Translate

Monday, April 13, 2009

Đòi đất hay đòi công lý

Trích báo Tổ Quốc

Thời tuổi trẻ, vào những năm 1950, tôi đã sống và học hành tại Khu Thái Hà Ấp Hà Nội. Chỗ chúng tôi học là “Dinh Hoàng Cao Khải”, cách Thái Hà chừng một cây số. Cho nên mảnh đất xứ Thái Hà đối với tôi không xa lạ gì. Mất nó, tôi cũng tiếc. Ngoài khu vực nhà thờ, với hang đá Đức Mẹ thì cạnh đó có căn nhà ba tầng làm Đại Chủng Viện cho các thầy. Chính ở nơi đây, lần đầu tiên trong đời, tôi được ăn cơm tây của các cha dòng người Gia Nã Đại.

Đằng sau nhà thờ là một khoảng đất rất rộng. Ở đây có một sân đá banh và sau sân đá banh là những ruộng rau muống. Ruộng rau muống này làm thành bữa ăn chính của chúng tôi mỗi ngày. Rau muống trưa, rau muống chiều. Được biết miếng đất rộng mấy chục ngàn mét vuông. Tôi chỉ đo bằng mắt. Tất cả đều có bằng khoán, thuộc đất của Dòng Chúa Cứu Thế và do các cha dòng Chúa Cứu Thế, người Gia Nã Đại, Canada đã bỏ tiền ra mua và xây dựng cơ sở nhà dòng từ năm 1925. Nhà dòng đầu tiên được xây dựng tại Huế cũng năm 1925, sau đó đến lượt Hà Nội. Sài Gòn thì mãi đến năm 1933 mới đặt trụ sở đầu tiên tại đường Kỳ Đồng.


Rau muống trưa, rau muống chiều.
Nguồn: anan-vietnam.com
Lúc mà Đảng Cộng sản Việt Nam chưa ra đời, lúc mà Hồ Chí Minh còn trong bóng tối thì nhà dòng và mảnh đất ấy đã có rồi. Ai có quyền đòi ai?
Mảnh đất lúc bấy giờ thật ra chỉ là đất ruộng, đồng không mông quạnh, thuộc huyện Hoàn Long tỉnh Hà Đông. Mà đối với Hà Nội thì Thái Hà Ấp là xứ nhà quê rồi.

Nhưng bây giờ đất là sinh mạng của giới cầm quyền rồi. Họ không chiếm dụng thì còn ai vào đây? Họ đã chiếm dụng đất của cả nước và tàn bạo nhất là của dân quê.

Đất có bằng khoán và giấy tờ đầy đủ mà nhà nước biết rõ. Nói cho rõ ra thì từ trước đến giờ, nhà nước cộng sản đã tịch thu tổng cộng 2250 cơ sở thuộc tài sản của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo.
Nếu đòi thì đòi bao nhiêu cho đủ và đòi đến bao giờ? Mỗi xứ, mỗi địa phận, mỗi dòng tu đều bị nhà nước tịch thu vô tội vạ.

Theo thống kê năm 1969, Giáo hội Thiên Chúa giáo miền Nam có 226 trường trung học, 1030 trường tiểu học. Ngoài ra còn có 58 cô nhi viện, 48 bệnh viện, 35 viện dưỡng lão, 8 trại Phong cùi và 159 phòng phát thuốc. (Trích trong niên giám công giáo Việt Nam 2004, nxb tôn giáo Hà Nội.)

Nay thì mất hết. Đòi ai bây giờ?

Giáo Hội Công giáo cũng nhìn thấy cái thực tế phũ phàng ấy và phân ra nhiều loại tài sản mà xét ra cái nào nhà nước nên trả và cái nào cho không.

Mà không cho cũng không được. Nói cho cho nó vui vẻ cả làng.

Chẳng hạn những cơ sở nhà thương, chẩn y viện, những cơ quan xã hội, những trường học nói chung nếu dùng để phục vụ công ích xã hội cho người dân thì cũng đành để nhà nước quản lý.

Nhưng có những nơi, những cơ sở thay vì phục vụ công ích xã hội, thay vì phục vụ người nghèo biến những “mảnh đất béo bở” hoặc cơ sở ấy phát tán, bán đất kinh doanh kiếm lời bạc tỉ tỉ thì phải tính sao đây? Có nên đòi không?

Nhiều trường hợp rắc rối lắm. Cơ man nào rắc rối. Rắc rối không nói hết được.

Một giám mục nói với tôi là năm 1975, giao trường tư thực cho họ, nay họ thu học phí, biến ra một thứ trường bán công hay trường tư trá hình kiếm lời thì phải nghĩ sao đây? Hay lại cứ phải bằng lòng với lương tâm tự nhủ mình là cái đất nước mình nó như thế? Như thế là như thế nào?

Nhưng nếu vươn tầm nhìn ra khỏi khung cảnh của một giáo hội thì đất đai tài sản giáo hội Thiên Chúa giáo cũng chỉ là trong muôn một.Tài sản của Giáo Hội Phật giáo VNTN, của Cao Đài, Hòa Hảo, của Tin Lành cũng bị chiếm đoạt như vậy. Đất ruộng của nông dân bị chiếm đoạt bán rẻ.

Đã đòi thì cùng đứng lên mà đòi... Đòi cho người cũng là một cách thức đòi cho mình... Và tôi nhận thấy trong cuộc biểu tình đòi công lý sáng 27/03/2009, ở ngay hàng đầu, nếu tôi nhìn không nhầm, có một bà mặc áo nâu sồng, đội mũ ni, tay cầm nón... Tôi mong đó là một vị sư nữ?

Nhiều người chắc là không hiểu rõ nội vụ đòi đất này. Theo những điều tôi biết được thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cố tình đánh lừa, “hứa cuội” hàng giáo phẩm Hà Nội, để mua thời gian và phủi tay. Hoặc rất có thể vì quyền lợi mà những người dưới quyền cố tình phe lờ lời hứa của NTD.

Cho nên, sau này, có đại diện Hà Nội vào Sài Gòn thương lượng với bề trên dòng Chúa Cứu Thế thì hàng giáo phẩm Hà Nội phải điện vào căn dặn: Cẩn thận xem xét, đừng dễ tin họ, họ lừa đảo đấy. Chẳng tin họ được cái gì.

Thật ra, chẳng cần phải căn đặn thì người dân ai ai bây giờ cũng không tin được chính quyền nữa. Có thể đã có điều gì chính quyền họ nói thật chưa? Tôi ngẫm nghĩ mãi cũng chưa tìm ra được điều gì họ nói thật với dân cả.

Thật vậy, trong khi dân chúng sôi sục vụ Thái Hà, một ông tướng công an Hà Nội vào Sài Gòn gặp linh mục Phạm Trung Thành, bề trên Giám tỉnh dòng Chúa Cứu Thế. Linh mục yêu cầu điều kiện tiên quyết là chính quyền Hà Nội chấm dứt chiến dịch bôi nhọ mỗi ngày qua đài phát thanh, truyền hình và báo chí. Hứa ngay. Nhưng ngoài kia tiếp tục chiến dịch bôi nhọ.

Tin làm sao được họ. Không thể chấp nhận một chính quyền lừa dối dân được.

Bằng chứng là họ phịa ra giấy tờ sang nhượng của dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội cho chính quyền trong đó có chữ ký của linh mục Vũ Ngọc Bích, quản nhiệm xứ Thái Hà Ấp ký năm 1962. Nay thì lộ ra rằng cái corps chữ là chữ của máy computer bây giờ. Năm 1962, chắc ngoài Bắc chưa có computer chứ? Và họ cũng không ngờ rằng trước khi chết, linh mục Vũ Ngọc Bích có thu băng để lại là chưa hề ký bao giờ.

Về mặt pháp lý, linh mục Vũ Ngọc Bích chỉ được chỉ định là quản nhiệm trông coi xứ Thái Hà, linh mục có tư cách gì để hiến nhà đất cho nhà nước? Và cho dù có giấy tờ, có ký thì giấy ký đó cũng không có giá trị pháp lý. Vì còn có thể đặt vấn đề ký dưới áp lực của đe dọa hay của họng súng không?
Cho nên đàng nào giấy tờ đó cũng thuộc loại giấy tờ không có giá trị pháp lý.


Lm. Giuse Vũ Ngọc Bích
Nguồn: danchuausa.net
Phần chính quyền dựa vào nghị quyết ký 01/07/1991 cho rằng tất cả những nhà cửa, tài sản giáo hội tịch thu trước 01/07/1991 thì không giải quyết bất cứ sự khiếu nại về nhà đất đã quản lý. Và không có vấn đề giao trả lại tài sản cho Giáo Hội.

Đây là lối dủng luật pháp để trấn áp và ăn cướp một cách hợp pháp quyền lợi sở hữu của người dân. Nói dễ lắm: will not given back to its owners.

Cho nên một lúc nào đó như ông Nguyễn Hộ gọi là “tức nước vỡ bờ”thì truyện phải nổ ra thôi.

Trong thời gian từ lúc khởi đầu việc đòi đất cho đến nay, tôi nhận ra có rất nhiều điểm tích cực cần được nói ra đây.

‒ Thứ nhất: Đây là lần đầu tiên từ khi đảng cộng sản lên nắm quyền (trừ vụ nổi dậy ở Quỳnh Lưu có tính cách bạo động chính trị), người dân đông đảo đi biểu tình để bày tò ý kiến của mình. Còn nhớ, khi cộng sản mới chiếm Miền Nam, có một số giáo dân đi biểu tình yêu cầu không trục xuất khâm sứ tòa thánh. Cộng sản đã nã súng vào đám biểu tình làm chết và bị thương một số người.

Nhưng nay thì khác. Trong cuộc biểu tình ủng hộ 8 giáo dân ra tòa. Từ 6 giờ sáng, con số cả 5 ngàn người đã đi bộ 12 cây số từ nhà thờ đển tòa án mà không xảy ra cảnh bạo động bị đánh đập hay bắt giữ của 1000 công an, cảnh sát. Ông linh mục cầm loa kêu gọi đồng bào đứng ngay trước mặt một đám công an, cảnh sát? Phải suy nghĩ sâu để thấy điều này là một biến đổi não trạng quan trọng cả người đi biểu tình và nhân viên công lực chống biểu tình.

Thứ hai: Tinh thần dân chúng rất cao. Không ai tức giận, điên cuồng chửi bới hoặc mặt mũi đằng đằng sát khí... Họ vừa đi vừa cười, vừa nói, vừa hát sướng vui vẻ. Khuôn mặt người nào coi bộ cũng tươi vui hớn hở, hăng hái. Công an làm phận sự cũng tỏ ra chia xẻ, thông cảm và không có những hành vi manh động hay đánh đập người đi biểu tình. Có những đám dân chúng ngồi quây tròn ca hát, chờ đợi phiên xử như một buổi đi Picnic vậy. Phải chăng đó là không khí dân chủ bắt đầu ló diện?

Thứ ba: Thành phần dân chúng có đủ loại người, nhất là giới trẻ và phụ nữ chiếm đa số. Đối với dân Hà Nội, họ là những người từng sống và kinh nghiệm với người cộng sản cả 50 năm nay. Theo nguyên tắc, họ là những người từng chia xẻ cam khổ cuộc chiến tranh vừa qua nên không có ân oán gì như thành phần dân chúng miền Nam. Con cháu họ, chồng con họ, anh em họ có những người đang làm việc, đang giữ những chức vụ trong chính quyền cộng sản. Vì cớ gì nay họ đứng lên biểu tình chống lại nhà nước cộng sản?

