Translate

Tuesday, March 24, 2009

Lòng yêu nước của người dân trong nước vẫn cao độ

Rất cảm động khi đọc bài báo của báo Tuổi Trẻ trong nước nêu lên được những tâm lòng yêu nước của người Việt Nam.

Cần giải quyết vấn đề biển Đông bằng công pháp quốc tế

TT (Hà Nội) - Đó là quan điểm chung của các học giả, nhà ngoại giao, nhà sử học... tại hội thảo “Tranh chấp chủ quyền tại biển Đông: lịch sử, địa chính trị và luật pháp quốc tế” diễn ra lần đầu tại VN do Chương trình nghiên cứu biển Đông, Học viện Ngoại giao tổ chức ngày 17-3.

Đường màu đỏ trên bản đồ là vùng biển hình “lưỡi bò” mà Trung Quốc tự vẽ để giành chủ quyền vùng biển Đông

“Về bản chất, biển Đông là vấn đề của toàn thế giới. Trong khi Trung Quốc đã theo đuổi vụ tranh chấp này thành quá trình. Vì thế, về mặt ngoại giao, phải lưu ý phản ứng của Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, ASEAN, Liên Hiệp Quốc và Tổ chức Thương mại thế giới trước thái độ của Trung Quốc trong cuộc tranh chấp này. Về mặt quốc tế, có thể dựa vào ba điểm tựa là Tòa án công lý quốc tế (trên cơ sở hai bên công nhận), Công ước luật biển năm 1982 (không sử dụng với nghĩa đưa tranh chấp ra giải quyết mà với tư cách yêu cầu một giải thích chính thức của những cơ quan đàm phán), Công ước về hiệp ước ký kết.

Quan hệ quốc tế tốt sẽ tạo ra cơ hội đưa vấn đề ra công luận, chỉ có thể giải quyết vấn đề khi sát cánh cùng thế giới.” Đó là kiến giải chính của Ailien Tran - ĐH California, hiện là nghiên cứu sinh chương trình Fulbright (Mỹ) về vấn đề biển Đông - được khá nhiều sự đồng thuận tại hội thảo.

Quang cảnh hội thảo - Ảnh: Cù Zap

Khẳng định lập trường rõ ràng của VN đối với Hoàng Sa, Trường Sa

Ngày 17-3, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của VN trước việc Trung Quốc đưa tàu Ngư Chính 311 ra hoạt động tại biển Đông, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Dũng nói:

“Lập trường của VN đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là rất rõ ràng. VN quan tâm và sẽ theo dõi sát hoạt động của tàu Ngư Chính 311 ở biển Đông. Mọi hoạt động khai thác hải sản và tài nguyên biển ở biển Đông cần được thực hiện trên cơ sở tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển của các nước liên quan theo luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển năm 1982”.

TTXVN

Các học giả đưa ra những bằng chứng khoa học mới nhất để khẳng định chủ quyền của VN trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, từ đó có cơ sở pháp lý, lịch sử vững chắc xác lập vùng chủ quyền VN trên biển Đông, tạo tiền đề cho sự đồng thuận của luật pháp, công pháp cũng như dư luận quốc tế về những giải pháp hòa bình cho những tranh chấp trên biển Đông.

Các nhà sử học Nguyễn Nhã, Nguyễn Quang Ngọc đã minh chứng bằng các tài liệu từ châu bản triều Nguyễn, sử Trung Quốc, bản đồ cổ Trung Quốc đến các tài liệu phương Tây để khẳng định rằng: VN là quốc gia đầu tiên xác lập chủ quyền tại quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Trên tất cả các tài liệu của Trung Quốc, cái tên Tây Sa và đảo Nam Sa (tên mà Trung Quốc dùng để gọi Hoàng Sa và Trường Sa của VN) chỉ xuất hiện từ năm 1909.

Trong khi đó, tài liệu xưa nhất của VN còn lưu giữ được là Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư - năm 1686, ghi rõ hằng năm chúa Nguyễn đưa 18 chiến thuyền đến khai thác ở Bãi Cát Vàng, còn tư liệu trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, năm 1776 mô tả kỹ càng về Hoàng Sa, trong đó có khẳng định chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hoàng Sa bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải.

Tài liệu quan trọng nhất là châu bản triều Nguyễn, thế kỷ 19, lưu những bản tấu, phúc tấu của đình thần và các bộ, những chỉ dụ của nhà vua về việc xác lập chủ quyền của VN trên quần đảo Hoàng Sa: vãng thám, đo đạc, vẽ họa đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc…

Chính tài liệu của người Trung Quốc (Hải ngoại ký sự - Thích Đại Sán) năm 1696 đã khẳng định chúa Nguyễn sai thuyền ra khai thác các sản vật từ các tàu đắm trên quần đảo Vạn Lý Trường Sa.

Tài liệu của phương Tây thì còn nhiều và dễ tìm kiếm hơn. Tài liệu xưa nhất còn lưu được là Nhật ký trên tàu Amphitrite (1701) xác nhận Paracels (tức Hoàng Sa) là một quần đảo thuộc về nước An Nam. An Nam đại quốc họa đồ của giám mục Taberd xuất bản năm 1838 ghi rõ Paraceu Cát Vàng với tọa độ rõ ràng như hiện nay - Cát Vàng chính là tên chữ Nôm của Hoàng Sa. The journal of the Asiatic society of Bengal, Vol VI đã đăng bài của giám mục Taberd xác nhận vua Gia Long chính thức giữ chủ quyền quần đảo Paracels…

Sự hiểu biết về lịch sử, địa chính trị và luật pháp quốc tế của từng người dân và xã hội của các quốc gia có liên quan, theo các học giả, sẽ góp phần tạo dư luận với Chính phủ để các bên tìm tiếng nói chung cho việc giải quyết tranh chấp xảy ra trên biển Đông.

Vị thế biển Đông

Các nhà khoa học tham gia hội thảo cho rằng cần phải xác định lại và quảng bá đến mọi tầng lớp xã hội cả VN và nước ngoài về vai trò, vị trí của biển Đông trên bản đồ địa chính trị thế giới: biển Đông là nơi giao nhau của nhiều tuyến hàng hải quan trọng bậc nhất thế giới, 400 tàu lớn qua lại mỗi ngày, 25% mậu dịch và 1/2 lượng dầu tiêu thụ của thế giới qua biển Đông. 80% dầu thô của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc nhập khẩu đi qua biển Đông. Biển Đông có trữ lượng dầu mỏ, khí đốt, phốt phát và nhiều khoáng sản quý hiếm. Trữ lượng dầu mỏ ở thềm lục địa là 29,1 tỉ tấn, khí đốt là 5,8 tỉ m3.

Thu Hà - Nga Linh

Chính trị - Xã hội

Thứ Hai, 23/03/2009, 07:53 (GMT+7)

Gặp gỡ đầu tuần

Cần khơi dậy ý thức giữ gìn biển đảo của cha ông

Ảnh: K.H.

TT - “Một trong những truyền thuyết xa xưa nhất của dân tộc, câu chuyện mẹ Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng, 50 người con lên rừng, 50 người con xuống biển cho thấy cha ông ta ý thức rất rõ về không gian lãnh thổ sinh tồn của người Việt. Hay câu chuyện Mai An Tiêm, tại sao là ngoài hoang đảo? Đó là ý thức khai phá không chỉ đất liền mà cả ngoài biển khơi, nơi vừa mang lại sự giàu có vừa gắn kết máu thịt với đất liền”...

Đại biểu Quốc hội, nhà sử học DƯƠNG TRUNG QUỐC (ảnh) nói như trên, trong cuộc gặp gỡ đầu tuần với Tuổi Trẻ về ý thức của người Việt đối với chủ quyền biển đảo quốc gia.

Ông Dương Trung Quốc nói:

- Ý thức về biển đảo thật ra đã ăn sâu vào tiềm thức dân tộc. Điều này cũng dễ hiểu vì nhìn lên bản đồ Tổ quốc sẽ thấy giang sơn gấm vóc từ ngàn đời nay đã trải dài bên biển cả. Sử sách còn lưu lại chứng minh rằng trong điều kiện đương thời, các triều Tiền Lê, Lý đã xây dựng được lực lượng hải quân với hàng trăm chiếc thuyền để trông coi vùng biển. Năm 1172, Lý Anh Tông đích thân đi tuần tra các đảo và vẽ bản đồ biển đầu tiên cho đất nước…

Các chúa Nguyễn đã xác lập chủ quyền của người Việt trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ thế kỷ 17. Thời chúa Nguyễn, năng lực đóng tàu của người VN được đánh giá rất cao, lịch sử đã ghi nhận những hạm thuyền của người Hà Lan phải chịu thua trận trước thủy quân chúa Nguyễn.

Hướng tầm nhìn ra biển Đông

* Trung ương Đảng đã ban hành nghị quyết về chiến lược biển, nêu rõ định hướng đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển. Như vậy phạm vi không gian chiến lược đã được mở rộng?

- Nhìn vào nền kinh tế sẽ thấy từ hải sản, du lịch, hàng hải đến dầu khí… đều đóng góp tỉ trọng lớn trong GDP. Nhìn rộng ra, biển Đông có vị trí chiến lược hết sức quan trọng không chỉ với sự phát triển của nước ta mà với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Trước đây, khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta thì một trong những mục đích chính ban đầu là tạo ra huyết mạch giao thông từ cửa biển Hải Phòng thâm nhập vào phía tây nam Trung Quốc. Đó là lý do họ xây dựng đường sắt Hải Phòng - Vân Nam hết sức tốn kém.

"Tại Quốc hội, khi chúng ta thông qua việc ký kết Hiệp định phân định vịnh Bắc bộ, tôi đã phát biểu rằng một trong những công việc đầu tiên cần làm là phải tuyên truyền đến toàn dân. Bởi vì những người không hiểu đầy đủ mới dễ dẫn đến ngộ nhận."

DƯƠNG TRUNG QUỐC

* Chính vì tầm quan trọng của biển Đông, lâu nay các quốc gia và vùng lãnh thổ có liên quan ngoài những hành động của nhà nước còn huy động đông đảo giới trí thức tham gia nghiên cứu. Còn chúng ta đến tháng 3-2009 mới có một hội thảo đầu tiên về chủ quyền VN tại biển Đông?

- Cuộc hội thảo vừa rồi có thể nói là chậm, nhưng chậm còn hơn không. Điều quan trọng và cấp bách trong bối cảnh hiện nay là kết nối hiện tại với ý thức vốn có của dân tộc về biển đảo, khơi dậy di sản về năng lực chinh phục và quản lý biển đảo của cha ông chúng ta.

Giờ đây phải hướng mối quan tâm và tầm nhìn của người dân ra biển Đông. Tất nhiên cần tăng cường đầu tư của Nhà nước để người dân có điều kiện thực hiện mối quan tâm của mình. Nước ta nằm trên bao lơn nhìn ra Thái Bình Dương, vấn đề không chỉ nhìn ra mà phải đi ra. Muốn phát huy trong cộng đồng khát vọng chinh phục biển cả, ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia, cần phải tạo thói quen đi biển, tham gia giao thông bằng đường biển.

Từ thời thuộc địa Pháp, đường giao thông Bắc - Nam chủ yếu là đường biển, đến năm 1936 mới có đường xe hỏa. Năm 1919, ông Bạch Thái Bưởi không chỉ là vua sông nước ở Bắc bộ mà đã có chí hướng đóng con tàu Bình Chuẩn đi từ Hải Phòng vào Sài Gòn… Một thời kỳ dài chúng ta đánh mất thói quen tham gia giao thông trên biển. Gần đây Vinashin đầu tư tàu Hoa Sen nhưng chưa thật sự thu hút được nhiều sự quan tâm. Tôi nghĩ rằng chỉ cần một lần đi dọc bờ biển đất nước, từ ngoài biển nhìn vào Tổ quốc, mỗi người trong chúng ta sẽ thấy Tổ quốc giàu đẹp hơn và gần gũi hơn bao giờ hết.

Cần có những cuộc hành hương lên biên giới, hải đảo

* Ông vừa đề cập chuyện đầu tư của Nhà nước, có một thực tế theo phản ảnh của các nhà khoa học thì để tìm kiếm các chứng cứ lịch sử về chủ quyền VN ở biển Đông, họ phải làm việc trong môi trường và hoàn cảnh rất khó khăn. Nhiều tư liệu quý về VN hiện đang được lưu trữ ở nước ngoài nhưng khó tiếp cận vì kinh phí ít?

- Chúng ta có lợi thế rất lớn nằm ở cộng đồng người VN tại nước ngoài. Nếu chúng ta huy động được sức mạnh này thì vừa kéo bà con về lại gần trách nhiệm chung với đất nước, vừa khai thác được nguồn lực của bà con ở các nước sở tại đang lưu trữ tài liệu về VN.

Tôi có quan hệ cá nhân với một số trí thức Việt kiều, họ đều rất quan tâm đến chủ quyền của VN ở biển Đông, hơn nữa họ còn tập hợp nhiều nghiên cứu quý giá trên mạng Internet để chia sẻ. Đầu tư của Nhà nước là quan trọng, nhưng không nên nghĩ một chiều mà phải tạo ra trách nhiệm chung của toàn dân tộc, điều này thì tiền bạc nào cũng không thể có được.

Ngư dân tỉnh Bình Thuận đánh bắt hải sản ở quần đảo Trường Sa của VN - Ảnh: N.C.T.
* Mỗi người Việt đều có tình yêu Tổ quốc, nhưng việc tuyên truyền, phổ biến những kiến thức về Luật biển quốc tế và hệ thống pháp luật về biển, đảo của Nhà nước ta, những cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của VN đối với các quần đảo trên biển Đông, đặc biệt hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, để mỗi người hiểu rõ vấn đề cũng là quan trọng, thưa ông?

- Cần phải có những giải pháp cụ thể. Điều tôi hết sức băn khoăn là tại sao đến giờ chúng ta vẫn chưa có được một bảo tàng hàng hải. Mới đây chúng tôi tiếp ông giám đốc Bảo tàng Hàng hải thế giới, ông ấy cực kỳ say mê với những di sản văn hóa hàng hải VN. Hiện ông ấy đang hợp tác với chúng tôi cố gắng khai thác tối đa bãi chiến trường xưa của cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Chúng ta có cả một di sản to lớn như thế nhưng hiểu biết về nó rất ít.

