nay có nói thêm vài điều cũng không mới.

Chuyện nhân sự thực chất chỉ là sự giàn xếp giữa các phe phái, thế lực. Nhìn rộng hơn một chút, năm 1908, Từ Hy Thái hậu ngắc ngoải, biết không thể kéo dài được lâu, liền lập Phổ Nghi lên ngôi Hoàng đế. Mặc dù, lúc đó ông này mới 2 tuổi rưỡi. Ở một đất nước chiếm 1/5 dân số thế giới mà phải chọn một đứa trẻ lên ngôi Vua thì ở xứ ta, chuyện ông nọ hay ông kia ở ngôi Tổng có gì là lạ!

Mỗi khi còn có sự độc tôn lãnh đạo mà duy trì hệ thống chính trị theo kiểu cung đình, hậu phong kiến thì chuyện chức Tổng hay Vương cũng chỉ là sự sắp đặt, giàn xếp sao cho không xung đột với các nhóm lợi ích.

Nguyễn Trần Bạt nói với Chủ tịch: Đây là Đại hội của các thủ đoạn. Chủ tịch bảo: bác nói thế thẳng như ruột ngựa. Gọi là Festival có phải lịch lãm hơn không. Chiến lược không có gì để bàn, vì có bàn thì cũng chỉ loay hoay trong cái hũ đó thôi. Khi chiến lược bị nhốt trong hũ kín thì đó là lúc mà thủ đoạn được dùng đến.

Những ai có ý tưởng thoát khỏi cái hũ đó, đương nhiên là không có cơ hội tham gia vào cơ cấu. Có một chuẩn mực được ngầm định rằng: Phải vâng lời, phải kiên định, phải trung thành với cái chủ nghĩa mà Tiệc ta trót lựa chọn từ thời còn nông nổi. Cả một dân tộc 86 triệu dân đang sống trong thời đại Internet băng thông rộng và một thế giới phẳng lại phải kiên định với cái gọi là “Luận cương năm 1930” do một thanh niên mới 26 tuổi, nông nổi bốc đồng viết ra một cách vội vàng.

Nguyên Chủ tịch QH An Nguyễn Văn, trước Đại Tiệc, trả lời phỏng vấn VietNamNet, ông nói: “Việt Nam đang mắc lỗi hệ thống. Quyền lực nhà nước được phân làm ba nhánh song lại thống nhất ở nơi Đảng. Vậy Đảng trở thành ông vua tập thể. Như thế không phải dân chủ nữa mà là Đảng chủ. Vậy Đảng là ông vua rồi còn gì.

Đó là cái sai từ gốc của hệ thống gây nên cái lỗi của hệ thống quyền lực theo mô hình cộng hòa Xô Viết. Thông lệ quốc tế không có vậy, và cần phải được khắc phục theo quy luật phổ quát là phân chia ba nhánh quyền lực một cách rạch ròi thống nhất theo hiến pháp và pháp luật tức là thống nhất ở nơi dân”

Trong một nền kinh tế tri thức, khi mà sự sáng tạo được coi là động lực phát triển của xã hội thì Tiệc ta lại tôn thờ sự kiên định, định hướng vào một khái niệm mông lung, để rồi năm năm một lần, hội họp tranh cãi chí choé về những cái mông lung ấy. Một trong những luận điểm mà Tiệc ta hay dùng để mỵ dân là sự minh bạch. Vậy đố ai biết, Đại Tiệc này đã chi hết bao nhiêu tiền?

Phan Thế Hải
Blog Phan Thế Hải

—————————————-

Ông Nguyễn Phú Trọng đã đắc cử Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng khoá XI. 5 người được bầu mới vào Bộ Chính trị bao gồm: Ngô Văn Dụ, Đinh Thế Huynh, Tòng Thị Phóng, Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Phúc.

Tại lễ bế mạc Đại hội Đảng XI sáng nay (19/1), ông Trương Tấn Sang đã công bố kết quả bầu cử Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI tại kỳ họp thứ nhất.

Theo đó, Bộ Chính trị khóa XI gồm 14 người:

1. Trương Tấn Sang, UVBCT khóa X, Thường trực Ban Bí thư

2. Phùng Quang Thanh, UVBCT khoá X, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

3. Nguyễn Tấn Dũng, UVBCT khoá X, Thủ tướng Chính phủ

4. Nguyễn Sinh Hùng, UVBCT khoá X, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ

5. Lê Hồng Anh, UVBCT khoá X, UVBCT khoá X, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an

6. Lê Thanh Hải, UVBCT khoá X, Bí thư Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh

7. Tô Huy Rứa, UVBCT khoá X, BTTWĐ, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương

8. Nguyễn Phú Trọng, UVBCT khóa X, Chủ tịch Quốc hội

9. Phạm Quang Nghị, UVBCT khoá X, Bí thư Thành uỷ Hà Nội

10. Trần Đại Quang, UVTWĐ khoá X, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an

11. Tòng Thị Phóng, BTTWĐ khoá X, Phó Chủ tịch Quốc hội

12. Ngô Văn Dụ, BTTWĐ khoá X, Chánh Văn phòng Trung ương

13. Đinh Thế Huynh, UVTWĐ khoá X, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân

14. Nguyễn Xuân Phúc, UVTWĐ khoá X, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ

Ông Nguyễn Phú Trọng được bầu làm Tổng Bí thư khoá XI.

Bốn người được bầu vào Ban Bí thư khoá XI gồm: Ngô Xuân Lịch, Trương Hòa Bình, Hà Thị Khiết, Nguyễn Thị Kim Ngân.

UB Kiểm tra Trung ương khoá XI gồm 21 người do ông Ngô Văn Dụ làm Chủ nhiệm.

Đảng Cộng sản Việt Nam công bố danh sách Ban Chấp hành Trung ương khóa XI

Theo RFI
Đảng Cộng sản Việt Nam công bố danh sách Ban Chấp hành Trung ương khóa XI
Ông Nguyễn Tấn Dũng (giữa) trước lúc bỏ phiếu bầu BCH TW khóa XI, ngày 17/01/2011
Ông Nguyễn Tấn Dũng (giữa) trước lúc bỏ phiếu bầu BCH TW khóa XI, ngày 17/01/2011
Reuters
Đức Tâm

Hôm nay, 18/01/2011, Đại hội toàn quốc đảng Cộng sản Việt Nam công bố danh sách 175 ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương khóa XI và 25 ủy viên dự khuyết. So với những dự báo ban đầu thì không có những thay đổi lớn. Tuyệt đại đa số những vị trúng cử đều nằm trong danh sách giới thiệu của Ban chấp hành Trung ương khóa X.

Trong số 15 thành viên Bộ Chính trị khóa trước, có 9 người tái đắc cử ủy viên Trung ương. Sự ra đi của các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Văn Chi, Trương Vĩnh Trọng nằm trong các dự báo của giới quan sát.

Trường hợp ông Hồ Đức Việt, người mà có lúc được cho là có khả năng lên làm tổng bí thư, hầu như đã được định đoạt sau Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương 14.

Nếu tính theo tuổi thì sự ra đi của bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm, 67 tuổi, là bình thường và bác bỏ nguồn tin trước Đại hội là ông Khiêm sẽ ở lại.

Bộ Ngoại giao có thêm hai thứ trưởng là ủy viên Trung ương. Theo một số nguồn tin thì có thể phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đảm nhiệm chức bộ trưởng Ngoại giao.

Nhìn vào thành phần chính phủ hiện nay, có tới 11 vị ngoài 60 tuổi, không nằm trong danh sách Ban Chấp hành Trung ương khóa này.

