Translate

Thursday, August 12, 2010

Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước

VietCatholic News (11 Aug 2010 11:45)
Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước
Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý” (K.Marx)

Tham luận của Trần Mạnh Hảo trong đại hội Hội Nhà Văn Việt Nam lần thứ XIII
Soạn theo thư “mời viết tham luận” của nhà văn Hữu Thỉnh- chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam – nhờ nhà thơ Trần Đăng Khoa đọc dùm – cám ơn !


Kính thưa quý đồng nghiệp cầm bút
Thưa quý vị quan khách và quý vị lãnh đạo,

Thói thường, con người sợ món gì nhất? Sợ ma quỷ ư? Không! Sợ vợ ư? Không! Sợ công an ư? Không! Sợ kẻ cầm quyền ư? Không! Sợ chết ư? Không!

Theo chúng tôi, con người trên mặt đất này sợ nhất sự thật! Vì vậy, ngạn ngữ Việt Nam từng nói: “Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng”. Người Trung Hoa từ thượng cổ đã nói: “Trung ngôn nghịch nhĩ”. Người Ba Tư cổ khuyên: “Nếu nói ra sự thật, anh sẽ chết”. Người Ai Cập xưa cảnh cáo: “Khi sự thật bị bỏ quên quá lâu, một hôm nó thức dậy thành ngày tận thế”. Ngạn ngữ Tây Tạng tiền Phật giáo khuyên: “Mày chỉ được phép nói ra sự thật, nếu mày làm vua”. Thổ dân Úc bảo: “Ai nhìn thẳng vào sự thật sẽ bị mù mắt”. Lịch sử nhân loại đã ghi nhận hàng triệu con người từng dám cả gan nói lên sự thật mà bị mất mạng, bị tù tội hay bị quản thúc tại gia.

Đã có bao nhiêu lý thuyết chính trị thề bồi giải phóng con người, bao nhiêu cuộc lật đổ, cuộc cách mạng tuyên thệ giải phóng con người, giúp con người hoàn toàn tự do, sau khi đã giết hàng triệu triệu sinh mạng. Rút cuộc, con người hình như vẫn chưa được hoàn toàn giải phóng, chưa hoàn toàn được tự do, con người vẫn còn sợ hãi vì bị sự dối trá thống trị? Một số đất nước, một số dân tộc trên hành tinh vẫn còn bị nhốt trong nhà ngục có tên là dối trá. Cần phải làm một cuộc cách mạng của sự thật mới mong giải thoát cho nhân dân khỏi ngục tù kia.

Chìa khóa cuối cùng giúp con người được giải phóng, được hoàn toàn tự do, chính là sự thật, một sự thật không còn bị giấu như loài mèo giấu của quý. Karl Marx đã tôn vinh sự thật lên tột cùng của nhận thức luận và phương pháp luận: “ Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý”: không có sự thật đi kèm, mọi kết luận, mọi lý thuyết, mọi khế ước, mọi hội kín, mọi cuộc cách mạng đều chỉ là ngụy lý, ngụy tạo, là lừa bịp. Cố thổng thống Ba Lan Lech Kaczynxki ( 1949-2010) người vừa bị tử nạn trong vụ rơi máy bay trên đường bay đến rừng Katyń tham dự lễ kỷ niệm 22.440 người con ưu tú của dân tộc Ba Lan bị Hồng quân Liên Xô chôn sống hồi đầu chiến tranh thế giới thứ hai; trong bài diễn văn viết sẵn mà ông không còn cơ hội để đọc, có đoạn viết như sau: “Sự thật, kể cả sự thật đau đớn nhất luôn luôn giải phóng cho con người. Sự thật gắn kết. Sự thật mang lại sự công bằng. Sự thật chỉ ra con đường hòa hợp”.

Lấy ý tưởng từ câu cách ngôn kinh điển của K. Marx và lời trăn trối thiêng liêng thống thiết lớn lao của ngài cố tổng thống Ba Lan trên, chúng tôi viết bản tham luận theo yêu cầu của Hội Nhà Văn Việt Nam này.

Đoxtoiepxki (Dostojewski), nhà văn vĩ đại nhất của chủ nghĩa hiện thực Nga và thế giới, từng tuyên ngôn rất hoa mỹ, rằng: “Cái đẹp sẽ cứu chuộc thế giới”. Chúng tôi thêm: “Sự thật sẽ cứu chuộc thế giới”. Sự thật sẽ cứu chuộc nền văn học của chúng ta, cứu chuộc Tổ Quốc ta, nếu chúng ta cả gan một lần cùng nhau: “ Gọi sự vật bằng tên của nó” theo cách ngôn của phương Tây.

Nếu đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam thử một lần hợp tác với đất nước, với dân tộc Việt Nam mở “HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG CHỐNG GIẶC NÓI DỐI” để tìm ra con đường cứu nguy dân tộc đang trên đà suy vong, thì công này của quý vị rất lớn. Ông cha chúng ta đã đánh thắng giặc Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh…để bảo tồn đất nước. Tất cả các thứ giặc trên cộng lại cũng không ghê gớm bằng giặc nói dối đang tàn phá Tổ Quốc ta, giống nòi ta. Lần này, nếu nhân dân ta không vùng lên đáng tan BỌN GIẶC CÓ TÊN LÀ DỐI TRÁ, chắc chắn đất nước ta sẽ bị kẻ thù phương Bắc nuốt chửng, như mấy nghìn năm trước chúng đã nuốt chửng toàn bộ các dân tộc Bách Việt từng định cư lâu dài phía nam sông Dương Tử.

Chúng tôi viết bản tham luận này cũng để nhằm hưởng ứng cuộc hội thảo: ”Văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay” do Ban Tuyên giáo Trung Ương vừa tổ chức tại Đà Lạt trong hai ngày 12-13/7/2010 với hơn hai trăm văn nghệ sĩ và các nhà lý luận phê bình hàng đầu Việt Nam tham dự. Cuộc hội thảo dũng cảm kêu gọi văn nghệ sĩ từ trên mây tỉnh giấc, quay về với hiện tình đất nước do GS.TS. Phùng Hữu Phú (Ủy viên trung ương đảng, phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo trung ương, chủ tịch Hội đồng lý luận phê bình trung ương, trưởng ban chỉ đạo hội thảo). Theo “Đại từ điển Tiếng Việt” trang 803, từ “hiện thực” có nghĩa như sau: “Cái có thật, tồn tại trong thực tế” (Bộ Giáo dục & Đào tạo – Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam-NXB Văn hóa thông tin xuất bản 1998). Như vậy, khái niệm “hiện thực” chính là sự thật đã và đang xảy ra trong thực tại trên đất nước ta. Cuộc hội thảo của Ban tuyên giáo trung ương vừa qua có thể được gọi bằng một cách khác: “ Văn học nghệ thuật phản ánh sự thật của đất nước hôm nay”. Muốn phản ánh được sự thật của đất nước hôm nay, việc trước tiên của chúng ta là phải nhìn ra sự thật, gọi đúng tên sự vật, không phải sự thật tô hồng hay sự thật bôi đen, mà sự thật đúng như nó đang tồn tại khách quan quanh ta.

Lâu nay, vẫn nghe dân gian xì xào nửa hư nửa thực rằng: “Các thế lực thù địch (xin lỗi, tiên sư nó) nói cái gì hình như cũng đung sắc đúng, ban tuyên giáo trung ương (xin lỗi ) nói cái gì hình như cũng sờ ai sai…” thì quả là chưa chắc; bằng chứng là trong hoàn cảnh đất nước mà sự thật trốn biệt như hôm nay, thì việc ban tuyên giáo trung ương kêu gọi nhà văn chúng ta hãy mở mắt, từ bỏ giấc nam kha vô tích sự quá dài để nhìn vào sự thật, nói lên sự thật đất nước, là một việc làm quá đúng.

Tất nhiên, sự thật mà Ban Tuyên giáo trung ương kêu gọi nhà văn nhìn nhận được nhìn bằng mắt thường, chứ không phải sự thật bịt mắt bắt dê, hay sự thật được nhìn bằng mắt kẻ khác, nhìn bằng những thấu kính ảo, kính lồi, kính lõm, hay chiếc gương chiếu yêu, chiếu bong …Thâm ý của ban tuyên giáo trung ương hình như muốn chúng ta tìm lại phong trào: “nói thẳng, nói thật” thời kỳ đối mới năm 1986 -1987 do Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh phát động?

Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, trong cuộc gặp mặt văn nghệ sĩ năm 1987, đã làm gương nói thẳng nói thật, khi ông đặt vấn đề rốt ráo cho văn học nghệ thuật là nhà nghệ sĩ phải có tự do sáng tác; ông nói: “ Cởi trói như thế nào, cởi trói nói ở đây trước hết là Đảng phải cởi trói cho các đồng chí…Tôi cho rằng khi những sợi dây ràng buộc được cắt đi, sẽ làm cho văn học nghệ thuật như con chim tung cánh bay lên trời xanh…”.

Rõ ràng, qua lời Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Đảng đã thừa nhận từng trói văn nghệ sĩ và trí thức rất nhiều năm. Lần này, Ban tuyên giáo trung ương, thông qua cuộc hội thảo cấp nhà nước: “Văn học nghệ thuật hướng vào sự thật của đất nước” đã khuyến khích kẻ hèn này là chúng tôi nói lên sự thật, toàn là những sự thật chết người, sự thật mà chính quyền cố tình giấu diếm vì món lợi của quyền lực, với sự ngụy biện chống lại lẽ phải, chống lại chân lý: “Nói ra sự thật lúc này không có lợi”. Chả lẽ vì cái lợi, vì miếng ăn mà chúng ta đành phải nói dối hết đời ông đến đời cha, hết đời con đến đời cháu hay sao? Vậy chừng nào nhà nước Việt Nam mới cho người dân chúng tôi công khai nói ra sự thật đây? Chúng tôi đành lấy lời dạy của K. Marx làm bùa hộ mệnh: “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý” để một lần cuối cùng nói ra sự thật của đất nước chúng ta, dẫu có bị bị làm phiền, thậm chí bị tù đầy cũng mặc. Một kẻ nói dối, một dân tộc nói dối: ” lộng giả thành chân”, là một kẻ, một dân tộc không có tự do, không có độc lập, không có dân chủ, không có chân lý và lẽ phải…Khi một kẻ, một dân tộc phải núp vào sự dối trá để tồn tại, kẻ đó, dân tộc đó là một kẻ yếu, một dân tộc yếu đang trên đường suy vong. Chỉ có kẻ mạnh, kẻ tự tin, kẻ có liêm sỉ, có đạo đức mới không sợ sự thật, dù là sự thật đau đớn nhất, khủng khiếp nhất mà thôi.

Được lời như cởi tấm lòng, chúng tôi xin kể ra “SỰ THẬT ĐẤT NƯỚC” qua mắt mình, cái mà nền văn học của chúng ta lâu nay lảng tránh, làm ngơ, mặc “quốc gia hưng vong”, “ thất phu” thay vì “ hữu trách” thì hầu như cánh “thất phu” nhà văn thảy đều “ tắc trách”…Chúng tôi mong 700 tờ báo của lề phải, tức báo của đảng và nhà nước, hãy hạ cố chỉ ra những sự thật mà chúng tôi gọi tên trong bài tham luận này đúng hay sai. Còn nếu quý vị dùng công an hay nhà tù để đối thoại với chúng tôi thì quý vị đã mặc nhiên thừa nhận chúng tôi nói đúng; chỉ vì đuối lý mà quý vị mới phải dùng hạ sách là làm phiền chúng tôi, đe dọa chúng tôi thì quý vị đã không chính danh quân tử, dùng nền chính trị bá đạo ứng xử với người dân, khi người dân dám nói lên sự thật để hi vọng trên đất nước đau thương và cam chịu này le lói một nền chính trị vương đạo, dựa vào sự thật, lương tri và lẽ phải. Trong hàng trăm sự thật nhãn tiền của đất nước, chúng tôi chỉ xin kể ra ba sự thật mà thôi:

SỰ THẬT MỘT: chưa bao giờ, số phận dân tộc ta, đất nước ta có nguy cơ tiêu vong như hôm nay: nước nhà đang bị giặc ngoại bang xâm lấn bằng cuộc chiến tranh ngọt ngào, chiến tranh ôm hôn thắm thiết và tặng hoa, tặng quà anh anh chú chú, bằng cách chiếm dần hai quần đảo chiến lược Hoàng Sa và Trường Sa, lấn chiếm dần dần biên giới đất liền và hải đảo, khiến nguồn lợi biển vô cùng tận của ta rồi sẽ mất hết, dân tộc ta không còn đường ra đại dương, coi như tiêu. Ngoại bang dùng chiêu bài “ý thức hệ” và “16 chữ vàng” làm dây trói vô hình, trói buộc đảng cầm quyền và nhà nước Việt Nam phải nhân nhượng kẻ xâm lược hết điều này đến điều khác. Trên đất liền, ngoại bang dùng con bài khai thác bauxite, mua đất thời hạn 100 năm của 18 tỉnh lấy cớ trồng rừng, thực chất là công cuộc chiếm đất di dân theo kiểu vết dầu loang, theo kiểu “nở hoa trong lòng địch”. Đến nỗi, khi giặc chiếm Hoàng Sa rồi đặt tên quận huyện cho quần đảo này, sinh viên thanh niên biểu tình chống giặc lại bị nhà nước Việt Nam bắt. Vậy, nhà nước chúng ta hiện nay đứng về phía ngoại bang xâm lược hay đứng về phía nhân dân ta? Cũng chưa bao giờ như hôm nay, thiên nhiên và môi trường sống trên nước ta lại bị phá hoại khủng khiếp như thế: rừng bị triệt phá gần hết, sông ngòi đồng ruộng cạn kiệt nguồn nước, lụt lội kinh hoàng, khí trời bị ô nhiễm tới mức cuối cùng, nước mặn xâm hại phá hủy các đồng bằng. Chỉ cần một trận mưa lớn là Hà Nội, Sài Gòn biến thành sông do quy hoạch xây dựng phản khoa học. Hạt lúa, củ khoai, mớ rau, tôm cá, thịt gia súc, gia cầm cũng đang bị các chất hóa học độc hại chứa trong thức ăn, các chất tăng trưởng, chất bảo quản độc hại ám sát, khiến sinh tồn của giống nòi có cơ biến dạng…

Đạo đức xã hội tha hóa tới mức cuối cùng, con người hầu như không còn biết tới liêm sỉ và lẽ phải…Một ông chủ tịch tỉnh Nguyễn Trường Tô và rất nhiều quan chức cao cấp trong tỉnh Hà Giang chơi gái vị thành niên do ông hiệu trưởng trường trung học Sầm Đức Xương bắt các cháu nữ sinh là học sinh trong trường làm điếm, nhằm cống nạp cho các quan đầu tỉnh. Nghe nói ông Nguyễn Trường Tô, ông Sầm Đức Xương từng là những người nhiều năm liền được bằng khen vì thành tích học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh. Một sinh viên Nguyễn Đức Nghĩa từng là đoàn viên thanh niên cộng sản ưu tú, đã ra tay giết và cướp của chính người yêu cũ của mình một cách man rợ không phải là cá biệt trong một xã hội con giết cha, vợ giết chồng, anh em giết nhau được đưa tin đầy tràn trên các trang báo lề phải. Lối sống vô đạo đức, hành vi vô luân, con người ứng xử với con người man rợ hơn dã thú đang là vấn nạn quốc gia, có thể đưa một dân tộc vốn có văn hóa, văn hiến bốn nghìn năm tới chỗ diệt vong…Không nhìn ra những nguy cơ chết người này, liệu 100 năm nữa Tổ Quốc Việt Nam chúng ta còn tồn tại không? Dòng giống con Lạc cháu Hồng còn tồn tại không ?

Nền giáo dục Việt Nam hôm nay là một nền giáo dục thiếu trung thực, đúng như ý kiến của ông phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã công nhận. Đạo đức trong giáo dục Việt Nam hôm nay đồng nghĩa với dối trá: thày dối trá thày, trò dối trá trò, quản lý giáo dục báo cáo láo cốt lấy thành tích, nạn mua bán bằng, bán đề thi, mua quan bán tước đang là đại họa của nền giáo dục. Hầu hết sách giáo trình, sách giáo khoa…là sách đạo văn. Cán bộ có chức có quyền đua nhau làm thạc sĩ, tiến sĩ…lấy bằng thật nhưng học giả. Nạn dùng tiền mua bằng cấp, mua học hàm học vị đang diễn ra công khai trong cái chợ trời giáo dục Việt Nam. Việc Hà Nội vừa qua đưa chỉ tiêu “xóa mù tiến sĩ” cho cán bộ công nhân viên nhà nước đã nói lên học vị tiến sĩ chẳng còn giá trị gì cả. Có lẽ trong vài năm tới, sau việc Bộ Giáo Dục ra chỉ tiêu đào tạo thêm 23.000 tiến sĩ, sẽ dẫn tới chiến dịch xóa mù tiến sĩ trên phạm vi toàn dân. Nhiều ông cán bộ cấp cao có học vị tiến sĩ nhưng chưa có bằng tốt nghiệp đại học, thậm chí có vị chưa có bằng tốt nghiệp cấp 2 vẫn lấy được học vị tiến sĩ. Việc chính trị hóa môn văn, môn lịch sử, môn triết học, chính trị hóa nền giáo dục…đã tạo cơ sở cho sự dối trá làm bá chủ đất nước. Giáo dục như thế sao có thể đào tạo ra những công dân chân chính? Đây là dấu hiệu suy vong lớn nhất của dân tộc do nền giáo dục thiếu tính nhân văn, thiếu tính chân thật gây ra. Những quả bom B 52 tinh thần là nền giáo dục đi chệch hướng chân thiện mỹ đang rải thảm lên tinh thần dân tộc, thì ai là người phải chịu trách nhiệm trước lịch sử đây ?

Than ôi, sau những quả bom tinh thần có tên là giáo dục chế độ tự ném vào mình, chỉ cần ngoại bang ném bồi thêm mấy quả bom thật vào hai đập thủy điện Sơn La và Hòa Bình là đồng bằng Bắc Bộ và cả Hà Nội sẽ biến mất, dân tộc sẽ biến mất…Hai đập thủy điện khổng lồ trên nghe đâu lại nằm trên vết nứt động đất…mới hãi hùng làm sao ? Đầu nguồn sông Hồng, đầu nguồn sông Mê Kông, Trung Quốc đã và đang xây hàng trăm đập thủy điện, khiến hai con sông chính của đất nước khô cạn dần, không còn đủ nguồn nước tưới cho hai đồng bằng chính nuôi sống dân tộc. Cách Móng Cái 60 km, tại Phòng Thành, Trung Quốc đang xây nhà máy điện hạt nhân rất lớn; nếu có sự cố kiểu Chec-nư-bin vào mùa gió bấc, Hà Nội và dân đồng bằng Bắc Bộ có thể sẽ chết hết vì nhiễm phóng xạ hạt nhân…

SỰ THẬT HAI: Chưa bao giờ như hôm nay, trên đất nước ta, giặc nội xâm có tên là tham nhũng lại hoành hành ngang nhiên, kinh hãi như dịch hạch đến thế. Dân có tham nhũng không Không ! Thế thì ai là giặc nội xâm, là giặc tham nhũng? Thưa, chính quyền! Chỉ kẻ có chức có quyền mới tham nhũng được mà thôi. Vụ tham nhũng mới nhất như một đòn hiểm ác đánh một cú chí tử vào đất nước là tập đoàn Vinasihn – một nấm đấm thép của chính phủ – đã cướp đi của nhân dân số tiền khổng lồ là 80.000 tỷ đồng. Cứ thử làm tròn dân số nước ta là 90 triệu người (thực ra dân số Việt Nam mới chỉ trên 85 triệu dân), vị chi mỗi người dân vừa bị tập đoàn quốc doanh Vinasihn cướp đi gần 9.000.000 đ. Chín triệu đồng với người nông dân là một nguồn vốn lớn: một gia đình nông dân có bốn nhân khẩu chẳng hạn, đã vừa bị Vinasihn cướp đi nhãn tiền 36.000.000 đ. Đã có bao nhiêu tập đoàn Vinasihn cướp hết tiền của nhân dân trong quá khứ, trong hiện tại chưa bị phát hiện? Những nấm đấm thép của chính phủ như các tập đoàn kinh tế: tập đoàn Than, tập đoàn Điện, tập đoàn khoáng sản… đã và đang đấm chí tử vào hầu bao dân nghèo Việt Nam. Theo kiểm toán nhà nước, năm 2008, các tập đoàn kinh tế – nắm đấp thép – đã làm thất thoát 10 tỷ đô la. Năm 2009, số thất thoát ( đổ tội cho lỗ vốn) cũng không nhỏ hơn số 10 tỷ đô la năm trước. Các tập đoàn kinh tế quốc doanh, các công ty quốc doanh đang là đại họa cho quốc gia; chứng tỏ thành phần kinh tế rường cột của mô hình xã hội chủ nghĩa này đã hoàn toàn thất bại. Về quốc nạn tham nhũng, bà Phạm Chi Lan, chuyên viên kinh tế cao cấp của chính phủ đã phải cay đắng thừa nhận “ bọn nắm đấm thép – chúng nó ăn hết tiền của dân rồi” như sau: “Một khi vẫn còn các ông lớn chủ đạo vẫn ngốn hết nguồn lực của đất nước và thâu tóm hết quyền thiết kế chính sách có lợi cho mình, thì làm sao thằng nhỏ động lực kinh tế tăng tốc được” (tuần Việt Nam Nét 22/07/2010)

Tại sao nhà nước ta hiện nay vốn có hai chính quyền cồng kềnh, chồng chéo nhau, dẵm đạp lên nhau: một chính quyền theo hệ Đảng và một chính quyền theo hệ nhà nước với hàng vạn ban thanh tra, hàng vạn chi bộ bốn năm sáu tốt, với hầu hết mấy triệu đảng viên gương mẫu đều đã học tập tốt đạo đức Bác Hồ mà sao giặc tham nhũng lại ngang nhiên hoành hành trắng trợn từ vi mô đến vĩ mô đến như vậy? Quan tham nhìn từ xã trở lên không thấy lao động chân tay, không thấy lao động trí óc, chỉ sử dụng một thứ lao động có tên là LAO ĐỘNG LÃNH ĐẠO mà ai ai cũng giàu có hơn dân thường hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn, hàng triệu, hàng tỉ lần là sao? Chung quy lại, có phải là do thể chế sai, mô hình chính trị sai: VỪA ĐÁ BÓNG VỪA THỔI CÒI, VỪA ĐI THI, CHẤM GIẢI VỪA PHÁT GIẢI VỪA ĐƯỢC LÃNH GIẢI. NHÀ NƯỚC – ĐẢNG MỘT MÌNH MỘT CHỢ: VỪA THAM NHŨNG VỪA CHỐNG THAM NHŨNG? Xin hỏi: tay phải tham nhũng, liệu tay trái có dám cầm dao chặt được tay phải hay không?