Đến nay bãi cọc Bạch Đằng đang mai một dần nhưng chúng ta đã không có những sự đầu tư cần thiết để nghiên cứu tại sao ngày xưa cha ông đã làm được một điều mà không có quốc gia nào trên thế giới làm được. Nhiều chuyên gia nước ngoài cho rằng VN là quốc gia có những đóng góp to lớn về hàng hải xa xưa, ví dụ có giả thuyết nói bè mảng Thanh Hóa chính là phương tiện sớm nhất nối liền Đông Nam Á với nhiều vùng đảo ngoài Thái Bình Dương, hay ghe bầu của xứ Quảng có năng lực rất cao về vận tải…

Phải chăng thế hệ hôm nay sẽ tự tin hơn nhiều khi ra biển nếu họ hiểu rằng cha ông họ từng là những thủy thủ giỏi. Đoàn thanh niên nên đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động hướng về biên giới, hải đảo, và không dừng lại ở đó mà ngay từ trên ghế nhà trường phải tạo lập cho các thế hệ người Việt ý thức chinh phục biển cả.

Tại sao các bạn trẻ không tổ chức những cuộc hành hương lên cột cờ Lũng Cú, đến đảo Lý Sơn nơi xuất phát của hải đội Hoàng Sa thuở trước? Khi mỗi người đứng ở nơi biên cương hay hải đảo của Tổ quốc và suy nghĩ, sẽ tạo ra cả một sự thay đổi to lớn trong nhận thức.

Huy động các thành phần kinh tế phát triển kinh tế biển đảo

Trong hai ngày 20 và 21-3, Ban Tuyên giáo T.Ư đã tổ chức hội nghị toàn quốc tổng kết công tác tuyên truyền biển đảo, phân giới, cắm mốc và thông tin đối ngoại 2008, triển khai nhiệm vụ 2009.

Phát biểu tại hội nghị, Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm - trưởng Ban chỉ đạo nhà nước về thông tin đối ngoại - cho rằng ba lĩnh vực nói trên dù đã được cải tiến nhưng còn một số hạn chế, cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung và hình thức.

Theo Phó thủ tướng, nếu như năm 1999 còn có tâm lý không muốn thông tin rộng rãi về việc đàm phán phân giới cắm mốc, thì nay cần tăng cường thông tin cho người dân biết. Khẳng định một đề án thông tin tuyên truyền đối ngoại đang được khẩn trương hoàn thành, Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm yêu cầu các cấp ủy Đảng phải chủ động, tăng cường vai trò trong công tác thông tin đối ngoại, hướng tới giải thích cho Việt kiều, đặc biệt là giới trẻ học sinh, sinh viên ngoài nước hiểu tình hình VN, tăng cường đoàn kết xây dựng đất nước.

Phương hướng công tác tuyên truyền biển đảo năm 2009, theo Ban Tuyên giáo T.Ư, cần thật sự chủ động, bài bản, tránh tập trung theo đợt hoặc theo sự kiện nhằm phát huy hiệu quả các nguồn lực bên trong, tranh thủ hợp tác quốc tế để phát triển kinh tế biển và hải đảo, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Ngoài ra, VN sẽ huy động các thành phần kinh tế tham gia phát triển kinh tế biển đảo để góp phần phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh quốc phòng.

C.V.KÌNH

Võ Văn Thành thực hiện


Monday, March 23, 2009

Sự kiện biển Đông và chủ quyền lãnh thổ

Hiện nay, tại biển Đông, vấn đề tranh chấp chủ quyền càng ngày càng trở nên căng thẳng. Sau vụ đụng độ giữa tàu của hải quân Hoa Kỳ và tàu của Trung Cộng, gần đây Phi Luật Tân lại ra luật về thềm lục địa và hải phận của Phi Luật Tân quá rông khiến cho Trung Cộng và Việt Nam Cộng Sản phải lên tiếng. Mới đây nhất là hãng dầu BP của Anh rút ra không khai thác tại vùng biền Nam Côn Sơn mà Việt Nam cho là lý do thương mại. Rồi nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam lại cho các nhà học giả và trí thức trong nước hội thảo về vấn đề biển Đông. Sự kiện biển Đông và chủ quyền lãnh thổ vẫn là một bài toán hóc búa cho nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam. Chỉ bao giờ Cộng Sản Việt Nam biết đặt chủ quyền đất nước nặng hơn quyền lợi của đảng, cho người dân thật sự làm chủ bản thân mình và đất nước, lúc đó mới có thể vận dụng lòng dân , tranh thủ được lòng yêu nước của đồng bào Việt Nam hải ngoại, tìm kiếm được sự ủng hộ của các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Và cũng đã gần kề ngày đệ trình quy ước thềm lục địa quốc gia cho quốc tề. Cần phải làm nhanh và làm gấp thì mới mong có thể bảo tồn được vùng biển quý giá của Tổ Quốc, khỏi thẹn lòng với Tiền Nhân đã dày công khó nhọc để có được cơ đồ như ngày hôm nay.

Sunday, March 22, 2009

Nhân quyền Canada lên án Hà Nội: Đòi quốc tế áp lực

Trích Việt Báo Online

Nhân Quyền Canada Lên Án Hà Nội, Đòi Quốc Tế Áp Lực

Luật sư Alain Ouellet.


Luật sư Alain Ouellet, Chủ Tịch Ủy Ban Yểm Trợ Dân Chủ và Tự Do Tôn Giáo cho Việt Nam, hôm Thứ Tư 18-3-2009 đã gửi bản văn lên án nhà nứơc Hà Nội vi phạm nhân quyền, và kêu gọi chính phủ Canada áp lực Hà Nội.
Bản dịch tiếng Việt viết như sau.
THÔNG CÁO CỦA ỦY BAN YỂM TRỢ DÂN CHỦ VÀ TỰ DO TÔN GIÁO CHO VIỆT NAM
Ủy Ban Yểm Trợ Dân Chủ và Tự Do Tôn Giáo cho Việt Nam xin lưu ý công luận về một vi phạm nhân quyền trầm trọng do nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam vừa thực hiện.
Ngày 3 tháng 3 năm 2006, luật sư Lê Trần Luật, người phụ trách biện hộ cho tám công dân Công Giáo Thái Hà trong vụ kháng kiện chống lại bản án vu khống họ “phá hoại tài sản quốc gia và gây rối trật tự công cộng”, đã bị ngăn không cho lên chuyến bay Sài Gòn – Hà Nội để đi gặp các bị cáo. Ngay sau hành động bất hợp pháp này, công an đã cưỡng bức luật sư đưa về trụ sở công an và giữ ông ở đó suốt ngày. Các luật sư phụ tá Hùng và Đạt và cô trợ lý Tạ Phong Trần thuộc văn phòng luật của ông cũng bị triệu tập tới trụ sở công an và liên tiếp bị hỏi cung. Một tuần lễ trước đó, ngày 25-02-2009, nhân viên công lực đã đến văn phòng của ông để lục soát không báo trước, lấy đi tất cả các máy photocopy và máy vi tính với lý do thi hành lời yêu cầu của một công ty cạnh tranh sau một cuộc tranh chấp có tính cách tư nhân.
Những đàn áp trắng trợn này một lần nữa cho thấy nhà cầm quyền Việt Nam khinh thường luật lệ quốc tế và lương tâm nhân loại. Chính luật sư Lê Trần Luật đã tố cáo: “Chúng ta đang sống trong một chế độ mà quyền con người đã bị chà đạp một cách thô bạo. Ngay cả bản thân tôi là một luật sư, cũng trở thành nạn nhân của vấn nạn cường hào thì thử hỏi những người dân oan, những người thấp cổ bé họng khác thì họ chịu biết bao sự đau khổ?”
Chúng tôi cực lực lên án việc vi phạm nhân quyền có dự mưu của nhà cầm quyền Việt nam. Chúng tôi kêu gọi chính phủ Canada và những người thiện tâm hãy thi hành những biện pháp cần thiết để chấm dứt luôn việc vi phạm này.
Ngày 18 – 03 – 2009
Luật sư Alain OUELLET
Chủ Tịch
Ủy Ban Yểm Trợ Dân Chủ và Tự Do Tôn Giáo cho Việt Nam
151 Atwater
CP 72126
Montreal, QC H3J 2Z6
Canada

Câu chuyện hàng hóa ứ đọng của Trung Cộng và Thái Lan tràn vào Việt Nam

Trích VietNamNet

Cảnh giác với hàng tồn kho từ bên kia biên giới
22:41' 21/03/2009 (GMT+7)

"Do khủng hoảng kinh tế, hàng hóa Trung Quốc, Thái Lan “tắc” đường vào châu Âu, Mỹ… sẽ tìm mọi cách tiêu thụ vào thị trường Việt Nam thông qua con đường buôn lậu, gian lận thương mại" - cảnh báo này được đưa ra tại hội nghị triển khai công tác chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại năm 2009, tổ chức ngày 21/3 tại Hà Nội.

Buôn lậu giảm nhờ… khủng hoảng kinh tế

Nếu đầu năm 2008 hoạt động buôn lậu diễn ra rất sôi động thì từ cuối năm ngoái đến nay tình hình buôn lậu đã có xu hướng giảm mạnh. Theo đại tá Bùi Hà, Phó Cục trưởng Cục Điều tra tội phạm kinh tế, Bộ Công An, nguyên nhân chính là do tác động của… khủng hoảng kinh tế thế giới.

Buôn lậu giảm nhờ ... khủng hoảng kinh tế thế giới! - Ảnh VNN

Tác động này theo ông Hà được thể hiện rõ nhất ở hai “điểm nóng” của năm 2008 là xuất lậu than, khoáng sản sang Trung Quốc và xuất lậu xăng dầu ở các tỉnh phía Nam sang Campuchia, Thái Lan. Xuất lậu than, khoáng sản đã giảm rõ rệt trong khi xuất lậu xăng dầu không còn.

Tuy nhiên, việc nhập lậu hàng tiêu dùng, nhất là từ Trung Quốc vào nội địa vẫn còn rất “nóng” như thuốc lá, rượu, bia, vải, đồ may mặc, gia cầm, sữa, mỹ phẩm… Đặc biệt, thời gian qua nổi cộm hiện tượng nhập khẩu hàng giả, hàng nhái từ Trung Quốc và một số nước xung quanh như phân bón, gas, tân dược, hàng may mặc….

TIN LIÊN QUAN
Tình hình sẽ còn “nóng bỏng” hơn vào năm nay. Theo cảnh báo của Ban chỉ đạo 127 Trung ương hàng Trung Quốc, Thái Lan (nhất là hàng điện tử thông dụng) do khủng hoảng kinh tế, bị thu hẹp thị trường ở châu Âu, Mỹ… sẽ tìm mọi cách tiêu thụ hàng tồn vào thị trường Việt Nam.

Từ thực tế lượng hàng nhập chính thức không đáng kể so với hàng nhập lậu của một cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn) có thể thấy trước con đường vào Việt Nam của các mặt hàng trên vẫn chủ yếu là nhập lậu.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Tú dự báo, các chủ “đầu nậu” sẽ tập trung vào các mặt hàng nhạy cảm, có lợi nhuận lớn như thuốc lá, rượu, đồ điện tử dân dụng, vải, mỹ phẩm, dược phẩm, sắt thép, gỗ… trên tuyến biên giới đất liền. Còn các vùng biển như Quảng Ninh, Hải Phòng, Kiên Giang... sẽ là địa bàn xuất lậu các mặt hàng như quặng, khoáng sản, than, gỗ, động vật hoang dã…

Ở góc độ an ninh trật tự, đại tá Bùi Hà đặc biệt lo ngại về tình trạng nhập lậu, buôn bán, tàng trữ pháo từ Trung Quốc. Đáng lưu ý, nguyên nhân khiến tình hình vi phạm về pháo gia tăng mạnh năm qua có lý do từ việc phía Trung Quốc khuyến mãi bằng…pháo hoặc bán pháo với giá rất rẻ cho các chủ hàng Việt Nam sang mua hàng.

Chống buôn lậu: khó- vì sao?

Năm nào cũng vậy, hội nghị chống buôn lậu luôn tề tựu đầy đủ các lực lượng chức năng: quản lý thị trường, công an, bộ đội biên phòng, hải quan… đến các sở ban ngành từ Trung ương đến địa phương.

Thế nhưng chính Ban chỉ đạo 127 cũng thừa nhận hiệu quả đấu tranh ở một số đơn vị chưa cao, chưa tương xứng với khả năng nhất là đấu tranh với các đường dây tổ chức buôn lậu quy mô lớn, xuyên quốc gia.

Một số địa phương vì lợi ích cục bộ nên chưa triệt để chống buôn lậu. Ảnh Phan Hùng

Lý do quen thuộc của các lực lượng chức năng luôn là: địa bàn rộng, lực lượng mỏng, kinh phí thấp trong khi các đối tượng buôn lậu ngày càng “chuyên nghiệp” về tổ chức lẫn phương tiện họat động.

Báo cáo của Ban chỉ đạo 127 Trung ương cho biết đối tượng buôn lậu được trang bị máy thông tin, liên lạc không chỉ để điều hành việc vận chuyển hàng hóa mà còn để theo dõi ngược.. lực lượng chức năng.

Thứ trưởng Nguyễn Cẩm Tú than phiền: “Một tàu chống buôn lậu hễ nổ máy lên là đã mất 15-20 triệu, chạy ra ngoài khơi quay về là mất 200 triệu. Nếu bắt được hàng lậu mới được trích lại 2%, nhiều khi không đủ tiền xăng dầu, còn không bắt được hàng lậu thì không biết lấy tiền đâu mà bù vào…”

Về nhân lực, dù năm 2008, Chính phủ đã bổ sung cho các chi cục quản lý thị trường trên toàn quốc gần 1.000 biên chế nhưng năm nay “bài ca” thiếu người vẫn được đưa ra để giải thích cho việc “lực bất tòng tâm”.

Tuy nhiên, bên cạnh những nguyên nhân thiếu người, thiếu tiền, có nguyên nhân không nhỏ từ chính các lực lượng chức năng và các địa phương.