Một chi tiết thú vị là những bộ trưởng có những tuyên bố hùng hồn về dự án bauxite Tây Nguyên – ông Phạm Khôi Nguyên, hay đường sắt cao tốc – ông Hồ Nghĩa Dũng – đều nghỉ hưu.

Giới quan sát cũng chú ý đến một số gương mặt mới đã từng là chủ đề của nhiều tranh luận, đồn thổi. Tướng Nguyễn Chí Vịnh trúng cử ủy viên Trung ương và bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh tái đắc cử. Do tầm quan trọng của bộ Quốc phòng, ông Vịnh chỉ có thể trở thành bộ trưởng nếu như là ủy viên Bộ Chính trị. Một số nhà phân tích không loại trừ khả năng có sự thay đổi giữa nhiệm kỳ.

Ông Nông Quốc Tuấn, con trai tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã giành được chiếc ghế ủy viên Trung ương, trong lúc ông Nguyễn Thanh Nghị, hiệu phó trường Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh được bầu làm ủy viên dự khuyết.

Trong ngày hôm nay, 18/01, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI sẽ bầu 17 ủy viên Bộ Chính trị và tổng bí thư mới. Xin nhắc lại là trước Đại hội XI, theo nhiều nguồn tin thì ông Nguyễn Phú Trọng, hiện là chủ tịch Quốc hội sẽ trở thành tổng bí thư, ông Trương Tấn Sang giữ chức chủ tịch nước và ông Nguyễn Tấn Dũng tiếp tục làm thủ tướng.

Monday, January 17, 2011

Nếu tôi là Tổng bí thư

Nhân vào blog Nguyễn Hữu Quý đọc được bài tho :”Nếu tôi được bầu Tổng bí thư” tự nhiên cảm hứng làm bài thơ họa:

Nếu tôi là Tổng bí thư

Nếu tôi là Tổng bí thư
Tôi sẽ làm Việt Nam thay da đổi thịt
Người dân sẽ được tự tay cầm lá phiếu
Để bầu cho đại diện của mình

Nếu tôi là Tổng bí thư
Tôi cũng sẽ noi gương Gớc Ba Chốp
Để đất nước được đa nguyên đa đảng
Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng sẽ phải vươn mình

Nếu tôi là Tổng bí thư
Tôi sẽ phải để nhân dân bầu chọn
Nếu nhân dân không còn tín nhiệm
Tôi sẵn sàng sẽ tự rút lui

Nếu tôi là Tổng bí thư
Đảng Cộng Sản sẽ đổi thay toàn diện
Kẻ bất tài sẽ về nhà…đuổi vịt
Đất nước rồi sẽ được thăng hoa…

Ôi! Nếu tôi là Tổng bí thư…

Phi Vũ

Bộ Trưởng Quốc Phòng Gates thắng lớn khi sang Trung Quốc

Truyền thống của Trung Hoa thường hay phô trương sức mạnh khi đón tiếp sứ thần nước ngoài, không ngờ lần này bị Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Robert Gates dùng “gậy ông đập lưng ông” đem lại thiệt hại đáng kể về ngoại giao.

Bộ trưởng Quốc phòng HK, Robert Gates. Ảnh: thirdage.com

Vào tuần lể trước cuộc viếng thăm của ông Gates các trang mạng Hoa Lục tung ra ảnh chụp của mẫu phi cơ khó bị phát hiện (stealth) J-20 như một lời cảnh báo không chính thức rằng Trung Quốc có khả năng chế tạo các loại vũ khí tối tân nhất không thua gì Hoa Kỳ.

Vài giờ trước khi Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates gặp Chủ Tịch Nhà Nước Hồ Cẩm Đào các trang mạng lạI tung ra đoạn phim của chiếc J-20 bay thử nghiệm để chứng tỏ ngành kỹ thuật này của Hoa Lục đã trưởng thành hơn nhiều dự đoán của Tây Phương.

Khi ông Gates nêu lên mối quan tâm của Mỹ về việc thử máy bay thì Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào tỏ vẻ ngạc nhiên – không biết là giả đò hay bị bất ngờ thật sự – lúng túng một lúc rồi mới trấn an rằng việc bay thử hoàn toàn ngẫu nhiên chớ không phải được chuẩn bị trước như một cử chỉ thách đố với vị Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ.

Sau buổi họp và khi đến Nhật Bản, Bộ Trưởng Gates đưa ra vấn đề là liệu giới cầm quyền dân sự Bắc Kinh có hoàn toàn kiểm soát được thành phần quân đội tại Trung Quốc hay không? Cách ứng xử tuy nhẹ nhàng và ngoại giao nhưng lại hết sức nghiêm khắc vì Hoa Lục trong tư thế cường quốc hàng đầu không thể bị thế giới đánh giá có chính sách ngoại giao và quân sự bất nhất – hơn nữa trong hoàn cảnh các thử thách phiêu lưu của Bình Nhưỡng, một đàn em của Bắc Kinh hiện đang đe doạ đưa bán đảo Triều Tiên vào chiến tranh.

Vì những quyền lợi kinh tế và chính trị nên Hoa Kỳ và Nhật Bản đã không thể ra mặt liên minh quân sự đối đầu với Trung Quốc, nhưng giờ đây Bộ Trưởng Gates đã có thể kêu gọi sự hợp tác của hai nước để đối phó với những “bất ngờ” trong khu vực. Bước kế tiếp là Mỹ sẽ tạo cơ hội cho hai nước Nam Hàn và Nhật Bản bỏ qua các hiềm khích trong quá khứ để hợp tác phòng thủ khu vực Đông Bắc Á.

Theo tin tức cho biết ông Dương Thiết Trì sẽ mất chức Ngoại Trưởng vì bị “phục kích” tại Hà Nội vào tháng 07-2010 khi Ngoại Trưởng Hillary Clinton và các nước ASEAN xác định lợI ích của Hoa Kỳ và thế giới tại khu vực tranh chấp biển Đông. Không biết Bộ Quốc Phòng Trung Quốc lần này có sẽ thay đổi nhân sự hay không vì thất bại không nhỏ vừa qua.

Ông Robert Gates là một trong các nhà lãnh đạo nhiều kinh nghiệm và hiệu quả nhất của Hoa Kỳ, và ông đã thắng lợi trên mặt ngoại giao cho dù đang nắm giữ chức Bộ Trưởng Quốc Phòng.

© Đoàn Hưng Quốc

© Đàn Chim Việt


Sunday, January 16, 2011

TRẢ LẠI NHỮNG GÌ …CỦA LỊCH SỬ CHO LỊCH SỬ

Theo Việt Thức

Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay trải qua hàng ngàn năm đô hộ của giặc Tàu, gần một trăm năm nô lệ giặc Tây và hơn nửa thế kỷ nô dịch văn hóa ngoại lai. Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc bành trướng với ưu thế của kẻ thắng trận và thủ đoạn thâm độc quỉ quyệt đã không những dùng mọi phương cách để đồng hóa Việt tộc bằng cách xóa đi mọi dấu vết cội nguồn, bóp méo sửa đổi lịch sử khiến thế hệ sau chỉ biết tìm về lịch sử trong một mớ “chính sử” hỗn độn mơ hồ. Mỗi một triều đại Hán tộc đều chủ tâm thay đổi địa danh, thủy danh xưa cũ của Việt tộc cùng với ảnh hưởng nặng nề của một ngàn năm đô hộ của sự nô dịch văn hóa khiến ta chấp nhận tất cả như một sự thật mà không một chút bận tâm. Thế nhưng… Lịch sử vẫn là lịch sử của sự thật dù bị sửa đổi vùi lấp hàng nghìn năm dưới ánh sáng của chân lý khách quan trước thềm thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại. Sự thật lịch sử này làm đảo lộn mọi nhận thức từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. đến nỗi mà một sử gia thời danh J Needham người có công phục hồi sự thật lịch sử bị che giấu hàng ngàn năm, làm đảo lộn mọi sử sách xưa nay đã phải thốt lên: “Sự thật bị che phủ hàng ngàn năm cùng với ảnh hưởng của ngàn năm thống trị nô dịch văn hóa khiến ngay cả người Việt cũng ngỡ ngàng, không tin đó là sự thật .!!!”.(1)

Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải nhìn lại toàn bộ lịch sử để phục hồi sự thật của lịch sử để xóa tan đám mây mờ che lấp suốt mấy ngàn năm lịch sử bởi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.. Trong lịch sử nhân loại, có lẽ không một dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm lịch sử, những khốn khó thương đau. Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đã bị Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục đã đánh đuổi Việt tộc phải rời bỏ địa bàn Trung nguyên Trung quốc xuống phương Nam để rồi trụ lại địa bàn Việt Nam bây giờ. Trải qua gần một ngàn năm đô hộ, với chiến thắng Bạch Đằng Giang năm 938 của Ngô Quyền mới chính thức mở ra thời kỳ độc lập của Việt tộc. Tuy thất bại về quân sự nhưng nền văn hóa của Việt tộc đã thẩm nhập vào đất nước và con người Hán tộc để hình thành cái gọi là văn minh Trung Quốc. Chính sử gia chính thống của Hán tộc là Tư Mã Thiên đã phải thừa nhận một sự thực là “ Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi đã có đại công đức với muôn dân vậy ..!”.

Trước đây, Hán tộc vẫn tự hào cho rằng Tứ Thư Ngũ Kinh là của Hán tộc. Thế nhưng, những công trình nghiên cứu đã phục hồi một sự thật lich sử, Tứ Thư Ngũ Kinh không phải của Hán tộc mà chính là của Việt tộc. Sách Trang Tử kể chuyện Khổng Tử gặp Lão Tử. Khổng Tử nói: “ Khâu này chỉ khảo cứu sâu 6 kinh là Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu”. Như vậy thời Khổng Tử Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu đã có từ lâu và được gọi là “Kinh”. Chính bộ “Trung Quốc Văn học Sử” do “Bắc Kinh đại học, Trung văn hệ” biên soạn viết rõ ràng là “Tên gọi Thi Kinh là do Hán Nho thêm vào”. Sử gia chính thống Hán tộc Tư Mã Thiên viết “ Xưa kia, Thi vốn có hơn 3 ngàn bài, đến Khổng Tử chỉ lấy 305 bài hợp với việc thực thi lễ nghĩa, đều phổ nhạc, cố tìm âm hợp với nhạc Thiều, Vũ, Nhã, Tụng”.

Cổ văn Thượng Thư do Lỗ Cung Công con của Lỗ Cảnh Đế tìm thấy khi phá ngôi nhà cũ của Khổng Tử để xây cất lại lớn hơn. Trong bức vách nhà có những sách cổ thời Ngu, Hạ, Thương, Chu … Luận Ngữ, Hiếu Kinh đều viết bằng chữ cổ gọi là Khoa Đẩu tự hình con nòng nọc. Sách Hán Thư, Thiên văn Nghệ chí chép “Cổ văn Thượng Thư được tìm thấy trong vách tường nhà Khổng Tử. Khổng An Quốc, hậu duệ của Khổng Tử trước đây đã biết bộ sách này có 29 thiên do Phục Sinh truyền, chưa kể Thái Thệ còn thừa ra 16 thiên, tính ra 45 quyển, 58 thiên không kể bài tựa …, nay lại được thêm 16 quyển”. Như vậy, rõ ràng là Ngũ Kinh có trước thời Khổng Tử và được viết bằng lối chữ “Khoa Đẩu” là lối chữ viết theo hình dáng của con nòng nọc của Việt tộc thời xa xưa. Lối chữ “Nòng Nọc” của người Việt cổ cùng với nền văn hóa Hòa Bình đã lan truyền khắp Trung Đông, góp phần tạo nên những nền văn minh …

Chính“Vạn thế Sư biểu” Khổng Tử là người thầy muôn đời của Hán tộc cũng đã phải đem những nghiên cứu, sưu tập, học hỏi của nền văn minh Bách Việt phương Nam đặt để thành những quy luật, trật tự cho xã hội phương Bắc. Tất cả những “Tứ thư, ngũ kinh” được xem như tinh hoa của Hán tộc đã được chính Khổng Tử xác nhận là ông chỉ kể lại “Thuật nhi bất tác”, sao chép lại của tiền nhân chứ không phải do ông sáng tác ra. Vạn thế sư biểu của Hán tộc là Khổng Tử đã ca tụng nền văn minh rực rỡ, xác nhận tính ưu việt của nền văn minh Bách Việt ở phương Nam. Trong sách Trung Dung Khổng Tử đã viết như sau: “Độ luợng bao dung, khoan hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ở đấy ..! Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo ở đó…”. Trong kinh “Xuân Thu”, Khổng Tử đã ghi lại bao nhiêu trường hợp cha giết con, con giết cha, cha cướp vợ của con, con cướp vợ của cha, anh chị em dâm loạn với nhau, bề tôi giết chúa … Điều này chứng tỏ Hán tộc du mục vẫn còn dã man với lối sống du mục.ngay trong giới quí tộc chứ đừng nói đến bình dân. Thế mà chính sử Trung Quốc cứ vẫn sao chép Việt tộc là man di, các Thứ sử Thái Thú Hán vẫn lên mặt giáo hóa dân Việt trong khi Bách Việt ở phương Nam đã đi vào nền nếp của văn minh nông nghiệp từ lâu.

THẾ NHƯNG SỰ THẬT LỊCH SỬ ĐÃ ĐƯỢC PHỤC HỒI khi giới nghiên cứu đều xác nhận hầu hết các phát minh gọi là văn minh Trung Quốc từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh kim loại, kỹ thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu thủy tinh, cách làm thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút … tất cả đều là của nền văn minh Bách Việt. Chính một vị vua của Hán tộc, Hán Hiến Đế đã phải thừa nhận: “Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất ..!”.

Ngày nay, hầu hết các học giả, các nhà Trung Hoa học trên toàn thế giới đều cho rằng văn hoá Trung Quốc phát nguyên từ văn hóa Việt ở miền Nam Trung Quốc. Các sử gia Trung Quốc thời trước cố tình không thừa nhận một sự thực, đó là sự đóng góp to lớn của cư dân Hoa Nam tức người Việt cổ trong việc hình thành tạo dựng nền văn minh Trung Hoa. Học giả Eicks Kedt nhận định rằng “Tư Mã Thiên, sử gia chính thống của “Đại Hán” sinh ở Long Môn thuộc Sơn Tây nên nhất quyết từ chối không để lại bất kỳ một tài liệu gì về dân Mạn Nam. Hầu như tất cả người Tàu mạn Bắc đều như vậy. Eicks Kedt tiếc rằng những học giả Âu Tây chỉ biết ngốn nghiến sử liệu của Tư Mã Thiên hay những sử gia khác mà không chú ý đến việc bẻ quặt do sự bỏ sót nhiều sự kiện, nhất là khi nói đến các dân Man Di ngoài Hán tộc. Lý do của sự bỏ sót đó là họ đã xem Nho giáo xuyên qua lăng kính nhuộm đẫm màu Hán tộc nên chỉ nhìn nhận để có những gì thuộc miền Bắc nước Tàu mà thôi”.

