Translate

Sunday, March 1, 2009

Các nàng Kiều thế kỷ 21: Việc buôn bán phụ nữ Việt Nam

Trích Việt Báo Online

Bài của Jaehee Park
Đỗ Văn Phúc dịch
Bài báo này nói về tội ác buôn người và những hậu quả đối với phụ nữ Việt Nam. Thêm vào đó, sẽ có hai bài về các hậu quả cuả việc buôn người đối với các lao nô, và các trẻ vị thành niên gồm cả các em bé sơ sinh và trẻ nhỏ.
“Thúy Nguyễn mặc chiếc áo dài lụa, đeo hoa tai và vòng xuyến lấp lánh. Khi bước vào làng quê nghèo khổ, côn được mọi người vây quanh trầm trồ về những trang sức lộng lậy trên người cô. Cô nói với dân làng rằng các cô gái của họ cũng sẽ được như cô, nếu họ chịu theo bước của cô, đi Đài Loan để tìm công ăn việc làm tốt.”
Bản thân Nguyễn cũng từng là một cô gái quê đã hy sinh để giúp đỡ gia đình. Giống như chuyện “Nàng Thúy Kiều” đã bán mình chuộc cha. Cô đã đi theo một phụ nữ cũng trang phục lộng lẫy như cô ngày hôm nay, để đến Đài Loan tìm việc kiếm tiền nuôi sống gia đình.
Thúy Nguyễn nói trên không phải là người thật, mà chỉ là một hình ảnh được người ta vẽ ra của một thiếu nữ Việt Nam đã bị sa vào cái bẫy của âm mưu buôn bán phụ nữ mà những gì xảy ra sau đó là sự thật và có tính chất tiêu biểu.
Theo ước tính của cơ quan UNICEF và các tổ chức khác, có khoảng 400,000 phụ nữ và trẻ em Việt Nam đã bị bán ra nước ngoài, hầu hết là sau khi chấm dứt Chiến Tranh Lạnh. Nhiều phụ nữ, trẻ em Việt Nam bị bán qua Căm Bốt, Trung Hoa, Đài Loan, Nam Hàn, và Thái Lan để phục vụ trong các nhà chứa, lao động cưỡng bức trong các xí nghiệp, hay làm đầy tớ tư nhân.
Cũng như câu chuyện cô Thúy Nguyễn trên, các nạn nhân nhận những lời hứa hẹn bịp bợm rằng sẽ có công ăn việc làm, hoặc qua sự kết hôn gian dối, hoặc qua những cơ quan tuyển người và di dân hợp pháp hay bất hợp pháp. Bọn buôn người đôi khi ngụy trang những nạn nhân của chúng thành những du khách, công nhân của những chương trình xuất cảng lao động; và rồi sẽ đưa họ đến các nuớc khác. Họ cũng tuyển các cô gái qua các tổ chức tìm việc và rồi bán các cô gái đáng thương này cho bọn tú bà ở Trung Cộng và Mã Lai Á. Họ cũng dùng phương tiện internet để lừa gạt nạn nhân.
Bị Mắc Kẹt Trên Xứ Người
“Những gia đình đồng ý cho con gái mình đi nước ngoài được trả từ 150 cho đến 450 đô la, tuỳ theo dung mạo và trinh tiết của cô gái. Sau đó, bọn buôn người sẽ đưa nạn nhân đến phi trường ra đi. Khi đến đất nước người, họ được đưa vào một căn phòng nhỏ và bị lấy hết các giấy tờ tùy thân.”
Một khi đã ra nước ngoài và bị vào vòng kiềm tỏa của bọn buôn người, các cô còn trinh tiết sẽ được đưa vào các nhà thổ hay các phòng khách sạn để chờ đợi người khách mua hoa đầu tiên. Do sự tin tưởng rằng giao cấu với gái trinh sẽ đem lại nhiều may mắn, -cùng với sự an tâm rằng gái trinh sẽ không lây truyền bệnh AIDS và các bệnh hoa liễu. - khách phải trả một giá rất đắt. Thông thường khách trả từ 300 đến 400 đô la cho một tuần ăn nằm với gái trinh. Sau đó, các cô gái được coi là “đồ vật đã xài rồi” và giá đi khách chỉ còn khoảng 2 dollars một lần đi khách.
“Các cô được đưa đến các phòng riêng biệt trên lầu. Thoạt tiên, Nguyễn tưởng rằng đó là phòng riêng của mình. Nhưng không ngờ, có một người đàn ông lạ vào đòi làm tình với cô. Khi Nguyễn kháng cự, khách bỏ đi. Nhưng người chủ lại bước vào lôi cô xuống tầng hầm, đánh đập và nhốt cô nơi đây không cho ăn uống trong nhiều ngày.”
Nguyễn lúc này mới nhận thức rằng mình không còn sự lựa chọn nào ngoài việc phải theo lệnh chủ để được sống sót. Nhà thổ, nơi đã mua cô, đã lấy hết các giấy tờ tùy than của cô. Vì thế nếu cô trốn đi, thì sẽ bị bắt giam vì là dân lậu. Bị sa bẫy và cô lập, cô bị buộc phải tiếp khách khoảng 10 lần trong một ngày. Và chỉ dược miễn khi cô đến kỳ kinh nguyệt.
Các cô gái nô lệ tình dục này phải làm việc cho đến lúc họ trả xong món nợ mà khách đã bỏ ra mua họ. Đó là các khoản tiền “nợ” mà gia đình họ đã nhận được, cộng thêm tiền ứng trước cho các cô, tiền vé máy bay, di chuyển, ăn ở… Tuy thế, không phải đơn giản đâu. Vì cái tiền nợ này cứ tăng theo các khoản nuôi ăn, tiền áo quần, tiền thuốc men và cả tiền phí tổn phá thai…
Qua cách tính này, chủ nhân các nhà thổ sẽ lưu giữ các cô lâu dài, cho đến khi các cô đã trở thành quá già, quá bệnh hoạn để có thể hấp dẫn khách làng chơi.
Cuộc sống trong các nhà thổ rất tàn bạo. Bọn chủ chứa muốn đánh đập các cô lúc nào cũng được. Thậm chí còn dùng cả roi điện để hành hạ. Khi các cô từ chối tiếp khách, bọn chúng tiêm ma tuý để các cô phải tòng phục. Đối với những gia chủ nuôi các cô làm đầy tớ, thì tình trạng cũng chẳng dễ dãi gì hơn. Trong nhiều trường hợp, các cô bị nhục mạ, tra tấn về tinh thần và thể xác. Đã có nhiều trường hợp các cô bị cưỡng hiếp và bỏ đói.
Trốn Thoát và Các Sự Trợ Giúp
“Một hôm, cô Nguyễn nghe lén được các cô gái khác bàn chuyện trốn thoát. Họ bàn tính rất kỹ lưỡng, nhưng chỉ có hai cô thoát được nhờ sự trợ giúp của một tổ chức Phi Chính Phủ (NGO). Nguyễn và các cô gái thiếu may mắn bị bắt lại bởi cảnh sát địa phương và bị trả về lại nhà chứa.”
Trong khi nhiệm vụ của Cảnh sát và các cơ quan thẩm quyền là giúp đỡ nạn nhân của nạn buôn người; thì đa phần họ vướng vào sự tham nhũng. Các Tổ chức Phi Chính Phủ cấp quốc gia hay quốc tế cố gắng đưa ra những chương trình cứu giúp các nạn nhân bằng các đường điện thoại “nóng” và các nơi tạm trú an toàn. Tổ chức Quốc Tế về Di Trú (International Organization for Migration - IOM) cũng có nhiều nỗ lực giúp đỡ các nạn nhân.
Tu sĩ Nguyễn Văn Hùng là một trong những lãnh đạo các tổ chức bất vị lợi đã nhận giải thưởng cho những cố gắng của ông chống lại nạn buôn người. Theo báo điện tử OneViet, Cha Hùng đã cứu vớt được hơn 2000 nạn nhân đem về nuôi dưỡng tại nơi tạm trú do cha lập ra. Tuy nhiên, không phải các nạn nhân đều may mắn đụợc cha Hùng cứu thoát. Và vấn nạn không chỉ giới hạn trong vài quốc gia, mà theo cha Hùng: “là một vấn nạn của nhân loại, của quyền làm người.”
Sự Giúp Đỡ Từ Hoa Kỳ
Theo bà Lisa Lynn Chapman, Giám đốc cơ quan Dịch Vụ Giải Thoát (Survivor Sevices Department) của BoatPeople SOS (BPSOS), tuy rằng việc buôn người không phải là vấn đề của Hoa Kỳ, nhưng cũng đã có trường hợp mà nạn nhân đã được buôn bán đến đất Mỹ.
Bà nói: “Họ bị bán đến Mỹ qua nhiều hình thức. Thông thường là sự hứa hẹn có việc làm tốt và có phương cách để giúp đỡ gia đình bên Việt Nam.”
Nhưng bất hạnh thay, một khi đến Hoa Kỳ, họ bị buộc phải làm việc trong những điều kiện như lao nô - không được trả lương, không được rời khỏi nơi làm việc, và bị doạ hành hung về thể xác cũng như những điều phương hại cho gia đình ở Việt Nam. Các cô gái cũng bị buộc làm gái điếm, vũ nữ khoả thân, hay phục vụ trong những kỹ nghệ tình dục.
Một cách khác là qua việc hôn nhân. Thay vì đến Mỹ để lấy chồng, các cô bị ép vào các nghề khác mà không được trả lương. Họ không được học Anh ngữ, và không cho tiếp xúc với Cộng đồng Việt Nam. Họ sống kiếp nô lệ. Đây cũng là hình thức buôn người và là cách thông thường nhất.
Đối với các nạn nhân Việt Nam, có nhiều cách cho họ để tìm được sự giúp đỡ.
Bà Chapman nói: “Quý vị có thể gọi BPSOS - Cơ Quan Dịch Vụ Giải Thoát - số điện thoiạ (703) 538-2190. Chúng tôi sẽ giúp đỡ những gì quý vị cần đến. Chúng tôi muốn bảo đảm rằng những người Việt Nam (đàn ông, đàn bà, hay trẻ em) có được nơi trông cậy nếu họ bị rơi vào các tình trạng trên.
Bà Chapman cho hay, nạn nhân cũng có thể gọi số 911 cho Cảnh Sát Mỹ. Họ nên kể rõ ràng câu chuyện của bản thân mình và Cảnh sát sẽ tìm cho họ những nguồn giúp đỡ. Họ cnũg có thể gọi điện thoại hotline cho nơi tạm trú dành cho nạn nhân của nạn bạo hành trong gia đình.
“Ngày nay, cô Nguyễn đã trở về Việt Nam như một nhân viên tuyển mộ bất đắc dĩ của bọn tú bà, sở khanh do sự đe doạ của bọn này. Khi cô buớc trên những con đường nhỏ hẹp của một thị trấn, cô nhìn các cô gái đi qua, cô nhớ lại chính mình - một cô gái nghèo ít học, đã tưởng rằng mình hy sinh để giúp đỡ cho gia đình khá hơn. Và cô đã tự vấn rằng nếu ngày đó, cô thoát được cùng nhóm các cô gái kia, thì sự việc đã xoay chuyển thế nào? Hoặc nếu cô đã được một Cha Hùng giúp đỡ?”

Chú thích: Những đoạn viết trong ngoặc kép là câu chuyện làm nền cho vấn đề được nêu ra.

Cái giá của sự nói dối

VietCatholic News
(27 Feb 2009 11:00)

Ghi Chú: Đây là bài viết từ trong nước cho nên tác giả dùng từ "chính quyền" để chỉ "nhà cầm quyền Cộng Sản VN". Xin ghi chú ở đây để tránh sự ngộ nhận.

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO để tránh tiếng bắt bớ vô cớ những người đấu tranh cho tự do dân chủ, nhà cầm quyền buộc phải dùng đến nhiều loại thủ đoạn hèn hạ khác nhau để triệt hạ họ. Và vì phải làm chuyện ‘mượn gió bẻ măng’ nên tất cả những lý lẽ họ đưa ra đều rất ư là… vớ vẩn !!!

