Translate

Saturday, August 21, 2010

Tổ quốc đang lâm nguy

Theo Đàn Chim Việt

Trong thời gian qua, những hành động của các bạn sinh viên từ Hà nội, Thanh Hóa, Ninh Bình, Lạng Sơn, Bình Dương, Thủ Đức, Sài Gòn…v.v… đã làm nức lòng yêu nước của toàn dân, những tờ giấy được dán hoặc viết bằng nước sơn trên các bảng hiệu, trên những bức tường khắp thành phố với hàng chữ HS-TS-VN cùng với bản nhạc khẳng định HS-TS là của VN được phổ biến trên các trang mạng toàn cầu, chứng tỏ tinh thần yêu quê hương, đất nước của tuổi trẻ VN không bao giờ phai nhạt, cho dù chung quanh chúng ta còn rất nhiều những chông gai và trở ngại từ các cấp chính quyền, từ lực lượng công an chuyên theo dõi những việc làm yêu nước này của các bạn. Chúng tôi rất đau lòng khi trong sử sách và các bản đồ của VN trước đây, 2 quần đảo HS-TS vẫn còn hiện diện trên giấy trắng mực đen, cũng như lâu lâu bà Phát ngôn viên BNG Nguyễn phương Nga vẫn còn tuyên bố trên các hệ thống truyền thanh, truyền hình là VN có đầy đủ chủ quyền trên các đảo HS-TS. Nhưng khi những hàng chữ HS-TS-VN được viết lên để nhắc nhở và khẳng định cho mọi người dân biết rằng: HS-TS là những phần đất không thể tách rời khỏi đất nước thì lực lương CA lại phá bỏ và theo dõi, rình rập để bắt những ai thực hiện hành động này. Chúng tôi không hiểu và không sao hiểu nổi những việc làm này của những người tự xưng là công an nhân dân?

Bảng cắm ghi: "Sold - Đã Bán"

Khi ngồi bên bàn phím để đánh lên những dòng chữ này, chúng tôi chỉ hy vọng rằng: dư âm oanh liệt và những tấm gương bất khuất vì chính nghĩa của những anh hùng dân tộc VN xưa lúc nào cũng vẫn còn đọng lại trong tâm trí của tuổi trẻ VN. Trong hoàn cảnh lâm nguy của Tổ quốc như hiện nay dưới sự ươn hèn và khiếp nhược trước kẻ thù TQ của các nhà lãnh đạo VN. Chắc chắn hầu hết trong chúng ta làm sao quên được câu nói của Trần Bình Trọng “ Thà làm quỉ nước Nam, còn hơn làm vương đất bắc”, hoặc lời khẳng khái “ Việt Nam muôn năm” trước khi bước lên đoạn đầu đài của 13 vị anh hùng trong đó có anh hùng Nguyễn Thái Học của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Đối với kẻ thù truyền kiếp phương bắc, những tấm gương anh dũng của tiền nhân ta không bút mực nào tả hết. Ngày nay, mặc dù các nhà lãnh đạo CSVN đang thực hiện cái phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt trong tình hữu nghị do TQ đề ra, đây là cái vòng kim cô để TQ thực hiện phương pháp mềm mộng xâm lăng VN sau này của họ, mặc dù vẫn còn những con người mang trên mình màu áo CA nhân dân đang rình rập, bắt bớ, vu cáo và chụp mũ để bắt giam những thành phần yêu nước, nhưng tất cả những thứ đó đều vô ích vì nó sẽ không bao giờ dập tắt được lương tâm và lòng yêu nước của toàn dân. Các nhà lãnh đạo CSVN hiện nay không thể bắt tuổi trẻ VN, không thể bắt nhân dân VN quên HS-TS, quên Ải Nam Quan, quên thác Bản Giốc, quên bãi Tục lãm, quên những vùng đất mà kẻ thù TQ đã ngang nhiên chiếm giữ trong cuộc chiến 1979 cũng như quên những hình ảnh mà hải quân TQ đã bắt bớ, đánh đập và đòi tiền chuộc đối với ngư phủ của chúng ta đánh cá trên vùng biển của chúng ta.

Nếu LS Lê Thị Công Nhân được tôn vinh là nữ lưu VN thế kỷ 21, thì lời khẳng khái của chị Phạm Thanh Nghiên trước khi bị công an bắt trong lúc đang tọa kháng tại nhà với biểu ngữ HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VIỆT NAM, đó là lời hiệu triệu bất khuất, là tiếng chuông vang mãi trong lòng của tuổi trẻ VN nói riêng và toàn dân tộc VN nói chung “50 năm đã trôi qua kể từ khi có công hàm ngày 14/9/1958 của thủ tướng Phạm văn Đồng công nhận HS-TS là của TQ, nhưng chúng ta không thể quên vì một phần thân thể của đất mẹ vẫn còn bị cắt đứt. Chúng ta không thể cúi đầu, vì danh dự và tự hào của dân tộc vẫn là một vết nhục chưa được xóa nhòa. Chúng ta không thể im lặng, vì im lặng là đồng ý với hành động bán nước. Chúng ta không thể buông xuôi, vì mọi sự thờ ơ và buông xuôi sẽ dẫn đến những hành động bán nước tiếp diễn ở tương lai”. Hiện tại, tuy chị Phạm Thanh Nghiên vẫn còn đang chịu cực hình trong lao tù, nhưng những lời tuyên bố đầy hào hùng của chị đối với dân tộc, đối với Tổ quốc và đất nước sẽ là những bó đuốc soi sáng cho tuổi trẻ chúng ta trên con đường giữ nước và xây dựng quê hương.

Chúng ta không chủ trương dùng bạo lực để lật đổ chính quyền, các nhân tài, các nhà trí thức yêu nước cũng không bao giờ chủ trương dùng bạo lực, nhưng họ đang bị chính quyền CSVN giam cầm với những tội danh áp đặt là phản động, là âm mưu lật đổ chính quyền, là do các thế lực nước ngoài xúi giục …v.v… với những bằng chứng mơ hồ không xác thực trong các phiên tòa đã được định sẵn, điều này chứng tỏ rằng các nhà lãnh đạo CSVN không tôn trọng sự thật và đang xa rời tình dân tộc. Tục ngữ VN có câu “dân như nước, quan như thuyền, nếu thuyền không thuận theo dòng nước thì nước sẽ cuốn trôi nhận chìm xuồng ở lại”. Chúng ta thử ôn lại lịch sử vàng son của dân tộc VN, chưa có triều đại nào lại ươn hèn, nhu nhược, cam tâm dâng đất, dâng biển cho ngoại bang như triều đại của ĐCSVN lãnh đạo đất nước hôm nay. Thế giới ngày nay là thế giới của hòa đồng, bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh để cùng nhau phát triển. Một nền dân chủ đa nguyên sẽ là điều kiện tốt nhất để cho dân tộc được tiếp tục hồi sinh, đất nước được tiếp tục nhận những nhân tài và những tri thức lỗi lạc từ cộng đồng xã hội. Chế độ độc đảng sẽ dẫn đến độc tài, từ độc tài sẽ dẫn đến những bất công triền miên khiến cho dân tộc không ngóc đầu lên nổi bởi vì, quyền hành và sự giàu sang đều nằm trong bàn tay của một thiểu số người có quyền và có thế, còn đại bộ phận nhân dân tay trắng, chân mềm đều phải thua thiệt và khổ đau. CNCS với hệ thống XHCN đã viện dẫn tất cả những điều hay, ý đẹp để tuyên truyền trong nhân dân, nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Chính vì thế mà cả hệ thống của XHCN ở Đông âu trong đó có Liên sô nơi phát sinh và lãnh đạo cộng sản thế giới đã phải từ bỏ nó để trở về với nền dân chủ đa nguyên. Những nhà lãnh đạo Nga và các nước Đông âu sau khi từ bỏ XHCN đều tuyên bố rằng: theo CNCS là sai lầm cho dân tộc.

Việt Nam đã là thành viên không thường trực của hội đồng bảo an LHQ, cũng là thành viên của các công ước quốc tế, mà quy chế của LHQ và công ước quốc tế là dân chủ đa nguyên trong đó, con người đều bình đẳng và được hưởng mọi quyền tự do, nhân phẩm như nhau, tất cả đều được luật pháp bảo vệ công bằng không phân biệt giàu nghèo và thành phần giai cấp, quan có cái quyền của quan, còn dân có cái quyền của dân trong một nhà nước pháp quyền. Điều này cũng được chủ tịch HCM tuyên bố trước toàn dân trong bản tuyên ngôn độc lập tại vườn hoa Ba đình (Hà nội) ngày 2/9/1945 được trích ra từ hiến pháp của Hoa kỳ và của Pháp. Nhưng trên thực tế tại VN, các nhà lãnh đạo đã vì quyền lợi riêng mà dìm cả dân tộc và đất nước vào con đường XHCN, tiếp tục hy sinh quyền lợi của dân tộc và đất nước cho kẻ thù TQ để giữ vững thế độc tôn cầm quyền mặc dù, điều 69 HP vẫn ghi là công dân có mọi quyền tự do phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.

Chắc chắn nhân dân VN nói chung và tuổi trẻ VN nói riêng sẽ không bao giờ chấp nhận một chính quyền thối nát như hiện nay. Tham nhũng tràn lan từ thượng tầng lãnh đạo xuống hạ tầng cơ sở, những công trình treo được dàn dựng một cách tinh vi để lấy đất của nhân dân với mức đền bù rẻ mạt, khiến cho hàng hàng lớp lớp dân oan đi khiếu kiện mỗi ngày càng dài thêm, những bằng cấp giả của các quan to được chi ra từ tiền đóng thuế của nhân dân để che đậy cho tầm nhìn dốt nát của mình như trường hợp của Nguyễn Ngọc Ân (Phú Thọ), của Nguyễn Văn Ngọc (Yên Bái) và còn rất nhiều nữa, nếu công minh để kiểm tra lại thì chúng tôi tin chắc rằng gần hết các bằng cấp của các quan cán bộ kể cả hàng lãnh đạo đất nước đều là giả. Với cái cơ chế chỉ biết có quyền lực và sự trung thành tuyệt đối với ĐCS mà bỏ qua tri thức và nhân tài, đã là động lực cho các công ty và các tập đoàn quốc doanh nhà nước tự do tung hoành vô tội vạ tiền bạc xương máu của nhân dân để làm giàu bất chính, điển hình là các tập đoàn Than khoáng sản VN, Điện lực VN, Hàng không VN, PMU18, PCI, Vinashine,… Số tiền mà các công ty quốc doanh không khả năng thanh toán theo báo cáo ban đầu của Ủy ban thanh tra trung ương là 181 ngàn tỷ đồng, trong đó tập đoàn Vinashine do thủ tướng Nguyễn tấn Dũng thành lập năm 2005 là trên 80 ngàn tỷ, một số tiền nổi khổng lồ như thế, còn những khoảng tiền chìm chưa bị lộ thì không biết là bao nhiêu, đây là tiền vay từ nước ngoài. Thử hỏi trong một đất nước còn nằm trong danh sách nghèo của thế giới như VN thì nhân dân sẽ trả nợ đến bao giờ mới hết.