Theo Ban chỉ đạo 127, năm 2008 các tỉnh, thành phố trong cả nước đã kiểm tra, xử lý 194.184 vụ vi phạm pháp luật, tịch thu tổng cộng 2.134 tỷ đồng, trong đó có 763 tỷ đồng trị giá hàng vi phạm. Xử phạt hành chính và 944 tỷ đồng tiền phạt và truy thu thuế.

Đại tá Hà thừa nhận, việc nắm tình hình, nghiệp vụ ở nhiều địa phương còn sơ sài, chưa chủ động phát hiện, đấu tranh với các ổ nhóm, tổ chức tội phạm lớn. Việc điều tra liên tỉnh, tuy lực lượng công an có làm nhưng chưa đúng với tình hình, kết quả điều tra, truy tố những vụ án buôn lậu chiếm tỷ lệ thấp, nặng về xử lý hành chính…

Về phía địa phương, theo nhận định của Ban chỉ đạo 127, do nghiêng về lợi ích cục bộ nên một số tỉnh chưa triệt để chống buôn lậu, nếu có làm thì chiếu lệ, qua loa khiến tình trạng buôn lậu vẫn thường xuyên xảy ra.

Tuy nhiên, nguyên nhân chính yếu nhất khiến hiệu quả của công tác chống buôn lậu không cao chính là công tác chống buôn lậu tuy được giao cho nhiều ngành, nhiều lực lượng nhưng thiếu đồng bộ, thiếu phối hợp.

Đó cũng là lý do, đại diện Bộ Y tế phải đề nghị Ban Chỉ đạo 127 cần có văn bản quy định hoặc quy trình xử lý cụ thể về việc trao đổi thông tin giữa các ngành chức năng nhằm nâng cao hiệu quả chống buôn lậu.

Chỉ khi có sự phối hợp chặt chẽ các lực lượng chống buôn lậu mới thực sự thoát khỏi tình trạng năm nào cũng phải kêu “địa bàn rộng, lực lượng mỏng” để rồi “lực bất tòng tâm” khi buôn lậu gia tăng.

  • Phan Hùng

Friday, March 20, 2009

Biết bao giờ ta gặp lại

SàiGòn ấy vẫn là niềm thương và nuối tiếc
Của một thời dĩ vãng xa xưa
"Hòn Ngọc Viễn Đông" Ôi biết mấy tự hào
Thương nhớ lắm thủ đô với bao niềm kiêu hãnh!

Ba mươi mấy năm qua, người SàiGòn xưa chẳng còn bao nhiêu nữa
Những lớp người hỗn mang làm ô uế đất SàiGòn
Ta đau xót lệ buồn hoen đôi mắt
Biết bao giờ ta gặp lại, người ơi!

PHP
03/19/09

Đèo Ngang

Có câu chuyện vui cuối tuần:

ĐÈO NGANG


Trên đường từ Bắc vào Nam phải qua đèo Ngang. Khi qua đèo, một đồng chí Bí
thư Bộ chính trị lên tiếng :


- Đất nước mình mấy trăm năm nay làm ăn không khấm khá chắc cũng tại cái
đèo này. Nó nằm ngang chình ình nên tổ tiên ta đã đặt tên cho nó là Đèo
Ngang. Chính vì vậy nên làm ăn không phất lên được.

Mọi người thắc mắc hỏi tại sao ? Một đồng chí Bí thư trẻ hăng hái phát
biểu:


- Có gì đâu mà không hiểu. Đèo Ngang là Đang Nghèo! Nếu bây giờ mình đổi
lại là Đèo Nghếch thì Đếch Nghèo.


Thế là cả Bộ chính trị đồng ý đổi tên thành Đèo Nghếch. Thật là linh ứng.
Sau vài năm, kinh tế phát triển đi lên, làm ăn khấm khá, dân chúng ấm no.
Nhưng thói đời hể no cơm thì ấm cật, vì vậy dân số càng ngày càng tăng, mà
lại tăng quá mức. Vì vậy Bộ chính trị họp khẩn cấp để tìm cách chặn đứng
việc bùng nổ dân số. Nhưng tìm mãi vẫn chưa ra kế hoạch nào. Bổng một chú
Bí thư già khọm đưa tay xin có ý kiến. Chú nói:


- Trước đây ta đổi Đèo Ngang thành Đèo Nghếch thì đúng là có hiệu quả như
mong muốn, vậy nay ta lại đổi thêm một lần nữa xem sao vì cái tên nó nói
lên cái đặc điểm của vùng đất địa linh nhân kiệt yết hầu của nước ta.
Mọi người nhâu nhâu lên hỏi:


- Nhưng mà ăn nhập gì tới việc kế hoạch hóa gia đình? À mà đồng chí định
đổi thành tên gì ?


Chú kia trả lời tỉnh queo :


- Đèo Đứng !!!!!!!!!!!!

Những học giả Việt Nam và vấn đề tranh chấp biển Đông

Trước sự hung hăng và tham lam của Trung Cộng, những trí thức và học giả của Việt Nam đã thấy rằng không thể ngồi yên và nhìn được nữa. Vừa qua, một số nhà trí thức, học giả và những nhà nghiên cứu trong nước đã tổ chức cuộc hội thảo về những tranh chấp chủ quyền của các nước trong khu vực ở biển Đông. Điều quan trong là họ đã tìm được những chứng cớ lịch sử trong các thư tịch cổ để chứng tỏ rằng Việt Nam đã có chủ quyền từ rất lâu ở những quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Không biết rằng với những chứng cớ này có làm "mở mắt" giới lãnh đạo của Cộng Sản Việt Nam lâu nay rất nhu nhược trước bè lũ cầm quyền Trung Cộng hay là không.

Wednesday, March 18, 2009

Quy hoạch sân golf: "thảm họa của "siêu" dự án trên giấy

Trích VietNamNet

Ở Việt Nam, đâu đâu cũng quy hoạch đất nông nghiệp của nhân dân để làm sân golf. Nhưng thực tế như thế nào? Ta hãy đọc bài báo sau của VietNamNet Online để thây rõ và tường tận về vấn đề này.

Qui hoạch sân golf: "thảm họa" của "siêu" dự án trên giấy!
06:45' 19/03/2009 (GMT+7)

- Nhiều dự án sân golf ở TP.HCM đang là những "siêu" dự án trên… giấy! Bên cạnh việc lãng phí tài nguyên đất, kiểu quy hoạch “treo” này cũng khiến đời sống hàng nghìn hộ dân điêu đứng.

Dự án sân golf làm chúng tôi chết đứng!

Đất sân golf lãng phí không kém gì kho bãi ! Đây là nhận xét của ông Đặng Văn Khoa – đại biểu Hội đồng nhân dân TP.HCM khi được hỏi về sự lãng phí đất công tràn lan tại các dự án sân golf ở TP.HCM.

Là người từng giám sát, nêu tên nhiều “địa chỉ” với hàng chục nghìn m2 đất công kho bãi lãng phí, ông Khoa cho rằng, mức độ lãng phí đất sân golf còn ghê gớm hơn… bởi cùng với hàng trăm héc-ta đất là đời sống hàng nghìn hộ nông dân bị xáo trộn...

Một góc trong dự án sân golf An Phú.

Theo thống kê, toàn TP.HCM có 7 dự án sân golf, trong đó phần đất dành cho sân golf là 648ha trên tổng số hơn 1.400ha được quy hoạch.

Cụ thể sân golf thuộc dự án Khu dân cư và công viên giải trí Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết từ hơn 9 năm nay nhưng cho đến thời điểm này, dự án vẫn chỉ tồn tại… trên giấy.

Kế hoạch xây dựng sân golf (được thực hiện từ năm 2004) qua nhiều lần “đổi chủ” và điều chỉnh quy hoạch, cuối cùng liên doanh Vạn Phúc - Yonwoo (Đài Loan) được chọn là chủ đầu tư, quy mô dự án trên 160ha, trong đó có một sân golf 27 lỗ (diện tích 96ha) khu biệt thự, chung cư (9.000 căn) cao ốc văn phòng, trung tâm thương mại…

Ngày 17/03, chúng tôi trở lại khu dự án sân golf này và chứng kiến cảnh hàng trăm héc-ta đất nông nghiệp bị bỏ hoang… Dấu vết cho thấy sự “tồn tại” của dự án này chỉ là tấm biển dựng bên một con mương nhỏ chỉ dẫn khu tái định cư 5,6ha cỏ lác ngập đầu.

Anh Nguyễn Văn Bé (35 tuổi) ngụ tại khu phố 5 cho biết gia đình anh có 4.000m2 đất nông nghiệp, cách đây 2 năm đã bán cho chủ đầu tư 3.000m2

Biển treo giới thiệu Khu tái định cư dự án sân golf Hiệp Bình Phước, bên dưới chỉ là bãi đất hoang...

Theo anh Bé, phân biệt đất còn của dân và phần đất chủ đầu tư đã mua rất dễ: Khu đất nào còn trồng mai là chưa thoả thuận “khung” đền bù, khu nào cỏ mọc um tùm là đã được đền bù, giao đất nhưng chủ đầu tư chưa triển khai dự án… Theo quan sát của chúng tôi, khoảng trên 50% diện tích đã được chủ đầu tư bồi thường.

Quy hoạch “treo” của sân golf làm đời sống người dân rơi vào thế khó. Chị Bình, ngụ tại khu phố 5 cho biết, đã mấy năm nay, căn nhà vách lá của gia đình, sau mấy trận gió bay tốc mái, muốn sửa chữa nâng cấp thành nhà tường nhưng chính quyền không cho phép vì đất… lỡ nằm trong khu quy hoạch (?) Vậy là gia đình chị gồm hai vợ chồng, hai đứa con và một bà mẹ đành phải sống trong cảnh nắng chói, mưa dột. Khổ hết chỗ nói!

Một nông dân tên Bảy mà chúng tôi gặp ở khu phố 5 cũng bức xúc không kém. Dù sản xuất trên mảnh đất chưa được đền bù, nhưng hễ anh trồng cây gì thì chủ đầu tư và số cán bộ phường xuất hiện… “cảnh báo” sẽ không đền bù hoa màu trong phần đất trong quy hoạch (?).

“Hơn 9 năm “bó tay” vì quy hoạch treo như vậy, thử hỏi người nông dân chúng tôi thiệt hại bao nhiêu? Trước đây, cả khu phố sống bằng nghề trồng mai, nay đất bán cho chủ đầu tư rồi để hoang hoá… Xót xa là người dân bỏ đi nơi khác kiếm việc làm, nghề trồng mai trước 10 phần, nay chỉ còn 2-3 phần...” – anh Bảy buồn bã nói.

Nông dân đang canh tác trên phần đất thuộc dự án sân golf Hiệp Bình Phước. Đây là phần đất chưa đền bù...

Một “nỗi khổ” khác của người dân ở đây là do nằm trong quy hoạch nên nước máy sinh hoạt không được kéo tới nhà, bà con phải dùng các lu lớn tích nước mưa, nước giếng khoan để dùng.

Cũng chung cảnh khổ với những dự án sân golf “treo” là hàng trăm hộ dân thuộc dự án sân golf Sing - Việt (huyện Bình Chánh). Khi công bố quy hoạch, nhiều người thực sự “choáng” với quy mô của dự án này: diện tích 300ha, vốn đầu tư lên tới 120 triệu USD. Tuy nhiên đã gần 9 năm qua, kể từ ngày được cấp phép nhưng Công ty TNHH đô thị Sing – Việt vẫn chưa triển khai được dự án, chưa tiến hành bồi thường, giải toả mặt bằng; thậm chí phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư chi tiết vẫn… chưa được UBND huyện Bình Chánh phê duyệt (?).

Ông Lê Thanh Sơn (67 tuổi) ngụ ấp 2 xã Lê Minh Xuân bức xúc: “Dự án sân golf cho người giàu làm người nghèo chúng tôi chết… đứng !” Ông Sơn chỉ tay về phía con rạch trước nhà nói: “Chú thấy đấy, dòng nước có chảy được đâu. Từ ngày có biển quy hoạch khu này, kênh thuỷ lợi chẳng ai quan tâm nên xuống cấp thảm hại, nước ứ đọng rất mất vệ sinh”.

Nhà ông Sơn có 2.000m2 đất vườn trồng xoài, mía, thu hoạch cũng tạm đủ ăn. Từ ngày được công bố thông tin nằm trong khu quy hoạch sân golf, mấy người con ông không còn chí thú với việc làm vườn…

Tách dân ra khỏi đất với giá bèo

Trong các năm từ 2001 đến 2006, hàng trăm người dân có đất nông nghiệp thuộc địa bàn phường An Phú, quận 2, TP.HCM nhận được “tráp” của UBND quận 2 mời lên nhận tiền bồi thường cho phần đất nằm trong dự án Khu liên hiệp sân golf – thể dục thể thao và nhà ở phường An Phú, quận 2 (quy mô 137ha, vốn đầu tư 1.600 tỷ đồng).

Biển báo dự án sân golf An Phú, quận 2. Đã nhiều năm qua, việc đền bù vẫn được thực hiện rất chậm chạp.

Việc chậm trễ của dự án này, theo báo cáo của Sở KH&ĐT TP.HCM là do khúc mắc ở giá bồi thường, hỗ trợ cho người dân. Thống kê từ 2001 đến 10/2008 cho thấy, dù nhà đầu tư và chính quyền liên tục “vận động” người dân nhận tiền - giao đất, đã có 200 hộ/312 hộ dân chấp nhận giá bồi thường là 150.000/m2 đất nông nghiệp; 200.000/m2 cho đất trồng cây lâu năm.

Số hộ dân còn lại cho rằng, mức đền bù, hỗ trợ trên là quá “bèo” so với vị trí và khả năng sinh lợi tại quận 2 – quận phát triển đô thị nhanh nhất tại TP. Càng bất hợp lý hơn nếu so sánh mức bồi thường trên với các dự án địa ốc của tư nhân trên địa bàn quận, họ chấp nhận đền bù cho dân từ 500.000 đồng đến1.000.000 đồng/m2 đất nông nghiệp.

Khúc mắc này giải thích lý do vì sao đến nay chủ đầu tư của Khu liên hiệp sân golf – thể dục thể thao và nhà ở phường An Phú chỉ đền bù được 57% diện tích. Sự chậm chạp của dự án khiến UBND TP mới đây đã có chỉ đạo, trong năm 2009 chủ đầu tư phải triển khai dự án và hoàn tất việc đầu tư cơ sở hạ tầng. Nếu không đáp ứng yêu cầu tiến độ trên thì đề xuất thu hồi đất, thu hồi giấy phép đầu tư.