Có thể nhắc lại vài trường hợp điển hình:

- Blogger “điếu cày’ Nguyễn Hoàng Hải, bị đi tù không phải vì biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn Hoàng Sa, Trường Sa hay viết báo không đi bên lề phải mà vì … trốn thuế!

- Còn đối với sinh viên Nguyễn Tiến Trung sau khi du học nước ngoài về liền bị bắt thi hành nghĩa vụ quân sự mặc dù đã sắp hết tuổi. Trong trại lính không computer với internet bị cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài nào có khác gì đi tù mà khỏi bị mang tiếng!

- Bà Bùi Kim Thành một luật sư hay bênh vực dân oan ở Sàigòn, trước khi được sang Mỹ tỵ nạn trong năm 2008 vừa qua cũng đã từng bao phen khốn khổ vì sự chăm sóc hết sức nhiệt tình của chính quyền tại nhà thương điên Biên Hòa vì bị cho là mắc bệnh tâm thần (!?) v.v...

Và nay thì đến lượt Ls. Lê Trần Luật. Văn phòng Luật sư (VPLS) Pháp Quyền của anh bị chính quyền quận Gò Vấp, Saigòn ‘tấn công’ nhân danh một vụ tranh chấp dân sự nhỏ nhoi.

Trong kinh doanh ở bất cứ lĩnh vực nào, những chuyện rắc rối với khách hàng là điều bình thường khó ai tránh khỏi, càng làm ăn lớn càng dễ có nguy cơ cao. Ngay cả đến ‘người khổng lồ’ Microsoft mà vẫn phải khăn gói đi hầu tòa gần như mỗi năm. Đến nỗi ông chủ Bill Gates của tập đoàn này phải nuôi cả một đội quân hùng hậu nghe nói đến gần 40 chục mạng gồm các luật sư và những nhà tư vấn pháp lý, họ ăn lương chỉ để đi chuyên lo giải quyết việc Microsoft bị thưa kiện.

Ở Việt Nam những năm vừa qua đã xảy ra nhiều vụ tai tiếng với một số VPLS. Tuy nhiên, với Ls. Lê Trần Luật, mặc dù người viết chưa có dịp tiếp xúc với anh nhưng bằng hành động dũng cảm dám đứng ra bênh vực công lý giúp những giáo dân thấp cổ bé họng bất chấp những đe dọa từ phía chính quyền. Bấy nhiêu thiết nghĩ cũng đã quá đủ để chứng minh anh không thể thuộc loại luật sư chỉ biết kiếm có tiền, vì thế VPLS Pháp Quyền của anh chắc chắn không thể là loại văn phòng tư vấn pháp lý chuyên đi làm chuyện lừa đảo. Bản thân anh, một người trẻ với trình độ luật sư muốn tìm cho mình và gia đình một cuộc sống sung sướng như bao người chắc chắn không phải là việc gì quá khó!

Do vậy, chỉ cần ‘ngửi mùi’ sự việc mà chẳng cần đến tận nơi tìm hiểu, chắc chắn mọi người cũng thừa biết rằng chính quyền đã mượn vụ tranh chấp giữa VPLS Pháp Quyền và vị khách hàng nào đó (thậm chí không loại trừ khả năng anh VP của Ls. Luật đã bị họ gài bẫy!) để ra tay đánh phá. Đơn giản chỉ vì chính quyền không muốn thấy từ giấy phép hoạt động của VPLS này, Ls. Luật dùng nó để nhận trách nhiệm bào chữa cho tám giáo dân xứ Thái Hà ‘làm khó’ lại nhà nước.

Tóm lại, bằng những loại tội danh hết sức ‘vô duyên’ chính quyền CSVN quyết tâm nhổ bỏ cho bằng sạch tất cả những ai dám ‘lợi dụng dân chủ’ để ‘bắt bí’ họ khi biết cách khai thác tử huyệt của chế độ đó là sự gian dối khiến họ phải bẽ mặt với thế giới.

Chúng ta có thể xem đây như là những qui luật tất yếu của thời hậu XHCN khi chính quyền phải đối mặt với những hậu quả do chính họ gây ra trước kia. Ở đây là chuyện đài THVN và tờ HàNội Mới của đảng bị các giáo dân Thái Hà kiện vì thói quen ăn ngược nói ngạo lâu nay.

Càng lâm vào ngõ cụt, chó dữ sẽ cắn càng đau. Bất cứ ai bị đặt trong tầm ngắm của chính quyền rồi thì từng mili-giây đời tư của họ sẽ được một nhóm ‘chuyên gia’ bơi móc đời tư nghiên cứu kỹ lưỡng. Đã là con người rất khó ai có thể hoàn hảo, ‘bới lá’ mãi thế nào cũng có lúc họ tìm thấy sâu.

‘Cháy nhà lòi mặt chuột’, vụ đánh phá VPLS Pháp Quyền của Ls. Luật chỉ khiến mọi người thêm thất vọng. Bản chất ‘nói một đàng làm một nẻo’ của cộng sản dường như sẽ là bất di bất dịch. Xưa cũng như nay, bao cấp hay đổi mới, mỗi khi phải đối mặt với sự thật, thái độ của họ vẫn không có gì thay đổi, vẫn chỉ là lối ‘thoát hiểm’ bằng những con đường lươn lẹo và bằng… cửa hậu!

Tuy nhiên trong chuyện này có vẻ như vì quá giận Ls. Luật mà chính quyền đã mất khôn. Giải pháp ‘đánh hội đồng’ VPLS xét cho cùng chỉ có giá trị ‘giận cá chém thớt’ không hơn không kém. Bởi cho dẫu họ có cố moi móc cho bằng được lý do ‘chính đáng’ để xoá sổ VPLS Pháp Quyền và thu hồi giấy phép hành nghề đối với Ls. Lê Trần Luật thì vụ kiện đài THVN và Báo Hà Nội Mới với tội danh ‘vu khống’ của các giáo dân Thái Hà càng khiến họ không thể vì thế mà dừng lại nếu không muốn bị hiểu là vì bị “kẻ xấu xúi giục”.

Hơn nữa sai lầm của hai cơ quan truyền thông khi đưa tin về phiên tòa đã quá trắng trợn. Bản tin vu khống “giáo dân đã cúi đầu nhận tội” nay đã bay đi khắp thế giới. Với tang chứng vật chứng rành rọt bằng cả audio lẫn text các giáo dân đang có trong tay, việc tranh luận tại tòa nay gần như chỉ còn xoay quanh hai chữ ‘Yes’ hoặc ‘No’. Một phiên tòa lập ra chỉ để xác nhận bấy nhiêu thì tám giáo dân Thái Hà, tự mỗi người đã là có thể một luật sư giỏi tự bào chữa cho mình và để cùng nhau buộc hai cơ quan truyền thông nọ phải “cúi đầu nhận tội” ngược lại, vì không thể chối cãi đằng nào được nữa.

Đây là ‘ván cờ’ quá khó đối với chính quyền. Chính vì không thể để việc này xảy ra nên họ đang tìm mọi cách vùi dập vụ kiện. Bên cạnh chơi trò cù nhầy thủ tục ‘hành là chính’ nay họ đánh phá luôn VPLS Pháp Quyền của Ls. Luật với hy vọng gia tăng thêm áp lực với các cha giáo xứ Thái Hà, liệu có nên tiếp tục vì bổn đạo mình mà làm khổ liên lụy đến vị luật sư?

Tóm lại, đằng sau việc đánh phá VPLS Pháp Quyền bức thông điệp chính quyền muốn gởi cho xứ Thái Hà hết sức rõ ràng: “làm khó nhau bấy nhiêu đã là quá đủ, chúng tôi đã hiểu… và xin quí vị hãy từ bỏ vụ kiện!!!.”

Cho dẫu vụ kiện kết cục ra sao chắc chắn nó sẽ trở thành là bài học ‘nhớ đời’ đối với Đài THVN và tờ Hà Nội Mới cũng như tất cả những báo đài khác khi nhận lệnh chỉ đạo của đảng khi đưa tin về những vụ việc tương tự như Thái Hà phải cân nhắc thận trọng nếu không muốn tự mình đút đầu vào rọ!

Vụ kiện của tám giáo dân Thái Hà có thể sẽ được ghi nhận như một trong những bước đi quan trọng đầu tiên của VN trên con đường tiến về đích ‘xã hội dân chủ’.

Sàigòn, 27/2/2009
Alfonso Hoàng Gia Bảo

Đồng Congo và bauxite Viet Nam

Ngô Nhân Dụng.

Trên một chuyến xe buýt đi ra phi trường Quảng Châu tuần trước, tôi tới ngồi kế bên một thanh niên Phi Châu ăn mặc rất lịch sự. Sau khi chào hỏi nhau bằng tiếng Anh, người bạn đồng hành tự giới thiệu anh từ nước Congo sang Trung Quốc du học một ngành mới về tin học. Anh đang trên đường đi Thượng Hải gặp bạn bè cùng quê ở Congo, trong dịp các trường còn nghỉ Tết Nguyên Ðán. Anh ngưng nói chuyện với tôi nhiều lần để trả lời điện thoại di động. Có lúc anh nói điện thoại với cùng một người bằng hai thứ tiếng, tiếng phổ thông (quan thoại) của người Trung Hoa, và tiếng Pháp.

Khi hỏi thăm đến nước Congo của anh ra sao sau những cuộc chiến tranh gần đây, anh được dịp đả kích chính sách của chính phủ Mỹ, mà anh coi là thủ phạm gây ra những xung đột chết người đó.

Chỉ một lát sau, anh bắt đầu nói đến vai trò của Trung Quốc. Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Pháp cho kín đáo. Anh bạn Congo thổ lộ: Không biết người Trung Hoa họ sang Phi Châu làm gì mà đi đông thế? Anh nhấn mạnh: “Họ không chỉ tới các thành phố lớn đâu! Ở xứ tôi, họ đi tới từng làng một! Tới cả những làng trong miền rừng núi mà chính chúng tôi chẳng ai muốn tới nữa!” Anh vươn vai, quơ tay, thắc mắc hỏi: “Ðể làm gì? Ðể làm gì ở đó?”

Họ đi tìm quặng mỏ, chỉ có lý do đó thôi, anh sinh viên Congo này không biết hoặc không nhớ. Hai chính phủ Congo và Trung Quốc năm ngoái đã ký kết với nhau cho phép Trung Quốc khai thác những mỏ kim loại tới khoảng 10 triệu tấn đồng (copper) và 400 ngàn tấn cobalt, đổi lại Trung Quốc sẽ trao ngay cho chính phủ của Tổng Thống Joseph Kabila 3 tỷ đô la Mỹ, rồi sau 3 năm sẽ thêm hai đợt mỗi lần 3 tỷ nữa, trong đó sẽ xây dựng cho Congo gần 4 ngàn cây số đường sắt, hơn 3000 cây số xa lộ, 32 bệnh viện, 2 đại học, và hàng trăm phòng khám bệnh. Các kỹ sư Trung Quốc đang đi cùng các phụ tá người Congo đi khắp nước, mang theo máy GPS định vị trí bằng vệ tinh nhân tạo, và vẽ bản đồ. Trung Quốc cũng sẽ đi tìm và khai thác kim cương, uranium, măng gan, thép và tantalum, một thứ kim loại dùng trong những điện thoại di động và máy vi tính xách tay (laptop). Congo là một nước có diện tích lớn hơn vùng Tây Âu nhưng lợi tức theo đầu người chỉ có 714 đô la một năm; một nửa dân số 56 triệu người chưa có nước sạch để dùng hàng ngày. Tổng Thống Kabila cầm đầu một chế độ được gọi là “kleptocratic,” độc tài đạo tặc.