Trong mấy năm qua, chính quyền mở rộng phong trào học tập và làm việc theo gương đạo đức của chủ tịch HCM. Nhưng rõ ràng càng tuyên truyền học đạo đức bao nhiêu thì sự ăn chơi sa đọa của các thành phần đảng viên cao cấp càng tăng thêm bấy nhiêu, trường hợp chơi gái và dùng quyền lực cưỡng dâm nữ sinh của chủ tịch tỉnh Hà giang Nguyễn trường Tô và hiệu trưởng Sầm đức Xương là một điển hình. Càng đau lòng hơn khi cho đến giờ này mà các em học sinh nạn nhân của các quan vẫn còn ở tù chưa được thả, có phải chăng vì lời nói thẳng thắn của LS Trần Đình Triển là còn rất nhiều Nguyễn trường Tô trong hàng lãnh đạo của tỉnh Hà giang mà các em phải chịu kiếp tù đầy?. Cho đến giờ này, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, ủy ban bảo vệ trẻ em vị thành niên vẫn thản nhiên không lên tiếng bênh vực cho nỗi oan ức của các em. Chúng tôi hy vọng với sự can đảm của LS Triển và kiến nghị khẩn cấp cứu các em của Blogger Mẹ Nấm, sẽ được sự đồng tình của cộng đồng xã hội để các em thoát khỏi vòng tay của bạo quyền đang bao quanh các em trong lao tù. Chắc chắn sẽ còn rất nhiều trường hợp như ở tỉnh Hà giang nữa mà chúng ta chưa biết.

Trở lại vấn đề mất còn của đất nước và chủ quyền của dân tộc, đây là nỗi đau mà tuổi trẻ VN cần phải khẳng định lại hướng đi trong niềm tin của mình trước anh linh của tiến nhân để cho dân tộc VN có được một giang sơn hình chữ S như ngày nay. Hoàng Sa và những hòn đảo chiến lược của Trường Sa, vùng biển vịnh Bắc bộ, Ải Nam quan, 2/3 thác bãn Giốc, bãi Tục lãm, cao điểm chiến lược 1509, 1250 (vùng đất mà TQ đã đổi thành Lão sơn) nơi mà 3700 chiến sĩ QĐND vừa chết, bị thương và bị bắt làm tù binh được kẻ thù TQ chôn chung một hầm năm 1984, những phần lãnh hải và lãnh thổ thiêng liêng này của Tổ quốc VN sẽ mãi mãi là của VN, cho dù kẻ thù TQ có trưng ra bằng chứng là các công hàm hay các hiệp định, hiệp ước của các nhà lãnh đạo CSVN đã ký nhượng cho họ. Nhân dân VN, tuổi trẻ VN quyết sẽ giành lại chủ quyền của mình khi thời cơ cho phép dù phải trả bằng máu như tiền nhân của chúng ta đã hy sinh.

Đại dự án khai thác Bô xít mà TQ đang tàn phá Tây Nguyên (yết hầu của VN và cũng là nóc nhà của Đông dương theo sự nhận định của đại tướng Võ nguyên Giáp), trên 300 ngàn hecta rừng chiến lược biên giới mà 18 quan đầu tỉnh đang cho TQ thuê 50 năm, 90% các công trình trọng điểm của đất nước cũng được các công ty TQ trúng thầu, hàng hóa có chất độc của TQ hàng ngày vẫn ngang nhiên hiện diện trên thị trường VN…v.v….Đây là những bằng chứng rõ ràng để VN sẽ rơi vào tay TQ sau này, đây cũng là tài năng của các nhà lãnh đạo CSVN hiện nay.

Thời cuộc đã và đang thay đổi, sự lên tiếng và dấn thân của các thành phần cấp tiến có trình độ, có trí thức đầy lòng yêu nước trong guồng máy chính quyền, từng kiến nghị và phê bình thẳng thắn của các hàng tướng lãnh trong quân đội cho những việc làm sai lầm của các nhà lãnh đạo đất nước, sự bứt phá ngoạn mục bác dự án ĐSCT của QHVN vừa qua lần đầu tiên trong lịch sử đảng. Đây là những tín hiệu đáng mừng để cho đất nước VN, nhân dân VN được tiếp tục ngẩng cao đầu trong niềm tự hào của dân tộc. Tuổi trẻ là ước mơ, là tương lai, là rường cột của quốc gia, là tài sản vô giá của dân tộc….. Chúng tôi tin tưởng rằng tuổi trẻ VN sẽ không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù. Chúng tôi cũng nhận thấy: đa số tuổi trẻ VN từ học sinh, sinh viên cho đến ngoài xã hội đều có người thân trong gia đình là cán bộ, là công an…. Các bạn phải vận dụng tình thương này để đấu tranh, vạch trần cho họ biết tất cả những sự đê hèn của chính quyền CSVN, để họ nhận ra được sự thật, để họ biết rằng chỉ có Tổ quốc, đất nước là trên hết nhất là những người trong lực lượng công an. Đồng thời phong trào viết HS-TS-VN vẫn được nhân rộng ra trên khắp miền đất nước.

Một chính quyền vô cảm trước nỗi khổ của nhân dân, khiếp nhược trước kẻ thù, làm giàu bất chánh trên mồ hôi nước mắt của nhân dân, tiêu cực và tham nhũng tràn lan hàng ngày không có hồi kết, mua quan bán chức, mua bằng cấp giả để củng cố quyền lực….. Một chính quyền như thế sẽ là tai họa cho đất nước. Chúng ta phải biết rằng: trong một đội bóng đá, dù cho các cầu thủ có giỏi, nhưng mô hình và kế hoạch của huấn luyện viên dở thì sẽ không bao giờ thắng đối phương. Trong một đất nước như VN, dù cho nhân dân VN có cần cù, chịu khó lao động và siêng năng học hỏi, có tinh thần phục vụ đất nước đến đâu đi nữa, nhưng với một guồng máy lãnh đạo toàn là giả dối chỉ biết có quyền lợi cá nhân thì làm sao giữ vững chủ quyền quốc gia và đem lại hạnh phúc cho toàn dân được.

Đã đến lúc đất nước cần phải có một hội nghị Diên Hồng trong tinh thần đại đoàn kết dân tộc, một cuộc trưng cầu dân ý trong hệ thống đa nguyên có tất cả các thành phần trong xã hội tham gia, có tự do ứng cử, bầu cử, có truyền thông ngôn luận trung thực…. để người dân chọn lựa đúng người có đủ tài đủ đức lèo lái con thuyền quốc gia trong cơn thập tử nhất sanh này.

Hy vọng sự dấn thân của tuổi trẻ VN hôm nay, sẽ là những tấm gương sáng cho các thế hệ ở tương lai, cũng như sẽ đánh thức được lương tâm của những ai còn tuyệt đối trung thành với các đường lối và mệnh lệnh của các nhà lãnh đạo CSVN trong giai đoạn cực kỳ nguy hiểm này của đất nước.

Sài Gòn ngày 16/8/2010

© Hương Trà cùng nhóm bạn trẻ

Friday, August 20, 2010

Hoa Kỳ cam kết hiện diện lâu dài tại Biển Đông

Theo Vietherald
(08/19/2010)

Đô đốc Robert Willard nói Hoa Kỳ sẽ duy trì sự có mặt tại Biển Đông trong nhiều năm. (Hình: Ted Aljibe/AFP/Getty Images)

HÀ NỘI: Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương tuyên bố trong cuộc họp với các giới chức Philippines tại thủ đô Manila hôm 17/8 rằng Hoa Kỳ sẽ chống đối việc sử dụng vũ lực trong vụ tranh chấp Biển Đông và cam kết duy trì sự có mặt tại Biển Đông trong nhiều năm, để bảo đảm tự do lưu thông hàng hải trong thủy lộ trọng yếu này.

Hãng tin VOA trích lời Đô đốc Willard nói rằng Hoa Kỳ không đứng về một bên nào trong cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc với nhiều nước láng giềng về chủ quyền của các hải đảo giàu tiềm năng trữ lượng dầu khí ở Biển Đông.

Theo tin AP và Reuters, tại cuộc họp báo ở Manila sau khi thảo luận với Trung tướng Ricardo David, Tham mưu trưởng quân đội Philippines, Đô đốc Willard cho biết đôi bên đã bàn luận về thái độ cứng rắn của Trung Quốc ở Biển Đông và những mối quan tâm mà Trung Quốc đã gây ra trong khu vực. Đô đốc Willard cũng hối thúc các nước trong vùng “đầu tư đầy đủ vào quân đội và công cụ an ninh để bảo vệ lãnh hải của mình”.

Nhận xét của lãnh đạo Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương được đưa ra sau khi Ngoại trưởng Hillary Clinton tháng trước cũng có những tuyên bố khiến Trung Quốc tức giận. Tại Diễn đàn an ninh khu vực tổ chức ở Hà Nội, bà Clinton nói Hoa Kỳ coi việc giải quyết các tranh chấp lãnh hải thông qua “tiến trình ngoại giao hợp tác của các bên” là “lợi ích quốc gia” của Mỹ.

Trong một diễn biến khác, ngày 17/8, ông Robert Scher, phó trợ lý bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ cũng đã có một cuộc đối thoại song phương với ông Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Phát biểu trong cuộc họp báo chung sau cuộc hội đàm, ông Robert Scher nhận định rằng:“Cuộc đối thoại này thể hiện bước tiến mới đáng kể, có ý nghĩa lịch sử trong trong quan hệ quốc phòng ngày càng lớn mạnh giữa hai nước, trên cơ sở tin tưởng, thông cảm lẫn nhau và tôn trọng chủ quyền độc lập của nhau”, theo đài BBC.

Riêng quan hệ với Trung Quốc, ông Robert Scher cho biết là có chia sẻ cảm nghĩ của Hoa Kỳ liên quan đến việc Trung Quốc đang hiện đại hóa quân đội. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ cũng đã ghi nhận xu hướng Bắc kinh gia tăng sức mạnh quân sự để có thể khống chế 80% Biển Đông qua đường “lưỡi bò” mà họ cho rằng thuộc chủ quyền của họ.

Tuy nhiên, trong cuộc đối thoại cấp thứ trưởng này, Hoa Kỳ và Việt Nam chỉ tập trung vào một số vấn đề song phương, trong đó có vấn đề bom mìn chưa nổ còn sót lại từ thời kỳ chiến tranh, hay là thuốc khai quang mà quân đội Hoa Kỳ sử dụng trước đây.