Tuy mức đền bù rẻ, nhưng nhiều hộ dân đã nhận tiền chấp nhận ra đi cùng lời hứa sẽ nhận được nền tái định cư. Tuy nhiên, xem ra lời hứa này còn… dài vì trong khi 200 hộ dân nhận tiền để… “ra đi” kể trên đang rất cần chỗ ở... thì khu tái định cư 15ha (thực chất sử dụng có 10ha) của Khu liên hiệp này sau 8 năm vẫn đang trong giai đoạn triển khai thi công hạ tầng kỹ thuật (?) .

  • Thái Thiện – Đoàn Quý

Đảng Dân Chủ Nhân Dân kêu gọi đồng bào viết truyền đơn lên tiền

Trích Việt Báo Online

Đả Đảo Đảng CSVN Bán Nước
Truyền đơn hiện chữ dưới tia cực tím.
Đảng CSVN đã tìm mọi cách ngăn chận thanh niên, học sinh sinh viên và các chiền sĩ dân chủ bày tỏ lòng yêu nước. Nhiều người đã bị trấn áp và bắt giữ chỉ vì tham gia biểu tình lên án Trung Quốc chiếm Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam. Trước tình trạng này, đảng Dân Chủ Nhân Dân đã nổ lực khai dụng nhiều hình thức đấu tranh trên mặt trận tuyên truyền, từ công khai qua bí mật nhằm lên án đảng cộng sản Việt Nam hèn nhát, bán nước cho Trung Quốc.
Nhiều đảng viên đã được giao phó, tiếp tay trong nổ lực này. Đó là khi dùng tiền mua bán bình thường hàng ngày thì lấy bút viết mực tàng hình viết lên dòng chữ "Đảng dân chủ nhân dân - ĐẢ ĐẢO CỘNG SẢN BÁN NƯỚC CHO TRUNG QUỐC" trên một số loại tiền giấy.
Dòng chữ này chỉ hiện lên dưới ánh sáng tia cực tím trong các loại đèn soi tiền giả hay bất cứ loại vật dụng có tia cực tím gắn vào như bật lửa, bút tàng hình..., bình thường không nhìn thấy được dòng chữ này. Kể từ ngày 1/3/2008, sau khi chính thức phát động công tác này, đảng viên đảng DCND đã trao đổi, mua bán và rải các tờ truyền đơn đặc biệt này tại nhiều nơi. Vì lý do an toàn và muốn thực hiện được nhiều truyền đơn dạng này nên đến bây giờ chúng tôi mới thông báo. Hiện nay, nhiều tờ tiền có nội dung đả đảo đảng CSVN bán nước đã và đang lưu hành, truyền tay nhau lưu thông khắp miền đất nước.
Bạn đang sở hữu một tờ tiền đang lưu hành? Bạn hãy soi vào đèn soi...biết đâu bạn sẽ thấy dòng chữ hiện lên như chúng tôi đã viết. Và, đơn giản nhất, bạn hãy mua một bút tàng hình để tiếp tay với chúng tôi, viết bất cứ câu gì bạn muốn vào tờ tiền đó để gửi thông điệp cho Đảng CSVN !!! Còn chờ gì nữa hởi những người Việt Nam yêu nước.
ĐẢ ĐẢO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM BÁN NƯỚC !
Phóng viên ĐDCND

Monday, March 16, 2009

Người tiêu dùng Việt được bảo vệ kém nhất thế giới

Trích VietNamNet

- Đã xảy ra những vụ việc xâm hại quyền lợi rõ "mười mươi" như gian lận xăng dầu, sữa "nghèo đạm"..., nhưng chưa có vụ kiện nào về vi phạm quyền của người tiêu dùng; chưa DN gian dối nào bị cơ quan chức năng điểm mặt chỉ tên, chứ đừng nói chuyện bị pháp luật "sờ gáy".

"Chịu nhịn" nhất thế giới

Người tiêu dùng (NTD) nước ngoài, nếu biết những chuyện sau đây ở Việt Nam, chắc phải kêu trời: "Sao phải nhẫn nhịn thế?":

Lead - loại xe nhiều khách hàng bị "bỏ đói", rồi chấp nhận mua với giá cắt cổ. Ảnh: Trần Thuỷ.
Ở nhiều khu vực TP.HCM, khách hàng của HCTV và SCTV cứ bật TV xem truyền hình cáp 1 buổi là phải chườm mắt cả đêm.

Còn ở Hà Nội, không ít chủ thuê bao điện thoại sững sờ bị cắt xoẹt điện thoại, internet, rồi lui cui đến bưu điện nộp tiền để được nối lại đường dây.

Nhiều thuê bao khác chấp nhận cảnh v
ô vọng tra soát đúng-sai cước điện thoại, chấp nhận lý do... bảo mật của nhà cung cấp dịch vụ.

NTD chịu nhịn ở Việt Nam có thể tính đến hàng triệu, có thể gặp mọi lúc, mọi nơi. Hàng trăm người nhẫn nại xếp hàng chờ hoàn tiền ATM "hụt két". Hàng chục người đại diện cơ quan đi lại 6 tháng chưa đóng nổi BHXH. Những khu dân cư Thủ đô chấp nhận cảnh "điện đèn dầu". Những khách hàng bị cuốn theo "cơn lốc khuyến mại gấy "sốc" rồi bị người bán "xù" quà, đi bảo hành máy tính bị ôm hàng lặn mất tăm,
đi mua hàng "xịn" trong siêu thị phải hàng Tàu, hoặc để nhận được thư EMS, phải đợi 7 ngày, alô 30 cuộc.

Phản ứng tức giận của NTD Việt Nam chẳng cho kết quả, khi mà họ không được cơ quan chức năng và pháp luật hỗ trợ. Và nhà sản xuất/cung cấp dịch vụ cứ trơ trơ với những tuyên ngôn "dồn thiệt" cho khách hàng. Bếp ga Malaysia "made in China" được giải thích là in nhầm nhãn phụ. Trả nhầm gần 277 triệu đồng tiền tiết kiệm của khách hàng cho trộm, ngân hàng NN-PTNT nói rằng đã ra quy định, "người gửi tiền phải chịu hoàn toàn trách nhiệm".

Honda VN, trước dư luận
s
ôi sục về xe loạn giá, từ chối đối thoại với hàng triệu NTD, khẳng định tiếp tục cung cách bán hàng chỉ qua các HEAD.

Ở Việt Nam, chưa từng có vụ kiện nào liên quan vi phạm quyền lợi
NTD. Chưa có DN gian dối nào bị đưa ra ánh sáng pháp luật, dù hành vi xâm hại quyền lợi NTD đã rõ mười mươi.

Xăng chứa aceton gây hỏng động cơ gắn máy. Hãng taxi gian dối taximét. Nước tương chứa chất 3-MPCD gây ung thư. Sữa đóng hộp không đúng trọng lượng. Sữa tươi pha từ sữa bột. Nước mắm nhãn mác là nước mắm cá hồi Bắc Âu, sau phải cải chính lại là nước mắm hương cá hồi. Rau củ quả phun thuốc kích thích vô tội vạ. Hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng tràn lan.

NTD Việt Nam vẫn bấm bụng ăn, lặng lẽ dùng. Phản ứng bùng nổ cao nhất của họ, cũng chỉ đến mức kêu gọi nhau tẩy chay hàng hoá, như với Honda VN.

Bùng nhùng công cuộc "giải cứu"

Buổi trao đổi trực tuyến "Loạn giá xe Honda" sáng 10/3/2009 tại báo VietNamNet, 4 trong 5 ghế của khách mời bị bỏ trống. Ảnh: Q.Hạnh
Tại một hội thảo do Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương) tổ chức năm 2008, các chuyên gia đều nhận định, người tiêu dùng VN đang bị chèn ép, trong khi những quyền đã được luật qui định, chưa nơi nào thực thi.

TS. Vũ Thị Bạch Nga - Trưởng ban Bảo vệ người tiêu dùng của cục này lấy ví dụ: Bộ luật Dân sự đã qui định rõ nhà sản xuất phải có trách nhiệm bảo hành và phải chịu chi phí cho người tiêu dùng khi họ mang hàng cần bảo hành đến cơ sở sửa chữa. Tuy nhiên, hiện hiếm có cơ sở nào chịu chi trả khoản này và người tiêu dùng cũng không ai biết để đòi.

Một trong những nguyên nhân của tình trạng người tiêu dùng VN đang "gánh thiệt", là đang rất thiếu các chế tài để xử lý hành vi vi phạm của tổ chức cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ như cân, đong sai, thông tin về dịch vụ hàng hóa thiếu trung thực...

"Lợi dụng điều này, các nhà cung cấp dịch vụ đã cài các điều khoản bất lợi cho người tiêu dùng vào hợp đồng viết sẵn như điện, nước, thậm chí hợp đồng mua bán chung cư, xe máy, mua trả góp..." - ông Nguyễn Văn Cương, Viện Khoa học pháp lý cho biết.

Theo ông Cương, tại các nước, khi NTD khởi kiện hàng hóa kém chất lượng, họ không phải chứng minh; trách nhiệm chứng minh sản phẩm phải thuộc nhà sản xuất. Các nước còn có tòa riêng chuyên xử miễn phí và nhanh chóng các khiếu kiện của NTD".

Trong khi đó, VN lại qui định NTD phải chứng minh nên... không ai dám đi kiện vì không đủ khả năng theo, hoặc "được vạ thì má đã sưng".

Thế là, trong khi chờ các cơ quan chức năng hoàn tất Dự thảo Luật Bảo vệ quyền lợi NTD để trình Quốc hội thông qua vào năm 2010, người mua chỉ còn cách trông mong “lòng tốt” của người bán.

Trông người, ngẫm ta

Một điểm giao dịch bưu điện. Ảnh minh hoạ: B.D
Theo kết quả tổng điều tra ý kiến NTD trên phạm vi cả nước năm 2008 của Hội Tiêu chuẩn - Bảo vệ NTD Việt Nam, 41% NTD Việt Nam không biết mình có quyền lợi gì, số còn lại... có biết cũng chả làm được gì.

Hầu hết NTD Việt Nam không biết về 8 quyền cơ bản của họ, vốn được cho là "quyền lực mềm" có thể làm "kinh thiên động địa" ở nước ngoài.

Đặc biệt, rất ít người biết cơ quan nhận khiếu nại tiêu dùng. Rằng Việt Nam có Ban Bảo vệ NTD (Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương - cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ NTD) và Hội Tiêu chuẩn - Bảo vệ quyền lợi NTD (cơ quan đại diện tiếng nói NTD).

Ngay các cơ quan này cũng phải thừa nhận rằng nhiệm vụ chủ yếu của họ hiện vẫn là... hòa giải (vì không có quyền xử phạt). "Nếu là tổ chức, DN lớn, họ thấy sai thì họ đền bù để giữ uy tín. Còn những người bán hàng đơn lẻ, cá thể cứ lì ra thì cũng chịu" - Trưởng ban Bảo vệ NTD Vũ Thị Bạch Nga cho biết.

Trong khi, ở nhiều nước trên thế giới, các vấn đề liên quan NTD không chỉ mang tính xã hội, tính nhân đạo, tính mục đích của sản xuất kinh doanh, mà còn mang màu sắc chính trị - khiến cho người dân chấp nhận hay không chấp nhận một hệ thống tư tưởng đạo đức.

Ông Alain Noguera, Giám đốc Siêu thị Big C Thăng Long cho biết, CH Pháp có Hiệp hội Bảo vệ NTD với hơn 500.000 thành viên. Họ có tờ báo riêng, có phòng thí nghiệm riêng. Và khi 1 DN bị phát hiện là gây tổn hại cho cộng đồng như ô nhiễm môi trường, mất vệ sinh an toàn thực phẩm, điều kiện lao động tồi tệ... thì chính hiệp hội này sẽ đứng ra kêu gọi các thành viên có phản ứng cụ thể.

Ông Noguera cũng cho biết,
NTD nước ông có một quyền lực mạnh mẽ, đó là quyền tẩy chay, không mua sản phẩm khi nhà sản xuất vì lợi nhuận mà gây tổn hại cho xã hội. Và họ rất biết cách sử dụng quyền lực này để buộc các DN phải sửa đổi chính sách, thực hiện các cam kết về trách nhiệm xã hội của mình.

Còn nhớ, tại Mỹ năm 1996 hãng Nike nổi tiếng bị NTD tẩy chay sản phẩm sau khi hãng này bị phát hiện sử dụng lao động trẻ em.

Tại Ấn Độ,
từng diễn ra biểu tình phản đối tập đoàn nước ngọt toàn cầu Coca-Cola đã làm ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm.

Tại Nhật Bản năm 1950, một cuộc biểu tình tương tự cũng diễn ra nhằm phản đối Công ty Chisso - một công ty hóa chất lớn - đã đổ thẳng ra biển chất thải công nghệ có thành phần thủy ngân hữu cơ không qua xử lý, từ đó gây nhiễm độc cho cá, súc vật và người. Cuộc biểu tình của NTD và sức ép của chính quyền đã buộc DN này phải bồi thường.

Còn tại Việt Nam, chưa có 1 tiền lệ DN phải ra toà vì hành vi gian dối, hoặc gây hại cho NTD; các ban, hội bảo vệ NTD hầu như không có tiếng nói đáng kể.

Đưa ra lời khuyên bảo vệ NTD Việt Nam, ô
ng Bruno Lassere - Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh Pháp nói, phải làm cho DN sợ khi thực hiện các hành vi phản cạnh tranh vì sẽ phải chịu chế tài trừng phạt vô cùng nặng nề. Theo ông, VN nên bắt đầu bằng việc điều tra và xử lý một số vụ việc có hành vi phản cạnh tranh được công chúng biết đến nhiều nhất, nhất là trong lĩnh vực phân phối vì liên quan trực tiếp đến NTD.

Đó là những việc còn xa mới thực hiện được.

Còn hiện tại, một người nước ngoài khác, ông Hank Baker, đại diện Dự án Star Việt Nam (dự án trợ giúp thúc đẩy thương mại, do Cơ quan Phát triển Quốc tế của Mỹ USAID tài trợ ở Việt Nam) vẫn phải lắc đầu: “Tôi không thích là NTD Việt Nam!”.