Đối với giới trẻ Hà Nội, Họ lớn lên dưới chế độ cộng sản, họ được giáo dục trong trường học xã hội chủ nghĩa, họ bị nhồi sọ cũng nhiều, vì cớ gì họ tham gia biểu tình? Điều này báo hiệu một khung cảnh sinh hoạt chính trị mà giới trẻ sẽ chủ động sau này?

Thứ tư: Luật sư trẻ tuổi Lê Trần Luật, một người trẻ tuổi được đào luyện đúc khuôn trong trường học XHCN. Tại sao ông dám đứng ra bênh vực cho những bị can mà ông biết chắc chắn là sẽ bị muôn vàn khó khăn, đe dọa? Đi đến đâu, ông cũng được đông bào hoan hô nhiệt liệt. Tôi nghe được những tiếng hét to: Tôi yêu luật sư, Phiên tòa bất công... Đã có bao nhiêu vị “lãnh tụ” cộng sản đã được đông đảo quần chúng hoan hô, nhiệt liệt, kính mến và nể phục như thế?

Rõ ràng đông đảo quần chúng đứng về phía đám đông. Phần còn lại chường mặt ra là công an, cảnh sát quan tòa. Những người khác nấp trong bóng tối không dám ló mặt ra.

Rõ ràng đây là một cuộc bỏ phiếu dân chủ. Chính quyền cộng sản không được lòng dân.

Có lúc, tôi thoáng nhìn vị luật sư trẻ tuổi vội lén lau nước mắt vì xúc động trước đám đông nhiệt tình hoan hô ông. Phải chăng, đây là lúc cần đến vai trò của những người trẻ tuổi dám cất lên tiếng nói cho công lý và lẽ phải?

Tất cả những phản ứng trên không còn là phản ứng của hội chứng sau 1975 nữa. Phải nhìn nhận đây là những phản ứng mới lạ, không phải thứ phản ứng quen thuộc của những người lớn tuổi chống cộng vốn có dĩ vãng thù hận với chế độ cộng sản. Đó là những phản ứng xuất phát từ những con người đã sống trong lòng chế độ, được đào tạo từ lúc còn trẻ đến nay trưởng thành.

Người cộng sản không thể coi thường điều này. Ngay một số lớn linh mục trong đám ấy cũng thuộc thành phần trẻ và tỏ ra hăng hái nhất và cũng được giáo dân quý mến nhất. Không ai xúi họ đi biểu tình, không ai đứng đằng sau họ.

Điều gì đã giúp người ta có thể quy tụ một đám đông người như thế chỉ vì để đòi một miếng đất. Một miếng đất chứ đến 10 miếng đất có đáng để người ta bỏ thì gìờ, không ngại nguy hiểm, xuống đường, đeo băng, cầm biểu ngữ hay cành lá, đi đứng hiên ngang, miệng hô to khẩu hiệu? Đây phải chăng là dấu hiệu của sức mạnh quần chúng? Cộng sản vốn tài giỏi trong vấn đề vận động quần chúng đi biểu tình, đã dùng đủ mọi phương tiện truyền thông để tố cáo, bôi bẩn mà cũng không ngăn cản được đám đông biểu tình?
Không phải chỉ có Hà Nội mà ngay chiều hôm trước khi đám dân Thái Hà đi ủng hộ 8 người ra tòa, Sài Gòn cũng tụ tập đám đông khoảng 5 ngàn người tại nhà thờ đường Kỳ Đồng.
Bao giờ thì cả nước đứng dậy?

Thứ năm: Một điều tôi nhận thấy là người dân đã không còn biết sợ. Một người bạn tôi ở trong nước đã nhận xét như thế.

Tôi cho đó là nhận xét chính xác và quan trọng nhất trong các cuộc biểu tình này. Anh nhớ lại là trước đây dân chúng rất sợ chính quyền. Bản thân anh thỉnh thoảng bị gọi lên làm việc. Anh nói trước đây họ có thói quen gọi lên làm việc. Nay thì chỉ mời ra quán làm vài chai la de. Anh trả lời họ là họ biết quá rõ về anh có gì cần phải hỏi nữa. Họ dùng cách răn de, hù dọa. Này, anh còn có hai đứa con đang đi du học đấy. Người khác thì mang vợ con họ ra hù dọa. Trước đây Dương Ngọc Dũng, giáo sư dạy Phật giáo đánh tơi bời lần lượt tất cả các ông trong nhóm Giao Điểm như Trần Chung Ngọc v.v... ở Hải ngoại. Ông nhà nước nhắn Dương Ngọc Dũng: Này, thôi nhé, đủ rồi đấy. Thế là Đương Ngọc Dũng im. Một anh bạn khác cũng được mời ra quán. Anh nhẹ nhàng từ chối rồi cũng nói lén, “La de của các anh nhạt bỏ mẹ đi.”
Còn nói lén là còn sợ.

Một anh bạn khác rất hớ hênh cứ nói chuyện qua điện thoại những điều không tiện nói. Họ theo dõi biết hết. Lúc găp Nguyễn Ngọc Lan bị xỉ vả một hồi vì hớ hênh. Bên đó, sống là phải biết giữ mình. Đi đâu cũng phải cẩn thận vì có công an theo dõi. Lần tôi về, muốn gặp anh này, phải nhắn qua nhà cháu anh, sau đó cháu anh sang hẹn dùm. Ngay ông Nguyễn Hộ, không phải khách lúc nào cũng đến thăm ông được. Ông có “thằng cháu ngoại” giữ cổng không cho vô. Ông Nguyễn Hộ có con cho nó mở một cửa hàng bán quần áo trước nhà, khách đến ông lấy cớ mua quần áo cũng tiện.

Nay đã có một sự thay đổi rõ ràng trong thái độ của người dân đối với chính quyền cộng sản qua vụ biểu tình của đám dân Thái Hà: Không tin họ và đồng thời bớt sợ họ. Cùng lắm trước sợ nhiều nay sợ ít. Mừng mà cũng lo.

Thứ sáu: Ngay những người cộng sản cũng mongchế độ này nó mau sụp đổ.

Tôi được biết trong vụ Thái Hà, một anh theo MTGPMN, sau xé thẻ đảng nói nhỏ, “Tôi mong các ông công giáo làm tiếp cho nó sụp luôn. Bây giờ chẳng có ai làm được. Trừ các ông.”

Tôi không đồng tình với nhận xét đó. Việc đòi đất của đám dân Thái Hà chỉ mong người Việt Hải Ngoại đừng chỉ hiểu hạn hẹp là chuyện đòi đất. Người Việt tỵ nạn nào mà không có nhà lớn nhả nhỏ bị cộng sản chiếm dụng.

Mất một cái nhà, mất một miếng đất là chuyện nhỏ.

Linh mục Vũ Khởi Phụng trước tiên và trước hết đòi hỏi công lý và tự do tôn giáo
Đó là hai mục tiêu rõ rệt và dừng lại ở đó. Mấy chục ngàn thước đất nhằm nhò gì. Năm 1999, linh mục Vũ Khải Phụng phát biểu trong một Hội nghị chuyên đề ở Haus der Kulturen der Welt, Berlin có nói:


Lm. Vũ Khởi Phụng
Nguồn: danchuausa.net

“Vả lại cũng có khi Giáo Hội mất người... Và bây giờ trong nền kinh tế thị trường mở cửa, não trạng tiêu thụ du nhập, nhịp sống hối hả, đức tin có thể suy yếu... Không thể có thống kê chính xác về số tổn thất này, vì không mấy ai khai báo việc mình bỏ đạo.”

Đó là cái lo mất còn của một giáo hội. Cho nên việc đòi đất là việc phải làm, việc cụ thể. Nhưng phải nâng nó lên một tầm cao, qua nó đòi hỏi công chính, lẽ phải và quyền tự do tín ngưỡng. Cùng lắm dùng cái này để đòi hỏi cái kia.
Phần hy vọng của một cựu cán bộ cộng sản muốn mượn tay người công giáo làm một việc mà chính bổn phận các ông phải làm. Chúng tôi không làm, chúng tôi chỉ muốn đòi hỏi tự do tôn giáo và sự công chính cho mọi người. Chính các ông là người đã xây dựng nên nó thì cũng chính các ông là người có thể bỏ nó xuống. Và việc ấy đã xảy ra cho 8 nước ở Đông Âu và cả ở Nga...

Hình ảnh SàiGòn ngập nước sau cơn mưa

Trích VnExpress

Thành phố SàiGòn hiện nay chỉ sau một trận mưa nhỏ là nước ngập đường phố, thậm chí vào cả nhà dân. Cộng Sản Việt Nam lập nhiều khu đô thị mới nhưng hệ thống cống rãnh lại có quá nhiều thiếu sót. Chúng ta xem một bài viết và hình ảnh từ báo VnExpress về vấn nạn này.

Sài Gòn rối loạn vì nước ngập sau mưa

Cơn mưa to rạng sáng đầu tuần biến nhiều tuyến đường TP HCM thành sông... Kẹt xe, tắc đường diễn ra khắp nơi khiến người dân phải tát nước khỏi nhà hay chạy tán loạn tìm lối đi cho kịp giờ làm.
> Mưa chuyển mùa gây ngập, tắc nhiều tuyến đường TP HCM

Clip người Sài Gòn chạy tán loạn tránh ngập nước
Đường Trần Hưng Đạo nối quận 1 với quận 5 biến thành sông sau cơn mưa.
Nước ngập sâu hơn nửa bánh xe làm giao thông tê liệt một bên con đường huyết mạch hiếm khi ngập nước này.
Đường Hùng Vương cũng tương tự, kẹt xe cục bộ lập tức diễn ra.
Người xắn quần lội nước, người cố đẩy xe thoát thân. Quang cảnh ngập chưa từng có từ đầu năm đến nay khiến mọi người bất ngờ.
Trên đường Châu Văn Liêm quận 5, ngập nước, kẹt xe, nhiều người phải gọi điện thoại thông báo đến cơ quan trễ.
Ngay giữa trung tâm thành phố, nhiều gia đình phải lấy bạt ra chặn nước mưa tràn vào nhà.
Hoặc thi nhau quét nước ra khỏi nhà.
Ngập nước, xe chết máy, muốn đi tiếp không còn cách nào khác là phải đẩy bộ hoặc lau bugi.

Nhóm phóng viên

Mời chia sẻ ảnh ngập nước do cơn mưa sáng nay.

Sunday, April 12, 2009

Một chút lòng

Tặng Em yêu

Trên dốc mù sương nụ hoa đào chớm nở
Anh ngại ngần với tay hái tặng em
Hoa đơn sơ như tấm lòng anh đó
Vẫn ngọt ngào ấp ủ chút tình quê

PHP
04/11/09




Saturday, April 11, 2009

Kiên Giang: dự án lấn biển hay lấn đất của dân

Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam tại tỉnh Kiên Giang thời gian gần đây cho tiến hành kế hoạch lấn biển để mở rộng diện tích. Đây là công trình xây dựng mang tính cách "đầu voi, đuôi chuột". Nhũng người cán bộ làm công việc "lấn biển" này tiện tay lấn luôn đất của dân. Chúng dùng kế hoạch cưỡng bức người dân phải di chuyển đi chỗ khác để sinh sống và nhường đất cho chúng. Tiếng kêu oan vang ngập cả đất trời! Thật không còn gì để mà nói với lũ cướp này nữa!