Linh hồn triết học duy vật biện chứng Marxism nằm ở câu kinh mà đảng viên cộng sản nào cũng phải thuộc làu làu: “Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất”. Chỉ trừ nền chính trị của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không hề nằm trong quy luật vận động này của Marx, vì nó triệt tiêu đối lập chính trị (!)

Nền chính trị độc đảng, độc quyền của nước ta hôm nay đang chống lại biện chứng pháp Marxism. Trong phép biện chứng do Hegel sáng tạo, Marx tiếp thu, có ba nhịp như sau: xuất đề, phản đề và tổng đề. Phản đề hay đối lập chính là linh hồn của biện chứng pháp Marxism. Chối bỏ đối lập, triệt để cấm phản đề, cấm đối lập chính trị, nền chính trị của nước ta ngày nay đang chống lại chính cái lý thuyết chủ nghĩa cộng sản mà nó thề nguyền đi theo, thành ra một nền chính trị thoái bộ, rất giống với các nền chính trị thần quyền thời trung cổ bên châu Âu.

Hãy xem khẩu hiện rất duy tâm, hoàn toàn chống lại thuyết Marxism của đảng cầm quyền: “Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh MUÔN NĂM”. Marx từng giải thích tại sao loài người thống khổ: vì loài người còn phân chia giai cấp. Mục đích của Marx là làm cho nhân loại tiến đến đại đồng, tức tiến đến thiên đường cộng sản. Muốn đến thế giới cộng sản, phải xóa bỏ các giai cấp: xóa bỏ giai cấp tư sản, xóa bỏ giai cấp vô sản, xóa bỏ nhà nước, xóa bỏ công an, quân đội, tất nhiên phải xóa bỏ cả đảng cộng sản, vì đảng cộng sản là đảng của giai cấp vô sản. Mà khi xóa bỏ giai cấp, thì đảng của giai cấp cũng không còn. Hô “ đảng cộng sản Việt Nam MUÔN NĂM” cầm bằng như hô: “Xã hội loài người có giai cấp muôn năm”! Rõ ràng hô như vậy là treo cổ chủ nghĩa Marx, là không chính danh, là tự xóa bỏ tính mục đích của đảng cộng sản.

SỰ THẬT THỨ BA: NÓI MỘT ĐÀNG, LÀM MỘT NẺO, HAY LÀ DANH KHÔNG CHÍNH THÌ NGÔN KHÔNG THUẬN

Đảng, Nhà Nước Việt Nam nói thì rất hay, nhưng làm thường ngược lại. Những nguyên tắc, nguyên lý, luật pháp, chính sách, đường lối của đảng cầm quyền và nhà nước Việt Nam hiện nay hầu hết đều không chính danh.

Xin chứng minh:

Trong hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam người dân được hưởng tất cả các quyền: quyền sống, quyền làm người, quyền hoạt động chính trị, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội lập đảng phái, quyền biểu tình, tự do tôn giáo, tự do cư trú, tự do đi lại, tự do đủ thứ …

Chính sách hộ khẩu đã cấm tự do cư trú.

Quyền được biểu tình của dân bị cấm chỉ bởi một nghị định (do thủ tướng Phan Văn Khải ký): cấm từ năm người trở lên tụ tập hay đi hàng dọc ngoài đường, ngoài phố. Anh bạn chúng tôi có 5 đứa con, cộng hai vợ chồng là 7 người, mỗi sáng chủ nhật anh chị dẫn bầy con đi tập thể dục tại công viên cách nhà hơn cây số. Đoàn rồng rắn tí hon của anh chị không thể đi thành một hàng, mà phải bí mật xé lẻ thành hai tốp, anh dẫn 3 đứa con, chị dẫn 2 đứa con giả vờ không quen biết nhau, đi vào hai lề đường khác nhau, sợ đi chung sẽ bị công an bắt… Anh bạn này tâm sự: ra quốc lộ số một, qua một số đường phố ở các thành phố nhỏ, thấy trâu bò được ung dung đi thành bầy đàn hàng mấy chục con trên đường mà không bị công an bắt? Sao kiếp người ở Việt Nam lại tủi hổ hơn kiếp bò: con bò còn được tự do tụ tập, tự do nghênh ngang rồng rắn trên đường, được đảng và nhà nước đối xử tử tế hơn hẳn con người…là sao hở các ông trời con?

Tự do tôn giáo bị cái rọ tôn giáo quốc doanh cấm cản. Hàng trăm sư sãi, chùa chiền vốn theo một hệ phái Phật giáo riêng từ trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam đã bị cấm hoạt động, bắt phải vào Phật giáo quốc doanh, nếu không chịu quốc doanh hóa Phật giáo sẽ bị bắt. Công giáo cũng phải thành công giáo quốc doanh. Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành… cũng phải vào quốc doanh thì sao gọi là tự do tôn giáo? Ở một đất nước không có TÔN GIÁO TƯ NHÂN, chỉ có TÔN GIÁO QUỐC DOANH mà cứ xưng xưng toe toét: Việt Nam có tự do tôn giáo.

Điều bốn trong hiến pháp cho phép chỉ mình đảng cộng sản được nắm quyền lãnh đạo mãi mãi, đã cấm mọi công dân tự do hoạt động chính trị, trong khi quyền người dân được tự do hoạt động chính trị ghi rõ ràng trong hiến pháp. Điều 4 của hiến pháp là điều không chính danh.

Đảng và Nhà nước có trên 700 tờ báo giấy báo viết báo hình. Xã hội tự xưng là “nhân dân làm chủ: của dân, do dân, vì dân”, “cán bộ là đày tớ nhân dân”. Tai ngược thay, chính anh đầy tớ này được độc quyền ra báo, lại cấm ông chủ ra báo là sao? Marx – sinh thời từng ca ngợi nền tự do báo chí của chủ nghĩa tư bản. Marx lên án cay độc nhà vua Phổ kiểm duyệt báo chí theo kiểu nhà nước Việt Nam hôm nay lùa tất cả nền báo chí nước nhà vào cái rọ lề phải, đánh sập hơn ba trăm blog và website cá nhân trên Internet như lời khoe khoang của ông tổng cục phó tổng cục an ninh Bộ công an trung tướng Vũ Hải Triều… Không có nền tự do báo chí tư sản, nền xuất bản tự do tư sản, không thể xuất hiện chủ nghĩa Marx. Nếu Karl Marx tái sinh xuất hiện giữa lòng Hà Nội hay Sài Gòn hôm nay, chắc chắn cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản sẽ bị lính của ông Vũ Hải Triều bắt ngay tập lự.

Khi người dân không có quyền ra báo tư, lập nhà xuất bản tư…cũng có nghĩa người dân Việt Nam hiện nay không có quyền tự do ngôn luận.

Khi hiến pháp đã cho công dân cái quyền thì người dân không phải đi xin. Hiến pháp bảo công dân có quyền sống, quyền làm người thì chả lẽ khi sống là phải thở, phải ăn, phải mặc, phải yêu vợ…thì cứ mỗi lần thở, mỗi lần ăn, mỗi lần mặc, mỗi lần yêu vợ…lại phải làm đơn xin phép công an à?

Hiến pháp của các nước dân chủ văn minh sinh ra để bảo vệ người dân, đảm bảo nhân quyền, dân quyền và mọi quyền tự do của dân, cốt yếu để ràng buộc kẻ cầm quyền. Sao hiến pháp nước ta hiện nay sinh ra hầu như để chỉ trói buộc người dân và tạo hàng nghìn kẽ hở cỡ lỗ thủng con voi chui lọt cho kẻ cầm quyền tự do đánh tráo hiến pháp, tự tung tự tác, làm ngược lại hiến pháp mà không bị luật pháp ràng buộc là sao?

Quốc hiệu nước ta hiện nay xưng là: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực ra có đúng không? Thưa không! Vì nền kinh tế nước ta từ năm 1986 đến nay là nền kinh tế thị trường, tức nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, một chủ nghĩa tư bản hoang dã. Vậy quốc hiệu nước ta muốn sát với “sự thật của đất nước” như gợi ý của Ban Tuyên giáo, phải đặt lại là: “Cộng hòa tư bản chủ nghĩa Việt Nam” mới chính danh.

Chủ nghĩa xã hội nói cho cùng là một mô hình ảo, hoàn toàn không có thật. Hồi chúng tôi theo học tại học viện Goocki bên Liên Xô năm 1988, thường nghe dân Liên Xô định nghĩa về chủ nghĩa xã hội theo mô hình Lenin-Stalin như sau: “Chủ nghĩa xã hội là con đường vòng vèo nhất, đầy máu và nước mắt nhất, khốn nạn nhất để đi lên tư bản chủ nghĩa”.Liên xô, với mô hình xã hội chủ nghĩa trại lính(hay trại tập trung) đã phải mất 74 năm đi vòng vèo trong máu xương, ngục tù, trong đày đọa của những quần đảo Gulắc hắc ám, man rợ…để năm 1991mới tới được nền kinh tế tự do tư bản chủ nghĩa. Quốc hiệu của nước ta như vậy là không chính danh.

Cái đuôi “Định hướng xã hội chủ nghĩa” được gắn vào đít khái niệm kinh tế thị trường của nhà nước ta hiện nay là một cái đuôi giả, một cái đuôi nhựa chạy bằng cục pin sắp thối của Trung Quốc. Theo nghĩa từ điển: ”định hướng” có nghĩa là xác định phương hướng, mà điểm tới đã được xác định cụ thể. Ví dụ ông A hẹn ông B qua điện thoại, rằng mai ta gặp nhau ở Hồ Con rùa, tập kết tại đó ăn sáng, uống café, định hướng Buôn ma thuật mà tới Plây-ku nhé! “Xã hội chủ nghĩa” là khái niệm ảo trên giấy, chưa có thật trên đời và sẽ không thể có thật vì nó dựa trên những nguyên lý ảo tưởng, bịa đặt, phi khoa học.

Đưa đất nước đi vào chỗ không có thật, định hướng tới cõi không có thật mà đến thì than ôi, thà giết đất nước đi còn hơn! Nên khẩu hiệu: “Vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội” in trên đầu tờ Văn Nghệ của Hội Nhà Văn Việt Nam, nếu theo tiêu chí “hướng về sự thật” của Ban tuyên giáo chỉ dẫn, phải đặt tên lại cho đúng với thực chất ngữ nghĩa của từ điển là: “Vì Tồ quốc, vì chủ nghĩa không có thật” mới đúng. Không có sự thật đi kèm, mọi lý thuyết, mọi mô hình xã hội, mọi lời hứa đều là sai trái, ảo tưởng, hứa hão, đúng như K. Marx đã nói.

Đồng nghĩa đảng cộng sản là đất nước, đồng nghĩa chủ nghĩa xã hội là Tổ quốc là không chính danh. Đảng cộng sản mới chỉ có 5 triệu đảng viên, còn nhân dân Việt Nam ngoài đảng chiếm đa số tới hơn 80 triệu dân, có phù phép kiểu gì, đảng cộng sản cũng không thể biến thành đất nước Việt Nam được. Đảng nghĩa là phe phái, là một nhóm người. Một nhóm người sao có thể biến thành tất cả được, nên danh từ ĐẢNG TA dùng để gọi đảng cộng sản là không chính danh. Liên xô đã bỏ ra 74 năm để tìm mà không thấy chủ nghĩa xã hội đâu, chỉ thấy trại tập trung, thấy nhà tù nhiều hơn trường học. Lênin-Stalin-Mao…đã biến nhân dân các nước Nga, Tàu, Cuba, Bắc Triều Tiên, Việt Nam, Cămphuchia, hàng chục nước Đông Âu …thành hàng tỉ con chuột bạch cho cuộc thí nghiệm máu cộng sản chủ nghĩa bằng bạo lực, bằng cải tạo áp đặt, bằng thuyết đấu tranh giai cấp tàn bạo nhưng đã thất bại hoàn toàn. Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, Đông Âu giờ đã đi theo tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội là một khái niệm ảo, nên khẩu hiện: “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” là rất buồn cười, giống như nói: “ Yêu nước là yêu cái không có thật”…vậy…

Quốc hội nước CHXHCN VN được đảng cộng sản và nhà nước phong cho là cơ quan lập pháp cao nhất của nhân dân Việt Nam là không chính danh. Vì thực tế, quốc hội này chỉ là cơ quan ngoại vi của đảng, do đảng lãnh đạo; quốc hội mà 98% dân biểu là đảng viên của một đảng duy nhất thì việc gọi quốc hội này của dân là một trò hề, là không chính danh; quốc hội này của đảng, dân nào có quyền bính gì trong quốc hội giả hiệu này?

Việc một nhóm người không ai khiến, tự nhiên nhảy phóc ra đấu trường xã hội ngót trăm năm nay, hung hãn cầm mác cầm lê cầm búa cầm liềm cấm cản những nhóm người khác lập phe đảng là không chính danh, không logic, không công bằng, không có luật hay chỉ là luật rừng?

Đảng cộng sản Việt Nam không do nhân dân Việt Nam bầu ra, nên sự tồn tại của đảng để tuyệt đối cầm quyền là không chính danh. Đúng như Mao nói rằng chế độ chuyên chính vô sản của ông ta là do súng đẻ ra: “ Súng đẻ ra chính quyền”, tức là SÚNG BẦU RA CHÍNH QUYỀN m…Mấy chục năm nay, người ta đã cố tình gọi nhầm SÚNG là DÂN: “súng bầu lên chính quyền thì lại nói dối là dân bầu”…Cũng giống như ( giả dụ thôi, hi vọng đừng biến thành sự thật!) sau bài viết này, công an gọi tên Trần Mạnh Hảo lên… dọa bắn; Hảo ta vốn là một con cáy 64 tuổi biết cầm bút, thấy súng há mồm sắp đối thoại với mình, sợ vãi đái, nghĩ mình miệng hùm gan sứa: tránh voi không xấu mặt nào, sức đâu cãi lại miệng súng, đành phải ký vào giấy cung khai rằng: báo cáo các anh, em đã nói sai, đã nói dối, vì đảng ta và nhà nước ta từ xưa tới nay thật thà hơn đếm, có biết nói dối là gì đâu. Thế rồi báo An Ninh hôm sau hí hửng: trước lý lẽ sắc bén và thực tế sáng ngời chính nghĩa của nhân dân, tên Hảo đã không đủ lý lẽ đối thoại, đã ăn năn hối lỗi vì dám vu cáo cho đảng ta nói dối…

Việc đảng cộng sản Đông Dương ra đời năm 1930 theo thuyết Marxism là không chính danh.

Marx bảo: chủ nghĩa tư bản xuất hiện với đại công nghiệp. Marx lại bảo phuơng thức kinh tế châu Á không nằm trong chủ nghĩa Marx. Marx phán: giai cấp vô sản là hệ quả của giai cấp tư bản. Nghĩa là Tư bản đẻ ra vô sản. Trung Hoa, Việt Nam và cả châu Á, thế giới Ả rập, Ấn độ, Mỹ La tinh, Phi Châu…trong thế kỷ thứ 19, đầu thế kỷ thứ 20 chưa hề có chủ nghĩa tư bản. Năm 1930, Việt Nam chưa có ông bố tư bản, sao lại có đứa con tên là vô sản ra đời? Bịa ra một giai cấp vô sản ảo để thành lập ra đảng của giai cấp vô sản là đảng cộng sản Đông Dương là không chính danh, là trái với thuyết Marxism, là xây nhà trước, xây nền nhà sau.

Sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Đông Dương nêu khẩu hiệu: “Trí, Phú, Địa, Hào đào tận gốc trốc tận rễ” là không chính danh. Diệt trí thức là diệt đi hai ông đại trí thức Marx-Engels ư? Trí thức là linh hồn của xã hội, diệt trí thức cũng có nghĩa là diệt luôn xã hội loài người.

Năm 1958 – 1960 Bắc Việt Nam (năm 1975 là cả nước) tuyên bố tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội với “mo cơm và quả cà”, không thông qua con đường tư bản chủ nghĩa theo sự xúi dại của Lênin là không chính danh. Theo Marx, linh hồn của xã hội chủ nghĩa là đại công nghiệp; chỉ có nền nông nghiệp lạc hậu mà dám thí mạng cùi tiến lên xã hội chủ nghĩa là tiến lên toàn dân cùng chết đói, hay tiến lên công xã kiểu diệt chủng như Khơ me đỏ, tiến lên “đại nhảy vọt” kiểu Mao khiến mấy chục triệu người chết đói, dân chúng phải ăn thịt cả con mình như cuốn: “Mao Trạch Đông công và tội” do nhà xuất bản Thông Tấn xã Hà Nội vừa in và phát hành đã kể.

Năm 1986, theo gương Trung Quốc, đảng cộng sản Việt Nam thay vì chôn chủ nghĩa tư bản (như Marx-Engels dạy) đã quay ngược lại chôn chính học thuyết cộng sản, bằng cách xây dựng nền kinh tế tự do đa thành phần tư bản chủ nghĩa, đưa nhân dân Việt Nam thoát khỏi chết đói. Theo Marx dạy: kinh tế nào, chính trị ấy: hạ tầng cơ sở kinh tế quyết định thượng tầng kiến trúc chính trị. Nay, kinh tế Việt Nam là tư bản tự do mà chính trị vẫn giữ nền chính trị độc tài xã hội chủ nghĩa là sai quy luật, là không chính danh, là đầu chuột đuôi voi, là ông nói gà bà nói thóc lép, là hồn Trương Ba, da hàng thịt…

Marx –Engels từng công khai tuyên bố trong trước tác của mình: “Chúng tôi không có ý định đoán định tương lai một cách giáo điều mà mong muốn dùng phương pháp phê phán thế giới cũ để tìm được một thế giới mới…Việc kiến tạo và tuyên bố một lần và mãi mãi những giải đáp cho các vấn đề của mai sau không phải là việc của chúng tôi…”. Rõ ràng, chính Marx và Engels đã coi học thuyết của mình chỉ là những giả thuyết, những phép thử, những phỏng định về tương lai, tuyệt nhiên không giáo điều cho lý thuyết của mình là chân lý vĩnh hằng. Những ai đã, đang coi học thuyết Marx là chân lý bất biến là đang chống Marx, là muốn dùng Marx giả, Marx dỏm bịt mắt trí thức và nhân dân để quyết câu giờ giữ quyền lực là không chính danh.