Riêng thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam xác định rằng hợp tác Mỹ Việt hoàn toàn không tác hại đến bất kỳ nước nào khác. Ông nói thêm là Việt Nam luôn luôn xem Trung Quốc là một nước láng giềng tốt, và “hoan nghênh sự phát triển của Trung Quốc trong đó có phát triển quân sự”. Tuy nhiên, ông cũng nói thêm rằng Việt Nam tin tưởng: “Sự phát triển đó không gây phương hại cho nước khác, không vi phạm chủ quyền nước khác và đóng góp cho hòa bình thế giới.”

Ông Nguyễn Chí Vịnh cũng không quên nhắc lại mối liên hệ thắm thiết của Trung Quốc thông qua những hoạt động thường niên giữa hai nước, ông khẳng định:

“Phát triển quan hệ hải quân với Trung Quốc là một hướng ưu tiên trong quan hệ đối ngoại Quốc phòng của Việt Nam, mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai nước. Hiện nay mối quan hệ đó đã đạt được nhiều thành tựu, hai bên thường xuyên trao đổi các đoàn đại biểu cấp cao, tiến hành giao lưu sĩ quan hải quân, tuần tra chung, lập đường dây nóng và gần đây nhất đã tiến hành diễn tập cứu hộ, cứu nạn trên biển. Có thể nói, quan hệ hải quân giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được phát triển theo đúng tinh thần quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mà lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước đã cam kết.”

Cũng cần nhắc lại thời gian qua, Đại tướng CSVN Võ Nguyên Giáp cùng hàng chục tướng lĩnh cao cấp khác đã tố cáo Nguyễn Chí Vịnh lũng đoạn Tổng Cục II, gây nhiều tội ác, nhất là đối với những người không theo phe thân Trung Quốc như ông.

Gần đây, các nước Đông Nam Á quan ngại về thái độ hung hăng của Trung Quốc tại khu vực tranh chấp trên Biển Đông. Váo tháng trước, Hoa Kỳ cùng Nam Hàn tập trận chung đã khiến Trung Quốc nổi giận. Không những thế, khu trục hạm USS John S. McCain đã cập cảng Đà Nẵng vào tầun trước và có các hoạt động giao lưu bốn ngày với quân độiCSVN và dân địa phương, một đoàn quan chức quân sự Việt Nam cũng lên thăm hàng không mẫu hạm USS George Washington đậu ở ngoài khơi Đà Nẵng cũng khiến Trung Quốc lo ngại việc Việt Nam có thể “xích lại” gần với Hoa Kỳ nhằm tìm cách đa phương hóa việc giải quyết tranh chấp hiện nay tại biển Đông. (Tổng hợp)




Thursday, August 19, 2010

Đừng nghe những gì họ nói

Trích Nguyễn Hưng Quốc's blog (VOA)
Thứ Ba, 17 tháng 8 2010
Hình: Photos.com

Chia sẻ

Tin liên hệ

Ðường dẫn liên hệ

Nhan đề bài viết này nghe hao hao như một câu nói quen thuộc lắm ở miền Nam trước 1975 và cả ở hải ngoại sau này nữa, phải không?

Vâng, đúng vậy. Có điều, tôi không trích nguyên văn vì thấy sao nó sáo quá. Ai cũng nói thế. Năm này qua năm khác, suốt mấy chục năm trời. Nên sợ nhàm. Có điều, sợ nhàm, nhưng tôi lại không thể không nhắc lại vì không thể tìm ra cách nói nào chính xác hơn. Và mạnh hơn.

Những người tị nạn ở hải ngoại và vô số người dân trong nước có thể nêu lên hàng trăm, thậm chí, hàng ngàn ví dụ lớn để chứng minh tại sao chúng ta chỉ nên nhìn vào hành động thay vì lời nói của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay. Đã có nhiều người làm như thế. Tuy nhiên, bộ máy tuyên truyền trong nước lại muốn cả vú lấp miệng em: “Đó chỉ là luận điệu vu khống của những phần tử chống cộng!”

May quá, chỉ trong tuần qua, ở trong nước, có hai người rưỡi, trong đó có hai người rất nổi tiếng trong giới văn học – một người nổi tiếng về tài hoa và một người nổi tiếng về dòng dõi và khoa bảng - cùng lên tiếng về khoảng cách vời vợi giữa lời nói và việc làm của nhà cầm quyền Việt Nam. Hai người đó là nhà văn Nguyễn Quang Lập với bài “Khi luật rừng tấn công luật pháp” và tiến sĩ Phan Hồng Giang (con trai thứ nhà phê bình Hoài Thanh) với bài “Nói và làm”.

Cả hai người đều tập trung vào một chủ đề: khoảng cách giữa hứa hẹn và hiện thực.

Nguyễn Quang Lập giới hạn đề tài trong nạn phá rừng. Ông nhắc lại: Cách đây ba mươi năm, đảng và chính phủ đã từng tuyên bố hùng hồn là “cần phải chận đứng…”, “cần phải xử lý nghiêm minh…” và “cần phải nghiêm trị…” nạn phá rừng và bọn lâm tặc. Những lời tuyên bố ấy được lặp đi lặp lại nhiều lần trên các diễn đàn và trên báo chí. Ba mươi năm trôi qua, lâm tặc không những không giám bớt mà còn càng ngày càng lộng hành. Lộng hành đến độ chúng uy hiếp cả kiểm lâm. Mà không những chỉ uy hiếp suông, chúng còn tấn công, thậm chí, bắt bớ cả kiểm lâm. Khi công an địa phương đến giải cứu, chúng còn bắt kiểm lâm quỳ xuống lạy chúng thì chúng mới tha!

Thực tình, đọc xong, tôi vẫn không hiểu tại sao công an đến giải cứu mà bọn lâm tặc vẫn ngang nhiên bắt kiểm lâm quỳ lạy như thế. Vậy, công an ở đâu và làm gì? Chẳng lẽ họ lại đứng trương mắt ra ngó?

Nguyễn Quang Lập không giải thích. Ông chỉ cho đó là sự lên ngôi của luật rừng.

Đó không phải là những chuyện hiếm hoi. Nguyễn Quang Lập trích con số thống kê từ Cục kiểm lâm: “tính đến tháng 7 năm nay đã có 15000 vụ vi phạm lâm luật, xử lý 577 vụ chiếm 3% số vụ vi phạm, 97% còn lại vẫn nằm ngoài tầm tay với của pháp luật, đấy là chưa tính đến kết quả xử lý 577 vụ kia như thế nào.”

Câu trích dẫn khá mơ hồ. “Tính đến tháng 7 năm nay…” Nhưng bắt đầu từ bao giờ? Mười lăm ngàn vụ vi phạm lâm luật xảy ra trong một năm? Mười năm? Hay ba mươi năm? Duy có một điều rất rõ và cần được chú ý: Chỉ có 3% số vụ vi phạm ấy được xử lý. Một tỉ lệ không thể không làm người ta ngạc nhiên và nghi ngờ tính hiệu quả của ngành an ninh Việt Nam trong lãnh vực lâm nghiệp.

Đó là lý do tại sao Nguyễn Quang Lập lại nhận xét: “Cũng 30 năm trước, vào thập kỉ 80 thế kỉ trước, giải thích cho việc lâm tặc ngang nhiên tấn công kiểm lâm, buộc kiểm lâm phải nhường đường nhường rừng cho chúng, cục trưởng cục phó Cục kiểm lâm đã than thở lực lượng kiểm lâm mỏng quá, đời sống anh em quá khó khăn. Thì bây giờ ta lại nghe cục phó cục trưởng Cục than thở đúng y xì như vậy, rằng lực lượng kiểm lâm mỏng quá, đời sống anh em quá khó khăn. Một thực trạng không quá khó để giải quyết lại tồn đọng 30 năm, thật đáng sợ. Đáng sợ hơn là trong cái lực lượng quá mỏng ấy lại có một bộ phận không nhỏ đang giàu có cự vạn, chẳng hiểu nhờ lộc rừng hay lộc của lâm tặc.”

Chúng ta nên giải thích hiện tượng ấy ra sao?

Trong bài “Nói và làm”, Phan Hồng Giang liệt kê theo kiểu “nhớ gì nói nấy” một số lãnh vực ở đó người ta thấy rõ “độ vênh đến dễ sợ” giữa lời nói và việc làm của đảng và nhà nước.

Xin trích nguyên văn mấy đoạn chính trong bài viết của ông:

Không ngày nào chúng ta không nghe nói đến quyết tâm bài trừ nạn tham nhũng. Nhưng lạ thay, tham nhũng như một quái vật có phép màu, cứ phổng phao, đâm thêm nhành ngọn, vụ sau to hơn vụ trước, cấp sai phạm không dừng lại ở cỡ quan chức thường thường bậc trung. Và bây giờ người ta có thể không ngần ngại mà gán cho nó hai chữ "quốc nạn".

Đi ra đường phố, thấy cảnh ô tô, xe máy, xe lam, xe đạp, xích lô, xe thồ ngược xuôi, lạng lách, rẽ ngang rẽ trái không theo một luật lệ nào, rồi thì chợ cóc, chợ xanh, chợ hoa dưới lòng đường, hàng hóa bày ra choán hết vỉa hè…, chúng ta hoang mang tự hỏi Nghị định về lập lại trật tự giao thông dân quên rồi sao? Mật độ dày đặc đứng đường (có lẽ là cao nhất thế giới) của cảnh sát giao thông cũng không làm giảm bớt bao nhiêu những ách tắc. Rồi cái nạn đua xe của mấy cô mấy cậu rửng mỡ, con nhà giàu, con ông cháu cha gây nhức nhối bao năm, sau rất nhiều lời hứa hẹn "kiên quyết chấm dứt" vẫn diễn ra như trêu ngươi; các thứ thư tay, điện thoại riêng "đề nghị chiếu cố, nương nhẹ" vẫn tồn tại sau mỗi lần Công an bắt giữ người, xe…

"Chính quyền của ta là của dân, do dân, vì dân", - câu nói đẹp nức lòng người dân mau chóng bị sao nhãng khi người dân đến cửa quan gặp phải những bộ mặt lạnh tanh, những câu trả lời nhát gừng và những kiểu đùn đẩy hồ sơ hết phòng, ban nọ sang phòng ban kia, những kiểu hẹn lần lữa không có hồi kết thúc như thử thách lòng kiên nhẫn của người dân. Kết quả là đơn thư khiếu nại chất thành đống, năm này qua năm khác, và cảnh ăn chực nằm chờ để khiếu kiện vượt cấp là tất yếu….