Một nhà nghiên cứu về Trung Quốc khác là Terrien de la Couperie trong tác phẩmWestern Origin of the Early Chinese Civilisation/ Những ngôn ngữ trước Hán đã nhận định: “Người Hán ngại nhìn nhận sự có mặt của những cư dân không phải là Hán tộc sống độc lập ngay giữa miền họ cai trị. Tuy họ không thể giấu được sự kiện là họ đã xâm lăng, nhưng họ đã quen dùng những danh từ đao to búa lớn, những tên địa dư rộng để bịt mắt những độc giả không chú ý, hầu che đậy buổi sơ khai tương đối bé nhỏ của họ. Muốn tìm hiểu các cư dân đó thì chỉ còn cách là đi dò tìm vết tích còn quá ít vì cho tới nay, người ta ít chú ý tới sự quan trọng lịch sử của các chủng tộc tiền Hán trừ một hai chuyện gây sự tò mò mà thôi”. Terrien de la Couperie kết luận: “Niềm tin là Trung Quốc vốn lớn lao mãi từ xưa và thường xuyên là như thế chỉ là một huyền thoại. Trái ngược lại, đó là việc mới xảy ra về sau này. Văn minh Trung quốc không phải tự nó sinh ra mà chính là kết quả của sự thâu hoá. Việc thâu hoá thì ngày nay được nhiều người công nhận, còn thâu hoá từ đâu thì trước đây cho là từ phía Tây nhưng về sau này, nhiều người cho là từ văn hoá Đông Nam …”

Học giả Andreas Lommel trong tác phẩm “Tiền sử” (Prehistoric) đã nhận định cái gọi là nền văn hoá Trung Hoa do 8 nền văn hoá khác hợp lại mà thành:(2)

1. Nền văn hoá Tung-Xích từ Đông Bắc đến, tập trung ở Hà Bắc (Hopei) và Sơn Đông (Shangtung). Tộc người này trước chuyên về săn bắn sau chuyển sang chăn nuôi, đặc biệt là nuôi heo.

2. Nền văn hoá Mông Cổ của tộc người chuyên săn bắn sống đời du mục. Nền văn hoá này tập trung nhiều nhất ở Sơn Tây và Nội Mông.

3. Nền văn hoá Thổ (Turkish) của tộc người chuyên sống đời du mục, săn bắn và trồng lúa Tắc( Millet), họ đã thuần hoá ngựa khoảng 2.500 năm TDL. Theo ông thì nền văn hoá này góp phần lớn cho sự hình thành nền văn hoá Hán và Hán tộc sau này.

4. Nền văn hoá Tây Tạng (Tibetan) của tộc người chuyên về chăn nuôi dê cừu, phần lớn tập trung tại miền núi của các tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc và Tứ Xuyên.

Còn lại 4 nền văn hoá gọi chung là văn hoá phương Nam bao gồm nhiều chủng tộc như tộc người Nhao chuyên về săn bắn, tộc người Dao vừa săn bắn vừa hái lượm và một tộc người chuyên về nghề trồng lúa nước mà theo Lommel cho là tổ tiên của người Thái, người Miến (Shan) và người Lào sau này thành lập các quốc gia Thái Lan, Miến Điện và Ai Lao. Lommel cũng cho rằng tổ tiên của người Việt sau này là do người Thái và người Dao hợp thành ..! Theo Lommel thì “Phương Nam có nền văn hoá nông nghiệp mạnh mà Thái là tộc người tiêu biểu. Chính tộc người này trở nên thành phần quan trọng nhất tại Trung Quốc”. Theo ông có 2 tộc người, một từ Tây Bắc là tộc Thổ (Turc) giỏi về chiến tranh, biết thuần hoá ngựa và thiên về săn bắn và một tộc người từ phương Nam giỏi về canh nông. Đây là 2 tộc người chính tạo nên nước Trung Quốc ngày nay mà tộc người Tây Bắc là chính yếu”.

Nhận định trên của Lommel tuy có phần chính xác nhưng còn nhiều phiến diện sai lầm. Thực ra, cư dân gốc Thổ Turc hợp củng với Mongoloid tạo thành Hán tộc còn cư dân phương Nam chính là Bách Việt bị Hán tộc thống trị và nên văn hoá phương Nam chính là nền văn hoá của Bách Việt ở phương Nam kể cả nên văn hoá mà Lommel nói là Tung Xích thực ra của chi Lạc bộ Trãi mà thư tịch cổ Trung quốc gọi là “Rợ Đông Di” cũng chính là nền văn hoá của Bách Việt. Tộc người mà Lommel gọi là tộc Thái chính là chi Âu Việt trong Bách Việt, tên Thái chỉ mới có sau này mà thôi, sau khi thiên cư xuống phương Nam.

Trong tác phẩm vĩ đại Science and Civilization in China, nhà sử học lừng danh Joseph Needham đã nhận định rằng nền văn hoá Trung Hoa được hình thành nhờ 6 nền văn hoá cổ đại:

Thứ nhất là nền văn hoá Tung Gu Xích phương Bắc ảnh hưởng đến lối sống của người Ngưỡng Thiều và Long Sơn.

Thứ hai là nền văn hoá du mục của người Thổ từ Tây Bắc đến.

Thứ ba là nền văn hoá Proto-Tibetan tức cổ Tạng đến từ phương Tây.

Thứ tư, năm và sáu là từ phương Nam và Đông Nam lên.

Theo học giả J.Needham thì Protoviets đã mang theo 25 đặc trưng văn hoá lên địa bàn cư trú mới.

Điểm quan trọng được nhấn mạnh ở đây là khác với Lommel, J. Needham khẳng định rằng: “ 3 nếp sống văn hoá này đem vào Trung Hoa thời Tiền sử mang yếu tố “Biển” rõ rệt và có thể mô tả bằng một chữ, đó là chữ “VIỆT” mà trước kia thường gọi sai lầm là Thái cổ (ProtoThai)”. Học giả lừng danh này còn chú thích rõ chữ Việt nay là quốc hiệu của một nước vùng Đông Nam châu Á: Nước Việt Nam ngày nay.

Tóm lại, người Trung Quốc mà ta thường gọi là Tàu (Hán tộc) không phải là một chủng thuần tuý và cũng không có một văn hoá riêng biệt nào. Lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ triều đại Thương là một tộc người du mục kết quả của sự phối hợp chủng giữa Nhục Chi và Huns (Mông cổ). Kế tiếp là triều Chu cũng là một tộc du mục có hai dòng máu Mông Cổ và Hồi (Turc). Sau khi Mông Cổ chiếm được Trung Quốc đã thành lập triều Nguyên rồi khi Mãn Châu diệt triều Minh lại thành lập triều Thanh trong lịch sử Trung Quốc. Có thể nói lịch sử Trung Quốc là lịch sử của sự xâm lăng và bành trướng đồng thời cũng bị xâm lăng nhưng tất cả kẻ chiến thắng bị sức mạnh của văn hoá của dân bị trị khuất phục để rồi tự đồng hoá với cư dân bản địa cuối cùng trở thành Hán tộc mà ta thường gọi là người Tàu. Văn hóa của cư dân bị trị đây là văn hóa Bách Việt. Giáo sư Wolfram Eberhard trong tác phẩm “Lịch sử Trung Quốc” đã nhận định: “Ý kiến cho rằng chủng tộc Hán đã sản sinh ra nền văn minh cao đại hoàn tự lực do những tài năng đặc biệt của họ thì nay đã không thể đứng vững, mà nó phải chịu cùng một số phận như những thuyết cho rằng họ đã thâu nhận của Âu Tây. Hiện nay, người ta biết rằng xưa kia không có một chủng tộc Tàu, cũng chẳng có đến cả người Tàu nữa, y như trước đây 2.000 năm không có người Pháp, người Suisse vậy. Người Tàu chỉ là sản phẩm của sự pha trộn dần theo một nền văn hoá cao hơn mà thôi”.