Theo định đề: “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý” của Marx, chúng ta thấy thực tế đã không chấp nhận cuộc thí nghiệm “XÓA TƯ HỮU” hãi hùng nhất trong lịch sử loài người của Marx-Engels-Lenin với tham vọng: “ XÓA TƯ HỮU, XÓA CÁ NHÂN, XÓA NHÀ NƯỚC, XÓA MÂU THUẪN, XÓA ĐẢNG CỘNG SẢN, XÓA CÁC GIAI CẤP VÀ ĐẢNG CỦA NÓ, XÓA CHÍNH BIỆN CHỨNG PHÁP ĐỂ XÂY DỰNG MỘT XÃ HỘI CỘNG SẢN ÁO TƯỞNG PHI BIỆN CHỨNG – NƠI KHÔNG CÓ CÁI DỐI TRÁ, KHÔNG CÓ CÁI ÁC ĐỘC VÀ CÁI XẤU XA, NƠI TUYỆT ĐỐI TỰ GIÁC, TUYỆT ĐỐI TỰ DO, TUYỆT ĐỐI GIÀU CÓ, TUYỆT ĐỐI KHÔNG CÓ NGOẠI TÌNH, KHÔNG CÒN HÔN NHÂN, KHÔNG CÒN GIA ĐÌNH KIỂU CŨ, KHÔNG CÒN NGÂN HÀNG, KHÔNG CÒN TIỀN TỆ …”. Đó là một xã hội bịa đặt không có thật: vì không có cái ác thì cái thiện cũng bị triệt tiêu, không có cái ngụy thì cái chân cũng biến mất, không có cái xấu thì cái đẹp cũng chẳng còn…

Một trăm sáu mươi hai năm từ khi “Tuyên ngôn đảng cộng sản” của Marx –Engels ra đời đến nay, hàng trăm triệu sinh mạng đã bị giết, hàng tỉ người bị tù đầy, bị ngược đãi để “các vị lãnh tụ kính yêu” làm cuộc thí nghiệm đẫm máu cải tạo thế giới từ TƯ HỮU sang CÔNG HỮU, từ TƯ BẢN sang VÔ SẢN, từ CÁ NHÂN sang TẬP THỂ, XÓA QUỐC GIA chỉ còn QUỐC TẾ, XÓA HOÀN TOÀN THẾ GIỚI CŨ, NHÂN LOẠI CŨ chỉ còn MỘT THẾ GIỚI MỚI TINH, NHÂN LOẠI MỚI TINH KHÔNG CÒN TRUYỀN THỐNG, KHÔNG CÒN LỊCH SỬ, KHÔNG CÒN QUÁ KHỨ, KHÔNG CÒN TÔN GIÁO…Chao ôi, khi một con người không còn quá khứ, một dân tộc không còn lịch sử, con người ấy, dân tộc ấy sẽ biến thành tinh tinh, xã hội tinh tinh hay thành những cục bột biết ca hát ?…Rút cục, cuộc thí nghiệm cộng sản kinh hồn trên phạm vi toàn thế giới đã hoàn toàn thất bại. Những nước cộng sản cứng đầu nhất như Bắc Triều Tiên, Cu Ba hiện nay cũng đang rục rịch thí nghiệm mô hình kinh tế tư bản chủ nghĩa, tập tẹ học lại những bước đi làm giàu vỡ lòng nhân loại đã có từ trước khi Marx ra đời. Đây là sự thật không thể nào chối cãi, dù cãi cối cãi chày bằng còng số tám hay nhà tù, họng sung v.v…

Cám ơn Marx, đã cho chúng tôi đề bài: “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý” để làm một bài tập làm văn về sự thật này. Cám ơn ngài cố tổng thống nước Ba Lan tự do Lech Kaczynxki đã cho chúng tôi ý tưởng rất hay: chỉ có sự thật mới giải phóng con người, làm chủ đề bài tham luận. Chúng tôi cũng xin cám ơn tiêu đề của cuộc hội thảo: “ Văn học nghệ thuật hướng về sự thật đất nước” của Ban Tuyên giáo trung ương đã gợi ý, khích lệ chúng tôi dám liều mạng nói lên những sự thật cay đắng nhất, khủng khiếp nhất của đất nước chúng ta hiện nay, những sự thật chết người, ai ai cũng biết mà vì sợ tù tội nên không ai dám nói ra.

Viết đến đây, chúng tôi chợt nhớ đến chuyện “ Bộ long bào của vị hoàng đế” của văn hào Andecxen. Thằng bé trong thiên truyện đã liều mạng xé toang bộ long bào hoang tưởng của vị hoàng đế kia bằng cách hét thật to: ông vua cởi truồng ! Tiếng kêu thất thanh của chân lý ấy có làm đám đông đang bị quyền lực hôn mê, luôn miệng tung hô vị hoàng đế mặc bộ long bào đẹp nhất tỉnh ra hay không ? Nhưng hình như ngay sau khi gọi sự vật bằng tên của nó, thằng bé do sự thật, do tự do phái đến đã biến mất. Do đó, mới còn biết bao nhiêu ông vua triết học cởi truồng, vua chính trị cởi truồng, vua cách mạng cởi truồng, vua chủ nghĩa cởi truồng… đang đi nhông nhông ngoài xã hội, ngoài phố xá, đã và đang được những đám đông giả vờ cuồng tín hòng trục lợi xúm vào vạn tuế, ca ngợi các ngài khoác những bộ long bào tuyệt vời của trần gian…

Sự thật giản dị nhường ấy, sao bị cả đám đông lờ đi ? Mới hay sự cám dỗ của dối trá có bùa ngải quỷ sứ, mê hoặc con người trong bóng tối, trong đe dọa, trong hấp lực của củ cà rốt treo trước miệng con lừa… Sự thật chỉ có thể tồn tại công khai dưới ánh sáng mặt trời. Xã hội của những hội kín vây bủa con người trong lừa mị, trong sợ hãi u u minh minh, luôn xua đuổi và cầm tù sự thật. Chối bỏ sự thật, những xã hội do băng đảng hội kín cầm quyền hầu như không bao giờ đi cùng đường với lẽ phải và công lý.

Chúng tôi không dám làm thằng bé trong thiên truyện kia của Andecxen; làm vị thiên sứ của sự thật này, coi chừng khả năng biến mất là điều có thể xảy ra. Hãi qúa !

Chúng tôi chỉ xin kể ra ba vị nhà văn Việt Nam hình như cũng đang thử đóng vai trò của thằng bé ấy, vai trò thiên sứ của sự thật, của tự do.

Đây là lời của nhà văn Đỗ Chu bùi ngùi, chua xót, khi ông nói về sự lãnh đạo của đảng với nhà văn; sao nhà văn giống chú cún con ve vảy đuôi theo ông chủ trong sân nhà thế: “Tớ yêu đảng như yêu vợ. Vợ còn sống thì tớ nghe vợ. Vợ chết thì tớ lập bàn thờ khấn vái cho đến chết.. Đảng cũng là vợ của tớ. Đảng bẩn thì tớ mua xà phòng cho đảng tắm. Mua nước hoa cho đảng thơm. Đảng nói thì không được cãi. Đảng bảo ăn là ăn. Đảng bảo uống là uống. Đảng bảo nằm là nằm. Đảng bảo lên giường là lên gường. Đảng bảo ra đường là ra đường…” ( Trích bài: “ Nhà văn Đỗ Chu yêu đảng như yêu vợ” của Nguyễn Trọng Tạo in trên website Trần Nhương ngày 14/7/2010). Về việc này, mới thấy Nguyện Vĩ xưa thánh thật, khi ông viết: “nhà văn An Nam khổ như chó !”

Đây là mấy câu thơ của nhà văn, nhà thơ Nguyễn Đình Chính ( con trai cố nhà văn Nguyễn Đình Thi, người từng rất nhiều năm trước và sau 1975 làm tổng thư ký ( ngày nay gọi là chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam): “Mấy thằng bạn văn nghệ chửi đổng hát hay / Cổ họng rắn hổ mang trơn tuột liếm mồi trong các HỘI ĐOÀN / hót hít chính trị như chó hít hóng cứt…”(Trích trong bài thơ “Đêm Sài Gòn” in trong tập thơ “Chẹc chẹc” của Nguyễn Đình Chính, do tân hình thức Publishing Club ấn hành trên mạng 2010)

Đây là nhà văn đại tá công an Mai Vũ, trước đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ XIII, đã lên tiếng đòi tự do sáng tác, mặc dù từ năm 1987, tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã cởi trói cho các nhà văn: “Đây là vấn đề nhạy cảm mà không phải ai cũng có dũng khí dám nói thật. Nhằm thiết lập một trật tự xã hội tư duy đồng chiều, chúng ta đã chính trị hóa mọi đời sống xã hội. Điều đó thật tai hại, nó làm khô héo tinh thần dân tộc. Chính trị hóa khoa học đã dẫn đến phủ nhận chân lý khách quan, làm méo mó khoa học. Trong lịch sử Xô Viết trước kia, đã có thời người làm vườn Lưxenkô – Mitsurin được tôn vinh như những nhà cải cách vĩ đại, còn Mooc găng, Menđen là những kẻ phục vụ chủ nghĩa tư bản vì thuyết gen di truyền. Kết quả, nhà di truyền học thiên tài Vavilôp đã phải tự sát, còn nền di truyền học nước Nga thì lụn bại, để lại một vết nhơ đau đớn trong đời sống khoa học xã hội Xô Viết. Đó là vụ ngụy khoa học lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Chính trị hóa giáo dục cũng chỉ đẻ ra những chiến binh đánh bom tự sát, chứ không đẻ ra những công dân xây dựng tương lai.

Hội Nhà văn không phải là dàn hợp xướng để hát theo cái gậy chỉ huy của người nhạc trưởng. Nó là lãnh địa của những tư duy và sáng tạo cá nhân, nó là một tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nguyện của các nhà văn lấy sứ mạng phục vụ Tổ quốc và nhân dân trên hết.

Nhà văn viết theo mệnh lệnh của trái tim, mà trái tim nhà văn thuộc về Tổ quốc và nhân dân. Anh ta là tội đồ và đáng nguyền rủa nếu thóa mạ Tổ quốc và dân tộc. Còn khuynh hướng chính trị tùy thuộc quyền lựa chọn của mỗi nhà văn.

Hãy để con ngựa Văn tung vó trên cánh đồng bát ngát của tự do”. (“Về Hội nhà văn của chúng ta” của Mai Vũ, in trên website Trần Nhương ngày 11-7-2010)

Tiếp nối ba nhà văn trên, chúng tôi xin mời quý vị đọc lại bào thơ: “ Bài ca sự thật” của chúng tôi (Trần Mạnh Hảo) đã in trên báo “Tuổi Trẻ” số tất niên ngày 24- 01-1987

BÀI CA SỰ THẬT

Sự thật của tôi
Sự thật của anh
Sự thật của chúng ta
Sự thật của mọi người?

Nhân loại có bao thời
Sự dối trá làm quan toà phán xử
Bru-nô ơi trái đất vẫn tròn
Mà chân lý nghìn sau còn trả giá

Nhưng đất nước vẫn đi tìm sự thật
Trong câu hát có mồ hôi nước mắt
Có con nghê đá đầu đình cười cợt các triều vua
Có thằng Bờm chẳng tin lời hứa hão
Cái quạt mo không để phú ông lừa
Vua Hùng ơi Người đi tìm sự thật
Bằng cách ngày đầu năm xuống ruộng cày bừa.

Bao triều đại xưa đổ vì ưa nói dối
“Muốn nói gian làm quan mà nói”
Sự thật giấu trong nhà dân đen
Sự thật từng vật vờ đi như ăn mày đầu đường xó chợ
Sự thật làm anh hề, chú mõ
Sự thật như nàng Thị Kính oan khiên
Sự thật trốn vào ngụ ngôn, ngạn ngữ sấm truyền
Sự thật có khi mượn Xuý Vân mà giả dại
Sự thật chiếc lá đa bay qua bao thời đại
Bay về đây trời nổi can qua
Con vua thất thế quét chùa sãi ơi !

Vĩnh biệt chú Cuội
Vĩnh biệt thành tích ma, báo cáo láo thành thần
Bệnh hình thức gọi sai tên sự vật
Người đói phải nói lời no
Vị đắng sao lại kêu là mật?
Ngục tù mang nhãn hiệu tự do!

Vĩnh biệt khái niệm quét vôi và từ ngữ nước sơn
Đạo đức dính trên đầu môi chót lưỡi
Vĩnh biệt những bóng ma cơ hội
Những cái đầu già cỗi tự bên trong
Những con mắt nhìn người bằng bóng tối
Có nhận ra tia nắng mới trong lòng?

Tôi là người tập yêu sự thật
Tập nghe nên có lúc ù tai
Tập nhìn nên chói mắt
Đất nước đổi thay
Cơn đau đẻ những dòng sông quằn quại!

Hạt thóc và hạt máu có bao giờ nói dối?
Bốn nghìn năm dân tộc tôi
Đi từ bờ bên kia
Đến bờ bên này của sự thật
Để mỗi con người hôm nay trên mặt đất
Được cầm trong tay một tia nắng mặt trời …

Sài Gòn ngày 15-1-1987
Trần Mạnh Hảo

Để kết thúc bản tham luận, xin kính mời quý vị cùng chúng tôi hô 3 khẩu hiệu sau:

Khẩu hiệu một:
KHÔNG CÓ SỰ THẬT, KHÔNG CÓ LẼ PHẢI VÀ CHÂN LÝ
(xin hô ba lần: không có, không có, không có)

Khẩu hiệu hai:
CHỈ CÓ SỰ THẬT MỚI GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI
(xin hô ba lần: chỉ có, chỉ có, chỉ có )

Khẩu hiện thứ ba:
SỰ THẬT LÀ TIÊU CHUẨN CỦA CHÂN LÝ
(xin hô ba lần: tiêu chuẩn, tiêu chuẩn, tiêu chuẩn)

Xin cám ơn quý vị

Viết tại Sài Gòn 6-08-2010
Trần Mạnh Hảo


Tâm tình với nhà văn Trần Mạnh Hảo
(Hà Sĩ Phu)

Ông Trần Mạnh Hảo thân,

Mặc cho thiên hạ đang mổ bò nhân sự. Còn chưa đi họp, ông quá bộ vào xó Đà Lạt này tâm tình với tôi một lúc.

Mấy hôm trước, tôi đã định viết một bài nhan đề “Một dân tộc bắt đầu tập nói”, mô tả một dân tộc lâu ngày nói dối đã quen, sắp bị diệt vong vì tật nói dối, bỗng hoảng hồn bừng tỉnh bên bờ vực thẳm, vội bảo nhau học lại ngôn ngữ nói thật của cha ông để tự cứu, nhưng vất vả mãi cũng chỉ mới bập bẹ phát ra được mấy câu nói thật vỡ lòng thôi.

Dự định ấy của tôi bị cắt ngang vì bài tham luận vừa rồi của ông. Vì nói thật như ông cỡ này thì coi như “tốt nghiệp phổ thông” rồi, ý nghĩ bi quan kia của tôi e có phần lạc hậu trước tiến triển của thực tế (chắc ông không tự ái, vì Đại học nói thật của nước mình bây giờ chắc gì đã bằng Trung cấp nói thật của người ta!). Cái đoạn ông vạch trần một cách toàn diện sự thật rằng “Chưa bao giờ số phận dân tộc ta, đất nước ta có nguy cơ tiêu vong như hôm nay” (để đừng có suốt ngày vui cười hơn hớn) thì nhiều người cũng đã làm được, và dù có nhắc đi nhắc lại mãi cũng chưa chắc đã vào được tai những anh ù lì. Ông đã nói được nhiều, nhất là vạch ra cái đại bản doanh của những kẻ đã gây “nguy cơ tiêu vong dân tộc” ấy nằm ở đâu, nó lớn cỡ nào, khiến ta “phải làm một cuộc cách mạng của sự thật mới mong giải thoát cho nhân dân khỏi ngục tù”, đây cũng là một nét mới so với mấy vị trước kia.

Thật vậy, trung tâm ấy phải lớn cỡ nào mới có thể làm cho “một DÂN TỘC nói dối “lộng giả thành chân”, làm nên một HIẾN PHÁP “sinh ra hầu như để chỉ trói buộc người dân và tạo hàng nghìn kẽ hở cỡ lỗ thủng con voi chui lọt cho kẻ cầm quyền tự do đánh tráo Hiến pháp”, lập nên một “QUỐC HỘI giả hiệu”, làm cho “kiếp người ở Việt Nam lại tủi hổ hơn kiếp bò”…

Giặc nội xâm phải ở tầm cỡ nào mới tạo được một “nhà ngục có tên là dối trá”, nó làm cho “người dân Việt Nam hiện nay không có quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo”, khiến cho “những sự thật chết người, ai ai cũng biết mà vì sợ tù tội nên không ai dám nói ra”, nó đã “ném những quả bom B52” vào chính dân tộc mình, nó đã “tung những quả đấm thép đấm chí tử vào hầu bao dân nghèo Việt Nam”, đã “tạo cơ sở cho sự dối trá làm bá chủ đất nước”…?

Và TMH đã chỉ đích danh: “Thế thì ai là giặc nội xâm, là giặc tham nhũng? Thưa, Chính quyền”! Ấy chính là “một nền chính trị thoái bộ, rất giống với các nền chính trị thần quyền thời Trung cổ bên Châu Âu”, là một “chế độ” với những quả bom tự ném vào mình, là một đảng đã “bịa ra một giai cấp vô sản ảo để thành lập ra đảng của giai cấp…” nên tổng quát lại mọi mặt đều “không chính danh”, làm hại cả một dân tộc…

Nhưng tất cả những luận điểm dẫu đanh thép ấy đều là chuyện nhỏ trước cảnh tượng xã hội ta đang có một vị “Hoàng đế cởi truồng” đi giữa bàn dân thiên hạ, như trong câu chuyện thiếu nhi của Andersen. Bởi vì, khi trước mặt mọi người đã là một gã vua cởi truồng ràng rành, mà những kẻ chẳng biết mù thật hay thong manh giả cứ nhắm mắt khen bộ y phục của Hoàng đế là đẹp nhất thế gian, thì mọi ngôn ngữ trở thành thừa hết! Chẳng lẽ lại phải vận dụng thiên kinh vạn quyển, triết học nọ triết học kia để tìm xem định nghĩa của thời đại thế nào là “cởi truồng” à? Lại cãi nhau về một môn “cởi truồng học” đậm đà màu sắc nước Vệ ư? Càng lý luận dài dòng là càng sa vào bẫy của hai tên bợm, kẻ đã tạo ra bộ quần áo bằng không khí cho Hoàng đế, với cái “khóa” rất đểu là: chỉ ai có khối óc và trái tim chân chính mới nhìn thấy, ai nói khác đều là bọn thù địch mù quáng, phản dân hại nước, tất nhiên phải cho vào tù!

Bộ “y phục đểu” kia sở dĩ không bị xé toang vì nó đã khoác được lên vai một Hoàng đế. Hoàng đế trót mặc vào thì phải dối trá để tự vệ. Hắn tự vệ được nhờ có binh quyền. Lý lẽ dối trá một khi gắn được vào quyền lực tuyệt đối lập tức biến thành liên minh ma quỷ, không trị được nữa. Chiến công của Sự thánh thiện (mà biểu tượng là đứa trẻ, một nhân tố chưa mắc vào vòng trầm luân) tuy có làm thỏa lòng giới nhân sĩ đang bị câm miệng nơi nghị trường, nhưng “thiên sứ” ấy cũng phải biến đi ngay. Làm thế nào để chân lý được lan tỏa thành sức mạnh xã hội vẫn còn nguyên là chặng đường rất xa trước mặt.

Từ 1988 tới nay, tôi cũng từng là một người đã lý luận đến tận gốc. Việc lấy hình ảnh ông vua cởi truồng trong “bộ quần áo của Hoàng đế” tượng trưng cho xã hội ta cũng đã từng xuất hiện trên một vài trang Blog cá nhân. Mặc dù vậy, tiếng nói của nhà văn TMH khét tiếng bộc trực hôm nay giữa nơi văn đàn quốc nội vẫn có nét riêng và có tác dụng riêng rất đặc biệt. Tôi chia sẻ với ông điều này. Cuộc chạy tiếp sức còn dài.

Nhưng nước mình có điều lạ: Chuyện nhỏ thì cãi nhau đến cùng, mà việc đại sự, khi cần tìm cho đến ngọn nguồn lạch sông thì cứ nửa đường dừng lại. Định tìm con vi trùng để diệt mà chỉ đi nửa chừng, sắp chạm trán với vi trùng là cài số lùi để dĩ hòa vi quý.