"Lương y như từ mẫu", câu khẩu hiệu gặp ở mọi bệnh viện, trên thực tế liệu đã làm yên lòng bệnh nhân chưa? Chắc chắn là chưa. Thế nên hầu hết người bệnh khi chẳng may phải lên bàn mổ, hay gặp bệnh hiểm nghèo, đều phải cố lần những đồng tiền còm cõi cuối cùng, kín đáo bỏ vào phong bì, rồi tìm kiếm cơ hội tiếp cận vị "lương y như từ mẫu" kia để mà nài nỉ, khẩn khoản họ nhận cho "tấm lòng thành" với mặc cảm của người có lỗi. Thật đáng thương thay! Rồi những tin bệnh nhân này, sản phụ nọ mất mạng vì sự thờ ơ, tắc trách của một số vị y, bác sĩ đâu còn là chuyện lạ…

"Cải cách giáo dục", "Nâng cao chất lượng dạy và học", "Giáo dục là quốc sách"… Những lời lẽ này được lặp lại ngày này qua ngày khác, nhưng những phiền muộn do giáo dục mang lại cũng không giảm. Nào là "quá tải phải giảm tải", "học thêm, dạy thêm", nào là sách giáo khoa viết sai in sai, đề thi ra nhầm lẫn, lộ đề trước khi thi, nào là các "lò luyện thi" thương mại hóa một cách lộ liễu đến trơ tráo, nào là bằng giả chứng chỉ giả, và nguy hiểm nhất là bằng thật nhưng học giả, học quấy quá, học chiếu lệ, vừa bận rộn công tác quản lý mà vài năm vẫn kiếm được vài cái bằng thật để rồi tiếp tục leo cao trên nấc thang danh vọng…

[…]

Có thể liệt kê dài dài những khập khiễng giữa lời nói và việc làm. Nào "Sống và làm việc theo pháp luật", nào là "Cán bộ là đầy tớ của dân, lo trước thiên hạ, hưởng sau thiên hạ…", nào là "Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi"…

Nguyễn Quang Lập và Phan Hồng Giang viết như vậy là quá đủ. Tôi cảm thấy không cần phải nói thêm điều gì nữa cả.

Tôi chỉ xin viết thêm vài câu để giải thích tại sao ở trên (đoạn thứ ba) tôi viết là có hai người rưỡi lên tiếng về khoảng cách giữa lời nói và việc làm của nhà cầm quyền Việt Nam. Tại sao lại là hai người... rưỡi?

Cái nửa còn lại chính là Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện.

Bài viết “Nói và làm” của Phan Hồng Giang được đăng tải đầu tiên trên blog của Nguyễn Xuân Diện (ở Hà Nội). Khi đăng, Nguyễn Xuân Diện viết thêm lời chú thích ngắn: “Bài do tác giả gửi trực tiếp cho Nguyễn Xuân Diện Blog. Xin chân thành cảm ơn TS. Phan Hồng Giang.”

Tuy nhiên, điều tôi chú ý nhất là, ở đầu bài viết, ngay trên nhan đề “Nói và làm” của Phan Hồng Giang, chủ nhân của cái blog này lại viết thêm một cái đầu đề khác, gồm mấy chữ như sau:

ĐỪNG NGHE ... NÓI - HÃY XEM ...LÀM

Cái nhan đề ấy là đóng góp của Nguyễn Xuân Diệu.

Một đóng góp nhỏ nhưng rất thâm thuý.

Trong bài này, tuy tôi chỉ trích dẫn Nguyễn Quang Lập và Phan Hồng Giang nhưng lại tính là hai người rưỡi là vì vậy.

***

Chú thích:

Ðây là trang đầu trên blog của Nguyễn Xuân Diện.

Wednesday, August 18, 2010

Nhiều Db Mỹ Đòi Đưa Vn Vào Sổ Quan Ngại Tôn Giáo Cpc

Việt Báo Thứ Năm, 8/19/2010, 12:00:00 AM

Nhiều DB Mỹ Đòi Đưa VN Vào Sổ Quan Ngại Tôn Giáo CPC

WASHINGTON (VB) -- Nhiều vị dân cử Hoa Kỳ thúc giục TT Obama đưa VN vào lại sổ đen vi phạm quyền tự do tôn giáo, theo bản tin AP chiều Thứ Tư 18-8-2010.
Trong khi đó, bản tin trên Đài VOA đăng bài phỏng vấn dân biểu Cao Quang Anh, trong đó dân biểu họ Cao kêu gọi chính phủ Mỹ bênh vực giáo xứ Cồn Dầu đang bị công an Đà Nẵng truy bức gay gắt.
Bản tin AP nói rằng các dân biểu Frank Wolf và Chris Smith nói trong buổi điều trần rằng Bộ Ngoaị Giao Mỹ đừng kết thân với VN cho tới khi nào nhân quyền cải thiện.
Chính phủ Bush đã gỡ tên Việt Nam ra khỏi sổ đen vi phạm tự do tôn giaó từ năm 2006, và bây giờ chính phủ Obama tuyên bố kết thân chiến lược với VN, và được hiểu rằng VN sẽ khó đưa vào lại danh sách trừng phạt vì có đàn áp tôn giáo.
DB Smith nói trước ủy ban nhân quyền Tom Lantos Human Rights Commission về tình hình một tang lễ Công giáo ở Cồn Dầu bị công an dùng bạo lực giải tán vì tranh chấp đất.
Trong khi đó, dân biểu Cao Quang Anh trả lời phỏng vấn trên đài VOA chiều Thứ Tư, trích:
“...Nói chung, vụ Cồn Dầu là một trong những sự vi phạm của chính quyền Việt Nam. Chắc chắn chúng tôi cũng sẽ nêu ra những vụ việc như vụ Đồng Chiêm, Bát Nhã, và tại những khu vực khác. Buổi điều trần này không phải về Cồn Dầu không, nhưng vì tình trạng mới xảy ra ở Cồn Dầu nên đó là một trong những vấn đề hiện tại mà chúng tôi phải chú ý tới. Nói chung, mục đích chính là để chúng tôi có thể hiểu biết thêm về những hành động của chính quyền Việt Nam ảnh hưởng tới tự do tôn giáo tại Việt Nam trong 2, 3 năm qua...
...Hai, ba năm nay chúng tôi có theo dõi về các hành động của cộng sản Việt Nam, nhận thấy những sự vi phạm về tự do tôn giáo càng ngày càng tệ. Cho nên chúng tôi vẫn tiếp tục áp lực Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào lại danh sách CPC (Các nước cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo) để buộc Việt Nam phải cải tổ những việc làm của họ đối với tự do tôn giáo, tự do nhân quyền...
...Chúng tôi muốn qua buổi điều trần này thành lập những đường hướng cho những năm tới. Cho nên, đây là những bước mà chúng tôi cần phải tiếp tục tiến hành nếu chúng tôi có đủ những bằng chứng, có đủ những điều kiện để đẩy các đạo luật như Đạo luật Tự do-Nhân quyền cho Việt Nam và những đạo luật khác mà chúng tôi đang tiếp tục vận động trong Quốc hội Hoa Kỳ đối với Bộ Ngoại giao.”

Tuesday, August 17, 2010

Hoa Kỳ, Việt Nam mở các cuộc thảo luận đầu tiên về quốc phòng

Trích VOA News
Ông Robert Scher, Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đặc trách khu vực Ðông và Ðông Nam Á
Hình: DOD

Ông Robert Scher, Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đặc trách khu vực Ðông và Ðông Nam Á

Chia sẻ

Tin liên hệ

Hoa Kỳ hoan nghênh các cuộc thảo luận cấp cao về phòng thủ với Việt nam như là một dấu hiệu của một “quan hệ quốc phòng ngày càng lớn mạnh.”

Ông Robert Scher, Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng, giới chức cao cấp nhất của Ngũ giác Đài đặc trách khu vực đông và đông nam châu Á, đã có mặt tại Hà Nội vào thứ Ba để thảo luận với Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt nam, ông nguyễn Chí Vịnh.

Ông Scher nói rằng mối quan hệ quốc phòng này đặt trên căn bản “tin tưởng, hiểu biết và tôn trọng độc lập và chủ quyền của đôi bên.”

Các cuộc thảo luận diễn ra chỉ 1 tuần sau khi hai quốc gia bắt đầu các cuộc thao diễn hải quân đầu tiên chung và các giới chức cao cấp của Việt Nam đã được mời tới thăm hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ USS George Washington.

Tình hữu nghị giữa hai nước Mỹ-Việt đã làm Trung Quốc khó chịu. Trung Quốc là nước vẫn tranh chấp chủ quyền với Việt Nam trong khu vực biển Đông. Nhưng bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam vẫn đoan quyết rằng sự hợp tác này không nhắm đến bất kỳ một quốc gia nào.

Nhưng ngay cả như vậy, hôm thứ Hai Ngũ Giác Đài đã cho công bố một phúc trình nói rằng Trung Quốc đang tăng cường các khả năng mới về quân sự để họ có thể gây ảnh hưởng đến các cuộc tranh chấp trong vùng, mở rộng lãnh hải và không để cho các đối thủ tranh chấp được sử dụng các hải lộ.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton lên tiếng tại một diễn đàn an ninh tổ chức tại Việt Nam trong tháng trước rằng Hoa Kỳ có quyền lợi quốc gia trong việc duy trì quyền tự do thông thương trong vùng biển Đông.

Monday, August 16, 2010

Hoa Kỳ và Trung Quốc xác định thái độ tại Biển Đông

Trich Dan Chim Viet

Tác giả: Giáo sư Carl Thayer

(Trần Bình Nam phóng dịch)

Lời người dịch: Tháng 7/2010 có hai biến chuyển đáng quan tâm tại Á châu. Thứ nhất, hội nghị của Diễn Đàn An Ninh Á châu (Asean Regional Forum – ARF) họp thường niên tại Hà Nội. Tại hội nghị, Hoa Kỳ tuyên bố chính sách mới tại Biển Đông. Thứ hai, Hải quân Hoa Kỳ và Nam Hàn tập trận tại vùng biển chung quanh bán đảo Triều Tiên (1) .

Giáo sư Carl Thayer. Ảnh Google

Trước đó cũng trong tháng 7/2010, giáo sư Carlyle Thayer ở Úc viết bài “The United States and Chinese Assertiveness in the South China Sea” (Hoa Kỳ và Trung quốc xác định thái độ tại Biển Đông) với đầy đủ chi tiết về sự tranh chấp Biển Đông giữa Trung quốc, Việt Nam và Hoa Kỳ. Tài liệu ngắn gọn, nhưng súc tích giúp cho những ai muốn tìm hiểu về các vấn nạn của Biển Đông trong mấy chục năm qua.

Sau đây là bản lược dịch. Giáo sư Thayer bắt đầu bài viết bằng cách nói đến sự quan trọng của căn cứ Hải quân Trung quốc tại Hải Nam và vụ tàu Trung quốc chận đường chiến hạm Impeccable của Hải quân Hoa Kỳ và những lời tuyên bố chủ quyền của Trung quốc trên Biển Đông. Ba động tác này là một thách thức các nước chung quanh vùng Biển Đông và Hoa Kỳ. Gíao sư Thayer đưa ra 3 nguyên nhân gỉải thích tại sao Trung quốc lại có thái độ giành quyền kiểm sóat Biển Đông. Và sau cùng đưa ra 7 đề nghị giúp giải quyết căng thẳng tại đó .