Friday, April 10, 2009

Tây xạo hay ta điếm

Trích Blog Công lý và sự thật. Blogger Tạ Phong Tần, VN

TÂY "XẠO' HAY TA "ĐIẾM"?

.

Tin ông John McCain - cựu ứng cử viên Tổng thống Mỹ, Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa bang Arizona, thành viên cao cấp nhất của đảng Cộng hòa tại Ủy ban Quốc phòng thuộc Thượng viện Mỹ - sẽ đến Việt Nam trong khuôn khổ chuyến thăm các nước châu Á, được các hãng truyền thông, báo chí trong và ngoài nước loan tin rộng rãi trước ngày ông dừng chân ở Hà Nội cả tuần. Tuy nhiên, nội dung cuộc viếng thăm và làm việc như thế nào thì các phương tiện truyền thông chưa đề cập.

Ngày 06/4/2009, ông John McCain đã chính thức có mặt tại Hà Nội. Thượng nghị sĩ John McCain đã có các cuộc tiếp xúc với các quan chức Quốc hội, Chính phủ, một số đối tác thuộc các bộ, ngành Việt Nam để thảo luận quan hệ song phương Mỹ - Việt. Ông cũng có buổi nói chuyện tại Học viện Ngoại giao Hà Nội. Việc này dĩ nhiên cũng được báo chí, truyền thông trong và ngoài nước đưa tin rầm rộ giống nhau.

Sau khi ông John McCain rời Hà Nội thì bản tin của báo chí, truyền thông trong và ngoài nước đưa tin lại có sự khác nhau.

Trong khi báo chí trong nước đều đồng loạt nói phía Chính phủ Việt Nam đề nghị thế này, đề nghị thế kia với Ngài Thượng nghị sĩ Mỹ rất chi tiết, rất nhiều, còn Ngài Thượng nghị sĩ Mỹ đề nghị lại như thế nào với Chính phủ Việt Nam thì không thấy nhắc đến cụ thể, chỉ túm gọn trong một câu là "Cần có bước đi mới trong quan hệ Việt - Mỹ".

Ví dụ: Thông tấn xã Việt Nam viết (và nhiều báo khác trong nước đăng lại nguyên văn):

"Chiều 7.4, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp Thượng nghị sĩ (TNS) John McCain cùng các thành viên trong đoàn. Thủ tướng hoan nghênh chuyến thăm Việt Nam của TNS John McCain, và đề nghị ngài John McCain ủng hộ Việt Nam hưởng Quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) nhằm tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai nước Việt Nam - Mỹ, thúc đẩy sự hợp tác về giáo dục - đào tạo, giúp Việt Nam đối phó trước những biến đổi của khí hậu, phòng chống tội phạm, khắc phục hậu quả chiến tranh, phòng chống HIV/AIDS... Thủ tướng tin tưởng chuyến thăm của TNS John McCain sẽ góp phần tăng cường sự hiểu biết và mối quan hệ đang phát triển tích cực trên nhiều lĩnh vực giữa hai nước. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trao đổi với TNS John McCain và các thành viên trong đoàn về một số vấn đề hai bên cùng quan tâm.

Cùng ngày, Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng đã có cuộc tiếp TNS John McCain. Chủ tịch đánh giá cao sự đóng góp của TNS trong việc bình thường hóa và thúc đẩy quan hệ Việt - Mỹâ; tin tưởng chuyến thăm sẽ góp phần tăng cường sự hiểu biết và mối quan hệ đang phát triển tích cực trên nhiều lĩnh vực giữa hai nước, trong đó có hai QH".


Trái lại, BBC của Anh thì nói:
Ông thượng nghị sỹ tuyên bố Việt Nam đã chứng tỏ được vị thế kinh tế và ngoại giao của mình, nay tới lúc khẳng định vai trò về xã hội và chính trị. Để làm việc đó, theo ông, Việt Nam cần tự do hóa chính trị, như "thúc đẩy quyền tự do xã hội, cho phép tự do ngôn luận rộng rãi hơn, trả tự do cho tất cả các cá nhân bị cầm tù vì thể hiện chính kiến của mình một cách hoà bình, cải thiện nhân quyền, và mở rộng phạm vi hoạt động chính trị". "Bằng những bước tự do hóa chính trị mạnh mẽ hơn... Việt Nam có thể trở thành một mô hình để các nước khác noi theo."

RFI của Pháp lại bảo:

"Nhưng ông McCain nói rằng Việt Nam nên mở rộng những thành quả về kinh tế và ngoại giao, bằng những thay đổi mang "tầm mức lịch sử" về mặt tự do chính trị, tức là bảo đảm quyền tự do ngôn luận rộng rãi hơn, mở rộng khuôn khổ sinh hoạt chính trị, trả tự do cho những người bị giam cầm vì đã bày tỏ quan điểm một cách ôn hòa và cải thiện tình trạng nhân quyền nói chung".

Tuy cách diễn đạt khác nhau, nhưng bản tin của BBC và RFI nhìn chung ý tứ là giống nhau.

Tôi không được đọc bản tiếng Anh trên website riêng của ông McCain cũng chẳng trực tiếp nghe được ông McCain nói với Chính phủ Việt Nam như thế nào. Nhưng cái kiểu "ông nói gà, bà nói vịt" như thế, vậy thì báo Tây "xạo" hay báo Ta "diếm" vậy ha?

Tạ Phong Tần
.
.

Chống tham nhũng vẫn đầu voi, đuôi chuột

Trích Người Việt Online





medium_VN-090409-CORRUPTION.jpg


Hình bên: Nguyễn Tấn Dũng đang dự một hội nghị tại Hà Nội cuối năm 2008. Tuy có luật chống tham nhũng, Việt Nam vẫn có nhiều cán bộ “thiếu ý thức trong kê khai tài sản.” (Hình: Frank Zeller/AFP/Getty Images)

Cán bộ, đảng viên không kê khai tài sản

HÀ NỘI (NV) - Cán bộ đảng viên CSVN có chức có quyền vẫn chây ỳ, không chịu kê hai tài sản dù chế độ Hà Nội nhiều lần hô hò “quyết tâm” chống tham nhũng.

Báo điện tử VNExpress hôm 9 Tháng Tư dẫn lời Mai Quốc Bình, phó tổng Thanh Tra Chính Phủ CSVN nói rằng “việc chậm trễ, thiếu ý thức trong kê khai tài sản cán bộ, công chức của nhiều địa phương, bộ ngành thời gian qua có thể khiến chủ trương này lâm vào cảnh “đầu voi đuôi chuột.”

Theo nguồn tin này, luật lệ qui định có hiệu lực từ giữa năm 2006 theo Luật Phòng Chống Tham Nhũng buộc từ cấp phó phòng trở lên của guồng máy công quyền CSVN phải kê khai tài sản chìm nổi “...theo quy định việc kê khai lần đầu sẽ phải hoàn thành vào cuối năm 2007. Tuy nhiên, một năm sau thời điểm này mới chỉ có 19 cơ quan trung ương và 10 địa phương hoàn thành xong kê khai thu nhập, tài sản của cán bộ, công chức.”

Hồi đầu Tháng Hai, Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng của chế độ Hà Nội nhân danh kẻ cầm đầu cơ quan chống tham nhũng gửi văn thư càm ràm “hàng loạt chủ tịch UBND tỉnh, thành cùng nhiều bộ trưởng chưa hoàn thành trách nhiệm trong việc tổ chức kê khai tài sản'.

Thế rồi, nửa tháng sau đó “thêm một số đơn vị có báo cáo kê khai” và đến nay “vẫn còn nhiều đơn vị chưa thấy có chuyển biến.” Theo VNExpress, “Hiện, 34 bộ, ngành cơ quan trung ương và 19 địa phương (trong số 64 tỉnh thị) hoàn thành kê khai lần đầu.” Tức là trễ hơn một năm đối với những bộ ngành và cơ quan, tỉnh thị địa phương đã khai báo. Số còn lại 45 tỉnh thị và một số bộ ngành trung ương vẫn chây ỳ.

“Ðiều này cho thấy cái ‘quyết tâm’ chống tham nhũng của chế độ Hà Nội và tinh thần thượng tôn pháp luật của đảng viên cán bộ cSVN nó cao đến đâu.

“Ngày 1/3/09, Trần Văn Truyền, Tổng Thanh Tra Chính Phủ CSVN họp báo than phiền các tỉnh thị ‘phải đồng loạt triển khai trong tháng 12, dứt điểm và báo cáo cuối tháng 1 nhưng nay đã cuối tháng 2 vẫn chưa có địa phương nào báo cáo.’

‘Theo một nghị định giải thích luật chống tham nhũng người có nghĩa vụ kê khai bao gồm’ đại biểu Quốc hội, đại biểu HÐND chuyên trách, người ứng cử đại biểu Quốc hội, HÐND. Cán bộ từ cấp phó chủ tịch xã; phó công an phường, thanh tra viên, cán bộ địa chính-xây dựng phường... cũng phải kê khai tài sản.

“Phía quân đội, diện kê khai sẽ bắt đầu từ tiểu đoàn phó hoặc phó chỉ huy quân sự cấp huyện. Bên cạnh đó ‘cán bộ cấp phó phòng công ty nhà nước sẽ phải kê khai nhà đất, tài khoản ở nước ngoài, đá quý, ô tô, sổ tiết kiệm, trái phiếu (trị giá từ 50 triệu đồng) của vợ, chồng và con chưa thành niên. Việc kê khai tài sản phải hoàn thành chậm nhất là 31/12 hằng năm.’

Phải kê khai hàng năm nhưng đến nay vẫn chưa kê khai xong lần đầu tiên.

Trong một cuộc họp ở Quốc Hội Hà Nội ngày 31/10/2008, Nguyễn Bá Thuyền, đại biểu tỉnh Lâm Ðồng than phiền rằng việc chống tham nhũng là ‘nhẹ trên, nặng dưới.’ Ông thuật lời kêu ca của cử tri nói ‘đối với nhân dân thì 500.000 đồng là bị bỏ tù, nhưng vụ Nguyễn Lâm Thái, người nào trên 1 tỷ mới xử lý hình sự, người nào dưới 1 tỷ chúng ta không xử lý hình sự.’

Theo điều tra tại 9 tỉnh do Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển Hỗ Trợ Cộng Ðồng (CECODES) thuộc LH Các Hội Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam (VUSTA) và đại sứ quán Phần Lan tài trợ thì người dân biết được các hành vi tham nhũng của những người có chức, có quyền nhưng hầu hết không dám tố cáo vì sợ bị trả thù hoặc không thấy “lợi lộc” gì, bản tin của VietnamNet tường thuật ngày 13/12/08.

Bản tin này cũng nêu ra cho thấy tham những nặng nhất nằm trong lãnh vực quản lý đất đai và tham nhũng thứ nhì là tại các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở như cầu, đường.

Ngày 18/7/08, “Cổng thông tin chính phủ” CSVN đưa ra bản tin Nguyễn Tấn Dũng than phiền “Hình như việc chống tham nhũng đang có vẻ như chùng xuống, không quyết liệt như khi mới ra nghị quyết TƯ 3 hoặc khi luật phòng, chống tham nhũng ra đời.”

Trong bản phúc trình mới nhất, tổ chức tham vấn đầu tư quốc tế PERC ở Hongkong vẫn cho hay Việt Nam là một trong những nước tham nhũng trầm trọng ở Á Châu.