  • Quảng Hạnh



Sunday, March 15, 2009

Đọc thơ Hồ Xuân Hương thấy nhớ Bác Hồ


Trần Khải Thanh Thủy

Nhân ngày 19-8: Đọc thơ Hồ Xuân Hương thấy nhớ Bác Hồ quá!

Đến chơi nhà chị, thấy chị đang nằm dài đọc cuốn "khúc khích Xuân Hương"*, tôi bèn trêu:
- Ái chà, đang nghiên cứu Hồ Xuân Hương cơ đấy, có khúc khích tí nào như đầu đề của cuốn sách không?
Chị ngồi thẳng dạy, mắt xa xăm bí ẩn, giọng buồn buồn bảo:
- Đọc lại Hồ Xuân Hương thấy nhớ bác Hồ quá
- Cái gì, tôi phóng thẳng toàn bộ tinh lực vào cặp mắt âm u bí ẩn của chị, đầy ngạc nhiên:
- Chị mê ngủ, mộng du, hay đang loạn ngôn đấy, hai con người ấy thì liên quan gì đến nhau?
Chị chép miệng, bảo thủ:
- Thì đều là những bậc "kỳ tài, cao thủ" của đất nước mà lại, Hồ Xuân Hương là bà chúa thơ Nôm, còn bác Hồ của chúng ta cũng đã từng "mơ thấy cưỡi rồng lên thượng giới" còn gì?
- Tưởng gì, tôi chép miệng: - Ai lại so sánh khập khiễng như thế bao giờ.
Chị cự nự:
- Ơ hay vua với chúa không phải là ngang bằng phải lứa à?
Bí lời, tôi phải đọc hai câu truyền khẩu nổi tiếng trong tập "cửa mở" của Việt Phương để thuyết phục chị... nhằm chặn đứng cuộc tranh luận vô tiền khoáng hậu này:

Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ
Đồng hồ Liên xô quý hơn đồng hồ Thuỵ Sĩ...

Thế mà cũng đòi so với sánh.
Chị cười như nắc nẻ:
- Em chỉ biết có một mà không biết đến hai, đọc tiếp đi. Đến lượt tôi ngơ ngác:
- Đọc tiếp à, nhưng sách đã bị cấm, cửa mở đã biến thành cửa đóng từ lâu rồi mà? Đọc sao được nữa?
- Thì thế, chị bảo: Chỉ biết nghe đài ta, đọc báo Đảng làm gì chả tối như hũ nút, rồi chị đọc như thể chặn họng tôi:
Cửa mở rồi mới biết mình tối tăm
Nghe đài địch thêm tin tưởng ở tương lai.

- Ra thế, tôi bật cười khoái chí. Từ lúc ấy dẫu không muốn để chị ấn thành tượng tôi cũng bị chất giọng đầy ấn tượng của chị bắt vít xuống giường.
- Em còn nhớ chuyện "hỏi nhà sư mượn lược" của bác không?
- Ôi chuyện liên quan đến bác thì người dân Hà Nội ai chẳng phải nhớ, thậm chí em còn thuộc lòng như cháo nhuyễn ấy chứ.
Để chứng tỏ tấm lòng của tôi với bác Hồ, tôi kể lại vanh vách cho chị nghe, không xót một dấu chấm phẩy: "Tại lớp chỉnh Đảng trung ương khoá I, khi ấy đang là giờ nghỉ giải lao giữa hai tiết học, tất cả chúng tôi quây quần quanh Bác trò chuyện vui vẻ, trẻ trung đầm ấm như thể một gia đình thực sự... Chợt, từ cuối lớp, hai chị phụ nữ dắt tay nhau len qua giữa những hàng người, hàng ghế, chen vào bên cạnh, hỏi Bác:
- Thưa Bác! Trong đời sống gia đình, khi người vợ đã góp ý nhiều lần với anh chồng mà anh ta vẫn cứ chứng nào tật ấy thì phải xử sự thế nào ạ?
Bác nhìn hai chị hóm hỉnh đáp:
- Cô nên hỏi các chú có vợ này. Chuyện quan hệ vợ chồng mà cô hỏi Bác thế có khác gì hỏi nhà sư mượn lược"
Chị cười, đôi mắt lá răm nheo lại:
- Em thấy chưa, rõ ràng bác tự nhận mình là sư nhé. Tôi ngơ ngác:
- Thì có sao, Bác Hồ của chúng ta một lòng vì nước quên thân, vì dân phục vụ mà...
Chị sì một tiếng - nụ cười tủm tỉm đáng trăm quan tiền biến mất:
- Đúng là chị phải mở cửa cuộc đời, mở cửa thế giới, mở khắp các kho lưu trữ tư liệu về người, để chỉ rõ sự tối tăm, dốt nát cho em.
- Thế nghiã là thế nào, tôi cố bảo vệ ý mình, rõ ràng em đọc trong tất cả các loại sách từ nhà xuất bản chính trị quốc gia đến nhà xuất bản Thanh niên, quân đội, Hà Nội đều nói rõ là bác không có vợ mà. Chính bác khi nói chuyên với Thanh niên cũng thật lòng khuyên nhủ: -Các chú học gì ở bác thì học, chứ không nên không lấy vợ và hút thuốc lá như bác đấy nhé.
Chị nói lại câu nhân xét ban đầu của mình:
- Thì thế chị mới bảo đọc thơ Hồ Xuân Hương nhớ Bác Hồ của chúng mình quá!
Tôi thở dài chán nản:
- Thật em chả hiểu gì cả, đành rằng bác bảo bác là sư cũng chỉ là một sự ví von so sánh theo nghĩa bóng, mang tính trìu tượng, chứ đâu phải là thật, bác có biết nói dối bao giờ đâu?
Chị khẳng định, giọng chắc nịch:
- Đúng là sư thật đấy em ạ, có điều không phải sư thiến, thiên sứ như Đảng thổi phồng, ca ngợi, thần thánh hoá đâu, mà là sư hổ mang, sư "trái gió" như thơ bà chúa thơ Nôm miêu tả ấy. Không để tôi được phép hoàn hồn, chị mở miệng đọc như mở máy:
Chẳng phải ngô chẳng phải ta
Đầu thì trọc lốc áo không tà.

Chẳng hiểu mô tê răng rứa gì, tôi cãi văng tê:
- Thì bà chúa thơ Nôm chỉ tả nhà sư cùng gốc gác xuất thân của nhà sư này thôi, có liên quan gì đến bác đâu?
- Phải! Chị bảo: - Nguồn gốc của nhà sư này rất không rõ ràng, chẳng phải Tàu phù, cũng chẳng phải An Nam... nghiã là lang thang tận chân mây cuối trời nào mà tìm đến tá túc tại đây, đói quá phải đóng giả sư, mượn sự uy nghi, phép màu của nhà chùa để ăn mày cửa phật, mong được thụ lộc của tín chủ mười phương...
- Thì sao nào? Chẳng biết chị định dẫn dắt câu chuyện đến đâu, trong khi chỉ thấy mỗi một cái đầu sư trọc lốc, tôi cật vấn:- Chị đừng vòng vo tam quốc nữa, hãy đi thẳng vào vấn đề đi.
- Ô hay chị vô cớ nổi cáu, vặc lại tôi: - Thế em không biết nguồn gốc xuất thân của bác à? Chẳng phải Bác Hồ nhà mình cũng rất nhập nhằng sao, chẳng phải họ Hồ, cũng chẳng phải họ Nguyễn, đầu thì chật cứng bóng đàn bà.
- Chị nói linh tinh vớ vẩn gì thế? Tôi nổi cáu, chẳng cần biết ý nghĩ tư tưởng của mình bị dạt trôi tới đâu nữa? Chả phải tiểu sử của bác ghi rõ trong sách rồi sao: Mẹ là Hoàng thị Loan, sinh năm 1866 mất 1901, còn bố là Nguyễn sinh Sắc, sinh 1863, mất 1929. Một gia đình nông dân thuần chủng. Yêu nước, thương nòi, được chính phủ bảo hộ cung phụng chiều chuộng vời ra làm quan to, hưởng quyền cao chức trọng và bổng lộc triều đình mà vì ghét cảnh quan trường ô trọc, dân đen phải làm nô lệ, nên đã bày tỏ thái độ bất hợp tác, bỏ quan để về làm thầy lang. Chính tính cách cương trực khiêm nhường của người cha đã hình thành đạo đức, tư cách bác còn gì?
- Phải chị bảo, giọng cứ ngọt như không: - Nhưng chị lại thích nghe "đài địch" đặt trong lòng quần chúng nhân dân do ông giáo sư Trần Quốc Vượng "loa loa" cơ. Chính xác, ông nội của bác là Hồ sĩ Tạo, vì gian díu với bà nội của bác là bà Hà thị Hy mà sinh ra ông Nguyễn Sinh Sắc. Nghiã là bố của bác chỉ mượn cửa họ Nguyễn, người của họ Nguyễn, tức ông nông dân già yếu, goá vợ, gia cảnh nghèo hèn là Nguyễn Sinh Nhậm để vào thôi, chứ thực ra bác là con rơi, cháu vãi đích thực của dòng họ Hồ.
Nghe chị nói, tôi tưởng tim rơi ra ngoài:
- Giời ơi là giời, chả lẽ ông Trần Quốc Vượng ăn lương Đảng, sống giữa lòng Đảng lại dám thoá mạ cả vong linh bố đảng sao?
- Đâu phải thoá mạ, chị bảo: - Sự thực muôn đời vẫn là sự thực chứ, em cứ nghe lời Đảng dạy, sẽ chết đứng như cây ngay có ngày.
Tôi láng máng nhìn thấy khoảng sáng, nhờ sự he hé tài tình của chị:
- Hoá ra râu ông Sĩ Tạo lại cắm nhầm vào... đùi bà thị Hy, đẻ ra ngài phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (Sinh Huy) chẳng liên quan gì đến ông lão đánh dậm Nguyễn sinh Nhậm ư? Giời ơi là giời?
Không lẽ cứ đứng như...trời trồng mãi, tôi đành nói lảng: "Em rất ghét những gì có nguồn gốc mập mờ không minh bạch như cái ông nhà sư mà bà chúa thơ Nôm tả... Phàm đã không có gốc gác dân tộc, quê hương bản xứ gì thì tư cách, học vấn, đạo đức chẳng ra gì, tất cả chỉ là đạo đức giả thôi".
- Điều ấy thì rõ như ban ngày rồi, chị túm lấy câu nói của tôi đay đả: -Xuất thân đã thế thì hành xử làm gì chả lạm dụng giả dối đến khinh ghét? Mượn cõi chân tu để u mê dân chúng, đưa mình lên bậc thiên sứ thánh nhân.
Chút phản kháng trong tôi trỗi dạy, tôi cự nự:
- Nhưng sao chị lại áp đặt khiên cưỡng thế, chị không nhớ câu bác trả lời nhà báo nước ngoài sao: - Từ 13 tuổi thấy cảnh dân khốn khổ đã mong đánh Pháp đuổi Nhật rồi.
- Điều này thì em lại nhầm rồi, chị dẫn chứng: - Bác luôn... bám Pháp để đạt được điều mình mong muốn... là xin một chức quan nhỏ để nuôi sống bản thân, gia đình đấy chứ. Nếu 2 lá thư của bác xin vào học trường thuộc địa được nhà nước đại Pháp chọn duyệt thì bác đâu đến nỗi phải chịu đựng khổ sở trong những căn phòng trọ chật hẹp, tồi tàn, thiếu cả đồ đạc lẫn lò sưởi với đủ thứ nghề tạp dịch, khốn khổ, ấy chứ?
- Nhưng thế thì sao nào, tôi bực bội phản đối: - dù sao giữa bác và nhà sư hoang dâm, sư hồi tục, sư chó giái ấy chẳng có liên quan chó gì đến nhau cả. Nhà sư kia tìm mọi cách để vào được chùa, đánh lừa người đời, bắt họ phải coi ông ta như một thánh nhân, thần phật, đặt mọi đức tin phép mầu nhiệm vào nơi chùa chiền, sư sãi, dâng oản, xôi hoa quả đầy thương yêu tin tưởng, biến chốn thiêng liêng chay tịnh thành chốn loạn luân, ô trọc, còn bác của chúng ta thì liên quan gì nào?
Bỏ qua thái độ cố cùng liều thân của tôi, chị bảo, giọng thon lỏn:
- Để chị đọc tiếp hai câu sau cho em nghe, xem cái lão sư hoang dâm của bà chúa thơ Nôm miêu tả có giống bác không?
Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm
Vãi núp sau lưng sáu bảy bà.

Dán mắt vào trang sách, chị đọc lời bình của tác giả: "Vãi chẳng qua cũng là một thứ..."oản thịt" của nhà sư đấy thôi. Lưng của vị sư hổ mang này chắc phải to hơn hẳn tấm lưng tròn đứng giữ am của Tiểu vì che được những sáu bảy bà lúc ban ngày - và "sài" được sáu bảy "oản thịt cái" lúc ban đêm. Nhiều oản xôi, oản thịt như thế hẳn nhà sư tha hồ hành sự và chén đẫy chuối xôi của tín chủ dâng tặng.
- Thế thì sao nào? Tôi quyết tấn công dứt điểm, nhằm hạ gục đối phương nhanh gọn là chị...
- Thì...chị trả lời, những ý nghĩ loang loáng trong đầu, trên mặt, rồi chị đọc:
Khẩu hiệu "cha già" che trước mặt
Gái núp sau lưng 6, 7 nàng.

Chứ còn gì nữa?
Tôi chưa kịp phản thùng, còn chị, như không dễ dàng dập tắt những ý nghĩ chất chứa trong đàu, liền nói tiếp:
- Nào "đi tìm út Huệ (Sài gòn), nào đi tìm Bourdon (Pháp), nào Nguyễn thị Minh Khai (Nga) Tăng Tuyết Minh ở Tàu, Li Sam (Thái Lan) Nông thị Trưng (hang Pắc Bó), Nguyễn thị Xuân (ở phủ chủ tịch) v.v...
- Trời đất, đến lượt tôi tưởng đất dưới chân mình sụt xuống, toàn thân rơi vào lòng hang tăm tối, kín mít, tôi bất lực kêu lên: - Chả lẽ cha già dân tộc mà còn giả dối hơn cả lão sư hoang dâm kia sao? Chị lấy tư liệu ở đâu ra vậy?
Không trả lời câu hỏi của tôi chị dán mắt vào trang sách bảo:
- Nghe chị đọc tiếp này:
Khi cảnh khi tiu, khi chũm chọe
Giọng hì, giọng hỉ giọng hi ha.