Chính sử gia Trung quốc, Chu Cốc Thành trong “Trung Quốc Thông sử” viết: “Viêm tộc (Việt tộc) đã có mặt khắp nước Trung Hoa cổ đại trước khi các dòng tộc khác tràn vào nên có thể xem là chủ nhân đầu tiên. Khi Viêm Việt đã định cư, Hán tộc còn sống du mục tại vùng Tân Cương, Thanh Hải. Về sau họ theo Hoàng Hà tràn vào Hoa Bắc, chiếm đất của Việt tộc”. Nhà nghiên cứu La Hướng Lâm người Trung Quốc trích dẫn “Việt tỉnh Dân tộc Khảo nguyên” của Chung Độc Phật cho biết “Cả miền đất châu Kinh (đất nước Sở), châu Dương (đất nước Việt) và châu Lương (đất nước Quì Việt) nghĩa là tất cả lưu vực sông Dương Tử từ Vạn Huyện ở Tứ Xuyên trở xuống đều là giống người Việt ở cả. Sách Hoa Dương Quốc chí chép miền Nam Trung gồm Quí Châu, Vân Nam là đất Di Việt xưa. Vùng đất này gồm hơn 1 chục vương quốc như Điền Bộc, Cú Đinh, Dạ Lang, Diệp Du, Đồng Sư, Việt Tuỷ …”.

Sự thực lịch sử này đã được thư tịch cổ và khoa khảo Tiền sử xác nhận là Việt tộc theo sông Dương Tử tiến về phía Đông thành lập 7 tỉnh lưu vực sông Dương Tử gồm Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, An Huy và Triết Giang. Dần dần Việt tộc tiến lên Hoa Bắc thành lập 6 tỉnh lưu vực Hoàng Hà là Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Đông, Thiểm Tây, Cam Túc và phía Nam thành lập các tỉnh lưu vực Việt Giang gồm Vân Nam, Quí Châu, Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến.

Ngày nay, các nhà nghiên cứu như VK Tinh, Wang Kwo Wu và cả nhà văn nổi tiếng Quách Mạt Nhược đều xác định là hầu hết các huyền thoại về các vị Vua cổ xưa nhất không thấy ghi trên giáp cốt đời Thương, mà chỉ ghi vào sách vở về sau này, khoảng từ thế kỷ thứ IV TDL, tức là thời kỳ xuất hiện các quốc gia Bách Việt thời Xuân Thu Chiến quốc. Thực tế lịch sử này cho thấy những huyền thoại cổ xưa là của Việt tộc vì nếu là tổ tiên Hán tộc thì đã phải ghi trên giáp cốt đời Thương cũng như trong các sử sách, cốt tự văn hoặc chữ tạc trên đồ dùng. Chính vì vậy mà nhóm Tân học gọi là Nghi cổ phái thành lập năm 1920 do Quách Mạt Nhược chủ xướng đã bác bỏ thời Tam Hoàng, Ngũ Đế là của Trung Quốc. Thật vậy, huyền thoại về thủy tổ Bàn Cổ mới được nói đến trong quyển “Tam Hoàng”, kể cả Phục Hi, Nữ Oa cũng không hề được nhắc tới trong các sách cổ xưa như Kinh Thi, Trúc thư kỷ niên và cũng không hề thấy xuất hiện trong đồ đồng hoặc bốc từ. Viêm Đế Thần Nông mới được Mạnh Tử thời Xuân Thu Chiến quốc nhắc tới còn Hoàng Đế chỉ biết tới vào thế kỷ thứ III TDL khi Tư Mã Thiên đưa vào bộ “Sử ký” của Tư Mã Thiên.

Tháng 2-1971, các nhà khảo cổ tìm được ở Liu-ch’êng-ch’iao Trường Sa thuộc vùng Hồ Nam một “Cái Qua” còn nguyên vẹn. Trong tác phẩm “Cultural Frontiers in Ancient East Asia” của William Watson viết về những đồ vật đào lên tại tỉnh Hồ Nam trong đó có một cái qua có khắc tên một vị vua tên là Nhược Ngao. Sử Ký Tư Mã Thiên và Xuân Thu Tả Truyện viết rõ là vị vua có hiệu là Nhược Ngao là vị vua Hùng thứ 14 tên thật là Hùng Nghi hiệu Nhược Ngao cai trị vào năm 789 trước Tây Lịch. Điều này chứng tỏ thời đại Hùng Vương là có thật trong lịch sử.

Trước những sự thật của lịch sử, Trung Quốc đã phải xác nhận là nền văn hoá của họ là do hàng trăm dân tộc góp phần tạo dựng nhưng văn hoá Hán ở vùng Tây Bắc là chủ thể. Thế nhưng chính học giả Trung Quốc Wang Kuo Wei lại cho rằng nơi phát nguyên văn hoá Tàu là ở miền Đông Bắc tức vùng Sơn Đông của Lạc bộ Trãi chứ không phải ở miền Tây Bắc (Thiểm tây) như quan niệm sai lầm từ trước đến nay. Sử Trung quốc vẫn cho rằng 3 triều đại Hạ, Thương, Chu là những triều đại đầu tiên của Trung Quốc theo thứ tự, nhưng Kwang Chih Chang khám phá ra thì không phải là như vậy mà đó chỉ là 3 trong nhiều nhóm chính trị đại diện cho các chủng tộc đối nghịch tranh giành ảnh hưởng mà thôi, còn văn hoá thì đều theo như Di Việt nghĩa là cũng thờ thổ thần và cây linh.

Theo Công trình mới nhất “Nguồn gốc nền văn minh Trung Hoa”, tổng kết trong Hội nghị Quốc tế các nhà Trung Hoa học trên toàn thế giới tổ chức tại Berkeley năm 1978, thì “ Không thể tìm ra đủ dấu vết chứng cớ để phân biệt giữa Hán tộc và các tộc người không phải là Tàu trên phương diện lịch sử. Giới nghiên cứu phải tìm về dấu tích văn hoá mà về văn hoá thì Hán tộc chịu ảnh hưởng của Di Việt”. Tương truyền Thần Nông phát xuất ở miền Tây Tạng (Tibet) đi vào Trung Nguyên qua ngã Tứ Xuyên tới định cư ở Hồ Bắc bên bờ sông Dương Tử, còn theo dân gian thì ông Bàn cổ chính là ông Bành tổ. Theo dân gian truyền tụng thì mồ mả của ông còn ở đâu đó miền rừng núi Ngũ Lĩnh. Bàn cổ mới được đưa vào lịch sử Trung Quốc đời Tam Quốc trong quyển “Tam Ngũ lược Kỷ” của Từ Chỉnh và theo Kim Định thì Phục Hi, Nữ Oa đều xuất thân từ Di Việt ở châu Từ miền Nam sông Hoài.

Việt tộc là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước đã cư ngụ rải rác khắp Trung nguyên (lãnh thổ Trung Cộng bây giờ) từ lâu trước khi Hán tộc du mục từ Tây Bắc tràn xuống đánh đuổi nhà Hạ của Việt tộc để thành lập triều Thương đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Tư Mã Thiên sử gia “Đại Hán” đã mạo nhận Hoàng Đế nguyên là vị thần được dân gian tôn kính là tổ tiên của Hán tộc (Tàu) nên xem nhà Hạ là của Tàu. Thế rồi họ thêm chữ Hoa là một hình dung từ chỉ sự cao sang vinh hiển để trước chữ Hạ để chỉ nền văn minh Hoa Hạ cao đẹp của Việt tộc là của họ. Bản chất của đế quốc “Đại Hán” là xâm lược và bành trướng suốt dòng lịch sử nên hết triều Thương rồi đến Chu, Tần, Hán đã liên tiếp xâm lược đẩy lùi Việt tộc xuống phương Nam. Năm 939 chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử mở đầu thời kỳ độc lập của dân tộc. Hán tộc đã bao lần xâm lược nước ta nhưng đều thất bại thảm hại. Ngày nay, Trung Cộng lại xâm lấn lãnh thổ Việt Nam với sự tiếp tay của tập đoàn CS Việt gian bán nước, thế nhưng sau khi dẹp kẻ nội thù toàn dân Việt sẽ giáng cho đế quốc mới Trung Cộng bài học lịch sử để đời như bao lần thảm bại ê chề trong lịch sử.