———————————————————————-

Bối cảnh:

Với chính sách chính thức tuyên bố là “hòa bình, hợp tác và phát triển” (peace, cooperation and development) Trung quốc đã theo đuổi chủ thuyết tạo một thế giới “hài hòa” (harmonious world) qua đường phát triển kinh tế và góp phần duy trì hòa bình thế giới.

Trung quốc rất thành công trong chính sách kinh tế nhắm vào xuất cảng là chính, và việc này đòi hỏi năng lượng. Hai nhu cầu, phát triển kinh tế và đầy đủ năng lượng đòi hỏi Trung quốc lo bảo đảm sự lưu thông của các đường biển huyết mạch gần lục địa Trung quốc. (Sea Lines of Communications – SLOCs).

Mặc dù thế giới đang trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế, ảnh hưởng kinh tế của Trung quốc vẫn rất mạnh trong vùng. Trung quốc đặc biệt có vị thế quan trọng vì Trung quốc là chủ nợ 2 trillion mỹ kim mà con nợ là Hoa Kỳ.

Để giúp giải quyết khủng hoảng kinh tế thế giới Trung quốc giải tỏa ngân khoản kích thích kinh tế (stimulus package) trong nước, chính yếu trong ngành xây cất và ngoài nước bỏ nhiều tiền đầu tư làm cho Trung quốc càng có uy thế khi kinh tế thế giới vãn hồi dần.

Nhờ sức mạnh kinh tế, Trung quốc cải tiến trang bị quân đội như tăng cường hỏa tiễn đặt trên đất liền và trên biển đồng thời cải thiện kho vũ khi nguyên tử để đối đầu với kho vũ khí nguyên tử của Hoa Kỳ.

Trung quốc còn phát triển hỏa tiễn tầm ngắn và tầm trung dùng vào việc tấn công Đài Loan trường hợp Đài Loan tuyên bố độc lập. Đồng thời Trung quốc tăng cường sức mạnh của Hải quân để bảo vệ các đường giao thông trên biển và bảo đảm không ai có thể chận eo biển Malacca.

Hoa Kỳ, Nhật Bản và Úc châu từng nhận xét rằng sự phát triển quân lực Trung quốc vượt ngoài nhu cầu tự vệ, và ngân sách quốc phòng Trung quốc công bố chỉ là một phần của ngân sách thực chi . Từ năm 1997 đến nay ngân sách quốc phòng Trung quốc tăng 500%. Đô đốc Mike Mullen, Chủ tịch Bộ Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ nói rằng Trung quốc đặc biệt tăng cường lực lượng Hải quân nhằm có khả năng đối phó với các căn cứ Hải quân Hoa Kỳ trong vùng Á châu.

Các nhà nghiên cứu chiến lược cho rằng Trung quốc đang nới rộng vòng đai phòng thủ tại tây Thái Bình Dương ra vòng đảo ngoài Biển Nhật Bản, Biển Phi Luật Tân và Biển Nam Dương bao gồm cả quần đảo Marianas và Palau tiến sát đến đảo Guam của Hoa Kỳ. Tháng Ba & tháng Tư vừa qua (2010) Hải quân Trung quốc cho tập trận tại phía Nam đảo Okinawa.

Cuộc tập trận đầu tiên trong tháng Ba gồm 6 chiến hạm thuộc Hạm đội Bắc hải tập đánh nhau với Hạm đội Nam hải. Sau đó Hạm đội Bắc hải băng qua eo biển Bashi phía bắc Phi Luật Tân vào neo tại Fiery Cross Reef thuộc quần đảo Trường Sa trước khi tiếp tục tập trận tại phía đông eo biển Malacca.

Cuộc tập trận thứ hai gồm 10 chiến hạm thuộc Hạm đội Đông hải diễn tập tại phía đông bờ biển Đài Loan cùng với máy bay căn cứ trên đất liền tập tiếp tế nhiên liệu trên không, bay đêm, bay tránh radar và thực tập oanh tạc trên biển.

Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương nói sự phát triển lực lượng của Trung quốc làm thay đổi cán cân quân sự trong vùng Thái Bình Dương.

Quan hệ giữa Trung quốc và Hoa Kỳ là quan hệ vừa tranh đua vừa hợp tác, trong đó Đài Loan chiếm một vị trí quan trọng. Trong nhiệm kỳ thứ hai của tổng thống Bush, quan hệ giữa hai bên có chiều dịu xuống, nhưng trong những tháng 9 & 10/2008 Trung quốc ngưng các chương trình hợp tác quân sự khi Hoa Kỳ quyết định bán 6.5 tỉ mỹ kim vũ khí cho Đài Loan. Sau khi tổng thống Obama đắc cử, Trung quốc tiếp nối lại quan hệ quân sự. Bộ trưởng ngoại giao hai nước thăm viếng qua lại. Tổng thống Obama và Chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư đảng cộng sản Trung quốc Hồ Cẩm Đào gặp nhau không chính thức qua các buổi họp G-20 tại Luân Đôn và Pittsburgh. Cuối năm 2009 tổng thống Obama chính thức thăm viếng Bắc Kinh. Trước khi lên đường tổng thống Obama nói ông cho rằng sự vươn lên của Trung quốc không có tính đe dọa ai. Tuy nhiên đầu năm 2010, ông Obama chấp thuận một đợt bán vũ khí khác cho Đài Loan và Trung quốc lại ngưng các chương trình hợp tác quân sự.

Ý nghĩa chiến lược của căn cứ Hải quân Yulin

Năm 2007 vệ tinh dân sự của Anh khám phá Trung quốc xây cất gần xong một căn cứ Hải quân lớn tại Yulin gần thành phố Sanya nằm ở cực nam đảo Hải Nam. Khi hoàn tất căn cứ này có khả năng đưa Hải quân Trung quốc vào hoạt động tại Thái Bình Dương và Biển Đông.

Các hình chụp được cho thấy các hầm và cầu tàu tại Yulin có khả năng đồn trú nhiều chiến hạm và tàu ngầm. Các cầu đang xây có khả năng làm chỗ đậu cho các chiến hạm tấn công loại lớn và hàng không mẫu hạm.

Đồng thời Trung quốc cho cải tiến phi trường tại đảo Woody trong quần đảo Paracels và xây một đài radar tại Fiery Cross Reef trong quần đảo Trường Sa, và các đơn vị Hải quân khác hiện diện gần như thường trực tại Mischief Reef ở phía tây Phi Luật Tân. Các căn cứ và cơ sở này cho Trung quốc khả năng bảo vệ quyền “tự biên tự diễn” của mình trên Biển Đông, và sự giao thông qua lại của hai eo biển Malacca và Singapore.

Căn cứ Yulin giúp rút ngắn đường tiếp vận cho hạm đội Trung quốc hoạt động trong Biển Đông và gián tiếp đe dọa sự tự do lưu thông của thương thuyền các nước Nhật, Đài Loan và Nam Hàn.

Một phần căn cứ Yulin nằm dưới hầm không thể chụp hình bằng vệ tinh, nên không thể xác định được khả năng thật sự của nó. Phần chụp được cho thấy căn cứ Yulin đã có khả năng đồn trú tàu ngầm mang hỏa tiễn liên lục địa. Cuối năm 2007 người ta thấy tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ hai thuộc Loại Jin 095 tại căn cứ Yulin. Trước đây loại tàu ngầm này chỉ có mặt trong Hạm đội Bắc hải.

Khi Yulin hoàn tất căn cứ này sẽ là căn cứ tàu ngầm tấn công của Hải quân Trung quốc. Hiện nay Trung quốc chưa đóng xong các tàu ngầm tối tân, nhưng khi xong Trung quốc có tàu ngầm mang 12 hỏa tiễn có khả năng phóng ngoài biển. Và đây là lực lượng đáng quan ngại khi Trung quốc trang bị chúng với hỏa tiễn nhiều đầu đạn nguyên tử. Chung quanh đảo Hải Nam là vùng nước sâu nên tàu ngầm Trung quốc có thể ẩn náu để phóng hỏa tiển một cách kín đáo. Theo Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ Trung quốc sắp hoàn tất 5 tàu ngầm nguyên tử phóng hỏa tiễn (SSBN), một số sẽ được đồn trú tại Yulin.

Căn cứ Yulin như vậy có khả năng thay đổi cán cân lực lượng trên Biển Đông và là một trở ngại cho sự đi lại của Hải quân Hoa Kỳ (theo nhận xét của Đô đốc Willard) cũng như của Hải quân các nước chung quanh Biển Đông như Việt Nam và Phi Luật Tân.

Trung quốc quấy nhiễu tàu chiến của Hải quân Hoa Kỳ

Tháng Hai-Ba 2009 chiến hạm Hoa Kỳ USNS Impeccable đang làm công tác dò đáy biển tại một vùng cách mũi nam đảo Hải Nam 75 hải lý để đo lường khả năng hoạt động của tàu ngầm Trung quốc xuất phát từ căn cứ Yulin thì ngày 5/3 một chiến hạm nhỏ của Trung quốc chạy chận đầu không quá 100 mét mà không báo trước bằng vô tuyến. Hai giờ sau một máy bay quân sự Trung quốc lọai Y-12 bay thật thấp trên chiếc Impeccable, và chiến hạm Trung quốc trở lại chận đầu chiếc Impeccable lần này cách xa khỏang từ 400 đến 500 mét.

Ngày 7/3 một chiến hạm thu thập tin tức tình báo của Hải quân Trung quốc đến sát chiếc Impeccable dùng vô tuyến liên lạc với đài chỉ huy yêu cầu chiếc Impeccable rời vùng hoạt động nếu không “sẽ lãnh hậu quả”. Hôm sau 8/3 Trung quốc cho 5 chiếc tàu bám theo chếc Impeccablegiả cào (trawler) (2). Hai chiếc trawler tiến sát chiếc Impeccable 15 mét phất cờ Trung quốc bảo Impeccable rời khỏi khu vực tức khắc. Chiếc Impeccable dùng vòi phun nước đuổi tàu Trung quốc. Sau đó chiếc Impecable yêu cầu tàu Trung quốc tránh đường để rời khu vực an toàn tránh tạo khủng hoảng. Có lúc chiếc Impeccable phải ra lệnh lùi máy để tránh húc vào hai chiếc trawler. Khi Impeccable rời vị trí, ngư phủ các chiếc trawler dùng câu móc định cắt đứt dây kéo máy dò đáy biển (Sonar) của tàu Impeccable. (một chiếc thuộc sở kiểm ngư, một chiếc thuộc Viện hải học, một chiến hạm tuần duyên và hai chiếc

Ngày 11/6 Hải quân Trung quốc lại gây sự với Hải quân Hoa Kỳ khi cho tầu ngầm tìm cách cắt máy Sonar của chiếc USS John S. McCain khi chiếc tàu này đang thao dượt với hải quân Nam Dương và Phi Luật Tân .