Chất giọng tụng kinh lê thê sầu não cũng bị biến tấu thành bản nhạc chập cheng rất đời mà lạc đạo... vì cả đêm mải xơi cùng lúc sáu bảy cái "oản thịt" dâng trước mặt, còn chòng ghẹo sáu bảy bà vãi núp sau lưng, nên sư mệt, khiến ban ngày sư cứ lim dim gà gật, lúc có người vào lại giật mình đánh thót, bèn làm ra vẻ tỉnh táo, dướn người đánh gỡ một cách đầy hú họa vào ba thứ nhạc khí bằng đồng đặt trước mặt, tạo nên những âm thanh lạc điệu, nực cười. Lập tức bị bà chúa thơ Nôm lật tẩy, tóm chặt hồn vía của sư bằng mấy chữ tài tình đó.
- Có nghiã là cả tòa sen của phật - vốn là chỗ linh thiêng nhất trong chùa cũng đã bị nhiễm mầu tục luỵ, tôi hỏi giọng nghi ngờ?
- Chứ còn gì nữa, Cả sư cụ - chủ nhân của ngôi chùa - lẽ ra phải là người có uy tín nhất chùa vì cao tuổi đời, tuổi nghề hơn cả (thường có mặt trong các buổi lễ linh thiêng trang trọng của nhà chùa) lại làm những trò bậy bạ, tầm thường, nấp bóng nhà sư mà hưởng thụ. Chả phải trò chúng đang làm "oản dâng trước mặt, vãi nấp sau lưng", rồi: "Khi cảnh, khi tiu, khi chũm choẹ, giọng hì giọng hả giọng hi ha..." là trò dâm ô, truỵ lạc hoặc "trò chơi vợ chồng" mà lão trời già khéo dở dom ban cho muôn loài nhằm truyền giống đấy ư?
- Nhưng... Tôi không chịu: -Sư tụng kinh ở chùa, còn bác làm việc trong phủ chủ tịch, hai thời điểm, hai thế giới, hai môi trường, hai nghề nghiệp, hai tính cách, có liên quan gì đến nhau đâu.
- Thì bác lúc cần thì cũng đổi được giọng chứ sao. Sư...bỏ kình còn bác cũng...kinh bỏ sừ, em tưởng à. Và chị đọc tiếp:
Rõ ràng ta thua mà địch thắng
Lại bảo rằng: Ta thắng, địch thua.

(Giết 63 vạn quân xâm lược
Có cả chục vạn là nhân dân )**
- Ôi tôi thú nhận, nói chuyện với chị mệt mỏi quá, thật không biết chị định sỏ mũi em lôi đi đâu nữa:
Chị buồn rầu bảo:
- Em cứ đọc nốt 2 câu kết mà xem bà chúa thơ nôm lột trái bộ mặt của sư hoang dâm, hồi tục này ra sao? Sẽ hiểu ý chị muốn nói gì? Tôi đọc:
Tu lâu có lẽ lên sư cụ
Ngất nghểu tòa sen nọ đó mà.

Và lập tức ngẩn ra như trời trồng: -Chỉ vì ham sống, năng động, xông xáo, lại coi trọng chất lượng cũng như giá trị thực của cuộc sống nên khi thấy những kẻ "mắt tinh tai thính, lưng dài" nấp trong chùa phật làm những trò ẩm ương, suy đốn, bại hoại, Bà chúa thơ Nôm ghét, nên chộp ngay cơ hội có một không hai nào để nguyền rủa đay nghiến chúng chứ sao đâu, liên quan gì đến Hồ Chí Minh?
- Em không thấy hai câu này sự trào lộng lên đến đỉnh điểm à? Chị hỏi, đôi mắt lá răm chợt đầy bí ẩn, suy tư: Phải dùng thủ pháp nói lái: sư cụ thành... cu sự, rồi thử xem cái nghĩa ngầm bà muốn nói ở đây là gì? Tòa sen có còn ý nghĩa thiêng liêng nơi chùa phật không hay đã bị tầm thường, dung tục hóa thành "toà sen" mà Thợ trời nửa tò mò, nửa dâm dục đã nặn tạo tại nơi hạ tầng phồn thực của các ni cô, vãi bà? Người ta tu thành phật, còn chúng tu thành hổ, chuyên vồ đàn bà con gái? Người ta tu hành còn chúng tu sướng. Một sự ngất ngểu của một thằng cha căng chú kiết nào đó có tên... cu Sự - trên toà sen (nơi hạ tầng phồn thực) của các ni cô, vãi bà nơi cảnh chùa bí ẩn, linh thiêng.
- Thôi thôi em hiểu rồi, tôi buông vũ khí, phục tài sự sắc sảo trong lập luận của chị, thật đáng mặt làm con cháu Hồ Xuân Hương, ý chị muốn nói là bác chúng ta, ở địa vì làm cha mà cũng có lúc ăn thịt con đúng không?
- Chứ còn gì nữa, sư cụ lúc hứng lên thì lập tức biến ngay thành một thằng có tên là cu sự, ngất ngểu trên toà sen bằng da, bằng thịt của các ni cô, vãi bà, còn cha già dân tộc lúc chán làm cha thì cũng từ địa vị của Hồ Chí Minh thành địa vị của hồ chính mi... để ngất ngểu trên cả chục toà sen nọ đó mà của các cô, các bà khắp thế giới chứ sao? Nếu không sao lắm con rơi, con vãi đến thế? Nào con lai tại Pháp (trong di chúc để lại), con lai tại Tàu (Lý Sảo Vân?) con rơi tại lòng hang Pắc Bó (Nông Đức Mạnh), con oan giữa lòng Đảng (Nguyễn Tất Trung). Chưa kể các kiểu rơi vãi trên khắp các toà nhà, "toà sen" khác mà người đời không thể biết được, vì ai biết... cha ăn cỗ lúc nào?
- Dù sao, tôi thành thật bộc lộ suy nghĩ của mình - chị cũng không nên ám chỉ điều gì phạm thượng như vậy, chả lẽ chị luôn coi bác là một thứ... "sư cụ" trong chùa sao?
- Ừ, chị bảo, giọng chắc nịch: Sư cụ là người có địa vị cao nhất trong chùa, còn bác chúng ta là người có địa vị cao nhất nước, được Đảng và nhà nước tôn vinh như một vị cha già dân tộc, một đấng cứu thế của muôn triệu người Việt Nam nhưng thực chất có phải đấng cứu thế đâu mà là đấng...nuốt thế đấy chứ, còn chuyện đời tư thì dù đã ở địa vị cha già người vẫn cứ tiếp tục vung vãi đám con trong dân gian, đến mức dân gian phải mượn thơ Tố Hữu mà tả:
Người không con mà có triệu con
Nhân dân ta gọi người là bố
Cuộc đời người là của...nhố nhăng.

Bỏ qua chất giọng chất chưởng của chị, tôi cố cùng liều thân một lần chót:
- Dù sao em vẫn cứ thích nghe thơ Tố Hữu viết về bác:
Từ đó người đi những bước đường,
Lênh đênh bốn biển một con tàu...

Cuộc đời người rộng rãi, mênh mông lắm, đâu có nhét chật mình trong ngôi chùa hẹp như cái lão sư kia.
- Thì chùa càng rộng càng dễ che mắt thiên hạ chứ sao?
- Ừ nhỉ...Đến lượt tôi ngẩn người, không phải trời trồng mà bị chị... trồng thành...dáng đứng bến tre luôn: Tôi đứng như bóng dừa, tóc dài bay trên trán... hói (!)

Quán sứ 12-8- 2006

*Khúc khích Xuân Hương: - Tác giả Trần Khải Thanh Thuỷ. Nhà Xuất bản Văn hoá Dân tộc 2005.
** Theo thông cáo ngày 20/12/1968 của Bộ chỉ huy các lực lượng nhân dân giải phóng, Tết Mậu Thân ta đã tiêu diệt 63 vạn tên địch trong khi toàn thể quân lực VNCH chỉ khoảng 1/2 triệu người (tức là 50 vạn) kể cả "lính ma, lính kiểng". Vì vậy, nếu căn cứ vào nguồn tin trên của phóng viên Phúc Thành (báo Quân đội Nhân Dân) thì 13 vạn còn lại là dân thường Việt Nam bị đảng ta tiêu diệt.