Một sự thật lịch sữ mới được khoa học xác nhận đã làm đảo lộn những giả thuyết nhận định từ xưa tới nay về Nguồn gốc tộc Việt. Kết quả mới nhất thuyết phục nhất về phân tích cấu trúc di truyền DNA của Việt tộc đã xác định một lần nữa là Việt tộc là một đại chủng và hoàn toàn khác biệt với Hán tộc. Chúng ta cùng tìm về cội nguồn phát tích Việt tộc qua truyền thuyết, thư tịch Trung Quốc, Văn hoá Khảo cổ, Tiền Sử học và cuối cùng là mã di truyền DNA sau đây:

1. Niên đại của truyền thuyết về Thần Nông vào thiên niên kỷ thứ IV TDL hoàn toàn phù hợp với niên đại khảo cổ và kết quả đo chỉ số sọ của các nhà Khảo Tiền Sử về chủng Indonesian (Malaysian). Theo các nhà Tiền Sử học thì Malay-Viets tức Bách Việt đã định cư ở Trung Nguyên cách đây ít nhất là 6 ngàn năm. Công trình nghiên cứu sử học của học giả Shi Shi người Trung Quốc thì người U Việt (GU-YUE) đã làm chủ biển cả cách đây hơn 7 ngàn năm. Đặc biệt, Truyền thuyết kể lại rằng bố Lạc dẫn 50 con về “Thủy Phủ”, trước đây chúng ta cho là huyền hoặc thế nhưng địa danh thủy phủ đã được 2 học gỉa người Pháp là P Gouron và J Loubet tìm ra, đó chính là cảng Thành Đô, phủ Trùng Khánh tỉnh Tứ Xuyên được in trên bản đồ Atlas 1949. Sự thật lịch sử này đã được chính nguồn sách sử cổ Trung Hoa xác nhận khi chép về cộng đồng Bách Việt, đã chứng minh sự thật lịch sử của huyền thoại mà ta cứ tưởng là huyền hoặc hoang đường.

2. Mặt khác, chính thư tịch cổ Trung Quốc đã thừa nhận một thực tế lịch sử đó là sự thành lập của các quốc gia thời Chiến quốc mà họ gọi là Bách Việt ở vùng Giang Nam. Đông Việt tức U-Việt (còn gọi là Vu Việt) của Việt Vương Câu Tiễn không chỉ ở Triết Giang mà lên tới miền Giang Tô tức Châu Từ, quê hương của gốm sứ Việt cổ nổi tiếng của chi Dương Việt mà kinh đô là Cối Kê. Lý Tế Xuyên đã viết “Việt Điện U Linh” về nước Việt cổ xưa. Mân Việt ở Phúc Kiến, Dương Việt ở Giang Tây, Điền Việt ở Vân Nam, Quì Việt ở Tứ Xuyên, Nam Việt ở Quảng Đông, Âu Việt còn gọi là Tây Âu ở Quảng Tây, Lạc Việt ở Quảng Tây và Bắc VN. Chính sách sử cổ Trung Quốc ghi rõ cộng đồng Bách Việt cư trú khắp trung nguyên, thế mà sử quan triều Thanh Tiền Hy Tộ đã bóp méo ý nghĩa và sửa lại niên hiệu thành lập nước Văn Lang như sau: “Đến đời Chu Trang Vương (696-682TDL) ở bộ Gia Ninh có người lạ dung ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng Hùng Vương, đóng đô ờ Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang. Phong tục thuần hậu, chất phác. Chính sự dung lối thắt nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương …”(3). Các nhà sử học Mác Xít đã viết sử rập khuôn sử quan triều Thanh theo nghị quyết của đảng CSVN về sự thành lập nước Văn Lang trong bộ Lịch sử Việt Nam của Nhà nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam như sau: “Sự ra đời của nhà nước Văn Lang đầu tiên của nước ta đời Hùng Vương và Âu Lạc đời An dương Vương vào giai đoạn Đông Sơn trong thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên… Căn cứ theo 15 bộ của nước Văn lang và nhất là căn cứ vào quá trình chuyển hoá lịch sử nước Văn lang đời Hùng Vương đến nước Âu Lạc đời An Dương Vương, rồi đến 2 quận Giao Chỉ, Cửu Chân thời thuộc Triệu và thuộc Hán, có thể xác định địa bàn của nước Văn Lang tương ứng với vùng Bắc bộ, Bắc Trung bộ nước ta ngày nay và một phần phiá Nam tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc”.(4)

3. Kết quả các công trình khảo cổ cho phép chúng ta kết luận là nhà nước Văn Lang đã thành hình từ lâu, ít nhất là 5 ngàn năm lịch sử. Khoa Khảo cổ cho biết rằng người Việt cổ thời Phùng Nguyên đã chế tác nhiều vật đồ đá, đồ xương và một ít đồ đồng như rìu, đục, giáo, lao, qua, mũi tên, mũi nhọn, mũi khoan, chì lưới, bàn mài, bàn dập gốm. Căn cứ trên những đồ gốm, đồ đồng thuộc nền văn hoá Hoà Bình, Đông Sơn được thám quật ở Bắc Thái và Hạ Lào đã xác định bằng phương pháp vật lý phóng xạ C14 có niên đại khoảng 3.000 năm TDL nghĩa là cách đây 5.000 năm. Như vậy, niên đại thành lập nước Văn Lang vào thiên niên kỷ thứ III TDL hoàn toàn phù hợp với mốc truyền thuyết là năm 2879 TDL vào giai đoạn đầu thời đại đồ đồng của cộng đồng Bách Việt với nghề nông trồng lúa nước, và nghề luyện kim đồng đã tìm thấy khắp nơi, từ Nam Trung Hoa Thái Lan đến toàn bộ vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo

4. Năm 1962, G Coedès nguyên Giám Đốc Trường Viễn Đông Bác Cổ công bố kết quả công trình khảo Tiền sử đã minh chứng những gì truyền thuyết kể lại là một sự thật lịch sử với những kết qủa của những công trình khảo tiền sử trên toàn cõi Á Đông của hàng trăm nhà bác học Khảo cổ, Nhân chủng và Địa chất học. Những nhà bác học này đã đào bới khắp nơi từ Nhật Bản, Hàn quốc (Triều Tiên) tới Tây vực và từ Tây Bá Lợi Á xuống tới quần đảo Nam Á trong hàng chục năm trời đã tìm kiếm các di chỉ khảo cổ, khai quật những lớp sọ nằm dưới của cư dân đến trước, cư dân đến sau nằm ở trên. Sau khi đo chỉ số sọ và dung lượng sọ đã vẽ lại lộ trình di cư từ cao nguyên Hi Mã Lạp Sơn Himalaya xuống lưu vực các con sông lớn Hoàng Hà, Dương Tử và Cửu Long, đồng thời xác định ngọn nguồn gốc tích chủng tộc đó. Các nhà Khảo Tiền sử đã kết luận: “Tất cả các cư dân Nam Á từ Nam Ấn, Môn, Tạng, Miến, Thái, Lào, Miên, Mã Lai, Nam Dương, Célèbres, Việt Nam kể cả đồng bào thiểu số thượng du Bắc Việt đều có cùng một gốc cổ Malaya gọi là Indonesian (chúng tôi gọi là Malaysian chính là cộng đồng Bách Việt MalayViets) là những cư dân Nam Á có chung một chỉ số sọ trung bình là 81,42 và dung lượng sọ có tính cách sọ tròn khác hẳn với các chủng tộc trong vùng”.(5)