Bốn viên chức công ty Tư Vấn Quốc Tế Thái Bình Dương (PCI) ở Nhật đã bị tòa án quận Tokyo kêu án vì đã hối lộ cho quan chức CSVN. Huỳnh Ngọc Sĩ, nguyên phó giám đốc Sở Giao Thông Vận Tải kiêm trưởng ban quản lý Dự Án Ðại lộ Ðông Tây Sài Gòn, cái đinh của vụ án, hiện đang bị giam về tội nuốt tiền cho thuê một phần cơ quan chứ không phải tội ăn hối lộ của PCI.

Vì vụ này mà chính phủ Nhật đã loan báo tạm ngưng giải ngân tài trợ cho Việt Nam 3 tháng để trừng phạt.

Wednesday, April 8, 2009

Các luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân bị truy tố về tội tuyên truyền chống nhà nước

Trích TTX Công Giáo

Theo bản cáo trạng, các Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân bị truy tố ra Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Hà Nội về tội tuyên truyền chống Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chiếu Điều 88 Khoản 1 Điểm (a) và (c) Hình Luật mà hình phạt có thể đến 12 năm tù.

Các Luật Sư bị trách cứ đã có những hành vi phỉ báng chính quyền và chống Nhà Nước bằng tuyên truyền

xuyên tạc, và tàng trữ, phát hành các tài liệu có nội dung chống Nhà Nước CHXHCNVN.

Khoản 1 Điểm (b) kết án tội “dùng chiến tranh tâm lý để tuyên truyền gây hoang mang trong nhân dân”. Đây là một tội lỗi thời, tàn tích của thời chiến tranh lạnh. Người Cộng Sản thường lầm lẫn luật pháp với chính trị. Họ đã sáng chế ra những tội trạng giả tạo phi pháp lý như phản động, hay phản cách mạng, địa chủ hay cường hào ác bá v...v...Vì đối với họ, chính trị là thống soái và luật pháp là công cu.ï Bộ Luật Hình Sự 1985 trong Lời Nói Đầu cũng xác nhận điều đó: “Trong hệ thống pháp luật của nước Cộng Hòa XHCNVN, luật hình sự là một công cụ sắc bén của Nhà Nước chuyên chính vô sản để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, đấu tranh góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội”.

Trong chiều hướng đó Quốc Hội đã ban hành những đạo luật hình sự quy định những tội trạng bịa đặt giả tạo và cưỡng ép lố bịch với những yếu tố cấu thành tội trạng hết sức bao quát và mơ hồ, như các tội tuyên truyền chống nhà nước, tuyên truyền chống chế độ, lợi dụng quyền tự do dân chủ, phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, phá hoại chính sách đoàn kết quốc tế, gián điệp, phản nghịch hay hoạt động nhằm lật đổ chính quyền v...v...

Nếu Hình Luật Hoa Kỳ cũng quy định những tội bịa đặt giả tạo và cưỡng ép lố bịch tương tự như vậy, thì ngày nay rất nhiều ứng cử viên thuộc Đảng Dân Chủ đối lập sẽ có thể bị truy tố và kết án về các tội tuyên truyền chống Nhà Nước, phỉ báng chính phủ, phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, lợi dụng quyền tự do dân chủ, và đặc biệt là tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền vào tháng 11 tới đây.

Những yếu tố cấu thành tội (bịa đặt) tuyên truyền chống nhà nước, như tuyên truyền xuyên tạc, nói xấu hay phỉ báng chính quyền, lưu trữ phát hành các tài liệu chống chính phủ cũng có thể dùng để kết tội “phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia” của Điều 87 mà hình phạt có thể đến 15 năm tù. Vì các yếu tố tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền hay lưu trữ phát hành các tài liệu chống Nhà Nước cũng có thể được tòa án nhân dân coi là những hành vi cố ý gây chia rẽ giữa nhân dân và chính quyền, giữa các giáo dân và chính quyền, là những yếu tố cấu thành tội (giả tạo) “phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia”.

Từ thập niên 70, nhà cầm quyền Cộng Sản đã bắt giam tại các trại cải tạo những người đối kháng có những hành vi bị coi là tuyên truyền chống chế độ như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế hay Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt v...v.... Từ thập niên 1980, họ đã dùng tòa án để truy tố cũng về tội tuyên truyền chống chế độ (Điều 82 cũ), và đã kết án 3 người con của cố Luật Sư Trần Văn Tuyên là Trần Vọng Quốc, Trần Tử Thanh và Trần Tử Huyền, và tiếp đến là Luật Sư Đoàn Thanh Liêm.

Qua thập niên 1990, họ đã truy tố về tội (cưỡng ép), phản nghịch hay hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 73 cũ), và đã kết án Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt, Giáo Sư Nguyễn Đình Huy v...v.... Cũng trong thời gian này, họ đã truy tố về tội phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, và đã kết án Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Giáo Sư Hoàng Minh Chính v...v... Trước đó, năm 1983, Linh Mục Nguyễn Văn Lý cũng bị truy tố và kết án về tội này.

Từ năm 2000, họ đã truy tố về tội (cưỡng ép) gián điệp, và đã kết án Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn và Nguyễn Vũ Bình. Đồng thời họ cũng truy tố và kết án Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Trần Dũng Tiến, Nguyễn Đan Quế v...v... về tội (giả tạo) lợi dụng quyền tự do dân chủ.

Năm 2005 họ đã đệ đơn yêu cầu Tòa Án Thái Lan truyền dẫn độ Lý Tống về Việt Nam vì đã rải truyền đơn chống chính phủ tại Saigon, để trả lời về tội (cưỡng ép) xâm phạm an ninh lãnh thổ quốc gia. Và đầu tháng tư năm nay Tòa Phúc Thẩm Bangkok đã bác đơn xin dẫn độ của nhà cầm quyền Hà Nội.

Và ngày 30 tháng 3 vừa qua họ đã kết án Linh Mục Nguyễn Văn Lý về tội (giả tạo) tuyên truyền chống nhà nước. Năm 2002 Lê Chí Quang cũng bị truy tố và kết án về tội này.

Hiện nay, ngoài các Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, có thêm 4 luật sư khác cũng đang bị điều tra truy tố về tội này, là các Luật Sư Lê Quốc Quân, Bùi Kim Thành, Nguyễn Thị Thùy Trang và Nguyễn Bắc Truyền. Trái với dư luận thông thường, đây không phải là một chiến dịch nhằm tước đoạt quyền biện hộ của luật sư trước tòa án. Vì tòa án nhân dân đâu có đếm xỉa đến những lời biện hộ của luật sư. Ngày nay, cũng như luật pháp, tòa án đã biến thành một công cụ của Đảng Cộng Sản với sứ mạng bạc bẽo là “củng cố chính quyền và xây dựng chế độ độc tài toàn trị của Đảng Cộng Sản”.

VỀ MẶT TỘI TRẠNG

Tuyên truyền chống chế độ hay tuyên truyền chống Nhà Nước là những tội giả tạo bịa đặt không tìm thấy trong bất cứ bộ hình luật nào của các quốc gia văn minh trên thế giới. Vì tuyên truyền chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng và tự do phát biểu quan điểm đã được luật pháp quốc gia và công pháp quốc tế thừa nhận. Từ giữa thế kỷ 19 khi Các Mác công bố bản Tuyên Ngôn Cộng Sản kêu gọi vô sản toàn thế giới đứng lên đấu tranh võ trang để lật đổ chế độ và nhà nước tư bản chủ nghĩa, ông ta cũng không bị Tòa Án Luân Đôn truy tố về tội tuyên truyền chống chế độ tư bản. Và từ hơn một thế kỷ rưỡi nay, các quốc gia văn minh cũng không truy tố các môn đệ của Mác về tội này.

Từ thập niên 1990, với cuộc Cách Mạng Dân Chủ tại Đông Âu và Liên Xô, chế độ mệnh danh là xã hội chủ nghĩa đã bị vứt vào thùng rác lịch sử. Để củng cố chính quyền, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã giảo hoạt thay đổi tội danh, từ tuyên truyền chống chế độ (Điều 82 cũ) thành tuyên truyền chống nhà nước (Điều 88).

Chiếu Điều 15 Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị “không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm nếu những điều ấy, không cấu thành tội hình sự chiếu luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế. Luật pháp quốc tế là những nguyên tắc luật pháp tổng quát dược thừa nhận bởi cộng đồng các quốc gia”. (cụ thể là những nguyên tắc ghi chú trong Luật Quốc Tế Nhân Quyền do Liên Hiệp Quốc ban hành). Nguyên tắc này cũng đã được ghi trong Điều 11 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Việt Nam đã gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1977 nên có nghĩa vụ pháp lý phải tôn trọng và thực thi những điều khoản ghi trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Việt Nam đã ký kết tham gia Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị năm 1982, nên có nghĩa vụ pháp lý phải tôn trọng và thực thi những điều khoản ghi trong Công Ước này. Chiếu Điều 2 Công Ước, các quốc gia hội viên tham gia Công Ước này cam kết sẽ tôn trọng và bảo đảm thực thi những quyền tự do cơ bản đã được thừa nhận trong Công Ước cho tất cả mọi người sống trong lãnh thổ quốc gia.

Trong trường hợp những quyền tự do ghi trong Công Ước này chưa được quy định thành văn trong luật pháp và hiến pháp quốc gia, các quốc gia hội viên ký kết hay tham gia Công Ước có nghĩa vụ phải ban hành các đạo luật bổ túc theo tinh thần và bản văn các điều khoản nhân quyền của Công Ước để các quyền này được thực sự thi hành. Trong trường hợp quốc gia hội viên kết ước không quy định những quyền này trong luật pháp hay hiến pháp thì những điều khoản về nhân quyền và về những quyền tự do cơ bản của người dân ghi trong Công Ước vẫn có hiệu lực chấp hành và phải được áp dụng trước các tòa án quốc gia và quốc tế.

Ngày nay Việt Nam đã quy định thành văn trong Hiến Pháp hầu hết các nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của người dân, như quyền tự do tôn giáo (Điều 70), quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 52), quyền bình đẳng cơ hội tham gia chính quyền (Điều 53), quyền tự do bầu cử và ứng cử (Điều 54), quyền tự do đi lại và cư trú (Điều 68), quyền tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền thông tin, quyền tự do hội họp, tự do lập hội, quyền biểu tình (Điều 69), quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được luật pháp bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm (Điều 71), quyền được suy đoán là vô tội (Điều 72), quyền riêng tư (Điều 73), quyền khiếu nại, khiếu tố các cơ quan chính quyền khi có sự lạm quyền phi pháp (Điều 74) v...v...

Tuy nhiên quyền tự do tư tưởng không được quy định trong Hiến Pháp vì Đảng Cộng Sản đòi nắm giữ độc quyền tư tưởng, buộc toàn dân phải “theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh".

Theo Điều 2 Hiến Pháp “Nhà Nước thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. (Chứ không thuộc về một đảng độc tôn, độc quyền là Đảng Cộng Sản)

Theo Điều 3 Hiến Pháp “Nhà Nước bảo đảm quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, và nghiêm trị mọi hành động xâm phạm những quyền và lợi ích của nhân dân”. (dầu rằng kẻ phạm pháp chính là Đảng Cộng Sản)

Theo Điều 6 Hiến Pháp “nhân dân sử dụng quyền lực Nhà Nước thông qua Quốc Hội là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. (Do đó Quốc Hội không thể là sản phẩm và công cụ của Đảng Cộng Sản. Hơn nữa Quốc Hội của nhân dân phải sinh hoạt theo nguyên tắc dân chủ đại nghị hay dân chủ pháp trị chứ không theo nguyên tắc “dân chủ tập trung phản dân chủ).