Thú thật, khi đọc đến đoạn “Bao nhiêu ông vua triết học cởi truồng, vua chính trị cởi truồng, vua cách mạng cởi truồng, vua chủ nghĩa cởi truồng… đang đi nhông nhông ngoài xã hội, ngoài phố xá, đã và đang được những đám đông giả vờ cuồng tín hòng trục lợi xúm vào vạn tuế…” là tôi không nín được cười, bỗng thương cho “đồng chí” Nguyễn Trường Tô, chỉ mặc “áo Hoàng đế “ với các cháu gái nhỏ một lúc trong phòng thôi mà bị thiên hạ xỉa xói, bất công quá xá. Còn “Cả đàn đang lông nhông ngoài phố” thì sao để “đồng chí” ấy chịu riêng oan một mình?

Cuối cùng, trước khi ông lên đường phó hội với các nhà văn tôi tiễn đưa bằng mấy dòng thơ viết từ năm 1987, và lúc ấy còn đăng được trên báo Tư pháp Lâm Đồng:

Tìm con Quỷ sứ
Con Quỷ nằm giữa đống rơm
Một đoàn đốt đuốc lom khom đi tìm
Đuốc soi sáng cả lỗ kim
Mà con Quỷ sứ vẫn tìm chẳng ra?!
Miệng người lớn tiếng hò la
Tay người như chớp nhặt quà Quỷ ban
Con Quỷ hở một ngón chân
Chục anh xúm lại rút rơm che liền
Thính tai, nghe Đống Rơm truyền:
-“Để rơm bén lửa thì phiền với ông!”

Hà Sĩ Phu

(Đã đăng báo Tư pháp LĐ tháng 10-1987 và báo Doanh nghiệp tháng 11-1993 bvnpost on 02/08/2010 http://www.hasiphu.com/images/SangTrang1.pdf)

Goodbye Đại hội bịp [bịt?] mồm

Nhà văn Trần Mạnh Hảo gửi đến BVN Lời tuyên bố quyết liệt dưới đây, đúng với phong cách ngôn từ thường thấy của ông. Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1975, ông vừa trải qua một Đại hội bề ngoài có vẻ êm đềm hào nhoáng nhưng quả thật sâu bên trong là cả một trời “dâu bể”, mở đầu bằng sự kiện 12 người kiên quyết xin rút tên trong danh sách đề cử làm cho BCH cuối cùng trơ khấc lại chỉ toàn là những cụ già (ngoại trừ một nhân vật dưới tuổi ngũ thập và bốn nhân vật khác cũng đã ở nửa cuối chặng đường ngũ thập), và kết thúc bằng lời phát biểu ứng khẩu của một nhà văn thuộc cơ quan an ninh “phản đối Đại hội lên tiếng bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam không đúng chỗ”, thế là đủ để thấy hình ảnh một Đại hội đánh dấu một bước ngoặt “não nùng và bi tráng” dẫu “rằng hay thì thật là hay…”.

Một Đại hội mà người chủ trì lo dành trọng tâm cho việc bầu cử và kiểm phiếu đến mức quên bẵng cả việc kiểm điểm Ban chấp hành cũ hoạt động ra sao sau một nhiệm kỳ, cũng như chỉ lướt qua mục góp ý bổ sung vào điều lệ, nhất là bàn bạc cho sáng tỏ về tôn chỉ hàng đầu của Hội Nhà văn, đích đến cao đẹp của việc cầm bút sáng tạo nghệ thuật. Cũng vì thế hầu như ai phát biểu trong Đại hội cũng bị vỗ tay đuổi xuống, vỗ tay để khỏi cần nghe nhau khi thấy có gì như trái ý mình.

Xen vào giữa những tấn kịch bi hài có lúc làm nóng bỏng hội trường lại có cái kỹ thuật tuyệt xảo của chuyên viên điều khiển micro mà ai cũng bảo được đào tạo từ “nước lạ” về, muốn tắt giọng ai lập tức tắt ngay cái rụp sau một tín hiệu tinh vi nào đấy, còn trường hợp không tiện tắt nhưng muốn làm cho “lạc giọng” thì cũng sau một tín hiệu đã quy định, giọng nói người phát biểu bỗng trở nên méo mó hoặc xen vào đủ tạp âm không còn nghe được ra gì nữa. Theo những nguồn tin “rỉ tai” người này sang người kia mà chẳng ai biết độ chính xác đến đâu thì đây là một ngón tiểu xảo, một ngành nhỏ trong cái hệ thống kỹ thuật hiện đại nhằm đối phó với internet và audio, video… đang phát triển ồ ạt trên thế giới và cả ở nước ta mà ta vừa học được ở nước anh em. Không may cho ông Trần Mạnh Hảo tự nhiên lại trở thành nạn nhân đầu tiên của những “thể nghiệm kỹ thuật” được đem ra dùng trong Đại hội, và vì thế cách thể nghiệm có hơi “vỗ mặt” so với những người khác (có lẽ về sau đã được “kịp thời rút kinh nghiệm” chăng).

BVN tôn trọng quyền được phát ngôn của mọi công dân, nên đối với sự cố không may này tự mình không đủ thông tin chính xác để đánh giá, đành trân trọng công bố nguyên văn ý kiến của nhà văn Trần Mạnh Hảo và cũng xin nói rõ, đây là bản quyền của riêng tác giả.
Bauxite Việt Nam 9.8.2010


Trước Đại Hội Hội Nhà Văn Việt Nam lần thứ VIII, chúng tôi đã viết bản tham luận: ”Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước” gửi cho blog Talawas, website Đàn chim Việt… Lập tức hàng chục website nối mạng, đặc biệt có hai trang mạng trong nước là website của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và trang Bauxite Việt Nam của GS Nguyễn Huệ Chi cũng post bài tham luận của chúng tôi cho mọi người cùng đọc.

Sáng 05-8-2010, khi tới Học viện Chính trị quốc gia để dự đại hội, đa số các nhà văn đều bắt tay chúng tôi chia sẻ và động viên, rằng bản tham luận ông viết rất được… xin chúc mừng. Một số nhà văn nổi tiếng “yêu Đảng vượt chỉ tiêu trên giao” như N.Đ.X., T.T.Đ… cũng bắt tay chúc mừng chúng tôi đã cả gan nói ra những sự thật chết người, mà nói có lý luận, có sự thật bảo chứng …

Có nhà văn động viên chúng tôi hết lời, đoạn dặn rằng: chớ kể ra tên tớ đã ủng hộ cậu nhá, có thể “nó” không bắt cậu nhưng “nó” bắt thằng ủng hộ cậu đấy, tớ hãi lắm; “nó” muốn để cho SỰ THẬT ĐƯỢC MỒ YÊN MẢ ĐẸP”, cậu lại cả gan bốc nấm mộ này lên, mất mạng như chơi…

Các nhà văn đều tin rằng, “nó” đếch cho cậu đọc tham luận này đâu. Nhiều nhà văn còn rỉ tai dặn: tuyệt đối ông không được uống nước có sẵn (chai nước lọc) trong Khách sạn Kim Liên nhá, không được một mình đi vào các con phố vắng nhá, ai không thân mời đi ăn uống là tuyệt đối không nhá, đi đâu nên rủ hai ba thằng nhà văn bạn bè đi cùng nhá; rằng ông nhớ vụ cụ Dương Bạch Mai người Nam Kỳ trong cuộc họp Quốc hội ngày nào chứ, cụ này mới lên diễn đàn nói thật một tí teo thôi, đoạn xuống uống một ly nước (hay bia gì đó) liền lăn đùng ra chết… Ở đầt nước “tự do gấp triệu lần tư bản”, toàn “đỉnh cao trí tuệ” cầm quyền với chủ nghĩa bách chiến bách thắng… đã bao người mới hé mồm ra nói sự thật như cụ Dương Bạch Mai liền lăn đùng ra chết bất đắc kỳ tử, thì thằng phá trời như mày liều mạng nói toẹt ra sự thật, coi chừng thí mạng cùi đó nghe con!

Nghe bạn bè lo lắng cho tính mạng của mình như vậy, tôi hãi lắm, nếu có làm sao thì cha già ngoài quê Nam Định, vợ con trong Sài Gòn biết cậy vào ai?

Nghe anh bạn thân tái mặt bảo: chỉ có thằng điên như mày mới dám viết tham luận như vậy, mày đang là số phận của con cá nằm trên thớt mà dám cãi nhau với cả dao liền thớt thì coi chừng đi họp chi bộ với hà bá đó! Bước vào hội trường, tôi tự dặn mình: im mồm nhé, tuyệt đối câm nhé, đồng chí Hảo ngu như lợn ơi, mua băng keo dán miệng lại nhé… Trước khi ra Hà Nội, vợ con và bạn bè dặn: tịnh khẩu là thượng sách, đóng vai thằng đần là ăn chắc sống, thề đi, xin thề!

Thế mà trong không khí bầu bán “quần ngư tranh thực” rất vô văn hóa của Đại hội, nhất là không thể chịu được cách điều hành đại hội rất xách mé và trịch thượng của ông Trung tướng công an Hữu Ước (nhạc sĩ mù nhạc, họa sĩ mù màu, nhà văn ít chữ…) chúng tôi đã quên béng lời dặn dò tịnh khẩu của người thân, quên béng mình đã hứa với mình: quyết tâm làm con lợn chỉ ủn ỉn chơi với bạn bè trong Đại hội thôi, nghĩa là ngu vĩnh viễn đi là yên… lại ngứa tay, ngứa mồm giơ tay xin phát biểu ý kiến…

Chúng tôi đã giơ tay mấy lần, giơ tay rất lâu mà các vị Chủ tịch đoàn tuyệt đối không cho lên, không cho nói. Hàng chục nhà văn ngồi quanh chúng tôi nói lớn: ông Hảo cứ lên đi, cứ lên đi, sao lại không cho một nhà văn hàng đầu của Hội phát biểu… Rồi có mấy tiếng quát cô cầm micro: đưa micro cho ông Hảo. Không khí sôi sục làm chúng tôi thêm dũng khí, đứng lên nói: xin cô cho tôi mượn micro. Cô gái cầm micro quyết không đưa; có ai đứng bên cạnh giật được micro giúi vào tay tôi. Cô gái giữ trận địa an ninh của Đảng giật lại micro như giật súng, nhưng không giật lại được. Tôi nói vào micro: kính thưa quý vị nhưng micro câm tiếng. Có ai nói: nó cúp điện micro này rồi, nó là micro đểu. Mấy ông nhà văn to tiếng: ông Hảo lên bục Đoàn Chủ tịch ngay, trên đó có hai cái micro tốt nhất nước đấy…

Tôi hùng dũng lên bục cao Chủ tịch đoàn, giúi mồm vào hai chiếc micro như hai miệng súng chĩa vào tôi, đoạn kính thưa, rồi nói. Tôi mừng thầm, micro này vẫn còn chưa bị cúp: kính thưa quý vị, có cảm tưởng tôi đã đến nhầm địa chỉ, hình như đây không phải là Đại hội nhà văn, đây là một đại hội chính trị tranh giành quyền lực. Ở đây văn học không có chỗ tồn tại. Hội Nhà văn thì phải lịch lãm lịch sự, phải có văn hóa chứ, các vị đang đánh tráo khái niệm chính trị và văn học… Lập tức micro bị cúp… Tôi vẫn nói rất to hy vọng một số nhà văn ngồi hàng đầu nghe được: rằng ông Trung tướng nhà văn Hữu Ước không biết viết văn, sao ngồi Chủ tịch đoàn điều hành Đại hội rất xách mé, trịch thượng, xin ông xuống cho… So với một số nhà văn bậc thầy ngồi dưới, ông Ước chỉ là thằng bé con tập tành viết lách lăng nhăng…

Nhà thơ Hữu Việt đứng lên hét to: không được đối xử với nhà văn như thế, sao lại cúp micro anh Hảo. Rất nhiều nhà văn đứng lên quát: không nghe thấy gì, để cho người ta nói, nối lại micro đi… vô văn hóa, vô văn hóa, toàn micro đểu…

Không có micro, tôi đi đi lại lại trước mặt Chủ tịch đoàn một lúc rồi đành đi xuống…
Lập tức micro lại vang lên trong miệng người điều hành Đại hội: xin mời nhà văn Tô Nhuận Vĩ nói…

Chúng tôi bước xuống, bạn bè đỡ lấy tôi, bắt tay rối rít. Ai cũng bảo “nó” coi nhà văn như súc vật, bịp mồm người ta, không cho người ta nói là khinh bỉ toàn Đại hội. Tôi ngồi cạnh nhà thơ hàng đầu Việt Nam Bằng Việt, anh bảo tôi phản đối trò cúp micro vô văn hóa này, đây là vết nhơ không thể xóa nổi của Đại hội. Nhà thơ Anh Chi bắt tay tôi bảo: chúng nó thua ông rồi, chưa giao chiến mà nó đã thua một không, bọn khốn nạn, bọn vô văn hóa chứ đâu phải nhà văn, tao sẽ lên Chủ tịch đoàn chửi thẳng vào mặt chúng nó: chúng mày cúp micro của thằng Hảo là chúng mày ném bùn vào Đại hội đấy, chúng mày đã làm Đại hội thất bại vì đây là Đại hội bịt mồm… Phạm Đình Trọng bắt tay tôi: chúng nó đã biến ông thành Linh mục Nguyễn Văn Lý, ông bị một Đại hội lớn bịt mồm.

Giờ giải lao các nhà văn xúm đến bắt tay tôi, chửi bọn bịt mồm. Thanh Thảo cười ngặt nghẽo: chúng nó cho chú Hảo rơi vào cõi im lặng đáng sợ, Hảo ta câm hoàn toàn, dán giấy vào miệng mày, sướng chưa con… Nguyễn Quang Lập chống gậy ra cửa bảo: em vừa quát vào mặt thằng Phó ban Tuyên giáo: chúng mày súng ống đầy mình sao lại sợ Trần Mạnh Hảo tay không đến thế? Mỹ chúng mày không sợ mà sợ Hảo à, đồ ngu!

Chiều 5-8-2010, sau khi đài RFA gọi điện thoại phỏng vấn chúng tôi về sự kiện bịp mồm, ông Hữu Thỉnh xin lỗi Đại hội về sự cố kỹ thuật bị mất điện micro của anh Hảo rất đáng tiếc, chúng tôi xin lỗi và sẽ kiểm điểm sâu sắc những người phụ trách kỹ thuật âm thanh. Cả hội trường ồ lên: cắt micro, bịt mồm người ta rồi sao còn đổ lỗi cho kỹ thuật, dấu đầu lòi đuôi [cũng giống hệt như ông Đào Duy Quát mà chúng tôi đã đề nghị cách chức ngay lúc bấy giờ, khi ông ta hào hứng đưa trên mạng Điện tử Chính phủ Việt Nam tin Hải quân TQ diễu hành hoành tráng tại quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa... “của Trung Quốc”, bị công luận dồn dập lên án ông đã đổ lỗi cho người đánh máy “đánh nhầm”. Một giuộc cả thôi mà – BVN chú thêm].

Các nhà văn bảo tôi: xin lỗi vì trục trặc kỹ thuật nên ông Hảo không nói được vì micro mất điện, nếu quang minh chính đại thì phải mời anh Hảo lên nói lại chứ, bắn không nên đền đạn chứ. Nói dối lòi mẹ cái đuôi định hướng micro, micro đểu rồi còn xoen xoét cái miệng gian trá, bịp bợm. Đúng bọn này là bọn không lương thiện, không tử tế, còn lâu mới thành người mà dám khoác áo nhà văn, khoác áo Chủ tịch đoàn, thế giới nó khinh như mẻ, đám ma bùn chứ nhà văn gì chúng nó…

Một số nhà văn đã đi tìm hiểu, hỏi cán bộ công nhân viên Học viện Chính trị quốc gia rằng hệ thống âm thanh ở đây có bao giờ trục trặc chưa? Họ trả lời, đây là trường đảng của Bộ chính trị, trục trặc âm thanh có mà chết, không bao giờ bị trục trặc âm thanh, dàn âm thanh tốt nhất nước đấy… Với lại, hội trường này không bao giờ bị mất điện, tuyệt đối không bao giờ micro bị tắt tiếng như sự cố hôm nay đâu…

Sau hai ngày ngồi trong hội trường Đại hội, chúng tôi và rất nhiều anh em nhà văn phát hiện ra sự thật này: âm thanh micro của Đại hội là âm thanh đểu, micro đểu. Vì mỗi lần ông Hữu Thỉnh nói hay các ông trong Chủ tịch đoàn nói, hay những ông đọc tham luận y hệt xã luận báo Nhân dân thì âm thanh rất tốt, rất vang, rất rõ. Rõ đến nỗi tôi ngồi bên ngoài, đi trong sân của hội trường còn nghe rõ mồn một. Thế mà khi nhà văn lên nói hay lên tham luận mà họ không nắm được, họ bèn vặn rất nhỏ âm thanh micro. Tham luận của GS Phong Lê có nhắc đền Hoàng Sa, Trường Sa, nhắc đến nỗi nguy mất nước thì micro bị nhiễu, rè như kẻ khản đặc tiếng, nghe câu được câu chăng… Các tham luận hay phát biểu của Bùi Minh Quốc, Phạm Đình Trọng… đều bị micro đểu làm méo hết giọng. Đúng là quân đểu, micro đểu, Đại hội đểu…

Các nhà văn giờ giải lao xúm vào hỏi tôi, rằng ông định nói gì lúc đó, nạn nhân của micro đểu, tự do đểu, dân chủ đểu định nói gì mà “nó” sợ ông hơn sợ đế quốc Mỹ vậy? Tôi bảo, tôi đâu có cầm trong tay bản tham luận đâu mà “nó” cắt micro của tôi, tôi chỉ xin nói ba đến bốn phút mấy cảm nghĩ như sau:

Thứ nhất, tôi thấy sự thật và đất nước không có mặt tại hội trường này. Dân tộc ta, đất nước ta đang bị bọn giặc phương Bắc xâm lược; chiếm các quần đảo của ta, giết dân ta ngoài biển như giết ngóe, chiếm đất liền ta bằng kế hoạch bauxite thậm độc, trồng rừng đểu, khai quặng đểu để chiếm đất, chiếm rừng rồi ồ ạt di dân Tàu sang đất ta… Họa mất nước đang đến gần sát sạt. Vậy mà ông Hữu Thỉnh lờ đi, Chủ tịch đoàn lờ đi, đa số nhà văn lờ đi, tham luận chúng ta lờ đi… Làm như Đại hội Hội Nhà văn lần thứ VIII này đang diễn ra bên Trung Quốc chứ không diễn ra trên đất nước ta. Điều lo lắng quan tâm nhất của 85 triệu đồng bào không hiện diện trong hội trường này; thế thì chúng ta câm mồm để Trung Quốc bóp cổ đất nước, chúng ta đồng lòng với kẻ xâm lược à?

Thứ hai, tôi muốn cải chính giùm cho ông Hữu Thỉnh. Sau khi bài báo động trời của nhà văn Trang Hạ: “Em không phải nhà văn đâu” tung lên các trang mạng trong và ngoài nước, nhiều nhà văn hỏi chúng tôi; rằng có phải nhà thơ Hữu Thỉnh là người của Trung Quốc, do Trung Quốc cài cắm vào từ lâu để nắm Hội Nhà văn, sao thấy cách hành xử quốc tế của ông Thỉnh yêu nước Tàu hơn yêu nước Việt, làm cái gì cũng cốt để đẹp lòng thiên triều phương Bắc? Tôi bèn trả lời rằng, không nên kết luận sớm quá như vậy, chẳng lẽ ông Hữu Thỉnh lại đang tâm làm gian tế cho giặc hay sao?

Xin googbye Chủ tịch Hội Nhà văn Hữu Thỉnh,
Kính xin ông Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII Hữu Thỉnh (ông Thỉnh đã làm Chủ tịch Hội ba khóa rưỡi) hãy rủ lòng thương, ban cho tôi ân đức, xin ngài hạ cố gạch tên chúng tôi trong danh sách hội viên. Xin cảm ơn ông trước. Chúng tôi không làm đơn xin ra khỏi Hội, vì khi vào Hội Nhà văn năm 1975, chúng tôi không phải làm đơn, được Hội Nhà văn tự động đưa vào Hội cùng mấy chục nhà văn trong văn nghệ giải phóng từ chiến khu về.

Qua Đại hội này, chúng tôi kết luận: Hội Nhà văn Việt Nam sinh ra không phải để phụng sự Tổ quốc và nhân dân Việt Nam, mà chỉ cốt phục vụ Đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi. Mà Đảng Cộng sản Việt Nam thì không phải là dân tộc hay Tổ quốc Việt Nam.