Tuy là một nước độc tài nhưng ở Congo vẫn có những người dám đưa ra tiếng nói độc lập. Thỏa ước giữa hai chính phủ Congo và Trung Quốc đã bị giới tranh đấu cho nhân quyền ở Congo phản đối, họ đòi phải đưa ra cho công luận phán xét trước khi thi hành. Luật sư Georges Kapiamba ở Katanga lên án bản thỏa hiệp sơ khởi này là “hoàn toàn tối ám” (totally opaque), cho phép Trung Quốc tận dụng tài nguyên xứ này không khác gì quyền khai thác của các công ty mỏ nước Bỉ khi còn cai trị Congo như một thuộc địa. Các công ty Trung Quốc sẽ được miễn đủ các thứ thuế và quan thuế, cho tới khi việc xây cất hoàn tất.

Với giá các kim loại có triển vọng sẽ còn lên vì nhu cầu gia tăng trên thế giới, các nhà kinh tế Congo đã tính ra Trung Quốc có thể được lợi tới 42 tỷ mỹ kim trong công việc khai thác này, mà vốn đầu tư khai mỏ của Trung Quốc chỉ là 2 tỷ đô la. Người Trung Quốc đã sang Congo đông đảo, đến nỗi có lúc chính quyền tỉnh Katanga giầu quặng mỏ đã trục xuất 600 người Tầu vì họ ở lậu không có phép cư trú. Một người Trung Quốc đã bị bắt ở phi trường khi thấy mang trong túi một miếng đá có quặng mỏ.

Tôi không có dịp nói với anh sinh viên người Congo về những dữ kiện và số liệu trên, nhưng anh có thể vào Google tự tìm lấy được. Tôi chợt nhớ đến anh sau khi đọc bài tường trình của Gia Ðịnh về việc khai thác quặng bô xít (bauxite) ở Việt Nam, đăng trên Nhật Báo Người Việt trong hai ngày trước đây.

Trung Quốc đang hợp tác với một số công ty quốc tế khai thác quặng mỏ bauxite ở vùng Ðắc Nông, cao nguyên miền Tây Trung phần Việt Nam. Tháng Sáu năm 2008 ông Nông Ðức Mạnh sang Bắc Kinh đã ký giấy chấp nhận cho công ty Chalco của Trung Quốc đứng cái vụ khai thác này.

Nhưng họ đã chú ý đến quặng bauxite ở nước ta từ lâu. Ngày 1 Tháng Tám năm 2005, Trung Quốc Nhật Báo (China Daily) đã đăng một bản tin về tài nguyên bauxite ở Việt Nam. Bản tin cho biết vùng Tây Nguyên có 7.9 tỷ tấn quặng bauxite dự trữ. Cộng với 120 triệu tấn ở Cao Bằng, Lạng Sơn và các vùng khác thì nước Việt Nam có hơn 8 tỷ tấn bauxite có thể khai thác. Trong bản tin đó cũng so sánh hiện nay số quặng bauxite dự trữ cao nhất thế giới là ở Guinea, 8.6 tỷ tấn, rồi tới Úc Châu (7.4 tỷ) và Brazil (4.9 tỷ). Nếu Trung Quốc khai thác được bauxite ở Việt Nam, nước Việt Nam sẽ được ghi vào đứng hạng thứ nhì trên thế giới, chỉ thua Guinea.

Như trình bày trong bài của Gia Ðịnh, các chuyên gia Việt Nam, trong đó có cả những người đang làm việc trong Tập Ðoàn Công Nghiệp Than và Khoáng Sản Việt Nam (TKV) đã lên tiếng phản đối việc cho phép Trung Quốc khai thác mỏ bauxite ở cao nguyên Trung phần. Ngoài ra còn những lời phản đối của giới trí thức, văn nghệ, vì những tai hại của công trình khai mỏ này. Những tai họa sẽ giáng xuống trên môi trường sống, trên mặt xã hội và văn hóa, gây tai hại cho nông nghiệp, cho lâm sản, làm cạn nguồn nước, và làm đất đai nhiễm độc không những ở Tây Nguyên mà còn lan xuống tới cả vùng đồng bằng ven biển miền Trung. Khí hậu miền Trung sẽ thay đổi; miền Tây nguyên sẽ thiếu nước, thiếu điện thì các nông trường cà phê, trà, cao su sẽ gặp khó khăn; lớp đất mầu sẽ bị nước cuốn trôi ra biển; hạn hán sẽ kéo dài hơn, và lụt lội sẽ thường xuyên và tàn bạo hơn. Còn rất nhiều tai họa khác nữa.

Trong số những người đã lên tiếng có Tiến Sĩ Nguyễn Thành Sơn, nhà văn Nguyên Ngọc, giáo sư Ðào Công Tiến và Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp. Như đã trình bày trong mục này trước đây, ông Giáp mới viết thư can ngăn Nguyễn Tấn Dũng không nên cho khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Vì chính ông Giáp đã đứng đầu việc nghiên cứu khả năng khai thác bauxite ở đây gần 30 năm trước, khi khối COMECON (hợp tác kinh tế giữa các nước cộng sản Ðông Âu và Nga) có kế hoạch đó. Sau cùng dự án của COMECON bị hủy bỏ, theo lời ông Giáp, vì các chuyên gia COMECON thấy những nguy hại cho môi trường sống quá lớn so với những lợi ích kinh tế.

Tại sao Trung Quốc có thể chấp nhận một dự án kinh doanh mà khối COMECON đã phải bỏ vì thấy không có lợi? Vì việc khai thác bauxite ở Tây nguyên hoàn toàn có tính cách sơ đẳng. Theo ông Nguyễn Thành Sơn, công ty khai thác chỉ đào quặng mỏ lên, biến chế thành chất alumina, rồi alumina được chuyên chở ra nước ngoài để tạo thành nhôm. Khúc đó mới là khúc sinh lợi, người nước ngoài sẽ hưởng.

Cách khai thác như vậy khiến cho chi phí chuyên chở là một khoản chi tiêu rất lớn, nhất là vào thập niên 1980 khi khối COMECON và Liên Xô còn yếu về hàng hải thương thuyền và không sẵn bến cảng trong vùng nước ấm. Cứ 4 tấn quặng bauxite thì tạo được 2 tấn alumina, từ đó làm ra một tấn nhôm. Cho nên việc chuyên chở alumina từ Việt Nam qua vùng Hắc Hải và biển Caspian bên Nga gây tốn phí; khiến hồi đó khối COMECON không muốn khai thác bauxite ở Việt Nam nữa.

Nhưng hiện nay Trung Quốc ở sát bên nước Việt Nam, và kỹ thuật vận tải của loài người đã tiến bộ, giảm được rất nhiều chi phí. Cùng lúc đó, Trung Quốc đang có chiến lược tấn công tất cả các nước Á Châu, Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh để tìm tất cả các loại quặng mỏ kim loại, dầu lửa, vàng và kim cương, vân vân mà họ có thể mua được. Năm 2007 nước Mỹ mua 22% số dầu lửa xuất cảng của châu Phi, còn Trung Quốc mua 28%. Trung Quốc ủng hộ các chế độ độc tài diệt chủng ở Sudan vì mua 60% số dầu lửa xứ này bán ra ngoài. Họ bảo vệ nhóm quân phiệt ở Myanmar vì đây là nơi họ được quyền khai thác gỗ quý, đá, lúa gạo và ngọc thạch.

Trung Quốc lại đang lo bảo vệ tài nguyên khoáng sản trong nước họ, cho nên càng cần phải tìm thêm ở bên ngoài. Giáo sư Chen Qiyuan (Trần Khải Nguyên) thuộc Ðại học Trung Nam ở thành phố Tràng Sa đứng đầu một chương trình mang số 973 chỉ nghiên cứu việc đi tìm nguyên liệu khoáng sản. Ông cho biết các mỏ đồng của Trung Quốc chỉ còn hoạt động được 12 năm nữa thôi, nếu tiếp tục khai thác theo nhịp độ hiện nay. Mỏ kẽm còn được 18 năm và mỏ kền sẽ tồn tại được 40 năm rồi hết. Cho nên Trung Quốc phải nỗ lực đi tìm các nguồn cung cấp mới. Hiện nay họ sử dụng 30% số kẽm, 25% số chì và 25% số nhôm của cả thế giới.

Trung Quốc chú trọng đến việc xây dựng nhiều nhà máy thép và nhôm trong chiến lược phát triển của họ. Năm 2004 Trung Quốc sản xuất 6.7 triệu tấn nhôm, năm 2008 đã lên trên 13 triệu tấn, và còn lên nữa. Cho nên họ sẵn sàng trả bất cứ giá nào, mua chuộc, hối lộ bất cứ ai để đạt mục đích tăng sản xuất, giữ việc làm cho công nhân. Các công nghiệp tại Trung Quốc cũng ngày càng sử dụng nhiều nhôm hơn. Năm 2002 họ dùng 4.3 triệu tấn nhôm, năm 2005 dùng 6 triệu tấn, và dự trù đến năm 2010 sẽ dùng tới 8.8 triệu tấn.

Nhưng Bắc Kinh vẫn phải tìm tài nguyên ở nước ngoài vì họ cũng đang đóng cửa nhiều mỏ bauxite trong nước, khi chúng gây tai hại cho dân Trung Quốc. Tháng Hai năm ngoái, Trung Quốc ký một thỏa hiệp khai thác bauxite ở cao nguyên Boleven, tỉnh Champassack thuộc nước Lào, ba tháng trước khi bắt tay với các ông Nông Ðức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng để bước vào Tây nguyên Việt Nam. Trong bản tin chính thức VNN của chính quyền Việt Nam, khi loan tin ngày 17 tháng 12 năm 2008, cho phép Trung Quốc khai thác mỏ bauxite ở hai huyện Quảng Yên và Phúc Hòa, tỉnh Cao Bằng, đã tiết lộ rằng “Gần đây Trung Quốc đã đóng cửa một trăm mỏ bauxite vì những ảnh hưởng ô nhiễm tai hại môi trường nghiêm trọng.” Bài tường trình của Gia Ðịnh trong tuần qua trên Nhật báo Người Việt cũng cho biết mỏ bauxite ở Nhữ An, Trung Quốc đã đóng cửa sau một năm hoạt động, vì nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề, sinh ra nhiều chứng bệnh lạ.

Nhưng Trung Quốc sẵn sàng khai thác bauxite ở Việt Nam, một nguồn tài nguyên mà họ đã chú ý tới từ lâu. Cũng như họ đã nhắm vào những mỏ đồng, mỏ cobalt, tantalum ở xứ Congo. Tại Congo, cũng như tại Việt Nam, đã nhiều nhà trí thức lên tiếng báo động về việc chính quyền bán rẻ tài nguyên quốc gia cho Trung Quốc. Luật Sư Kapiamba đã yêu cầu thành lập một ủy ban các luật gia độc lập người Congo để nghiên cứu và thẩm định giá trị của những hợp đồng ký kết giữa nhà độc tài Joseph Kabila và chính quyền Bắc Kinh. Không biết sau khi lên tiếng phản đối, các nhà trí thức Việt Nam có khả năng thành lập một ủy ban điều tra độc lập về vụ bán tài nguyên của dân tộc cho nước cộng sản láng giềng phương bắc hay không?

Năm ngoái khi Trung Quốc thành lập quận Tam Sa ở tỉnh Hải Nam để chính thức hóa chủ quyền của họ trên các quần đảo của nước ta ngoài biển Ðông, người Việt ở trong nước và ngoài nước đã gây một phong trào phản đối. Lúc đó không ai chú ý đến cuộc đột kích khác của Trung Quốc đem mấy trăm chuyên viên kỹ thuật âm thầm tiến vào Tây Nguyên khai thác mỏ bauxite! Nhà thơ Bùi Minh Quốc thống thiết báo động “diễn biến hòa bình” của cộng sản Trung Hoa nhằm chiếm trọn Hoàng Sa và Trường Sa; ông cũng quên không nhắc đến việc họ tiến chiếm những mỏ bauxite ở Ðắc Nông và Cao Bằng. Rõ ràng là các đồng chí Trung Quốc đã dùng mẹo “dương Ðông kích Tây!”