--------------------

Phiếm luận: Gậy ông đập lưng ông

Nguyễn Thanh Ty
Trích Người Việt Boston

Chuyện cà phê vĩa hè kể rằng: Một sáng nọ tại bãi biển Đồ Sơn, người ta thấy hai ông già vừa tắm biển với mấy em chân dài, xinh như… tiên nữ “Pờ lay boi”, vừa chơi trò nắm tay “Oản tù tì”, ai thua thì phải cõng.
Hai ông cứ thay phiên nhau (giả vờ) thua để cõng nhau làm trò mua vui cho mấy em.
Mấy tiên nữ nhìn cảnh hai anh già râu tóc bạc phết, de dẻ nhăn nheo, bụng phệ, cõng nhau đi lụm khụm thì bưng miệng cười nắc nẻ, rung cả đào, cả lê.
Anh già tóc bạc đang nằm trên lưng anh chàng có hàng râu mép thấy mấy em cười toe toét, thân hình gợi cảm quá cỡ thợ mộc, bèn hứng … tình lên, đố các em:
- Tớ đố mấy … cháu, các … anh đang chơi trò gì đây. Em nào nói đúng tớ thưởng cho một đĩa nhạc có tên là “Thiên duyên tình mộng”. Mách nước một chút cho các cháu nhá! Ca dao, tục ngữ ta có nói đấy!
Mấy em gái nghe nói “đố chơi có thưởng” lại thưởng cho một “Thiên duyên tình mộng” thì mê tít thò lò, bởi đã nghe em Bảo Yến rú bài này lên môt cách “quằn quại đê mê” trên giường, y như “thú đau thương của loài ngựa hoang” nên đua nhau tìm câu trả lời. Tiếc thay mấy em đâu có học biết ca dao tục ngữ bao giờ đâu mà mò. Mấy em vừa nghĩ, vừa lầm bầm trong miệng:
- Bố khỉ cái lão già này! Phải chi lão đố về Lê văn Tám, Anh hùng Núp, Nguyễn văn Trỗi … thì hay biết mấy.
- Chúng em chả biết ca dao, ca búa gì đâu. Ông anh đố “hắc” quá!
- Trò gì nhẩy? Chúng em chịu thôi! Các anh đố cứ như mấy ông cụ!
- Thua à! Lười thế! Động não lên chứ! Lần này thì…anh giải. Lần sau thì phải cố lên đấy! Anh còn khối trò!
Các em bu quanh hai “cụ anh” vừa kéo, vừa níu, vừa ỏng ẹo nũng nịu:
- Ừ! Anh cứ giải cho chúng em đi! Lần sau chúng em cố để bù!
- Nhé! Đấy nhé! Phải bù đấy nhé! Đấy là trò: “Gậy ông đập lưng ông”.
- Thế là thế nào! Sao lại là trò “gậy ông đập lưng ông”?
- Thế mấy em không thấy “cái gậy” của anh đang đập lên lưng của thằng cha này là gì!
Mấy cô tiên nữ hiểu ra, cười rú lên, đấm thùm thụp liên hồi lên lưng hai anh già. Một cô rất “thơ ngây” hỏi ngớ ngẫn:
- Nhưng… nhưng em đâu có thấy cây gậy nào đâu?
Các cô lại phá lên cười sằng sặc. Môt cô có đôi mắt dài, cái lưng thon, cái eo nhỏ, (trường mi, tiểu yêu) tướng “trường xà quyển địa” xác nhận:
- Tối qua tớ có nắm thử cây gậy của anh ấy rồi. Còn cứng tốt lắm. Tớ có hỏi bí quyết, anh ấy nói là ở hải ngoại, anh ấy thường xuyên chống gậy chớ không có chống cộng nên vẫn còn “gin”.
Cả bọn lại rú lên cười. Anh râu mép thấy anh đầu bạc được điểm với mấy em quá cũng chẳng chịu thua, máu bốc đồng sôi lên, ra câu đố:
- Bây giờ anh đố các em. Hai anh đang ngồi mí các em trên bãi biển này, tục ngữ có câu gì để diễn tả. Em nào giải được anh cho đi một suất sang đảo Phú Quí tham quan sân “Gôn”.
Các em nhao nhao lên:
- Thèm vào! Đây chả thèm “Gôn” với Gậy”. Bảo lãnh đi Mỹ chơi một chuyến thì mới là tay ngon cơ!
- Ừ ! Thì Mỹ Tho hay Mỹ Thuận gì cũng được! Cứ giải đi! Nếu đúng thì “Trăm điều hãy cứ trông vào tay ta”!
Đa số các kiều nữ chân càng dài thì óc càng ngắn, cứ nghĩ mãi vẫn không ra, để hy vọng xuất ngoại một chuyến. Trong khi các em vờ vịt suy nghĩ thì anh râu mép với anh tóc bạc cứ tha hồ mà ngắm núi, ngắm đồi, ngắm khe, ngắm suối. Hồi lâu các em vẫn tịt, cuối cùng chịu thua.
Anh râu mép đắc ý, cười híp mắt, vừa chỉ tay xuống giữa hai ngón cẳng cái vừa giải đáp:
- Cái thế ngồi trên cát của hai anh đây tục ngữ nó gọi là “Đất lành chim đậu”.
Lần này thì các cô đã khôn ra, biết là đố mẹo, bèn “liên hệ” nhanh giữa “cái gậy” của anh đầu bạc và “con chim” của anh râu mép nên hiểu ngay. Cả bọn lại ôm bụng cười bò ra. Thừa dịp, mấy em cười tít mắt “không thấy tổ cuốc, tổ cò”, hai anh cụ quơ tay phát vào mông, vào đùi các em loạn xạ làm cho các em vừa la oai oái, vừa thích chí cười toáng lên.
Mặt trời lên cao dần, người đi tắm biển mỗi lúc thêm đông, thấy đám tiên nữ và hai cụ ông đang diễn trò “Tiên Dung và Chữ Đồng Tử”, nói cười vang rân nên lò dò đến xem để biết là tài tử xi la ma nào.
Hóa ra không phải tài tử đóng phim mà là hai anh “Việt Kiều yêu nước” từ Mỹ về xây dựng quê hương.
Một anh là đại nhạc sĩ họ Phạm. Một anh là tướng quân họ Nguyễn.
Hai anh này bây giờ giống như hai hồn ma đang vật vờ, vất vưởng không nơi nương tựa, tình cờ gặp nhau bèn rủ nhau kiếm nơi du hí và tâm sự lòng thòng.
Anh nhạc sĩ họ Phạm lắm tài mà cũng lắm tật. Nhất là cái tật anh ta thích “yêu”. Yêu bất kể “quân thần phụ tử”. Yêu tất tần tật. Từ hoa bướm tới thơ nhạc, nhất là người đẹp, đều yêu hết. Đôi khi anh “yêu” ghê quá, mãnh liệt quá, cái dục tính nó nhổm dậy bò ra khỏi lằn ranh của luân thường đạo lý. Nghệ sĩ mà! Nhưng đến người đẹp “Vô Thượng sư” thì anh yêu cả người lẫn tiền.
Năm nay anh cũng đã hơn tám bó rồi mà sức chơi vẫn còn khỏe lắm. Tình yêu trong tim anh vẫn còn rực lửa. Anh chống gậy (giả vờ) về lại quê nhà để tiếp tục yêu và giúp đỡ các em bé tuổi đôi mươi khỏi phải bị đưa sang Hàn quốc, Sin Ga Po làm nô lệ tình dục.
Mấy mươi năm ở Mỹ, coi bộ yêu khó quá. Mó vào các em nhí thì bị vác chiếu ra tòa. Còn mấy em đượi đứng đường thì hãi quá.
Mới đây, nhìn tấm hình một anh chàng họa sĩ đầu hói chuyên ké bóng anh nhạc sĩ TCS, ngồi trong quán bar, đang ôm một em nhí có bầu ba tháng với mình, đăng trên báo VC, anh nhạc sĩ thấy phê quá, nên quyết định giả từ “Thị trấn giữa đường” về quê để được “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời”.
Ta về ta tắm ao ta. Vừa rẽ vừa ngon.
Ba chục năm sống lưu vong ở Mỹ, nhạc anh được hát thả giàn. In ấn, xuất bản, thu băng, thu dĩa…thả giàn. Anh đến đâu cũng được đồng bào hoan nghênh nhiệt liệt. Tưởng đâu, đời anh, tên tuổi anh theo thời gian mà đậm thêm nét son trong lịch sử, chí ít ra là trong bộ môn âm nhạc.
Ngờ đâu vào một ngày không đẹp trời lắm, anh bỏ hết tất cả những gì đang có, anh chống gậy về quê để an hưởng tuổi già, để vớt vát những ngày trống bỏi còn lại.
Thôi thì cũng chúc phúc cho anh. Còn lại bao nhiêu cái răng thì ráng mà gặm bấy nhiêu cỏ non.
Ai có dè, về đến nhà, anh lại dở chứng. (cái chứng này lát nữa có người sẽ nói sau) Nếu anh cứ tà tà gặm cỏ non, gặm từ sáng tới chiều, gặm cho tới tàn canh gió lạnh đi chăng nữa thì chẳng ai lý tới làm gì cho mất thì giờ, tốn hao giấy mực. Đàng này, anh lại muốn lấy điểm với Đảng và Nhà nước ta, sưng sưng tuyên bố một câu rất thối:
“ Tôi chống gậy chớ không chống cộng”.
Tuyên bố xong, còn phụ đề Việt ngữ thêm bên cạnh là “cái bọn hải ngoại lâu nay chống cộng hung hăng con bọ xít rất ư là bát nháo, ấm ớ hội tề”. Cái sự lấy điểm rất “máu” này chỉ làm cho VC cười mũi vì họ biết tỏng cái “thằng sớm đánh tối đầu”, nhưng họ cũng biết dùng cái câu tuyên bố đó như “giáo Tàu đâm Chệt” để âu yếm gửi tặng lại “đồng bào hải ngoại khúc ruột ngàn dậm” như một tô canh gân gà khó nuốt.
Ngoài ra, anh còn hăm he: - Từ nay cấm có đứa nào hát chùa nhạc cuả ông. Nếu không nghe “nhời, ông kiện cho bỏ bú! Sau khi bán được mươi bài cho Công ty Văn Hóa Phương Nam.
Nghe nói bà con bên Cali rất nhiều kẻ ngậm đắng, không ít người nuốt cay. Người thì khóc rống lên thương xót cho thần tượng khôn ba năm dại một giờ. Kẻ thì giơ tay đấm ngực, chửi rũa vì đã tiếc công, tiếc của nuôi “hắn ta” mập thây bao nhiêu năm nay, bi giờ “hắn ta” phản bội.
Mặc, trò đời như phù vân trên trời, như ba đào dưới biển. Đường ta, ta cứ đi. Ruộng ta, ta cứ cầy. Nhạc sĩ họ Phạm cứ dung giăng dung dẻ lên sân khấu trong những đêm “Ngày trở về” cười hề hề cầu tài.
Nhưng chuyện đời đâu có phải bằng phẳng dễ ăn cả. Mặc dù Phạm nhạc sĩ đã đi một đường trình diễn lã lướt làm đẹp Nghị quyết 36 của Đảng, nhưng (lại nhưng) vẫn có những thằng ghen ăn, tức ở, ở trong nước, gai mắt trước cảnh khán thính giả vỗ tay bôm bốp chào đón “cái thằng chạy lại”, còn mình đứng một đống lù lù ở trước mặt mà chẳng ma nào rớ tới, bèn xử dụng “văn hóa bốc ném” tấn công ào ạt nhạc sĩ họ Phạm ta.
Quả thối nặng ký nhất có tên “Không thể tung hô” được ném ra ngày 13/3/2006, bởi một “đồng chí nhạc sĩ” Nguyễn Lưu nào đó, đăng trên báo Đầu Tư, quyết ăn thua đủ với “đồng chí Phạm”.
Ý chừng thấy chưa đủ sức công phá, nhạc sĩ Lưu lôi thêm anh chàng “nhà văn Chu Lai” vào cuộc, cho nổ trước một quả dọn đường.
Nhà văn Chu Lai tâm đắc khoe:
“ Tạp chí Thế giới Mới số mới nhất có đăng một bài viết, với nội dung gói gọn: “Một người từng bỏ kháng chiến đi theo thực dân Pháp, khi Pháp rút lui theo Ngô đình Diệm và khi ngụy quyền sụp đổ lại chạy qua Mỹ. Vả tại đó đã viết hàng loạt bài kêu gọi chống cộng, với giọng điệu “sặc mùi” hiếu chiến. Nay thấy Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, lại xin trở về! Hà cớ gì phải tung hô, xưng tụng như thế!”
Tiếp theo tiền pháo, đồng chí Nguyễn Lưu hậu xung bằng súng cối, tên lửa, A.K, lựu đạn chày, dao găm, mã tấu… trong một bài viết rất dài và rất dại. Xin trích vài câu ngắn:
“ - “Không thể tung hô” – Có thể nói, một trong những niềm tự hào, tự tôn của dân tộc Việt Nam là triết lý “đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”. Tuy nhiên không đánh “kẻ chạy lại” cần được hiểu thêm rằng, kẻ chạy lại là ai, và “không đánh” có nhất thiết đúng nghĩa với việc xem người ấy là thần tượng, là nhân vật tiêu biểu để đón rước trọng thể…? Tôi muốn nói đến trường hợp nhạc sĩ Phạm Duy, người mới được xưng tụng sau đên nhạc “Ngày trở về. (diễn ra tại Nhà hát Hòa Bình, T.P HCM)( Rất đúng bài bản! Chính sách Đảng trước sau như một, không bao giờ thay đổi. Chỉ có bổ sung!. NV)
Quả bom sau khi văng miễng tanh bành, anh chàng họ Lưu này phùng mang trợn mắt hô to khẩu hiệu:
“ Ai muốn coi Phạm Duy là thần tượng, tùy ý, còn tôi, trước sau xin nói không!
Tiếc thay, trong bài viết rất dài và dại đó, họ Lưu không đánh trúng được yếu huyệt của lão họ Phạm mà lại để hở sườn lộ ra nhiều sơ hở, được tóm trong hai điểm chính::
- Làm lộ bí mật quốc gia, lộ ý đồ bên trong của Nghị quyết 36, kêu gọi hoà hợp hòa giải dân tộc. (Không phải ai cũng được hòa. Còn phải xét lại từng người)
- Hung hăng con bọ xít chống Phạm Duy, bị mất trí khôn, lòi ra cái ngu dốt mãn tính chuyên chụp mũ. (Lấy bài “Mùa thu chết” làm trọng điểm để xoáy sâu, đánh phá bị ép phê ngược)
Vì hai cái ngu này, nhạc sĩ ghen ăn tức ở Nguyễn Lưu bị bà Giám Đốc Công Ty Văn Hóa Phương Nam, người bảo kê cho Phạm Duy, ăn miếng trả đòn bằng quả bom nặng ký hơn, vạch ra rất nhiều điều ngu dốt, bậy bạ của hắn ta, làm hắn ta và anh nhà văn Chu Lai tịt ngòi, im thin thít.
Buồn cười và thú vị nhất là cái Bà Văn Hóa Phương Nam biết xài cái chiêu “Gậy ông đập lưng ông” như hai anh đầu bạc và râu kẽm chơi ở bãi biển Đồ Sơn. Nghĩa là bà cứ dùng cái chiêu “Hòa hợp hòa giải dân tộc” của Đảng và Nhà nước ta đang hô hào ra đánh lại, khiến cho đối phương không dám ho he, nhúc nhích.
Cãi lại cái Nghị quyết của Đảng e mà có tù mọt gông à?
Xin trích vài hàng:
“Đường lối đổi mới của Đảng trong hai thập niên qua đã mang lại những thành tựu to lớn đầy sức thuyết phục. Chủ trương đại đoàn kết theo tinh thần Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị đang thổi môt luồng sinh khí mới, động viên tinh thần yêu nước của tất cả mọi người Việt Nam không phân biệt tôn giáo, chính kiến trong cũng như ngoài nước để cùng hướng tới mục tiêu”dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.
(…) Nhiều người bỏ nước ra đi, nay lần lượt trở về góp phần xây dựng đất nước dưới hình thức này, hình thức khác. Ông Nguyễn cao Kỳ, Phó tổng thống Chính quyền Sài Gòn cũ đã trở về. Đó là những minh chứng hùng hồn cho tính đúng đắn của chủ trương đại đoàn kết.
Đối với những kẻ thù xâm lược, chúng ta cũng đang xếp lại quá khứ để cùng hướng tới tương lai, nhưng đọc bài báo của nhạc sĩ Nguyễn Lưu, nhiều người hẵn băn khoăn tự hỏi tại sao việc “xếp lại quá khứ” đối với một bộ phận người Việt lại khó khăn đến thế? Khép lại quá khứ hoàn toàn không đồng nghĩa với việc “bỏ quên tất cả” như ông Nguyễn Lưu nói. Và cũng không thể xếp lại quá khứ theo kiểu lôi hết “ngọn nguồn” của một người để phơi bày trên mặt báo như ông Nguyễn Lưu đã làm! Dù nhắm tới một đối tượng cụ thể là nhạc sĩ Phạm Duy, nhưng khi ông Nguyễn Lưu (dẫn lời nhà văn Chu Lai) nói rằng “ Nay, thấy Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, lại xin trở về” chắc chắn sẽ làm những người đã hoặc đang có ý định trở về chạnh lòng và cảm thấy bị xúc phạm. Đó là lời nói kiêu ngạo, vô trách nhiệm, gây mất lòng tin vào đường lối chủ trương của Đảng.”…