Hai cuộc đụng chạm này cho thấy với thái độ của Trung quốc Biển Đông có thể là nơi bùng phát những sự cố bất ngờ.

Trung quốc xác định thái độ chủ quyền tại Biển Đông.

Từ năm 2007 Trung quốc đã làm một số hành động đụng chạm chủ quyền của Việt Nam.

Thứ nhất: Trung quốc áp lực các hãng dầu Hoa Kỳ ngưng tiến hành các giao kèo khai thác dầu khí ký với Việt Nam trong vùng “gọi là tranh chấp” trong Biển Đông.

Thứ hai: Trung quốc đơn phương cấm đánh cá trong Biển Đông.

Thứ ba: Trung quốc phản đối với Liên hiệp quốc khi Việt Nam và Mã Lai Á nộp hồ sơ xác định “vùng biển nối dài” chung của hai nước. Đồng thời Trung quốc đòi chủ quyền trên Biển Đông bằng cách đơn phương công bố một bản đồ gồm 9 đường chấm chấm (họp lại thành hình thù như một cái lưỡi bò) choán trọn 80% Biển Đông.

Năm 2007 Việt Nam vạch kế hoạch phát triển vùng biển, dự kiến đến năm 2020 vùng này sẽ đóng góp 55% GDP quốc gia và 55-60% hàng hóa, phẩm vật xuất cảng. Trung quốc âm thầm áp lực các công ty Hoa Kỳ đang tính toán đầu tư vào vùng biển Việt Nam, trong đó có công ty ExxonMobil, rằng nếu ký giao kèo với Việt Nam các công ty này sẽ mất quyền lợi làm ăn với Trung quốc.

Năm 2009 và 2010 Trung quốc đơn phương ra lệnh cấm đánh cá trên vĩ tuyến 12 từ 15-5 đến 1-8. Trung quốc nói mục đích cấm để cho cá sinh đẻ, để chận nạn đánh cá lậu và bảo vệ quyền lợi của ngư dân Trung quốc. Thời gian cấm là mùa đánh cá hằng năm của ngư dân Việt Nam.

Năm 2009 Trung quốc phái 9 chiếc tàu thuộc sở Bảo vệ Ngư nghiệp chạy tuần tra để thi hành lệnh cấm. Tàu Trung quốc chận bắt, lấy cá và đuổi thuyền bè ngư dân Việt Nam ra khỏi khu cấm. Có một lần tàu Trung quốc húc chìm một thuyền đánh cá Việt Nam. Ngày 16/7 Trung quốc bắt giữ 3 thuyền đánh cá của Việt Nam và 37 ngư dân gần đảo Paracels. Sau khi thả 2 thuyền, Trung quốc giữ lại thuyền thứ ba với 12 ngư dân đòi 31700 mỹ kim tiền phạt. Chính quyền tỉnh Quảng Ngãi (nơi xuất phát các thuyền đánh cá bị bắt) không chịu đóng tiền phạt. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối qua tòa đại sứ Trung quốc tại Hà Nội.

Lợi dụng hai bộ Thương Mãi Việt Nam và Trung quốc có chung một Trang Nhà, Trung quốc cho đăng một bản tin phản đối chính quyền Việt Nam (TBN: làm như Việt Nam tự chữi mình!). Khi nhận ra việc dối trá này của Trung quốc, Bộ Thương Mãi Việt Nam cho đóng trang nhà chung.

Chưa hết, tháng 8 khi hai thuyền đánh cá và 25 ngư dân Việt Nam chạy vào tránh bảo tại Paracels, Trung quốc giam thuyền và giam giữ các ngư dân. Lần này Việt Nam phản ứng mạnh mẽ đòi hủy bỏ các phiên họp chung để thảo luận về các vấn đề khai thác ngoài biển đã lên lịch. Trung quốc thả các ngư dân.

Tháng 4/2010 Trung quốc lại ban hành lệnh cấm như năm trước và hai chiếc tàu Yuzheng 311 và tàu tuần duyên 202 của Hải quân Trung quốc đã được phái đến bênh vực cho ngư dân Trung quốc nói là bị lực lượng Hải quân Việt Nam xách nhiễu. Các thuyền đánh cá Việt Nam dùng chiến thuật bao vây gây trở ngại vận chuyển cho tàu Yuzheng 311. Khi Trung quốc gởi thêm chiến hạm tới, các thuyền đánh cá Việt Nam rút đi.

Ủy ban Liên hiệp quốc về Thềm Lục Địa nối dài (Commission on the Limits of the Continental Shell –CLCS) đã định ngày 13/5/2009 là ngày cuối cùng để các quốc gia ven biển trên thế giới nộp bản khai Thềm Lục Địa Nối Dài theo một điều khoản của Luật Biển (UN Convention of Law of the Sea – UNCLOS). Ngày 6/5 Việt Nam và Mã Lai nộp một bản khai cho vùng chung phía Nam, và ngày 7/5 Việt Nam nộp một bản riêng trong vùng phiá Bắc (3).Trung quốc lập tức gởi một văn thư phản kháng đến Liên hiệp quốc (nhưng không nộp bản khai của mình theo tinh thần Luật Biển). Việt Nam gởi văn thư phản đối văn thư của Trung quốc.

Ngay sau đó Trung quốc (như đã nói ở trên) cho công bố một bản đồ gồm 9 đường chấm chấm mơ hồ họp thành một hình chữ U bao trọn Biển Đông nói là vùng biển chủ quyền. Trong 3 bản tuyên bố trước đây (9/1958 về lãnh hải, 1992 về lãnh hải và vùng lân cận, 1996 về đường chuẩn cho lãnh hải) và một bộ luật ban hành năm 1998 về thềm lục địa Trung quốc chưa bao giờ có một đòi hỏi có tính tự tác tự thọ như vậy.

Những hành động của Trung quốc làm Hoa Kỳ quan tâm và thấy cần điều chỉnh thái độ để bảo vệ quyền thương mãi và uy tín của mình. Thái độ của Hoa Kỳ trước đây là không can thiệp vào việc tranh chấp biển đảo giữa các nước trong vùng, và chỉ đặt quan tâm chính vào việc an toàn và tự do lưu thông trên biển.

Những tháng đầu của chính quyền Obama, Trung quốc và Phi Luật Tân bất hòa khi Phi vạch đường căn bản qua các hải đảo Trung quốc gởi chiến hạm tới có ý đe dọa, tổng thống Obama đã ủng hộ Phi bằng cách điện thoại cho bà tổng thống Phi Gloria Macapagal Arroyo xác định rằng Hoa Kỳ vẫn tôn trọng thỏa ước về tàu bè thăm viếng (Visiting Forces Agreement) giữa Hoa Kỳ và Phi.

Tháng 7/2009 Hoa Kỳ xác định quan điểm tại Biển Đông trước quốc hội. Chính phủ gởi hai ông Scot Marciel (Phụ tá bộ trưởng ngoại giao) và Robert Scher (Phụ tá bộ trưởng quốc phòng) đến điều trần trước Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương. Ông Marciel tuyên bố một cách dứt khoát rằng những tuyên bố về biển của Trung quốc tại Biển Đông không có một cơ sở quốc tế nào cả.

Ông Marciel nói với quốc hội rằng Hoa Kỳ có “lợi ích thiết yếu” (vital interest) khi duy trì sự ổn định, tự do lưu thông và bảo vệ quyền buôn bán của mình tại Đông Á. Ông Marciel sau khi tóm tắt cho quốc hội biết việc Trung quốc de dọa các công ty dầu khí của Hoa Kỳ định làm ăn với Việt Nam đã khẳng định: “Chúng ta cương quyết chống lại mọi de dọa các công ty Hoa Kỳ.”

Về việc tàu Trung quốc quấy nhiễu hoạt động của Hải quân Hoa Kỳ ngoài khơi đảo Hải Nam ông Scher xác định thái độ 4 điểm của Hoa Kỳ:

  1. Bằng lời và bằng hành động Hoa Kỳ duy trì sự hiện diện trong vùng.
  2. Hải quân Hoa Kỳ quả quyết duy trì quyền lưu thông trên biển.
  3. Quan hệ an ninh với các nước trong vùng qua các cuộc nói chuyện về chính sách và chiến lược và hợp tác bảo đảm an toàn trên biển.
  4. Tăng cường quan hệ ngoại giao – quân sự với Trung quốc để tránh đụng chạm do sự hiểu lầm.

Khi quan hệ giữa Việt Nam và Trung quốc căng thẳng Việt Nam trở nên gần gũi với Hoa Kỳ hơn. Tháng 6/2008 thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng viếng thăm Hoa Kỳ và hội kiến với tổng thống Bush. Thủ tướng Dũng là vị thủ tướng Việt Nam đầu tiên đến viếng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ sau năm 1975. Trong một thông cáo chung sau chuyến viếng thăm hai bên đồng ý duy trì các cuộc gặp gỡ cao cấp về an ninh và chiến lược. Ngoài ra tổng thống Bush còn tuyên bố Hoa Kỳ ủng hộ “chủ quyền, an ninh và sự tòan vẹn lãnh thổ của Việt Nam” (nguyên văn: the US supports “Vietnam’s national sovereignty, security and territorial integrity”.

Lời tuyên bố của tổng thống Bush không nói đến Biển Đông. Tuy nhiên người ta hiểu rằng đấy là một cách nói tiếp theo lời tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates trước đó vào đầu năm tại Singapore rằng: “Trong chuyến đi Á châu, tôi nghe nhiều quốc gia nói vê` tình trạng an ninh trong vùng do nhu cầu tài nguyên thiên nhiên và than phiền những chính sách ngoại giao có tính áp lực làm cho tình hình trong vùng trở nên phức tạp … Chúng ta nên tránh thái độ có tính áp lực mặc dù được che giấu dưới lớp vỏ hợp tác”. (TBN: Ai cũng biết bộ trưởng Robert Gates nói tới Biển Đông và thái độ đại hán của Trung quốc)

Các lời tuyên bố của Bộ trưởng Gates, của tổng thống Bush và của ông phụ tá ngoại giao Marciel là những lời nhắn nhủ Trung quốc rằng họ không nên đe dọa các công ty Hoa Kỳ định làm ăn với Việt Nam trên Biển Đông.