Khi một nước đặt dưới quyền cai trị của một đảng độc tài, chỉ cần nắm đầu được đảng đó là nắm vận mạng quốc gia của họ. Bao giờ chấm dứt chế độ độc tài thì mới bảo vệ được chủ quyền và tài nguyên của dân tộc. Người Congo cũng thông minh như người Việt Nam, cả hai đều biết như vậy! Vậy bao giờ chế độ độc tài mới chấm dứt? Có thể người Congo sẽ đi trước người Việt Nam!

Ngô Nhân Dụng


Saturday, February 28, 2009

NHƯ ÁNH BÌNH MINH XUA TAN ĐÊM TỐI

Như hơi thở hiền hòa của Mẹ Âu Cơ trong huyền sử Việt
Như dòng máu kiêu hùng của 18 đời Vua Hùng từ bốn năm nghìn năm dựng và giữ nước xa xưa

Như giữa cơn đại hạn gặp được những hạt mưa
Tiếng nói của Sinh Viên Yêu Nước từ quê nhà như tia sáng cuối đường hầm tăm tối


Tiếng nói ngân vang từ xa xăm nguồn cội
Bắt nguồn từ Động Đình Hồ với Cha Lạc Mẹ Âu
Từ nghĩa đồng bào “một bọc trăm trứng” minh triết thâm sâu
Từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau một dãi giang san cẩm tú


Tiếng nói đó như những giọt sương long lanh bên rừng hoa héo rũ
Như những tia nắng bình minh chấm dứt đêm trường
Như những anh hùng can đảm đứng dậy giữa hỗn loạn nhiễu nhương
Như những hậu duệ Vua Hùng đang nối gót tiền nhân đi làm lịch sử


Dưới vực thẳm suy vong, tiếng nói này thăng hoa đến tột cùng ngôn ngữ
Bởi từng chữ được viết bằng máu, nước mắt, trí tuệ lẫn con tim
Tiếng nói mà trọn tuổi thanh xuân ta đã mòn mõi kiếm tìm
Từ Tháng Tư Đen ngày non sông sa vào tay giặc đỏ


Ôi! Tuổi trẻ Việt Nam ơi!
Hơn 30 năm lạc loài như đàn ong vỡ tổ
Mất quê hương ngay trên đất nước mình
Trước mặt mịt mù, sau lưng chẳng niềm tin
Phải nuốt hận nín thinh nhìn bầy kên kên dày vò thân xác Mẹ


Non nửa thế kỷ đồng bào ta lầm than nô lệ
Vong bản – Vong thân – Thất quốc – Lưu vong
Triệu triệu mảnh đời như lục bình trôi giạt trên sông
Ta đã sống, phải sống những chuỗi ngày tủi nhục


Sinh Viên Yêu Nước!
Tiếng nói đó như cành lan đẹp huy hoàng trên cành gỗ mục
Như những cánh én âm thầm, nhẫn nại đi dựng lại mùa Xuân
Vun vén niềm tin giữa ngỗn ngang nghi kỵ, chồng chất gian truân
Sẽ là ánh binh minh xua tan đi đêm tối


Hỡi tiên tổ anh linh!
Hỡi hồn thiêng sông núi!

Hãy độ trì cho tuổi trẻ Việt Nam giữ vững lửa đấu tranh
Mạnh bước lên đàng “lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh” (1)
Giành lại Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền cho đồng bào non song Việt


Từ Đà Thành
(02/27/09)

(1) Hai câu thơ "Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh" trong bài Quá Linh Đinh Dương của Văn Thiên Tường đời Tống. Người ở đời chẳng ai mà không chết, phải làm sao lưu lại tấm lòng son soi trong sử xanh. Cụ Nguyễn Công Trứ đã dung hai câu nay trong bài thơ Chí Làm Trai.


Chuyện Giáo Xứ An Bằng sắp nổ lớn

Cộng Sản Việt Nam lại chuẩn bị đàn áp thêm một Giáo xứ nữa. Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam ở tỉnh Thừa Thiên - Huế lại ra lệnh giáo dân ở An Bằng phải tháo gỡ đài Thánh Giá giáp An Bắc, nếu không xã sẽ tổ chức lực lượng cưỡng chế. Bài viết Chuyện Giáo Xứ An Bằng sắp nổ lớn sẽ cho ta một bức tranh rõ nét về tin tức thời sự nóng hổi này.

Friday, February 27, 2009

Vụ kê biên tài sản quái gở





















































































































































































































































































8 giờ 10 phút ngày 25/2/2009, tôi vừa từ trong nhà vệ sinh bước ra thì nghe phía trước Văn phòng có tiếng lao xao, ồn ào, không hiểu có chuyện gì. Tôi đi ra thì thấy có rất đông người lạ mặt đang đứng đầy tại bàn tiếp khách phía trước. Tôi thấy một bà béo khoảng 50 tuổi, mặt mày cau có, gằm gằm, giọng nói chua loét eo éo, mặc đồng phục Thi hành án, đeo bảng tên Nguyễn THị Hạnh - Chấp hành viên quận Gò Vấp (SG). Bà béo đang đọc oang oang cái gì đó, phải mất vài phút sau tôi mới hiểu bà đọc cái Quyết định cưỡng chế thi hành Quyết định thi hành án. Tôi hỏi kỹ lại đó là vụ gì, hóa ra là để thực hiện Quyết định công nhận hòa giải thành của Tòa án quận Gò Vấp, nội dung là cưỡng chế thi hành (tức thu giữ) 42 triệu đồng đối với ông Lê Trần Luật - Trưởng Văn phòng Luật sư Pháp Quyền. Lúc này trong Văn phòng có Luật sư Hùng, Luật sư Đạt, 2 nhân viên khác, Bác sĩ Lê Trần Luân (anh ruột ông Luật) và tôi.Quy trình thi hành án hoàn toàn trái pháp luậtLuật sư Hùng chất vấn bà Hạnh rằng chị đã tống đạt hợp lệ Quyết định tự nguyện thi hành cho ông Luật chưa thì bà Hạnh nói rằng đã giao quyết định cho 1 người tên Nhung (?!). Cần phải nói rõ là người này không phải người trong gia đình ông Luật, nên việc giao quyết định cho người không liên quan gì là trái với điểm A, khoản 2, Điều 34 Pháp lệnh thi hành án dân sự. Tuy nhiên, chúng tôi cũng chỉ nghe bà Hạnh nói thế, mà yêu cầu bà cho xem biên bản tống đạt thì bà từ chối. Lẽ ra, nếu không gặp ông Luật để tống đạt, bà Hạnh phải gởi các lại quyết định, thông báo cho đương sự bằng đường Bưu điện, 2 lần đăng (hoặc phát) trên báo, đài (điểm c, khoản 2 Điều 34) nhưng bà không hề thực hiện đúng quy trình.Luật sư Hùng lại hỏi tiếp bà Hạnh rằng Thông báo cưỡng chế ký ngày 16/2/2009 này bà Hạnh đã tống đạt hợp lệ cho ông Luật chưa thì bà Hạnh nói rằng bà có đến Văn phòng Luật sư nhưng Văn phòng đóng cửa. Tôi nghe vậy mới hỏi tiếp: "Ngày 16 là thứ mấy vậy chị?". Bà Hạnh trả lời: "Thứ Hai". Tôi nói tiếp: "Ngày nào em cũng mở cửa Văn phòng, không hề nghỉ làm việc ngày nào sao em không thấy chị đến, cũng không thấy có niêm yết?". Bà Hạnh dấm dẳng: "Cái đó tôi không biết. Tôi đã niêm yết rồi". Tôi hỏi tiếp: "Chị niêm yết hồi nào? Ở đâu vậy?". Bà Hạnh trả lời: "Tôi niêm yết ngày hôm qua, ở đây?". "Ở đây là chổ nào?". Bà Hạnh lại lặp lại: "Cái đó tôi không biết". Rồi bà đột nhiên nổi cáu: "Ở đây ai là nhân viên Văn phòng này?". "Là chúng tôi đây" - Ba bốn người cùng trả lời. "Vậy giấy ủy quyền đâu? Thẻ nhân viên đâu? Tôi không thừa nhận các anh chị là nhân viên, không cần làm việc với các anh chị". Trời đất ơi, chính miệng bà Hạnh nói bà mới niêm yết ngày hôm qua mà đòi giấy ủy quyền? Ông Luật đang ở Hà Nội làm sao ủy quyền được? Văn phòng Luật sư chớ có phải cơ quan nhà nước đâu mà có thẻ nhân viên? Bà Hạnh đòi hỏi mà không nhìn lại coi anh cán bộ nhà nước (sau này mới biết tên Phong) "lính" của bà đi công tác mà ăn mặc lôi thôi, không có nổi cái thẻ đeo trên cổ cho đúng quy định mà bà Hạnh cứ thích đòi hỏi những chuyện không tưởng để ra oai với chúng tôi chăng? Tôi nói: "Đây là Lê Trần Luân, anh ruột ông Luật, vậy ông Luân đại diện cho ông Luật". Bà Hạnh lớn tiếng: "Tôi không biết ông này là ai, tôi không làm việc với người này". Mọi người ngạc nhiên: "Vậy chị vô đây làm việc với ai?". Tôi xen vào: "Mục đích của chị là muốn thi hành 42 triệu đồng chớ gì. Bây giờ em nộp chị 50 triệu đồng đây. Chị cứ kê biên khoản tiền này". "Tiền vẫn còn niêm phong của Ngân hàng, có ghi rõ trên giấy nè". "Tôi không nhận tiền vì tôi chưa tính phần lãi suất". "Thì ở đây là 50 triệu, dư so với quyết định rồi, chị cứ thu giữ 50 triệu, lãi suất tính sau". Bà Hạnh gạt ngang: "Tôi không nhận tiền, tôi không đếm nên không biết bao nhiêu tiền". Thật ngạc nhiên, trên đời này đi thu tiền thi hành án mà chê tiền thì chỉ có duy nhất bà Chấp hành viên Nguyễn Thị Hạnh này, nếu mắt bà không có vấn đề bất thường, nếu bà biết đọc chữ thì bà không cần đếm mà nhìn tờ giấy in Ngân hàng dán trên cục tiền cũng biết cục tiền đó là bao nhiêu triệu. Khi tôi hỏi "Tại sao chị đến đây thi hành án 42 triệu đồng mà tôi đưa 50 triệu chị không lấy là sao?". Bà Hạnh trả lời: "Tôi chưa tính được số tiền lãi". Rồi bà giục 2 thanh niên mặc thường phục (không có bảng tên) đi cùng bà gom các bộ máy vi tính lại.Người thanh niên mặc áo hồng xám xám đòi lên "kiểm tra" luôn các phòng trên lầu. Tôi cáu tiết lên nói: "Trên đó phòng ngủ của tôi, anh muốn vô phòng ngủ của tôi sao?". Anh ta đứng sựng sựng ấm ớ không trả lời được.Bà Hạnh chỉ huy cho "lính" bà đi gom 5 bộ máy tính trong Văn phòng lại và niêm phong. Điều làm tôi hết sức ngạc nhiên là họ tự ký tên lên giấy niêm phong rồi dán lên, không hề đưa cho người đại diện đương sự ký, và dán bên hông máy một cách sơ sài. Tôi thấy vậy mới nói:"Tôi đề nghị chị niêm phong kín lại, giấy niêm phong sao không đưa cho tôi ký vào. Các anh chị tự ký dán vô rồi mang về các anh chị xé ra thay đổi linh kiện trong đó rồi các anh chị dán lại ai mà biết được. Niêm phong mà các cổng, đầu cáp không niêm lại, thì các anh chị cắm cáp vào rút bớt dữ liệu hay thêm vào cái gì đó thì sao?". Bà Hạnh làm thinh như không nghe tôi nói gì.Dán giấy xong, họ viết biên bản rồi yêu cầu tôi ký mà lại không cho ông Luân đại diện gia đình. Tôi lặp lại yêu cầu niêm phong lại bộ máy vi tính đúng quy định như đề nghị của tôi lúc nãy nhưng bà Hạnh cứ làm thinh như điếc không nghe tôi nói gì. Ông Luân thắc mắc thì được bà Chấp hành viên phang cho ông Luân một câu:"Tôi không biết gia đình nào hết".Lại thêm điều quái lạ nữa, rõ ràng, một người "già lão" như bà Hạnh không thể không biết nguyên tắc niêm phong tài sản để không bị dịch chuyển giá trị là như thế nào, càng không thể nói bà không biết gì về khoản 3 Điều 6 Pháp Lệnh thi hành án, Điểm 2.2 Công văn số 404/TP-THA ngày 24/02/2005 của Bộ Tư pháp hướng dẫn nghiệp vụ thi hành án dân sự. Diễn biến sự việc cho thấy bà Nguyễn Thị Hạnh cố ý gây khó khăn cho hoạt động thường nhật của Văn phòng bằng cách nằng nặc kê biên máy mà chê tiền. Chẳng biết họ cố tình niêm phong trái quy định như vậy để nhằm phục vụ cho âm mưu đen tối nào đây?Tôi yêu cầu bà Hạnh viết 2 biên bản và đưa cho tôi giữ mỗi thứ 1 bản. Bà Hạnh vội vàng khất để... từ từ làm sau.Thấy vậy, tôi ghi vào trang ba tờ biên bản kê biên như sau:- Tôi đại diện cho Văn phòng Luật sư Pháp Quyền nộp cho bà Nguyễn Thị Hạnh 50 triệu đồng còn nguyên niêm phong của Ngân Hàng Nông nghiệp nhưng bà Hạnh không đồng ý nhận tiền thi hành án.- Năm bộ máy vi tính được phía Thi hành án Gồ Vấp niêm phong sơ sài, không đưa giấy niêm phong cho tôi ký tên, giấy niêm phong dán bên ngoài thùng máy, vì vậy vẫn có thể mở máy ra được và cắm dây vào thùng máy để thêm hoặc bớt dữ liệu bên trong mà không để lại dấu vết. Tôi đã đề nghị niêm phong kín lại nhưng chấp hành viên Nguyễn Thị Hạnh không đồng ý.- Nếu sau này ruột máy vi tính bị thay đổi thì bà Nguyễn Thị Hạnh và Thi hành án Gò Vấp hoàn toàn chịu trách nhiệm. Dữ liệu bên trong máy bị mất hay bị thêm vào nhằm mục đích đen tối chúng tôi không chịu trách nhiệm. Tôi được biết mỗi bộ máy vi tính (gồm thùng CPU và màn hình tinh thể lỏng) trị giá khi mua là 15 triệu đồng.Trong biên bản tạm giữ đồ vật tài sản, trang 2, tôi ghi lại nội dung giống như biên bản kê biên tà i sản. Khi tôi lấy máy ảnh ra chụp lại biên bản thì bà Hạnh chồm tới giựt lại tờ biên bản. Tôi nắm tờ giấy giật lại và nói:" Tôi là người đại điện, tôi ghi vào đấy cái gì thì thôi chụp lại để báo cho ông Luật cho chính xác" thì bà Hạnh mới đứng im.Sự xuất hiện của nhiều kẻ lạ mặt hung hăngCũng trong lúc làm việc, bên trong và bên ngoài văn phòng xuất hiện nhiều người lạ mặt không biết họ tên gì, nhởn nhơ đi luồng tuông qua lại trong Văn phòng, kẻ thì miệng cười tí toét, kẻ thì tích cực chụp ảnh, quay phim, thậm chí chen vào ngồi cùng bàn với cán bộ thi hành án, ở trong nhà mà mắt đậy cái kính đen to tổ bố như ông thầy bói mù. Những người này họ rất hănghái quay phim, chụp ảnh toàn bộ nhân viên và quang cảnh trong, ngoài Văn phòng; nhưng khi bị tôi chỉa ống kính máy ảnh vào họ thì họ đều quy mặt đi chổ khác hoặc cúi gằm mặt xuống, tôi phải "canh me" mãi, nhanh tay lẹ mắt lắm mới chộp được cái bản mặt của họ vào ống kính. Ban đầu, bà Hạnh nói rằng họ là người của Thi hành án, sau khi lập biên bản tôi mới biết ngoài cô Nguyễn Thị Tuyết Hồng - cánbộ Tư pháp phường 7 (có đeo bảng tên), anh Đặng Phương Quang- CSKV (mặc quân phục) , cô Trần Thị Cẩm Anh - Kiểm sát viên (mặc đồng phục), số còn lại không có họ tên, đồng phục, chẳng biết họ thuộc cái loại nào mà được "ưu tiên" ngang nhiên như chốn không người như thế?.Trong khi đó, người quen của chúng tôi như: cô Thu Duyên, anh Phan Thanh Hải đến Văn phòng thì bị những kẻ lạ mặt mày bậm trợn hăm he đuổi đi chổ khác. Tôi cũng thấy xung quanh Văn phòng xuất hiện rất nhiều kẻ lạ đông đến bất ngờ. Quái gỡ hơn là họ quay phim chụp ảnh ào ào hình ảnh cá nhân người khác mà không thèm xin phép ai, còn Luật sư Đạt cầm cái máy ảnh của tôi chụp hình ngoài sân thì bị một lũ côn đồ 4-5 tên không biết ở đâu ra đe dọa "Mày coi chừng tao" và rượt chạy vào nhà, chúng còn xông vào trong sân nhưng bị xe máy dựng trong sân khá nhiều cản trở, vì vậy chúng không rượt kịp.Anh Phan Thanh Hải "kém may mắn" hơn nên bị 4 thanh niên bặm trợn mặc thường phục đã nắm kéo sểnh nhét vào xe Cảnh sát, đè mặt xuống sát sàn xe trước sự chứng kiến của nhiều người, rồi chiếc xe Cảnh sát hú còi lao inh ỏi đi như vừa bắt được tên tội phạm nguy hiểm vì nó đã dám chụp hình, quay phim cảnh thi hành án(?!).Cuối cùng, họ mang đi 5 bộ máy vi tính và 1 máy photocopy.
* * *Theo hướng dẫn của Cục Thi hành án, nếu trước khi kê biên mà đương sự nộp tiền thi hành án thì phải chấm dứt việc kê biên. Động thái chê tiền khó hiểu cùng sự cố ý niêm phong tài sản sơ sài trái quy định bất chấp đề nghị của người đại diện đương sự, gạt phắt người nhà đương sự ra ngoài của bà Chấp hành viên Nguyễn Thị Hạnh, xuất hiện nhiều kẻ lạ dùng bạo lực bắt người trái pháp luật... cho thấy đằng sau việc kê biên này là một âm mưu đen tối.
Tạ Phong Tần