Tất cả chứng cứ khoa học cho phép chúng ta kết luận là giai đoạn đầu thời đại đồ đồng khoảng thiên niên kỷ thứ III TDL hoàn toàn phù hợp với niên đại truyền thuyết là 2879 TDL. Đây chính là thời điểm Việt tộc đã nung chảy xã hội nguyên thủy để thành lập một xã hội định chế hoá của quốc gia Văn Lang. Thật vậy, kết quả của những phân tích bằng phóng xạ carbon C14 than tro ở Đồng Dậu cho biết cộng đồng dân cư với nền văn hoá Phùng Nguyên cách đây ít nhất là 3.500 năm. Điều này có nghĩa là họ đã có một cuộc sống ổn định đi vào tổ chức thiết chế xã hội với hình thức nhà nước Văn Lang. Sự xác định của niên đại khảo cổ là khoảng thiên niên kỷ thứ III TDL hoàn toàn phù hợp với niên đại thư tịch để chứng minh sự ra đời của nhà nước Văn Lang ít nhất là 3.000 năm TDL chứ không phải vào thế kỷ thứ VII TDL như Đại Việt sử lược đã bị sử quan triều Thanh, Tiền Hi Tộ sửa đổi sự thật lịch sử.

5. Từ truyền thuyết cũng như căn cứ vào các Thần tích và Tộc phả được phối kiểm bởi khoa Khảo cổ học, Khảo Tiền sử, Chủng tộc học, Cổ nhân học, Dân tộc và Ngôn ngữ học được kiểm chứng bởi kết quả phân tích cấu trúc phân tử di truyền DNA của các tộc người trong vùng cho phép chúng ta xác định tính hiện thực của Huyền Thoại Rồng Tiên với cộng đồng Bách Việt (MalayViets). Kết quả của khoa Phân tích Di truyền hoàn toàn phù hợp với thư tịch cổ Trung Hoa, Khoa Khảo cổ học, Nhân chủng học, Khảo tiền sử kể cả truyền thuyết Rồng Tiên về thời kỳ dựng nước của Việt tộc là một sự thật lịch sử. Luận chứng khoa học mới nhất có tính thuyết phục nhất, một lần nữa khẳng định tộc Việt và Hán tộc là 2 tộc người khác nhau. Việt tộc có yếu tố đột biến di truyền đặc biệt của châu Á trong khi Hán tộc không có yếu tố này. Đồng thời xác định địa bàn cư trú của tộc người Malaysian tức MalayViets (Bách Việt) trải dài từ rặng Tần Lĩnh ở Trung nguyên trải dài xuống tận vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo. Địa bàn cư trú của Việt tộc phía Bắc tới lưu vực phía Nam sông Hoàng Hà, lưu, phía Tây giáp Tây Tạng, Đông giáp Nam Hải, Nam xuống tận Bắc Trung Việt, chính là cương giới của nước Văn Lang xưa của tộc Việt. Địa bàn cư trú của Việt tộc phía Bắc tới lưu vực 2 con sông Hoàng Hà và Dương Tử (Trường Giang), phía Tây giáp Tây Tạng, Đông giáp Nam Hải, Nam xuống tận Bắc Trung Việt, chính là cương giới của nước Văn Lang xưa của tộc Việt.

Sau cùng là Khoa Đại Dương học(6)và khảo cổ học đã chứng minh rằng người cổ Hoà Bình Hoabinhian do nạn biển tiến cách nay khoảng 8.500 năm đã tiến lên vùng núi cao Hòa Bình, Bắc Sơn và ngược lên cao nguyên Malaya hướng Tây Bắc và Đông Bắc vùng Ngũ Lĩnh. Khi mực nước biển dâng lên cao, cư dân khắp các nơi dồn về vùng cao nên đã tập trung nhiều nền văn hóa với những phát kiến để hình thành nền văn hóa Hòa Bình, một nền văn hóa cổ đại tinh hoa của nhân loại. Mực nước dâng cao dần khiến cư dân Hoabinhian mà chúng tôi cho là những người Tiền-Việt Protoviets ở lưu vực 2 con sông lớn là sông Hồng và sông Cửu Long phài thiên cư theo hướng Tây Bắc lên miền cao sơn nguyên giữa 2 dãy núi Hi Mã Lạp sơn và Côn Luân, nhánh khác tiến theo hướng Đông Bắc lên định cư ở Phúc Kiến, Triết Giang, Sơn Đông TQ bây giờ. Họ mang theo đặc trưng của văn hoá Hoà Bình lên địa bàn mới vùng cao nguyên giữa hai rặng núi cao nhất là Hi Mã Lạp Sơn và cổ nhất là Côn Luân ở Tây Bắc và vùng núi cao Thái Sơn ở Sơn Đông.

Khi mực nước biển hạ xuống, những vùng biển nước mênh mông nước rút dần để lộ ra những vùng đất màu mỡ phì nhiêu. Tiền nhân chúng ta đã từ vùng cao nguyên Hi Mã Lạp sơn tiến xuống vùng đồng bằng, nước rút đến đâu từng đoàn người tiến tới đó để lập làng định cư khai phá đất đai. Chính sự kiện tiến về vùng sông nước này được truyền thuyết diễn tả qua việc mẹ Âu cùng 50 con ở lại vùng cao, Bố Lạc dẫn 50 con xuống “Thủy Phủ” miền sông nước. Hai Thạc sĩ sử địa người Pháp là J Loubet và P Gouron đã tìm ra địa danh Thủy Phủ chính là cảng Thành Đô tỉnh Tứ Xuyên Phủ Trung Khánh TQ bây giờ.

Kết quả mới nhất, thuyết phục nhất của các nhà Di Truyền học đã xác định Việt tộc hoàn toàn khác hẳn với Hán tộc. Người Việt có 1 tỷ lệ cao nhất về biến đổi di truyền trong dân tộc (Intrapopulatinal genetic divergence 0.236% và về Hinc II/ Hpal nên được xem là dân tộc cổ nhất Đông Nam Á.(7) Chính vì vậy, Việt Nam là trung tâm của nền văn hoá Hòa Bình ảnh hưởng bao trùm Đông Nam Á, Trung Hoa, Ấn Độ, Trung Cận Đông và cả châu Mỹ nữa (8).

Việt Nam là một dân tộc có lịch sử lâu đời nhất có Haplogroups chính gồm A, B, C, D và không có cặp căn bản số 9 giữa 2 thể di truyền COII/ tRNA.LYS mà các nhà di truyền học gọi là “Đột biến đặc biệt Á Châu= “9bp deletation bettween COII/ tRNA.LYS genes”, bp= base pair). Cư dân Nam Trung Hoa tức người Hán ở Hoa Nam, Đài Loan, Cư dân Đông Nam Á gồm Miến Điện, Việt, Miên, Lào, Thái Lan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật tân, Brunei và Đông Timor, thổ dân Đa Đảo Polynesian, thổ dân Maya ở Trung và Nam Mỹ, Pima ở Bắc châu Mỹ có cùng Halogroup A, B, C, D (9) và Thất thoát cặp căn bản số 9 giữa 2 thể di truyền COII /tRNALYS mà các nhà Di truyền học gọi là Đột biến châu Á Mitochondrial DNA Á Châu (Asian Mitochondrial DNA).(10)

Truyền thuyết khởi nguyên của dân tộc mới đầu tưởng là hoang đường huyền hoặc ngày nay đã trở thành hiện thực, một sự thật lịch sử sau khi đã được thư tịch cổ Trung Hoa, Khoa Khảo cổ học, Nhân chủng học, Khảo tiền sử và phân tích cấu trúc mã di truyền xác định. Trước thềm thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại, một sự thật khách quan của lịch sử được phục hồi làm đảo lộn tất cả nhận thức từ trước tới nay về chủng tộc, nền văn minh nhân loại. Đó là luận chứng khoa học mới nhất về DNA có tính thuyết phục nhất, một lần nữa khẳng định tộc Việt và Hán tộc là 2 tộc người khác nhau và Việt tộc là một đại chủng mà địa bàn cư trú trải rộng từ châu Á sang tới châu Mỹ với nền văn minh Hòa Bình tỏa rạng khắp thế giới.