Theo Điều 11 Hiến Pháp “công dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng cách tham gia công việc của Nhà Nước và xã hội”. (Muốn thế phải thiết lập chế độ dân chủ pháp trị để Dân được quyền làm chủ Nhà Nước và bãi bỏ chế độ độc tài toàn trị trong đó Đảng Cộng Sản độc quyền lãnh đạo Nhà Nước và xã hội).

Theo Điều 52 Hiến Pháp “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.” (Do đó Đảng và Nhà Nước Cộng Sản không được phân biệt kỳ thị về chính kiến hay chính đảng đối lập với đảng cầm quyền).

Theo Điều 53 Hiến Pháp “công dân có quyền tham gia quản lý Nhà Nước” bằng cách hành sử quyền đối kháng, quyền tham gia chính quyền và quyền tự do tuyển cử là những hình thức của quyền Dân Tộc Tự Quyết.

Theo Điều 54 Hiến Pháp “công dân được quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc Hội”. (Do đó Đảng và Nhà Nước Cộng Sản không thể tước đoạt quyền tự do ứng cử của người dân bằng những ngăn cản do hiệp thương của các tổ chức ngoại vi hay do thanh lọc của địa phương). Vì cuộc đầu phiếu phải có tính phổ thông (phổ cập) và kín cho tất cả mọi công dân.

Những điều khoản Hiến Pháp nói trên tuyên dương quyền Dân Tộc Tự Quyết, quyền Đối Kháng, quyền Tham Gia Chính Quyền và quyền Tự Do Tuyển Cử của công dân. Vì Nhà Nước thuộc về nhân dân, nên chỉ có nhân dân có quyền lãnh đạo và quản trị nhà nước, Đảng Cộng Sản không thể tự ban cho mình quyền này.

Trong khi đó, Điều 4 Hiến Pháp dành độc quyền lãnh đạo Nhà Nước cho Đảng Cộng Sản nên đã tước đoạt quyền của nhân dân được có bình đẳng cơ hội tham gia chính quyền với tư cách cá nhân hay với tư cách đảng viên của các chính đảng. Điều 4 Hiến Pháp phải bị xóa bỏ vì nó đi trái với tinh thần và bản văn của các Điều 2, 3, 6, 11, 52, 53, 54 Hiến Pháp và đi trái với quyền Dân Tộc Tự Quyết. Quyền này đã được Luật Quốc Tế Nhân Quyền thừa nhận trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (các Điều 1 và 55), trong Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, trong Công Ước về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị và Công Ước về Những Quyền Kinh Tế Xã Hội và Văn Hóa (Điều Thứ Nhất).

Như ta đã biết, Dân Tộc Tự Quyết là quyền của người dân được tự do lựa chọn chế độ chính trị của quốc gia (như Cộng Hòa Dân Chủ hay Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa), và được quyền tự do ứng cử hay bầu lên các đại biểu của mình trong chính quyền để thực thi chế độ đó.

Về mặt quốc tế công pháp, các công ước quốc tế như Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị là những hiệp ước quốc tế đã được quốc hội phê chuẩn nên có giá trị pháp lý cao hơn luật pháp và hiến pháp quốc gia. Do đó trong trường hợp có những điều khoản mâu thuẫn giữa Luật Pháp Quốc Gia và Công Ước Quốc Tế thì tòa án phải tham chiếu và áp dụng những điều khoản của Công Ước Quốc Tế.

Hơn nữa, chiếu Điều 5 Công Ước Dân Sự Chính Trị, tòa án không được giải thích xuyên tạc luật pháp quốc gia hay công ước quốc tế để cho phép chính phủ hay tòa án làm những hành vi hay tuyên những bản án nhằm phủ nhận hay tước đoạt của người dân những quyền tự do cơ bản đã được luật pháp quốc gia và công ước quốc tế thừa nhận.

VỀ CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH TỘI TRẠNG

Điều 88 Hình Luật quy định tội tuyên truyền chống nhà nước với những yếu tố cấu thành tội trạng như tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền và tàng trữ, phát hành các tài liệu có nội dung chống Nhà Nước.

Như đã trình bày, tuyên truyền không phải là một tội hình sự dù là tuyên truyền chống chính phủ. Đây chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng, tự do phát biểu, quyền đối kháng và quyền thay thế chính quyền bằng tự do tuyển cử. Những quyền này đã được nhân loại văn minh đề xướng từ thế kỷ 18.

Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp 1789 quan niệm “quyền tự do phát biểu là một quyền cao quý nhất của con người. Và mục đích của sự thành lập quốc gia là để bảo vệ cho người dân những quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm như quyền tự do, quyền tư hữu, quyền an ninh và quyền đối kháng bạo quyền”.

Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776 minh thị quy định: “khi chính quyền vi phạm dân quyền, người dân có quyền đứng lên đối kháng lật đổ chính quyền để thay thế bằng một chính quyền mới thuận lợi cho việc bảo đảm an ninh và hạnh phúc của người dân”.

Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cũng thừa nhận quyền đối kháng và quyền thay thế chính quyền như là một hình thức của quyền Dân Tộc Tự Quyết: “Điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ dân chủ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng phải đứng lên đối kháng chống áp bức và bạo quyền”.

Ngày nay, trong những cuộc vận động tuyển cử, muốn hành sử quyền tham gia chính quyền, các ứng cử viên đối lập có quyền phát biểu chỉ trích, phê bình hay lên án chính sách của Nhà Nước. Và quốc dân sẽ là người trọng tài để phán xét xem những lời phê bình chỉ trích này có trung thực không. Nếu không có sự cố ý xuyên tạc hay có chứa đựng những sự thật chính trị và xã hội, cử tri có quyền quyết định thay thế chính quyền cũ bằng một chính quyền mới đủ khả năng và thiện chí để đáp ứng những nguyện vọng và nhu cầu của nhân dân trong giai đoạn đó.

Vì con người không phải là á thánh nên xã hội cần phải có chính quyền. Và vì nhà cầm quyền cũng không phải là á thánh nên luật pháp phải dành cho người dân quyền kiểm soát, đối kháng, chế tài hay thay thế chính quyền. Nếu không có sự thông tin, phê bình và chỉ trích thì không thể có dân chủ. Nếu không được quyền thay thế hay lật đổ chính quyền thì đảng cầm quyền sẽ tha hóa thành độc tài, tham nhũng, bất công hay bất lực.

Như vậy, tuyên truyền chống chính phủ hay lên án nhà nước độc tài tham nhũng, bất công hay bất lực là những hành vi chính trị cần thiết trong một chế độ dân chủ pháp trị và không thể cấu thành một tội hình sự. Tại các quốc gia dân chủ, tòa án cũng không truy tố những tài liệu hay tác phẩm cổ võ chủ thuyết cộng sản (đòi hỏi lật đổ chế độ tư bản để thiết lập chế độ độc tài vô sản).

Tòa cho đó chỉ là việc hành sử quyền tự do phát biểu để cổ võ một lý thuyết chủ nghĩa về mặt trừu tượng (abstract doctrine). Chỉ khi nào có sự hô hào lật đổ chính phủ bằng võ trang và có việc khởi sự hành động võ trang gây nguy hại diện tiền cho an ninh quốc gia thì mới bị truy tố ra tòa, không phải về tội tuyên truyền chống nhà nước mà về tội phản nghịch. Tiêu chuẩn là phải có sự nguy hiểm rõ rệt rịn tiền thì tội trạng mới cấu thành. Nếu chỉ là lời tuyên truyền phê bình, chỉ trích hay lên án chính quyền bằng lời nói hay bằng bài viết thì chỉ là hành sử công khai, ôn hòa và hợp pháp quyền tự do phát biểu, tự do tư tưởng, và quyền đối kháng. Nếu những quyền này bị ngăn cấm và chế tài thì không thể có xã hội dân chủ và văn minh.

Theo luật pháp phổ thông người dân với tư cách cá nhân hay hội viên của các hội đoàn chính trị (chính đảng) có quyền và có trách nhiệm truyền bá các kiến thức nhân quyền cho dân chúng, đề xướng tranh thủ sự thực thi và bảo vệ nhân quyền và những quyền tự do cơ bản trên bình diện quốc gia và quốc tế. Đồng thời Nhà Nước có trách nhiệm tiên khởi và cũng có nghĩa vụ phải bảo vệ đề xướng và thực thi nhân quyền cùng những quyền tự do cơ sở bằng cách tạo các điều kiện và cơ chế cần thiết về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và luật pháp để tất cả mọi người trong nước được thực sự hưởng dụng những quyền tự do này với tư cách cá nhân hay thành viên của các hội dân sự và hội chính trị.

Mục đích để truyền bá, phổ biến những kiến thức nhân quyền cho tất cả mọi người, đặc biệt để góp phần loại trừ hữu hiệu các vi phạm về nhân quyền và về những quyền tự do cơ sở của người dân (Phần Mở Đầu và các Điều l và 2 Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc).

Do đó, tổ chức các khóa học tập và thảo luận về những vấn đề nhân quyền và những vấn đề chung của đất nước cho các học sinh sinh viên (ở đây là các sinh viên Trường Cao Đẳng về truyền thông, phát thanh và truyền hình), cũng như truyền bá sự thật (lịch sử và xã hội) và truyền bá nhân quyền cho các cộng tác viên (ở đây là các nhân viên Văn Phòng Luật Sư). Những hành vi này không phải là những yếu tố cấu thành tội tuyên truyền chống nhà nước.

Trong hiện vụ, để qui định tội trạng của bị can, Tòa Án phải phân biệt những trường hợp theo trình tự như sau:

Tuyên truyền chính trị về tư tưởng hay ý thức hệ chống lại chế độ tư bản hay vô sản chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng và tự do phát biểu quan điểm không cấu thành tội hình sự.

Tuyên truyền chính trị bằng cách in ấn và phát hành các sách báo cộng sản hay chống cộng sản cũng chỉ là việc phổ biến chủ nghĩa lý thuyết trừu tượng (abstract doctrine) không cấu thành tội hình sự.

Tuyên truyền chính trị bằng cách hô hào và lôi kéo những người khốn cùng hãy tập hợp võ trang và đứng lên lật đổ chế độ tư bản, như Các Mác đã làm tại Luân Đôn hồi giữa Thế kỷ19, cũng không cấu thành tội hình sự.

Rải truyền đơn kêu gọi và kích động nói xấu chính quyền và hô hào dân chúng đứng lên lật đổ chính quyền cũng không cấu thành tội hình sự (như phản quốc hay phản nghịch), nếu thực sự chưa có tập hợp võ trang và cũng chưa có khởi sự hành động võ trang của phe nổi dậy. Vì những hô hào kích động này chưa có hậu quả gây nên sự Nguy Hiểm Rõ Rệt Diện Tiền (Clear and Present Danger).

Tại các quốc gia dân chủ văn minh, tòa án độc lập không bao giờ truy tố và kết án người dân về tội tuyên truyền chính trị dầu là tuyên truyền chống chính phủ, chống chế độ hay chống nhà nước.