Hoa Kỳ: Nhân quyền Việt Nam vẫn không được cải thiện

Trích rfa.org

Bộ Ngọai giao Hoa Kỳ hôm thứ Tư 25-3 đã công bố bản phúc trình nhân quyền năm 2008, đề cập tới tình trạng tiếp tục đàn áp nhân quyền tại nhiều nước trên thế giới, kể cả Việt Nam.

RFA PHOTO
Hôm 25-2-2009, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tổ chức họp báo công bố phúc trình thường niên về tình hình nhân quyền trên thế giới.
Bản phúc trình thường niên về tình hình nhân quyền thế giới năm 2008 của Bộ Ngọai Giao Mỹ lưu ý về hành động vi phạm nhân quyền tiếp diễn đáng ngại tại nhiều nơi, từ Trung Quốc, Bắc Hàn, Miến Điện, Việt Nam cho tới các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ, một số nước ở Trung Đông, Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh.
Lên tiếng trong lời mở đầu cho bản phúc trình nhân quyền 2008, Ngọai trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton cho biết: “Hoa Kỳ không những ra sức theo đuổi các lý tưởng trên đất Mỹ, mà còn xúc tiến việc tôn trọng nhân quyền nhiều hơn khi Hoa Kỳ tiếp cận với các quốc gia và dân tộc trên khắp thế giới.”
Hoa Kỳ không những ra sức theo đuổi các lý tưởng trên đất Mỹ, mà còn xúc tiến việc tôn trọng nhân quyền nhiều hơn khi Hoa Kỳ tiếp cận với các quốc gia và dân tộc trên khắp thế giới.
Ngọai trưởng Hillary Clinton
Nhân quyền tại VN
Phần dành cho Việt Nam mở đầu với nhận xét rằng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, với dân số khỏang 86 triệu, là một nước độc đóan do Đảng CSVN cai trị.
Cuộc bầu cử Quốc Hội hồi tháng 5 năm 2007 đã diễn ra trong không khí thiếu tự do mà cũng chẳng công bằng, vì tất cả ứng cử viên đều bị xem xét nghiêm ngặt bởi Mặt Trận Tổ Quốc - tổ chức ngọai vi của Đảng Cộng Sản có nhiệm vụ theo dõi các tổ chức quần chúng.
Vẫn theo bản phúc trình thì thành tích nhân quyền của Việt Nam trong năm qua vẫn chưa thỏa đáng, khi nhà cầm quyền tiếp tục ngăn chận các quyền tự do căn bản như tự do báo chí, tự do bày tỏ cảm nghĩ, tự do hội họp; cùng với hành động đàn áp những người bất đồng chính kiến, bắt giữ các nhà dân chủ khiến nhiều người phải bỏ nước lánh nạn, trong khi người dân không thể thay đổi chính phủ bằng lá phiếu, các hoạt động chính trị bị ngăn cấm.