Xin goodbye Đại hội bịp mồm!
Sài Gòn, ngày 07-8-2010
Trần Mạnh Hảo bvnpost on 09/08/2010


LÁ THƯ NGỎ
GỬI TRUNG TƯỚNG CÔNG AN HỮU ƯỚC
KÍNH GỬI TRUNG TƯỚNG CÔNG AN
NHÀ VĂN -HỌA SĨ - NHẠC SĨ -THI SĨ – KỊCH SĨ
NHIẾP ẢNH GIA - ĐIỆN ẢNH GIA HỮU ƯỚC


Thưa trung tướng công an Hữu Ước,

Lời đầu thư, tôi xin thay mặt ba mạng sống đang thoi thóp trong sợ hãi của gia đình tôi, kính chúc ông sức khỏe và vui tươi, phấn khởi để phụng sự ngành an ninh nước nhà tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, dẹp tan cái chế độ tư bản dỏm đang thực thi trên quê hương ta mà chôn sống chúng nó như Marx, Engel dạy.

Thưa ông trung tướng,

Sau khi ông trung tướng ngồi chủ tịch đoàn lên diễn đàn Đại Hội Nhà Văn Việt Nam chiều 06-08-2010, lúc kết thúc đại hội, lớn tiếng kết án tôi (TMH) và nhà thơ Bùi Minh Quốc là Lý Tống quậy phá đại hội, khiến tôi đã sợ hãi đến co dúm người lại như một miếng giẻ rách.

Bởi ông Lý Tống, người đã dám cướp máy bay rải truyền đơn trên bầu trời Sài Gòn rồi nhảy dù xuống đất bị bắt…được tha do quốc tế bảo lãnh, ông anh hùng này lại cướp máy bay Thái Lan bay vào vùng trời Sài Gòn rải truyền đơn chống cộng… vốn dĩ là kẻ tử thù của chế độ cộng sản Việt Nam. Lần này, nếu Đảng ta tóm được ông Lý Tống, chắc sẽ xử ông tùng xẻo không tha…

Thế mà ông lại đứng giữa đại hội nhà văn vu cho tôi là Lý Tống, thì cầm bằng như ông đã thay mặt đảng ta, an ninh ta tuyên án tử hình tên Trần Mạnh Hảo ngỗ ngược dám chê ông không biết viết văn giữa đại hội vừa rồi.

Than ôi! tôi vốn là một kẻ sợ công an nhất nước Việt Nam. Hồi bé, công an đã bắt bố tôi là Trần Văn Hiền tới 12 lần, chỉ vì bố tôi hay làm thơ ca hò vè diễu cợt cán bộ xã huyện ức hiếp dân lành và tham ô lãng phí. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi lần đi học phải qua trụ sở công an xã, tôi đã co chân chạy như biến, đến nỗi nhiều bận ngã thâm tím mặt, lại còn sợ quá són cả ra quần không biết là bao nhiêu lần.

Cho đến hôm nay, nỗi sợ công an cộng sản Việt Nam của tôi còn tăng lên gấp bội. Đến nỗi giờ này, sau mấy chục năm lấy nhau, tôi vẫn chưa hết nghi ngờ vợ tôi có thể do công an gài vào giả vờ lấy tôi, cốt theo dõi tư tưởng tâm hồn tôi, điều tra xem tôi có phải là CIA cài vào chờ cơ hội xông ra lật đổ đảng ta hay không ? Bởi vì tôi thấy bà vợ tôi hay theo dõi tôi viết lách, rất đáng ngờ; có thể do tôi sợ công an quá xá mà nghi oan cho bà vợ suốt đời kiểm soát mình còn hơn cả công an chăng ? Tôi đã sống hèn hạ như kiếp con giun cái kiến của thân phận người dân Việt Nam để cốt yên thân. Đến nỗi, mỗi lần mở máy vi tính, cái tôi nhìn thấy trước nhất là một câu “ranh ngôn” tự viết: “ Kẻ mạnh là kẻ biết sợ !”

Sau khi ông trung tướng tuyên án tử hình tôi, tôi đã rét run lên mặc dù Hà Nội hôm ấy nóng trên 38 độ. Tôi bỏ cuộc đi thăm thú Hà thành, tranh thủ mua ít vải màn về để may áo tang cho cả nhà vì đảng ta đâu có thể để tên Lý Tống thứ hai này sống thêm mấy tháng…Tôi chuồn lẹ về Sài Gòn, hi vọng tìm cách giấu biến tin khủng khiếp này không cho vợ con biết.

Chiều 07-08-2010, từ Hà Nội bay về nhà, tôi đã thấy vợ con khóc như ri, khóc khản cả tiếng rằng sao ông dám cả gan bóp dái ngựa thế, chết là phải rồi ông ơi là ông ơi. Chỉ cần một ông công an phường bảo ông là Lý Tống, ông đã chết mất ngáp, đằng này chính mồm ông trung tướng công an phán như thế, chắc vài tuần nữa họ sẽ bắn ông ngay.

Mấy hôm nay, cả nhà tôi sợ quá không dám ngủ, không dám ăn, chỉ uống nước lã cầm hơi, ngồi chờ lính ông đến trói mang tôi đi. Cứ tình hình này, cả nhà tôi có thể chết vì quá sức sợ hãi mà đứt hết ruột gan.

Tôi xin cắn rơm cắn cỏ, van ông trung tướng quyền uy ngang trời hãy thương xót chúng tôi mà mở lượng hải hà, ban cho vợ con tôi một con đường sống, dù ông có bắn tôi ngay bây giờ.

Xin ông hãy tuyên bố trên báo công an của ông rằng: tên Trần Mạnh Hảo lúc trong đại hội đích thị là Lý Tống, nhưng ra ngoài nó sợ quá co vòi lại nên đã biến thành một tên Lê Công Định thứ hai. Đảng sẽ cho nó mươi năm tù để nó nếm đòn tự do dân chủ, tha mạng chó cho nó khỏi dựa cột, đặng để vợ con tên phản động này khỏi chết vì quá sợ hãi.

Nếu ông làm được vậy, là ông nhân đức nhất nước rồi, trời phật sẽ cho ông sống lâu trăm tuổi để ông bắt hết bọn Lý Tống đang có cơ mọc lên rào rào như mầm măng đầu mùa gặp mưa.

Tôi xin ông thêm một ân huệ nữa. Nếu ông có sai các cây bút công an hay các giáo sư tiến sĩ Mác –Lê dùng tên giả để “đánh” các bài báo phản động của tôi thì các ông hãy đánh một cách quân tử, đừng dùng lối tiểu nhân như các ông vẫn làm. Phê phán các bài viết của người ta mà không in bài viết ấy lên để người đọc kiểm chứng, lại cắt xén, xuyên tạc, bịa ra đời tư của người ta…như các ông vẫn làm với các nhà đối kháng thì quả là các ông không chính danh, không quân tử, không đàng hoàng tử tế.

Các ông có sức mạnh vô song của súng, của nhà tù, của chuyên chế vô sản, có sợ con ma nào mà phải phê bình phê bèo kiểu học phiệt, kiểu xiên xẹo, mèo mả gà đồng không xứng danh “ phương diện quốc gia” như thế ?

Một điều nhỏ nữa tôi xin góp ý với ông là sau khi ông kết án hai chúng tôi là Lý Tống, là ông đã nói một câu rất hớ, rất không xứng tầm lon trung tướng và không xứng tầm với một người đa tài “ bằng vạn Nguyễn Đình Thi”; ấy là khi ông phán: “ Tôi trung tướng công an nhà văn Hữu Uớc phê phán Hội nhà văn dám để mấy tên Lý Tống này lên diễn đàn đòi chủ quyền quốc gia, bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa không đúng chỗ, đòi tự do dân chủ không đúng chỗ !”

Chính ra các ông nên đề một bảng cấm ở hội trường đại hội: ‘CẤM YÊU NƯỚC, CẤM ĐÒI CHỦ QUYỀN HOÀNG SA, TRƯỜNG SA” và thêm khẩu hiệu: “CẤM NÓI ĐẾN DÂN CHỦ TỰ DO” thì có phải là đẹp lòng đảng ta lắm lắm ru?

Tuyên bố như thế, có khác gì ông vu cho đảng cộng sản cầm quyền bán đất bán biển cho Trung Quốc ? Như vậy, liệu đảng ta còn khoái ông không? Tuy rằng thực chất vấn đề có thể đúng như ông nói, nhưng tuyên truyền thì phải nói ngược lại là đảng ta yêu nước ta, yêu tự do dân chủ nhất thế giới chứ ?

Mấy lời thô thiển của kẻ dân đen mạt hạng đang run sợ như cầy sấy, cắn rơm cắn cỏ van ông rủ lòng từ bi hải hà mà tha cho vợ con tôi khỏi phải chết vì quá sợ hãi, bằng cách ông “ hô biến”, biến chúng tôi từ Lý Tống thành Lê Công Định…

Cầu cho ông được khỏe mạnh để có thể vào trung ương khóa này mà nắm chức bộ trưởng công an như ông hằng mong ước..

Kính thư,
Kẻ hèn mọn tên là Trần Mạnh Hảo
Sài Gòn ngày 10-08-2010
Trần Mạnh Hảo

Wednesday, August 11, 2010

Cựu thù’ trên mẫu hạm USS George Washington

Trích NguoiViet Online

USS GEORGE WASHINGTON - Hôm 8 tháng 8, 2010, một ‘phái đoàn liên ngành’ trong đó có các sĩ quan hải, lục, không quân của quân đội Việt Nam đã có chuyến thăm hàng không mẫu hạm USS George Washington khi mẫu hạm di chuyển ngang khu vực ngoài khơi miền Trung Việt Nam, giữa Ðà Nẵng và quần đảo Hoàng Sa, cách đất liền khoảng 200 hải lý.

Cuộc viếng thăm của ‘phái đoàn liên ngành’ Việt Nam là một phần trong một loạt hoạt động quân sự kéo dài 5 ngày, kỷ niệm 15 năm bình thường hóa quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam, vốn dĩ là ‘cựu thù’ cách đây 35 năm.

Dưới đây là một vài hình ảnh của chuyến thăm được trích từ trang mạng của Hạm Đội 7, Hải Quân Hoa Kỳ:



Các sĩ quan, giới chức và các nhà báo Việt Nam thăm phòng chỉ huy của mẫu hạm USS George Washington. (Hình: Mass Communication Specialist 3rd Class Danielle A. Brandt/ U.S. Navy)




Đại Úy Bùi Trung Tân của Hải Quân Việt Nam đứng trên boong tàu quan sát các chiến đấu cơ của Hoa Kỳ cất cánh và hạ cánh. (Hình: Mass Communication Specialist 3rd Class Danielle A. Brandt/ U.S. Navy)



Các sĩ quan cao cấp của Việt Nam quan sát bên trong mẫu hạm USS George Washington. Từ trái qua: Đại tá hải quân Ngô Sĩ Quyết, Đại tá không quân Nguyễn Văn Thọ, Đại tá không quân Phạm Ngọc Dũng và một sĩ quan lục quân. (Hình: Mass Communication Specialist 3rd Class Danielle A. Brandt/ U.S. Navy)



Viên chức và nhà báo Việt Nam chụp hình lưu niệm trên phi đạo của hàng không mẫu hạm USS George Washington. (Hình: Mass Communication Specialist 2nd Class John J. Mike/ U.S. Navy)

Tuesday, August 10, 2010

Lo lắng Trung Quốc, các nước Á Đông tăng cường quận sự

Trích Đàn Chim Việt

VN mua 6 tầu ngầm của Nga trong kế hoạch hiện đại hóa quân sự. Ảnh minh họa, nguồn On the net

WASHINGTON POST (9/8/2010): Các quốc gia Nam Á đang tăng cường sức mạnh quân sự, thông qua việc mua sắm tầu ngầm và máy bay chiến đấu với nhịp độ kỷ lục, đồng thời có sự sáp lại chiến lược với Mỹ như một lá chắn chống lại sự trỗi dậy và những yêu sách trên toàn biển Nam Trung Hoa của Trung quốc.

Việc mua sắm vũ khí trong khu vực đã tăng gần gấp đôi từ năm 2005 tới năm 2009 so với 5 năm trước đó, theo những dữ liệu do viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm ấn hành năm nay.

“Tồn tại một nỗi lo sợ tại một số nước Nam Á” giám đốc nghiên cứu của học viện, ông Siemon Wezeman nói, “Trung quốc là vấn đề ở khu vực này”.

Chuyện mua sắm sẽ còn được tiếp tục, với những báo cáo rằng Việt nam đã thỏa thuận chuyển 2,4 tỷ đô la để mua của Nga 6 tầu ngầm loại Kilo và khoảng 12 máy bay chiến đấu SU-30MKK để trang bị cho hải quân. Thêm vào sự kiện này là việc Úc cũng cam kết mua hoặc sản xuất thêm 9 tàu ngầm và tăng cường cho không quân với 100 máy bay F-35s do Mỹ sản xuất. Malaisie cũng đã bỏ ra 1 tỷ đô la để mua 2 tàu ngầm diesel của Pháp, và Indonesie cũng mới vừa tuyên bố sẽ mua những tàu ngầm mới.

Những lo ngại của các nước Nam Á do sự nổi lên của trung quốc đã bộc lộ tại diễn đàn an ninh khu vực, bao gồm các quốc gia thuộc Hiệp hội các quốc gia châu Á, Hoa Kỳ, Trung quốc và các quốc gia mạnh khác của châu Á. Trong hội nghị, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hyllary Rodham Clinton lần đầu tiên đã tuyên bố hoàn toàn bác bỏ những yêu sách chủ quyền của Trung quốc đối với toàn bộ 1.3 triệu dặm vuông mặt biển. Mười một quốc gia khác, đứng đầu là Việt nam, với sự ủng hộ của Mỹ, đã dồn bộ trưởng ngọai giao Trung quốc vào thế hoàn toàn bị động, các nhà ngoại giao có mặt đã khẳng định như vậy.

Hoa Kỳ và các nước Đông Nam Á đã đẩy Trung quốc vào thế chịu trận, vì, các viên chức Mỹ và Nam Á nói, Trung quốc đã trở nên ngày càng hiếu chiến.

Trung quốc đã cải tạo nhiều tầu chiến thành các tàu hành chính hàng hải và đem đến sử dụng trên vùng biển. Ngày 23 tháng sáu, một tàu đánh cá của Indonesie bị đuổi khỏi vùng biển mà họ tuyên bố có chủ quyền, bởi một tàu quản lý nghề cá của Trung quốc- một chiế tàu chiến cũ có trang bị súng máy hạng nặng. Trong năm ngoái, hạm tàu của Trung quốc đã bắt ít nhất 22 tàu đánh cá việt nam, theo truyền thông Việt nam. Trung quốc cũng đơn phương ra lệnh cấm đánh bắt hải sản trên vùng biển đang còn tranh chấp.

Thứ năm vừa rồi, Việt Nam tố cáo Trung quốc vi phạm chủ quyền của việt nam khi tiến hành khảo sát địa chấn trên quần đảo Hoàng sa. Người phát ngôn của bộ ngoại giao Việt Nam, Nguyễn Phương Nga đã tuyên bố, tàu Trung quốc đã tiến hành những hoạt động khảo sát địa chấn từ cuối tháng 5, gần khu vực quần đảo Hoàng sa, thuộc chủ quyền của Việt nam, đồng thời trên những lô dầu và khí đốt trên thềm lục địa.

“Việt Nam yêu cầu Trung quốc chấm dứt ngay và không lặp lại những vi phạm về chủ quyền của Việt Nam”, bà nói.

Trong nhiều năm, các chuyên gia từng dự báo rằng “quyền lực mềm” cùng với sự tăng trưởng kinh tế của Trung quốc sẽ cho phép Trung quốc thống trị khu vực. Nhưng, do chính sách ngoại giao của Trung quốc ngày càng trở nên thô bạo, khu vực này quá lo ngại điều sẽ xảy ra, đáng lẽ sẽ sử dụng sự trỗi dậy của Trung quốc như đối trọng chiến lược với ưu thế của Hoa Kỳ , thì, năm nay.. .báo cáo của Viện Chính trị đối ngoại Úc kết luận , “đa số các nước châu Á hình như lại lặng lẽ đến gần Mỹ để cân bằng quyền lực chống lại tiềm năng tương lai của Trung quốc”.

Trong năm 2009, khi được hỏi chọ nuớc nào là nguồn ổn định và hòa bình lớn nhất cho khu vực, trong vòng 10 năm tới, các “tinh hoa chiến lược” trong vùng, đa số đều chọn Hoa Kỳ, theo điều tra của Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế Washinton. Kết quả điều tra đưa ra rằng: Quốc gia đặt ra những đe dọa lớn nhất cho khu vực là Trung quốc chứ không phải Bắc Triều tiên, như người ta tưởng.

Các chuyên gia đếu nhất trí rằng, chương trình mua sắm vũ khí của Việt Nam là quan trọng nhất, bởi vì nó đặc biệt nhằm ngăn chặn Trung quốc. Thực chất, việc tăng cường sức mạnh phòng thủ bờ biển tương đối mạnh để Trung quốc buộc phải cân nhắc mỗi khi đưa ra những yêu sách.

“Việt Nam đầu tư nhiều tiền và tập trung trên biển với tàu ngầm và tàu chiến thậm chí cả tên lửa”, Carl Thayer, giáo sư của Viện Hàn lâm Lực lượng Quốc phòng Úc tuyên bố.

Việt Nam cũng bắt tay với một số đối tác. Họ có mối quan hệ tốt với Ấn độ, một trong những đối thủ chính của Trung quốc trong khu vực. Lực lượng của Ấn độ cũng được trang bị bằng tàu ngầm loại Kilo của Nga, được xem như nơi huấn luyện cho thủy thủ việt nam. Nhưng Việt Nam càng ngày càng đến gần với Mỹ.

Lãnh đạo quân sự và chính phủ hai nước thường xuyên gặp gỡ. Người ta nói tới mối quan hệ chiến lược. Những cuộc họp cao cấp chính thức hóa quan hệ quân sự đang được chờ đợi trong năm nay. Thương mại giữa hai nước cũng tăng trưởng tốt đẹp, tăng từ 2,9 tỷ đô la năm 2002 lên 15,4 tỷ đô la trong năm 2009.

Sau khi tham gia diễn tập quân sự với Nam Hàn cuối tháng bảy, tàu không hạm USS George Washington đã có mặt trên biển Việt Nam vào cuối tuần qua và đón chào các sĩ quan cao cấp quân đội Việt Nam đến thăm. Trung quốc đã phản đối Mỹ tập trận chung với Nam Hàn. Trong khi đó, Việt nam đã chào đón hải quân Mỹ.

Mỹ cũng đồng thời đang chuẩn bị sẵn sàng để củng cố nền công nghiệp năng lượng hạt nhân của Việt Nam. Theo chứng thực trước Quốc hội tháng Năm của Vann H. Diepen, phó bộ trưởng An inh quốc tế và không phổ biến hạt nhân, hai nước đã ký bản Ghi nhớ về triển vọng hợp tác hạt nhân dân dụng vào tháng Ba. Hai nước cũng thu xếp cho phép Việt Nam tự làm giàu Uranium đế sản xuất năng lượng. Trong tháng 11, Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn việc xây dụng hai nhà máy điện hạt nhân đầu tiên. Và dự kiến sẽ xây dựng từ 8 đến 10 nhà máy nữa.

Bùi Quang Vơm dịch

© Đàn Chim Việt

Monday, August 9, 2010

Mỹ-Việt từ đối đầu đến hợp tác quân sự

Trích VOA News

Hàng không mẫu hạm USS Geoge Washington đến Việt Nam để kỷ niệm 15 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa 2 nước
Hình: U.S. Navy

Hàng không mẫu hạm USS Geoge Washington đến Việt Nam để kỷ niệm 15 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa 2 nước

Tin liên hệ

Hàng không mẫu hạm USS George Washington của Hoa Kỳ đang hiện diện ngoài khơi duyên hải Việt Nam trong chuyến thăm nhân dịp hai quốc gia cựu thù kỷ niệm 15 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao song phương.

Theo giới phân tích, thời điểm của sự kiện này cho thấy mối quan tâm đang gia tăng của Mỹ trong việc duy trì an ninh và ổn định tại khu vực Châu-Á Thái Bình Dương trong bối cảnh có căng thẳng giữa Trung Quốc với Việt Nam cũng như các nước Đông Nam Á tranh chấp chủ quyền lãnh hải ở biển Đông, và căng thẳng giữa Nam-Bắc Triều Tiên sau vụ Bắc Triều Tiên bị cáo buộc đánh chìm tàu chiến của miền Nam.

Bản tin AP trích lời các giới chức hải quân Hoa Kỳ cho biết trong mấy ngày qua, các tàu hải quân của Trung Quốc liên tục theo dõi chiến hạm USS George Washington từ xa khi chiếc hàng không mẫu hạm của Mỹ tiến vào Biển Đông dọc theo bờ biển phía Tây của Việt Nam.

Hôm Chủ nhật, hạm trưởng Ross Myers của chiến hạm George Washington nhấn mạnh tầm quan trọng chiến lược của vùng lãnh hải tại Biển Đông và sự tự do lưu thông trong khu vực này là thiết yếu đối với cả hai nước Việt-Mỹ.