Quan hệ quốc phòng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ cũng được cải thiện hơn từ năm 2008. Tháng 10/2008 bộ Ngoại giao Việt Nam và Hoa Kỳ bắt đầu nói chuyện cấp cao về chính trị – quân sự. Tháng 4/2009 một số sĩ quan cao cấp Việt Nam được máy bay Hoa Kỳ chở đến mẫu hạm USS John Stennis để quan sát lực lượng Hải Không Quân thao dượt. Tháng 8/2009 và tháng 3/2010 cơ sở sửa tàu của Việt Nam sửa chữa các tàu hải quân Hoa Kỳ thuộc lực lượng vận tải đường biển (US Navy Military Sealift Command). Cuối năm 2009 bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh viếng thăm Hoa Thịnh Đốn và gặp bộ trưởng Gates tại Bộ quốc phòng. Trên đường đi tướng Thanh ghé Hawai thăm Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ tại Thái bình Dương. Theo chương trình, trong những tháng cuối năm 2010 này các giới chức quân sự cao cấp Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ gặp nhau. Tờ Quadrennial Defence Review năm 2010 viết rằng Hoa Kỳ xem Việt Nam và Indonesia là hai đối tác chiến lược quan trọng.

Những trở lực trong mối quan hệ Hoa Kỳ-Trung quốc

Sau khi nhậm chức chính quyền Obama mở đầu quan hệ với Trung quốc qua cuộc họp song phương bàn về Chiến lược và Kinh tế (Strategic and Economic Dialogue – SED) trong tháng 7/2009 tại Hoa Thịnh Đốn. Buổi họp sau đó tổ chức tại Bắc Kinh tháng 5/2010.

Tháng 8/2009 bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates tiếp tướng Xu Caihou, Phó chủ tịch Quân ủy trung ương của quân đội Trung quốc tại Pentagone. Tướng Xu Caihou còn gặp Cố vấn an ninh quốc gia James Jones, Tham mưu trưởng Liên quân Đô đốc Michael Mullen, thứ trưởng ngoại giao James Steinberg và thăm xã giao tổng thống Obama.

Ông Gates và tướng Xu đồng ý một chương trình 7 điểm:

  1. Thăm viếng cấp cao.
  2. Hợp tác nhân đạo và giúp đỡ nhau khi có thiên tai.
  3. Trao đổi hiểu biết y học quân sự.
  4. Trao đổi để hiểu nhau hơn giữa các sĩ quan cấp Tá và cấp Úy
  5. Trao đổi văn hóa và thể thao giữa hai quân đội.
  6. Tăng cường các cuộc thăm viếng ngoại giao.
  7. Trao đổi hiểu biết về cách thức tăng cường an toàn trên biển.

Tuy nhiên tướng Xu nêu ra 4 trở lực chính trong mối quan hệ Mỹ Trung gồm:

  1. Quan hệ quân sự giữa Hoa Kỳ và Đài Loan. Nếu Hoa Kỳ khắng khít quân sự với Đài Loan thì quan hệ quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung quốc khó được cải thiện.
  2. Tàu bè và máy bay của Hoa Kỳ không nên vào khu đặc quyền kinh tế của Trung quốc. Hoa Kỳ nên tôn trọng Luật Biển và các luật về biển của Trung quốc
  3. Một số luật của Hoa Kỳ làm trở ngại quan hệ Hoa Kỳ-Trung quốc như Luật “Defense Authorization Act” thông qua năm 1999
  4. Hoa Kỳ còn nghi ngờ thiện chí chiến lược của Trung quốc.

Tháng Ba/2010 Trung quốc nói với hai viên chức Hoa Kỳ thăm viếng Trung quốc rằng Trung quốc xem Biển Đông là vùng có “quyền lợi thiết yếu” (core interest) của Trung quốc. Đây là lần đầu tiên Trung quốc đưa Biển Đông lên hàng “quyền lợi thiết yếu” như Đài Loan và Tây Tạng với ý nghĩa nếu bị xâm phạm Trung quốc sẽ dùng vũ lực để bảo vệ.

Có nhiều lý do giải thích tại sao gần đây Trung quốc khẳng định lập trường đòi chủ quyền của mình trên Biển Đông.

T

hứ nhất, Trung quốc muốn áp lực Việt Nam cùng với Trung quốc khai thác dầu khí chung trong vùng biển ngoài khơi trên nguyên tắc thuộc Việt Nam. Nếu quả thật vậy thì Trung quốc khó đạt được ý đồ của mình vì Việt Nam kh

ông dễ gi để Trung quốc hưởng lợi những gì nằm trong (hay sát với) vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của mình. Trước đây Trung quốc áp lực các công ty nước ngòai không ký giao kèo khai thác dầu khí với Việt Nam cũng trong mục đích này (và tạm thời thành công). Hai công ty BP của Anh và ExxonMobil của Mỹ đã tạm ngưng khai thác theo giao kèo, nhưng gần đây cho biết sẽ tiếp tục tiến hành giao kèo đã ký. Hoa Kỳ đã cho Trung quốc biết Hoa Kỳ không chấp nhận ai làm áp lực với các công ty Hoa Kỳ làm ăn hợp luật lệ quốc tế .

Thứ hai, Trung quốc muốn cho Việt Nam thấy sự bất mãn khi biết Việt Nam hình như đang chuẩn bị mang việc xích lại với Hoa Kỳ ra bàn thảo trong đại hội 11 của đảng vào năm 2011. Từ năm 1995 sau khi thiết lập bang giao với Hoa Kỳ Việt Nam vẫn rất dè dặt trong quan hệ với Hoa Kỳ vì ngại làm mất lòng Trung quốc. Nhưng từ năm 2003 về sau áp lực trên Biển Đông của Trung quốc càng mạnh thì Việt Nam càng bớt dè dặt khi xích lại với Hoa Kỳ.

Cuối năm 2007 khi Trung quốc thành lập quận huyện bao gồm cả Trường Sa, sinh viên Việt Nam tại Sài Gòn và Hà Nội đã biểu tình phản đối và Trung quốc đã mạnh mẽ áp lực Việt Nam ngăn cấm các cuộc biểu tình. Qua năm 2008 sự chống đối của nhân dân trong nước trước ý đồ lấn chiếm của Trung quốc lên cao và cao điểm là năm 2009 khi tướng Võ Nguyên Giáp lên tiếng cho rằng vụ Trung quốc khai thác mỏ Bauxite ở cao nguyên Việt Nam là có hại cho an ninh quốc gia. Đảng cộng sản Việt Nam nhận ra rằng khuynh hướng chống Trung quốc trong nước là một đe đọa cho sự lãnh đạo của đảng cộng sản nếu họ không có chương trình đáp ứng.

Những nhà quan sát tình hình Việt Nam đồng ý rằng nội bộ lãnh đạo Việt Nam có hai khuynh hướng. Một muốn mở rộng quan hệ quốc tế để hội nhập rộng rãi. Một muốn thắt chặt quan hệ với Trung quốc. Và Trung quốc tỏ thái độ cứng rắn trên Biển Đông để cảnh cáo Việt Nam rằng theo họ thì có lợi hơn là chống họ. Nhưng hình như trước tình cảm chống Trung quốc của nhân dân nhóm thứ hai chủ trương thân Trung quốc cũng phải đồng ý cần tìm một con đường quốc phòng khác hơn là dựa vào Trung quốc.

Thứ ba, chính sách Biển Đông của Trung quốc có thể do nhu cầu năng lượng. Làm chủ được Biển Đông có nghĩa là làm chủ một kho dầu khổng lồ và bảo đảm một đường lưu thông quan trọng trên biển. Trung quốc đã cải tiến thiết bị Hải quân và thiết lập căn cứ ở Yulin trong mục đích này.

Năm 2002 khối Asean và Trung quốc ký bản “Tuyên bố về Cách ứng xử trên Biển Đông” (Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea) đồng ý “tự chế và thận trọng trong các hoạt động để tránh gây ra tranh chấp” (self restraint in the conduct of activities that would complicate or escalate disputes). Tuy nhiên tình hình an ninh trên Biển Đông càng căng thẳng và trở nên cấp bách trong ba năm qua. Sự đụng chạm giữa Hải quân Trung quốc và Hải quân Hoa Kỳ tại phía Nam đảo Hải nam cho thấy Biển Đông có thể là nơi “tóe ra lửa” nếu các bên liên hệ thiếu thận trọng.

Để kết thúc bản Tài liệu về tranh chấp Biển Đông, giáo sư Thayer đề nghị một giải pháp 7 điểm để giảm căng thẳng trên Biển Đông:

  1. Trung quốc cần thảo luận với các nước trong vùng về quyền đánh cá và chấm dứt việc đơn phương cấm đánh cá vùng này vùng khác hằng năm một cách tùy tiện.
  2. Cần chi tiết hóa việc thi hành bản “Tuyên bố về Cách ứng xử trên Biển Đông” ký năm 2002.
  3. Trung quốc và Hoa Kỳ cần có một bản văn Thỏa Thuận về đụng chạm trên biển (Incidents At Sea Agreement) để tránh đụng chạm trên biển ngoài ý muốn.
  4. Các nước có vũ khí nguyên tử, nhất là các nước trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc cần tham gia vào “Hiệp Định Xác lập vùng Phi nguyên tử Đông Nam Á” (Southeast Asia Nuclear Free Weapons Zone Treaty). Trung quốc hứa sẽ tham gia (nhưng chưa ký). Hiệp hội Asean cần xác định vùng nam đảo Hải Nam có nằm trong vùng địa lý áp dụng của Hiệp Định này không ?
  5. Các nước trong vùng chung quanh Biển Đông cần thảo luận ở cấp cao cách thi hành Luật Biển để tránh sự tranh chấp về nội dung các bản khai nộp Liên hiệp quốc liên quan đến thềm lục địa nối dài và xác định rõ ràng Hải quân các nước có quyên hoạt động gì trong vùng đặc quyền kinh tế của nước khác.
  6. Hội nghị các bộ trưởng quốc phòng khối Asean + tại Hà Nội sắp đến cần tạo sự tin cậy và đề ra các biện pháp đề phòng tại Biển Đông.
  7. Các nước trong vùng cần thảo luận để thành lập một cơ chế gặp nhau thường xuyên giữa các lãnh tụ quốc gia để thảo luận những vấn đề còn cấn cái giữa các nước liên quan đến an ninh trong vùng.

© Trần Bình Nam (Bản tiếng Việt)

August 15, 2010

——————————————————————

Ghi chú:

(1) Xem tài liệu số 360 trang Bình Luận TBN

(2) Giả cào là danh từ ngư dân vùng duyên hải miền Trung Việt Nam dùng để gọi thuyền đánh cá bằng lưới kéo lê sát đáy biển.

(3) Xem tài liệu số 311 trang Bình Luận TBN

Sunday, August 15, 2010

Blogger Mẹ Nấm: Tại sao lại phải từ bỏ quyền được nói điều mình suy nghĩ?

Trích VOA News

Cô Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, tức blogger Mẹ Nấm, người từng bị bắt tạm giam hồi tháng 9 năm 2009 vì đã có những bài blog viết về những chủ đề mà chính quyền coi là nhạy cảm như vấn đề bauxite Tây Nguyên hay vấn đề Trường Sa và Hoàng Sa, mới đây đã được tổ chức Human Rights Watch trao giải thưởng Hellman/Hammet, một giải thưởng để vinh danh những cây bút dũng cảm từng bị chính quyền trấn áp. Blogger Mẹ Nấm cũng đã từng bị giới hữu trách từ chối cấp hộ chiếu và không cho phép xuất cảnh, nhưng cô đã không ngừng khiếu nại để đòi lại quyền lợi chính đáng của một công dân.