Phần về Việt Nam trong phúc trình của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Bản phúc trình cho biết vào cuối năm ngóai, Hà Nội giam cầm ít nhất 35 tù nhân chính trị, đồng thời trích dẫn lời của các quan sát viên quốc tế nói rằng con số này còn cao hơn nhiều - đã lên tới hàng trăm.
Bản phúc trình cũng đề cập tới hành động đàn áp, giam cầm của công an, tình trạng kỳ thị sắc tộc, buôn bán phụ nữ, trẻ em tiếp diễn, những người hoạt động tích cực cho công đòan thì bị bắt giữ, hù dọa trong khi chính phủ hạn chế quyền của công nhân.
Luật pháp Việt Nam quy định tội hình đối với quan chức tham nhũng; tuy nhiên, chính phủ không thực hiện luật này một cách hiệu quả. Nạn tham nhũng tiếp tục là vấn đề lớn của Việt Nam.
Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ
Bản phúc trình đặc biệt lưu ý tới tệ nạn tham nhũng lan tràn, đề cập tới nhiều trường hợp tham nhũng của các quan chức, và nêu rõ tình trạng thiếu minh bạch trong việc giới cầm quyền thu hồi, chiếm dụng đất đai của người dân, buộc họ phải di dời để dành chỗ thực hiện những dự án cơ sở hạ tầng.
Tiểu tựa “Tham nhũng trong chính phủ và vấn đề minh bạch” của bản phúc trình mở đầu rằng: “Luật pháp Việt Nam quy định tội hình đối với quan chức tham nhũng; tuy nhiên, chính phủ không thực hiện luật này một cách hiệu quả, khiến nhiều khi các quan chức dính líu tham nhũng không bị trừng phạt. Nạn tham nhũng tiếp tục là vấn đề lớn của Việt Nam”.
Riêng về vấn đề tự do tôn giáo, bản phúc trình cho biết hiến pháp và các nghị định của chính phủ Việt Nam có quy định về tự do thờ phượng, nhưng khó khăn tiếp diễn trong việc thực hiện Khung Pháp lý về Tôn giáo.
Rắc rối chủ yếu diễn ra tại cấp địa phương, nhưng trong một số trường hợp, chính quyền trung ương cũng đình hõan việc thực thi khung pháp lý này.
Bản phúc trình lưu ý rằng những Giáo hội bị hạn chế nghiêm trọng khi họ tổ chức những hoạt động mà nhà cầm quyền xem là mang tính chính trị hay thách thức quyền lực của họ, nhất là có liên quan đến Giáo Hội Phật giáo Hòa Hảo, Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Giáo hội “Tại Gia” của người thiểu số Tây Nguyên…
Vẫn còn nhiều hạn chế
Mặc dù Hà Nội lập luận rằng trong những năm gần đây Việt Nam đã đạt được thành quả lớn lao trong việc bảo đảm và phát triển tự do của người dân trong mọi lãnh vực, kể cả các quyền tự do ngôn luận, báo chí, thông tin, nhưng bản phúc trình năm nay của Bộ Ngọai giao Hoa Kỳ lưu ý rằng Việt Nam vẫn tiếp tục hạn chế tự do ngôn luận, đặc biệt liên quan đến những phát biểu chỉ trích giới lãnh đạo, hay xúc tiến nền chính trị đa nguyên hoặc nền dân chủ đa đảng.
Nhà cầm quyền Việt Nam tiếp tục những biện pháp hạn chế, đàn áp tự do báo chí, ngôn luận, hội họp, lập hội. Hoa Kỳ vẫn còn lo ngại về tình trạng buôn bán phụ nữ, trẻ em Việt Nam.
Karen Steward, Trợ lý Ngọai trưởng Mỹ
Bản phúc trình không quên nêu lên trường hợp công an Việt Nam hồi tháng 9 năm ngóai đã đánh đập một ký giả của hãng thông tấn AP, khi ông đến nơi để làm phóng sự về buổi cầu nguyện của Giáo dân tại khu vực Tòa Khâm Sứ cũ ở Hà Nội.
Liên quan tới các vấn đề này, bà Karen Steward, Quyền Trợ lý Ngọai trưởng Mỹ đặc trách các vấn đề Dân chủ, Nhân quyền và Lao động tuyên bố rằng: “Nhà cầm quyền Việt Nam tiếp tục những biện pháp hạn chế, đàn áp tự do báo chí, ngôn luận, hội họp, lập hội. Hoa Kỳ vẫn còn lo ngại về tình trạng buôn bán phụ nữ, trẻ em Việt Nam.”
Vẫn theo bà Steward, thì nói chung Hoa Kỳ nhận thấy tình hình nhân quyền ở Việt Nam vẫn chưa thỏa đáng.
Ngoài Việt Nam, bản phúc trình nhân quyền 2008 của Hoa Kỳ cũng mạnh mẽ chỉ trích thành tích nhân quyền của Trung Quốc, chỉ một tuần sau khi Ngọai trưởng Hillary Clinton hạ thấp mối quan ngại nhân quyền khi bà viếng thăm Bắc Kinh, tuyên bố rằng vấn đề nhân quyền không nên gây trở ngại cho công cuộc hợp tác song phưong để giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cùng và những vấn đề quan trọng khác.
Theo Bạn, Nhân quyền tại Việt Nam đã thật sự được tôn trọng chưa? Hãy gửi đến Ban Việt Ngữ ý kiến của Bạn email: vietweb@rfa.org; hoặc cùng tham gia thảo luận tại Trang blog Ban Việt ngữ RFA
Bản phúc trình cũng không bỏ qua Liên Bang Nga, cho rằng các quyền tự do dân sự ở đó “đang bị bao vây”, và lưu ý về tình trạng tung ra những luật lệ han chế các nhóm phi chính phủ và các phương tiện truyền thông, kể cả Internet.
Qua việc theo dõi tình hình nhân quyền tại hơn 190 quốc gia trong năm ngóai, bản phúc trình của Bộ Ngọai Giao Hoa Kỳ cũng mạnh mẽ chỉ trích những nước khác, kể cả Bắc Hàn, Miến Điện, Iran, Iraq, Syria, Afghanistan, Cuba, Somalia, Zimbabwe.
Về tình hình nhân quyền tại chính Hoa Kỳ, qua đọan mở đầu gây nhiều ngạc nhiên, bản phúc trình nhìn nhận những mối quan ngại của thế giới về thành tích nhân quyền tại chính nước Mỹ, sau khi có nhiều cáo giác liên quan hành động tra tấn, sách nhiễu tù nhân bị bắt trong “Cuộc chiến chống khủng bố” của Hoa Kỳ.

Thursday, February 26, 2009

Nhân quyềnVN chưa thỏa đáng

Trích BBC Vietnamese

Phúc trình thường niên của Bộ Ngoại giao Mỹ nói tình hình nhân quyền ở Việt Nam năm 2008 vẫn còn ở mức ‘chưa thoả đáng’.

Theo báo cáo này, ở Việt Nam vẫn còn tình trạng cấm đoán bất đồng chính kiến và người dân bị bắt bớ vì có quan điểm chính trị đối lập nhưng không được đưa ra xét xử nhanh chóng và công bằng.

Phúc trình cũng cho rằng Việt Nam tiếp tục giới hạn tự do ngôn luận “đặc biệt là chuyện chỉ trích cá nhân lãnh đạo chính phủ, hay việc thúc đẩy đa nguyên, đa đảng”.

Báo cáo còn dẫn chứng vụ trưởng đại diện hãng thông tấn Mỹ Associated Press 'bị cảnh sát đánh' hôm 19/9/2008 sau khi tới chụp ảnh giáo dân cầu nguyện ở khu vực Tòa Khâm sứ cũ ở Hà Nội.

Trả lời BBC sáng 26/2, ông Nguyễn Đức Thuỳ, Viện trưởng Viện nghiên cứu Quyền con người, cho rằng ‘lâu nay trong bất kỳ báo cáo hàng năm nào, Mỹ đều có quan điểm như vậy’, nên ‘chuyện đó không có gì đáng bàn lắm’ .

“Họ chỉ dựa trên một số hiện tượng bề ngoài và một số sự kiện đơn lẻ, như vụ các nhà báo bị bắt. Như thế không phản ánh đúng tình hình”.

Báo cáo của Mỹ nói cho tới cuối năm 2008, chính quyền Việt Nam đã bắt “ít nhất 35 tù nhân chính trị”.

Phúc trình cũng nói tới hiện trạng buôn người, bạo lực và phân biệt đối xử với phụ nữ vẫn còn là một vấn đề lớn ở Việt Nam.

'Thiếu minh bạch'

Trong khi đó, các tổ chức nhân quyền độc lập vẫn “chưa được phép hoạt động”.

Về vấn đề này, ông Thùy nói: “Hiện giờ Việt Nam có rất nhiều cơ quan nghiên cứu về quyền con người ở nhiều nơi theo hương đa dạng và rộng mở chứ không có chuyện ngăn cản”.

“Việc nghiên cứu quyền con người phụ thuộc vào nhu cầu nội tại của cơ quan đó, chứ không có chuyện chỉ đạo từ trên xuống”.

Ngay một lúc mà đòi hỏi minh bạch mọi thứ thì hơi khó. Đó là cả một tiến trình
Ông Nguyễn Đức Thuỳ, Viện trưởng Viện nghiên cứu Quyền con người

Ngoài ra, báo cáo còn thấy nhiều vụ tham nhũng trong lực lượng công an, cũng như nêu lên sự thiếu minh bạch trong việc “thu đất và di dân khỏi các dự án cơ sở hạ tầng”.

Viện trưởng Nguyễn Đức Thuỳ lý giải: “Ngay một lúc mà đòi hỏi minh bạch mọi thứ thì hơi khó. Đó là cả một tiến trình".

"Luật thông tin đang được xây dựng để làm sao minh bạch hóa hơn hoạt động của chính quyền, không chỉ có trong lĩnh vực đất đai”.

Điểm tích cực trong báo cáo về Việt Nam là có những cải thiện liên quan tới người khuyết tật ở Việt Nam, trong đó có việc các tòa nhà chính phủ mới đã có chỗ đi dành cho đối tượng này.

Năm ngoái, Việt Nam đã lên tiếng chỉ trích báo cáo của Mỹ là không khách quan và dựa vào những thông tin “sai lệch và thành kiến”.

Chính quyền nhấn mạnh trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu trong việc “bảo đảm và thúc đẩy tự do của người dân trong mọi lĩnh vực, trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do thông tin”.


sầu riêng [trái]

về đây ta lại gặp mình
lúc không ơi nữa biết tình đi đâu
về đây ta lại gặp nhau
lúc không mình nữa biết đi đâu tình./.

nna
22 tháng 2, 2009

miến Trung

[Gởi Đích Thân]



ngày về nón đỏ quê hương

ngoái trông phố xá vẫn thường đó em

gần mùa hè phượng vẫn luôn

đỏ sân trường học để buồn các em

gần mùa hè có chi thêm

pháo giặc đêm rớt phá yên giấc nồng ./.


nna

Wednesday, February 25, 2009

Vẻ đẹp Đà Nẵng








Nhiều công trạng nhưng chờ đến chết, khiếu nại vẫn không được giải quyết

Trích Người Việt online



medium_Vn_250209_khieunaidenchet.jpg


Hình bên: Nông dân tụ tập ở bên ngoài văn phòng Quốc Hội CSVN, tại Hà Nội để chờ giải quyết các khiếu nại về việc chính quyền địa phương cưỡng đoạt ruộng đất, đè đầu cưỡi cổ họ. Một đại biểu Quốc Hội CSVN từng nhận xét: Trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, Quốc Hội và các cơ quan chính quyền chỉ làm công việc của bưu điện, nhận rồi chuyển đơn, thư cho nơi khác. (Hình: AFP)

Bạc Liêu (NV) - Ông Trần Việt Tiến, một thương binh hạng 2/4 của CSVN, ngụ tại thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, đã bất tỉnh trong cuộc thảo luận tại Ủy Ban Nhân Dân thị xã Bạc Liêu, giữa Ủy Ban Nhân Dân thị xã Bạc Liêu với ông, về việc bồi thường các thiệt hại cho ông. Ông Tiến đã được đưa đi cấp cứu và trưa 18 Tháng Hai đã qua đời tại phòng cấp cứu của bệnh viện đa khoa Bạc Liêu.

Tờ Tiền Phong cho biết, ông Tiến từng bị chính quyền địa phương phá nhà, thu hồi đất trái phép để xây trung tâm thương mại mà không bồi thường. Ông đã khiếu nại nhiều nơi, trong nhiều năm và vì vậy bị khai trừ khỏi đảng CSVN rồi bị buộc nghỉ việc vào năm 2002. Hồi Tháng Bảy năm 2008, ban bí thư trung ương đảng CSVN ra quyết định xóa hình thức kỷ luật bằng cách khai trừ đảng đối với ông Tiến. Sau đó, ông Tiến được bổ nhiệm làm giám đốc Trung Tâm Bảo Trợ Xã Hội tỉnh Bạc Liêu. Riêng với tài sản, tuy các cơ quan có trách nhiệm ở trung ương nhiều lần thúc giục tỉnh Bạc Liêu trả lại những tài sản đã tịch thu của ông Tiến, giao đất cho ông Tiến tái định cư và bồi thường 303m2 đất đã thu hồi trái phép song không đền bù nhưng chính quyền địa phương không thèm giải quyết.

Trên một blog có tên “Công lý và sự thật”, blogger Tạ Phong Tần, một người từng là dân Bạc Liêu viết: “Tôi thật bất ngờ khi nghe tin ông Trần Việt Tiến chết. Người Bạc Liêu ai cũng biết ông Trần Việt Tiến, Ông không những là thương binh hạng 2/4, mà còn là con trai cụ Ba Linh - lão cán bộ kháng chiến nổi tiếng mạnh mẽ, quyết đoán, liêm khiết, giản dị. Lúc sinh thời cụ Ba Linh có tác phong ‘không giống ai’, dù giữ chức vụ cao trong chính quyền nhưng đi làm luôn mặc bộ quần áo bà ba đen bằng vải thường và đi chân đất. Chuyện ông Trần Việt Tiến bị chính quyền địa phương cưỡng chế phá nhà, lấy đất để xây trung tâm thương mại nhưng không bồi thường, sau đó còn bị khai trừ đảng và buộc nghỉ việc vào năm 2002 ở Bạc Liêu ai cũng biết vì ông Tiến khiếu nại rầm rĩ khắp nơi một thời gian dài, có tin đồn ông suýt bị bắt giam vì 'dám khiếu nại hoài'”.