Khi được hỏi bình luận liên quan đến sự lấn lướt của Trung Quốc tại khu vực, hạm trưởng Myers nói ông biết rằng chính phủ và nhân dân Trung Quốc đang ra sức bảo vệ quyền lợi của họ, nhưng quan trọng hơn là Việt Nam và các nước đối tác phải chứng tỏ rằng họ cũng có quyền bình đẳng về thịnh vượng kinh tế và hòa bình trong khu vực.

Quan hệ hợp tác quân sự Việt-Mỹ gia tăng kể từ khi tàu chiến đầu tiên của Hoa Kỳ ghé thăm Sài Gòn hồi năm 2003, cùng với các cuộc đàm phán cấp cao giữa giới chức quốc phòng đôi bên và các buổi huấn luyện.

Tin AP cho hay tàu khu trục USS John McCain của Mỹ sẽ cập cảng Việt Nam vào cuối tuần này.

Theo dự kiến, hải quân hai nước sẽ tổ chức các sự kiện trao đổi văn hóa, các buổi tập huấn về các hoạt động như tìm kiếm và cứu hộ.

Nguồn: AP, Scotsman.com

Sunday, August 8, 2010

Phạm Duy: 'Giấc mơ hồi hương' sụp đổ.

Trích DCV Online

Cô Gái Đồ Long


DCVOnline: Trân trọng giới thiệu bạn đọc một bài viết về nhạc sĩ Phạm Duy của tác giả Cô Gái Đồ Long, với những chi tiết thú vị. Xin bạn đọc lưu ý, ngày trình diễn của chương trình này là hai ngày 17 và 18 tháng Bảy năm 2010.

Trong phạm vi nào đó, âm nhạc và chính trị là hai phạm trù đối kháng với nhiều cá nhân coi âm nhạc đơn giản chỉ vị nghệ thuật và không – với những người dùng các sáng tác để ca tụng chế độ mình phục vụ hay bày tỏ chính kiến, quan điểm, tâm trạng về thời cuộc. Và như thế, Phạm Duy là một trường hợp mà hầu như ai cũng tỏ tường lý lịch và không nhất thiết phải mổ xẻ thêm nữa. Ở đây chỉ đề cập tới vài chuyện trong những năm qua khi ông quay về…

Phàm làm người, nhất là một nhân vật văn nghệ đặc biệt như Phạm Duy thì chuyện bỏ đi rồi lại quay về rất có nhiều cái dở nếu bàn về lập trường và quan điểm sống. Ở vào thời điểm tháng 5/2005, khi ông chính thức định cư Việt Nam sau 30 năm tha hương, hầu hết các báo đều hết lời ca tụng, tâng bốc Phạm Duy lên tận mây xanh. Người ta nhắc ông như người bạn thân thiết với nhạc sĩ Quốc ca Văn Cao và cùng Văn Cao sáng tác nhiều ca khúc trong thời kháng chiến chống Pháp, người ta khẳng định chắc nịch lần nữa rằng ông chính là một trong những cây đại thụ hiếm hoi còn lại của nền tân nhạc Việt Nam. Người ta cũng chỉ nói me mé rằng Phạm Duy đã sáng tác gần 1.000 ca khúc nói lên niềm vui, nỗi buồn, vinh quang, tủi nhục của người Việt trong suốt các thời kỳ sôi động nhất của lịch sử và lờ đi những chuyện phản phé, cũng như tư tưởng chống Cộng công khai của ông trước đây. Báo chí Việt Nam đã làm đúng vai trò và trách nhiệm của mình, trong xu thế cởi mở xem sự kiện Phạm Duy là động thái lên dây cót cho nhiều Việt kiều vứt bỏ e ngại rào cản mà quay về, ông trở thành nhịp cầu nối quê hương với người Việt xa xứ. Nếu nói theo cách khác, Phạm Duy đã trở thành con bài cho công cuộc vận động kiều bào và là điển hình hoàn hảo của chính sách hòa hợp dân tộc.

Họp báo về chương trình ca nhạc "Mơ giấc mộng dài" của Phạm Duy ở Sài Gòn. Nguồn: vanhoalacviet.org
Trong suốt 5 năm qua, nếu theo dõi sẽ thấy có 70 bài hát, 7 album cùng nhiều sách của Phạm Duy đã được cấp phép, in ấn đẹp mắt xuất bản đến với công chúng, không bỏ bèn gì đối với gia tài của ông. Nhưng, thật là chẳng nên mơ mộng thêm điều gì nếu nhìn qua vài nhân vật cũng có nhân thân khá đặc biệt khác như Hoàng Thi Thơ, Trần Thiện Thanh, Vũ Thành An – 10 bài Không tên hiện vẫn chưa được phép lưu hành, cho dù nhạc sĩ này nghe đâu đã bỏ đời đi tu. Công lao đó không thể không nói tới Phương Nam Phim, nơi độc quyền khai thác các sản phẩm trí tuệ của Phạm Duy. Với những live show hoành tráng và nhiều mỹ cảm thực hiện tại Sài Gòn - Hà Nội như Ngày trở về, Con đường tình ra đi…trong đó có chương trình và album còn được để cử giải thưởng Cống Hiến. Ngày nào còn ngồi rung đùi nheo mắt ngắm nắng ở Mỹ có lẽ Phạm Duy cũng chẳng thể mơ được đến như thế! Phạm Duy còn có nhiều trường ca và tổ khúc viết trong 30 năm nay, ông thường ước ao giá được phổ biến nữa thì còn gì bằng. Mới tháng trước, Phạm Duy tự thực hiện tổ khúc Bên kia sông Đuống để tặng nhà thơ Hoàng Cầm khi bạn già này từ giã thế gian. Ông nhờ Mỹ Linh hát và Duy Cường hòa âm phối khí, xong mang tặng cho gia đình Hoàng Cầm …để lên bàn thờ. Kiểu này gọi là đĩa lậu đây! Khi kể xong chuyện, Phạm Duy còn bảo rằng nếu trước khi ông ra đi như Hoàng Cầm mà nghe được những tổ khúc của mình được công bố rộng rãi trên sân khấu thì đời mới thật mãn nguyện lắm lắm. Làm người ai chẳng tham lam!

Hôm rồi gặp, nghe Phạm Duy tâm sự: “Tôi ngày nào cũng đi bộ 3 tiếng đấy. Khỏe ra lại ăn được nhiều, cô giúp việc nhà nấu ngon lắm. Hiện Duy Minh đang sống với tôi, bố con chuyện trò rất hiểu ý nhau nên tinh thần cũng thoải mái. Buồn thì đi gặp vài người bạn khề khà thôi cũng hết buổi. Lâu rồi tôi không đi qua Mỹ nữa, năm ngoái chỉ sang để chữa bệnh đau ruột, mãn tính chữa mãi không khỏi nên thôi giờ không đi nữa. Tôi đã về Việt Nam 5 năm rồi, đây là nơi cuối cùng tôi chọn để ở và chết, không ưng đi đâu cả…”. Ở tuổi 91 như vậy coi cũng đã bằng an! Nhưng đó là chuyện cá nhân ông, còn người làm kinh doanh lại không có lệ an phận như vậy, nhất là khi đã bỏ nhiều công sức và tiền bạc để Phạm Duy được đường hoàng trở về. Trong chừng thời gian đó là live show, các ấn phẩm sách báo rồi băng đĩa…cứ mỗi lần ra mắt, muốn bán vé bán đĩa bán sách thì phải PR, tiếp thị, phải lên báo đánh trống khua chiêng la làng để người ta còn biết đường mà mua hàng. Nếu theo dõi báo chí trong nước, sẽ không khó nhận ra ngoại trừ vài tờ báo lớn như Thanh Niên, Tuổi Trẻ có những mối quan hệ thân thiết với PNF thì các tờ báo mang tính định hướng chính trị - xã hội cao như SGGP, Nhân Dân, Công An sau khi ồn ào với sự kiện “Trở về” của Phạm Duy đã không còn đăng tải tin, bài về ông nữa. Mọi sự không tự nhiên mà như thế!

Giấp phép cho trình diễn phúc khảo để được quyết định cho trình diễn chương trình ca nhạc "Mơ giấc mộng dài" của Phạm Duy ở Sài Gòn. Nguồn: vanhoalacviet.org
Còn nhớ sau liveshow “Ngày trở về” tôi có bài review trên một trong những tờ báo đó và kết quả là ban biên tập đã được cấp trên gọi xuống nhắc nhở. Lần khác, khi bão Chanchu tàn phá miền Trung phòng trà Văn Nghệ có kết hợp với báo Công An tổ chức show “Phạm Duy – Về miền Trung” để quyên góp tiền cho nạn nhân lũ lụt. Thế nhưng giờ chót đã phải tháo băng rôn và gỡ tên báo ra vì có lệnh xuống là không được nhắc nhở gì tới Phạm Duy nữa, muốn tổ chức hát hò gì cứ âm thầm mà làm. Nói như giọng hằn học của ông NSND Trọng Bằng: “Bàn đến Phạm Duy những người chân chính ở Việt Nam đã biết cả rồi, biết Phạm Duy như thế nào trong quá khứ, Phạm Duy có cái gì tốt, cái gì chưa tốt, bản chất của Phạm Duy và giá trị thật âm nhạc của anh người nghe đều hiểu cả. Sự trở về của Phạm Duy là sự ưu ái của Đảng và Nhà nước, sự rộng lượng của nhân dân ta, nên đừng đặt mình ở vị trí cao, cứ nên im lặng mà làm việc thôi. Có những tác phẩm anh sáng tác đầu kháng chiển rất tốt, bây giờ Cục biểu diễn người ta khuyến khích cho phép anh trở về biểu diễn, thì cứ thế mà cống hiến thôi. Dư luận chúng ta hơi dễ dãi và nhẹ dạ. Nhưng vấn đề là Phạm Duy phải tỉnh táo. Vì ông hoàn toàn hiểu ông là ai, quá khứ đối với dân tộc của Phạm Duy là một tội lỗi. Ông không thể so sánh ông với bất cứ một nhạc sỹ nào đã tham gia cách mạng, vì thế ông không thể nào so sánh với nhạc sỹ Văn Cao. Không thể ví được. Văn Cao là một con người có trình độ, là một nhà nghiên cứu dân tộc, ông Văn Cao là một người toàn diện, và ông Văn Cao còn biết tôn trọng những người nhạc sỹ đàn em đi vào con đường âm nhạc bác học, một người rất khiêm nhường biết mình, biết ta. Giả sử có một nhạc sỹ X, Y, Z nào đó hỏi: Khi chúng tôi đi đánh Mỹ giải phóng dân tộc thì ông làm gì? Chắc chắn rằng nếu là người hiểu biết đều hiểu rõ khi đó ông là tác giả của các bài hát chống lại cách mạng, chống lại nhân dân, chống lại công cuộc giải phóng dân tộc…”.

Nhưng không ít ý kiến phản biện lại: Đánh kẻ chạy đi ai đánh kẻ chạy lại. Đã bảo hòa hợp mà sao lại nửa mùa như thế... Và người ta phỏng đoán rồi suy ra rằng: “À, Thì ra họ gia ơn cho về là may mắn lắm rồi!”. Có người còn hài hước qui cho bản chất không thay đổi của mấy anh Việt Cộng với ưu điểm – nhớ dai & khuyết điểm – thù dai. Trong cuộc trao đổi với những nhà văn Mỹ tổ chức tại Việt Nam tháng 6 vừa qua, nhà thơ Nguyễn Duy còn hào hứng nói:“ Vấn đề gì chính trị chưa giải quyết được thì văn hóa giải quyết”. Nhưng hình như đó chỉ là những định kiến và là chuyện nhạy cảm mà hai bên đều mơ mộng sẽ vượt qua được.

Ngay cả khi Đàm Vĩnh Hưng được hát ở hải ngoại, thì ca sĩ Ý Lan vẫn bị liệt vào thành phần nhạy cảm ở trong nước và chỉ được hát ở phòng trà, mà không được trình diễn trên hệ thống truyền hình? Nguồn: vanhoalacviet.org
Về mặt trận báo chí là thế. Nhưng suy cho cùng, Phạm Duy cũng chẳng vì vài bài báo tâng bốc mà nổi tiếng hơn hay cát-xê tăng cao hơn như kiểu thường tình showbiz. Cái quan trọng - mà riêng cá nhân tôi vẫn dõi theo ông, là những ca khúc Phạm Duy viết sau khi trở về đã không còn hay nữa. Đã cố nghe vài bài nhưng thú thật là bây giờ rặn óc mãi vẫn không nhớ nổi cái tựa. Với Phạm Duy bây giờ chỉ có thể gói gọn lại một câu: Cái mới không hay và cái hay thì lại không mới. Và người ta vẫn cứ say mê những ca khúc đã thuộc về dĩ vãng, bíu lấy cái vầng sáng cũ kỹ kia. Lớp khán giả này hiện đa phần đã lớn tuổi và không hứa hẹn gì nhiều cho tương lai của nhạc Phạm Duy.

Những ngày đầu tuần không yên ả, khi sáng ra hàng chục cuộc gọi tới hỏi về cái lệnh miệng của Ban tư tưởng Văn hóa yêu cầu không cho quảng bá liveshow Mơ giấc mộng dài của Phạm Duy – diễn ra vào hai ngày 17&18 tại nhà hát Hòa Bình cuối tuần này. Mặc dù có tổ chức họp báo nghiêm túc, nhưng coi như Phương Nam Phim đành ngậm đắng nuốt cay khi biết nhiều bài viết đã lên khuôn nhưng bị lột ra. Chưa hết, sáng nay không hiểu từ đâu có nguồn tin đồn: Mơ giấc mộng dài bị hủy show vì không xin giấy phép được, khiến nhà tổ chức xiểng niểng.

Kinh doanh tên tuổi Phạm Duy quả là chơi với lửa, đó cũng thể là những chuyện mà có lẽ PNF đã lường được khi quyết định đổ tiền vào ông. Lấy ý tưởng từ ca khúc nổi tiếng Tôi đang mơ giấc mộng dài, xuyên suốt chương trình sẽ là lời tự sự về dĩ vãng, về những cảm xúc đắm say mà những người sống trong tình yêu không bao giờ muốn để mất đi trong đời. Tất cả nối kết lại thành những giai đoạn của đời người: Tuổi ấu thơ – Tuổi yêu đương – Tuổi day dứt – Tuổi đá vàng. Thực tế hiện nay chỉ mới có 70 ca khúc của Phạm Duy được cấp phép lưu hành, trừ những bài hát trong hai chương trình đã diễn ra, thì muốn chọn lọc trong số còn lại để làm một show mang chủ đề lớn là điều rất nan giải.

Trong đám đông ca sĩ hiện nay, Phạm Duy đánh giá cao những người hát nhạc ông: Mỹ Linh, Đức Tuấn, Năm Dòng Kẻ, Nguyên Thảo, Khánh Linh và lần này, trong Mơ giấc mộng dài sẽ có thêm vài gương mặt bổ sung vào danh sách là Tấn Minh và Hà Anh Tuấn. Ngoài ra là hai tên tuổi gắn bó nhiều năm với các nhạc phẩm Phạm Duy: Ý Lan và Duy Quang. Giá vé đang bán ở Hòa Bình: từ 300.000 đến 1.500.000 VNĐ.

P/s:

Người ta thường xài hai chữ Nhạy cảm khi muốn từ chối bàn thẳng về một vấn đề có thể gây tác động đến dư luận. Không chỉ Phạm Duy thuộc chủ đề nhạy cảm chính trị, mà gần đây vài nghệ sĩ hải ngoại cũng nằm trong danh sách đó. Ngày 6-6 vừa qua, chương trình Thắp sáng niềm tin – do Ngân hàng ACB thực hiện nhân kỷ niệm thành lập ACB; nhằm quyên góp tiền ủng hộ quỹ từ thiện Chung một tấm lòng. Đêm diễn đặc biệt có mời Ý Lan về hát và mua sóng phát trực tiếp trên HTV7. Tuy nhiên, vào giờ chót Đài truyền hình TP.HCM đã yêu cầu gạch tên Ý Lan ra khỏi chương trình – cùng với lý do trên: nhạy cảm. Do đó, người hâm mộ chỉ có thể xem Ý Lan tại các phòng trà hay những show diễn không ghi hình phát sóng cho đại chúng.

Ông Nguyễn Cao Kỳ chia vui trong tiệc mừng nhà Lý Huỳnh. Nguồn: vanhoalacviet.org
Kế bên là nhạc sĩ Hồ Bông, người ngồi là NSND Huy Thành và Đoàn Dũng. Chụp ngày 26-6-2010 trong dịp Sách kỷ lục VN công nhận Tây Sơn hào kiệt là Bộ phim Điện ảnh - thể loại dã sử võ thuật, đầu tư quy mô và hoành tráng nhất Việt Nam. Đây cũng là một nhân vật nhạy cảm và không còn được nhắc tới nữa, mặc dù ông vẫn thường xuyên về thăm quê hương. Thật ra, một đất nước giàu mạnh và một chế độ đã vững vàng…người người trên dưới một lòng thì không cần đặt ra lằn ranh giữa nhạy cảm chính trị và văn nghệ thuần túy! Thường thì ta chỉ e ngại những kẻ khỏe - giàu - đẹp hơn mình…Haizaaa!!!


DCVOnline



Nguồn:

(
1) PHẠM DUY : "Giấc mơ hồi hương" sụp đổ. Cô Gái Đồ Long. Bài này hiện được đăng trên nhiều trang mạng và blogs khác nhau. DCVOnline lấy nguồn cho bài này từ mạng vanhoalacviet.org; và theo trang này, nguồn tin được lấy từ Diễn Đàn Việt, tuy nhiên DCVOnline đã không truy cập được gốc của bài này trên Diễn Đàn Việt.

Saturday, August 7, 2010

Một vài hình ảnh cuộc biểu tình chống văn công Việt cộng tại Sydney ngày 6/08/2010

Trích Tâm thức Việt Nam
Nguồn: Internet
August 6, 2010

Chỉ cách một con đường chưa đầy 6 thước nhưng đã gạch rõ ra hai chiến tuyến Quốc - Cộng, Chính - Tà. Bên kia đường là rạp hát, có lác đác vài người đi vào trong rạp, những người với trí nhớ kém cỏi, những người chỉ biết ngày hôm nay, đã quên hẳn đi ngày hôm qua và chẳng cần biết gì đến ngày mai; họ chỉ biết hưởng vui cho chính họ mà thôi; họ là những người có trái tim nhỏ bé và ích kỷ; họ có đôi tai nhưng chẳng còn nghe được điều hay lẽ phải; họ có mắt nhưng không phân biệt đâu là gian tà, đâu là chánh nghĩa.

Trái lại bên này đường, hơn 2000 đồng hương tụ họp về Sydney để phản đối sự hiện diện của tên ca sĩ Việt cộng Đàm Vĩnh Hưng đang thi hành nhiệm vụ tuyên truyền cho CSVN. Đáng lẽ hôm nay, một buổi chiều thứ Sáu, chúng ta có thể ở nhà quây quần với gia đình để vui vẻ sau một tuần làm việc mệt nhọc, thế nhưng bà con không ngại đêm đông lạnh lẻo cũng chỉ vì tương lai của con cháu, tương lai của dân tộc và cho chính nghĩa. Chúng ta đến đây để ngăn chặn lại sự xâm nhập của csvn tới đất tự do.



August 6, 2010

Chân Phương – Nhà văn Việt Nam nghĩ về Hội Nhà văn Việt Nam: “Tự sự của lồng chim” và “thực tế của xà lim”

Chân Phương – Nhà văn Việt Nam nghĩ về Hội Nhà văn Việt Nam: “Tự sự của lồng chim” và “thực tế của xà lim”

Cái lý thú bất ngờ quanh vụ Đàm Vĩnh Hưng

BS Trần Xuân Ninh
tamthucviet.com
August 1, 2010
Nghe
Tải xuống để lưu giữ



Hình thật quang cảnh hội trường



Hình từ web BBC


Những nhạc hội tổ chức tại nhiều nơi ở Mỹ với Đàm Vĩnh Hưng và một số văn công VC khác trình diễn không ngờ đã tạo sôi nổi khác thường. Không ngờ sôi nổi vì nhiều lý do. Hải ngoại nói chung luôn luôn biểu tình chống đánh các phái đoàn văn công hoặc là đại diện đảng và nhà nước VC ra hải ngoại thì ai cũng biết rồi. Ở Atlanta, nhạc hội ĐVH bị phản đối và thất bại nặng vì chỉ chừng 200 mạng tham dự, đa số là du sinh chở xe buýt tới, trong một hội trường vài ngàn người, thì cũng chỉ là tin lớn đối với điạ phương. Tại San Jose, không ngờ Lý Tống giả gái tặng hoa để xịt hơi cay vào Đàm Vĩnh Hưng đã là đề tài thảo luận rộng rãi trong mọi cộng đồng hải ngoại. Cái tin Phan Thị Thanh Hằng cán bộ gái của toà tổng lãnh sự được hai cận vệ lôi chạy ra ngoài, khi thấy Đàm vĩnh Hưng la lên “Cay quá! Cay quá” và hội trường náo loạn cũng đã tạo bàn tán cười cợt trong nhiều giới hải ngoại. Cười cợt cái quyết tâm sống chết của cán bộ đảng với đàn em như thế nào.