(California ngày 5-5-2007)
Luật sư Nguyễn Hữu Thống

Vẫn còn những tấm lòng

Vấn đề khai thác Bauxit tại cao nguyên Trung Phần vẫn là đề tài bàn luận của các giáo sư, nhà nghiên cứu và dân chúng ở Việt Nam. Đọc bài Khai thác Bauxit tại Tây Nguyên: Ba vấn đề, ba kiến nghị của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Trân từ trong nước cho chgúng ta thấy những mặt lợi và hại của vấn đề, nhưng ý chính tác giả vẫn là lợi bất cập hại.

Monday, April 6, 2009

Vịnh kẻ Sĩ

Xã tắc sơn hà cảnh ngả nghiêng

Anh hung hào kiệt khắp ba miền

Chông gai trùng điệp không quỳ phục

Tù ngục miệt mài vẫn đứng lên

“Dân Chủ dẫu đày” lòng quyết liệt

“Tự Do hay chết” dạ trung kiên

Ngàn năm Kẻ Sĩ tâm như ngọc

Tựa đuốc trong đêm diệt bạo quyền!

Từ Đà Thành

(04/06/09)

Phú hận tháng tư

Tháng Tư đất nước một màu tang

Từ buổi quê hương bóng giặc tràn

Xã tắc điêu linh đời ngục ải

Sơn hà nghiêng ngả cuộc ly tan

Phần tư thế kỷ thân lưu lạc

Giữa cuộc nhân sinh phận khổ nàn

Mối hận tháng Tư nung nấu dạ

Phải thanh thỏa hết trước đời tàn

Tháng Tư! Tháng Tư! Tháng đen tử khí

Ất Mão! Ất Mão! Xuân trắng màu tang

Triệu triệu con người vật vả khóc than

Trăm thằng thảo khấu rú cười quái đản

Tiếng AK rờn rợn đưa người vào mê sảng

Bóng mũ cối xanh dờn dẫn nước đến tàn hoang

Đỉnh cao trí tuệ khiến toàn thế giới phải bàng hoàng

Tà thuyết mị dân đẩy cả quê hương vào mê loạn

Hàng triệu người bỏ phiếu bằng đôi chân lổ loang vết đạn

Cả dân tộc kêu gào với tiếng nói uất nghẹn lầm than

Xã tắc tiêu điều

Trăm họ ngổn ngang

Miếu đền tiên tổ hoang phế điêu tàn

Mồ mã tiền nhân xác xơ đổ nát

Từ tháng Tư đen lương dân mịt mờ trong đọa đày tù rạc

Từ Ất Mão xám kẻ sĩ điên loạn giữa lầy lội dối gian

Bắc Nam trầm thống tiếng kêu than

Trời đất sầu vương lời oán thán!

Hơn 30 năm …

Tổ quốc hôm nay ngậm ngùi trong nỗi hờn vong bản

Quê hương bây giờ khắc khoải giữa cơn lốc vô nhân

Bởi …
Bè lũ Cộng đảng vẫn say men bạo ác, vẫn cai trị dân bằng xiềng xích Mác gian

Nên …

Đồng bào Việt Nam còn ngập kiếp khổ đau, còn lết lê đời giữa gông cùm quốc nạn

Nguyệt Biều, An Truyền Hịch Quyết Chiến đã hiệu triệu rền vang

An Giang, Châu Đốc Lửa Hy Sinh đang ngời cao tỏa rạng

Tất cả đều quyết tâm diệt phường cẩu tặc

Mọi người đều nhật dạ trừ lũ sói lang

Đấu Tranh Dân Chủ, con đường chân chính của đất nước Nam đang chuyển bước nhân gian

Ngôn Luận Tự Do, tiếng nói bất khuất của nhân dân Việt đã dựng nêu Nguyên Đán


Tiếng trống Mê Linh như dập dồn giờ xung trận

Câu gào Sát Thát chừng dục dã phút lên đàng

Sĩ phu Việt Nam đã đứng lên quyết lấy lại giang san

Cháu con Âu Lạc đang chỗi dậy để diệt trừ Cộng đảng

Nếu cân…

Máu dẫu phải chảy thành sông cho ngày mai tươi sáng

Khi thiết…

Xương dầu chất cao như núi để tổ quốc vinh quang

Chế độ Cộng sản bạo tàn chắc chắn phải bị tiêu tan

Chính thể Cộng Hòa nhân bản đương nhiên trở thành nền tảng

Đồng bào ơi! Hãy đoàn kết diệt Cộng dựng lại Cờ Vàng

Huynh đệ ơi! Hãy quyết tâm trừ gian trùng tu xã tắc


Tháng Tư ơi! Tháng Tư ơi! Vững tin chờ nhạc tấu khúc khải hoàn!

Non sông ơi! Non sông ơi! Yên chí đợi bản hùng ca chiến thắng

Từ Đà Thành

(04/28/06)

Thư gởi cụ Khổng Tử

Trích Blog Công lý và sự thật.
Tượng thờ cụ Nguyễn Trãi


Kính gởi cụ Khổng Tử!

Thưa cụ!

Được tin từ bên Tây cho biết: "Văn phòng Chính phủ vừa có công văn số 1992/VPCP-QHQT gửi các bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngoại giao, Công an và Văn phòng Trung Ương Đảng Cộng Sản, thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ cho phép thí điểm thành lập một Học viện Khổng Tử tại Việt Nam". Ông Nguyễn Tấn Dũng giao cho Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân "chỉ đạo việc thí điểm thành lập Học viện Khổng Tử theo các quy định hiện hành".

Kẻ hậu sinh vội vã tìm kiếm trên các tờ báo lớn trong nước của Việt Nam để kiểm chứng nhưng chả thấy tờ nào đăng tin này cả. Cá biệt có báo CA TPHCM thì thấy đăng cách đây 3 ngày, nhưng thưa thật với cụ Khổng là kẻ hậu sinh này không tin báo CA TPHCM vì thời gian gần đây báo này có nhiều bài viết dối trá trơ trẻn quá. Tuy nhiên, căn cứ vào cái uy tín hơn 80 năm của báo Tây thì chắc là chuyện này có thiệt rồi.

Thưa cụ!

Kẻ hậu sinh được biết, cụ họ Khổng, tên khai sinh là Khâu, tự là Trọng Ni. Cụ sinh ngày 28 tháng 9, 551479 TCN. Quốc tịch Lỗ Quốc, nay là Trung Quốc. Người Trung Quốc gọi cụ là Khổng Tử (孔子) hoặc Khổng Phu Tử (孔夫子). Cụ là một nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội nổi tiếng Trung Hoa. Có nghĩa là cụ Khổng chẳng có "dây mơ rễ má" gì đến người Việt Nam cả, và cụ không hề biết Việt Nam là quốc gia nào, cụ càng không biết Chính phủ Việt Nam đang vinh danh cụ là những người nào.

Việt Nam cũng không thiếu các nhà tư tưởng, nhà văn hóa lớn, có thể điểm qua như sau:

- Cụ Nguyễn Trãi (tự Ức Trai), tác giả "Bình Ngô sách" góp phần quyết định đánh thắng quân Minh, là đại thần nhà Hậu Lê, một nhà văn chữ Nôm. Cụ được xem là một anh hùng dân tộc của Việt Nam, và là một danh nhân văn hóa thế giới.

- Vua Lê Thánh Tông (tên húy Lê Tư Thành) là vị vua thứ năm của nhà Hậu Lê, trị vì từ năm 1460 tới 1497. Ông được các sử gia đánh giá là vị vua anh minh nhất của nhà Hậu Lê. Ông cũng được xem là một nhà văn hoá và một người coi trọng hiền tài. Trong lúc trị vì, ông đã đưa ra nhiều cải cách trong hệ thống quân sự, hành chính, kinh tế, giáo dụcluật pháp.

- Cụ Nguyễn Du (tự là Tố Như), hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ, là một nhà thơ nổi tiếng thời Lê mạt, Nguyễn sơ. Cụ Nguyễn Du được xem như là một nhà thơ lớn của Việt Nam, được người Việt kính trọng gọi là "Đại thi hào dân tộc". Năm 1965, cụ được UNESCO tôn vinh là danh nhân văn hóa thế giới.

- Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ -Mạc phân tranh cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử Việt Nam mà người Việt thường truyền tụng gọi là "sấm Trạng Trình".

Hoặc gần đây hơn có các cụ:

- Tiến sĩ Nguyễn Bá Lân - người viết phú Nôm lừng danh Ngã ba Hạc.
- Nguyễn Gia Thiều - người thấu hiểu ý nghĩa của kiếp nhân sinh.
- Phạm Đình Hổ - người để lại cho đời sau nhiều công trình văn hóa.
- Nguyễn Khuyến - người đạt đến mẫu mực của thi ca cổ điển Việt Nam.
- Nguyễn Đổng Chi - người miệt mài tìm kiếm giá trị văn hóa dân tộc.
- Nguyễn Phan Chánh - người giữ hồn quê trong tranh lụa.

Kẻ hậu sinh tài sơ trí thiển, học hành chẳng tới đâu nhưng cũng biết rằng dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay có nhiều bậc danh nhân tài trí, đáng để tự hào nhưng chưa có bậc danh nhân Việt Nam nào được lập cái Học viện mang tên các cụ để nghiên cứu công trình của các cụ cả, cụ Khổng quả là có phúc lớn bằng Trời đó nha!

Báo Tây còn nói thêm: "Học viện này có chức năng giảng dạy tiếng Hoa; đào tạo giáo viên Hoa ngữ; tổ chức thi trình độ tiếng Hoa; chiếu phim Trung Quốc, tư vấn du học; tổ chức các hoạt động trao đổi văn hóa, hữu nghị... với mục tiêu cuối cùng là mở rộng ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc trên phạm vi toàn cầu.".

Cách đây 1/2 tháng, báo Người Đại Biểu Nhân Dân nhận xét về việc lập các Học viện Khổng Tử ở ngoài phạm vi lãnh thổ Trung Quốc "cách tốt nhất để Trung Quốc chứng tỏ quyền lực “mềm” của mình với thế giới".

Theo thiển ý của kẻ hậu sinh này thì cụ Khổng nên cám ơn Chính phủ Việt Nam vì đã có công vinh danh, truyền bá tư tưởng, học thuyết của cụ ở bên ngoài đất nước cụ, có công "giúp đỡ" Tổ quốc Trung Quốc của cụ chứng tỏ "
quyền lực “mềm” của mình với thế giới".

Hiện nay chưa biết cụ thể thời gian nào Học viện mang tên cụ Khổng được thành lập và cũng chưa biết Học viện được đặt ở đâu, nhưng kẻ hậu sinh này "long trọng đại" tuyên bố với cụ rằng mai mốt kẻ hậu sinh này sẽ cố công tầm cái Học viện mang tên cụ mà xin vào học lấy học để, nếu có điều kiện thì đổi sang quốc tịch của cụ luôn cho thêm phầ
n "vinh dự".

Tạ Phong Tần

.

Saturday, April 4, 2009

Lại đính chính tin đồn nhảm

Trích Blog "Công lý và sự thật" . Blogger Tạ Phong Tần
.
Mấy ngày nay không hiểu từ đâu rộ lên tin đồn tôi sắp bỏ Sài Gòn về quê ở luôn, làm bạn bè, người quen cứ liên tục hỏi thăm. Thiệt là bậy bạ hết sức. Chẳng biết kẻ tung tin đồn ấy có dụng ý xấu xa gì, vì rõ ràng tôi chưa bao giờ nói với ai là tôi có ý định về quê cả, và trong kế hoạch sắp tới của tôi không có hai chữ "về quê". Hay là kẻ ấy muốn "giết người cướp của" gì đó nên tung tin trước như vậy để bạn bè, người quen thấy vắng tôi lại cứ tưởng là tôi về quê, ai dè đó là thủ đoạn che mắt thế gian cho hành động xấu khỏi bị phát hiện?