Blogger Tạ Phong Tần nhận xét: “Bản thân là thương binh, gia đình có công với cách mạng mà ông Tiến còn bị nhà cầm quyền địa phương đối xử bất công như thế, thử hỏi người dân thấp cổ bé miệng còn bị đối xử thế nào? Ở Bạc Liêu, trường hợp như ông Tiến không phải là duy nhất, thương binh 2/4 chẳng là gì, chủ tịch tỉnh Lê Văn Bình (Năm Hạnh) còn bị ‘thí’ mà.

Là một đồng hương, tôi xin chia buồn cùng gia đình ông Tiến. Cái lý tưởng giành độc lập và xây dựng xã hội mới công bằng, dân chủ, văn minh mà cụ Ba Linh lẫn ông Tiến đã từng đem tính mạng mình chiến đấu để đánh đổi nhưng rốt cuộc đến chết, ông Trần Việt Tiến vẫn chưa được thấy. Thương thay!”

Ông Lê Văn Bình (Năm Hạnh) mà blogger Tạ Phong Tần đề cập từng là chủ tịch tỉnh Minh Hải. Khoảng cuối thập niên 1980, trung ương đảng CSVN quyết định phải “xử lý công ty Cimexcol”. Thời điểm đó, Cimexcol là một công ty, vì không hoạt động theo đường lối được định sẵn cho các công ty quốc doanh, nên đạt hiệu quả rất cao. Lúc đầu Cimexcol được xem như một vụ án chính trị (câu kết với các thế lực thù địch, phản động bên ngoài, chống chính quyền nhân dân, làm gián điệp cho nước ngoài...) Sau này, ông Ðoàn Thanh Vị, cựu bí thư tỉnh Minh Hải, tiết lộ: “Khi không đủ chứng cứ để xử như một vụ án chính trị, lãnh đạo ở trung ương xuống Minh Hải, yêu cầu đưa một người ra chịu trách nhiệm để xử. Nếu không số còn lại phản ứng thì sẽ rất phức tạp, không xử được”. Cũng vì vậy mà ông Lê Văn Bình được chọn làm “dê tế thần”. Bà Võ Thị Thắng, một “hội thẩm nhân dân” là thành viên hội đồng xét xử vụ Cimexcol, kể: “Phiên tòa diễn ra thiếu dân chủ, hội đồng xét xử được chỉ đạo và quản lý rất chặt chẽ”. Báo chí CSVN từng nhiều lần đề nghị minh oan cho 21 bị cáo trong vụ Cimexcol. Cách nay vài năm, ông Phạm Hưng, chánh án Tòa Án Tối Cao, đề nghị: “Viện trưởng VKSND tối cao xem xét những tài liệu do các báo nêu ra và những tài liệu do một số người bị kết án trong vụ án Cimexcol cung cấp... Nếu có căn cứ là việc điều tra trước đây không chính xác dẫn đến xét xử không đúng thì kháng nghị theo trình tự tái thẩm để ủy ban thẩm phán Tòa Án Tối Cao xét xử lại”. Một cựu thủ tướng CSVN là ông Võ Văn Kiệt xác nhận: “Ban đầu khởi tố vụ án chính trị, khi không tìm ra chứng cứ, lẽ ra phải dừng thì lại dựng lên thành một vụ án kinh tế và đánh giá là 'đặc biệt nghiêm trọng', trong khi trước đó đoàn kiểm tra tài chính không phát hiện Cimexcol sai phạm kinh tế”. Tuy nhiên lãnh đạo CSVN không thèm đếm xỉa và ông Lê Văn Bình đã ôm nỗi oan cũng như sự uất ức ấy xuống mồ hồi Tháng Năm năm 2008. (G.Ð.)

Tuesday, February 24, 2009

Đoàn kết...chết hết, chia rẽ...chết lẻ tẻ.

» Tác giả: Thạch Đạt Lang
» Dịch giả:
» Thể lọai: Bài viết
» Số lần xem: 786

1. Đoàn Kết... chết hết, chia rẽ... chết lẻ tẻ

Chết rồi! bỏ vô hòm đóng lại!
Người chết đi đằng trước,
Người sống đi đằng sau,
Một lũ kéo nhau vừa khóc, vừa mếu...

Cứ mỗi lần đi dự những buổi hội thảo hay sinh hoạt cộng đồng, nghe ai đó kêu gọi, nhắc đến chữ đoàn kết là Đạt Lang tui nhớ đến bản nhạc “Kết Đoàn! Chúng ta là sức mạnh, đoàn kết ta bền vững...” bị sửa lời như trên và rồi không khỏi tủm tỉm cười.

Cười vì lời nhạc sửa đổi và cười vì dường như càng kêu gọi đoàn kết thì dân Việt nam lại...càng chia rẽ hơn. Có đúng như vậy hay không? Nếu đúng (tức là không trật) thì tại sao lại có “sự cố” như dzậy?

Tui có đọc trong một cuốn sách ở đâu đó nhận xét (rỉ) của một người Nhật về người Việt Nam như sau:

‒ Mỗi người Việt Nam là một viên kim cương (Thứ thìệt nghe, khai thác từ hầm mỏ bên Sierra Leon đem về hải cảng Antwerpen bên Bỉ, cắt gọt đàng hoàng, không phải loại kim cương nhân tạo), mỗi người Nhật là một cục đất sét (cũng thứ thiệt luôn).

‒ Kim cương thì rất quý giá, lúc nào cũng sáng chói, lấp lánh dưới ánh sáng, còn đất sét thì dơ bẩn, giá trị rất ít, nếu không muốn nói rằng chẳng có gì ngoài việc dùng làm vật liệu sản xuất bình, lọ... sành, sứ và ở đâu cũng có. Tuy nhiên kim cương không bao giờ dính lại được với nhau, đất sét ngược lại, chỉ cần chút nước là 3, 4 cục riêng rẽ sẽ trở thành một.

Mja! Tên Nhật viết quyển sách ba điều bốn chuyện này coi bộ cũng ba que, xỏ lá tợn. Hắn làm bộ khen, bơm dân Việt Nam mình cạch cạch, thổi lên tuốt ngọn cây, ngon lành quá cỡ thợ mộc (dĩ nhiên từng người một thôi); rồi đùng một cái, rút kiếm Samurai chặt... bụp một phát, chửi xéo dân mình là không biết đoàn kết để tạo thành sức mạnh của tập thể.

Đat Lang tui đọc mà tức... quá sức lẽ mình, định xét nát quyển sách đang cầm trên tay, nhưng chợt nhớ ra là sách mượn, không có tiền mua cuốn khác đền, nên kịp ngừng lại. Tiền lương bà xã kiểm soát từng Euro, Konto online check hàng ngày, mất một đồng là bã “phát hiện” được ngay, làm sao dám nhiếm ra một ít mà mua, mà nếu có nhiếm được thì... mua thứ khác đáng giá hơn... sách, báo chứ? Đúng hông? Không đúng là bà...bắn tui đi.

Thôi! xin trở lại vấn đề. Ngẫm nghĩ, thấy anh Nhật nói đúng chứ không sai, hay có sai thì cũng... chút chút thôi.

Người Việt chúng ta đứng riêng rẽ thì rất thành công, những tấm gương như kỹ sư Dương Nguyệt Ánh chế tạo bom áp nhiệt (Thermobaric), giáo sư Nguyễn Xuân Vinh làm việc cho NASA, Trịnh Tuệ với 7 bằng kỹ sư (về Việt Nam thành... 7 bằng tiến sĩ) và mới nhất đây ở Orleans, Joseph Cao đắc cử vào Hạ viện Hoa Kỳ,... là những bằng chứng rõ rệt nhất. Tuy nhiên, đến ngày hôm nay người viết vẫn chưa được thấy một công ty, một tổ hợp, một nhóm nhà khoa học nghiên cứu... mang tên Việt Nam có được một thành công rực rỡ đáng kể. Việc kết hợp khối người Việt hải ngoại thành một lực lượng đồng nhất (đồng nhất chứ không phải duy nhất) để có thể tạo được những thành quả to lớn mang tầm vóc quốc tế, dường như là một việc bất khả thi.

Có nhiều yếu tố ngăn chận sự đoàn kết của người Việt, thử điểm qua vài yếu tố chính.

Theo sự nhận xét của tui, yếu tố quan trọng thứ nhất khiến người Việt ít đoàn kết là tính ích kỷ, không biết hi sinh quyền lợi nhỏ của bản thân để đạt được một điều lợi chung lớn hơn, mà bản thân mình cũng (sẽ) được nhiều hơn.

Một thí dụ điển hình tui được biết, do một anh bạn là kỹ sư thiết kế (design), đồng thời làm việc trong Betriebsrat (công đoàn IG Metall ‒ Industriegewerkschaft Metall, “Industrial Union of Metalworkers”) của một hãng chế tạo xe hơi ở Đức kể lại. Anh cho biết chưa đến 5% tổng số người Việt trong hãng tham gia thành đoàn viên công đoàn, trong khi so với các dân tộc khác (không kể Đức) như Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), Nam Tư (Yugoslavia) hay Tây Ban Nha (Spain), số đoàn viên bao giờ cũng là 50-70%, thậm chí có nhà máy lên tới 80% công nhân viên là đoàn viên công đoàn.

Tui hỏi lý do, anh cho biết người Việt trong hãng anh làm không sốt sắng tham gia công đoàn vì phải đóng nguyệt liễm 1% tiền lương Brutto (Gross income). Nhiều người không gia nhập thì thôi, lại còn lý luận rằng không là đoàn viên nhưng khi công đoàn tranh đấu cho công nhân viên được lên lương, họ vẫn được hưởng, vậy thì dại gì mà mỗi tháng phải mất vài chục Euro? Vậy thì những người đoàn viên công đoàn đều ngu dại hết hay sao?

Sau khi nghe chuyện đó, tui tò mò đọc sách, tìm hiểu về sự hình thành và quá trình tranh đấu của công đoàn IG Metall Đức. Qua đó mới biết rằng, để đạt được thành quả ngày hôm nay cho công nhân viên ngành sắt thép Đức mỗi năm được hưởng 6 tuần lễ nghỉ Urlaub (Vacation), tuần làm việc 35 tiếng (hiện nay vì tình hình kinh tế, nhiều hãng đã tăng trở lại 37,5 hay 40 tiếng/tuần), được tiếp tục trả lương trong 6 tuần lễ bệnh đầu tiên trong năm (sau đó qũy bảo hiểm sức khỏe sẽ trả tiếp) công đoàn đã phải tranh đấu trường kỳ trong nhiều năm, khi đàm phán với giới chủ nhân, khi đình công làm áp lực... mỗi năm từng bước một. Tiền đâu họ hoạt động nếu không có nguyệt liễm của đoàn viên?

Yếu tố thứ hai là lòng ganh tị, hám danh, tranh giành, hơn thua nhau những chuyện không đáng. Sự ganh tị thường ngấm ngầm, không bộc lộ ra ngoài nhưng âm ỉ, kéo dài và sẽ bùng nổ khi có dịp. Người ta dễ dàng bôi bẩn, vu khống, chụp mũ, nói xấu sau lưng nhau... chỉ vì những điều nhỏ nhặt như cảm thấy thua kém người khác hay không đạt được những gì mình muốn, nhất là khi có được phương tiện truyền thông trong tay. Việc tranh nhau chức vụ chủ tịch Văn bút VNHN giữa các ông Viên Linh, Sơn Tùng, Đặng Văn Nhâm... cuối thập niên 90 là một bằng chứng rõ rệt.