Bước sang thiên niên kỷ thứ ba, ánh sáng của sự thật soi rọi vào quá khứ bị che phủ hàng ngàn năm bởi kẻ thù Hán tộc bành trướng. Trong thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại sửng sốt trước cái gọi là “Nghịch lý La Hy” khi trước đây nhân loại cứ tưởng tất cả nền văn minh Tây phương là của đế quốc Hy Lạp La Mã để rồi phải xác nhận đó chính là nền văn minh của Trung Quốc. Cuối thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại lại ngỡ ngàng khi thấy sự thật lịch sử là Việt tộc là một đại chủng và “ cái gọi là nền văn minh Trung Quốc” lại chính là nền văn minh của đại chủng Bách Việt.

PHẠM TRẦN ANH

Chú Thích

1. J. Needham: Science and civilization in China, Introduction. History of Science thought, Cambridge, England 1956.

2. Andréas Lommel: Prehistoric“ In the South there were a number of agratian cultures, of which the Thai was the most powerful, becoming of most importance to the later China…”.

3. Đại Việt Sử Lược tác gỉa khuyết danh, Bản dịch của Trần Quốc Vương, NXB Thuận Hoá 2001, tr 17.

4. Lịch Sử Việt Nam tập I. NXB Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Hà Nội 1985 tr 164 và Tài liệu 40 năm nước CHXHCNVN, NXB Sự Thật Hà Nội). Chính vì viết sử theo nghị quyết nên sử gia Đào Duy Anh trước khi chết đã phải cay đắng thốt lên “Người ta biết tôi vì lịch sử và kết án tôi cũng vì lịch sử”.

5. G Coedès : Les Peuples de la peninsula Indochinoise, Paris 1962. . Bình Nguyên Lộc “Nguồn gốc Mã lai của dân tộc ta”, NXB Bách Bộc Sài Gòn, tr 446-449.

6. Stephen Oppenheimer: Eden in the East, The Drowned Continents of Southeast Asia, Pheonix, London 1998.

7. Mitochondrial DNA provides a link between Polynesians and Indigeneous Taiwanese. Tréjaut, JA, KivisildT, Lơ JH, et al PLoS Biol. 2005 3(8) e281: “Mitochondrial DNA provides a link between Polynesians and indigeous Taiwanese”. Mitochondrial DNA (Deoxyribonucleic Acide) là thể di truyền do 4 chất căn bản sắp theo một thứ tự nhất định cho mỗi loài sinh vật bằng những chuỗi tiếp diễn cặp căn bản (sequence of base pairs). Có 2 loại DNA: DNA trong nhân và DNA trong tế bào chất ở các cơ quan sản xuất năng lượng Mitochondria. Haplotype là một nhóm thể di truyền trong một vị trí của chuỗi tiếp diễn DNA. Đột biến là (mutation) là sự thay đổi các cặp căn bản trong chuỗi tiếp diễn DNA. Những đột biến nhẹ không gây trở ngại cho sự sinh trưởng tế bàoự stái tạo cặp căn bản. Nó giúp chúng ta theo dõi sự tiến hóa của con người hay sinh vật khác. Loại đột biến này cho phép các nhà nhân chủng học xác định thủy tổ của một số dân tộc trên thế giới và sự di dân của họ trên 10 ngàn năm tiền sử. Trên lý thuyết, chúng ta mỗi người có một bản sao Mitochondrial in hệt như thủy tổ nhưng trên thực tế không phải như thế vì những sai lầm trong tái tạo của các chuỗi tiếp diễn các cặp căn bản DNA. Mỗi châu lục có một số Haplotypes riêng biệt như châu Âu (Caucasoid) là H, I, J, K, M,T, U, V, W và X. Châu Phi là L, L1, L2 và L3, châu Á và châu Mỹ có chung Haplotypes gồm A, B, C và D.

8. W.G.Solheim II: “New Light on a forgotten Past”, National Geographic Vol.139, No 3, 1971. Reflection on the new data of Southeast Asia prehistory: Autronesian origins and consequence.A.P.18: 146-160. 1979a: New data on late Southeast Asia prehistory and their interpretation, JHKAS 8:73-87. Wilhelm G. Solheim H. Ph. D, đăng ở tạp chí National Geographic Vol 139 n. 3 tháng 3 – 1971, dưới nhan đề “New light on Forgotten Past”.

9. American Journal of Physical Anthropology Vol. No 9999 (2007), NA: “Mitochondrial DNA diversity and population differentiation in Southern Asia” ( Hui Li, Xiaoyun Cai, Elizaberth r. Winograd, Bo Wen, Xu Cheng, Zhendong Tan, Li). Founding Amerindian Mitochondrial DNA Lineages I ancient Maya From Xcaret, Quintana Ro o, Angelica Gonzales-Oliver, Lourdes Marqueze-Morfin, Jose c. Jimenez, and Alfonso Torres-Blanco, American Journal of Physical Anthropology, 116-230-235(2001).

10. Amerindian mitochondrial DNAs have rate Asian mutations at hight frequences, suggesting they derived from four primary maternal lineages, Schurr TG, Ballinger SW, Gan Ỳ, Hodge JA, Merriwether DA, Lawrence DN, Knowler WC, Weiss KM, Wallace DC, Am. J.Hum, Genet. 1990 Mar; 46(3):613-23). “The 9 bp deletation betwe en COII/tRNA (LYS upper) genes have be en associated with at least two migrations: One moved south along the Asian coastline, eastward into Indonesia and out into Pacific Islands (Hertzberg et al 1989). The other migration went North into Siberia and eventually crossed the Bering land bridge into the New World, yielding the Amerindians (Schurr et al 1990”.

Năm 1991, tạp chí National Geographic nổi tiếng của Hoa Kỳ đã cho ấn hành bản đồ Trung Quốc trong đó ghi rõ sự xâm lấn bành trướng của họ. Bản đồ “History of China” đã cung cấp một chứng liệu lịch sử rõ ràng là lãnh thổ Trung Quốc thời Chu rất nhỏ trên lưu vực phía Bắc sông Hoàng Hà. Trong khi chính National Geographic lại ghi rõ tộc Việt định cư ở lưu vực sông Dương Tử đã đinh cư định canh từ hơn 5 ngàn năm TDL và là cư dân trồng lúa nước đầu tiên trên thế giới “5000 B.C.Farmers along the Chang Jiang (Dương Tử) are the first to grow rice”.

Tên vùng Thủy Phủ (Suifu) ghi rõ trong Bản đồ Bán đảo Đông Dương và Nam Trung Quốc của New International ATLAS of the World Geographical Publishing Company 1949. Theo truyền thuyết thì Bố Lạc dẫn 50 con về Thủy Phủ chính là Cảng Thành Đô, Phủ Trùng Khánh tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc bây giờ. Thời đó, tất cả vùng đất này còn ngập nước mênh mông như biển ở phương Nam nên sách sử gọi là vùng Nam Hải.