Nhân đây tôi xin thông báo cho quý bằng hữu được biết:

- Dù VPLS Pháp Quyền không hoạt động nữa thì trong thời gian ít nhất là 2 tháng, tôi không rời khỏi địa chỉ số 30 đường số 3, căn cứ 26B, phường 7, Gò Vấp, SG. "Quý dị" nào cần tìm tôi thì cứ đến đây gặp tôi. Lúc nào đổi địa chỉ tôi sẽ có thông báo tiếp.

- Tháng trước, tôi có dự định đi học tiếng Tàu để lên Tây Nguyên "thực hiện chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước", nay nghe đồn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố "đình chỉ vô thời hạn" cái "chủ trương lớn" đó rồi (thiệt tiếc quá) nhưng kế hoạch tới của tôi không thay đổi, tức vẫn tiếp tục đi học thêm tiếng Tàu. Bởi lẽ các chú Tàu có nói: "Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bách thắng", muốn bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, hải đảo thì phải hiểu tiếng của chúng nó để biết chúng nó nói gì, nghĩ gì thì mới có hành động cụ thể được. Vạn nhất học dốt quá không thể hiểu chúng nó nói gì, nghĩ gì thì cũng biết dăm ba bài chửi có vần có điệu lên bổng xuống trầm để chửi chúng nó cho sướng mồm. Mình chửi nó mà nó trả lời để mình chửi tiếp thì mới có... hứng thú chửi; chớ chửi chúng nó bằng tiếng Việt thì mình tự chửi tự nghe, chúng nó có hiểu gì đâu, chửi như vậy mất vui.

- Tôi chưa chính thức là con chiên của Chúa (nói theo ngôn ngữ đời thường là đang thuộc diện "giáo dân dự bị", "giáo dân tiềm năng") nhưng tôi rất vui và rất hãnh diện khi nhận thấy Quý Cha, Quý Thầy và quý anh chị em giáo dân đã xem tôi như một thành viên chính thức của cộng đoàn dân Chúa. Tôi không có bà con, anh em ở đất Sài Gòn rộng lớn đủ thành phần "ngọa hổ tàng long" hay "giang hồ tứ chiếng", nhưng tôi không thấy mình cô độc bởi quanh tôi có những con người sống vì tình thương và trách nhiệm. "Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên Trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi" (Mt 12, 50). Tôi cảm thấy mình thật thanh thản vì tôi tin và phó thác con đường tôi đi cho bàn tay xếp đặt của Thiên Chúa, cũng như tôi đã ủy thác mình cho Quý Cha mà tôi tin tưởng.

Tạ Phong Tần

Hãy thoát ra

Trích Báo Sinh Viên Yêu Nước Online

Thân phận bày tôi,
thua thiệt, khổ nhục đủ đường!



Đã gần 20 năm nay, đảng CS Việt nam chọn con đường gắn bó với đảng CS Trung quốc. Sau khi bức tường Berlin đổ sập, phe xã hội chủ nghĩa tan rã, rồi Liên bang Xô viết vỡ nát, đảng CS Liên xô biến mất, nhóm lãnh đạo CS Việt nam nghĩ rằng chỉ có con đường gắn bó chặt với đảng CS Trung quốc mới giữ cho đảng CS Việt nam khỏi nguy cơ đổ vỡ.

Họ lập luận rằng Trung quốc là nước cực lớn, có tiềm lực cao về mọi mặt, cùng chung một chế độ XHCN, cùng chung một học thuyết Mác Lênin, cùng chung một kiểu cai trị Một đảng, sẽ dựa vào nhau như môi với răng, kết thân trong tình nghĩa anh em và đồng chí, cùng phát triển vững mạnh trong thế kỷ 21.

Những kẻ bênh vực cho đường lối đối ngoại kết thân chặt với Trung quốc cho rằng sự thống trị hàng ngìn năm xa xưa của Trung hoa trên đất Việt nam là thuộc về quá khứ thời phong kiến, bây giờ là tình nghĩa anh em cách mạng bình đẳng, chỉ có lợi cho 2 bên. Nghe sao mà bùi tai, ngon lành.

20 năm trước, ngay trong hàng ngũ lãnh đạo, đã có những lời cảnh báo và can ngăn nghiêm khắc. Rằng phải luôn ghi nhớ, Trung quốc thời nào cũng có 2 mặt : dân tộc và bành trướng, rằng bài học năm 1979 còn sờ sờ nóng hổi, lính Trung quốc hiếp dâm, đập vỡ đầu cụ già, vứt trẻ em xuống giếng sâu, tàn phá tan hoang 6 tỉnh phía Bắc.

Nhiều cán bộ, đảng viên hồi ấy cùng bạn bè quốc tế của Việt nam đã kêu lên lời cảnh báo :" Đó là con đường sai lầm; đó là con đường cùng quẫn; là gửi trứng cho ác (ác là con quạ đen); con đường thua thiệt đủ đường, con đường ô nhục, nhân dân ta không bao giờ chấp nhận ! "

Từ năm 1991, sau đại hội VII đảng CS Việt nam, Đặng Tiểu Bình, rồi Giang Trạch Dân, rồi đến Hồ Cẩm Đào rất thích thú thấy các đàn em cộng sản Việt nam nhẹ dạ chui tọt vào thòng lọng lót bằng nhung lụa của mình, qua những từ ngữ êm đềm của 16 chữ vàng : " láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai " (!) , còn thêm bảng vàng hạnh kiểm 4 tốt - tứ hảo : " láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt "(!) do họ đề ra và áp đặt. Ít ai biết 16 chữ vàng như là 16 mắt xích bằng thép, 4 tốt như là 4 chiếc khoá để khoá chặt đảng CS Việt nam vào cỗ xe bành trướng của Bắc kinh.


Gần 20 năm, chừng ấy năm tháng, bao nhiêu gặp gỡ qua lại, bao nhiêu nụ cười và ôm ấp, bấy nhiêu tuyên bố chung và hiệp ước, ký kết ... đã đủ để rút ra kết luận rằng cái mối quan hệ nước lớn với nước nhỏ, đảng lớn với đảng nhỏ, đại quốc với phiên thuộc nó ra sao, nhiều ngọt bùi hay cay đắng, lắm vinh hay nhiều nhục, được mất những gì cho đất nước và nhân dân ?

Đã đến lúc phải tỉnh ngộ.
Phải tỉnh ngộ một lần cho mãi mãi !

Những hiệp ước về biên giới trên đất liền, trên biển và đánh cá chung trong Vịnh Bắc bộ là những hiệp ước bất bình đẳng, không biết bao nhiêu đất, biển, đảo, không biết cơ man nào là tài nguyên hải sản đã bị mất đứt vào tay thế lực bành trướng. Bản đồ chi tiết vẽ đường biên giới trên bộ vẫn không được công bố. Sắp hết hạn đăng ký với Liên Hợp Quốc về "thềm lục địa mở rộng" theo Luật biển Quốc tế - ngày 13-5-2009 - mà Việt nam vẫn bất động vì sợ quyền uy của nước đàn anh.

Bắc kinh vẫn thực hiện cái thói thâm căn cố đế "được đằng chân lân đằng đầu" và "được voi đòi tiên". Căn bệnh tham lam bành trướng của Bắc kinh là vô hạn độ; lòng tham đất, tham biển, tham đảo, tham đường hàng hải, tham tài nguyên dưới lòng biển của họ không bao giờ là đủ cả.

Ngay cả những cái gọi là "ủng hộ, giúp đỡ, hợp tác" của Bắc kinh cũng cần nhìn cho rõ, nhiều khi chỉ là những cái bả tai hại cho nền kinh tế - tài chính và văn hoá nước ta. Mới đây, báo Nhân dân ở Hànội cùng báo Nhân dân nhật báo Bắc kinh cùng đưa tin kim ngạch trao đổi giữa 2 nước năm 2008 lên đến 20 tỷ đôla (mức cao nhất, không nước nào bằng), năm 2010 sẽ lên 25 tỷ đôla, nhưng thật ra sự buôn bán này cực kỳ bất bình đẳng và tệ hại, vì Việt nam nhập siêu từ Trung quốc đến gấp hơn 3 lần so với xuất (nhập 15 tỷ và xuất 4,3 tỷ), chưa nói đến hàng lậu, hàng " nhái ", hàng giả là khủng khiếp, rò rỉ khắp tuyến, không có cách gì bịt lại nổi. Số thuốc phiện đủ loại từ Trung quốc nhập vào Việt nam vượt xa số nhập từ Miến Điện, Lào và Cam-bốt cộng lại. Cho đến than của cả vùng Quảng Ninh bị đánh cắp đưa sang Trung quốc với sự đồng lõa của bọn "than tặc" 2 bên biên giới cũng lên đến hơn 10 triệu tấn hai năm qua ! Nạn buôn người, từ buôn phụ nữ, buôn gái trinh, buôn trẻ em cho đến bắt cóc người đem sang Trung hoa bán ở Côn minh, Nam ninh, Quảng châu đã thành hẳn một ngành kinh doanh ngầm phát đạt.

Các nhà kinh tế, thống kê Việt nam được lệnh không được nói gì đến mặt tệ hại, thiệt thòi trong quan hệ với nước đàn anh, chỉ được nói mặt tốt đẹp, đúng theo kiểu " tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại "; thật ra trong mối quan hệ ấy phía Việt nam thiệt đơn thiệt kép, lỗ nặng, chuốc lấy đủ bệnh kinh tế, hàng phế thải, hàng độc hại, như sữa và thịt nhiễm trùng, thuốc bắc giả, thuốc tây giả, tiền giả...

Đầu năm 2008, khi Trung quốc quyết định đóng cửa hàng loạt gần một trăm mỏ khai thác bôxít ở Quảng Tây và Tứ Xuyên do ô nhiễm môi trường nặng và nhiều bệnh kỳ lạ cho con người, thế là Hồ Cầm Đào gọi Nông Đức Mạnh sang, giao cho việc sớm khai thác vùng bôxít tại Đak Nông và Lâm Đồng; cam kết này được ghi trên giấy trắng mực đen. Chưa thật an tâm, sau đó Hồ lại gọi Nguyễn Tấn Dũng sang, bắt học thật thuộc bài, cam kết khoản bôxít Đak Nông, nhận việc đưa ngay 6 ngàn công nhân Tàu vào Tây nguyên để cắm chốt, thúc đẩy mạnh ý đồ chiến lược này, vì Trung quốc đang đói nhôm, cần nhôm với khối lượng lớn để đóng gấp tàu sân bay, tên lửa, tàu chiến, máy bay phản lực, vệ tinh đủ loại...



(Lạng Sơn sau cuộc chiến tranh tại biên giới phía Bắc)


Bọn trùm bành trướng ngửi thấy có một xu thế phản bác việc khai thác bôxít khá mạnh từ giới khoa học, môi trường, văn hóa ở Việt nam, thế là nhóm Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo liền cử phái viên liên tiếp sang để trấn an, từ quan văn Đới Bình Quốc đến quan võ thượng tướng Trần Bỉnh Đức. Những phái viên này của nước lớn cũng lên mặt ta đây, đòi lần lượt gặp đủ lệ bộ tứ trụ triều đình, trước hết là Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng. Họ còn đòi Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước phải sớm thu xếp sang chầu thượng quốc không chậm trễ.