Những bài viết ca tụng Đàm Vĩnh Hưng của các bồi bút trên mạng điện tử cũng là điều bình thường, không ai để ý, vì “phủ bênh phủ, huyện bênh huyện” là lẽ thường tình ở đời. Văn công VC viết báo ca tụng văn công CS ca hát chẳng mấy ai thèm để ý nếu không có cái lối nguỵ luận tương tự kiểu Đỗ Dzũng để chuyển những thông điệp “theo lề phải” nhằm vô hiệu hoá sự biểu hiện ở hải ngoại cái tâm thức chống độc tài CS biến thái, hay là bài của Sonny Lê trên San Jose Mercury News. Sonny Lê đã nêu ra một số câu hỏi có vẻ như là quan tâm đến quốc gia dân tộc để tạo ra cho những người cùng trang lứa những suy nghĩ đắn đo phải trái mà không có câu trả lời, vì không hiểu bao nhiêu về Việt nam, và vì không nói tiếng Việt để hiểu được chính bố mẹ mình. Bài này đã được trang điện tử Đàn Chim Việt nhanh chóng lược dịch phổ biến. Cái hình Sonny Lê trẻ là một chú ý, khi mà ở hảỉ ngoại từ bấy lâu nay đã có những quan tâm tới vai trò người trẻ trong đấu tranh. Sự được chọn lựa đăng trên một tờ báo Mỹ cũng là một điều làm cho bài viết được chú ý, ít ra là đối với một số người có đầu óc vọng ngoại.

Nhưng mà cũng không ngờ là đã có những người cũng trẻ, lên tiếng ngay góp ý, trả lời nhiều ngụy luận sai trái của Sonny Lê. Vì thế cái sự kiện báo ngoại quốc loan đi có vẻ như không còn là yếu tố gia tăng giá trị thuyết phục của một bài viết như trong quá khứ. Nói cho ngay thì kể từ sau 30 tháng 4/1975 nhiều người dân miền Nam sống dưới chế độ VNCH đã không còn tin tưởng ở những cơ quan truyền thông ngoại quốc như VOA, BBC, khi thấy những cơ quan này đã đóng góp vào sự sụp đổ nhanh chóng của VNCH bằng những tin tức sai lạc cố tình. Thí dụ như loan tin quân VC chiếm một thành phố trong khi chúng còn ở tận rất xa, hay là chỉ trích biạ đặt về tinh thần chiến đấu tồi tệ của binh sĩ VNCH tạo hoang mang cho dân chúng và các đơn vị quân đội ở những nơi khác.

Chuyện Đàm Vĩnh Hưng không ngờ đã lại một lần nữa lộ ra cái gọi là khách quan trung thực của các cơ quan truyền thông quốc tế. Trên website của đài BBC tiếng Việt, người ta thấy một cách rất quân bình những hình ảnh về cuộc biểu tình đông đảo chống Đàm Vĩnh Hưng và hình những người ngồi xem trong hội trường và các “fan” (người ái mộ) trương biểu ngữ “yêu Đàm Vĩnh Hưng” cũng như xin chữ ký các văn công khác. Khổ nỗi hình hội trường và khán giả ngồi xem đông đảo của BBC không đúng với hình thật hội trường cũng được các nhiếp ảnh gia khác nhau phóng lên các trang web. Bởi vì các hình thật cho thấy hội trường gồm những hàng ghế sắp theo bậc thang, hàng sau cao hơn hàng trước, và người xem lèo tèo chừng vài chục mạng từng nhóm ngồi tụm vào nhau. Hình trên trang web đài BBC thì các ghế là trên một mặt phẳng bằng, và đàng sau là một cái nền sẫm với mờ mờ nguời thật đông đảo. Đài VC hay là một báo điện VC trong nước như Cộng an Nhân Dân, Tuổi Trẻ hay VNexpress, TuầnVN vân vân mà đi những hình ảnh nguỵ tạo này thì không nói làm gì. Nhưng những hình này ở trên website BBC thì thật là chẳng còn điều gì đáng nói nữa.

Cái hay và lý thú bất ngờ của chuyện ĐVH là thế.

Bác sĩ Trần Xuân Ninh
(ngày 31 tháng 7/2010)

Friday, August 6, 2010

Việt Nam cần đẩy mạnh nghiên cứu về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa

Trích RFI
và Trường Sa
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn
Đức Tâm

Vận động công luận quốc tế là yếu tố quan trọng trong cuộc đấu tranh giành lại chủ quyền chính đáng của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Khi so sánh tình hình Việt Nam và Trung Quốc, có một điều dễ dàng nhận thấy là chính quyền Bắc Kinh bật đèn xanh cho việc tuyên truyền công luận, giới học giả Trung Quốc được tham dự các hội thảo, đăng tải những bài viết bênh vực, biện minh cho lập trường của Trung Quốc.

Trong khi đó, tình hình tại Việt Nam thì gần như ngược lại hoàn toàn. Báo chí chính thống trong nước có đăng một số bài, chủ yếu là tổng hợp, trích dẫn các bài viết của giới nghiên cứu, thám hiểm nước ngoài trước đây, không có những bài viết nghiêm túc, mang tính học thuật. Thi thoảng có thông tin bằng tiếng Việt là lại tìm thấy thêm bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam. Còn trên diễn đàn thông tin quốc tế, trong các tập san chuyên ngành thì Việt Nam hầu như vắng bóng.

Mỗi khi xẩy ra những vụ Trung Quốc bắt giữ ngư dân Việt Nam đòi tiền chuộc, đâm chìm hoặc đe dọa, xua đuổi tàu đánh cá của Việt Nam thì công luận trong và ngoài nước lại được nghe tuyên bố quen thuộc của đại diện bộ Ngoại giao « Việt Nam có chủ quyền không thể chối cãi được đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa». Tất cả tạo cảm giác là chính quyền coi đây là một vấn đề chính trị thuần túy, rất nhậy cảm, không phải công việc của giới nghiên cứu.

Đây là những chủ đề mà RFI trao đổi cùng giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, tại Sydney, Úc. Với tư cách là một nhà khoa học, ông cho biết những suy nghĩ cá nhân và đưa ra một vài gợi ý.

*

RFI : Xin chào giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, trong vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc, một trong những yếu tố quan trọng là phải vận động công luận trong và ngoài nước. Trong thòi gian qua, phía Trung Quốc đã có những hoạt động theo hướng này. Đối với công luận trong nước, họ cho đăng những bài viết bênh vực lập trường của chính phủ, cho lập các diễn đàn hỏi đáp với sự tham gia của các học giả. Trên các web site của Trung Quốc hoặc quốc tế, giới nghiên cứu Trung Quốc đăng các bài phân tích, nhận định, đương nhiên là khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ờ đây mình chưa nói đến là các bài viết này đúng sai, ngụy tạo ra sao. Trong khi đó, ở Việt Nam, mọi việc có vẻ ngược lại. Thưa, giáo sư có ý kiến gì về tình trạng này ạ ?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn : Trước tiên, cảm ơn anh đã hỏi ý kiến về những vấn đề mà cá nhân tôi quan tâm. Tôi không phải là chuyên gia về khoa học xã hội, hay về những vấn đề thời sự như Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng đã là người Việt, thì bất cứ ai, chẳng riêng gì tôi, cũng quan tâm đến chủ quyền chính đáng của đất nước mình.

Trong thời gian gần đây, nói gần đây tức là vào khoảng hai chục năm nay, tôi cũng có theo dõi vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng không phải với tư cách là chuyên gia mà chỉ là một người quan tâm đến đất nước. Thành ra, tôi cũng biết những tin tức ở bên Trung Quốc. Họ có hẳn một chiến dịch để vận động quần chúng, trong cũng như ngoài nước, để chứng minh luận điểm của họ là Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Tôi nghĩ đây là một tranh chấp mà Việt Nam ở vào thế không được thuận lợi lắm. Lý do như sau. Khi mình đưa vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa ra quốc tế, thì mình cần phải có rất nhiều dữ liệu, bằng chứng khoa học. Nhưng trong thực tế, tôi phát hiện ra một điều là chúng ta rất thiếu các công trình nghiên cứu, các bài viết mang tính học thuật, bằng tiếng Anh trên các tập san quốc tế.

Phía Trung Quốc có khá nhiều, không phải là nhiều lắm nhưng khá nhiều bài viết, dĩ nhiên là nghiêng hẳn về luận điểm của họ. Tôi thấy đây là điều rất bất hạnh cho mình. Phần lớn chuyên gia quốc tế, không phải người Trung Quốc, mà là người Mỹ, châu Âu, thấy Việt Nam có những chứng từ cho thấy mình có chủ quyền trên hai quần đảo đó. Thế nhưng, mình lại không công bố những chứng từ đó trên các diễn đàn khoa học quốc tế. Thành ra, rất ít người biết.

Tôi nhớ là có một chuyên gia người Mỹ hay người châu Âu gì đó, nói là rất muốn trình bầy bằng chứng để cho thấy là Việt Nam có tư cách chủ quyền trên hai quần đảo đó, thế nhưng khi tìm tài liệu trên các diễn đàn khoa học quốc tế, ông ấy chỉ tìm thấy tài liệu của Trung Quốc mà không thấy tài liệu của Việt Nam. Điều này đã làm tôi rất ngạc nhiên.

Cách đây vài năm, tôi có làm một thống kê các bài báo khoa học của Việt Nam trên các tập san quốc tế. Tôi đã phát hiện ra một điều thú vị : Trong số 3456 bài trong 10 năm, từ 1996 đến 2005, chỉ có 69 bài, xấp xỉ 2%, liên quan đến khoa học xã hội. Tôi xem qua tất cả 69 bài này thì không có bài nào liên quan đến vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa.

Thành ra, mặc dù chúng ta có nhiều chứng từ, nhưng dường như chúng ta nói để chúng ta nghe, chứ chúng ta chưa có trình bày các chứng từ đó một cách có hệ thống trên các diễn đàn quốc tế. Đây là một thiệt thòi của phía Việt Nam.

RFI: Thưa giáo sư, nếu nhìn vào các bài viết được công bố trên báo chí trong nước, thì đa phần lại chỉ dựa vào các nghiên cứu trước đây hoặc là những bài viết của các học giả ngoại quốc. Phải chăng đây cũng là một trong những yếu kém của giới nghiên cứu Việt Nam hiện nay trong vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa ?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn : Tôi cũng thấy như vậy. Phần lớn những cái gọi là nghiên cứu, chứ thực ra những cái bài mà các nhà trí thức Việt Nam công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, như mấy tờ báo hàng ngày, mấy tạp chí hàng tuần hay hàng tháng, nói một cách nghiêm chỉnh, đó không phải là những công trình nghiên cứu. Nó chỉ là những tập hợp những công trình nghiên cứu của người đi trước và chỉ diễn giải lại.

Thậm chí, tôi thấy diễn giải cũng không có gì mới. Những công trình nghiên cứu mà chúng ta cần có là những công trình nghiên cứu mới, cho ra ý tưởng mới, hay là cách diễn giải mới. Chúng ta không có những bài như vậy. Thay vào đó, chúng ta có những ý kiến cảm tính. Nói người Việt Nam cảm tính thì cũng không công bằng. Bởi vì nếu xem qua những bài của giới gọi là học giả Trung Quốc thì họ cũng rất cảm tính. Có những luận điệu của họ mà khi đọc, mình không biết họ thuộc giới học thuật hay là họ thuộc loại chỉ nói lấy được.

Khi xuất hiện trên diễn đàn quốc tế, thì không thể dùng cảm tính được, phải dùng bằng chứng. Những yêu cầu như vậy đòi hỏi phải có nghiên cứu nghiêm chỉnh, phải có học thuật, phải có chuyên môn, chứ không thể là cứ lâu lâu, chúng ta lại trưng bầy ra một bằng chứng từ thế kỷ 19 hay 18 rồi nói đây là bằng chứng cho thấy chúng ta có chủ quyền trên hai hòn đảo này. Đó cũng là một cách diễn giải, nhưng đã là khoa học, thì chúng ta phải trình bầy một cách diễn giải khác. Tức là đặt ra một cách diễn giải, rồi bác bỏ cách diễn giải đó, để chứng mình rằng cách diễn giải về chủ quyền của mình là đúng. Đó mới là cách làm việc khoa học. Nhưng rất tiếc là trên các phương tiện báo chí Việt Nam thì chưa có những công trình như thế.

RFI: Tại Việt Nam hiện nay, thì cũng có những viện, những tổ chức tiến hành nghiên cứu về hồ sơ này. Thế nhưng, có một thực tế, là các sản phẩm của họ lại rất ít khi được đăng tải trên các phương tiện truyền thông hoặc trên các chuyên san, diễn đàn quốc tế.

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn : Đúng vậy. Tôi có theo dõi một hội nghị ở Singapore cách đây vài năm. Trong số khoảng năm chục bài tham luận từ các nước Đông Nam Á và Trung Quốc, chỉ có một bài duy nhất là từ Việt Nam. Bài đó là của một quan chức ở Việt Nam. Đọc bài này, ngoài vấn đề tiếng Anh sai tùm lum, thì luận điểm không có gì có thể gọi là khoa học cả. Tôi nghĩ, với những bài như vậy xuất hiện trên diễn đàn quốc tế thì nó làm giảm uy tín hơn là làm tăng uy tín.

Ở Việt Nam, tất nhiên cũng có những người làm nghiên cứu nghiêm chỉnh. Nhưng khổ nỗi là nhiều khi họ không có phương tiện để công bố những nghiên cứu của họ trên các diễn đàn quốc tế. Diễn đàn ở đây mà tôi muốn nói là những tập san học thuật, tập san khoa học quốc tế. Thứ nhất, có thể họ kém tiếng Anh. Thứ hai, có thể họ không có được sự khuyến khích của những giới chức có thẩm quyền trong nước.

Chẳng hạn gần đây có một học giả ở thành phố Hồ Chí Minh, chuyên nghiên cứu về Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng lại không được phép đi dự một hội thảo liên quan đến Biển Đông ở Philadelphia, Mỹ. Lý do mà người ta viện dẫn : Anh ấy không phải là đảng viên và nếu muốn đi thì phải có những quan chức của bộ Ngoại giao đi kèm.

Tín hiệu thứ hai là có một hội thảo ở thành phố Hồ Chí Minh vào năm ngoái, được tổ chức trong điều kiện rất hạn hẹp. Số người tham gia bị giới hạn bởi một lý do nào đó.

Năm ngoái, vào tháng 11, học viện Ngoại giao ở Hà Nội có tổ chức một hội nghị liên quan đến Biển Đông. Thế nhưng, các nhà khoa học thực sự, tức là những người thực sự nghiên cứu, có tài liệu về Biển Đông thì lại không được mời tham dự.

Do vậy, tôi thấy gần đây có những tín hiệu cho thấy giới nghiên cứu nghiêm chỉnh ở Việt Nam về Biển Đông hình như không được sự khuyến khích của chính phủ để mà phát biểu trên các diễn đàn quốc tế.

RFI: Thưa giáo sư, phải chăng chính quyền không tin tưởng vào khả năng của giới nghiên cứu hay là chính quyền cho rằng đây là một hồ sơ nhậy cảm, mang tính chính trị nhiều hơn ?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn : Tôi không rành, không hiểu suy nghĩ của họ ra làm sao. Mình không có bằng chứng để nói rằng họ không tin tưởng giới học thuật ở Việt Nam. Nhưng có lẽ do nhậy cảm về chính trị. Các giới chức có trách nhiệm ở Việt Nam, hình như nhìn vấn đề này theo nhãn quan chính trị hơn là nhãn quan học thuật.

Đó là một thiệt thòi cho chúng ta. Tại sao ở Trung Quốc, người ta không nhìn theo kiểu đó ? Họ mở diễn ra rất lớn để cho mọi người vào tham gia theo kiểu « lấy thịt đè người », tức là lấy số đông và nói lấy được. Thậm chí họ mở những diễn đàn trên đó có nhiều lời khiêu khích Việt Nam như bày mưu tính kế đánh Việt Nam, sẽ chiếm trong vòng một vài tuần, đại khái như vậy. Thế nhưng, Việt Nam lại không khuyến khích giới học giả bàn một cách nghiêm chỉnh mà ngược lại, còn có xu hướng không cho họ lên tiếng trên các diễn đàn quốc tế. Tôi cho đó là một thiệt thòi.

RFI: Giả sử giới nghiên cứu, học thuật Việt Nam được khuyến khích viết, đăng tải các bài viết của họ trên diễn đàn quốc tế, thì có lẽ còn một số vấn đề khác cũng đáng quan tâm, đó là việc nghiên cứu có hệ thống, có chuyên môn và việc công bố các bài viết bằng ngoại ngữ ?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn : Có một thực tế cần phải ghi nhận ở đây là trong giới nghiên cứu về khoa học xã hội ở Việt Nam, số người trực tiếp nghiên cứu các vấn đề liên quan đến Biển Đông rất là ít. Ngay cả những người nghiên cứu về Biển Đông, thì họ cũng không xuất phát từ ngành nghiên cứu khoa học xã hội. Đó chỉ là những « nghề tay trái ». Họ xuất phát từ những ngành nghề chẳng dính dáng gì đến khoa học xã hội, họ có thể là bác sĩ, kỹ sư, ký giả, phóng viên. Nói theo ngôn ngữ thông thường họ là những nhà nghiên cứu tài tử, không chuyên, nhưng họ lại rất giỏi về lĩnh vực này.

Ngược lại, những người có trách nhiệm hoặc ít ra trên danh nghĩa, họ nghiên cứu Biển Đông thì lại không có những công trình nghiên cứu có giá trị so với những người tạm gọi là nghiên cứu tài tử. Những người làm nghiên cứu về Biển Đông ở trong nước rơi vào tình trạng chúng ta nói cho chúng ta nghe, chứ chúng ta chưa nói cho thế giới nghe. Đây là điểm cần phải thay đổi trong nay mai, nếu chúng ta muốn quốc tế hóa vấn đề Biển Đông.

Gần đây, cũng có một vài tín hiệu tương đối tốt. Ở nước ngoài, có một nhóm bạn trẻ lập Quỹ nghiên cứu Biển Đông. Họ không có nhiều người, thuộc nhóm nghiên cứu mà ta gọi là tài tử - tuy nói tài tử nhưng đó là những người có học rất cao, có bằng tiến sĩ về vật lý, máy tính, khoa học, v.v. Họ có vài nỗ lực đáng khen và khích lệ. Họ lên tiếng trên các báo chí bằng tiếng Anh, thậm chí còn viết trên các báo ở Philippines, để gióng một tiếng nói chung của Đông Nam Á liên quan đến vấn đề Biển Đông. Những bạn trẻ như vậy làm được những chuyện rất có ích.

Tôi chợt nghĩ hay là trong tương lai, chúng ta cần có người đứng ra tổ chức, huy động các anh em ở nước ngoài quan tâm đến Biển Đông để lên tiếng về vấn đề này. Nhiều khi đồng nghiệp ở trong nước không được khuyến khích lên tiếng, nếu trông chờ vào họ quá thì có lẽ không công bằng cho họ.

RFI: Giáo sư vừa đề cập đến một ý mà tôi có ý định hỏi là vai trò của giới trí thức hải ngoại ?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn : Tôi nghĩ trong lĩnh vực này, giới trí thức ở hải ngoại có vai trò quan trọng. Có thể lấy ví dụ trong vụ Hội Địa lý ở Mỹ vừa rồi in bản đồ sai, thì chính những người Việt Nam ở hải ngoại là những người lên tiếng đầu tiên và ở một góc độ nào đó, họ đã thành công, làm áp lực để Hội Địa lý Mỹ phải sửa lại bản đồ cho đúng.

Tôi nghĩ, giới trí thức ở hải ngoại có những lợi thế. Thứ nhất, họ tiếp cận thông tin nhiều hơn, kịp thời hơn so với trong nước. Họ quen với phong cách làm việc của giới khoa học ở phương Tây. Và họ quen thuộc ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh. Ở ngoài này, họ có thể giúp dịch các bài viết. Đây là ba lợi thế mà giới trí thức ở ngoài có thể đóng một vai trò tương đối quan trọng để nâng cao tiếng nói của Việt Nam về vấn đề Biển Đông trên trường quốc tế.