(Chuyện ông Lưu với bà Phương Nam choảng nhau trên báo chí y như chuyện thường ngày ở chợ. Ai muốn biết rõ thì đọc thêm ở báo Thế giới Mới và Đầu Tư VN)
Chuyện ì xèo trên cứ râm ran kéo dài trên báo trong nước vì nhiều ý kiến của độc giả và khán giả, kẻ khen, người chê cũng lắm, làm buồn lòng nhạc sĩ nhà ta không ít.
Nhạc sĩ nhà ta không “ke” với bọn hải ngoại, bởi nhạc sĩ đã “vẫy tay chào nhau” rồi. Những tưởng về quê xênh xang, ai ai cũng “hoan hỉ” chào đón, đi đâu cũng có lọng vàng che như thiền sư Nhất Hạnh.
Ai ngờ! Thiệt chán mớ đời cho thế thái nhân tình!
Nhạc sĩ nhà ta buồn lắm. Bèn đi hoang, ca bài “Trầu Cau”: Ôi ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu! Và tình cờ lại gặp tướng quân râu kẽm cũng đang đi vật vờ.
Cả hai bèn rủ nhau ra Đồ Sơn kiếm mấy em chân dài tâm sự.
Đây nói về tướng quân họ Nguyễn.
Tướng quân họ Nguyễn từ lúc hô hào chiến hữu ở lại chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, rồi lẻn trốn thoát thân một mình, nên khi qua Mỹ, nghĩ lại, rất ân hận và xấu hổ về hành động “không can đảm” của mình. Vì vậy, tướng quân muốn làm một điều gì đó để lương tâm và danh dự đêm đêm không còn nhe răng ra cắn rứt nữa.
May quá! Đúng lúc Nhà nước ta đang “phát động chiến dịch hòa hợp hòa giải dân tộc” cần người làm cu mồi. Tướng quân thấy cơ hội và giờ phút “lịch sử” đã điểm, bèn xông ra nắm lấy.
Cộng đồng người Việt và các anh em chiến hữu, nhất là binh chủng Không Quân, ngăn cản và phản đối kịch liệt.
Nhưng tướng quân cố đấm ăn xôi, kệ thây đám hải ngoại “hiểu lầm” khổ nhục kế của mình, để xả thân về nước, hy vọng đem miệng lưỡi Tô Tần thuyết phục Hoàng Đế, Tể Tướng và bầy tôi ở Bắc Bộ phủ nên rũ lòng nhân, xét lại chính sách nhất quán mà thương tình cho đám lưu vong, hơn ba triệu người, đang sống khổ, sống sở rất thảm thương, lang thang khắp nơi trên địa cầu. Nên mở lượng hải hà, mở rộng lòng nhân đạo y như sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, dang rộng vòng tay thân ái đón những “khúc ruột ngàn dặm” trở về với quê hương, chùm khế ngọt.
Suốt mấy năm liền, Nguyễn tướng quân, bôn ba hết Nam đến Bắc, đi mòn dép, nói mỏi miệng mà quan lớn, quan nhỏ chẳng ai nghe. Áo hồ cừu khi đi còn mới cắt chỉ bây giờ rách te tua như cái tổ đỉa. Lúc ra đi bằng xe tứ mã, giờ về lếch thếch lội bộ thật không giống con giáp nào.
Nghĩ giận mình học nghề du thuyết chưa thông bèn trở về Mỹ, đóng cửa, ngó mặt vào tường, đọc sách “Làm thế nào xóa bỏ một chế độ” của nhóm đồng tác giả Sịa. Sách dày ngàn trang. Nghiền ngẫm liền trong sáu tháng, không ăn, chỉ uống. Mất hết hơn trăm chai X.O Remy Martin mới “ngộ” ra được một chữ TIỀN.
Từ đó, tướng quân thông hiểu hết mọi lẽ trên đời. Bí kíp dấu kín trong bụng, mong một ngày công thành danh toại. Một hôm ngứa miệng chịu không nổi, tướng quân đem khoe với bà vợ (mới cuỗm được), về cái triết lý “tiền”. Bà vợ nghe xong, hứ một tiếng rồi bỉu môi:
- Tưởng dài lưng đọc sách nửa năm, uống hết cả tiệm rượu, ngẫm ra được cái gì hay ho, mới mẻ, chớ “tiền” thì tôi đây là mụ nhà quê cũng biết thừa đi rồi. Há chẳng nghe ông bà mình vẫn nói: “Vai mang túi bạc kè kè, nói quấy nói quá thiên hạ vẫn nghe ào ào” là gì!
Tướng quân khoái chí, xoè tay năm ngón, đánh đét vào mông vợ một cái rõ kêu, rồi cười hì hì:
- Ấy! Rõ là mụ đàn bà nhà quê đái không qua ngọn cỏ! Chỉ biết một mà không biết hai! Cái bí quyết là ở chổ “Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn. Đồng tiền đi sau là đồng tiền dại”. Biết chửa?
Sau đó, Nguyễn tướng quân đi chiêu dụ một số nhà tài phiệt Mỹ bằng cách đưa ra một kế hoạch ít vốn mà nhiều lời trong tương lai, nếu đổ tiền đầu tư ở Việt nam một nước có rất nhiều khế ngọt, để làm mồi nhữ.
Đám tài phiệt Mỹ hể nghe ở đâu có hơi đồng thì mê. Chúng họp nhau lại, đem máy “vi tính” ra nghiên kíu. Máy cho ra kết quả: Tâm lý cái bọn giàu “nẫy” (tức giàu thình lình nhờ cướp và tham những) hay có thói học làm sang kiểu trưởng giả, rất thích đua đòi kiểu ông kẹ là đánh Gôn cho bằng dân Mỹ.
Thế là, Nguyễn tướng quân dẫn bầy đoàn doanh nhân Mỹ mang kè kè túi đôla xanh bên hông về nước ký kết xây dựng sân Gôn.
Vừa được “đông bạc”, vừa được có nơi chơi khỏi phải sang Hồng Kông, Sing Ga Po xa xôi tốn kém, dĩ nhiên Nhà nước ta ô kê cái rụp.
Lần này, Nguyễn tướng quân đạt được kết quả mỹ mãn. Phải dùng tới khẩu hiệu của “Bác” mới diễn tả hết cái sự “vĩ mô” của kết quả thu về: “Thành công, thành công, đại thành công”. “Thắng lợi, thắng lợi, đại thắng lợi”. Khắp toàn cõi giang sơn gấm vóc Việt Nam, từ đất liền ra tới hải đảo, đâu đâu cũng có những sân “Gôn” mọc lên rất “hoành tráng”.
Từ nay tướng quân không thèm ngồi xe tứ mã nữa. Tướng quân ngự trên chiếc xe do ba ngàn con trâu. Thật là hách.
Ngoài sự thắng lợi về tiền bạc rủng rỉnh trong túi, lên xe xuống ngựa, yến tiệc linh đình, ba ngày tiểu yến, bảy ngày đại yến với các quan trong Triều Bắc Bộ phủ ra, Nguyễn tướng quân thừa lúc, đem miệng lưỡi Tô Tần ra thuyết, đem cái lợi vô cùng to lớn của sự “hòa hợp hòa giải dân tộc” ra giải bày cùng đám quan chức lớn nhỏ trong Triều. Đang lúc ngà ngà hơi men, các quan nghe Nguyễn tướng quân thuyết rất hấp dẫn vì có mùi (tiền):
- Các quan anh thử nghĩ xem! Mỗi năm, chúng nó (NVHN) gửi sơ sơ về cho thân nhân mà ta đã có một số ngoại tệ 4 tỷ đô la, bằng 1/3 tổng số lợi tức cả nước thu nhập. Các quan anh chả làm gì sất mà được ngồi mát ăn bát vàng. Nếu các quan anh chịu khó một chút, một chút thôi, chìa tay ra bắt tay chúng nó rồi nói vài lời an ủi “rằng thì là”…lập tức chúng nó mũi lòng (dám có đứa cảm động quá, khóc sụt sịt nữa đấy) mà quên hết quá khứ ngay. Lúc ấy, cứ tưởng tượng ra cái cảnh ba triệu rưỡi người của cái đám tị nạn, lưu vong xô đẩy, chen lấn, đạp lên nhau, xéo lên nhau mà trở về để được hái khế. E rằng thế giới không cung cấp đủ “tàu há mồm” để chở chúng về nữa đấy.
Các quan lớn Bắc Bộ phủ nghe đến đó, ngồi đực ra, há hốc mồm, mắt cứ tròn xoe nhìn chòng chọc vào bộ râu kẽm của Nguyễn tướng quân, trong đầu hiện ra hình ảnh đô la xanh chảy về thành dòng như nước sông Hồng mùa lũ lụt. Hồi lâu mới có anh lên tiếng:
- Đồng chí nói nghe thì dễ ăn đấy! Nhưng Đảng ta đã ra Nghị quyết 36 cả mấy năm nay chẳng chiêu dụ được ma nào cả, thì làm sao bi giờ?
- Cái Nghị quyết 36 của các quan anh nó ấm ớ hội tề lắm, chả có tác dụng gì! Tại sao? Các quan anh cứ làm như cha cố người ta không bằng. Các anh phải vạch rõ cái gốc vấn đề là tại làm sao người ta bỏ nước ra đi. Từ cái gốc ấy, các quan anh mới khều được cái tâm lý yêu nước, thương nòi trong lòng người ta. Lúc ấy mới kêu gọi được chứ. Trong lúc người ta đang ở trên đất nước tự do, nhân quyền, nhân phẩm, quyền lợi người ta được hiến pháp, luật pháp nước sở tại bảo đảm chắc chắn thì các quan anh lại ra Nghị quyết này nọ, nhảy chồm chồm vào đòi quyền bảo vệ khúc ruột ngàn dặm. Thế là thế nào? Người ta đâu cần các quan anh bảo vệ? Trong khi cái đám người các quan anh xuất khẩu đi lao nô khắp nơi bị bọn chủ chà đạp ức hiếp, kêu cứu lên tận trời xanh, thì các quan anh lại làm ngơ.
- Nhưng nhỡ bọn “đĩ điếm, phản quốc” ấy kéo về đông quá lợi dụng chính sách khoan hồng, hòa hợp của ta rồi tổ chức “diễn tiến hòa bình” đòi tự do dân chủ thì sao?
- Ấy! Lúc đó thì lũ chúng như cá nằm trong chậu, chim nằm trong lồng rồi! Các quan anh cứ tha hồ muốn chém, muốn chặt lúc nào mà chả được. Đấy, như cái đám tranh đấu đòi tự do với mấy ông sư, ông cha trong nước, các quan anh hàng ngày hết bắt giam người này, bỏ tù người nọ, có ai dám hó hé không nào? Nước ta là nước độc lập có chủ quyền, được thế giới công nhận, thì còn sợ gì ai?
- Rất là chí lý! Nhưng ta phải làm gì chúng mới chịu tin là ta có thành tâm thiện chí ?
- Muốn chúng tin thì trước tiên ta phải hòa giải với người chết đã, bằng cách trả lại Nghĩa trang Quân đội ở Biên Hòa cho thân nhân họ và nhất là Ta bỏ ra chút ít tiền tượng trưng để trùng tu lại một số mồ mã lâu nay bị ta đập phá lấy đá về xây chuồng heo. Ta làm được việc này thì sau đó mà tha hồ hốt đô la.
- Được! Thế là “quyết” nhé! Cứ thế mà làm!
Sau bữa nhậu rất “hồ hởi phấn khởi” đầy “ấn tượng” và “bức xúc” đó, mấy trăm tờ báo, mấy chục đài phát thanh, phát hình Nhà nước đua nhau đưa tin về cái “quyết” rất “nhân bản” rất “đậm đà bản sắc dân tộc” đó.
Các đài phát thanh ngoại quốc đua nhau phỏng vấn Nguyễn tướng quân về cái vụ Nghĩa trang Quân đội. Thính giả nghe đài cũng “phấn khởi” theo những câu trả lời rất “hồ hởi” của Nguyễn tướng quân.
Nguyễn tướng quân đã lập công lớn trong việc “xin được” Nhà nước ta chịu xìa bàn tay từ trên cao xuống, để bắt tay với đám lưu vong trong “chính sách hòa hợp hòa giải dân tộc”.
Bấy giờ nhiều người mới hiểu ra, mới thầm khen tướng quân đã chịu nhiều khổ nhục, dấn thân vào hang cọp để thuần hóa cọp.
Cạnh đó, người xem truyền hình cũng nhận ra được những cái nhếch mép cười khinh mạn của tướng quân để ngầm trả lời cho cái đám se sẻ không hiểu được chí lớn của chim bằng, khi xử dụng khổ nhục kế.
Chẳng bao lâu, chừng nửa năm sau cái “quyết” lịch sử trong bửa nhậu tràn trề rượu X.O đó, ngày 27 tháng 11 năm 2006, một Quyết định do Tể tướng Dũng ký, ban hành nói về cái nghĩa trang đó.
Nội dung: Đồng ý chuyển mục đích xử dụng 58 ha đất khu nghĩa địa Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương do Quân khu 7, Bộ Quốc phòng quản lý sang xử dụng vào mục đích dân sự để phát triễn kinh tế, xã hội tỉnh Bình Dương. Giao Chủ tịch Ủy Ban Nhân dân tỉnh Bình Dương chỉ đạo việc quản lý khu nghĩa địa Bình An bình thường như các nghĩa địa khác theo qui định của pháp luật.
- Ối giời ơi! Bố mẹ ơi! Cái Quyết định như thế có giết tôi không chứ!
Thôi rồi! Bao nhiêu công lao du thuyết của Nguyễn tướng quân trôi theo dòng nước bạc. Hôm ấy, chúng hứa với mình là sẽ trả lại Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa cho thân nhân tử sĩ QLVNCH. Bây giờ chúng lại lươn lẹo nói chuyển sang mục đích dân sự để cho tỉnh Bình Dương sử dụng phát triễn kinh tế. Ăn làm sao, nói làm sao với cái đám chim se sẻ hôm trước ta nhếch mép cười khinh bạc. Các quan anh thâm quá, đã đá giò lái ta cú này quá đau.
Thế mới thấm cái câu “Việt cộng nói dzậy mà không phải dzậy”.
Tướng quân buồn tình cho cái sự đời “như cái lá đa”, đi cà lơ thất thơ, miệng lẩm nhẩm hát mấy câu huê tình cho với nổi u uất trong lòng thì gặp anh đầu bạc. Hai anh rũ nhau tìm nơi để giải tỏa nỗi niềm.
Bây giờ thì trời nắng gắt lắm rồi, hai anh với bầy tiên nữ tìm bóng mát nơi mấy tảng đá để ngồi uống nước giải khát. Mấy em bu vào bá vai, bá cổ, cạ ngực, cạ mông xin tiền “bo”.
Ngẫm nghĩ cái cảnh lỡ làng hiện tại, đi chẳng nở, ở không xong, tưởng đâu “đất (sẽ) lành chim đậu” nào dè lại bị cảnh “gậy ông đập lưng ông” hai anh rầu thúi ruột, chợt biết ra rằng mình chỉ là tài hèn, sức mọn, con én không làm nổi mùa xuân, dù mùa xuân ảo, mà không biết phải làm sao.
Tức cảnh sinh tình, hai anh lại đố:
- Câu đố cuối cùng, em nào giải cũng được, thưởng hết. Mỗi em một vé. - Như hai anh đang ngồi với mấy em đây, tục ngữ nói thế nào?
Cả đám tiên nữ chân dài lần này thông minh hẵn, tranh nhau nói:
- Ngó cái mặt bí xị của hai anh, chúng em biết ngay là hai anh đang ở trong cảnh “trứng chọi đá”! Đúng không nào?

Nguyễn Thanh Ty

Saturday, March 14, 2009

Bất nhất trong nội dung sách giáo khoa lịch sử

Lịch sử là sự thật về quá khứ của một quốc gia, một dân tộc. Những gì được ghi chép trong lịch sử phản ảnh quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, của quốc gia đó. Cho nên lịch sử phải mang tính trung thực và chính xác. Thế nhưng hiện nay ở Việt Nam, sách giáo khoa về lịch sử vẫn không đúng. Cùng một triều đại, lớp này học thế này, lớp kia học thế khác. Không biết rằng sau này những thế hệ mai sau, con cháu của chúng ta sẽ có những hiểu biết như thế nào về lịch sử Việt Nam. Thật đáng buồn thay!