Blogger Mẹ Nấm sẽ tiếp tục viết lên những điều trăn trở của một công dân vì cho rằng đó là trách nhiệm của một người Mẹ.

Chia sẻ

VOA: Xin chào chị Như Quỳnh, xin phép được hỏi chị từ khi bị tạm giam giữ rồi được thả đến nay cuộc sống của chị ra sao ạ?

Như Quỳnh: Sau khi bị tạm giữ thì cuộc sống gia đình nó cũng có chút xáo trộn, công việc nói chung cũng có xáo trộn. Những khó khăn thì không ai gọi tên hết được, nhưng nói chung là có thay đổi so với trước, thậm chí các mối quan hệ như bạn bè thì nhiều người cũng kiêng dè với mình hơn ngày xưa.

VOA: Năm ngoái, chị đã đồng ý ngưng viết blog như một điều kiện để được trả tự do, sau đó chị viết trên blog của mình rằng chị hứa sẽ không viết blog nữa, nhưng gần đây chị lại tiếp tục viết blog, tại sao chị lại thay đổi quyết định của mình vậy?

Như Quỳnh: Thiệt ra sau khi mình trở về nhà 2 ngày thì mình đã đưa ra quyết định không viết blog nữa, vì trong cam kết mà phía an ninh buộc chồng mình phải ký có một đoạn cam kết “không để vợ tôi viết blog nói xấu nhà nước nữa”. Mình là phụ nữ mà, nên cái quan trọng nhất trong gia đình là phải giữ hòa khí, vì vậy mình chọn việc từ bỏ viết blog để giữ hòa khí trong gia đình là cái thứ nhất. Cái thứ hai, khi làm việc thì an ninh họ cũng gợi ý là mình dừng viết blog đi, đừng có viết blog nữa. Mình nghĩ thời điểm đó mình dừng viết blog là vì gia đình, vì một cuộc sống yên ổn như một người bình thường khác.

Cho đến khoảng tháng 2/2010 thì mình xin cấp hộ chiếu, khi nhận hồ sơ của mình thì giấy tờ bình thường thôi, nhưng đến chiều họ lại báo là do có thông báo yêu cầu từ phía cơ quan an ninh điều tra từ tỉnh Khánh Hòa thì mình chưa được phép xuất cảnh, cho nên họ không cấp hộ chiếu cho mình được. Cái điều đó nó làm mình cảm thấy khó chịu, bởi vì khi mà mình được trả tự do trở về nhà, mình cảm thấy mình không được tự do lắm vì cuộc sống vẫn bị dòm ngó và việc không cấp hộ chiếu cho mình thì giống như mình không có đủ quyền của một công dân bình thường. Cho nên mình nghĩ mình đã hứa là mình không viết blog nữa, nhưng họ vẫn chưa xem mình là một công dân bình thường, vì vậy tại sao mình lại phải từ bỏ cái quyền được nói điều mình suy nghĩ, cho nên mình viết blog lại.

VOA: Khi đó chị có sợ rằng việc không giữ lời hứa này sẽ gây thêm khó khăn cho mình không?

Như Quỳnh: Thật sự là cái cảm giác sợ hãi nhất của một con người có lẽ là cảnh tù tội, mất tự do, và khi mình đã trải qua cái cảm giác mất tự do rồi thì mình nghĩ là không có nỗi sợ hãi nào có thể lớn hơn được nỗi sợ hãi đó.

VOA: Còn bây giờ chị đã được cấp hộ chiếu rồi phải không ạ?

Như Quỳnh: Mình đã được cấp hộ chiếu hôm thứ Hai vừa qua.

VOA: Vậy là do giới hữu trách họ thay đổi quyết định, thay đổi thái độ hay là có lý do gì khác ạ?

Như Quỳnh: Mọi người nói có thể là nhiều lý do, đặc biệt là việc mình trả lời phỏng vấn đài CNN trong câu chuyện về một blogger Việt Nam. Nhưng thực sự thì mình vẫn muốn tin rằng cơ quan an ninh điều tra họ có người thực sự biết lắng nghe và biết sửa sai. Bởi vì thái độ làm việc sau này của họ đối với mình rất nhẹ nhàng. Cho nên dù có lý do A, B, C, D nào đó thì mình vẫn muốn tin là cơ quan an ninh điều tra họ đã biết lắng nghe, dù là muộn màng.

VOA: Ngoài ra, chị có làm đơn khiếu nại lên cơ quan nào khác không ạ?

Như Quỳnh: Có, sau khi không được cấp hộ chiếu thì mình có làm đơn gửi thẳng lên ông giám đốc công an tỉnh Khánh Hòa, tức là người chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ cơ quan an ninh ở Nha Trang, thì mình có nói về việc mình không được cấp hộ chiếu. Lúc đó mình nghĩ không phải mình đòi hộ chiếu mà là mình nghĩ phải có lý do chính đáng chứ không phải đề nghị chung chung, bởi vì mình có gửi cho ông ấy cả quyết định trao trả tự do nữa, thì mình muốn biết chính xác là tại sao mình không được cấp hộ chiếu, chứ không phải từ đơn vị cấp hộ chiếu là PA35 họ nói một lý do chung chung như vậy, mình thấy không thỏa đáng thì mình khiếu nại lần thứ nhất. Nhưng sau đó im lặng không có sự hồi đáp nào hết, khoảng hai tháng cho đến khi mình xuất hiện trên CNN, thì mình gửi tiếp đơn khiếu nại lần thứ hai, thì họ mời mình lên làm việc rất là nhẹ nhàng.

VOA: Sau vụ việc này chị rút ra được kinh nghiệm gì?

Như Quỳnh: Cái chuyện không được cấp hộ chiếu mình nghĩ là có thủ tục khiếu nại. Vì vậy những ai, những trường hợp nào không được cấp hộ chiếu hoặc bị tịch thu hộ chiếu một cách trái phép, mình gọi là trái phép tức là mình ra sân bay rồi bị tịch thu hộ chiếu, thì mình nghĩ nên kiên nhẫn và làm đơn khiếu nại, vì công an thì cũng phải theo luật pháp thôi. Mình có quyền phản đối và đừng có im lặng. Mình có gặp nhiều trường hợp rồi, họ hứa hẹn là sẽ cấp, để qua thời điểm này, thời điểm kia, thời điểm nhạy cảm, hoặc qua vụ này sẽ cấp hộ chiếu, nhưng mà đừng bao giờ thỏa hiệp với những lời hứa như vậy, bởi vì khi mà mình dễ dãi thỏa hiệp với một lời hứa mà không có văn bản, thì những người đai diện luật pháp, đơn giản ở đây là công an, thì họ sẽ có cơ hội để tạo ra tiền lệ xấu là tiếp tục giữ im lặng trước sự đòi hỏi quyền lợi công dân chính đáng của mình.

VOA: Khi không được cấp hộ chiếu chị đã viết blog lại, giống như một cách để bày tỏ sự phản đối, bây giờ đã được cấp hộ chiếu rồi, chị có định tiếp tục viết blog nữa không thưa chị?

Như Quỳnh: Thực sự cái mục đích của mình viết blog hay trả lời phỏng vấn thì nó không phải là vấn đề hộ chiếu, vì từ xưa đến giờ những điều mình viết nó là một cái trăn trở hay bức xúc rất bình thường của một công dân thôi. Xã hội mà, phải có phản biện thì nó mới tốt đẹp chứ! Cho nên mình nghĩ mình sẽ tiếp tục viết blog vì mong muốn một sự thay đổi tốt đẹp hơn cho xã hội Việt Nam hiện tại thôi.

VOA: Và chị sẽ tiếp tục viết về các đề tài được cho là nhạy cảm?

Như Quỳnh: Nếu như nhà nước vẫn tiếp tục bỏ qua các ý kiến của các chuyên gia, như vấn đề bauxite hay vấn đề chủ quyền, nếu như mà cứ để quyền lợi của người dân Việt Nam giống như ngư dân Việt Nam bị bắn, bị giết, mà nhà nước vẫn im lặng, không có động thái nào mạnh mẽ hơn, thì mình nghĩ là không chỉ mình mà tất cả các blogger Việt Nam sẽ tiếp tục viết những đề tài được cho là nhạy cảm.

VOA: Chị từng viết “nếu tôi có can đảm như những những nhà ái quốc đi trước, thì trang blog này sẽ còn tiếp tục”, và bây giờ trang blog đang được tiếp tục, phải chăng giờ đây chị đã lấy lại được can đảm?

Như Quỳnh: Mình thì mình không nghĩ như vậy, ở cái thời điểm mà người ta sợ hãi hoặc là để bảo toàn cái hạnh phúc gia đình mình thì người ta buộc phải đưa ra sự lựa chọn, tuy nhiên, khi những người thân trong gia đình có thể ngồi xuống lắng nghe nhau là một, cái thứ hai là vì tương lai của con cái nữa. Tương lai của chính mình thì có thể gần quá rồi, gần nửa đời người rồi, nhưng còn tương lai của con cái nữa, mình không nghĩ là mình can đảm đâu, đó là trách nhiệm của một người Mẹ thôi.

VOA: Chị là một trong 6 cây bút Việt Nam được Human Rights Watch trao giải thưởng Hellman/Hammett năm nay, chị có thể cho biết cảm tưởng của chị khi được nhận giải thưởng này được không ạ?

Như Quỳnh: Thực sự mình rất là bất ngờ khi mình được nhận giải thưởng, bởi vì từ xưa đến giờ giải thưởng này đều dành cho các nhà văn. Mình bất ngờ và vinh dự vì được là một trong hai blogger được nhận giải thưởng này.

VOA: Chị có sợ giải thưởng sẽ đem đến cho chị thêm rắc rối không?

Như Quỳnh: Thật sự là mình không nghĩ là nó sẽ rắc rối nhiều, nhưng những người xung quanh mình hàng ngày ai cũng nói là nó sẽ rắc rối, nên mình cũng hơi sợ. Tại vì mình nghĩ rằng giải thưởng này nó là vinh dự đối với cá nhân mình, nhưng mà đối với một đất nước mà có nhiều công dân nhận được giải thưởng của Human Rights Watch thì thực sự nó là điều đáng buồn, nếu không muốn nói là điều đáng xấu hổ cho sự tự do, dân chủ của nước đó. Mình thì mình ước là nếu có thể đổi được vinh dự của cá nhân mình thì mình muốn là năm sau và nhiều năm tới nữa Human Rights Watch không vinh danh bất kỳ người Việt Nam nào nữa tại vì Việt Nam đã có sự tiến bộ về tự do và dân chủ.