Gần đây, theo cái thói " được đằng chân lân đằng đầu ", Bắc kinh diễu võ dương oai, đưa tuần dương hạm, khu trục hạm vào vùng biển Hoàng Sa - Trường Sa, coi cả vùng Đông hải và Nam hải là "ao nhà", là vùng "lưỡi bò" của họ, coi mọi tàu đánh cá của nước khác trong vùng là bất hợp pháp, sua đuổi mọi dàn khoan và tàu dịch vụ của Anh - British Petroleum, Mỹ - Exxon Mobil , Na uy ra khỏi vùng này. Bắc kinh còn than phiền rằng cho đến nay Trung quốc đã tỏ ra nhún nhường quá(!), không khai thác được tài nguyên dầu, hơi đốt và tài nguyên khác(!); họ lên gân, xý hết phần mình về mọi tài nguyên trong vùng và răn đe thiên hạ không ai được đụng đến vùng lãnh hải mênh mông gọi là vùng "lưỡi bò" do họ tự ý vẽ ra.

Rõ ràng Trung quốc lợi dụng cuộc khủng hoảng kinh tế sâu rộng trên toàn thế giới để diễu võ dương oai, lao vào thời kỳ khai thác tài nguyên sâu rộng, nhằm vươn mạnh lên thế siêu cường kinh tế - tài chính và quân sự.

Hoa kỳ đã mạnh mẽ bác bỏ mọi yêu sách của Trung quốc trong vùng biển quốc tế, nơi tự do thông thương phải được tôn trọng cho mọi nước, mọi sự tranh chấp phải giải quyết bằng thương lượng. Tàu nghiên cứu Impeccable bị tàu quân sự Trung quốc ngăn chặn, vẫn tự do làm nhiệm vụ, khi cần được tàu quân sự của Hoa kỳ đi hộ tống. Nhiều nhà bình luận quốc tế nhận xét rằng chiếc lưỡi bò của Bắc kinh thè ra quá dài, đã bị lưỡi dao Hoa kỳ cắt đứt ! Phải 5 hay 7 năm, cho đến 10 năm nữa, hải quân Trung quốc mới có thể sánh bằng 1/3 hải quân Mỹ hiện nay.

Trước áp lực tới tấp, mạnh mẽ, có thể nói thô bạo và trịch thượng của Bắc kinh, nhóm lãnh đạo ở Hànội cũng cảm thấy quá ư bị động và lép vế. Họ thực hiện một cuộc điều chỉnh chiến thuật miễn cưỡng, để mong xoa dịu sự phẫn nộ của nhân dân, của một bộ phận trong đảng, trong quân đội, trong khối cựu binh sỹ, trong không ít trí thức và văn nghệ sỹ.

Đây chính là một động thái không bình thường, như cuộc họp của Ban thường trực Mặt trận Tổ quốc với bộ tư lệnh hải quân, tháng 2 vừa qua, đề cập đến cổ động lòng yêu nước, bảo vệ vùng biển, đảo của Tổ quốc, xác định Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc chủ quyền Việt nam từ xa xưa, sau khi họ bị lên án là bán đất, bán biển ..

Ngày 17-3 gần đây, lại một động thái không bình thường: một cuộc hội thảo về đề tài "Tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông : lịch sử, địa chính trị và luật pháp quốc tế " do Học viện Ngoại giao, thuộc bộ Ngoại giao tổ chức tại Hànội. Nó khác thường là không có quan chức nào thuộc bộ ngoại giao tham dự. Có 14 bản thuyết trình đều mang danh nghĩa những nhà nghiên cứu tự do, trong đó có 2 học giả Mỹ. Nội dung đáng chú ý nhất là : coi công hàm Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958 là vô giá trị đối với Hoàng Sa, Trường Sa, vì trước đó Hiệp định Giơnevơ 1954 đã quy định lãnh thổ Nam vỹ tuyến 17 là thuộc quyền cai quản của chính quyền Miền Nam ; đề ra yêu cầu làm thành Luật chủ quyền của Việt nam tại Hoàng Sa và Trường Sa; đăng ký thềm lục địa mở rộng của Việt nam theo đúng Luật Biển trước khi hết hạn vào ngày 13-5-2009 tới...

Những động tác điều chỉnh chiến thuật rời rạc, miễn cưỡng trên đây chứng tỏ bộ chính trị 15 nhân vật độc đoán phụ thuộc thiên triều đã không thể cứ nhắm mắt vâng dạ mãi mọi mệnh lệnh ngang ngược, - thường còn đi trước cả ý muốn của thượng quốc, nay đã buộc phải có tý chút can ngăn, vì cảm thấy kẹt giữa thế trên đe dưới búa, cực kỳ hiểm ngèo. Họ cũng muốn trần tình với thiên triều là xin hay thư thả, từ từ, rồi đâu sẽ có đấy, ép quá mạnh e hỏng việc.

Giữa lúc căng thẳng, bế tắc, tiến lui đều khó này, quan hệ bên ngoài vẫn có vẻ như lắng dịu, thân thiết giữa thiên triều và phiên thuộc, nhưng bên trong đang có nhiều giằng co, mang đủ màu sắc quen thuộc : lôi kéo, mua chuộc, đe doạ và trừng phạt. Cười và lườm, tuỳ lúc. Nước lớn càng được thể, ép mạnh hơn. Bắc kinh đang ép Hànội phải dành cho đại công ty quốc doanh CHALCO - Chinese Aluminium Corporation, phần trúng thầu béo bở nhất ở Tây nguyên, đẩy lùi ALCOA của Mỹ và ALCAN của Canada.

Họ ép phải cho đưa tiếp công nhân Hoa lên đến 20 ngàn. Trung quốc trả giá cho 2 chuyện này 300 triệu đôla viện trợ không hoàn lại. Họ đã mua chính quyền cơ sở ở Đak Nông và Lâm Đồng. Các cuộc gặp cấp cao, phía VN phải nhắc lại thuộc lòng 16 chữ vàng và 4 tốt - Tứ Hảo; và phải có lời cam kết rõ : đưa hợp tác toàn diện giữa 2 nước anh em vào chiều sâu (!). Chiều sâu là lòng tham không đáy của nước đại bành trướng. Vẫn chưa hết, Trung quốc đang ép mạnh để hầu như ngành điện, than, ximăng, phân đạm, cả phần lớn ngành lọc dầu vào tay Trung quốc. Lại thòng lọng đấy !

Những tháng sắp đến sẽ là thời gian thử thách hiểm nghèo cho chế độ toàn trị. Nhóm lãnh đạo ở Hànội đã cảm thấy thế trên đe dưới búa. Họ buộc phải giữ thế phòng ngự. Họ buộc phải làm những động tác giả, nói về chủ quyền và lòng yêu nước. Nhưng họ chui quá sâu vào thòng lọng bành trướng, cắn phải câu, không nhả ra được nữa. Cần thôi thúc họ, cần cảnh tỉnh họ, nhất là cảnh tỉnh đại khối đảng viên bình thường, ở cơ sở, đông đảo người còn có tư cách và lương tri.

Họ có dám thông qua Luật về Chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, có dám cùng Hoa kỳ và các nước Đông Nam Á cắt cái lưỡi bò bành trướng xuống phương Nam hay không ? Họ có dám mở hội nghị khoa học theo đúng nghĩa để thảo luận rành rọt về "nên và không nên" khai thác bôxít không? Họ có dám chuẩn bị đăng ký kịp thời hạn - trước 13-5-2009, thềm lục địa mở rộng của nước ta hay không ? Họ có hãm bớt số người Hoa đưa vào Tây nguyên hay không ?
Bộ chính trị hiện tại đã khinh thường bỏ ngoài tai những lời khuyên, can ngăn về phá nhà quốc hội cũ, xây nhà quốc hội mới, làm hư hại di tích lịch sử Cung điện Thăng long vô giá. Nay vẫn cứ như vậy ư ? Họ sẽ phải trả giá rất đắt.

Lúc này, mùa xuân - hè này là dịp hiếm có để toàn dân ta bày tỏ lời cảnh báo nghiêm khắc, lời khuyên răn chân thành cho bộ chính trị tự nắm độc quyền cai quản đất nước, rằng :
- hãy nhìn cho rõ tình hình; gần 20 năm phụ thuộc, Bắc thuộc là quá đủ, quá rõ rồi. Thế lực bành trướng Đại Hán tham lam vô độ, không chơi được với chúng đâu. Chúng chuyên dở trò "được voi, đòi tiên", "được đằng chân, lân đằng đầu ", rất khổ cực nhục nhã cho những ai mắc mưu chúng.
- hãy quyết đoán một lần, dứt khoát một lần, xây dựng nền tự chủ, đứng vững trên đôi chân dân tộc, kết chặt thành một khối, với chế độ dân chủ tiến bộ, dựa vào thế giới dân chủ văn minh, dựa vào các nước bạn ở Đông Nam Á, giữ quan hệ đúng mức, bình đẳng, quan hệ láng giếng tốt có đi có lại với Trung quốc.

Hãy mở ra một cuộc thảo luận rộng khắp về khai thác bôxít, và nhân đó về đường lối đối ngoại, chọn bạn tốt mà chơi, đứng vững trên đôi chân mình, gắn bó với các nước dân chủ, tiến bộ, tôn trọng luật pháp, từ bỏ và lánh xa các chế độ độc đoán bóp ngẹt tự do, chà đạp luật pháp.

Bùi Tín .
Paris 26-3-2009.

Friday, April 3, 2009

Quảng Ngãi: Gặp văn bản năm 1835 về Quần đảo Hoàng Sa

Trích Viêt Báo Online

QUẢNG NGÃI: Gặp Văn Bản Năm 1835 VỀ Đảo HOÀNG SA

Theo báo Lao Động, ngày 31/3/2009, tại tỉnh Quảng Ngãi, gia đình ông Đặng ngày Tôn - ở thôn Đồng Hộ, xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn - đã báo cáo với ngành văn hoá tỉnh Quảng Ngãi về một tài liệu quan trọng liên quan đến đội Hoàng Sa. Đó là sắc chỉ của Vua Minh Mạng phái một đội thuyền gồm 3 chiếc, với 24 lính thuỷ ra đảo Hoàng Sa vào ngày 15 tháng tư năm Minh Mạng thứ 15 (Ất Mùi - 1835).
Báo Lao Động ghi nhận rằng theo sắc chỉ, ông Võ Văn Hùng, thành viên trong đoàn thuỷ quân ở Lý Sơn, phải chọn những thanh niên khoẻ mạnh và giỏi nghề bơi lặn để gia nhập đội thuyền, giao Đặng Văn Siểm (dòng họ ông Đặng Tôn, người đang giữ tài liệu) kham việc đà công (người dẫn đường), Võ Văn Công phụ trách tiếp tế.
Báo Lao Động dẫn lời tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, nhà nghiên cứu văn hoá, cho biết đây là sắc chỉ duy nhất mà các dòng tộc trên đảo Lý Sơn còn lưu giữ liên quan đến đội thủy quân từng vâng mệnh triều đình nhà Nguyễn ra Hoàng Sa để bảo vệ hòn đảo này từ gần 200 năm trước.