Người Việt hải ngoại hầu như chỉ kết hợp được với nhau khi có những biến động lớn, như vụ Trần Trường, vào năm 1999, treo cờ đỏ sao vàng và hình ông Hồ Chí Minh trong tiệm bán và cho thuê phim video, đĩa nhạc... mà ông Trường sở hữu, hay là vụ biểu tình phản đối báo Người Việt in hình chậu rửa chân cho mấy người làm nail có hình cờ vàng ba sọc đỏ hoặc những cuộc biểu tình chống mấy ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết qua Mỹ...khoe “Duyên Dáng Việt Nam”, vận động hội nhập vào WTO hoặc vụ phản đối nghị viên Madison Nguyễn định đổi tên Little Sàigòn và mới nhất là cuộc biểu tình phản đối cuộc triển lãm tranh và văn học nghệ thuật VAALA...

Khi những sự việc đó trôi qua hoặc chìm xuống rồi, thì... ai về nhà nấy. Còn lo cơm áo, bill mortgage, xe, điện, nước, telephone... Ôi chao, đủ thứ, tối tăm mặt mũi chứ bộ chơi sao? Dĩ nhiên! Đi biểu tình vậy là... may rồi, muốn gì nữa? Bỏ ăn chơi, bỏ việc nhà cuối tuần, bỏ shopping... tham gia đóng góp vậy là quá sức rồi. Thêm nữa ai chịu cho thấu?

Nhưng nếu có ai đó tò mò, lấy một tờ báo tiếng Việt hay thông cáo kêu gọi các cuộc biểu tình đọc, sẽ thấy danh sách các hội đoàn, tổ chức... tham dự dài... ngoằn ngoèo, dài thậm thượt, dài... lê thê, dài... mút chỉ cà tha. Đọc không cách chi mà nhớ hết được, nhưng nếu chịu khó suy nghĩ hay hồi tưởng...chút chút, thì chắc chắn sẽ nhận ra rằng nhiều hội đoàn, tổ chức trong cái danh sách đó mỗi năm hoạt động chừng...một lần là tối đa, hay chỉ có tên không có thực, hoặc số thành viên chỉ lèo tèo năm ba người (kể cả vợ chồng, con cái, anh chị em...). Vậy thì thành lập cho nhiều để làm gì? Nếu không là để lấy...danh, để '' Nổ '' cho lớn, cho mọi người biết rằng....ta đây cũng (ngon lành) như ai.

Nhớ có lần nói chuyện với một anh đồng nghiệp người Đông Đức cũ, nhờ đi ăn trưa trong Kanteen thường ngồi chung bàn, riết rồi thành quen, anh là kỹ sư cơ khí bên miền Đông, khi bức tường Bá Linh sụp đổ, trôi dạt qua chỗ tui ở mần Techniker (Technician). Một lần lại nhà ảnh chơi, ảnh cho tui coi cái bằng tốt nghiệp rồi vui vẻ nói:

‒ Gut! Hauptsache habe ich eine Arbeit und verdienne gut genug fuer meine Familie. Ingenieur oder nicht ist nicht zu wichtig. (Tốt! Chuyện chính là tôi có một việc làm và kiếm đủ tiền cho gia đình. Kỹ sư hay không, không quan trọng lắm).

Anh bạn Đức này đúng là thật thà quá, chưa học được cách làm pháo của dân Việt Nam. Nghĩ lại tui cũng thấy ngượng với ảnh, vì xét ra mình cũng thuộc loại “nổ” chẳng kém ai. Đi làm lao động, lương chỉ cao hơn lương mấy người làm ở trong Mc Donald không tới một Euro/giờ mà ai hỏi tới cũng làm bộ (khiêm nhường) bỏ nhỏ, “Tui làm việc lãnh lương AT (Ausser Tarif) anh/chị ạ. Năm 70.000 Euro, chưa kể tiền thưởng cuối năm.”

Dĩ nhiên Đạt Lang tui sức mấy mà dám “bẹc cà na” với anh đồng nghiệp Đức kia, ảnh chỉ nghe vài câu tiếng Đức (học mà không cần đến trường từ hồi còn... ở Việt Nam) là biết tỏng mình thuộc loại nào rồi.

Nhưng từ nguyên nhân sâu xa nào mà người Việt chúng ta thích “nổ”? Vì tự ti hay tự tôn mặc cảm? Để che dấu sự thua kém của mình hay để cảm thấy tự “sướng” khi có cảm giác người khác nể phục mình?

Nhớ lại thời gian sau ngày 30/04/75, khi những người lính QĐND miền Bắc mới vào Sàigòn, người dân miền Nam đã có nhiều chuyện cười về những quả pháo điện quang toàn hồng như: Ti vi chạy đầy đường, trữ lượng mỏ dầu hỏa của ta lớn như con voi trong khi trữ lượng tất cả các mỏ dầu trên thế giới cộng lại chỉ bằng con tem dán trên lưng con voi, Nhật Bản đang định mua khói nhà máy của ta, cứ một tàu khói đổi một tàu máy cày Kubota...

Sang đến thập niên 90, khi khúc ruột (non) ngoài ngàn dặm bắt đầu... chuyển động thì bệnh nổ... “lây lan” sang một số người một thời là... “ma cô, đĩ điếm” về thăm quê hương (là chùm khế ngọt). Rất nhiều Việt kiều về VN lúc đó, không bác sĩ, kỹ sư... thì chí ít cũng là... chủ hãng, chủ tiệm..., ít thấy ai nói qua Mỹ đi cắt cỏ (Đụng chạm nghề nghiệp anh Caubay quá. Xin lỗi nghe anh!) rửa chén, phục vụ trong nhà hàng, làm nail, tóc hay là assembler hãng điện tử...

Thế mới biết Việt Nam ta (trong nước) toàn anh hùng và (hải ngoại) toàn trí thức. Tuy nhiên lần này bệnh “nổ” không làm cho người nghe cười mà làm cho họ thấy nể nang, kính phục... mấy cây “pháo đại” vô cùng.

Gần nhất là bệnh nổ trên DCVOnline, ở đây cũng không thiếu gì những cây pháo đại hay điện quang toàn hồng. Nhiều nickname làm thơ, góp ý kiến chửi bới cộng sản tàn tệ, khoe khoang tầu ngầm với đầu đạn nguyên tử... sẵn sàng đem thả xuống đầu cộng sản Hà Nội, hay hàng ngày than khóc, kêu gào tự do, dân chủ, đa nguyên cho hơn 84 triệu dân Việt Nam trong nước nghe muốn điếc con ráy, tưởng chừng như cộng sản Việt Nam sắp sụp đổ hay bị đánh tan tành tới nơi. Nhiều khi Đạt Lang tui đọc thấy hồ hởi, phấn khởi, nằm tưởng tượng đến ngày tàn của CSVN mà sướng lịm cả người, nhưng chỉ trong vài giây đã bàng hoàng tỉnh mộng nhận ra rằng:

“Trương đậu hũ, Lý đậu hũ!
Đêm kề gối mộng, nghìn mơ...
Sáng ra nấu đậu như xưa, khác gì?”

Cho dù là vì lý do nào đi chăng nữa thì máu thích nổ ngay từ đầu đã là chướng ngại cho sự đoàn kết. Mang tâm lý bất phục kẻ khác khiến cho ta khó có sự thông cảm khi đối thoại, ta sẽ không lắng nghe, sẽ dễ chê bai, dè bỉu, bôi bác... những ý kiến hay việc làm của người khác ngay từ đầu, cho dù những ý kiến hoặc việc làm đó sẽ đem đến những kết quả thực tiễn, đáng khen, có lợi cho tập thể.

Khi đã không lắng nghe, không thông cảm, không tôn trọng nhau, người ta khó có thể kết hợp với nhau, đặt mục tiêu, quyền lợi của tập thể lên trên mục đích, quyền lợi cá nhân. Đi xa hơn phải biết đặt quyền lợi đất nước, dân tộc lên trên quyền lợi tổ chức, đảng phái, tôn giáo...

Yếu tố thứ ba làm cản trở sự đoàn kết là tôn giáo. Việt Nam có hai tôn giáo chính là Phật giáo và Thiên chúa giáo. Phật giáo (không kể những người chỉ thờ cúng ông bà) có con số tín đồ lớn hơn nhưng là một tôn giáo với tổ chức lỏng lẻo, trong lúc Thiên chúa giáo ít tín hữu hơn, chưa đến 10% tổng số dân nhưng tổ chức rất chặt chẽ, hoạt động hầu như luôn có sự chỉ đạo của tòa thánh Vatican. Trong suốt cuộc chiến Quốc‒Cộng, những biến động chính trị ở miền Nam hầu hết đều có sự tham gia của hai tôn giáo lớn này. Ngoại trừ một số ít cao tăng, thật sự vì đạo, đời, đất nước, dân tộc... những người lãnh đạo tinh thần hai tôn giáo lớn này chỉ nhằm mục đích tranh dành ảnh hưởng, quyền lực cho tôn giáo mình. Họ quên đi một điều: trước khi là Phật tử hay con chiên của Chúa, họ là người Việt Nam.

Nếu mục đích thay đổi chế độ cộng sản Hà Nội không phải vì tự do, dân chủ, đa nguyên cho toàn dân Việt Nam mà chỉ để phục vụ cho quyền lợi hay sự bành trướng tôn giáo, chắc chắn những người lãnh đạo tinh thần của hai tôn giáo trên khó bắt tay được với nhau và sẽ không bao giờ nhận được sự ủng hộ của toàn dân.

Lẽ tất nhiên còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến sự đoàn kết, nhưng xin ngừng ở đây vì bài viết tương đối đã dài.

Ngày hôm nay đất nước đang đứng bên bờ vực thẳm với sự xâm lăng trắng trợn của Tầu cộng qua những chuyện Hoàng Sa‒Trường Sa, việc cắm lại cột mốc biên giới, dựng lại Ải Nam quan, và mới đây nhất là việc khai thác quặng Bô-xít (Bauxite) để sản xuất nhôm ở Tây Nguyên. Sau việc khai thác Bô-xít này, chắc chắn sẽ còn nhiều sự việc khác diễn tiến bất lợi hơn cho Việt Nam.

Chúng ta phải làm gì khi đảng cộng sản Việt Nam với thái độ ươn hèn, khiếp nhược của 15 người trong Bộ Chính Trị và 3 triệu đảng viên, xem quyền lợi bản thân, gia đình, đảng phái quan trọng hơn tiền đồ dân tộc, đất nước?

Hãy suy nghĩ tích cực hơn, mạnh dạn truyền bá thông tin (khai thác Bô-xít) này đến từng người mỗi khi có dịp trò chuyện, tâm tình. Hãy gác bỏ những tị hiềm cá nhân, những khác biệt về chính kiến. Các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo hãy đặt quyền lợi đất nước, dân tộc lên trên sự gia tăng tín đồ, bành trướng đạo pháp...

Những người nắm phương tiện truyền thông, media... hãy ngừng chửi bới, nhục mạ, chỉ trích nhau mà nên tìm cách phổ biến những tin tức nguy hại đến dân tộc, đất nước bị chính quyền bưng bít, che dấu, hãy đánh động quần chúng lên tiếng. Các bạn trẻ sinh viên, học sinh trong các trường trung, đại học trong cũng như ngoài nước hãy bàn luận, tham khảo ý kiến nhau cần phải làm gì trong thời điểm này?

Riêng đối với các hội đoàn, tổ chức, những bạn trẻ ở hải ngoại, hãy tìm đánh địch bất cứ khi nào có dịp (proactive), đừng chờ khi bị tấn công mới trả đòn (reactive). Hãy tổ chức những buổi trình diễn nghệ thuật, văn hoá trưng bày tội ác CS, những chuyện tham nhũng, hối lộ, hèn nhát... của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, hãy dùng ngay chiêu thức của VAALA mà đánh trả hoặc tấn công một cách ôn hòa nhưng hiệu quả.

2009-02-24 17:05:15