Đài phát thanh quốc tế Pháp xin cảm ơn giáo sư Nguyễn Văn Tuấn.

Thursday, August 5, 2010

Bộ Ngoại Giao VN tiếp nhận hồ sơ về chủ quyền Hoàng Sa

Trích NguoiViệt Online
HÀ NỘI - Sáng ngày 2 tháng 8, Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã tổ chức lễ tiếp nhận bộ hồ sơ có liên quan đến chủ quyền quần đảo Hoàng Sa do tỉnh Thừa Thiên Huế trao lại.

Tập tài liệu này mang tên “Ty khí tượng tại đảo Hoàng Sa năm 1955.”

Bộ hồ sơ gồm 12 trang tài liệu, với 6 trang tiếng Pháp và 4 trang tiếng Việt do Ty Kiến Thiết của Việt Nam Cộng Hòa lưu lại. Hồ sơ này ghi toàn bộ các hoạt động trong giai đoạn từ năm 1897 tới năm 1960, trong đó ghi chép như nhật ký các hoạt động của Ty Khí Tượng Hoàng Sa có đầy đủ chữ ký, con dấu, các bút tích cần thiết của một hồ sơ được tin cậy.

Tài liệu này được xem là hồ sơ gốc có thể chứng minh chủ quyền biển đảo của Việt Nam và sẽ được dùng trong các vụ tranh chấp.

Bộ hồ sơ được nhân viên ‘Chi cục Văn Thư Lưu Trữ’ tỉnh Thừa Thiên Huế phát hiện và lưu giữ từ nhiều năm nay.



Ðảo Phú Lâm (Trung Quốc đổi tên thành đảo Vĩnh Hưng, tên trên bản đồ quốc tế là Woody Island) trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam do Trung Quốc chiếm giữ kể từ năm 1974. Trung Quốc xây dựng phi trường, 2 bến cảng, nhiều cơ sở quân sự và dân sự trên đảo này. (Hình: MyOpera.com)

Tỉnh Thừa Thiên Huế đã từng phát hiện nhiều tài liệu, văn bản quý giá có liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và đã chuyển giao cho Bộ Ngoại Giao Việt Nam. Trong đó có hai tờ Châu bản do nhà nghiên cứu Phan Thuận An tìm thấy. Một văn bản chữ Hán khác được viết trên giấy dó do làng Mỹ Lợi, xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc cất giữ từ hơn 250 năm nay.

Rất nhiều chứng từ, bản đồ cổ của Việt Nam và quốc tế ghi nhận Hoàng Sa thuộc về Việt Nam. Tuy nhiên quần đảo này hiện vẫn do Trung Quốc kiểm soát sau khi tấn công và chiếm giữ từ quân đội Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1974.

Nhà nước Việt Nam trong nhiều năm trước đây chưa bao giờ công khai thành lập một ủy ban nghiên cứu hay tìm kiếm bằng chứng về chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mặc dù Trung Quốc bỏ rất nhiều tiền của, công sức vào công tác này.

Sự nhu nhược của chính phủ Việt Nam đã bị trí thức trong và ngoài nước lên án. Mới đây một cuộc hội thảo về Biển Ðông đã được tổ chức tại trường Ðại Học Temple do các giáo sư, học giả, nhà nghiên cứu khoa học, lịch sử hải ngoại tổ chức với những bản tham luận hết sức công phu và sâu sắc.

Chứng cứ lịch sử về chủ quyền quốc gia liệu có ích gì khi nhà nước vẫn tiếp tục bưng bít thông tin do lo ngại nước lớn tước mất những quyền lợi cầm quyền hiện nay? (LT

Wednesday, August 4, 2010

“Việt Nam và quả đấm thép bọc nhung”(!?) - Toàn dân Việt Nam hãy cảnh giác!

Trích Bauxite VietNam

Hoàng Dzung

image

“… Việt Nam có đủ khả năng để đối phó" với vũ lực lớn gấp bội phần từ bên ngoài, nếu đó không phải là nói đùa để lấy tiếng, hoặc để làm tê liệt cảnh giác của mọi người?

Bài Việt Nam và quả đấm thép bọc nhung” trên trang mạng BBC tiếng Việt ngày 29 tháng 7, năm 2010 có cho biết trong buổi trả lời phỏng vấn của báo “Bưu điện Hoa Nam buổi sáng” (South China Morning Post) "không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó"; sau đó báo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng này có đăng bài với tựa đề 'Ánh thép và chiếc găng tay nhung của Việt Nam' (A flash of steel and the velvet glove from Vietnam). tại Hồng Kông, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam có nói Việt Nam sẽ

Đọc xong bài trên BBC và 2 lời tựa nói trên tôi bỗng nghĩ:

Có phải chăng BBC & South China Morning Post đã không hiểu truyền thống của Việt Nam, hay đã xuyên tạc Việt Nam và lời nói của Nguyễn Chí Vịnh? Hay South China Morning Post nhân danh ai đó để có ý định gì? Hay chính ông Nguyễn Chí Vịnh đã phát biểu thay ai đó để đạt một ý đồ nhất định nào đó?.

Tạm chưa bàn thực chất về Nguyễn Chí Vịnh và động cơ phát biểu (với lối nói úp mở và lòng vòng theo kiểu ‘danh bất chính ngôn bất thuận’) của ông ấy, nhưng đã là người Việt nam thực thụ và ai là người am hiểu Việt Nam thì đều biết rằng phương châm ứng xử cơ bản trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của Việt Nam chưa bao giờ là “Quả đấm thép” cả, mà là “Lấy nhu thắng cương – Lấy nhược thắng cường – Lấy đại nghĩa thắng hung tàn – Lấy chí nhân thay cường bạo”.

Nếu BBC & South China Morning Post có hiểu sai thì cũng đã đành, nhưng với cương vị là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, nếu không phải là người mất gốc và kém am hiểu thì chí ít ông Nguyễn Chí Vịnh cũng phải hiểu đúng phương châm và truyền thống đó của Việt Nam; nói rộng hơn là đảng cầm quyền thì ắt đảng này càng phải biết điều đó, nếu không hiểu điều đó là mất gốc, mà “mất gốc” là “mất nước”.

Qua việc quán triệt phương châm ứng xử này trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước của mình và đã đúc kết cách ứng xử đó thành lời, Việt Nam đã chứng minh cụ thể trước đó hàng ngàn năm và lâu hơn nữa lý thuyết về Sức mạnh mềm” và khái niệm về “Sức mạnh thông minh” (sự kết hợp giữa sức mạnh cứng và sức mạnh mềm) của Giáo sư người Mỹ Joseph Nye.

Ông cha ta quả thật thông minh với phương châm đó, bởi đó là phương cách sinh tồn của một dân tộc nhỏ bé như dân tộc ta bên cạnh người láng giềng không lồ, tham lam và nham hiểm luôn nuôi dã tâm bành trướng thế lực và xâm chiếm các lân bang.

Bản năng sinh tồn là bản năng gốc của mọi sinh vật, bởi vì bản năng ấy có vai trò quyết định và chi phối mọi bản năng còn lại của mọi sinh vật trên thế gian này; thậm chí bản năng này cũng đóng vai trò chính trong việc chi phối tư duy, ý thức và lương tri của con người. Khi một nội dung cụ thể của bản năng sinh tồn – với tư cách là bản năng gốc – trở thành ý thức và chân lý của con người và của toàn xã hội thì nó sẽ trở thành niềm tin, sự kiên định, sự ngoan cường, đức hy sinh, sự khôn ngoan, sự linh hoạt, mà kết quả cuối cùng và trên hết là sự đoàn kết của toàn xã hội, một sức mạnh tổng hợp vô cùng mạnh mẽ hơn hẳn mọi loại “quả đấm thép” mà nhân loại được biết đến nay. Đành rằng chỉ có sức mạnh vật chất mới thắng được sức mạnh vật chất và chính nghĩa chỉ phát huy đầy đủ tác dụng khi được sức mạnh vật chất hỗ trợ đúng mức, nhưng sức mạnh vật chất đơn thuầnsức mạnh mềmsức mạnh thông minh của Việt Nam. Diễn đạt theo bối cảnh hiện đại thì đó là sức mạnh của sự đoàn kết trên cơ sở của lòng yêu nước, của chính nghĩa kết hợp với sức mạnh của tình đoàn kết và sự giúp đỡ chí tình và thiết thực của quốc tế. Sức mạnh ấy không xuất phát, cũng như không dựa hoàn toàn và đơn thuần vào “quả đấm thép’’ tự thân của kẻ yếu. đối với người ở thế yếu chưa bao giờ là yếu tố quyết định trong mọi cuộc đối đầu với kẻ mạnh. Hầu như tất cả các dân tộc đã bị diệt vong trước sức mạnh của vật chất là vì họ đã không có, hoặc chưa kịp huy động được sức mạnh tổng hợp nói trên của toàn dân tộc. Lịch sử nhân loại đã chứng minh điều đó. Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh điều đó. Sức mạnh tổng hợp này một khi đã chứng minh được cho mọi người trên thế giới thấy rằng đó là chính nghĩa, là lương tri, thậm chí đó cũng là lợi ích của chính họ thì sẽ được những lực lượng xã hội có lương tri trên thế giới đồng tình và ủng hộ. Đó là cơ chế định hình và tạo nên diện mạo của

Trần Hưng Đạo và Nguyễn Huệ ắt hẳn đã không có được những “quả đấm thép’’ thực sự, nếu chỉ dựa vào sức mạnh vật chất đơn thuần!

Trong tình hình cụ thể của Việt Nam hiện nay:

Nếu khoe khoang về “quả đấm thép” thì đó là một sự khoác lác.

Nếu quá tin vào “quả đấm thép” thì đó là một sự hoang tưởng.

Nếu gieo rắc về “quả đấm thép” thì đó là một sự ru ngủ.

Kinh nghiệm đời sống và kinh nghiệm lịch sử cho thấy, khi muốn gây hấn với một ai đó, trước hết người ta ra sức bôi nhọ đối phương bằng mọi cách, trên mọi phương diện và mọi khía cạnh – kể cả khía cạnh dị biệt về văn hóa và tư tưởng, phong tục và tập quán, đức tin và tôn giáo – cốt sao cho đối phương trở thành một đối tượng đáng khinh, đáng ghét, đáng sợ và đáng căm thù. Tiếp theo là bằng mọi thủ đoạn – kể cả thủ đoạn bỉ ổi nhất – để tô vẽ đối phương thành mối đe dọa cho những lợi ích thiết thân nhất của cộng đồng. Sự phản tuyên truyền này sẽ có hiệu quả tức thì khi đã biến được đối phương thành hình ảnh của mối đe dọa trực tiếp và nguy hiểm nhất cho điều kiện sinh tồn để kích hoạt bản năng tự vệ và những tình cảm ích kỷ thấp kém nhất của cộng đồng. Đến đây thì chỉ cần một cái cớ hợp lý nào đó nữa thôi là hai cộng đồng người có thể lao vào cuộc xâu xé nhau, loại bỏ nhau một cách say sưa chí tử. Đó là sự mù quáng mang tính bản năng của loài người và cũng là lúc con người bị biến thành phương tiện sống để phục vụ cho những thế lực đen tối và những ý đồ đen tối của chính con người.

Đối phương của ta đang làm chuyện đó hàng ngày, hàng giờ trên phạm vi toàn quốc của họ và đang chờ sự chín muồi của sự kiện, cũng như đang chờ một cái cớ khả dĩ nào đó để có thể mở rộng ranh giới quốc gia của họ, nếu có thể thì sẽ xóa sổ chúng ta trên bản đồ thế giới.

Nền tảng sức mạnh vật chất của đối phương chúng ta là sức mạnh của một nền kinh tế khổng lồ dựa trên một nền công nghệ và kỹ thuật đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, cùng với sự áp đảo tuyệt đối về số lượng con người – những con người đang có một nhu cầu nóng bỏng về không gian sinh tồn bất tận, đang cần và đang chỉ có một lối thoát duy nhất trên đường biển phía Nam của họ, đang mang một quan điểm và khát vọng khẳng định và vươn tới vị trí trung tâm của cả nhân loại – mà họ đã tự kỷ ám thị từ thưở xa xưa và tự cho là đã bị đánh mất – kết hợp với một nền văn hóa lâu đời với tất cả những sắc thái xưa và nay, tức với tất cả mặt sáng và mặt tối cực đoan của nền văn hóa ấy;

Điều ấy cho thấy chính họ mới có “quả đấm thép” chứ không phải chúng ta; mặc dù trong lịch sử chính “sức mạnh mềm” “sức mạnh thông minh” của chúng ta đã từng chiến thắng.

Chính nhu cầu mang tính bản năng sinh tồn này cùng với sức mạnh áp đảo về con người đang mang trong mình một nền văn hóa và truyền thống lịch sử của hàng nghìn năm trước đây, kết hợp với một nền văn minh chưa phát triển đầy đủ và chưa đồng bộ ấy sẽ lấn át cả lý trí và bất chấp cả đạo lý mà nhân loại đã đạt được và tuân thủ từ trước đến nay;

Chính họ sẽ viết lại lịch sử và phân chia lại thế giới cả về quyền lực, sự thịnh vượng lẫn bản sắc và sự phân bố về dân số của thế giới trong tương lai;

Theo tương quan và xu thế phát triển tất yếu dễ dàng nhận thấy ấy, chính họ sẽ mang lại sự phát triển lẫn sự diệt vong, niềm hạnh phúc lẫn nỗi bất hạnh cho chính họ và cho một bộ phận không nhỏ của nhân loại trong tương lai; đó là một tương lai cam go và không xa lắm. Một tương lai xa hơn là họ sẽ tự chuốc lấy bất hạnh khi thế giới bị họ dồn ép đến ranh giới của sự tồn vong và sẽ đoàn kết thành một khối để chống lại họ. Số phận của họ sẽ là số phận mà nhân loại đã từng dành cho những tên bạo chúa và những thế lực hủy diệt khác trong lịch sử.

Giờ đây giải pháp hữu hiệu nhất, việc làm gian truân nhất, sứ mạng cao cả nhất của những người tỉnh táo của cả hai phía là đề cao lý trí, thức tỉnh luơng tri, giữ vững đạo lý, hóa giải hận thù, tăng cường hiểu biết lẫn nhau để ngăn chặn cuộc xâu xé của khối người mù quáng đang bị kích động ấy.

Những người tỉnh táo là những thành phần bao giờ cũng có mặt ở những cộng đồng, nhất là ở một dân tộc. Họ là những chỉ dấu cho thấy rằng lương tri của con người không bao giờ vắng mặt trong thế giới loài người, nhưng điều tệ hại, trớ trêu và nan giải nhất là chỉ khi những chuẩn mực đạo đức sơ đẳng nhất của con người bị chà đạp và những lợi ích sơ đẳng thiết thân nhất của con nguời nói chung và của chính họ nói riêng bị xâm hại một cách trực tiếp và trắng trợn nhất thì lương tri của số đông trong họ mới được đánh thức. Các cuộc phản chiến trong hàng ngũ quân đội Pháp và quân đội Hoa Kỳ khi hai nước này tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, các cuộc tuần hành ban đầu còn lẻ tẻ, về sau đã trở nên hết sức đông đảo và bền bỉ qua suốt chiều dài của cuộc chiến để phản đối chiến tranh của các tầng lớp nhân dân hai nước này là những minh chứng. Thậm chí ở Pháp hồi ấy đã có người dùng chính thân mình nằm ngang đường sắt để chặn cả đoàn tàu chở quân và vũ khí tiếp tế cho chiến tranh, nhằm gây chú ý cho công luận; hay ở Mỹ đã có người bỏ lại cả vợ trẻ và con thơ để tự thiêu, làm cây đuốc sống nhằm thức tỉnh lương tri đang ngái ngủ của số đông và của khối người mù quáng đang say máu lao vào cuộc xâu xé nhau trong cuộc chiến tranh với Việt Nam.

Ứng chiến là giải pháp cuối cùng, là hạ sách và bất đắc dĩ, nhưng vô cùng cần thiết khi không còn cách nào khác.

Đứng trước một thách thức vô cùng to lớn và nguy hiểm cực kỳ nghiêm trọng đối với vận mạng quốc gia và dân tộc như vậy mà lòng yêu nước của toàn dân không được hun đúc, không được tích tụ và nâng cao, sự đoàn kết của dân tộc không được vun vén và củng cố, tinh thần cảnh giác của cộng đồng không được đánh thức và mài sắc… thì làm sao phát huy được sức mạnh tổng hợp của đất nước để có một “quả đấm thép” đúng nghĩa của nó? Làm sao có thể nói được rằng “… Việt Nam có đủ khả năng để đối phó" với vũ lực lớn gấp bội phần từ bên ngoài, nếu đó không phải là nói đùa để lấy tiếng, hoặc để làm tê liệt cảnh giác của mọi người?

Bày tỏ lòng yêu nước thì bị cấm đoán, vạch mặt chỉ trán kẻ thù thì bị bắt bớ. Ngoài biển khơi thì bắt tay với kẻ thù để tuần tra chung trên vùng biển hải đảo thuộc chủ quyền của Tổ quốc mà đáng lẽ ra mình phải có trách nhiệm khẳng định sự bất khả xâm phạm của vùng biển và hải đảo đó trước bất cứ lực lượng nào của nước ngoài. Khi nhắc đến kẻ gây hấn và xâm lấn thì không dám chỉ đích danh mà chỉ nói chiếu lệ và úp mở bằng một danh xưng mơ hồ là “kẻ lạ”, hay ‘‘tàu lạ’’. Trên đất liền thì làm ngơ và dung túng những hành vi lén lút cắt bãi biển, giao rừng dài hạn để nước ngoài có cớ lén lút đưa người của họ đến ở và tìm cách định cư lâu dài, mà đó lại là nước đang không hề giấu diếm ý đồ xâm lấn nước ta; cho nước ngoài khai thác tài nguyên quý hiếm ở những địa bàn xung yếu và nhạy cảm đối với nền an ninh của đất nước. Trong kinh tế thì hầu hết những công trình trọng yếu có tầm quyết định đến sức mạnh của quốc gia đều rơi vào tay của các tập đoàn kinh tế và nhà thầu thuộc quốc gia đang từng ngày, từng giờ không giấu diếm dã tâm thôn tính về mọi mặt đất nước này, bất chấp nguy cơ chính trị tiềm ẩn, bất chấp năng lực tài chính, trình độ công nghệ, khả năng thi công của bên trúng thầu chỉ vì họ bỏ thầu với giá rẻ bất ngờ hơn mọi đối thủ, đã thế còn áp dụng hình thức khoán thầu trọn gói từ A đến Z, tức từ khâu thiết kế – cung ứng vật tư thiết bị – cho đến khâu thi công và xây lắp (thường gọi là hình thức quản lý EPC – hậu quả đến nay thường không đảm bảo tiến độ, kéo dài thời hạn bàn giao, nhất là không kiểm định được chất lượng công trình…). Bị người bạn “4 tốt” với “16 chữ vàng” lấn lướt cơ hồ bị nuốt chửng mà vẫn đỏng đảnh trước những khuyên nhủ gợi ý thiện chí của bạn bè chỉ vì sợ mất lòng “ông bạn quí” ấy; thậm chí còn lớn tiếng quyết không để các thế lực thù địch chia rẽ tình đoàn kết Việt – Trung…

Với những sự kiện chưa thể kể hết được nói trên, thử hỏi những người đang nắm vận mệnh của đất nước hiện nay đang toan tính điều gì?

Nếu để tình trạng này vẫn ngang nhiên tiếp diễn thì kết quả cuối cùng sẽ ra sao? Mất nước là cầm chắc!

Tôi tin chắc rằng đã đến lúc những đảng viên chân chính và đang quan tâm đến vận mạng quốc gia sẽ không thể điềm nhiên ngồi nhìn sự lũng đoạn, sự lộng hành và vô trách nhiệm của cấp lãnh đạo và giới cầm quyền hiện nay.

Tôi tin chắc rằng đã đến lúc mỗi người Việt Nam chân chính và yêu nước phải biết cách thu hồi quyền tối thượng quyết định vận mạng quốc gia của chính họ mà họ đã trao nhầm cho những người không xứng đáng, những người mà như một bài đã được BVN đăng tải trong ngày hôm nay (3/8/2010 - Bài học thuộc lòng): “…bọn nó tham nhũng gì mà tham nhũng cấp tập, nó ăn vừa nhiều, vừa nhanh, vừa trắng trợn, thô lỗ… đến mức anh có cảm giác như là nó thu dọn để sắp bỏ chạy khỏi đất nước này”.

Mỗi người mỗi cách, hãy có hành động thiết thực nếu không muốn Tổ quốc thân yêu của chúng ta đến hồi mạt vận!

HD